1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ và TÍNH AN TOÀN của PHƯƠNG PHÁP TRUYỀN hóa CHẤT QUA BUỒNG TIÊM TRUYỀN TRÊN BỆNH NHÂN tại BỆNH VIỆN đại học y hà nội

79 284 12

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 370,54 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đánh giá về tính an toàn của phương pháp sử dụng buồng tiêm truyền trong điều trị hóa chất trên bệnh nhân ung thư...424.3.1.. Số lượng cũng như cáchình thức đường truyền tĩnh mạch trung

Trang 1

LƯƠNG TUẤN HIỆP

§¸NH GI¸ HIÖU QU¶ Vµ TÝNH AN TOµN CñA PH¦¥NG PH¸P TRUYÒN HãA CHÊT QUA BUåNG TI£M TRUYÒN TR£N BÖNH NH¢N T¹I BÖNH VIÖN §¹I HäC Y Hµ NéI

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP BÁC SỸ Y KHOA

KHÓA 2013 - 2019

Hà Nội – 2019

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

Trang 2

LƯƠNG TUẤN HIỆP

§¸NH GI¸ HIÖU QU¶ Vµ TÝNH AN TOµN CñA PH¦¥NG PH¸P TRUYÒN HãA CHÊT QUA BUåNG TI£M TRUYÒN TR£N BÖNH NH¢N T¹I BÖNH VIÖN §¹I HäC Y Hµ NéI

Ngành đào tạo : Bác sỹ Đa khoa

Hà Nội – 2019 LỜI CẢM ƠN

Trang 3

Y Hà Nội

Tôi xin cảm ơn sâu sắc tới Thạc sỹ Nguyễn Thị Vượng và Thạc sỹ Trần Trung Bách, là hai giảng viên trực tiếp hướng dẫn khoa học, tận tình chỉ bảo tôi trong quá trình nghiên cứu để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp

Tôi xin chân thành cảm ơn Bác sỹ nội trú Nguyễn Việt Anh đã giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập và xử lý số liệu, cũng như đóng góp những ý kiến quan trọng giúp tôi hoàn thiện luận văn này Tôi xin gửi lời cảm ơn tới Bác

sỹ Nguyễn Thành Khiêm, Bác sỹ Bùi Trung Nghĩa đã đem đến cho tôi những lời khuyên và những góp ý về mặt chuyên môn bổ ích.

Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy cô giáo trường Đại học Y Hà Nội

đã dạy bảo, hướng dẫn tôi trong suốt 6 năm học

Trân trọng cảm ơn những bệnh nhân tại khoa Ung Bướu và Chăm sóc giảm nhẹ Bệnh viện Đại học Y Hà Nội đã tham gia vào nghiên cứu và giúp đỡ tôi trong thực hiện nghiên cứu này Không có sự tham gia của họ, tôi sẽ không bao giờ có được những số liệu quý báu này để hoàn thành khóa luận

Nhân dịp này, tôi kính trọng tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Cha, Mẹ, em gái đã giành tất cả để giúp tôi học tập, phấn đấu và trưởng thành trong cuộc sống và sự nghiệp

Xin cám ơn tất cả bạn bè đã giành cho tôi nhiều sự giúp đỡ và tình cảm chân thành nhất

Hà Nội, tháng 5 năm 2019

Lương Tuấn Hiệp

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Kính gửi:

- Phòng Đào tạo Đại học – Trường Đại học Y Hà Nội

- Bộ môn Ung thư – Trường Đại học Y Hà Nội

- Hội đồng chấm khóa luận tốt nghiệp

Tôi xin cam đoan đã thực hiện quá trình làm khóa luận một cách khoa học,chính xác và trung thực Các kết quả, số liệu trong khóa luận này đều là sựthật và chưa được đăng tải trên tài liệu khoa học nào

Hà Nội, ngày 31 tháng 5 năm 2019 Tác giả khóa luận

Lương Tuấn Hiệp

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 5

AST Aspartate Transaminase

BTTMDD Buồng tiêm tĩnh mạch dưới da

Chemoport (CP) Buồng tiêm truyền

FACT-G Functional Assessment of Cancer Therapy - General:

Đánh giá tổng quan chức năng của bệnh nhân ung thư

PICCs Peripherally inserted central catheters: Đường truyền tĩnh

mạch trung tâm qua đường vào ngoại biên

MỤC LỤC

ĐẶT VẤN ĐỀ 1 Chương 1 TỔNG QUAN 3

1.1 Định nghĩa buồng tiêm truyền 3

Trang 6

1.3.2 Kỹ thuật đặt buồng qua đường tĩnh mạch dưới đòn 4

1.3.3 Kỹ thuật đặt buồng qua đường tĩnh mạch cảnh trong 5

1.3.4 Kỹ thuật đặt buồng qua đường tĩnh mạch nền 6

1.3.5 Lựa chọn kĩ thuật phương pháp đặt buồng tiêm truyền 6

1.3.6 Một số lưu ý trong quá trình chăm sóc buồng truyền trong quá trình sử dụng 8

1.4 Kỹ thuật truyền hóa chất qua buồng tiêm truyền 8

1.4.1 Chuẩn bị 8

1.4.2 Chuẩn bị cho bệnh nhân 9

1.4.3 Pha thuốc 9

1.4.4 Sau khi tiêm hoặc truyền dịch 10

1.4.5 Các nguyên nhân có thể gặp khi không thể tiêm nữớc muối sinh lý vào buồng tiêm 10

1.5 Thoát mạch do hóa chất 10

1.5.1 Định nghĩa và phân loại 10

1.5.2 Triệu chứng lâm sàng và phân loại mức độ nặng 11

1.5.3 Một số khuyến cáo nhằm phòng ngừa biến chứng thoát mạch 12

1.6 Lợi ích và hạn chế của phương pháp truyền hóa chất bằng buồng

tiêm truyền 13

1.6.1 Lợi ích 13

1.6.2 Hạn chế 13

1.7 Các biến chứng do buồng tiêm truyền và cách xử trí 14

1.7.1 Tai biến trong quá trình đặt 14

1.7.2 Biến chứng trong quá trình sử dụng 14

Trang 7

2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ 16

2.2 Địa điểm nghiên cứu 16

2.3 Phương pháp nghiên cứu 16

2.3.1 Thiết kế nghiên cứu 16

2.3.2 Cách lấy mẫu và quy trình nghiên cứu 16

2.4 Các thông tin ghi nhận 17

2.4.1 Đặc điểm nhóm đối tượng nghiên cứu 17

2.4.2 Tính an toàn của thủ thuật đặt buồng tiêm truyền 18

2.4.3 Đánh giá chất lượng cuộc sống của đối tượng nghiên cứu 19

2.5 Xử lý thống kê các số liệu nghiên cứu 19

2.6 Đạo đức nghiên cứu 19

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 21

3.1 Đặc điểm chung của nhóm nghiên cứu 21

3.2 Tính an toàn của thủ thuật đặt buồng tiêm truyền 25

3.2.1 Sự thay đổi các chỉ số cận lâm sàng trước và sau thủ thuật đặt buồng 25 3.2.2 Các tai biến, biến chứng trong và sau đặt buồng tiêm truyền 27

