1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

THỰC TRẠNG và mối LIÊN QUAN GIỮA lạm DỤNG rượu BIA và sức KHỎE tâm THẦN ở NAM GIỚI từ 18 TUỔI ở một số xã TỈNH hà NAM năm 2017

65 190 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 65
Dung lượng 273,04 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tôi xin cam đoan công trình nghiên cứu “Thực trạng và mối liên quan giữa lạm dụng rượu bia và sức khỏe tâm thần của nam giới từ 18 tuổi ở một số xã tỉnh Hà Nam năm 2017” có sự tham gia đ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

PHẠM ĐÌNH LONG

THỰC TRẠNG VÀ MỐI LIÊN QUAN GIỮA LẠM DỤNG RƯỢU BIA VÀ SỨC KHỎE TÂM THẦN Ở NAM GIỚI

TỪ 18 TUỔI Ở MỘT SỐ XÃ TỈNH HÀ NAM NĂM 2017

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP BÁC SĨ Y KHOA

KHÓA 2013-2019

HÀ NỘI 2019

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

Trang 3

LỜI CÁM ƠN

Em xin chân thành cám ơn Ban Giám hiệu trường Đại Học Y Hà Nội,Ban Lãnh đạo Viện Y tế dự phòng và Y tế công cộng, Phòng Quản lý đào tạoTrường Đại Học y Hà Nội, Phòng đào tạo Viện đào tạo y tế dự phòng và y tếcông cộng, Bộ môn Dịch tễ học đã tạo mọi điều kiện và giúp đỡ em trong quátrình học tập, nghiên cứu để em có thể hoàn thành khóa luận này

Em xin chân thành cám ơn sự hợp tác, tạo điều kiện của các trạm y tếcác xã Tượng Lĩnh, Thanh Sơn, Bối Cầu, Hưng Công của tỉnh Hà Nam và sựtham gia nhiệt tình trách nhiệm của nhóm cộng tác viên, nhân viên y tế cáctrạm xá

Với tất cả sự kính trọng biết ơn sâu sắc của người học trò bày tỏ lòngbiết ơn tới TS Lê Vĩnh Giang người Thầy kính mến đã dạy dỗ, tận tình chỉbảo, định hướng và giúp đỡ em hoàn thành khóa luận này

Và cuối cùng em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với gia đình bạn bè

đã luôn bên cạnh dành cho em mọi sự động viên, khích lệ giúp em vượt quamọi khó khăn trong quá trình học tập, nghiên cứu

Hà Nội ngày 12 tháng 05 năm 2019 Sinh viên

Phạm Đình Long

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Kính gửi:

 Phòng Quản lý đào tạo Trường Đại Học y Hà Nội

 Phòng đào tạo Viện đào tạo y tế dự phòng và y tế công cộng

 Bộ môn Dịch Tễ Học Viện đào tạo Y tế dự phòng và Y tế công cộng

 Hội đồng chấm khóa luận tốt nghiệp

Tôi xin cam đoan công trình nghiên cứu “Thực trạng và mối liên quan giữa lạm dụng rượu bia và sức khỏe tâm thần của nam giới từ 18 tuổi ở một số xã tỉnh Hà Nam năm 2017” có sự tham gia đóng góp tích cực của tôi

trong quá trình nghiên cứu Các số liệu, cách xử lý số liệu, phân tích số liệuhoàn toàn trung thực và khách quan Các kết quả nghiên cứu này chưa từngcông bố ở bất kỳ tài liệu nào

Hà Nội, ngày 12 tháng 5 năm 2019

Sinh viên

Phạm Đình Long

Trang 5

MỤC LỤC

Lời cám ơn

Lời cam đoan

Danh mục chữ viết tắt

Mục lục bảng, biểu đồ, hình v

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Khái niệm và một số yếu tố liên quan đến rượu bia 3

1.1.1 Định nghĩa rượu bia 3

1.1.2 Phân loại rượu bia 3

1.1.3 Đơn vị uống chuẩn 3

1.1.4 Một số ảnh hưởng của rượu bia đến sức khỏe con người 3

1.1.5 Bộ công cụ AUDIT (The Alcohol Use Disorders Indentification Test) và mức độ nguy cơ trong sử dụng rượu bia 5

1.2 Thực trạng sử dụng rượu bia trên thế giới và Việt Nam 7

1.2.1 Thực trạng sử dụng rượu bia trên thế giới 7

1.2.2 Thực trạng sử dụng rượu bia ở Việt Nam 8

1.3 Mối liên quan giữa lạm dụng rượu bia và sức khỏe tâm thần 10

1.3.1 Mối liên quan giữa lạm dụng rượu bia và trầm cảm 10

1.3.2 Mối liên quan giữa lạm dụng rượu và lo âu 11

1.3.3 Mối liên quan giữa lạm dụng rượu và stress 12

1.3.4 Thang đánh giá trầm cảm- lo âu- stress DASS 21 ( Depresion Anxiety Stress Scales 21) 13

CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15

2.1 Đối tượng tham gia nghiên cứu 16

2.2 Thời gian địa điểm nghiên cứu 16

2.3 Chọn mẫu cỡ mẫu 16

Trang 6

2.4 Biến số /chỉ số nghiên cứu 17

2.5 Quy trình thu thập số liệu 19

2.6 Quản lý, xử lý và phân tích số liệu 20

2.7 Sai số và cách khắc phục 20

2.8 Đạo đức nghiên cứu 21

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 22

3.1 Thực trạng sử dụng rượu bia của nam giới từ 18 tuổi ở một số xã tỉnh Hà Nam năm 2017 22

3.1.1 Đặc điểm chung về đối tượng nghiên cứu 22

3.1.2 Thực trạng sử dụng rượu bia của đối tượng nghiên cứu 24

3.2 Mối liên quan giữa lạm dụng rượu bia và sức khỏe tâm thần 28

CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 34

4.1 Thực trạng sử dụng rượu bia của nam giới từ 18 tuổi ở 4 xã tỉnh Hà Nam năm 2017 34

4.1.1 Đặc điểm chung về đối tượng nghiên cứu 34

4.1.2 Thực trạng sử dụng rượu bia của đối tượng nghiên cứu 34

4.1.3 Mức độ nguy cơ trong sử dụng rượu bia của người dân dựa trên thang điểm AUDIT 37

4.2 Mối liên quan giữa sử dụng rượu bia và sức khỏe tâm thần của đối tượng nghiên cứu 38

4.2.1 Mối liên quan lạm dụng rượu bia và trầm cảm của đối tượng nghiên cứu 38

4.2.2 Mối liên quan lạm dụng rượu bia và rối loạn lo âu của đối tượng nghiên cứu 39

4.2.3 Mối liên quan lạm dụng rượu bia và stress của đối tượng nghiên cứu 40

4.3 Hạn chế của nghiên cứu 40

KẾT LUẬN 41

KHUYẾN NGHỊ 43 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

PHỤ LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

AUDIT : Bộ công cụ đánh giá mức độ nguy cơ sử dụng rượu bia (The

Alcohol Use Disorders Identification Test)DASS 21 : Thang đánh giá trầm cảm- lo âu- stress (Depresion Anxiety

