1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Kỷ Năng hoạt động tập thể toàn tập

68 382 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Kỷ Năng Hoạt Động Tập Thể Toàn Tập
Người hướng dẫn Dương Trọng Phúc
Trường học Nhà Thiếu Nhi Quận 11
Thể loại Bài viết
Năm xuất bản 1999
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 306,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Công tác chuẩn bị: Để chương trình giao lưu diễn ra suôn sẻ và thành công như ý định, trong chuẩn bị cần nắm chắc các ý sau: 2.1.1 Mục đích yêu cầu của cuộc giao lưu: Do xuất phát từ k

Trang 1

CHƯƠNG I : CÔNG TÁC TỔ CHỨC VÀ CHUẨN BỊ

TỔ CHỨC CHƯƠNG TRÌNH

1.Tổ chức sân chơi lưu động cho thanh niên ở địa bàn dân cư :

Hiện nay việc vui chơi của trẻ em đang có sự chênh lệch khá lớn giữa trẻ em sống ở thành phố, trẻ em sống trong các gia đình kinh tế khá giả với trẻ nghèo, trẻ lang thang cơ nhỡ và trẻ em các vùng nông thôn Mùa hè đang đến gần, vấn đề vui chơi của trẻ em đang là một câu hỏi lớn đối với các bậc cha mẹ và các nhà hoạch định chính sách; tuy nhiên ngay một lúc không thể cải thiện tình hình này ngay được mà còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau Nếu cứ để tình trạng trẻ thiếu chỗ chơi, đời sống tinh thần hạn chế do sự phân bố vùng dân cư không đồng đều và do điều kiện khác biệt về kinh tế thì kéo theo nhiều bất cập trong môi trường giáo dục hiện đại, cũng như ảnh hưởng của sự phân bố giàu và nghèo càng gia tăng dẫn đến tác động không tốt tới mặt bằng phát triển chung của xã hội

Trước thực tế trên, năm 1999, Nhà thiếu nhi Quận 11 đã có một sáng kiến “Tổ chức sân chơi lưu động cho thiếu nhi ở địa bàn dân cư” Mô hình này đã được nhà thiếu nhi trong TP, các tỉnh thành trong cả nước áp dụng đưa vào hoạt động Mô hình này không chỉ đáp ứng nhu cầu của thiếu nhi trong quận mà còn là sự bù đắp cuộc sống tinh thần cho tất cả các thiếu nhi nghèo, trẻ

em lang thang, trẻ em khuyết tật, trẻ em các vùng nông thôn không có điều kiện đến vui chơi ở các các nhà thiếu nhi Bản tin hè số 01 xin giới thiệu mô hình này để các đơn vị tham khảo:

1.1 Các loại hình sân chơi lưu động

Trong tình hình hiện nay, việc xây dựng sân chơi lưu động cho thiếu nhi trên địa bàn dân cư tập trung ở các loại hình sau:

1.1.2 Sân chơi nghệ thuật: Sân chơi này biểu diễn các chương trình văn nghệ,

múa rối xen kẽ với các trò chơi tìm hiểu về nghệ thuật sân khấu như: đóng các nhân vật trong các vở múa rối, hoặc làm quen với các ca sĩ nhí

1.1.3 Sân chơi vận động: Sân chơi này mở ra các trò chơi dân gian, các môn

thể thao phù hợp với lứa tuổi thiếu nhi nhằm tổ chức các trò chơi vận động để thi đua rèn luyện sức khỏe

1.1.4 Sân chơi về pháp luật: Với nhiều hình thức thi, đố, hái hoa dân chủ, kể

chuyện, tiểu phẩm hài v.v Thông qua việc đưa ra các tình huống trong cuộc sống hàng ngày để giúp các em làm quen và tìm hiểu về các luật như: Luật bảo vệ và chăm sóc giáo dục trẻ em, luật phòng chống ma túy, luật giao

thông

1.1.5 Sân chơi trí tuệ: Sân chơi này thông qua các trò chơi khoa học vui giúp

các em tìm hiểu thêm về khoa học và đời sống, trang bị thêm những kiến thức cần thiết cho học tập, sinh hoạt

1.2 Phương pháp tổ chức sân chơi lưu động:

1.2.1 Thời gian và địa điểm: Sân chơi lưu động cho thiếu nhi ở địa bàn dân cư

được tổ chức thường xuyên, đặc biệt trong dịp hè Thời gian này các em nghỉ

Trang 2

hè về sinh hoạt tại địa phương nên số lượng thiếu nhi khá đông Ngay từ đầu mùa hè, nhà thiếu nhi thông báo, gửi nội dung tới các phường, khu phố để các đơn vị đăng ký phối hợp tổ chức

1.2.2 Phương pháp tổ chức:

a Phía các phường, khu phố:

- Chủ động khảo sát, lựa chọn địa điểm để tổ chức tốt nhất

- Đăng ký các loại hình sân chơi và lịch tổ chức cho từng sân chơi (Mỗi phường được đăng ký 3 loại hình cho 3 lần phục vụ)

- Tập hợp thiếu nhi trên địa bàn đến tham dự sân chơi

b Phía nhà thiếu nhi:

- Thiết kế chương trình biểu diễn như lịch đã đặt trước

- Chuẩn bị vật dụng phương tiện quà thưởng

- Cử cán bộ nghiệp vụ các khoa, đội Phụ trách tình nguyện và các đội văn nghệ, múa rối đến tổ chức sân chơi

- Phối hợp với các ngành, đoàn thể để tuyên truyền theo nội dung chuyên đề (ví dụ: Phòng tư pháp, Hội phụ nữ, Ủy ban dân số gia đình và trẻ em, Hội đồng Đội, Công an, Ban an toàn giao thông…)

Như vậy thông qua một số nội dung trên, sân chơi lưu động đã được các đơn vị phường, khu phố đánh giá cao, mang lại nhiều điều bổ ích cho các em thiếu nhi Sân chơi này không chỉ tổ chức vui chơi mà còn có ý nghĩa giáo dục cho trẻ em một cách toàn diện, tạo cho trẻ em có cuộc sống tinh thần đầy đủ, một sự chủ động, sáng tạo, hòa nhập với cộng đồng

2.Tổ chức giao lưu :

Giao lưu là sự tiếp xúc, gặp gỡ, trao đổi qua lại giữa hai hay nhiều đơn vị với nhau nhằm học tập, giải trí, hiểu biết lẫn nhau…, tăng cường hơn nữa mối đoàn kết hữu nghị giữa các đơn vị

Giao lưu có rất nhiều hình thức thể hiện như: thông qua một kỳ trại, một buổi đấu bóng đá, bóng chuyền… một buổi hội thảo, trao đổi

Riêng bài này chỉ nhằm giới thiệu giao lưu là một hình thức hoạt động văn hóa, văn nghệ, loại hình mà hiện nay ở các cơ sở Đoàn – Hội thường hay tổ chức

2.1 Công tác chuẩn bị:

Để chương trình giao lưu diễn ra suôn sẻ và thành công như ý định, trong chuẩn bị cần nắm chắc các ý sau:

2.1.1 Mục đích yêu cầu của cuộc giao lưu:

Do xuất phát từ khái niệm giao lưu nên người tổ chức cần xem đây là dịp thực hiện các chức năng cụ thể của tổ chức mình

¨ Chức năng giáo dục và rèn luyện:

Ví dụ: Thông qua giao lưu, bằng hình thức thi tìm hiểu, hái hoa dân chủ, tái hiện lịch sử… ta có thể lồng vào các nội dung tìm hiểu về Đảng, Đoàn, Bác Hồ, về kiến thức chung, về phong tục tập quán của một địa phương, hay đơn vị cụ thể nào đó…

¨ Chức năng giải trí, vui chơi:

Trang 3

Ví dụ: Thông qua giao lưu, ta có thể lồng vào các hình thức: hát, kể chuyện, trò chơi sinh hoạt… tự tìm hiểu các mô hình hoạt động hay để học tập, tạo cho các thành viên trong đơn vị tính dạn dĩ, lòng tự tin, tự chủ khi có dịp xuất hiện trước đám đông…

2.1.2 Đối tượng cuộc giao lưu

Về đối tượng ta nên nắm cụ thể: số lượng bao nhiêu? Thành phần nào? Chia bao nhiêu tổ, toán? Chia theo từng đơn vị hay pha trộn nhiều đơn vị thành 1 tổ? Số lượng nam nữ có tương đồng không? Nam nhiều hay nữ nhiều? Tuổi? Đặc biệt là trình độ kỹ năng tổ chức hoạt động của các lực lượng có tương đồng hay không? Đây là điều quan trọng vì rất nhiều chương trình giao lưu không thành công bởi xuất phát từ đối tượng không tương đồng về ngành nghề, tuổi tác, số lượng…

2.1.3 Thời gian giao lưu:

Nên nắm tổng thể thời gian có được là bao lâu: 2 giờ, 4 giờ, 1 ngày, 2 ngày…? Theo nguyên tắc hoạt động thì thời gian càng nhiều cường độ hoạt động càng

ít Thời gian có được của cuộc giao lưu là ngày hay đêm? Nếu là ngày thì nên xen vào các loại hình thể dục, thể thao, tham quan ngắm cảnh… nếu là đêm thì nên có các loại hình văn hóa, văn nghệ… phân bổ thời gian cần lưu ý các sinh hoạt khác như ăn uống, ngủ nghỉ, các sinh hoạt cá nhân

2.1.4 Địa điểm giao lưu:

Có bao nhiêu địa điểm cần sử dụng, địa điểm trong phòng hay ngoài trời? Chỗ ngồi cho người tham gia thế nào? Âm thanh, ánh sáng? Trang trí? Thời tiết lúc giao lưu diễn ra? Có gì thuận lợi cần phát huy, có gì khó khăn cần khắc phục?

2.1.5 Hình thức qui mô cuộc giao lưu:

Hình thức, qui mô cuộc giao lưu thể hiện ở nhiều góc độ: từ đầu đến cuối cuộc giao lưu; từ nội dung, hình thức thể hiện, đến số lượng người tham gia lẫn đại biểu đến dự

Thí dụ: Đêm giao lưu sẽ có diễn văn nghệ, vậy trong văn nghệ đó người diễn

có tập dợt nhiều không hay chỉ là xử lý tình huống? Dàn âm thanh ánh sáng được chuẩn bị như thế nào? Có chụp ảnh, quay phim? Có đại biểu dự nhiều không? Khán giả là ai? Số lượng…?

2.1.6 Nội dung cuộc giao lưu:

Nội dung nào để giáo dục? Rèn luyện? Giải trí? Làm quen? Để chúc mừng? Để tự thể hiện mình? Hình thức nào thể hiện các nội dung đó? Hình thức có phù hợp với đối tượng?