3.2.3 Các biến chứng trong quá trình điều trị 29

3.3 Đánh giá chất lượng cuộc sống của đối tượng nghiên cứu 31

3.3.1 Chất lượng cuộc sống bệnh nhân trước khi đặt buồng dựa trên bộ câu hỏi FACT-G 31

3.3.2 Chất lượng cuộc sống bệnh nhân sau khi đặt buồng dựa trên bộ câu hỏi FACT-G 34

3.3.3 So sánh các chỉ số chất lượng cuộc sống của bệnh nhân trước và sau khi đặt buồng truyền 37

Trang 8

4.3 Đánh giá về tính an toàn của phương pháp sử dụng buồng tiêm truyền trong điều trị hóa chất trên bệnh nhân ung thư 424.3.1 Đánh giá tính an toàn của thủ thuật đặt buồng truyền 424.3.2 Tại sao lựa chọn đường vào tĩnh mạch dưới đòn? 434.3.3 Đánh giá về tỷ lệ biến chứng trong quá trình điều trị trên bệnh nhân

sử dụng buồng tiêm truyền 444.4 Đánh giá chất lượng cuộc sống của bệnh nhân trước và sau sử dụng buồng tiêm truyền 454.4.1 Đánh giá chất lượng cuộc sống của bệnh nhân trước khi sử dụng buồng tiêm truyền 454.4.2 So sánh chất lượng cuộc sống của bệnh nhân trước và sau khi đặt buồng tiêm truyền 46

KẾT LUẬN 48 KHUYẾN NGHỊ 49 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 9

Bảng 1.1: Phân loại các hóa trị điều trị ung thư theo mức độ nghiệm trọng khi

thoát mạch 11

Bảng 1.2: Phân độ thoát mạch theo CTCAE 12

Bảng 3.1: Tuổi và giới 21

Bảng 3.2: Chẩn đoán bệnh 21

Bảng 3.3: Vị trí đặt buồng tiêm truyền 22

Bảng 3.4: Tổng thời gian sử dụng buồng tiêm truyền 24

Bảng 3.5: Sự thay đổi chỉ số bạch cầu trước và sau quá trình đặt buồng 25

Bảng 3.6: Sự thay đổi chỉ số AST trước và sau quá trình đặt 25

Bảng 3.7: Sự thay đổi chỉ số ALT trước và sau quá trình đặt buồng 26

Bảng 3.8: Sự thay đổi chỉ số Ure trước và sau quá trình đặt 26

Bảng 3.9: Sự thay đổi chỉ số Creatinine trước và sau quá trình đặt buồng 27

Bảng 3.10: Biến chứng sau đặt buồng tiêm truyền 28

Bảng 3.11: Chất lượng cuộc sống của bệnh nhân trước khi đặt buồng 31

Bảng 3.12: Chi tiết điểm chấm Chất lượng cuộc sống của bệnh nhân trước khi đặt buồng với bộ công cụ FACT-G 32

Bảng 3.13: Chất lượng cuộc sống của bệnh nhân sau khi đặt buồng 34

Bảng 3.14: Chi tiết điểm chấm Chất lượng cuộc sống của bệnh nhân sau khi đặt buồng với bộ công cụ FACT-G 35

Bảng 3.15: So sánh chất lượng cuộc sống của bệnh nhân trước và sau khi

đặt buồng 37

Bảng 4.1: So sánh tỷ lệ biến chứng giữa các nghiên cứu 40

Bảng 4.2: So sánh tỷ lệ nguyên nhân rút buồng tiêm truyền sớm 41

Trang 10

Biểu đồ 2.1: Phương pháp thu thập số liệu 20

Biểu đồ 3.1: Chỉ định điều trị hóa chất của đối tượng nghiên cứu 22

Biểu đồ 3.2: Phác đồ hóa chất bằng buồng tiêm truyền 23

Biểu đồ 3.3: Phân bố về thời gian bắt đầu sử dụng buồng tiêm truyền 24

Biểu đồ 3.4: Tỷ lệ các biến chứng thường gặp 29

Biểu đồ 3.5: Biến chứng hạ bạch cầu hạt theo mức độ nặng 30

Trang 11

ĐẶT VẤN ĐỀ

Điều trị toàn thân đóng vai trò quan trọng trong phác đồ điều trị củahầu hết các bệnh ung thư Theo Nguyên Văn Hiếu và cộng sự (2015), khoảng2/3 số bệnh nhân ung thư được chẩn đoán ban đầu đã có di căn xa hoặc vi dicăn [1] Những bệnh nhân này đòi hỏi các phương pháp điều trị toàn thân nhưhóa trị liệu, điều trị chăm sóc giảm nhẹ, dinh dưỡng hỗ trợ đường tĩnh mạch,

… [2]

Tuy nhiên, việc điều trị bằng đường tĩnh mạch ngoại biên (PVCs) đãcho thấy nhiều nhược điểm: Các hóa chất ung thư thường có tính kích ứngcao đối với tĩnh mạch ngoại biên nếu dùng trong thời gian dài, gây ra các biếnchứng như viêm mạch, xơ mạch, viêm tắc tĩnh mạch, [3] Đồng thời, đườngtruyền tĩnh mạch ngoại biên cũng không đáp ứng được trong các trường hợpcần sự nuôi dưỡng nâng cao, theo dõi áp lực tĩnh mạch trung tâm để điềuchỉnh lượng dịch truyền trong hồi sức bệnh nhân sau phẫu thuật mất máu [3]

Sự ra đời của đường truyền tĩnh mạch trung tâm (CVCs) vào nhữngnăm 80 đã tạo nên cuộc cách mạng trong chăm sóc cũng như cải thiện chấtlượng cuộc sống của bệnh nhân ung thư [2] Đường truyền tĩnh mạch trungtâm đã giải quyết một cách dễ dàng các vấn đề trên cũng như tạo thuận lợicho việc điều trị cho những bệnh nhân có đường truyền tĩnh mạch ngoại biênyếu, đặc biệt hay gặp ở những bệnh nhân ung thư [3] Số lượng cũng như cáchình thức đường truyền tĩnh mạch trung tâm đã tăng lên nhanh chóng trongvòng 30 năm gần đây, trong đó phổ biến nhất bao gồm: catheter tĩnh mạchtrung tâm có buồng cấy bằng phẫu thuật, buồng tiêm truyền cấy dưới da,CVC ngoại biên (PICC), Catheter không nòng hoặc có buồng dưới da… [4]

Mặc dù vậy, bên cạnh những lợi ích nói trên, CVCs cũng có nhữngnhược điểm, bao gồm những tai biến xảy ra trong quá trình đặt dụng cụ cũng

Trang 12

như những biến chứng lâu dài [5] Trong số đó, những biến chứng hay gặpnhất bao gồm nhiễm trùng tại chỗ hoặc toàn thân, huyết khối và tình trạng dilệch của catheter [5] Một số nghiên cứu gần đây trên thế giới cho thấy buồngtiêm truyền cấy trong da (Chemoport - CP) phù hợp trong việc sử dụng kéodài cho bệnh nhân ung thư hơn so với các hình thức CVCs khác [5], [6], [7]

Trên thế giới đã có một số nghiên cứu đánh giá tính an toàn củaphương pháp Chemoport Theo Biffi R và cộng sự (1998), tỷ lệ biến chứngtrong quá trình đặt buồng là 4.48%, trong đó tràn khí màng phổi là 3.34%,còn lại là di lệch buông tiêm/ catheter; tỷ lệ biến chứng trong quá trình sửdụng là 5.7%, trong đó 3% liên quan đến tắc catheter và huyết khối, còn lại2.7% là các biến chứng liên quan đến nhiễm khuẩn [8] Tuy nhiên nghiên cứuchưa đề cập đến tính hiệu quả của phương pháp, đặc biệt là những cải thiện vềchất lượng cuộc sống của bệnh nhân sau khi đặt buồng tiêm truyền

Tại bệnh viện Đại học Y Hà Nội, hiện nay chưa có nghiên cứu nào đánhgiá về tính an toàn cũng như hiệu quả liên quan đến chất lượng cuộc sống củabệnh nhân sử dụng buồng tiêm truyền cấy trong da Vì vậy, chúng tôi tiếnhành nghiên cứu này với mục tiêu:

1 Đánh giá tính an toàn của phương pháp truyền hóa chất qua buồng tiêm truyền trên bệnh nhân ung thư tại bệnh viện Đại học Y Hà Nội.