Stress Scales 21)ĐVUC : “Đơn vị uống chuẩn”

ICD 10 : Phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 (International Classification

of Diseases)WHO : Tổ chức y tế thế giới (World Health Organization)

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1: Đặc điểm chung của đối tượng 22Bảng 3.2: Tần suất uống rượu bia lớn hơn hoặc bằng 6 ĐVUC trong 1 lần

uống 26Bảng 3.3: Tần suất mất khả năng kiểm soát lượng rượu bia sử dụng trong 12

tháng qua 26Bảng 3.4: Phân bố mức độ nguy cơ trong sử dụng rượu bia dựa trên thang

điểm AUDIT 27Bảng 3.5: Mối liên quan giữa mức độ nguy cơ sử dụng rượu bia và trầm cảm 28Bảng 3.6: Mối liên quan giữa sử dụng rượu bia không hợp lý và trầm cảm 28Bảng 3.7: Mối liên quan giữa sử dụng rượu bia không hợp lý và trầm cảm nhẹ 29Bảng 3.8: Mối liên quan giữa sử dụng rượu bia không hợp lý và trầm cảm vừa

và nặng 29Bảng 3.9: Mối liên quan giữa mức độ nguy cơ sử dụng rượu bia và rối loạn lo âu 30Bảng 3.10: Mối liên quan giữa sử dụng rượu bia không hợp lý và lo âu chung 30Bảng 3.11: Mối liên quan giữa sử dụng rượu bia không hợp lý và lo âu mức

độ nhẹ 31Bảng 3.12: Mối liên quan giữa sử dụng rượu bia không hợp lý và lo âu mức

độ vừa, nặng, rất nặng 31Bảng 3.13: Mối liên quan giữa mức độ nguy cơ sử dụng rượu bia và stress .32Bảng 3.14: Mối liên quan giữa sử dụng rượu bia không hợp lý và stress 32Bảng 3.15: Mối liên quan giữa sử dụng rượu bia không hợp lý và stress nhẹ 33Bảng 3.16: Mối liên quan giữa sử dụng rượu bia không hợp lý và stress vừa,

nặng rất nặng 33

Trang 10

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 3.1:Tỉ suất đối tượng đã từng sử dụng rượu bia 24

Biểu đồ 3.2: Tỉ lệ đối tượng sử dụng rượu bia 12 tháng qua 25

Biểu đồ 3.3: Tần suất uống rượu trong 12 tháng qua 25

Biểu đồ 3.4: Lượng rượu bia sử dụng trong một ngày tính theo “đơn vị uống chuẩn” 26

Trang 11

ĐẶT VẤN ĐỀ

Rượu bia là một loại thức uống được sử dụng rộng rãi ở nhiều quốc gia.Theo ước tính của Tổ chức y tế thế giới (WHO), số người sử dụng rượu biatrên thế giới chỉ sau cafe Sử dụng rượu bia với mức độ hợp lý có thể đem lạicho con người cảm giác hưng phấn, thoải mái Song rượu bia lại là chất kíchthích, gây nghiện vì vậy người sử dụng rất dễ bị lệ thuộc với mức độ dungnạp ngày càng nhiều dẫn đến tình trạng lạm dụng rượu bia Lạm dụng rượubia gây ra ảnh hưởng lên các cơ quan như tiêu hóa, tim mạch, hệ nội tiết gâylên những bệnh lý cho cơ quan đó, ngoài ra rượu bia còn gây ra các bệnh lýtâm thần [1]

Theo WHO hiện có khoảng 1/3 dân số thế giới có sử dụng rượu bia vàkhoảng 77 triệu người lạm dụng rượu bia Lạm dụng rượu bia xếp thứ 5 trong

số 10 nguy cơ hàng đầu với sức khỏe Lạm dụng rượu bia chiếm 4% gánhnặng bệnh tật toàn cầu, chỉ sau sử dụng thuốc lá (4,1%) và tăng huyết áp(4,4%) Ngoài ra rượu bia còn là nguyên nhân khiến con người không làm chủđược hành vi của mình, dẫn đến các vấn đề xã hội như bạo lực, tai nạn giaothông, tự tử [2]

Ở Việt Nam, quá trình đổi mới và phát triển nền kinh tế trong nhữngnăm qua đã giúp cho đời sống nhân dân ngày càng được nâng cao Xu hướng

sử dụng rượu bia và các loại đồ uống có cồn khác trong sinh hoạt hàng ngày,trong những dịp lễ, hội, trong quan hệ công việc đang ngày càng gia tăng[3].Theo một nghiên cứu công bố trên tạp chí Lancet, lượng rượu bia tiêu thụbình quân đầu người ở Việt Nam năm 2017 là 8,9 lít, và là quốc gia có chiềuhướng gia tăng mạnh nhất giai đoạn 2010-2017 (89%) cho thấy tình trạngđáng báo động[4]

Trang 12

Những lo ngại về mức độ tiêu thụ rượu bia và các vấn đề sức khỏe liênquan đến rượu bia trên thế giới ngày càng nhận được nhiều sự quan tâm Điềunày đã được phản ánh nhiều trong các chính sách phát triển gần đây tại nhiềuquốc gia trên thế giới Tuy nhiên, các chính sách này hiện mới chỉ tập trungvào việc giảm những tác hại gây nên về mặt thể chất, các hành vi bạo lực,chống đối xã hôi Trong khi đó vấn đề sức khỏe tâm thần liên quan đến việc

sử dụng rượu bia vẫn chưa nhận được sự quan tâm đúng mực Nhiều nghiêncứu trên thế giới đã chỉ ra rằng có mối liên quan giữa việc sử dụng rượu bia

và sức khỏe tâm thần[5] [6]

Hà Nam là một tỉnh nằm ở vùng Đồng bằng Sông Hồng Việt Nam.Phía Bắc tiếp giáp với Hà Nội, phía Đông giáp với tỉnh Hưng Yên và TháiBình, phía Nam giáp tỉnh Ninh Bình, Đông Nam giáp tỉnh Nam Định và phíaTây giáp tỉnh Hòa Bình Trong những năm gần đây kinh tế xã hội của tỉnh đã

có những bước phát triển đáng kể, kéo theo đó là nhiều vấn đề phức tạp về y

tế xã hội, giáo dục Thực trạng sử dụng rượu bia và sức khỏe tâm thần liênquan đến sử dụng rượu bia tại 2 Huyện Bình Lục và Huyện Kim Bảng ít đượcquan tâm, và cần được nghiên cứu Nhằm cung cấp bằng chứng cho can thiệpcộng đồng tại Tỉnh Hà Nam sau này, đặc biệt trong vấn đề về rượu bia và sức

khỏe tâm thần chúng tôi thực hiện nghiên cứu: “Thực trạng và mối liên quan giữa lạm dụng rượu bia và sức khỏe tâm thần của nam giới từ 18 tuổi ở một số xã tỉnh Hà Nam năm 2017” với mục tiêu sau:

1 Mô tả thực trạng sử dụng rượu bia của nam giới từ 18 tuổi tại 4 xã thuộc huyện Kim Bảng và Bình Lục, tỉnh Hà Nam năm 2017.