2.1.7 Phương tiện phục vụ cho cuộc giao lưu:

- Phục vụ cho ăn, ngủ nghỉ, đi lại (nếu có)

- Phục vụ cho các hoạt động: âm thanh, ánh sáng, bàn ghế, hội trường, nước uống, trang trí, đàn, máy ảnh

- Phục vụ cho các nội dung: vật dụng trò chơi, câu hỏi, đáp án, bảng điểm,…

- Quà thưởng, quà lưu niệm…

2.1.8 Ban tổ chức cuộc giao lưu:

Dự kiến ban tổ chức bao nhiêu người? Thành phần gồm có ai? Chia bao nhiêu

Trang 4

bộ phận? Phân công nhiệm vụ gì cho mỗi bộ phận và cá nhân?

Cần phối hợp chặt với đơn vị giao lưu để cùng thỏa thuận, để chuẩn bị tốt các nội dung trên Tránh tự ý đề ra nội dung sau đó buộc các đơn vị bạn phải theo

ý định của riêng đơn vị mình

2.2.Lên chương trình chi tiết cuộc giao lưu:

Từ các ý đã chuẩn bị của phần (A) ta cần cụ thể hóa thành chương trình chi tiết sau:

Chương trình chi tiết:

I Mục đích yêu cầu cuộc giao lưu: (nêu cụ thể ra thành 2 nội dung: mục

đích, yêu cầu)

II Nội dung và hình thức cuộc giao lưu: (nêu cụ thể các nội dung có được,

các hình thức thể hiện cụ thể qui mô dự định diễn ra…)

III Thời gian, địa điểm, nhân sự: (nêu rõ thời gian tổng thể, địa điểm ở đâu?

Bao nhiêu địa điểm? Tổng số nhân sự tham gia? Chia bao nhiêu tổ?)

IV Chương trình chi tiết:

A.Khai mạc

1 Tập hợp lực lượng: (cần nhanh gọn để tạo ra khí thế phấn khởi ban đầu

cho cuộc giao lưu)

Một số hình thức tập hợp lực lượng được sử dụng nhiều như:

- Nếu giao lưu trong hội trường: trước khi diễn ra, đơn vị chủ nhà nên có mặt trước, khi đơn vị bạn tiến vào hội trường sẽ đón bằng cách hô băng reo, sau đó là các bài hát tập thể chào mừng (Mừng anh, Nụ cười hồng, Bốn phương trời…)

- Nếu giao lưu ở ngoài sân: đơn vị chủ nhà nên tổ chức chơi một số trò chơi để tạo không khí vui tươi, sau đó có thể dùng các bài hát chào mừng, hát sinh hoạt tạo thành liên khúc để mọi người trong vòng tròn tạo nên đội hình rồng rắn mời gọi các thành viên của đơn vị bạn gia nhập vòng tròn

- Nếu muốn “pha trộn” lực lượng các đơn vị giao lưu, trước khi vào vị trí ta nên tổ chức trò chơi “ghép tim”

- Nếu muốn tạo sự tự nhiên trước khi giao lưu có thể chơi một số trò chơi khác như: nhảy sạp vào hội trường (ai nhảy không đúng mời ra nhảy lại), đường lên thiên đàng (đi vào lối có đèn để “được” Ban tổ chức thị thực bằng các hành động hài hước vẽ mặt, bôi lọ…)

- Nếu muốn tạo khí thế vui khỏe thì tổ chức diễu hành, có lời giới thiệu khi từng đơn vị tiến vào hội trường

2 Tuyên bố lý do:

Tùy theo tính chất từng cuộc giao lưu có thể nói nghiêm túc hoặc nhẹ nhàng, vui tươi dí dỏm Tuyên bố nên ngắn gọn, súc tích xoay quanh các ý sau:

- Lập lại mục đích ý nghĩa được giao lưu

- Tinh thần đoàn kết và hữu nghị các đơn vị

- Tin tưởng cuộc giao lưu sẽ thành công

3 Giới thiệu đại biểu:

Giới thiệu đại biểu trong giao lưu có nhiều hình thức; nếu để tạo tính nghiêm

Trang 5

túc thì đơn vị chủ nhà có thể đảm nhiệm cả các thủ tục khai mạc, nội dung, bế mạc, trong đó có giới thiệu đại biểu Nếu để tạo sự gần gũi thân mật giữa các đơn vị thì có thể bố trí tại đơn vị nào giới thiệu người tham gia lãnh đạo đoàn, đại biểu của đơn vị mình… Trong giới thiệu đại biểu nên:

- Giới thiệu đại biểu cấp cao trước

- Giới thiệu đại biểu là khách trước, chủ nhà sau

Lưu ý:

- Đừng quên giới thiệu lực lượng tham gia

- Được giới thiệu đại biểu bổ sung (khi đại biểu đến trễ hoặc do ta sai sót)

4 Thông qua chương trình:

- Thông qua tổng thể các nội dung của chương trình để mọi người theo dõi

- Nên sơ nét cách chơi, luật chơi… của các nội dung dự kiến

5 Giới thiệu ban giám khảo, thư ký, người dẫn chương trình:

- Thành phần Ban giám khảo gồm: chánh chủ khảo, các thành viên

· Ở người dẫn chương trình: nên chọn người am hiểu công việc này

B.Vào chương trình

Cần lưu ý các việc sau đây:

· Thứ tự các nội dung, tiết mục, sau khi hội ý xong cần ghi cụ thể để tránh nhầm lẫn, bỏ sót

· Về bố trí tiết mục: nên xen kẽ nhau để các đơn vị được lần lượt xuất hiện trước mọi người

· Cần tạo cao trào cho phần mở màn và kết thúc Ví dụ: tốp ca, đồng ca, hợp

ca thường đóng vai trò mở màn, đơn ca, thơ, kể chuyện, ca cổ, hái hoa… giữa chương trình Kịch, múa, thời trang, tái hiện lịch sử truyền thống, khiêu vũ, nhảy sạp, múa tập thể… ở phần kết thúc

· Tùy tình hình cuộc giao lưu co thể thêm vào một số nội dung khác như trò chơi nhỏ, hát phục vụ đại biểu, phóng vấn…

· Công bố kết quả đạt được Lúc công bố có thể nêu kết quả thấp trước cao sau để tạo thêm phần hồi hộp cho khán giả

· Phát thưởng: phần này có tính đến từng đợt phát, mỗi đợt dự kiến mời đại biểu nào trao, ai làm công tác hậu cần

Trang 6

· Phát biểu của đại diện đơn vị bạn, đơn vị chủ nhà nên phát biểu sau kèm luôn lời kết thúc

· Phát biểu kết thúc của Ban tổ chức hoặc người dẫn chương trình (nếu cần)

· Thủ tục chia tay (có thể hát một loạt các bài hát chia tay, cũng có thể cử đại diện lần lượt bắt tay tiễn khách…)

2.3.Một số công việc khác:

2.3.1 Lập và phân công Ban tổ chức:

Lập cho được ban tổ chức với thành phần gồm:

• Trưởng ban: phụ trách chung, có thể kèm thêm một số việc

• Phó ban: phụ trách hoạt động hoặc nội dung Chuyên tổ chức các nội dung hoạt động chính trong giao lưu

• Phó ban: phụ trách hậu cần, chuyên lo trang trí, nuớc uống, âm thanh…

• Một số ủy viên khác chuyên lo từng nội dung nhỏ như văn nghệ, trò chơi, âm thanh, ánh sáng, tiếp tân…

Lực lượng tham gia Ban tổ chức nên chọn:

· Từ trong nội bộ các đơn vị giao lưu

· Chọn những người am hiểu công việc, nhiệt tình, nhiều kinh nghiệm tổ chức Sau khi có Ban tổ chức nên có họp phân công công việc cụ thể theo khả năng từng người

2.3.2 Có chế độ kiểm tra công việc:

Từng công việc chuẩn bị có ảnh hưởng lớn đến thành bại của cuộc giao lưu nên cần kiểm tra kỹ từng nội dung: từ hậu cần, kịch bản chi tiết đến văn nghệ phục vụ…

2.3.3 Dự trù kinh phí:

Lên kinh phí chi tiết cho từng công việc

Các vật dụng mượn phải bảo quản tốt để trả lại, các vật dụng mua phải có chứng từ rõ ràng để quyết toán

Nên dự trù từ bộ phận, sau đó tổng hợp chung lại

Kinh phí có thể đơn vị đăng cai lo hoặc những đơn vị tham dự hỗ trợ trên tinh thần cùng thỏa thuận

2.4 Các điều cần lưu ý khi tổ chức giao lưu:

1 Toàn bộ chương trình (kể cả kịch bản chi tiết) phải được thông qua cấp có thẩm quyền phê duyệt

2 Trong lúc giao lưu, tác phong, ngôn phong, thái độ… của từng thành viên có ảnh hưởng rất lớn đến khía cạnh ngoại giao nên cần nhắc nhở các thành viên phải hết sức thận trọng

3 Các giờ giấc đề ra trong giao lưu cần thực hiện nghiêm túc, nếu không sẽ ảnh hưởng rất lớn đến không khí, tinh thần của cuộc giao lưu Nhiều chương trình thất bại do thực hiện giờ giấc không đúng

4 Thật linh động và chủ động điều chỉnh các nội dung khi thấy tình hình diễn biến không phù hợp như: mưa gió bất thường, các tiết mục không hay mà lại quá nhiều, mọi người bỏ ra ngoài hoặc sinh hoạt việc riêng nhiều, không khí trầm quá cần có nội dung khác sinh động hơn…

Trang 7

5 Trước khi kết thúc cần tạo cao trào, tạo ấn tuợng tốt khi chia tay để có lần giao lưu khác

6 Đừng quên trang trí cho hình thức của buổi giao lưu như phông màn, bình hoa, hoa rời để tặng, chổ ngồi đại biểu… vì nó góp phần không nhỏ vào thành công của buổi lễ

7 Người dẫn chương trình có vai trò rất quan trọng, cần chọn người có khả năng sinh hoạt tập thể, hát, tổ chức trò chơi, có tính hài hước, có uy tín để lôi cuốn mọi người tham gia

Giao lưu là một hoạt động rất cần cần thiết và bổ ích cho công tác thanh niên Tổ chức thành công mỗi cuộc giao lưu vừa là tạo sân chơi tốt cho thanh niên, đồng thời, góp phần giáo dục nhân cách và mở rộng vòng tay bè bạn

3.Tổ chức các hội thi :

Trong công tác thanh niên, ngoài những hội thi hùng biện, thuyết trình, kể chuyện thường dành cho cá nhân còn có những hội thi khác dành cho các tập thể, nhóm nhỏ như thi đố kiến thức, đố vui, hái hoa dân chủ, trắc nghiệm kiến thức, và hiện nay có những loại hình đang được cơ quan thông tin đại chúng áp dụng rộng rãi, thu hút nhiều người quan tâm như Vui để học, Đường lên đỉnh Olympia, Chiếc nón kỳ diệu Để tổ chức được các loại hình trên ta cần thực hiện các việc sau đây

3.1 Công tác chuẩn bị:

- Xác định rõ mục đích ý nghĩa và yêu cầu của từng cuộc thi cụ thể (vì sao

phải tổ chức? Tổ chức để làm gì? ), các yêu cầu cụ thể với Ban tổ chức, đối tượng chơi?