2 Đánh giá hiệu quả của phương pháp truyền hóa chất qua buồng tiêm truyền trên bệnh nhân ung thư tại bệnh viện Đại học Y Hà Nội.

Trang 13

Chương 1 TỔNG QUAN

1.1 Định nghĩa buồng tiêm truyền (Chemoport):

- Là một hệ thống cấu tạo bởi 2 thành phần chính là ống thông(catheter) và buồng tiêm (portal chamber), trong đó ống thông được đặt vàotĩnh mạch lớn (tĩnh mạch cảnh ngoài, tĩnh mạch dưới đòn, tĩnh mạch cánhtay, ) và buồng tiêm được cấy hoàn toàn vào mô dưới da

- Hệ thống buồng tiêm gồm 3 phần:

 Buồng tiêm (portal chamber) được làm bằng kim loại và bề mặtđược phủ bởi màng silicone;

 Ống thông (catheter) linh hoạt được nối với buồng tiêm;

 Đầu nối (catheter connector) được nối giữa buồng tiêm và ống thông

- Hệ thống buồng tiêm được làm nhiều chất liệu khác nhau như titan,titan và nhựa hoặc hoàn toàn bằng nhựa

- Trong nghiên cứu các bệnh nhân đều được sử dụng buồng tiêmtruyền C-Port Buồng tiêm truyền làm bằng titan- kim loại trơ, là những chấtkhông bị ảnh hưởng bởi từ trường nên bệnh nhân có thể chụp cộng hưởng từbình thường Hệ thống buồng chứa hình elip giúp cải thiện áp lực dòng chảy

và giảm nguy cơ tắc nghẽn buồng tiêm

1.2 Chỉ định đặt buồng tiêm truyền

- Bệnh ung thư cần truyền hóa chất nhiều đợt

- Bệnh nhân ung thư giai đoạn muộn cần nuôi dưỡng đường tĩnh mạch

Trang 14

- Thuốc cần truyền vào tĩnh mạch trung tâm, truyền máu, truyền dịchlâu dài từ 3-10 năm.

1.3 Kĩ thuật đặt buồng và chăm sóc buồng trong quá trình sử dụng:

1.3.1 Chuẩn bị

- Bệnh nhân:

 Bệnh nhân nằm ngửa

 Hai tay xuôi, khép sát người

 Đầu nghiêng về phía đối diện vị trí đặt buồng tiêm

- Dụng cụ:

Tráng Catheter và buồng tiêm bằng Heparin

1.3.2 Kỹ thuật đặt buồng qua đường tĩnh mạch dưới đòn

- Luồn catheter vào với chiều dài 20 cm.

- Nối cathether vào buồng tiêm, cố định vị trí khớp nối, kiểm tra sự lưu

thông bằng NaCl 0,9% - Heparin

- Rạch da, tạo vị trí phù hợp cho buồng tiêm Cố định buồng tiêm

- Khâu da 1 lớp che phủ vị trí đặt buồng tiêm truyền.

1.3.2.3 Bước 3:

- Đặt kim ngoài da.

- Kiểm tra sự lưu thông một lần nữa, khóa buồng tiêm bằng dung dịch

NaCl 9% - Heparin

Trang 15

1.3.2.4 Bước 4:

- Kiểm tra lần cuối cùng vị trí catheter, buồng tiêm truyền bằng màn

huỳnh quang tăng sáng

- Sát khuẩn, ghi ngày tháng thực hiện thủ thuật

1.3.3 Kỹ thuật đặt buồng qua đường tĩnh mạch cảnh trong

1.3.3.1 Bước 1:

- Tê tại chỗ các vị trí cần thiết.

- Dùng đầu dò siêu âm xác định tĩnh mạch - động mạch và hướng dẫn

đi kim đến tĩnh mạch cảnh - nếu có máy siêu âm

- Sau khi luồn catheter vào tĩnh mạch, bơm thuốc cản quang và kiểm tra

để khẳng định vị trí catheter đã nằm trong lòng tĩnh mạch

- Xem sự biến đổi của điện tim.

1.3.3.2 Bước 2:

- Tê tại chỗ.

- Thực hiện bước tiếp theo: Xác định vị trí rạch da để đưa buồng tiêm

vào vị trí mong muốn (ở cổ hoặc ngực)

1.3.3.3 Bước 3:

- Luồn đầu xa cathether dưới da hướng đến vị trí đặt buồng tiêm bằng

dụng cụ dẫn đường chuyên biệt trong bộ dụng cụ sẵn có

- Nối cathether vào buồng tiêm, cố định vị trí khớp nối, kiểm tra sự lưu

thông bằng NaCl 0,9% - Heparin

- Rạch da, tạo vị trí phù hợp cho buồng tiêm Cố định buồng tiêm.

1.3.3.4 Bước 4:

- Đặt kim ngoài da.

- Kiểm tra sự lưu thông một lần nữa, khóa buồng tiêm bằng dung dịch

NaCl 9% - Heparin

Trang 16

1.3.3.5 Bước 5:

- Khâu hai lớp vị trí rạch da: Lớp trong bằng chỉ tự tiêu, lớp ngoài khâu

dưới da thẩm mỹ

- Sát khuẩn, ghi ngày tháng thực hiện thủ thuật.

1.3.4 Kỹ thuật đặt buồng qua đường tĩnh mạch nền

- Rạch da dọc theo rãnh Delta ngực, khoảng 3cm.

- Phẫu tích bộc lộ tĩnh mạch nền ở đoạn này nằm ở bờ trên cơ ngực lớn.

- Thắt đầu phía ngoại vi của tĩnh mạch, đặt một sợi chỉ chờ ở phía đầu

gần tĩnh mạch nền

- Mở tĩnh mạch một nửa chu vi, dùng van vén mạch máu có sẵn trong

bộ dụng cụ vén miệng mạch máu nơi mở và luồn Catheter về phía tĩnh mạchdưới đòn Nếu luồn vào tĩnh mạch nền phía bên phải thì chiều dài Cathetercho vào là 14 cm và 20 cm nếu đường vào ở phía bên trái

- Các bước đặt buồng truyền, kiểm tra và đặt kim giống như phần trên.

1.3.5 Lựa chọn kĩ thuật phương pháp đặt buồng tiêm truyền

- Tùy theo kinh nghiệm của phẫu thuật viên và giải phẫu của mỗi bệnh

nhân mà lựa chọn đường vào thích hợp, mỗi phương pháp đều có ưu nhượcđiểm khác nhau:

1.3.5.1 Đường vào từ tĩnh mạch cảnh trong

Ưu điểm:

- Dây truyền đặt xong sẽ vào thằng tĩnh mạch cảnh trên mà không cần

kiểm tra lại bằng điện quang

- Vị trí đặt buồng truyền ở xa đường vào tĩnh mạch, hạn chế nguy cơ

nhiễm khuẩn

Nhược điểm:

- Kỹ thuật khó hơn do phải cần bác sỹ chuyên khoa gây mê đặt đường

truyền tĩnh mạch cảnh trong có kinh nghiệm

Trang 17

- Đôi khi nếu không tìm được tĩnh mạch cần siêu âm kiểm tra, có thể

chọc vào động mạch cảnh trong, có thể gây giả phình

- Những trường hợp cổ ngắn hoặc béo rất khó đặt đường truyền tĩnh

- Dây truyền có thể lên theo tĩnh mạch cảnh trong hướng lên cổ gây đau

đầu cho bệnh nhân nên sau khi đặt xong dây truyền có thể phải kiểm tra bằngđiện quang (C-Arm) hoặc theo dõi thay đổi điện tâm đồ

- Với những trường hợp tĩnh mạch nền hoặc biến đổi giải phẫu không

có tĩnh mạch nền ở rãnh delta ngực thì không thể thực hiện được

- Vị trí đặt buồng truyền ở gần đường vào tĩnh mạch, làm tăng nguy cơ

nhiễm khuẩn

1.3.5.3 Đường vào tĩnh mạch dưới đòn

Ưu điểm:

- Tĩnh mạch dưới đòn gần tim, kích thước lớn.