2 Mô tả mối liên quan giữa sử dụng rượu bia và sức khỏe tâm thần của nam giới từ 18 tuổi tại 4 xã thuộc huyện Kim Bảng và Bình Lục, tỉnh Hà Nam năm 2017.

Trang 13

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Khái niệm và một số yếu tố liên quan đến rượu bia

1.1.1 Định nghĩa rượu bia

Rượu bia là đồ uống có cồn được tạo ra chủ yếu nhờ quá trình lên men tinh bột và đường có trong nhiều loại hoa quả, ngũ cốc [3]

1.1.2 Phân loại rượu bia

Có nhiều cách phân loại khác nhau đối với rượu bia, WHO thường phân loại theo nồng độ cồn và chia thành 3 loại:

và không uống được [3]

1.1.3 “Đơn vị uống chuẩn” (ĐVUC).

“Đơn vị uống chuẩn” là đơn vị đo lường dùng để quy đổi các loạirượu bia với nhiều nồng độ khác nhau Việt Nam là nước đang áp dụng

“đơn vị uống chuẩn” theo khuyến cáo của WHO 1 đơn vị rượu bia bằng10g rượu bia nguyên chất Một ĐVUC tiêu chuẩn tương đương 30ml rượu

40 độ, 40ml rượu 30 độ, 60ml rượu 20 độ, một cốc 285ml bia 4,5 độ,120ml rượu vang 11 độ [2]

1.1.4 Một số ảnh hưởng của rượu bia đến sức khỏe con người.

Ảnh hưởng của rượu bia đến sức khỏe:

Rượu bia ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ của người uống và có nguy

cơ gây ra các vấn đề kinh tế - xã hội Tác hại của rượu, bia chủ yếu là do cồngây ra cho cơ thể người uống như: làm tổn thương tế bào và các mô dẫn đến

Trang 14

mắc các bệnh cấp tính và mạn tính, gây nhiễm độc, tác động lên hệ thống thầnkinh trung ương, làm rối loạn và mất khả năng điều khiển hành vi, nhận thức,gây nghiện, gây lệ thuộc dẫn đến rối loạn tâm thần kinh và các rối loạn cơ thểkhác Uống rượu bia gây ra các hậu quả cấp tính hoặc mạn tính, tác hại với cảngười uống, người xung quanh cũng như cộng đồng xã hội nói chung Một sốtác hại có thể thấy ngay sau khi uống như chấn thương, gây tai nạn giao thônghay ngộ độc rượu bia Một số tác hại khác lại diễn ra từ từ và kéo dài như gâycác tổn thương mạn tính đối với sức khỏe (mắc bệnh ung thư, bệnh lý timmạch, xơ gan, rối loạn tâm thần, sa sút trí tuệ) hay tác hại đối với gia đình(sao lãng, tổn hại kinh tế, bạo lực gia đình), công việc (bỏ bê, giảm năng suấtlàm việc), mối quan hệ xã hội [7] [8].

Tại Việt Nam, số liệu thống kê chưa đầy đủ cho thấy, rượu bia là yếu tốgây ra 2,9% số trường hợp tử vong và 2,2% gánh nặng bệnh tật quốc giatrong năm 2008 Năm 2012, 8,3% số trường hợp tử vong cả nước có liênquan đến việc sử dụng rượu bia[8] Theo nghiên cứu gánh nặng bệnh tật toàncầu, rượu bia là yếu tố nguy cơ xếp thứ 05 trong 10 nguy cơ sức khỏe hàngđầu tại Việt Nam, là nguyên nhân liên quan đến chấn thương, tai nạn giaothông, rối loạn tâm thần và hành vi, xơ gan, bệnh tim mạch, ung thư, một sốbệnh truyền nhiễm[9]

Tác hại của rượu bia đến sức khỏe tầm thần:

Ở Việt Nam, bệnh lý tâm thần do rượu trước đây rất ít được quan tâm,nhưng trong những năm gần đây lạm dụng rượu bia và nghiện rượu, bia đang

có xu hướng gia tăng nhanh và trở thành những vấn đề lớn về sức khỏe, kinh

tế - xã hội và an toàn cộng đồng Các vấn đề sức khỏe tâm thần liên quan đếnrượu bia bao gồm: loạn thần do rượu, sảng rượu, trầm cảm, rối loạn lo âu,stress.[10]

Trang 15

Loạn thần do rượu bia: là nhóm các biểu hiện rối loạn tâm thần, phátsinh và phát triển liên quan trực tiếp đến nghiện rượu, là hậu quả tác độngtrực tiếp và kéo dài của rượu bia lên não, loạn thần do rượu biểu hiện bằngcác rối loạn cảm xúc, hành vi, hoang tưởng, ảo giác Các biểu hiện rối loạntâm thần thường mất đi sau 1-6 tháng ngừng sử dụng rượu [11]

Sảng rượu (sảng run): Đây là một bệnh loạn thần cấp tính và trầmtrọng, xuất hiện ở người nghiện rượu, khi cơ thể bị suy yếu hay vì một bệnh

lý nào đó (nhiễm khuẩn, chấn thương) Sảng rượu cũng có thể xuất hiện saukhi cai rượu tương đối hoặc tuyệt đối Trong giai đoạn đầu chủ yếu là mệtmỏi, chán ăn, rối loạn giấc ngủ, ác mộng, cơn hoảng sợ, kích động, rối loạnthần kinh thực vật, run rẩy Thay đổi cảm xúc biểu hiện bằng hoảng hốt, lo âu,trầm cảm Bệnh tiến triển nặng dần, nhất là về chiều tối, có thể có ảo tưởngthị giác, hồi ức Giai đoạn toàn phát: Ý thức mê sảng hoặc lú lẫn, các ảotưởng và ảo giác sinh động và triệu chứng run nặng Ngoài ra cũng thường cóhoang tưởng, kích động, mất ngủ hoặc đảo lộn nhịp thức ngủ và hoạt độngthần kinh tự trị gia tăng[11]