- Các nội dung cần có trong cuộc thi (thể hiện mục đích cần đạt được), nội

dung chính, nội dung phụ, nội dung giáo dục, vui chơi giải trí, nội dung thử thách, gợi ý thông minh…

- Hình thức, quy mô, tính chất cuộc thi:

· Chọn hình thức (loại hình cụ thể)

· Hình thức qua trang trí, màu cờ, sắc áo…

· Hình thức nhóm nhỏ, nhóm lớn, cá nhân

· Quy mô cuộc thi: dự kiến cách thức tổ chức tầm cỡ nào? Người dự, người xem, lực lượng cổ vũ, trang trí…

· Tính chất cuộc thi: đối kháng thế nào, trực tiếp, gián tiếp, vui tươi nhẹ nhàng hay căng thẳng

- Thời gian: cuộc thi diễn ra trong bao lâu, mấy vòng, có thời gian cho chuẩn

bị không hay chỉ là ứng xử (tức sử dụng vốn kiến thức có sẵn)

- Địa điểm cuộc thi: nơi nào? Có quá lợi thế cho một lực lượng tham gia

không? Khán giả của ai?

- Phương tiện phục vụ cuộc thi: trang trí, bàn ghế, chỗ ngồi (người thi, người

xem, đại biểu), dụng cụ, ánh sáng, đèn màu, bảng, nhạc, quần áo, dụng cụ cổ động, hoa, quà tặng, quà thưởng, câu hỏi…

- Soạn nội quy, điều luật thi: soạn càng kỹ, càng ít bị tranh cãi

- Khen thưởng cá nhân và tập thể khi thi.

Trang 8

- Ban tổ chức cuộc thi: Ban tổ chức, Ban giám khảo, Ban trật tự, hậu cần, âm

thanh ánh sáng, bộ phận phục vụ cụ thể lúc thi, người dẫn chương trình Nên phân công cụ thể từng thành viên với từng loại công việc

- Chuẩn bị kinh phí tổng thể.

3.2 Viết kế hoạch:

·Viết kế hoạch (từ các ý của việc chuẩn bị, cần hình thành kế hoạch chi tiết cho cuộc thi như: mục đích yêu cầu, nội dung cuộc thi, chủ đề, địa điểm, thời gian, đối tượng…)

·Lên chương trình chi tiết: khi viết kế hoạch, việc lên chương trình chi tiết là rất quan trọng vì khi cuộc thi diễn ra, ta phải căn cứ vào đó để tuần tự thực hiện (nếu được thì nên biến chương trình chi tiết thành kịch bản càng tốt) Lập bảng phân công cụ thể từng công việc cho Ban tổ chức (kể cả việc chuẩn bị đến khi tiến hành và kết thúc toàn bộ cuộc thi)

·Dự trù kinh phí chi tiết (tránh để thiếu hoặc mọi hiện tượng phát sinh)

·Nêu biện pháp và tiến độ thực hiện (gắn công việc chuẩn bị, kiểm tra với thời gian cụ thể mà Ban tổ chức và các bộ phận phải hoàn thành, cách thức hoàn thành)

• Tập dợt các nội dung khi cần thiết

3.4 Tiến hành cuộc thi:

Khi tiến hành cuộc thi cần chú ý các việc sau:

• Theo đúng trình tự chương trình đã có mà thực hiện (đây là nội dung đã được duyệt, được người thi chấp nhận và đã chuẩn bị từ trước)

• Ban tổ chức cần có bộ phận thường trực để giải quyết kịp thời các tình huống phát sinh, khi xử lý cần bám vào lực lượng lãnh đạo các đoàn trên quan điểm tất cả vì sự thành công chung của cuộc thi

• Về hình thức cần tạo không khí thoải mái, nhẹ nhàng vui tươi sinh động nhưng đừng quên nội dung giáo dục; cần tập trung nhiều cho phần khai mạc, bế mạc

• Cần chọn người dẫn chương trình cho phù hợp với từng loại hình cụ thể Nếu nặng về kiến thức thì mời người có kiến thức, nếu nặng về giải trí thì mời người có khiếu hài hước để cuộc thi luôn sinh động

• Các nội dung thi, các câu hỏi phải được soạn kỹ cả phần hỏi lẫn phần đáp, được duyệt kỹ trước khi đem ra sử dụng Các dạng câu hỏi (kín, mở…) phải được thống nhất chung

Trang 9

• Ban tổ chức, ban giám khảo… cần chọn người có uy tín cao, các bộ phận phục vụ phải là người thạo việc

• Sau khi xong phải thu hồi đầy đủ các vật dụng, quyết toán kinh phí Cuối cùng cần nghiêm túc rút kinh nghiệm công tác tổ chức, lắng nghe từ nhiều phía (Ban tổ chức, các bộ phận, người thi, khán giả, ủng hộ viên…) để lần sau tổ chức tốt hơn

3.5 Một số loại hình hay tổ chức:

3.5.1 Hội thi thuyết trình:

- Hội thi thuyết trình thường được tổ chức để tuyên truyền về chủ trương chính sách, nghị quyết của Đảng, tuyên truyền về một nội dung giáo dục mà tổ chức Đoàn muốn định hướng cho đoàn viên, thanh niên

- Đây là hình thức thi thường được sử dụng trong trường hợp đối tượng dự thi là cá nhân

· Yêu cầu đối với công tác tổ chức:

- Lựa chọn nội dung thi phù hợp với từng đối tượng tham gia là điều kiện tiên quyết cho sự thành công của hội thi Bởi mỗi đối tượng khác nhau sẽ có sự quan tâm về các vấn đề khác nhau Tìm hiểu đúng vấn đề mà đoàn viên, thanh niên quan tâm sẽ thu hút được sự tham gia đông đảo và có chất lương của đoàn viên thanh niên

- Mời ban giám khảo là người am hiểu và có uy tín về nội dung của hội thi để có sự đánh giá chính xác, khách quan về chất lượng, kết quả của người dự thi, cũng như kịp thời có sự điều chỉnh, định hướng các nhận thức chưa đúng của người dự thi

3.5.2 Hội thi hùng biện:

a) Khái niệm:

- Hội thi hùng biện thường được sử dụng nhằm mục đích nắm tình hình diễn biến tư tưởng, nhận thức chính trị của đoàn viên, thanh niên đối với một vấn đề chính trị xã hội cụ thể, từ đó có sự điều chỉnh, định hướng kịp thời Chính vì vậy, hội thi hùng biện bao giờ cũng được giới hạn ở một nội dung, một vấn đề cụ thể, nhất định

- Tương tự như hội thi thuyết trình, hình thức này cũng thường được sử dụng

với đối tượng dự thi là cá nhân

b) Yêu cầu:

Yêu cầu đặt ra đối với công tác tổ chức hội thi hùng biện là việc lựa chọn đề tài hùng biện phù hợp với mục đích và đối tượng của hội thi Đề tài hùng biện phải là vấn đề chính trị - xã hội nóng bỏng mà đoàn viên, thanh niên đang quan tâm, thu hút được sự quan tâm, tham gia của đông đảo đoàn viên, thanh niên Nếu không đảm bảo yêu cầu, tổ chức Đoàn sẽ không nắm được diễn biến tư tưởng, cũng như nhận thức của đoàn viên, thanh niên đối với các vấn đề chính trị xã hội nóng bỏng, từ đó sẽ không có định hướng kịp thời

Cần mời ban giám khảo là những người có uy tín trong xã hội để đảm bảo sự khách quan trong kết quả hội thi cũng như kịp thời định hướng cho đoàn viên, thanh niên nếu thí sinh dự thi có biểu hiện lệch lạc về nhận thức

Trang 10

3.5.3 Tổ chức thi đố kiến thức:

a) Khái niệm:

Thi đố kiên thức là một hình thức giáo dục sinh động, phong phú và hấp dẫn Có nhiều cách thức tổ chức thi đố vui kiến thức khác nhau như: đố vui, trắc nghiệm, hái hoa dân chủ, một số hình thức mới như: chiếc nón kỳ diệu, đường lên đỉnh Olympia, hành trình văn hóa, vui để học Tuỳ theo đối tượng cụ thể và điều kiện tổ chức mà chúng ta lựa chọn hình thức thi đố kiến thức cho phù hợp

b) Yêu cầu

Tổ chức thi đố kiến thức cũng cần xác định giới hạn nội dung trong một lĩnh vực nhất định, ví dụ: hội thi tìm hiểu nghị quyết Đại hội Đảng lần IX, Nghị quyết Đại hội Đoàn thành phố lần VII, hội thi tìm hiểu về một văn bản pháp luật (luật lao động, luật phòng chống ma túy, luật bảo vệ và chăm sóc trẻ em, luật an toàn giao thông đường bộ)

Lưu ý: khi sử dụng hình thức tổ chức hội thi, các cơ sở Đoàn cũng có thể kết

hợp các hình thức nói trên để tạo sự phong phú hấp dẫn cho hội thi Ví dụ: như kết hợp thi đố kiến thức với thi hùng biện hoặc thi thuyết trình Trong trường hợp này, những người hùng biện hay thuyết trình vẫn là những cá nhân nhưng họ sẽ đại diện cho tập thể để trình bày về nội dung thi và đó là ý kiến tập thể mà họ đại diện

4.Tổ chức hội diễn văn nghệ

4.1 Hội diễn văn nghệ và giá trị của hội diễn văn nghệ:

4.1.1 Khái niệm:

Hội diễn văn nghệ là cuộc trình diễn nhiều tiết mục văn nghệ (của một hay nhiều đơn vị) thuộc ngành sân khấu như: ca, kịch, tấu hài, hò, vè, hát ru, tuồng, chèo… ở một thời điểm và không gian nhất định

4.1.2 Giá trị của hội diễn văn nghệ:

Làm tăng thêm tính qui mô cho các dịp chào mừng những ngày lễ lớn của dân tộc, kỷ niệm các ngày lễ ra quân, các buổi đại hội, các lễ hội truyền thống của một đơn vị, một ngành, một địa phương