- Về mặt giải phẫu, tĩnh mạch dưới đòn nằm nông hơn động mạch dưới

đòn, được ngăn cách với động mạch dưới đòn bởi cơ bậc thang trước, đồngthời không nằm trong một bao xơ như bó mạch cảnh trong, nên tỷ lệ xảy ra taibiến tổn thương động mạch đi kèm trong khi tiến hành thủ thuật thấp hơn sovới đường vào là tĩnh mạch cảnh trong

- Vị trí đặt buồng tiêm truyền ở trước cơ ngực lớn, thuận lợi cho việc

chăm sóc và vệ sinh

Nhược điểm:

- Khó khăn khi chọc mạch, có tràn máu, tràn khí màng phổi

Trang 18

- Dây truyền có thể lên theo tĩnh mạch cảnh trong hướng lên cổ gây đau

đầu cho bệnh nhân nên sau khi đặt xong dây truyền có thể phải kiểm tra bằngđiện quang (C-Arm) hoặc theo dõi thay đổi điện tâm đồ

- Vị trí đặt buồng truyền ở gần đường vào tĩnh mạch, làm tăng nguy cơ

- Chỉ sử dụng ống tiêm tối thiểu 10cc trở lên Không nên bơm với áp

lực mạnh khi tiêm truyền

- Bảo đảm nguyên tắc vô trùng khi làm thủ thuật

- Để tránh nguy cơ rút phải không khí, không nên để kim Huber tiếp

xúc trực tiếp với không khí

- Nếu buồng tiêm không được sử dụng trong một khoảng thời gian dài.

Mỗi 4 tuần, chúng tôi khuyên nên bơm vào buồng tiêm khoảng 10cc nữớcmuối sinh lý và sau đó bơm khoảng 3cc Heparin pha loãng trong nữớc muốisinh lý (1000 I.U Heparin trong 10cc nữớc muối sinh lý) để ngừa huyết khối

1.4 Kỹ thuật truyền hóa chất qua buồng tiêm truyền

1.4.1 Chuẩn bị

- Khám da bệnh nhân vùng đặt buồng tiêm để phát hiện các triệu

chứng: đỏ, sưng phù hoặc tiết dịch

- Dùng 03 ngón tay: cái, trỏ và ngón giữa để xác định buồng tiêm.

- Chuẩn bị các dụng cụ cần thiết để tiêm thuốc hoặc truyền dịch Chỉ sử

dụng kim Huber (Kim Jetcan™) với chiều dài tương thích với loại buồng tiêm

và bệnh nhân Dùng ống tiêm tối thiểu 10 cc để chọc vào buồng tiêm

(Thông tin về kim Huber (Kim Jetcan™): phần Phụ Lục C)

Trang 19

- Rửa và tiệt trùng hai tay

- Đeo găng

1.4.2 Chuẩn bị cho bệnh nhân

- Dùng gòn vô trùng để sát trùng da theo hình vòng tròn từ trong ra

ngoài Chờ cho thuốc sát trùng có tác dụng

- Che phủ vùng da làm thủ thuật bằng khăn vô trùng

- Dùng 03 ngón tay để xác định vị trí buồng tiêm

- Bơm kim Huber bắng nữớc muối sinh lý để đẩy tất cả không khí ra

ngoài

1.4.3 Pha thuốc

- Đâm kim Huber (Kim Jetcan™) Tốt nhất nên giữ buồng tiêm giữa hai

ngón tay Trỏ và Giữa Giữ Kim Huber bằng 02 cánh, từ từ đâm kim qua daxuyên qua màng Silicone cho đến khi chạm đáy buồng tiêm Hơi rút nhẹ kimHuber Bảo bệnh nhân ngồi hoặc nằm yên, thở đều

- Bơm khoảng 10cc nữớc muối sinh lý để kiểm tra hệ thống buồng tiêm

có thông hay không

- Cố định kim Huber (Kim Jetcan™) Hai cánh của kim nên tiệt trùng

bằng que gòn Và kim có thể cố định bằng bằng dán tiệt trùng

- Tiêm thuốc, truyền dịch hoặc lấy máu Nếu truyền hoặc tiêm trên hai

loại thuốc trong một lần Buồng tiêm nên được bơm vào bằng 10cc nữớcmuối sinh lý trước khi dùng loại thuốc thứ 2 Nếu hai loại thuốc sử dụng cùnglúc mà không bơm nữớc muối sinh lý chúng có thể tương tác với nhau và cóthể sinh ra các thành phần hóa học bất thường

- Sau khi tiêm, truyền hoặc lấy máu xong: Bơm thêm vào buồng tiêm

30cc nữớc muối sinh lý để làm sạch, thông buồng tiêm

Trang 20

- Sau cùng tiêm vào hệ thống buồng tiêm tĩnh mạch 3cc dung dịch

Heparin pha loãng trong nữớc muối sinh lý (1000 I.U Heparin trong 10ccnữớc muối sinh lý) để phòng ngừa tắc do huyết khối

1.4.4 Sau khi tiêm hoặc truyền dịch

- Gở bỏ băng dán

- Rút kim Huber

- Giữ buồng tiêm bằng hai ngón tay Rút kim Huber (Kim Jetcan™)

trong khi vẫn duy trì áp lực bơm vào buồng tiêm để tránh việc hút ngược máuvào catheter (dể gây tắc catheter) Nên khuyên bệnh nhân hít thở nhẹ nhàng

và thở sâu trong khi rút kim

- Sát trùng da và dán băng dán

- Ghi chú các thông tin bệnh nhân vào thẻ bệnh nhân.

1.4.5 Các nguyên nhân có thể gặp khi không thể tiêm nữớc muối sinh lý vào buồng tiêm

- Kim Huber (Kim Jetcan™) chưa đâm hết vào trong buồng tiêm và hãy

còn trong lớp màng Silicone Xử lý: Đẩy tiếp kim qua khỏi màng Silisone chođến khi chạm đáy buồng tiêm

- Có sự tắc nghẽn của hệ thống buồng tiêm Nếu sự tắc nghẽn do cục

huyết khối thì có thể giải quyết bằng thuốc bởi sự chỉ định của bác sĩ

- Sưng phồng xảy ra chung quanh vùng buồng tiêm trong khi tiêm nữớc

muối sinh lý Lý do là kim có thể đâm vào bên cạnh buồng tiêm Xử trí: sửdụng một cây kim Huber mới để đâm lại vào buồng tiêm

1.5 Thoát mạch do hóa chất

1.5.1 Định nghĩa và phân loại

- Thoát mạch là sự rò hoặc xâm nhập của thuốc vào tổ chức xung

quanh Trong lĩnh vực ung thư, thoát mạch được hiểu là sự rò rỉ không mong

Trang 21

muốn của hóa chất điều trị vào tổ chức dưới da xung quanh đường vào (tĩnhmạch hoặc động mạch) [11].

- Thoát mạch do hóa chất là một biến chứng nặng nề của truyền hóa chất.