Chứng nghiện rượu mạn tính thường dẫn đến thay đổi tính tình rõ rệt:trở nên ích kỷ hung dữ ác độc, đánh đập hành hạ vợ con Suy đồi đạo đức,quan hệ tình dục bừa bãi, thiếu bảo vệ, dễ mắc các bệnh lây nhiễm qua đườngtình dục Sống thiếu trách nhiệm với gia đình tiêu xài phung phí, thờ ơ vớicông việc, năng suất làm việc giảm sút hay vi phạm pháp luật [9]

1.1.5 Bộ công cụ AUDIT (The Alcohol Use Disorders Identification Test)

và mức độ nguy cơ trong sử dụng rượu bia

Bộ công cụ AUDIT được xuất bản năm 1989 Bảng câu hỏi AUDIT làmột phương pháp sàng lọc đơn giản cho các đối tượng sử dụng rượu và uốngrượu quá mức Độ tin cậy và hiệu lực của nó đã được thiết lập trong nghiêncứu được tiến hành trong nhiều môi trường và ở nhiều quốc gia khác nhau

Trang 16

Nó được coi là công cụ sàng lọc rất phù hơp cho phạm vi vấn đề về rượutrong chăm sóc sức khỏe ban đầu và là xét nghiệm sàng lọc duy nhất đượcthiết kế đặc biệt để sử dụng quốc tế[12].

Qua nghiên cứu thử nghiệm của tác giả Kim Bảo Giang và cộng sự tại

Ba Vì Hà Nội năm 2004 kết luận: bộ công cụ AUDIT hoàn toàn khả thi để ápdụng tại Việt Nam[13] Bộ công cụ AUDIT được sử dụng phù hợp với tất cảcác đối tượng trong cộng đồng Bộ câu hỏi AUDIT gồm 10 câu hỏi, câu từ 1-

8 tính theo thang điểm 0-4, câu 9,10 tính theo thang điểm 0-2 AUDIT cònđược chia thành 3 phần[3]:

 Phần 1 có 3 câu hỏi (câu 1, 2, 3) thu thập bằng chứng về sử dụng rượubia đến mức có hại

 Phần 2 có 3 câu hỏi (câu 4, 5, 6) thu thập bằng chứng về phụ thuộcrượu bia

 Phần 3 có 4 câu hỏi (câu 7, 8, 9, 10) thu thập bằng chứng về sử dụngrượu bia ở mức nguy hiểm

Dựa theo hướng dẫn trong bộ công cụ AUDIT phân loại thành 4 mức

độ nguy cơ trong sử dụng rượu bia [3] bao gồm:

 Sử dụng bia hợp lý, nguy cơ thấp với mức độ dung nạp này,những hậu quả của rượu bia đối với sức khoẻ thường ở mức tốithiểu, tương ứng với mức <8 điểm (đánh giá theo bộ công cụsàng lọc)

 Sử dụng rượu bia ở mức nguy cơ là việc sử dụng rượu bia ở mức

độ dẫn đến nguy cơ gây hại cho người uống Những người nàymặc dù chưa chịu những tác hại về sức khỏe do rượu/bia gây ranhưng họ có nguy cơ mắc các bệnh mạn tính như: ung thư, timmạch, hoặc nguy cơ chấn thương, bạo lực hay hành vi liên quanđến pháp luật, giảm khả năng làm việc, và gặp phải các vấn đề xã

Trang 17

hội do tình trạng nhiễm độc rượu, bia cấp tính gây nên, tươngứng với mức từ 8-15 điểm.

 Sử dụng rượu bia ở mức có hại là việc sử dụng rượu bia ở mứcgây ra các tổn hại về sức khỏe Những tổn hại này có thể về thểchất (tổn thương gan, suy chức năng gan, tim mạch, v.v.) haytâm thần (trầm cảm, loạn thần,v.v.) hoặc các hậu quả xã hội khác(tai nạn thương tích, bạo lực, giảm khả năng làm việc,v.v.),tương ứng với mức từ 9-16 điểm

 Phụ thuộc/nghiện rượu bia là tình trạng lệ thuộc vào rượu biađược đặc trưng bởi sự thèm muốn (nhu cầu uống mãnh liệt), mấtkiểm soát (không thể ngừng uống mặc dù rất muốn dừng), tăngmức độ dung nạp, ảnh hưởng đến thể chất, tương ứng với mức từ

20 điểm trở lên

1.2 Thực trạng sử dụng rượu bia trên thế giới và Việt Nam

1.2.1 Thực trạng sử dụng rượu bia trên thế giới.

Một nghiên cứu được công bố trên tạp chí Lancet năm 2019 đã pháthiện ra rằng mức tiêu thụ rượu bia trên toàn cầu có chiều hướng tăng Tổnglượng rượu tiêu thụ trên toàn cầu mỗi năm đã tăng từ 21 tỷ lít năm 1990 lên35,7 tỷ lít vào năm 2017 - tăng 70% Các nước thu nhập thấp và trung bìnhnhư Việt Nam, Ấn Độ và Trung Quốc có xu hướng sử dụng với lượng tăngđáng kể Điều đó đã dẫn đến việc tiêu thụ rượu bia tăng 34% ở Đông Nam Átrong giai đoạn bảy năm từ 2010 đến 2017 Với trung bình 15 lít rượu bianguyên chất được tiêu thụ trên mỗi người lớn hàng năm tính đến năm 2017,Moldova là quốc gia có mức độ sử dụng cao nhất trong khi Kuwait là nước cólượng sử dụng thấp nhất [4] Lượng rượu bia được báo cáo đã giảm ở cácnước phát triển, nhưng nó đã tăng lên ở các nước đang phát triển Tiêu thụrượu bia đã tăng mạnh ở Việt Nam, tốc độ tăng là 89,4% so với năm 2010 Ấn

Trang 18

Độ cũng chứng kiến sự gia tăng đáng chú ý với lượng tiêu thụ trung bìnhhàng năm tăng 37,2% trong cùng kỳ Nhiều quốc gia phát triển đã thấy tănghoặc giảm nhẹ với mức tiêu thụ của Mỹ tăng 5,4% kể từ năm 2010 NgườiNga đang sử dụng có xu hướng giảm, cùng với Anh, Canada và Úc cũng đanggiảm [4]

1.2.2 Thực trạng sử dụng rượu bia ở Việt Nam.

Hành vi uống rượu bia trong những dịp lễ tết cưới hỏi, ma chay có ởhầu hết các địa phương trong cả nước Hành vi này đã trở thành văn hóa từ rấtlâu ở nước ta, đối với người dân uống rượu bia là hành vi rất bình thường [7].Một nghiên cứu được công bố trên tạp chí Lancet năm 2019, Việt Nam làquốc gia sử dụng rượu bia tăng mạnh nhất giai đoạn 2010-2017 đã tăng89,4% với lượng tiêu thụ trung bình 8,9 lít/người/năm Điều đó cho thấy tìnhtrạng sử dụng rượu bia ở nước ta đang ở mức độ đáng báo động, theo dự báonếu không có điều chỉnh thì sẽ tiếp tục tăng trong những năm tiếp theo [4]