Đối với các đơn vị, các ngành, các địa phương có những đợt hội diễn văn nghệ truyền thống thì nó được xem như dịp kiểm tra đánh giá lại phong trào văn nghệ nơi đó, là dịp để tiếp tục trao đổi kinh nghiệm, học tập lẫn nhau, phát hiện các tài năng mới, bổ sung tiếp lực lượng cho phong trào ca hát…

Là dịp nâng cao trình độ thưởng thức văn nghệ của quần chúng, khai thác tính sáng tạo, đồng thời tiếp tục giữ gìn và bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc trong loại hình âm nhạc của từng đơn vị, địa phương

Đưa đến cho mọi người món ăn tinh thần bổ ích và lành mạnh, tạo ra thời gian giải trí sau quá trình học tập, lao động vất vả

4.2 Tổ chức hội diễn văn nghệ:

4.2.1 Công tác chuẩn bị:

a) Nắm cho được mục đích yêu cầu đợt hội diễn văn nghệ:

Người tổ chức phải tự trả lời được với chính mình và mọi người: đợt hội

Trang 11

diễn văn nghệ kỳ này nhằm mục đích gì? Chào mừng các ngày lễ lớn hay tiếp tục truyền thống hàng năm? Chuẩn bị lực lượng mới để tham gia một hội diễn văn nghệ khác… Tuy nhiên cần hiểu rõ các ý cơ bản sau: yếu tố nào có trong hội diễn văn nghệ nhằm để giáo dục, rèn luyện, giải trí…? Từ đó có đề ra các yêu cầu cụ thể cho từng thành viên, đơn vị khi tham gia hội diễn

b) Dự kiến các nội dung:

Nội dung hội diễn văn nghệ cần thể hiện điều gì? Chủ đề? Đề tài? (phải xuất phát từ mục đích yêu cầu của đợt hội diễn)

c) Hình thức qui mô:

Dự định qui mô đợt hội diễn kỳ này cỡ nào? Mời bao nhiêu đơn vị, cá nhân tham gia? Người xem? Giải thưởng? Hội diễn chia làm mấy đợt? Trang trí? Cổ động? Tuyên truyền? Thời gian? Giám khảo?

d) Thể loại:

Bao nhiêu thể loại được tham gia: ca, múa, kịch, tấu hài…?

e) Đối tượng tham gia:

- Đối tượng:

Có khống chế độ tuổi không? Có trong một đơn vị hay được mời gọi bên

ngoài? Chia hạng A, B, đẳng cấp trình độ cỡ nào không được tham gia?

g) Địa điểm:

Cần chọn địa điểm thuận lợi cho đi lại ăn ở của các đơn vị, đại biểu, khách mời và cả khán giả, thuận lợi cho thông tin tuyên truyền Riêng sân khấu phải thỏa được các yêu cầu lúc biểu diễn: rộng, thoáng, nhiều lối ra vào, dễ trang trí, có chỗ thích hợp để âm thanh, nhạc cụ, thuận tiện trong sắp xếp vị trí ngồi giám khảo, khán giả

h) Phương tiện phục vụ:

Các loại phương tiện cho: biểu diễn, ăn ở diễn viên, đại biểu, di chuyển, trang trí, cổ động, y tế, nước uống, chụp ảnh, quay phim, hoa tặng, y tế, quà thưởng…

i) Ban tổ chức:

Lập ra ban tổ chức với đủ các thành phần, phụ trách các nội dung cụ thể

Thí dụ:

- Ban tổ chức: trưởng ban, phó ban, ủy viên…

- Ban giám khảo: số lượng? Trình độ? Năng lực? (có mời lực lượng bên ngoài không?)

- Ban hậu cần, ban trang trí, tổ tuyên truyền

- Bộ phận thường trực

- Ban an ninh, trật tự, y tế

Trang 12

- Bộ phận tiếp tân, ban nhạc, người dẫn chương trình

j) Kinh phí:

Tổng kinh phí dự kiến bao nhiêu? Phân ra cho từng bộ phận nhỏ Người tham gia, đơn vị tham gia có đóng góp không? Ai tài trợ?

4.2.2 Viết kế hoạch hội diễn văn nghệ:

Từ nội dung chuẩn bị viết lại thành kế hoạch rõ ràng: mục đích, yêu cầu, đề tài nội dung, thể loại đối tượng được tham dự, số lượng, thời gian, địa điểm, ban tổ chức, cơ cấu giải thưởng…; biện pháp thực hiện, tiến độ thời gian…

4.2.3 Phân công ban tổ chức:

Cần phân công cụ thể từng thành viên gắn với nội dung công việc từ chuẩn bị đến khi kết thúc hội diễn (để mọi người cùng có trách nhiệm với nhau trong

các hoạt động phối hợp)

4.2.4 Lên dự trù kinh phí:

Dự trù thật chi tiết bắt đầu từ các bộ phận nhỏ Lưu ý nếu có phối hợp với bên ngoài phải có hợp đồng cụ thể, rõ ràng, các chứng từ hóa đơn phải hợp lệ… để thuận tiện cho quyết toán

4.2.5 Thông qua kế hoạch:

Kế hoạch trên phải được họp thông qua để có chủ trương rõ ràng Thành phần họp nên mời đủ: đại diện cấp trên, các thành viên trong Ban tổ chức, đơn vị tài trợ (nếu có), đại diện lực lượng tham gia, các chuyên gia từng tổ chức hội diễn văn nghệ (nếu có) để được góp ý…

4.2.6 Phát hành kế hoạch, soạn điều lệ (nếu có):

Gởi kế hoạch đến các nơi để báo cáo và các đơn vị tham gia để biết (để dễ dàng cho lúc điều hành, nên cụ thể hóa kế hoạch thành điều lệ hội diễn) Ban tổ chức

Hội diễn……… ……ngày … tháng … năm …

ĐIỀU LỆHỘI DIỄN VĂN NGHỆ

Mở đầu: Nêu lại mục đích, ý nghĩa hội diễn … có phối hợp với ai không? Ai tài trợ? Điều I: Địa điểm, thời gian hội diễn

Điều II: Qui định rõ đối tượng, số lượng các đoàn, các đơn vị tham gia

Điều III: Các thể loại được thi Các chương trình tham gia

Điều IV: Thể thức chấm điểm tiết mục, chương trình

Điều V: Cơ cấu giải thưởng…

(Có thể xem đây là luật để giải quyết mọi khiếu nại về sau Càng chi tiết từng điều từng khoản càng tốt)

4.2.7 Thông báo và nắm lại danh sách đăng ký tham gia:

Trang 13

Ví dụ: mẫu đăng ký

STT tham giaĐơn vị Tên tiết mụctác giả Người biểu diễn Ghi chú

(Nếu khuyến khích tiết mục tự biên, tự dàn dựng thì thêm cột để cơ sở tự điền vào)

4.2.8 Thông báo thời gian tổng duyệt chương trình (nếu có):

4.2.9 Tổng kiểm tra lần cuối:

Trước khi hội diễn chính thức diễn ra nên có phân công nhân sự theo dõi quá trình tổng dợt của các nơi, các đơn vị… từ đó có hướng tạo điều kiện giúp đỡ để hội diễn có chất lượng hơn

4.3 Tiến hành hội diễn văn nghệ:

Khi tiến hành hội diễn văn nghệ nên bám chắc kế hoạch để thực hiện Ngoài

ra cần lưu ý các nội dung sau:

4.3.1 Lễ khai mạc:

Lễ khai mạc là bộ mặt của cả chương trình hội diễn văn nghệ, do đó cần tập trung công sức nhiều hơn, tránh làm qua loa, đại khái Nội dung lễ khai mạc gồm các phần:

- Nghi thức khai mạc (chào cờ nếu có)

- Tuyên bố lý do

- Giới thiệu đại biểu, các đoàn tham gia

- Diễn văn hoặc phát biểu khai mạc hội diễn của Ban tổ chức

- Công bố thành phần Ban tổ chức, Ban giám khảm

- Phát biểu của đại biểu

- Phát biểu đại diện các đoàn (nếu có)

- Văn nghệ khai mạc (nếu có)

(Cần ngắn gọn, tạo ấn tượng tốt trong toàn bộ lễ khai mạc)

4.3.2 Bộ phận thường trực hoạt động:

Theo dõi chặt chẽ mọi diễn biến để xử lý kịp thời, chuẩn bị nội dung cho báo cáo tổng kết

4.3.3 Lên chương trình cụ thể:

Phân bổ tiết mục theo thứ tự của từng buổi, từng đêm, từng ngày… Công bố công khai để mọi người theo dõi và chuẩn bị tốt

4.3.4 Lễ bế mạc:

Gồm các nội dung (gợi ý):

- Tuyên bố lý do

- Giới thiệu đại biểu – Các đoàn tham gia

- Đọc báo cáo tổng kết hội diễn văn nghệ của Ban tổ chức

- Công bố kết quả tiết mục, chương trình đoạt giải

- Phát thưởng: quà, cờ lưu niệm…

- Văn nghệ (chọn các tiết mục hay, đoạt giải cao diễn phục vụ và báo cáo chất lượng hội diễn) có thể xen kẽ từng phần trong bế mạc

Trang 14

- Phát biểu đại biểu, các đoàn, diễn viên…

- Phát biểu bế mạc hội diễn của Ban tổ chức

- Kết thúc

4.4 Các điều cần lưu ý trong tổ chức hội diễn văn nghệ:

4.4.1 Trang trí sân khấu:

Hình thức trang trí sân khấu nên gắn chặt chủ đề, đề tài hội diễn, từ phông màn, logo, tránh quá cầu kỳ nhưng cũng không nên sơ xài, cẩu thả

4.4.2 Hóa trang, trang phục:

Cần qui định cụ thể trong điều lệ (diễn viên phải ăn mặc đẹp, trang nhã, lịch sự…)

4.4.3 Người giới thiệu, lời giới thiệu:

Nếu Ban tổ chức đảm trách thì cần chọn người am hiểu công việc, có đủ khả năng phẩm chất điều hành, nếu là công việc của các đoàn thì phải thông báo trước để các đoàn có động tác chuẩn bị tập luyện

4.4.4 Sắp xếp chương trình:

Có nhiều cách diễn như theo thể loại tiết mục, diễn chương trình, diễn theo thời gian được phân bổ; để tránh khiếu nại, Ban tổ chức nên công khai để các đoàn, các đơn vị bốc thăm thứ tự biểu diễn của đơn vị mình, thông báo rõ qui định lúc diễn: thời gian cho chuẩn bị, thời gian được lố; các bộ phận cần liên hệ trước như âm thanh, ánh sáng…