- Các thuốc hóa trị có thể phân loại dựa mức độ nghiêm trọng gây hoại

tử khi thoát mạch thành 3 nhóm [12]:

 Nhóm chất không phỏng: ít gây tổn thương nhất

 Nhóm chất gây kích thích: gây viêm hoặc đau tại vị trí thoát mạch

 Nhóm gây phỏng: khi thoát mạch có thể gây hoại tử mô hoặc lột da

Bảng 1.1: Phân loại các hóa trị điều trị ung thư theo mức độ nghiệm

- Thoát mạch do hóa chất được biểu hiện bằng một loạt các triệu

chứng có thể nhẹ và có thể xuất hiện dưới dạng đau rát cấp tính, sưng, tại vịtrí tiêm truyền Các triệu chứng khác nhau tùy theo số lượng và nồng độ của

Trang 22

thuốc ngoại mạch Đau và ban đỏ, cứng và đổi màu da tiến triển trong vàingày và vài tuần, và có thể tiến triển thành hình thành mụn nữớc Vết rộp hìnhthành hoặc hoại tử có thể dẫn đến xâm lấn và phá hủy các cấu trúc sâu hơn[13], [14], [15], [16] Tổn thương có thể đạt đến gân, dây thần kinh và khớp[17] tùy thuộc vào vị trí của tĩnh mạch nơi xảy ra thoát mạch

1.5.2.2 Phân loại mức độ nặng

- Theo Tiêu chuẩn phân loại tác dụng phụ (CTCAE) của Hoa Kỳ,

thoát mạch có thể được chia thành bốn cấp từ cấp 2, được biểu hiện bằng ban

đỏ với phù nề, đau, cứng và viêm tĩnh mạch, đến cấp 5 là tử vong [18]

Bảng 1.2: Phân độ thoát mạch theo CTCAE

Loét hoặc hoạitử; tổn thương

mô nghiêmtrọng; can thiệpphẫu thuậtđược chỉ định

Hậu quả đedọa tínhmạng; canthiệp khẩncấp được chỉđịnh

Tửvong

1.5.3 Một số khuyến cáo nhằm phòng ngừa biến chứng thoát mạch

- Vị trí đường vào: xác định vị trí thích hợp nhất Nếu tìm đường vào

tĩnh mạch ngoại vi khó khăn, việc sử dụng tĩnh mạch trung tâm thay thế cầnđược xem xét [11]

- Buồng tiêm truyền dưới da làm giảm nhưng không loại trừ được biến

chứng thoát mạch [19] Tỷ lệ gặp biến chứng thoát mạch trong nhóm bệnhnhân sử dụng buồng tiêm truyền theo các nghiên cứu khác nhau là 0.24 –0.43% [20], [21] Trong đó tỷ lệ này ở đường truyền tĩnh mạch ngoại vi thay

Trang 23

đổi từ 0.01 – 6% [22], [23] Các chuyên gia ung thư khuyên sử dụng buồngtiêm truyền vì ngăn chặn được tác dụng xơ hóa của các loại thuốc hóa trị liệutrên tĩnh mạch ngoại vi [19].

1.6 Lợi ích và hạn chế của phương pháp truyền hóa chất bằng buồng tiêm truyền

1.6.1 Lợi ích

- Tiện lợi tuyệt đối: Chỉ cần một kim truyền duy nhất qua da bệnh

nhân và được dùng cho tất cả các mục đích truyền dịch (kể cả truyền hồngcầu và tiểu cầu khi cần thiết mà không phải dùng một đường truyền khác nhưtĩnh mạch ngoại vi) Khi đặt ven ngoại vi, có thể phải dùng nhiều kim để cóthể tìm được ven tốt nhất, mất thời gian công sức và gây cho bệnh nhân sựđau đớn, đặc biệt là khi bệnh nhân có tổn thương do những lần truyền hóachất gây bỏng da và khó lấy ven

- Giảm thiểu nguy cơ “thoát mạch”: Khi dùng ven ngoại vi, thường

xuyên có tình trạng thoát mạch xảy ra do vỡ ven, chệch kim, gây đau nhức,sưng nề, cháy da do hóa chất thoát ra ngoài lòng mạch

- Dễ dàng tắm rửa, vệ sinh, bơi lội…: Khi buồng tiêm truyền đã được

đặt thành công, da bề mặt đã liền hẳn thì bệnh nhân có thể dễ dàng tắm rửa,

vệ sinh vùng da đặt buồng tiêm truyền mà không sợ nhiễm trùng do vết mổkhá nhỏ, buồng tiêm truyền chỉ gồ nhẹ trên da, không ảnh hưởng tới thẩm mỹ

1.6.2 Hạn chế

- Nguy cơ xảy ra trong quá trình đặt: Bất kỳ phẫu thuật nào đều có

nguy cơ nhiễm trùng Ít phổ biến hơn là chảy máu (đặc biệt khi đặt vào tĩnhmạch dưới đòn, tràn khí màng phổi (do chọc dò vào đỉnh phổi)

- Nhiễm trùng (sau khi đặt): Thường nhiễm trùng tại chỗ gây sưng mủ,

nề đỏ vùng da, đôi khi có trường hợp vi khuẩn xâm nhập qua đó đi thẳng vào

Trang 24

mạch máu gây nhiễm trùng huyết Đây là một biến chứng nặng nề cho bệnhnhân, đôi khi phải tháo bỏ buồng truyền, đặt lại khi thuận tiện

- Huyết khối: Có thể có huyết khối tại chỗ gây nên tắc buồng truyền

(xảy ra khi không bơm rửa thường xuyên bằng dung dịch có pha chất chốngđông) Huyết khối có thể phát triển gây tắc mạch tại chỗ hoặc di chuyển vàobuồng tim, xuống tay hoặc chân (biểu hiện đau thắt ngực hoặc phù chi) Theonghiên cứu thì có từ 12 đến 64% số bệnh nhân đặt buồng truyền có huyếtkhối, tuy nhiên hậu quả đa phần thường chỉ gây tắc kim truyền

- Tác nhân cơ học tác động vào vị trí da có buồng tiêm truyền gây

hỏng buồng truyền do bệnh nhân bị tai nạn hoặc bị đánh

- Khó vận động: Mặc dù việc tắm và bơi lội vẫn không bị ảnh hưởng,

tuy nhiên với những hoạt động vận động phần trên cơ thể vẫn làm nhiều bệnhnhân cảm thấy khó khăn cho tới khi tháo buồng truyền ra

- Sẹo: Vì cần phải rạch da để đặt buồng truyền nên thường sẽ để lại

một vết sẹo nhỏ trên ngực bệnh nhân

1.7 Các biến chứng do buồng tiêm truyền và cách xử trí

1.7.1 Tai biến trong quá trình đặt

- Chảy máu: Tìm điểm chảy máu, cầm máu bằng dao điện hoặc thắt

mạch [8]

- Tràn khí màng phổi: Kiểm tra bằng nghe phổi, chụp X-quang phổi,

dẫn lưu khí, hút liên tục[8], [21]

- Tràn máu màng phổi: Kiểm tra bằng nghe phổi, chụp X-quang phổi,

dẫn lưu màng phổi kết hợp chống đông đường tĩnh mạch

- Tụt catheter vào tĩnh mạch: Cần chụp X-quang để xác định Sau đó

dùng thông tim dưới màn huỳnh quang tăng sáng gắp catheter ra [24]

1.7.2 Biến chứng trong quá trình sử dụng

Trang 25

- Bệnh nhân có thể có cảm giác đau, ngứa, hoặc vướng vị trí đặt buồng

tiêm truyền [24]