Kết quả nghiên cứu ở Thường Tín Hà Nội do tác giả Nguyễn ThịThanh Hà thực hiện 2008 cho thấy: Với dân số 6704 người trên 18 tuổi ở xã

có 884 người sử dụng rượu bia đạt tiêu chuẩn chẩn đoán lạm dụng rượu bia vànghiện có tỉ lệ là 13,2% dân số điều tra Trong đó 884 người lạm dụng rượubia và nghiện rượu bia có 734 người, lạm dụng rượu bia là 11,1% và 141người nghiện rượu bia là 2,1% Số lần uống rượu bia mỗi ngày chiếm tỷ lệcao nhất ở nhóm từ 1-3 lần (91%) thấp nhất ở nhóm trên 10 lần (9%) [14]

Theo kết quả công bố của tác giả Kim Bảo Giang và cộng sự thực hiệntại huyện Thanh Oai Hà Nội năm 2013 cho thấy: sử dụng rượu và vấn đề rượu

là phổ biến hơn nhiều ở nam giới Tỷ lệ sử dụng rượu trong thời gian 12 tháng

là 49,6% (ở nam là 82,9% và ở nữ là 17,8% ) Tỷ lệ sử dụng rượu trong 1 tuầntrước cuộc phỏng vấn là 34,7% (ở nam là 65,5% và ở nữ là 5,3%) Tỷ lệ uốngquá nhiều là 24,4% ở tất cả nam giới và ở tất cả phụ nữ là 0,4% Tỷ lệ uống

Trang 19

rượu quá mức là 35% trong số tất cả những người sử dụng rượu (37,3% ởnhững người sử dụng rượu nam và ở nữ là 7,1) [15]

Trong nghiên cứu của tác giả Phạm Hiền Vương và cộng sự năm 2014kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ đã từng uống hết 1 đơn vị rượu trong nhómnam giới 15-60 trên địa bàn xã Ninh Hiệp là 90,8% Tỷ lệ sử dụng rượu biatrong vòng 1 năm trở lại đây là 87,1% và 1 tuần trở lại đây là 66,9% Tỷ lệphụ thuộc rượu bia là 3,0% Tuổi trung bình bắt đầu uống rượu bia là 17,9 ±2,7 Có tới 26,4% nam giới uống rượu bia hàng ngày Lượng rượu bia uốngtrung bình trong 1 ngày là 3,4 ± 3,37 đơn vị rượu chuẩn Rượu tự nấu/bia sảnxuất thủ công là loại đồ uống phổ biến nhất (67,3%) Phần lớn những người

sử dụng rượu bia thường uống ngay tại nhà: 61,1% Và thường là uống vớibạn bè/đồng nghiệp là 63,3% [16]

Trong một nghiên cứu khác của tác giả Tạc Văn Nam và cộng sự năm

2014 tại tỉnh Bắc Kạn cho thấy tỉ lệ đối tượng đã từng sử dụng rượu bia có tỉ

lệ đến 96,5% Trong đó tỉ lệ uống rượu ở mức nguy cơ, lạm dụng rượu biachung cho cả 2 giới là 25%, ở nam là 29,1%, ở nữ là 6,8% Lý do uống rượubia nhiều nhất là vì thói quen khi gặp bạn bè/người thân/khách (82%), tiếpđến là do có đồ ăn ngon (20,8%), chỉ 12,8% cho rằng thấy tự tin hơn khi cóchút rượu Thời gian sử dụng rượu bia của các đối tượng trong từ 5-10 nămchiếm cao nhất 29,25%, dưới 5 năm là 26,25%, 11- 20 năm là 25,25%, và cótới 19,0% người uống rượu trên 20 năm Tỷ lệ đối tượng có số lần uống rượubia nhiều hơn 2 lần/ngày chiếm 44,8% Tỷ lệ đối tượng sử dụng 1-3 chénrượu/lần chiếm 46,1% Vẫn có tới 14,5% số đối tượng uống trên 10 chénrượu/lần Tỷ lệ dùng ≤ 1 cốc bia/lần chiếm 59,1%, 2-3 cốc/lần chiếm 23,6%,

>5 cốc/lần chiếm 6,9% [17]

Nghiên cứu của tác giả Lưu Bích Ngọc và cộng sự tại 12 tỉnh thành phốnăm 2015 cho kết quả 86,5% nam giới sử dụng rượu bia Tỷ lệ người sử dụng

Trang 20

rượu bia không khác biệt nhiều giữa người trẻ, trung niên hay người cao tuổi,cũng không khác nhau giữa khu vực thành thị hay nông thôn Sự khác biệt chỉxuất hiện theo vùng địa lý kinh tế Tây Nguyên là vùng có tỷ lệ người dân sửdụng rượu bia nhiều nhất (73,4%), tiếp theo, xếp hàng thứ hai là vùng Đồngbằng sông Hồng (65%), xếp thứ ba là vùng Trung du và miền núi phía Bắc(61%) Trong các nhóm nghề nghiệp khác nhau, hai nhóm dân số có tỷ lệngười sử dụng rượu bia nhiều nhất là nhóm người làm nghề tự do (xe ôm, bánhàng rong) (71,6%) và nhóm nhân viên hành chính (70%) Lượng rượu biađược sử dụng trung bình trong một ngày tăng dần theo các nhóm tuổi củangười sử dụng Nhóm thanh niên dưới 25 tuổi đã sử dụng lượng ít nhất (7,4g/ngày), tiếp đến là nhóm tuổi 26-35 (12,7g/ngày), nhóm tuổi 36-45(14,8g/ngày) và 46-55 tuổi (15,5 g/ngày) [18].