4.4.5 Cơ cấu giải thưởng:

Có nhiều dạng cơ cấu giải thưởng, nếu là hội diễn để tuyển chọn nhân tài nên

cơ cấu theo huy chương vàng, bạc, đồng, khuyến khích; nếu là hội diễn phong trào nên cơ cấu giải thưởng theo dạng giải A, B, C, khuyến khích; ngoài ra nên thêm các giải đặc biệt cho phong cách, chất giọng, bài hát, tự biên, tự dàn dựng, giải diễn viên cao tuổi nhất, trẻ nhất, trang phục… Giải A, B, C có thể chọn từ điểm cao nhất trở xuống, hoặc đủ chuẩn điểm thì là giải A, B, C… Tuy nhiên cũng cần tránh hiện tượng chất lượng hội diễn không cao nhưng giải thưởng lại quá nhiều

4.4.6 Cách chấm điểm:

Tùy theo tính chất và qui mô của mỗi hội diễn mà cách chấm điểm của Ban giam khảo khác nhau; cơ cấu điểm nên có các nội dung:

Nội dung bài hát - chất giọng – nhịp điệu – hóa trang (nếu có) – (có thể căn cứ chủ đề) – phong cách biểu diễn (tổng số điểm nên là 10, cơ cấu từng nội dung do Ban tổ chức qui định)

4.4.7 Ban giám khảo:

Nên chọn người am hiểu, có chuyên môn, đủ uy tín (tránh hiện tượng ai làm cũng được sẽ không chính xác, vừa kém hiệu quả) cho việc nhận xét, góp ý, rút kinh nghiệm

4.4.8 Rút kinh nghiệm:

Đề lần sau tổ chức tốt hơn, động tác sau mỗi hội diễn là phải rút kinh nghiệm Thành phần tham gia nên mời đủ đại diện các lực lượng tham gia, nhân sự Ban tổ chức các bộ phận Nội dung rút kinh nghiệm cần tập trung:

Trang 15

- Chuyên môn (biểu diễn, phục vụ biểu diễn, điều hành, kết quả…)

- Phục vụ: ăn ở, đi lại (diễn viên, đại biểu, khán giả…)

- Tuyên truyền, cổ động, trang trí…

- Thời gian: có phù hợp?

Cá nhân, tập thể làm tốt, chưa tốt… Bài học kinh nghiệm cần phát huy và khắc phục

4.4.9 Thu hồi vật dụng:

Kiểm tra thu hồi lại toàn bộ vật dụng, nghiệm thu công việc, quyết toán kinh phí kết thúc hội diễn Làm thư cảm ơn, thông báo, báo cáo kết quả đạt được

CHƯƠNG 2 : PHƯƠNG PHÁP TUYÊN TRUYỀN TẬP HỢP THANH NIÊN

Khi đã thiết kế được những nội dung mang tính tổ chức thì cũng cần phải có cách để tập hợpï quần chúng tham gia, bởi dù một chương trình có đầu tư như thế nào đi nữa mà không có người tham gia thì cũng không thành công Ơû đây tôi xin nhắc đến những kĩ năng cơ bản trong việc tập họp và giải quyết một vấn đề

A.Kĩ năng tuyên truyền miệng :

I/ Tuyên Truyền Miệng Là Gì ?

1.- Tuyên truyền:

- Là một hoạt động xã hội đặc biệt, nó tác động đến tâm tư tình cảm,

nhận thức con người, từ đó hướng dẫn, thúc đẩy hành động con người theo nội dung, mục đích tuyên truyền

- Là truyền bá, là giáo dục nhằm làm chuyển biến và nâng cao nhận thức, bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm, xây dựng niềm tin, thúc đẩy hành động một cách tự giác, thực hiện thắng lợi những mục tiêu, nhiệm vụ tuyên truyền đề ra

- Là phân tích, giải thích, nói về một chủ trương, đường lối, chính sách hoặc một nhiệm vụ cấp bách của Đảng, Nhà nước, của một ngành, một địa phương, một đoàn thể, một giới trong từng giai đoạn, từng thời kỳ cách mạng nhất định đến quần chúng để cổ vũ và hướng dẫn hành động cách mạng của quần chúng

Tóm lại: theo Bác Hồ tuyên truyền là đem việc gì đó, nói cho dân hiểu, dân nhớ, dân làm

2.- Tuyên truyền miệng:

Là phân tích, giải thích, nói về một chủ trương, đường lối, chính sách hoặc một nhiệm vụ cấp bách của Đảng, Nhà nước, của một ngành, một địa phương, một đoàn thể, một giới trong từng giai đoạn, từng thời kỳ cách mạng nhất định đến quần chúng để cổ vũ và hướng dẫn hành động cách mạng của quần chúng bằng lời nói

(Lưu ý : bài viết này chỉ đề cập đến lời nói trực tiếp, công việc rất cần

Trang 16

của mỗi cấp bộ Đoàn chúng ta hiện nay).

3.- Lợi thế của lời nói trực tiếp:

* Hiểu được đối tượng:

- Đối tượng đó là ai? Thuộc thành phần nào? Trình độ ra sao? Số lượng bao nhiêu? Tuổi? Giới tính?

- Hiểu được tâm trạng, nhu cầu, sở thích,… hiểu cả những phản ứng của họ (phản ứng có ngôn ngữ và phi ngôn ngữ)

Từ những thông tin có được qua nắm bắt ở đối tượng, người làm công tác tuyên truyền miệng chủ động hơn để thực hiện các việc sau đây:

- Điều chỉnh hoặc phát huy các nội dung, phương pháp, thời gian, phong cách nói cho phù hợp với đối tượng

- Phát huy được tính đặc thù của tuyên truyền miệng là đem đến cho đối tượng nhiều loại thông tin; thông tin chính thức, thông tin dự đoán, thông tin gợi mở và cả những thông tin “mật”

Tóm lại: lợi thế của tuyên truyền miệng là giao tiếp trực tiếp với đối tượng, đối thoại cụ thể với đối tượng, là phương tiện phổ biến và thuận lợi nhất về không gian, thời gian, hoàn cảnh

II/ Khi Tuyên Truyền Miệng Cần Biết Những Điều Gì ?

2.- Chức năng - nhiệm vụ:

- Là phổ biến, là giải thích, là thông tin đường lối, chủ trương, chính

sách, pháp luât của Đảng và Nhà nước

- Là bình luận, là dự báo đường lối, chủ trương, chính sách trong tương lai

- Cổ vũ, động viên, định hướng hành động cách mạng của quần chúng

- Là đấu tranh, phê phán những tư tưởng sai trái, bảo vệ đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luậât của Đảng và Nhà nước

3.- Nội dung của tuyên truyền miệng:

3.1 Các nội dung chung:

- Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.

- Đó là đường lối, chủ trương, nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt

Trang 17

- Là chính sách, pháp luật của Nhà nước

- Là chủ trương, nghị quyết của địa phương, ngành của một đơn vị

- Đặc biệt là các chủ trương, nghị quyết của Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam các cấp

3.2 Các nội dung cụ thể:

Từ các nội dung chung khi vận dụng vào một đề tài cụ thể để tuyên truyền người nói cần xác định rõ mục đích yêu cầu, thời gian, đối tượng cụ thể mà có những nội dung cho thật phù hợp

Thí dụ:

- Vì sao Đảng ta xác định nhiệm vụ cấp bách của công tác xây dựng Đảng hiện nay là phải chỉnh đốn Đảng (Nghị quyết Trung ương 5 và Nghị quyết Trung ương 6 lần II) ?

- Thực hiện Quyết định 188/1999/TTG của Thủ tướng Chính phủ tuần làm việc 40 giờ đã đem lại niềm vui gì cho người lao động ? Có phù hợp gì với xu thế lao động của cả thế giới

- Vì sao gọi công nghiệp hóa, hiện đại hóa là cơ hội ngàn vàng để thanh niên ta rèn luyện cống hiến và nhanh chóng trưởng thành ?

4.- Hình thức của tuyên truyền miệng:

Có rất nhiều hình thức tuyên truyền miệng cụ thể khác nhau tùy thuộc vào từng loại hoàn cảnh lúc đó Tạm nêu một số hình thức sau đây :

- Báo cáo : gồm có các hình thức truyền đạt chỉ thị, nghị quyết của

Đảng, của đoàn thể quần chúng, giải thích chế độ chính sách của Nhà nước

- Kể chuyện, thông tin thời sự, kể chuyện truyền thống, kể chuyện

gương sáng quanh tôi, thông báo…

- Nói chuyện: gồm có các hình thức: nói chuyện truyền thống, nói

chuyện về đề tài tình yêu, hôn nhân, gia đình, phòng chống AIDS, chống tội phạm, các tệ nạn xã hội khác, nói chuyện thời sự trong và ngoài nước, thuyết trình, hùng biện

- Trao đổi nhau, phát biểu ý kiến: có các hình thức : hội thảo, mạn đàm,

tư vấn, xênima, phát biểu trong hội nghị, lễ hội, mitting

- Một số hình thức khác :

Trao đổi, nói chuyện trực tiếp về một đề tài hay nhiều đề tài cùng một lúc giữa 2 người, nhóm người, tập thể nhỏ

Kịch ngắn, sớ táo quân hoạt cảnh có chuẩn bị kỹ (loại hình này thường thay cho các bài báo cáo, nói chuyện hiện nay) nhằm thu hút đối tượng nhất là thanh niên nghe về một nội dung nhất định nào đó

+ Tranh luận,…

5.- Đối tượng của tuyên truyền miệng:

Trang 18

Đối tượng cần tuyên truyền của mỗi cấp bộ Đoàn, cán bộ Đoàn và đoàn viên chúng ta trước mắt và tập trung vẫn là cán bộ Đoàn, đoàn viên, thanh thiếu niên Tuy nhiên điều đó vẫn chưa đủ Thực tế thời gian qua ở cơ sở còn không ít các cấp ủy Đảng, chính quyền, đoàn thể quần chúng chưa hiểu hết được các chủ trương, công việc mà Đoàn ta đã làm dẫn đến lãnh đạo, chỉ đạo thiếu sâu sát, thiếu sự ủng hộ nhiệt tình của các cơ quan ban ngành đoàn thể, cho nên đối tượng tuyên truyền cần phải được mở rộng và thường xuyên đến mọi người, mọi nhà, mọi tổ chức xã hội, cả cơ quan ban ngành, các cấp ủy Đảng (nhất là về các chủ trương của Đoàn ta).

6.- Phương pháp tuyên truyền miệng :

Trong tuyên truyền miệng xác định cho được từng loại phương pháp, nhóm phương pháp cụ thể để phù hợp với từng loại đối tượng là điều hết sức quan trọng, nó gần như quyết định mọi thành bại của từng lần tuyên truyền cụ thể Ở đây xin tạm nêu một số phương pháp sau:

6.1 Phương pháp diễn giải (thuyết phục bằng lí lẽ): là phương pháp

làm cho người nghe hiểu sâu thêm các nội dung cơ bản mà các nội dung này có khi thường ngày qua báo đài họ đã được nghe họ chỉ tạm chấp nhận còn đàng sau nội dung ấy tính khoa học, tính thời sự nó ở đâu người tuyên truyền phải cung cấp cho họ, căn cứ vào các câu hỏi vì sao ? Thế nào ?