- Nhiễm trùng: Tại da vùng đặt buồng, tại buồng tiêm truyền hoặc

nhiễm trùng máu Chẩn đoán xác định bằng cấy máu tại buồng tiêm truyền vàcấy máu ngoại vi Điều trị: nhẹ thì sát khuẩn, điều trị kháng sinh, nặng thìphải tháo bỏ buồng truyền, điều trị như các nhiễm khuẩn vết mổ khác[8],[21], [24]

- Tắc catheter: Có thể do catheter bị đè, gấp khúc, do cục máu đông,

do kết tủa của thuốc

- Huyết khối tắc đường truyền: Tuyệt đối không được thông bằng cách

bơm nếu biết đường truyền để lâu và tắc bởi vì sẽ đẩy huyết khối vào tĩnhmạch Lúc này cần mở đường truyền ra làm lại [21], [24]

- Huyết khối tĩnh mạch sâu: Thuốc chống đông tĩnh mạch, lấy bỏ hệ

thống buồng truyền

- Di lệch buồng truyền: Nguyên nhân có thể do tác động từ bên ngoài,

có thể gây thoát hóa chất, xử trí bằng đặt lại buồng truyền

Trang 26

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu:

- Các bệnh nhân được chẩn đoán ung thư và được đặt buồng tiêm

truyền dưới da tại khoa Ung bướu và chăm sóc giảm nhẹ - bệnh viện Đại học

Y Hà Nội từ tháng 1/2017 đến tháng 1/2019

2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn:

- Bệnh nhân được chẩn đoán ung thư có điều trị hóa chất.

- Bệnh nhân được truyền hóa chất qua buồng tiêm truyền dưới da.

- Có hồ sơ ghi nhận thông tin đầy đủ.

2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ:

- Bệnh nhân được đặt buồng tiêm truyền dưới da chỉ sử dụng cho các

mục đích khác: chăm sóc giảm nhẹ, nuôi dưỡng,…

- Bệnh nhân có thời gian sống thêm dưới 3 tháng kể từ ngày đặt buồng

tiêm truyền

- Bệnh nhân điều trị hóa chất bằng các đường khác: tĩnh mạch ngoại

biên, đường uống,…

- Không có hồ sơ hoặc hồ sơ ghi nhân thông tin không đầy đủ.

2.2 Địa điểm nghiên cứu: Khoa Ung bướu và chăm sóc giảm nhẹ - bệnh

viện Đại học Y Hà Nội

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả loạt ca bệnh.

- Phương pháp thu thập số liệu: Hồi cứu, Tiến cứu.

2.3.2 Cách lấy mẫu và quy trình nghiên cứu

2.3.2.1 Cách lấy mẫu: Phương pháp chọn mẫu thuận tiện.

2.3.2.2 Cỡ mẫu: 109 bệnh nhân.

Trang 27

2.3.2.3 Quy trình nghiên cứu:

- Bước 1: Thiết kế nghiên cứu.

- Bước 2: Lựa chọn đối tượng nghiên cứu dựa trên các tiêu chuẩn lựa

chọn và loại trừ nêu trên

- Bước 3: Theo dõi các đối tượng nghiên cứu đồng thời khai thác các

thông tin hồi cứu từ thời điểm bệnh nhân bắt đầu đặt buồng cho đến thời điểmkết thúc nghiên cứu

- Bước 4: Tiến hành phân tích các dữ liệu thu thập được.

2.4 Các thông tin ghi nhận:

2.4.1 Đặc điểm nhóm đối tượng nghiên cứu

2.4.1.1 Các đặc điểm của nhóm đối tượng nghiên cứu.

- Đặc điểm về giới tính, độ tuổi

- Chỉ định điều trị hóa chất của đối tượng nghiên cứu

- Vị trí đặt buồng tiêm truyền

- Chẩn đoán của bệnh nhân đặt buồng tiêm truyền

- Phác đồ hóa chất điều trị bằng buồng tiêm truyền

- Thời gian bắt đầu truyền hóa chất qua buồng tiêm truyền sau đặt

buồng tiêm truyền dưới da

 Định nghĩa: Thời gian bắt đầu sử dụng buồng tiêm truyền là khoảngthời gian được tính từ lúc kết thúc thủ thuật cấy buồng cho đến lần truyền hóachất đầu tiên

- Thời gian sử dụng buồng truyền

 Định nghĩa: Thời gian sử dụng buồng tiêm truyền là khoảng thờigian bắt đầu lần truyền đầu tiên cho đến kết thúc lần truyền cuối cùng quabuồng tiêm truyền được ghi nhận

Trang 28

2.4.2 Tính an toàn của thủ thuật đặt buồng tiêm truyền

2.4.2.1 Sự thay đổi các chỉ số cận lâm sàng trước và sau thủ thuật đặt buồng

 Chỉ số huyết học trước và sau thủ thuật

 Chỉ số chức năng gan trước và sau thủ thuật

 Chỉ số chức năng thận trước và sau thủ thuật

2.4.2.2 Tai biến, biến chứng trong và sau đặt buồng tiêm truyền

- Định nghĩa: Biến chứng do buồng tiêm truyền là biến cố ghi nhậnđược do buồng tiêm truyền gây ra trong quá trình đặt buồng cũng như quátrình sử dụng buồng

 Tai biến

- Chảy máu: Đánh giá theo ghi nhận của phẫu thuật viên trong phẫu thuật.

- Tràn khí màng phổi: Xác định bằng thăm khám lâm sàng, chụp

 Nhiễm trùng buồng tiêm truyền: cấy máu tại buồng tiêm truyền (+)

 Nhiễm trùng huyết: cấy máu ngoại vi (+)

- Di lệch buồng tiêm truyền: Buồng tiêm truyền không hoạt động khi

bệnh nhân nằm, phải thay đổi tư thế như ngồi buồng mới hoạt động được

- Tắc catheter: Buồng không hoạt động Xác định nguyên nhân tắc do

catheter bị gập góc hay tắc do cục máu đông, tắc do thuốc kết tủa Siêu âmDoppler đánh giá có huyết khối hay không

- Huyết khối tĩnh mạch: Xác định bằng siêu âm Doppler mạch máu.

Trang 29

- Biến chứng phải tháo buồng tiêm truyền: Buồng không hoạt động,

nhiễm trùng buồng tiêm truyền, không bao gồm bệnh nhân nguyện vọngtháo buồng tiêm truyền sau kết thúc điều trị

2.4.2.3 Các biến chứng trong quá trình điều trị

- Tỷ lệ các biến chứng,

- Tỷ lệ biến chứng hạ bạch cầu hạt theo mức độ nặng.

 Định nghĩa: Biến chứng trong quá trình điều trị là những tác dụngphụ không mong muốn gây ra bởi các loại thuốc thông qua buồng tiêm truyền

được đưa vào cơ thể bệnh nhân Định nghĩa này đã loại trừ các trường hợp

biến chứng gây ra bởi buồng tiêm truyền

2.4.3 Đánh giá chất lượng cuộc sống của đối tượng nghiên cứu

2.4.3.1 Chất lượng cuộc sống bệnh nhân trước khi đặt buồng dựa trên bộ câu hỏi FACT-G (Phụ lục A)

2.4.3.2 Chất lượng cuộc sống bệnh nhân sau khi đặt buồng dựa trên bộ câu hỏi FACT-G (Phụ lục A)

2.5 Xử lý thống kê các số liệu nghiên cứu:

- Tất cả các số liệu được xử lý bằng máy vi tính theo phương pháp

thống kê y sinh học bằng phần mềm SPSS 22.0

2.6 Đạo đức nghiên cứu:

- Tham gia nghiên cứu là dựa trên sự chấp thuận của đối tượng nghiên

cứu Các đối tượng được quyền từ chối không tham gia nghiên cứu hoặcngừng ở bất cứ giai đoạn nào của nghiên cứu

- Số liệu liên quan đến đối tượng nghiên cứu được lưu giữ bảo mật.