1.3 Mối liên quan giữa lạm dụng rượu bia và sức khỏe tâm thần.

1.3.1 Mối liên quan giữa lạm dụng rượu bia và trầm cảm.

Trầm cảm là một trạng thái cảm xúc buồn rầu, chán nản khác với phảnứng buồn chán nhất thời ở người bình thường Trầm cảm có nguyên nhân và

cơ chế bệnh sinh phức tạp, biểu hiện lâm sàng không chỉ bằng các triệu chứngđặc trưng về tâm thần là giảm khí sắc mà còn kèm theo nhiều triệu chứng về

cơ thể nên người bệnh trầm cảm thường đến với các chuyên khoa khác và dễ

bị bỏ sót chẩn đoán [19]

Trầm cảm điển hình được mô tả bằng sự ức chế toàn bộ các quá trìnhhoạt động tâm thần biểu hiện bằng 3 triệu chứng đặc trưng sau: khí sắc trầmbiểu hiện bằng nét mặt, dáng điệu buồn rầu, ủ rũ Mất hoặc giảm sự quan tâmthích thú: không quan tâm đến mọi việc, không còn ham thích gì kể cả vuichơi Mất hoặc giảm năng lượng, giảm hoạt động, dễ mệt mỏi không còn sứclực chỉ sau một cố gắng nhỏ [20]

Trang 21

Rượu bia có thể tác động gây mắc trầm cảm: nó làm thay đổi sự cânbằng các chất trong não Khi mới sử dụng, rượu bắt đầu ảnh hưởng đến mộtphần của não liên quan đến sự ức chế Đó là lý do tại sao rượu bia đôi khi làmcho người uống cảm thấy tự tin và thoải mái hơn Nhưng khi uống nhiều hơn,

có thể những tác dụng dễ chịu trên sẽ được thay thế bằng những cảm xúc tiêucực như trầm cảm, lo âu hoặc tức giận[21] Uống thường xuyên làm giảmserotonin, một chất của não giúp điều chỉnh tâm trạng Đây là một yếu tố dẫnđến triệu chứng trầm cảm nếu uống nhiều và thường xuyên Ngoài ra, rượu vàtrầm cảm có thể tác động lẫn nhau để tạo ra một vòng luẩn quẩn [22]

Trong một nghiên cứu của tác giả Trần Quỳnh Anh và cộng sự năm

2017 tại tỉnh Sơn La đối tượng là người trưởng thành kết quả cho thấy cómối liên quan giữa việc sử dụng rượu và trầm cảm Những đối tượng sửdụng rượu bia có nguy cơ bị trầm cảm cao gấp 6,1 lần người không sử dụngrượu bia [23]

Trong nghiên cứu của Meronias và cộng sự tại Tây Ban Nha vào năm

2017 đối tượng là thanh thiếu niên cho thấy những đối tượng sử dụng rượubia có nguy cơ mắc trầm cảm vừa và nặng cao hơn 1,71 lần nhóm không sửdụng rượu bia [5]

1.3.2 Mối liên quan giữa lạm dụng rượu bia và lo âu.

Rối loạn lo âu là sự lo sợ quá mức trước một tình huống xảy ra, có tínhchất vô lý, lặp lại và kéo dài gây ảnh hưởng tới sự thích nghi với cuộc sống.Rối loạn lo âu lan tỏa được xếp vào nhóm các rối loạn liên quan đến stress vớicác đặc tính là những mối lo dai dẳng, lan tỏa mạn, không khu trú vào một sựkiện hoàn cảnh đặc biệt nào ở xung quanh hoặc có liên quan với những sựkiện đã qua không còn tính thời sự nữa Rối loạn này thường có xu hướngmạn tính[24] Các triệu chứng đặc trưng trong giai đoạn toàn phát là căngthẳng, sợ hãi vô cớ, căng thẳng về cơ thể, bồn chồn căng cơ, tim đập nhanh,

Trang 22

đau đầu, khó chịu, tim đập nhanh, vã mồ hôi, đi tiểu nhiều lần Các triệuchứng này thường kéo dài vài tháng và tái diễn nhiều lần[25].

Theo nghiên cứu của Wenbin Liang và cộng sự tại Úc năm 2007 đốitượng là người trưởng thành 18-85 tuổi cho thấy có mối liên quan giữa sửdụng rượu và rối loạn lo âu Những đối tượng sử dụng rượu bia ở mức lạmdụng nghiện có khả năng mắc rối loạn lo âu cao hơn gấp 2,15 lần (CI=1,34-3,43) những đối tượng không sử dụng rượu bia [6]

1.3.3 Mối liên quan giữa lạm dụng rượu bia và stress

Stress là phản ứng của cơ thể trước bất cứ một yêu cầu, áp lực hay mộtyếu tố tác động nào đe dọa đến sự tồn tại lành mạnh của con người cả về thểchất lẫn tinh thần Stress là một khái niệm đa hình Trong thường ngày chúng

ta đều trải nghiệm stress ở nhiều khía cạnh khác nhau trong các hoạt động củachúng ta: ở trường, ở nhà, nơi công sở và thậm chí cả trong các hoạt động thểdục thể thao cũng có stress, luôn luôn tồn tại quanh ta [26]

Theo giáo sư Đặng Phương Kiệt phân loại mức độ stress như sau:[27]

- Stress mức độ nhẹ: là mức độ mà chủ thể có thể cảm nhận như mộtthách thức làm tăng thành tích

- Stress mức độ vừa: là mức độ phá vỡ ứng xử và có thể dẫn đến nhữnghành động rập khuân, lặp lại

- Stress mức độ nặng: là mức độ dẫn đến ngăn chặn ứng xử gây ranhững phản ứng lệch lạc, dễ bối rối, giận dữ và trầm nhược

Trong nhiều nghiên cứu trên thế giới cũng khẳng định có mối liên quangiữa sử dụng rượu và stress [28] [29] Nghiên cứu của Seung Jin Yoon vàcộng sự tại Hàn Quốc năm 2016 kết quả có mối liên quan giữa sử dụng rượubia không hợp lý và stress [30]

Trang 23

1.3.4 Thang đánh giá trầm cảm- lo âu- stress DASS 21 ( Depresion Anxiety Stress Scales 21)

Thang đánh giá về trầm cảm, lo âu, stress trên đối tượng vị thành niên

và người trưởng thành được phát triển bởi Livibond S.H và Livibond P.E(1995), ký hiệu DASS 42 gồm 42 câu hỏi Đến năm 1997, cũng chính nhómcác nhà khoa học này lại cho ra đời thang đo DASS 21 – đây là phiên bản rútgọn của Dass 42 nhằm tạo ra sự tiện lợi hơn cho người dung [31] Thang đánhgiá DASS 21 là một phương pháp sàng lọc đơn giản cho các đối tượng Độ tincậy và hiệu lực của nó đã được thiết lập trong nghiên cứu được tiến hànhtrong nhiều môi trường và ở nhiều quốc gia khác nhau[32] Thang đo DASS

21 đã được viện sức khỏe tâm thần Quốc gia Việt Nam biên dịch và thửnghiệm trên các đối tượng khác nhau Thang đánh giá DASS 21 gồm 21 mụctiêu, mỗi biểu hiện sức khỏe tâm thần được đánh giá bằng 7 tiêu mục và đãđược viện sức khỏe tâm thần đánh giá biên dịch, thử nghiệm và được sửadụng rộng rãi trong nghiên cứu và điều trị trong bệnh viện[33] [34] Mức độđánh giá cho điểm cho mỗi mục là 0 đến 3 điểm