6.2 Phương pháp phát vấn: là phương pháp thường sử dụng qua các

dạng câu hỏi kín, mở… dành cho người nghe tự trả lời các nội dung của người nói có chủ định trước Phương pháp này vừa tạo được không khí thoải mái, vừa tạo được sự chủ động đối với người nghe Người tuyên truyền phương pháp này cần có ghi nhận đầy đủ các ý kiến của người phát biểu để sau đó có nhiệm vụ vừa nhận xét chung đánh giá đúng sai vừa sử dụng lời kết để nói lên điều mà mình muốn tuyên truyền đến đối tượng (lưu ý khi sử dụng phương pháp này thường dành cho đối tượng trẻ, linh động, dạn dĩ, sáng tạo )

6.3 Phương pháp truyền cảm (nêu guơng các điển hình): phương pháp

này thường sử dụng trong các hình thức kể chuyện truyền thống, gương sáng quanh tôi, người tốt việc tốt thường người kể là nhân vật chính hoặc rất thân với nhân vật chính Chủ yếu của phương pháp này là sử dụng tình cảm thông qua các nhân vật nêu lên để thuyết phục tình cảm người nghe từ đó đi dần đến lý trí (thấy - nghe - tin)

6.4 Phương pháp thuyết phục (ám thị: thông qua tranh ảnh): là

phương pháp gần với phương pháp truyền cảm nhưng đầy sức thuyết phục bằng hình ảnh cụ thể, bằng số liệu được cung cấp đầy đủ cho người nghe từ đó “buộc” người nghe tin hoàn toàn vào những nội dung mình đã nói Tuy nhiên khi sử dụng phải tùy điều kiện hoàn cảnh và đối tượng cụ thể, thông thường người ta thường sử dụng tổng hợp các phương pháp kể trên nhằm đạt được nhiệm vụ của người làm công tác tuyên truyền là giáo dục nhận thức truyền thụ tình cảm đạo đức, thúc đẩy hành động cách mạng nơi người nghe

7 Phương châm tuyên truyền miệng:

Trang 19

- Mỗi cán bộ Đoàn và đoàn viên phải là một tuyên truyền viên.

- Luôn chủ động tích cực, kịp thời, nhạy bén trong công tác tuyên truyền

- Phải cụ thể, thiết thực thường xuyên liên tục

- Xây đi liền với chống

8 Nguyên tắc của tuyên truyền miệng:

- Đảm bảo tính tư tưởng của lời nói : tức lời nói phải thể hiện rõ tính lập

trường, giai cấp rõ ràng

TD: Hiện nay các vấn đề về quan điểm có tính nguyên tắc đã được Đảng ta kết luận thì không còn bàn cãi nữa :

 Độc lập dân tộc phải gắn liền với chủ nghĩa xã hội là mục tiêu lý tưởng của Đảng ta, dân tộc ta

 Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng duy nhất lãnh đạo cách mạng Việt Nam, không chấp nhận đa nguyên đa đảng

- Tính khoa học của lời nói: tức lời nói phải thể hiện rõ tính chân thật,

chính xác Muốn thế phải có nguồn tư liệu đầy đủ, cần phân biệt rõ tư liệu chính thống và tư liệu để tham khảo

- Tính giáo dục của lời nói: tuyên truyền cũng chính là buổi người tuyên

truyền chọn lọc các nội dung cần thiết để giáo dục đối tượng, qua đó cổ vũ hành động cách mạng cụ thể cho họ

Ba đặc điểm trên luôn quan hệ chặt chẽ và tác động qua lại lẫn nhau

8.2 Đối với phương pháp tuyên truyền miệng:

- Đảm bảo được tính mục đích của lời nói : tức nói điều gì ? Nói ai nghe ?

Nói lúc nào ? và cuối cùng nói để người nghe làm gì ?

- Đảm bảo tính lôgic của lời nói : phải trình bày vấn đề có thứ tự, có lớp

lang, có giới thiệu, có phân tích, có kêu gọi để người nghe dễ theo dõi, nắm bắt

- Đảm bảo tính phù hợp của lời nói : thể hiện ở liều lượng nội dung,

thông tin, ngôn ngữ sử dụng, thời gian dài ngắn phải xuất phát từ chính đối tượng người nghe mình nói

- Đảm bảo tính kịp thời, nhanh nhạy : thể hiện tính thời sự của đề tài

người nói, các thông tin phải nhanh nhạy, kịp thời

8.3 Đối với người tuyên truyền miệng:

+ Về phẩm chất:

- Phải có lập trường giai cấp rõ ràng (thể hiện qua trình độ chính trị bản thân và cả trong lúc tuyên truyền miệng)

- Phải có đầy đủ tư cách, phẩm chất của người cán bộ cách mạng, người tuyên truyền viên của Đảng, của Đoàn

- Phải có lòng yêu nghề, yêu công việc mình đang làm

Trang 20

+ Về năng lực :

- Phải có trình độ lý luận chính trị nhất định

- Có sự hiểu biết thật vững về công việc nhất là các các nội dung, các đề tài mình đang tuyên truyền

- Năng lực sư phạm : thể hiện ở người nói, lời nói, bài nói, tác phong, ăn mặc

- Cần biết thêm nhiều kiến thức khác như tâm lý, ngôn ngữ, phong tục, tập quán đất nước, con người, xã hội, tự nhiên

III/ Các Loại Hình Tuyên Truyền Miệng Thường Gặp Ơû Cơ SơÛ:

1.- Các loại hình:

Hoạt động Đoàn, Hội ở cơ sở ta thường gặp các loại hình sau: lời phát biểu có trong các buổi họp góp ý, kết luận một vấn đề nào đó, hội nghị, hội thảo, tọa đàm, thông tin thời sự, kể chuyện, thuyết trình, hùng biện và cao nhất là trình giảng

- Lời phát biểu: là nói lên, nêu lên ý kiến, quan niệm, tinh cảm của mình

về một vấn đề nào đó, vì lời phát biểu rất đa dạng cho nên cần xác định thêm phát biểu ở đâu, lúc nào nói điều gì ? Cần nắm thêm một số khái niệm kèm theo sau đây:

- Hội nghị: là cuộc họp có tổ chức, có nhiều người dự để bàn về công

việc nào đó

- Tọa đàm: là họp mặt trao đổi ý kiến cùng nhau về một vấn đề nào đó

(phạm vi hẹp hơn hội thảo)

- Mạn đàm: là họp mặt trao đổi ý kiến về một vấn đề nào đó dưới hình

thức nói chuyện thân mật

- Thông tin thời sự: là truyền tin, là báo cho nhau để biết những sự việc ít

nhiều quan trọng về một lĩnh vực nào đó thường là xã hội - chính trị xảy ra trong thời gian gần nhất và đang được nhiều người quan tâm (những vấn đề nóng bỏng)

- Kể chuyện: là diễn tả lại từ đầu đến cuối cho người khác biết những

điều mắt thấy tai nghe về một câu chuyện, một sự việc nào đó, qua sự việc này ta lồng vào các nội dung giáo dục đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước cho đối tượng

- Thuyết trình: là nói ra một cách rõ ràng một vấn đề trước nhiều người

(rõ ràng từ nội dung, bố cục, phương pháp để thuyết phục nguời nghe tin tưởng hoàn toàn vào những điều mình nói)

- Hùng biện: dùng lập luận chặt chẽ, để trình bày, bảo vệ thuyết phục

người nghe về quan điểm của mình đối với một vấn đề nhất định; quan điểm về một vấn đề mới, quan điểm mới, cách nhìn mới về một vấn đề đã cũ

- Trình giảng: là diễn giải rõ ràng, tường tận, đầy đủ về một đề tài nào đó

cho số đông người nghe (vì nói cho thật rõ tường tận, đầy đủ cho nên cần có

Trang 21

khoảng thời gian nhất định), các phương tiện minh họa, các tài liệu chứng minh, người nghe phải ghi chép lại mới hiểu hết được.

2 Chuẩn bị cho một bài tuyên truyền miệng:

2.1 Cần nắm trước một số thông tin sau :

- Đối tượng: Họ là ai? Bao nhiêu ? Trình độ ? Nhu cầu? Giới tính?

- Thời gian cho phép? Nhiều, ít, lúc nào?

- Địa điểm thế nào? Cho người nói, người ngồi nghe ?

- Các phương tiện phục vụ khác? Âm thanh, ánh sáng, bàn ghế… ?

- Các yếu tố có thể ảnh hưởng lúc nói? Ồn ào của xe cộ, nhiều đối tượng

khác nhau…

2.2 Soạn bài nói :

- Đề ra mục đích yêu cầu cho bài nói.

- Hình thành nội dung đề tài bài nói.

- Lựa chọn phương pháp phù hợp.

- Thu thập các thông tin có liên quan, hình ảnh, tư liệu minh họa cho bài nói.

- Bố cục dàn ý: soạn bài nói theo ý mình

- Ghi lại tất cả các điều suy nghĩ có liên quan đến vấn đề mình định nói, sau đó sắp xếp lại theo trình tự nhất định

- Tìm các dữ liệu để minh họa, chứng minh cho lời nói mình là hợp lý, là có cơ sở

- Căn cứ thời gian cho phép của bài nói để hình thành dàn ý cụ thể nếu thời gian ít thì có thể gạch đầu dòng các ý cơ bản, nếu thời gian nhiều thì ghi ra chi tiết, lựa chọn số liệu từ thông tin đến ví dụ cho thật đắt giá Có xác định rõ nội dung nào chính, nội dung nào phụ

- Bố cục dàn ý cho khoa học, trật tự để người nghe dễ theo dõi, dễ hiểu (TD: Khái niệm, giá trị, phân loại, nội dung, )

2.3 Xác định loại hình cụ thể để đề ra phương pháp và hình thức tuyên truyền cho phù hợp :

Để người nghe có điều kiện tiếp thu các thông tin của người nói có hiệu quả cao nhất, người nói cần hình thành phương pháp và hình thức nói sao cho phù hợp với từng loại hình nhất định

* Thí dụ đề cương một bài tuyên truyền miệng (phần khung):

- Phần mở đầu:

+ Chức năng phần mở đầu: giới thiệu đề tài, nội dung mình muốn nói (làm sao kích thích được người nghe)

+ Yêu cầu của phần mở đầu: ngắn gọn, tự nhiên, xúc tích, rõ ràng

+ Cách thức của phần mở đầu; giới thiệu trực tiếp hoặc gián tiếp

- Phần nội dung:

+ Chức năng phần nội dung: phân tích, giải thích, chứng minh,… các nội

Trang 22

dung chính thỏa mãn mục đích đề tài đã đề ra.