Các số liệu thu được đều được kiểm tra lại ở nhiều khâu để đảm bảo tínhchính xác

Trang 30

Biểu đồ 2.1: Phương pháp thu thập số liệu

-Nhóm hồi cứu: Phỏng vấn giántiếp và trực tiếp, nhớ lại

-Nhóm tiến cứu: Phỏng vấn trựctiếp và gián tiếp, trước khi đặt buồng và sau khi đặt buồng 2 tháng

Các thông tin về tính an toàn:

các biến chứng trong quá

trình điều trị gây ra: Thăm

khám, quan sát, xét nghiệm

Trang 31

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 Đặc điểm chung của nhóm nghiên cứu

- Nhận xét: Nam giới chiếm ưu thế, tỷ lệ nam/nữ≈1.2/1, nhóm đối tượng

dưới 60 tuổi chiếm tỷ lệ cao hơn nhóm trên 60 tuổi

Bảng 3.2: Chẩn đoán bệnh

- Nhận xét: Nhóm bệnh nhân ung thư đường tiêu hóa chiếm ưu thế, trong đó

cao nhất là ung thư đại trực tràng (62.4%) và ung thư dạ dày (24.8%), tiếptheo là ung thư tụy, ung thư đường mật, ung thư thực quản

Trang 32

Biểu đồ 3.1: Chỉ định điều trị hóa chất của đối tượng nghiên cứu

- Nhận xét: Nhóm bệnh nhân sử dụng buồng tiêm truyền để điều trị bổ trợ

- Nhận xét: Kỹ thuật đặt BTTMDD với đường vào từ tĩnh mạch dưới đòn

bên trái được áp dụng trong hầu hết số ca sử dụng kỹ thuật này (98.2%).Đường vào từ bên phải ít được áp dụng, chỉ có 2 trường hợp dùng đườngvào tĩnh mạch dưới đòn bên phải do đặt lần 2

Trang 33

Biểu đồ 3.2: Phác đồ hóa chất bằng buồng tiêm truyền

- Nhận xét: Nhóm đối tượng đặt BTTMDD là để truyền hóa chất

mFOLFOX6 chiếm ưu thế (44 ca với tỷ lệ 40.9%), tiếp theo là hóa chấtFOLFIRI (20 ca với tỷ lệ 18.3%)

Trang 34

Biểu đồ 3.3: Phân bố về thời gian bắt đầu sử dụng buồng tiêm truyền

- Nhận xét: Thời gian bắt đầu sử dụng trung bình là 2.1 ngày, độ lệch chuẩn

là 2.2 ngày, thời gian bắt đầu sử dụng ngắn nhất là sau 1 ngày, đồng thờichiếm tỷ lệ cao nhất (62 ca, chiếm 59.6%), thời gian bắt đầu sử dụng dàinhất là sau 17 ngày (1 ca chiếm 1%), thời gian trung vị là 1 ngày

Bảng 3.4: Tổng thời gian sử dụng buồng tiêm truyền

Thời gian trung vị

- Nhận xét: Số ngày sử dụng trung bình là 236 ngày, độ lệch chuẩn là 155

ngày, số ngày sử dụng dài nhất ghi nhận được là 1018 ngày, số ngày sửdụng tối thiểu ghi nhận được là 23 ngày, trung vị thời gian sử dụng là200.5 ngày

Trang 35

3.2 Tính an toàn của thủ thuật đặt buồng tiêm truyền

3.2.1 Sự thay đổi các chỉ số cận lâm sàng trước và sau thủ thuật đặt buồng

3.2.1.1 Chỉ số huyết học trước và sau thủ thuật

Bảng 3.5: Sự thay đổi chỉ số bạch cầu trước và sau quá trình đặt buồng

t

Bậc tự

TB hiệu

Độ lệch chuẩn

Phương sai

Khoảng tin cậy 95%

giới hạn dưới

giới hạn trên

BC trước đặt

- Nhận xét: Sự thay đổi có ý nghĩa thống kê (p=0.017<0.05) của chỉ số bạch

cầu toàn phần trước và sau điều trị

3.2.1.2 Chỉ số chức năng gan trước và sau thủ thuật

Bảng 3.6: Sự thay đổi chỉ số AST trước và sau quá trình đặt

Phương sai

Khoảng tin cậy 95%

giới hạn dưới

giới hạn trên ASTtrước đặt –

Trang 36

TB hiệu

Độ lệch chuẩn

Phương sai

Khoảng tin cậy 95%

giới hạn dưới

giới hạn trên ALTtrướcđặt –

- Nhận xét: Sự thay đổi chỉ số ALT trước và sau quá trình đặt buồng không

có ý nghĩa thống kê (p=0.086>0.05)

3.2.1.3 Chỉ số chức năng thận trước và sau thủ thuật.

Bảng 3.8: Sự thay đổi chỉ số Ure trước và sau quá trình đặt

Phương sai

Khoảng tin cậy 95%

giới hạn dưới

giới hạn trên URE trước đặt

- Nhận xét: Sự thay đổi chỉ số Ure trước và sau quá trình đặt buồng không

có ý nghĩa thống kê (p=0.955>0.05)

Trang 37

Bảng 3.9: Sự thay đổi chỉ số Creatinine trước và sau quá trình đặt buồng

Phương sai

Khoảng tin cậy 95%

giới hạn dưới

giới hạn trên creatinin sau đặt –

creatininsauđặt -1.3 9.4 1.1 -3.4 0.9 -1.2 74 0.249

- Nhận xét: Sự thay đổi chỉ số Creatinine trước và sau quá trình đặt buồng

không có ý nghĩa thống kê (p=0.249>0.05)

3.2.2 Các tai biến, biến chứng trong và sau đặt buồng tiêm truyền

3.2.2.1 Tai biến

- Tỷ lệ thành công của thủ thuật đặt buồng tiêm truyền ghi nhận được trong

quá trình nghiên cứu là 100%

- Quá trình thực hiện nghiên cứu không ghi nhận bất kỳ tai biến nào do thủ

thuật đặt buồng tiêm truyền gây ra

Trang 38

Biến chứngsớm, muộnBuồng truyền không thông

Tuột BTTMDD, dây dẫn lạc

Không (lấy dị vậtqua canthiệp mạch)

Muộn

- Nhận xét: Tỷ lệ biến chứng sau khi đặt buồng tiêm truyền tại khoa Ung

bướu chiếm số lượng ít, có tổng cộng 7 ca có biến chứng trên tổng số 109bệnh nhân đặt buồng truyền Bệnh nhân nhiễm trùng máu dương tính với

vi khuẩn tụ cầu vàng Staphylococcus aureus, điều trị kháng sinh 14 ngày,

bệnh nhân hết sốt, sau đó được tháo buồng tiêm truyền

- Về thời gian điều trị bằng buồng tiêm truyền, chúng tôi có 3 bệnh nhân

phải rút buồng tiêm truyền sớm vì biến chứng, trong đó có 1 bệnh nhân rútsớm nhất sau 23 ngày do nhiễm trùng máu, 2 bệnh nhân rút sau 5-6 tháng

vì nhiễm trùng, huyết khối tắc Tất cả những bệnh nhân còn lại đều dùngbuồng tiêm truyền đến chu kỳ hóa chất cuối hoặc tử vong do bệnh Không

có bệnh nhân nào tử vong do đặt buồng tiêm truyền

Trang 39

3.2.3 Các biến chứng trong quá trình điều trị

3.2.3.1 Tỷ lệ các biến chứng

Biểu đồ 3.4: Tỷ lệ các biến chứng thường gặp

- Nhận xét: Quá trình nghiên cứu ghi nhận 41 ca có biến chứng trong quá

trình điều trị gây ra (tỷ lệ 37.6%), bao gồm 5 biến chứng; Hạ bạch cầu hạt,

Hạ tiểu cầu, Nôn, Hội chứng bàn tay bàn chân, Viêm phổi kẽ Chiếm tỷ lệcao nhất trong số 5 biến chứng này là hạ bạch cầu (29 ca với tỷ lệ 26.6%),tiếp theo là hạ tiểu cầu (7 ca với tỷ lệ 6.4%)