Sau khi cộng điểm của từng nhóm 7 mục tiêu kết quả sau đó nhân hệ số

2 thu được sẽ nhận dạng theo mức độ biểu hiện về sức khỏe tâm thần theo cácmức độ bình thường, nhẹ, vừa, nặng, rất nặng ứng với các điểm tương ứng(phụ lục 2):

Các hạng mục câu hỏi:

Stress:

- Tôi khó mà cảm thấy thoải mái được

- Tôi có xu hướng phản ứng thái quá với các tình huống

- Tôi thấy mình đang suy nghĩ quá nhiều

- Tôi thấy bản thân dễ bị kích động

Trang 24

- Tôi thấy khó thư giãn được

- Tôi không chấp nhận được việc có cái gì đó xen vào cản trở việc tôiđang làm

- Tôi thấy mình khá dễ phật ý, tự ái

Lo âu:

- Tôi cảm thấy khô miệng

- Tôi cảm thấy khó thở (thở gấp, khó thở dù chẳng làm việc gì nặng)

- Tôi cảm thấy run (ví dụ: tay)

- Tôi lo lắng về những tình huống có thể làm tôi hoảng sợ hoặc biến tôithành trò cười

- Tôi thấy mình gần như hoảng loạn

- Tôi nghe thấy rõ tiếng nhịp tim dù không làm việc gì nặng cả (ví dụ:cảm thấy nhịp tim tăng, tim lỡ nhịp)

- Tôi thấy sợ vô cớ

Trầm cảm:

- Tôi dường như chẳng có chút cảm xúc tích cực nào

- Tôi thấy khó bắt tay vào công việc

- Tôi thấy mình chẳng có gì để mong đợi cả

- Tôi cảm thấy chán nản, buồn bã

- Tôi không thể hăng hái với bất kỳ việc gì nữa

- Tôi cảm thấy mình chẳng đáng làm người

- Tôi thấy sợ vô cớ

1.4 Đặc điểm địa điểm nghiên cứu

Huyện Kim Bảng nằm ở phía Tây Bắc của tỉnh Hà Nam, cách Hà Nộikhoảng 60 Km Diện tích tự nhiên là 17.540 ha chiếm 20,38 % tổng diện tích

tự nhiên của tỉnh Hà Nam Bình Lục là huyện đồng bằng châu thổ sông Hồng,

Trang 25

ở phía đông nam tỉnh Hà Nam; phía Bắc giáp huyện Lý Nhân, Duy tiên; phíanam giáp huyện Ý Yên, Vụ Bản của tỉnh Nam Định; phía tây giáp huyệnThanh Liêm; phía đông giáp huyện Mỹ Lộc tỉnh Nam Định Trong nhữngnăm qua, Kim Bảng và Bình Lục có tốc độ phát triển kinh tế bình quânkhoảng 7-7,5% năm Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng côngnghiệp và dịch vụ, giảm nông nghiệp-thủy sản Hệ thống cơ sở hạ tầng kinh tế

- xã hội nông thôn như đường giao thông, điện, thủy lợi, trường học, cơ sở vậtchất, văn hóa, chợ, thông tin truyền thông, nhà ở dân cư được cải tạo, nângcấp, xây mới khang trang, mang dáng vóc hiện đại ở mỗi làng quê Thu nhậpcủa người dân nơi đây thông qua sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, tiểu thủcông nghiệp, dịch vụ ngày càng phát triển, đời sống vật chất, tinh thần đượcnâng cao, hệ thống chính trị vững mạnh Quan tâm, chỉ đạo việc thực hiệnchính sách an sinh xã hội gắn với Chương trình xây dựng nông thôn mới,huyện đã huy động được nhiều nguồn lực của toàn xã hội để trợ giúp, hỗ trợcho các hộ nghèo, cận nghèo, giải quyết việc làm, ưu đãi người có công, trợgiúp xã hội; xây dựng và phát triển kết cấu hạ tầng thiết yếu ở địa phương;với nỗ lực trong tổ chức thực hiện, công tác an sinh xã hội ngày càng đượcbảo đảm tốt hơn, góp phần quan trọng nâng cao đời sống vật chất và tinh thầncủa nhân dân, ổn định và phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn huyện KimBảng và Bình Lục Các chính sách và giải pháp về đào tạo nghề, giải quyếtviệc làm, giảm nghèo được các cấp ủy đảng, chính quyền từ huyện đến xã, thịtrấn quan tâm, triển khai đồng bộ trên tất cả các lĩnh vực như: Tuyên truyền,khảo sát, nắm bắt tâm tư nguyện vọng của người lao động để xây dựng kếhoạch đào tạo nghề, giải quyết việc làm; giúp hộ nghèo tiếp cận dạy nghề, hỗtrợ về nhà ở không an toàn; chuyển giao khoa học kỹ thuật, hỗ trợ phát triểnsản xuất thông qua các chính sách vay vốn để phát triển ngành nghề, nâng cao

Trang 26

thu nhập cho người lao động Kinh tế xã hội đã có những bước phát triển đáng

kể, kéo theo đó là nhiều vấn đề phức tạp về y tế xã hội, giáo dục [35]

Trang 27

CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng tham gia nghiên cứu

 Tiêu chuẩn lựa chọn:

 Nam giới từ 18 tuổi tại 4 xã điều tra thuộc tỉnh Hà Nam

 Hiện đang sinh sống ít nhất 6 tháng tại 4 xã điều tra thuộc tỉnh HàNam

 Đồng ý tham gia nghiên cứu

 Tiêu chuẩn loại trừ: đối tượng không có khả năng trả lời câu hỏi: mắccác bệnh cấp/mạn tính nặng nề, bệnh lý tâm thần nặng

2.2 Thời gian địa điểm nghiên cứu

Địa điểm nghiên cứu :

 Huyện Bình Lục: xã Hưng Công và Bối Cầu

 Huyện Kim Bảng: xã Tượng Lĩnh và Thanh Sơn

Thời gian nghiên cứu từ tháng 04/2017 đến tháng 05/2019

Thời gian thu thập số liệu từ tháng 07/2017 đến tháng 8/2017

n: cỡ mẫu nghiên cứu là số nam giới được khảo sát.