+Yêu cầu phần nội dung: bố cục chặt, có dẫn chứng cụ thể, có đánh giá và đi từ đơn giản đến phức tạp

+ Cách thức phần nội dung: đi từ trực tiếp đến gián tiếp, đi từ ý riêng đến

ý chung, đi từ từng phần đến tổng thể hoặc ngược lại

- Phần kết luận:

+ Chức năng phần kết luận: tổng kết nội dung đã nói (nêu các ý lớn), đặt

ra vấn đề mới (ý gợi mở), kêu gọi hành động,

+ Yêu cầu phần kết luận: ngắn gọn, ấn tượng, khái quát

+ Cách thức phần kết luận: có lời nói cuối, lời chào

2 4 Tâm thế cần chuẩn bị khi tuyên truyền miệng:

- Trước:

+ Nắm lại các nội dung, bố cục, sắp xếp trình tự các tư liệu, tài liệu, hình ảnh,…

+ Kiểm tra lại trang phục, tác phong,…

+ Tâm thế: nét mặt, dáng đi,…

+ Xem lại các nội dung cần phải học thuộc (câu nói dẫn chứng, lời giới thiệu, lời kết luận)

- Trong:

+ Công tác quản lí:

- Quản lí bản thân: ngôn phong, tác phong, nội dung lời nói

- Quản lí đối tượng: các hành vi tích cực, tiêu cực,

+ Tự điều chỉnh: bản thân và đối tượng

- Sau:

+ Tự đánh giá bản thân

+ Tiếp thu các điều góp ý

+ Tự rút kinh nghiệm, bổ sung nội dung mới chuẩn bị cho lần sau

3 Một số cách làm cụ thể khi gặp các loại hình trên :

Tùy theo tính chất của từng buổi tuyên truyền miệng cụ thể, tạm thời chia thành 5 nhóm nhỏ sau đây :

3.1 Nhóm phát biểu :

- Phát biểu trong các lễ hội kỷ niệm, mitting, đêm hội văn hóa thường dưới các dạng như diễn văn khai mạc, ý kiến chỉ đạo, ở diễn đàn này thường lời phát biểu cần hết sức nghiêm túc, chuẩn bị phải công phu vì đối tượng dự rất đa dạng từ thành phần đến trình độ cho nên lời phát biểu phải là bài viết sẵn thể hiện tôn trọng mọi người, vừa ít tốn thời gian của Ban tổ chức, vừa tránh sai nội dung

Bài viết dạng này thường chuẩn bị gồm 3 phần:

+ Phần thủ tục: bắt đầu bằng kính thưa :

Trang 23

TD: Các bà mẹ Việt Nam anh hùng, các bậc lão thành cách mạng.

Các đồng chí lãnh đạo

Đoàn chủ tịch (nếu có)

Người nghe

Các ý chuyển tiếp nội dung cần phát biểu

+ Phần nội dung chính:

 Gắn sự kiện mình sẽ nói với thời điểm chung của cả nước, địa phương (ngày lễ, hội, kỷ niệm, các thông tin cần truyền đạt về tình hình trong và ngoài nước )

 Nêu lên ý nghĩa của sự kiện cần phát biểu

 Lồng vào sự kiện đó là các chủ trương của Đảng, Nhà nước, địa phương, đoàn thể có liên quan đến sự kiện vừa nêu

+ Phần kết:

 Nhấn mạnh các nội dung trọng tâm vừa nêu bằng tình cảm của người phát biểu của một tổ chức, một đơn vị lần nữa

 Nếu cần có thể hô khẩu hiệu kêu gọi sự đồng lòng của khán giả

 Chào, cám ơn, chúc sức khỏe

- Phát biểu trong các buổi hội nghị, hội thảo:

Ở đây lời phát biểu có nhiều dạng, phát biểu tham gia của người dự, phát biểu của người chủ trì, phát biểu khai mạc, phát biểu kết luận buổi họp

vì tính chất của buổi họp mặt dù chủ trì hay tham gia vẫn phải chuẩn bị kỹ, bài phát biểu của mình nên theo hướng sau đây :

Người dự : bài nói cũng nên chuẩn bị thành 3 phần :

+ Phần thủ tục :

Kính thưa :

Đại biểu có chức cao

Cá nhân hoặc nhóm chủ trì

Người nghe

Lời chuyển ý

+ Phần nội dung chính:

 Xin được trình bày một hoặc nhiều nội dung của cuộc họp đề ra

 Nói rõ quan điểm, tình cảm của mình về vấn đề đó theo thứ tự đã chuẩn bị sẵn (có thể nói hoặc đọc)

+ Phần kết:

Mong được trao đổi thêm về vấn đề đã trình bày

Chào, cảm ơn

Người chủ trì: có 2 dạng: khai mạc hoặc kết luận cuộc họp: lời phát biểu

cũng nên chuẩn bị thành 3 phần:

Trang 24

Phát biểu khai mạc:

+ Phần thủ tục: kính thưa

+ Nội dung khai mạc:

 Nêu lý do ra đời hội nghị, hội thảo

 Nêu các vấn đề cần làm sáng tỏ (nội dung này có thể sẽ được bổ sung bằng bài phát biểu đề dẫn, tham luận )

 Các nội dung trọng tâm cần trao đổi, hội thảo (có thể là câu hỏi gợi ý)

 Công bố : chủ trì, thư ký, phương pháp làm việc, thời gian dự kiến

+ Phần kết :

Mong, chúc hội nghị thành công

Cám ơn đại biểu đến dự

Tuyên bố khai mạc

Phát biểu kết luận:

+ Phần thủ tục: kính thưa

+ Phần nội dung:

 Thông báo thời gian đã kết thúc (có thể xin được nhận ý kiến thêm bằng giấy)

 Điểm qua một số việc cuộc họp đã làm được :  Số lời phát biểu (tổng số…)

 Số ý kiến cụ thể về mỗi nội dung (nội dung 1, 2, 3, 4…)

 Kết luận một số vấn đề với tư cách là người chủ trì:

 Các nội dung cần thống nhất (có thể từ ý kiến lãnh đạo, có thể rút

ra từ sự đồng tình của số đông đại biểu)

 Các nội dung cần hiểu lại cho đúng (nếu có đại biểu nói không chuẩn, hiểu sai sự việc, có thời gian thì giải thích thêm thuyết phục người nghe)

 Các nội dung cần tiếp thu để xin ý kiến cấp trên hoặc báo cáo lại

 Các nội dung có thể phát sinh ngoài khả năng cần tiếp tục nghiên cứu

+ Phần kết:

 Thay mặt chủ trì, Ban tổ chức cuộc họp cảm ơn các ý kiến, đại biểu đến dự

 Đánh giá và kết luận chất lượng cuộc họp

 Tuyên bố kết thúc

Phát biểu trong các buổi tọa đàm, mạn đàm:

So với phát biểu trên diễn đàn của các buổi lễ hội, mitting, hội nghị, hội

Trang 25

thảo thì phát biểu ở các buổi tọa đàm, mạn đàm qui mô nhỏ hơn, lời phát biểu có tính thân mật, gần gũi hơn, thành phần dự ít đa dạng và số lượng hơn, nếu hội nghị, hội thảo cần có bài viết công phu, rõ ràng thì mạn đàn, tọa đàm có thể soạn một số nội dung cơ bản để nói điều mình đang suy nghĩ Tuy nhiên để người nghe dễ theo dõi cũng nên có chuẩn bị trước các nội dung sau:

+ Phần thủ tục: kính thưa

+ Phần nội dung:

 Giới thiệu sự việc đã nghe, thấy và xin được phát biểu

 Nói lên quan điểm, tình cảm cá nhân về vấn đề đang nói

“tâm” với sự việc mình trình bày Bài nói có thể chia làm 3 phần :

+ Phần giới thiệu: giới thiệu vấn đề mình cần trình bày (có nhiều kiểu

giới thiệu ở đầu bài viết có trình bày) để tạo chú ý người nghe có thể soạn thành bài sau đó học thuộc)

+ Phần trình bày:

 Có thể bắt đầu từ nội dung nhỏ lan dần đến nội dung tổng thể và ngược lại

 Có kèm các tư liệu, tài liệu minh họa cụ thể, rõ ràng

 Nói lên giá trị, ý nghĩa sự việc gắn với đối tượng nghe

 Tình cảm bản thân qua sự việc đã nêu

+ Phần kết:

Kêu gọi mọi người tin tưởng và hành động theo những điều đã nói

Hùng biện:

Là “buộc” người nghe tin hoàn toàn vào những nội dung mình đã nói trên

cơ sở các điều chứng minh đã đưa ra So với thuyết trình thì hùng biện lại nghiêng hẳn về “lý” hơn Bài hùng biện cũng nên chia ra thành 3 phần

+ Phần giới thiệu: giới thiệu sự kiện, vấn đề mình sẽ trình bày.

+ Phần trình bày:

 Nêu ra từng sự kiện, từng nội dung nhỏ

 Chứng minh bằng mọi cách (lời nói, số liệu, hình ảnh ) sự kiện mình nói là đúng hoàn toàn (thuận đề, phản đề ), làm sao người nghe không

Trang 26

phản bác được.

 Nói lên giá trị, ý nghĩa sự việc đã nêu gắn với người nghe

 Khẳng định lại điều mình nói là đúng

+ Phần kết:

Kêu gọi mọi người hãy tin tưởng vào điều mình nói là đúng và nên làm theo

* Đối với loại hình thuyết trình và hùng biện người nói cần lưu ý :

Luôn chuẩn bị tâm thế để trả lời chất vấn của người nghe (tức các nội dung ở nhiều lĩnh vực có liên quan, số liệu, hình ảnh để minh họa thêm khi trả lời)

Nên chọn đề tài nội dung quen thuộc gần gũi để nắm rõ, hiểu rõ để có lời giải thích chính xác

Nên trả lời nhiều câu hỏi cùng một lúc để vừa có thời gian chuẩn bị trả lời, vừa tôn trọng người hỏi

 Thật khôn khéo khi từ chối trả lời người hỏi nhất là các nội dung trả lời rồi hoặc câu hỏi ngoài đề tài đang trao đổi

Nên có lực lượng cố vấn cho đề tài mình nói phòng khi có những điều không khả năng xử lý được

Cần nói bài viết, nói ý hơn là đọc bài biết đối với thuyết trình và hùng biện

3.3 Nhóm kể chuyện:

Là loại hình vừa dễ lại vừa khó Dễ bởi vì nó là sự việc có khi chính ta chứng kiến, mắt thấy tai nghe, nội dung câu chuyện kể được “thấm” vào người kể, được đọng lại thành dấu ấn về cả 2 phương diện tình cảm và lý trí, nó thật sự gần gũi, rất đời thường, kể chuyện thường xuất từ chính cái “tâm” của mình nên dễ tạo được cảm xúc cho ta lẫn người nghe nhưng khó vì phải làm sao sắp xếp dàn ý cho thật lôgíc để người nghe dễ theo dõi, nắm bắt sự việc, tránh kể tràn lan, dàn trãi không rõ chủ đề, dễ quên ý nhất là các ý hay, các từ phải thật chuẩn xác, các nội dung cần diễn cảm, đặc biệt kể chuyệh là phải thuộc lòng các ý, các câu nên có xen ví dụ, có số liệu, để tạo niềm tin nơi người nghe

Để câu chuyện có đầu có cuối ta nên bố trí thành 3 phần:

- Phần giới thiệu: giới thiệu sự việc ta đã nghe, đã biết, đã thấy

- Phần trình bày: có nhiều kiểu :

Có thể đi theo trình tự thời gian diễn biến sự việc (từ đầu chứng kiến đến khi kết thúc)

Có thể đi từ nội dung đơn giản đến cao trào gay go nhất

Chú ý các nội dung chính phải bố trí thời gian đủ, hợp lý

- Phần kết:

Trang 27

Cảm xúc cá nhân qua chuyện kể.