3.2.3.2 Tỷ lệ biến chứng hạ bạch cầu theo mức độ nặng

 Phân độ biến chứng hạ bạch cầu hạt: (Phụ lục B)

 Kết quả:

Ngày đăng: 18/07/2019, 13:16

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
11. Pérez Fidalgo J.A., García Fabregat L., Cervantes A. và cộng sự. (2012).Management of chemotherapy extravasation: ESMO–EONS Clinical Practice Guidelines. Ann Oncol, 23(suppl_7), vii167-vii173 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ann Oncol
Tác giả: Pérez Fidalgo J.A., García Fabregat L., Cervantes A. và cộng sự
Năm: 2012
12. Allwood M, Stanley A, và Wright P (2012), The Cytotoxics Handbook, Radcliffe Medical Press Inc., UK Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Cytotoxics Handbook
Tác giả: Allwood M, Stanley A, và Wright P
Năm: 2012
13. Coyle C.E., Griffie J., và Czaplewski L.M. (2014). Eliminating extravasation events: a multidisciplinary approach. J Infus Nurs Off Publ Infus Nurses Soc, 37(3), 157–164 Sách, tạp chí
Tiêu đề: J Infus Nurs Off PublInfus Nurses Soc
Tác giả: Coyle C.E., Griffie J., và Czaplewski L.M
Năm: 2014
15. Chang P.-H., Wang M.-T., Chen Y.-H. và cộng sự. (2014). Docetaxel extravasation results in significantly delayed and relapsed skin injury: A case report. Oncol Lett, 7(5), 1497–1498 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Oncol Lett
Tác giả: Chang P.-H., Wang M.-T., Chen Y.-H. và cộng sự
Năm: 2014
16. El-Saghir N., Otrock Z., Mufarrij A. và cộng sự. (2004). Dexrazoxane for anthracycline extravasation and GM-CSF for skin ulceration and wound healing. Lancet Oncol, 5(5), 320–321 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lancet Oncol
Tác giả: El-Saghir N., Otrock Z., Mufarrij A. và cộng sự
Năm: 2004
18. Kreidieh F.Y., Moukadem H.A., và El Saghir N.S. (2016). Overview, prevention and management of chemotherapy extravasation. World J Clin Oncol, 7(1), 87–97 Sách, tạp chí
Tiêu đề: World JClin Oncol
Tác giả: Kreidieh F.Y., Moukadem H.A., và El Saghir N.S
Năm: 2016
19. Schulmeister L. (2008). Managing Vesicant Extravasations. The Oncologist, 13(3), 284–288 Sách, tạp chí
Tiêu đề: TheOncologist
Tác giả: Schulmeister L
Năm: 2008
20. Narducci F., Jean-Laurent M., Boulanger L. và cộng sự. (2011). Totally implantable venous access port systems and risk factors for complications:a one-year prospective study in a cancer centre. Eur J Surg Oncol J Eur Soc Surg Oncol Br Assoc Surg Oncol, 37(10), 913–918 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Eur J Surg Oncol J EurSoc Surg Oncol Br Assoc Surg Oncol
Tác giả: Narducci F., Jean-Laurent M., Boulanger L. và cộng sự
Năm: 2011
23. Langstein H.N., Duman H., Seelig D. và cộng sự. (2002). Retrospective study of the management of chemotherapeutic extravasation injury. Ann Plast Surg, 49(4), 369–374 Sách, tạp chí
Tiêu đề: AnnPlast Surg
Tác giả: Langstein H.N., Duman H., Seelig D. và cộng sự
Năm: 2002
24. Bow E.J., Kilpatrick M.G., và Clinch J.J. (1999). Totally implantable venous access ports systems for patients receiving chemotherapy for solid tissue malignancies: A randomized controlled clinical trial examining the safety, efficacy, costs, and impact on quality of life. J Clin Oncol Off J Am Soc Clin Oncol, 17(4), 1267 Sách, tạp chí
Tiêu đề: J ClinOncol Off J Am Soc Clin Oncol
Tác giả: Bow E.J., Kilpatrick M.G., và Clinch J.J
Năm: 1999
25. Madabhavi I., Patel A., Sarkar M. và cộng sự. (2017). A Study of Use of“PORT” Catheter in Patients with Cancer: A Single-Center Experience.Clin Med Insights Oncol, 11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: PORT” Catheter in Patients with Cancer: A Single-Center Experience."Clin Med Insights Oncol
Tác giả: Madabhavi I., Patel A., Sarkar M. và cộng sự
Năm: 2017
26. Samad A.M.A. và Ibrahim Y.A. (2015). Complications of Port A Cath implantation: A single institution experience. Egypt J Radiol Nucl Med, 4(46), 907–911 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Egypt J Radiol Nucl Med
Tác giả: Samad A.M.A. và Ibrahim Y.A
Năm: 2015
27. Aparna S., Ramesh S., Appaji L. và cộng sự. (2015). Complications of chemoport in children with cancer: Experience of 54,100 catheter days from a tertiary cancer center of Southern India. South Asian J Cancer, 4(3), 143–145 Sách, tạp chí
Tiêu đề: South Asian J Cancer
Tác giả: Aparna S., Ramesh S., Appaji L. và cộng sự
Năm: 2015
28. Yaacob Y., Nguyen D.V., Mohamed Z. và cộng sự. (2013). Image-guided chemoport insertion by interventional radiologists: A single-center experience on periprocedural complications. Indian J Radiol Imaging, 23(2), 121–125 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Indian J Radiol Imaging
Tác giả: Yaacob Y., Nguyen D.V., Mohamed Z. và cộng sự
Năm: 2013
29. Lorch H., Zwaan M., Kagel C. và cộng sự. (2001). Central venous access ports placed by interventional radiologists: experience with 125 consecutive patients. Cardiovasc Intervent Radiol, 24(3), 180–184 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cardiovasc Intervent Radiol
Tác giả: Lorch H., Zwaan M., Kagel C. và cộng sự
Năm: 2001
31. Biffi R., Orsi F., Pozzi S. và cộng sự. (2009). Best choice of central venous insertion site for the prevention of catheter-related complications in adult patients who need cancer therapy: a randomized trial. Ann Oncol Off J Eur Soc Med Oncol, 20(5), 935–940 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ann OncolOff J Eur Soc Med Oncol
Tác giả: Biffi R., Orsi F., Pozzi S. và cộng sự
Năm: 2009
32. Hashiguchi Y., Kasai M., Fukuda T. và cộng sự. (2015). Chemotherapy- induced neutropenia and febrile neutropenia in patients with gynecologic malignancy. Anticancer Drugs, 26(10) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Anticancer Drugs
Tác giả: Hashiguchi Y., Kasai M., Fukuda T. và cộng sự
Năm: 2015
14. Cassagnol M, McBride A. Management of Chemotherapy Extravasations.US Pharm, 2009: 3-11 Khác
21. MA L., LIU Y., WANG J. và cộng sự. (2016). Totally implantable venous access port systems and associated complications: A single-institution Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w