Z: hệ số tin cậy (với α = 0,05, Z = 1,96).

p: là tỷ lệ sử dụng rượu bia ở mức có hại, lạm dụng rượu bia (theo

nghiên cứu của Kim Bảo Giang năm 2013, p=0,35 [15]

d: sai số mẫu tuyệt đối (chọn d=0,03)

Từ công thức trên cộng thêm 15% để kiểm soát tỉ lệ không đáp ứngnghiên cứu, kết quả cuối cùng là 1125 đối tượng

Trang 28

Chọn mẫu:

Chọn 4 xã thuộc 2 huyện Bình Lục và Kim Bảng

Trong một xã chọn 30 cụm ngẫu nhiên

 Liệt kê danh sách xóm của xã được điều tra

 Thu thập thông tin dân số nam ≥18 tuổi của xóm đó

 Tính dân số nam ≥18 tuổi cộng dồn cho từng thôn

 Tính khoảng cách mẫu k= dân số nam ≥18 /30 cụm

 Chọn số ngẫu nhiên (cụm đầu tiên) có giá trị ≤ k (dùng dãy số trênđồng tiền để chọn)

 Cụm 2= số ngẫu nhiên + k

 Cụm 3= số ngẫu nhiên +2k

 Cụm 30 = số ngẫu nhiên + 29k

 Cỡ mẫu mỗi cụm = 300/30 = 10

 Chọn ngẫu nhiên hộ gia đình có nam ≥18 tuổi

 Chọn các hộ tiếp theo phương pháp cổng liền cổng

 Cách chọn số người điều tra trong 1 hộ gia đình: nếu mỗi hộ có 3 thế

hệ là cháu trai ≥18 tuổi, cha, ông thì hộ đó sẽ chọn điều tra 3 người(1 cháu, cha, và ông) Nếu cháu trai chưa đủ 18 tuổi thì chỉ điều tracha và ông Như vậy tối đa mỗi hộ điều tra 3 người (đại diện 3 thếhệ), nếu có 2 thế hệ, chỉ điều tra 2 người nếu đủ điều kiện

2.4 Biến số /chỉ số nghiên cứu

Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu:

 Tuổi: Tỉ lệ % số người trong từng nhóm tuổi trên tổng số người tham gia (18-24, 25-44, 45-60, >60)

 Trình độ học vấn: Tỷ lệ % số người hoàn thành các bậc học trên tổng

số người tham gia nghiên cứu

Trang 29

 Nghề nghiệp: Tỷ lệ % người làm các công việc khác nhau trên tổng số người tham gia nghiên cứu

 Thu nhập: Tỷ lệ % các nhóm thu nhập trên tổng số người tham gia nghiên cứu tính theo triệu đồng/người/tháng

Mục tiêu 1: Thực trạng sử dụng rượu bia của nam giới từ 18 tuổi ở một số

xã tỉnh Hà Nam năm 2017

 Tỉ lệ đối tượng đã từng sử dụng rượu bia trong quá khứ

 Tỉ lệ đối tượng sử dụng rượu bia trong 12 tháng qua

 Tần suất sử dụng rượu bia trong số những đối tượng có sử dụng rượu bia 12 tháng qua

 Lượng rượu bia tính theo đơn vị uống chuẩn trung bình trong 1 ngày uống

 Tần suất uống trên 6 đơn vị uống chuẩn trong 1 lần uống

 Tần suất mất khả năng kiểm soát lượng rượu bia sử dụng trong 12 tháng qua

 Tần suất không thể thực hiện công việc theo dự định do uông uống rượu bia

 Tỉ lệ đối tượng uống rượu vào buổi sáng theo các mức độ

 Tần suất lo ngại của bản thân do uống rượu

 Tần suất mất khả năng ghi nhớ những chuyện đã xảy ra trước đó trong

12 tháng qua

 Tần suất xảy ra tai nạn thương tích do rượu bia gây nên

 Mức độ quan tâm của người xung quanh đến hành vi uống rượu của đốitượng

 Đánh giá mức độ uống rượu bia theo thang điểm AUDIT: (tổng điểm

10 câu hỏi)

Trang 30

Uống rượu bia hợp lý nguy cơ thấp (<8 điểm)Uống rượu bia ở mức nguy cơ (8-15 điểm )Uống rượu bia ở mức có hại (16-19 điểm)Uống rượu bia ở mức độ lạm dụng/nghiện (≥20 điểm)

Mục tiêu 2: Mô tả mối liên quan giữa lạm dung rượu bia và sức khỏe tâm thần của nam giới từ 18 tuổi tại 4 xã thuộc huyện Kim Bảng và Bình Lục, tỉnh Hà Nam năm 2017

Điểm của Trầm cảm, Lo âu và Stress được tính bằng cách cộng điểm các đề mục thành phần rồi nhân hệ số 2

2.5 Quy trình thu thập số liệu

- Bước 1: Tập huấn điều tra viên về phương pháp điều tra và điều tra thửtrước khi triển khai thu thập số liệu

- Bước 2: thu thập thông tin, điều tra viên tới các hộ gia đình được lựachọn và chon ra những đối tượng nghiên cứu để phỏng vấn Đối với cánhân vắng điều tra viên quay lại 3 lần trước khi loại khỏi danh sách vàchọn bổ sung

- Bước 3: phiếu được mã hóa kiểm tra ngay tại hết mỗi ngày để hạn chế

bỏ sót thông tin

Trang 31

2.6 Quản lý, xử lý và phân tích số liệu

- Số liệu sau khi kiểm tra và làm sạch sẽ được nhập vào máy tính bằngphần mềm Epidata 3.1 với các tệp QES, RES, và CHK nhằm hạn chếsai số khi nhập liệu

- Tính tổng điểm cho bộ câu hỏi AUDIT như sau: Bộ câu hỏi AUDITgồm 10 câu hỏi, câu từ 1-8 tính theo thang điểm 0-4, câu 9, 10 tính theothang điểm 0-2 Điểm AUDIT bằng tổng điểm các đối tượng trả lờitrong 10 câu hỏi đó

- Cách tính điểm thang điểm DASS 21: thang điểm DASS 21 có 21 mụcchia đều làm 3 nhóm trầm cảm, lo âu, stress Cách tính điểm là cộngđiểm 7 mục thành phần của mỗi nhóm sau đó nhân hệ số 2

- Phân tích số liệu bằng phần mềm thống kê Stata 14.2 Cả thống kê mô

tả và thống kê suy luận được thực hiện

- Tỉ suất chênh OR được sử dụng trong thống kê suy luận Mức ý nghĩathống kê p<0,05

 Đối với sai số trong quá trình thu thập số liệu: giám sát kiểm tra số liệutại thực đia

Trang 32

 Đối với sai số trong quá trình làm sạch và nhập liệu: đọc lại phiếu vàlàm sạch trước khi nhập liệu, làm sạch các số liệu bị thiếu và số liệu vô

lý trước khi phân tích

2.8 Đạo đức nghiên cứu

 Nghiên cứu được duyệt bởi hội đồng thông qua đề cương tại Bộ mônDịch tễ Viện Đào tạo YHDP và YTCC – Trường Đại học Y Hà Nội

 Trong quá trình nghiên cứu, thông tin đối tượng nghiên cứu được bảomật Nghiên cứu không gây ra tổn thất nào về sức khỏe, tinh thần haytiền bạc của đối tượng nghiên cứu

Ngày đăng: 18/07/2019, 13:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w