 Kêu gọi mọi người hành động theo chủ đề tư tưởng của chuyện kể (tức giáo dục người nghe điều gì ở câu chuyện)

Lưu ý:

- Nếu kể về người thật việc thật thì phải biết rõ lý lịch, hoàn cảnh nhân vật, xuất xứ câu chuyện, nguồn gốc diễn biến sự việc thời điểm xảy ra và thời điểm kể chuyện sự việc vẫn còn nguyên giá trí

- Chuyện kể nên ngắn gọn đủ nghĩa, thời gian vừa phải tránh lan man không rõ chủ đề

- Biết kết thúc câu chuyện đúng lúc để tạo luyến tiếc nơi người nghe

3.4 Nhóm thông báo (thông tin thời sự):

Đối với loại hình này quan trọng nhất không phải là hình thức, phương pháp mà là các nội dung thông tin có thỏa mãn được nhu cầu thời sự của người nghe hay không Cho nên về nội dung thông tin cần lưu ý các điều sau đây:

- Thông tin phải thật sự mới đối với người nghe

- Khi thông tin phải biết rõ nguồn gốc của từng loại thông tin đó (nguồn chính thống) TD : như báo phải là báo nào, tên gì, ở đâu, lúc nào, nếu là lời phát biểu thì của ai, ở đâu, lúc nào tất cả phải được kiểm chứng rõ ràng

- Người thông tin cần có chính kiến của mình về loại thông tin đó (tức sau khi thông tin có lợi gì, hại gì ? Lợi nhiều hay hại nhiều)

- Biết lựa chọn thông tin vừa sức đối tượng (đối tượng cỡ nào sẽ được nghe loại thông tin gì )

- Kết luận của người thông tin qua thông tin đã tiếp nhận được

- Phương pháp thông tin phải nhanh, gọn, chính xác và xúc tích

3.5 Nhóm giảng giải (trình giảng): gồm các loại hình như báo cáo

chuyên đề, thời sự, triển khai nghị quyết, báo cáo bài giảng Đây là loại hình khó nhất đòi hỏi người giảng phải đầu tư nhiều công sức, thời gian nghiên cứu, tập luyện phương pháp Nên bố trí bài giảng thành 3 phần sau:

dành thời gian nhiều cho các phần sau

- Mở đầu gián tiếp: tức người nói có thể lý giải một phần trọng tâm của

nội dung muốn nói, sau đó mới kết lại bằng giới thiệu đề tài, vấn đề cần trình bày

- Mở đầu bằng phản biện: tức người nói đưa ra các nội dung có liên

quan đến vấn đề, đề tài định trình bày trên cơ sở phủ định Sau đó mời mọi người chú ý nghe mình trình bày xem có thật như điều mình nói hay không ?

- Mở đầu bằng đặt câu hỏi : tức người nói nêu lên hàng loạt câu hỏi có

liên quan đến vấn đề, đề tài mình muốn trình bày để tạo cho người nghe tự trả lời tức tạo sự chủ động ở người nghe lôi cuốn họ vào điều mình sắp nói… và

Trang 28

nhiều cách khác nữa.

Phần 2: nội dung chính (giải thích, diễn giải):

Trình bày các nội dung được đặt ra từ phần I có nhiều kiểu trình bày tùy người nói chuyện

 Có thể kết luận vấn đề trọng tâm trước sau đó sử dụng các tiểu tiết nhỏ chứng minh cho điều mình nói vấn đề trọng tâm là đúng và phương pháp ngược lại

 Có thể chứng minh vấn đề mình nói là đúng theo trình tự thời gian từ xa đến gần, và ngược lại

 Có thể chứng minh vấn đề mình nói là đúng theo trình tự các giá trị của lý luận và minh họa bằng thực tiễn

 Có thể chứng minh vấn đề mình nói là đúng theo số liệu thông tin, đường lối chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, các câu phát biểu lời nói của các vị lãnh đạo các hình ảnh minh họa

 Có thể chứng minh bằng nhiều phương pháp khác nữa như phủ định của phủ định thông qua lời nói của người thật việc thật

Phần 3: Kết luận, tóm lại,

Có nhiều kiểu kết luận, nhưng trước hết phải xem lời kết đó đồng nghĩa với một lời kêu gọi để hành động cách mạng của nội dung bài nói và của cả người nói Phần kết còn lệ thuộc vào phần 1 và phần 2 xem người nói đã sử dụng phương pháp nào TD: nếu lời giới thiệu là trực tiếp thì ta có thể lấy nội dung chính của đề tài làm phần kết kèm thêm lời kêu gọi của người nói Nếu phần đầu là đặt câu hỏi thì phần kết nên nhắc lại và khẳng định lại nội dung câu hỏi kèm lời kêu gọi của người nói có thể sử dụng thêm các câu nói, ca dao, lời thơ hay thay cho lời kết cũng được

* Tập luyện cho bài nói:

- Dự kiến tâm thế xuất hiện lúc đầu: điều này lệ thuộc vào nhiều yếu tố như tâm trạng người nghe, không khí có sẵn, ngoại cảnh, số lượng người dự, thành phần Có thể bắt đầu bằng nhiều kiểu như hát tập thể, trò chơi, một câu chuyện kể có liên quan đến nội dung bài nói, một vài câu hỏi, một số thông tin mới, hoặc nhờ một ai đó giới thiệu

- Soạn lời giới thiệu bài thật ngắn gọn, súc tích, đủ nghĩa và học thuộc lòng để tạo sự chú ý của mọi người, tạo tự tin cho chính mình (càng nhiều càng tốt)

- Sắp xếp ý tưởng, nội dung cần trình bày xen kẻ các số liệu, tư liệu, cho có thứ tự (thông tin thật, thông tin tham khảo, thông tin vui ) các nội dung cần học thuộc để nói càng tốt

- Tập nói: nếu chưa quen thì nên tự tập nói với chính mình, có kết hợp với thời gian để tự điều chỉnh dần cho phù hợp Có điều kiện hơn nữa có thể mời người có kinh nghiệm nghe để được góp ý rút kinh nghiệm

4.- Đôi điều lưu ý:

Trang 29

Để trở thành một tuyên truyền miệng giỏi cần lưu ý thêm các điều sau đây:

- Khi tuyên truyền một vấn đề, một đề tài nào đó điều trước tiên phải nghĩ ngay đến mục đích ý nghĩa của điều mình nói đó là gì, các nội dung cơ bản phải nắm thật chắc, các số liệu phải chính xác, các thông tin phải chọn lọc kỹ cho phù hợp với từng loại đối tượng cụ thể

- Phải tập nói từ những đề tài dễ, ít nội dung đi dần đến các đề tài phức tạp; từ ít thời gian đến nhiều ; đối tượng từ thuần nhất đến đa dạng

- Các tư liệu, nội dung bài nói phải không ngừng được bổ sung, phải cập nhật hàng ngày để bài nói càng thêm phong phú đa dạng, sinh động

- Ngôn ngữ phải chọn lọc cho phù hợp với từng đối tượng, không quá cầu kỳ nhưng cũng không quá xuề xòa khẩu ngữ

- Bài nói, lời nói phải xuất phát từ chính “tâm” của mình, lời nói và hành động của người nói phải đi đôi với nhau

- Luôn khiêm tốn, sẵn sàng tiếp thu ý kiến đóng góp của mọi người để tiến bộ, biết tự rút kinh nghiệm từ bản thân mình qua mỗi lần tuyên truyền Tự tin với chính mình là tốt, nhưng quá tự tin sẽ đi dần đến tự mãn, đó là điều chúng ta nên tránh

CHƯƠNG 3 : CÁC TRÒ CHƠI VÀ SINH HOẠT TẬP THỂ

A.Giới Thiệu Trò Chơi Và Phương Pháp Quản Trò:

Trò chơi nói chung là một loại hình giáo dục rất tốt với thanh thiếu niên, nếu chúng ta biết cách tổ chức trò chơi trở nên lành mạnh, có giá trị hữu ích, ngược lại nó sẽ vô bổ có khi phản tác dụng trong khi chơi

Trò chơi có nhiều rất loại đa dạng, có nhiều cách chơi: trò chơi lớn, trò chơi thi đấu, trò chơi nhỏ, trò chơi dân gian…Thông qua trò chơi giúp cho người chơi rèn luyện trí tuệ, sự nhanh nhẹn, tháo vát, khéo léo, ngoài ra tró chơi còn tạo được sự gắn bó với tập thể, giúp cho người chơi thoát khỏi sự khép nép thụ động và nhanh chóng xoá bỏ sự cách biệt ngại ngùng ban đầu

I.Giá Trị Trò ChơI:

Trò chơi có mục đích lành mạnh, tính sư phạm, tính giáo dục thì trò chơi mới đạt được hiệu quả giá trị về tinh thần và thể chất của người chơi

Đạo đức: tạo cho người chơi tính nhẫn nại, đoàn kết, hoà đồng với tập thể, vui tính, vị tha

Trí tuệ: Giúp cho người chơi có tính sáng tạo có óc quan sát nhanh, nhận định được lời nói nhanh, phán đoán và ứng xử khôn khéo, nhớ được lâu, khéo léo.Thể lực: Rèn luyện cho người chơi nhanh nhẹn tai mắt, tay chân, có sức bền cao,tăng cường thêm sinh lực, tính chịu khó, tháo vát

Ngoài những giá trị kể trên, trò chơi còn giúp cho những tật xấu như:nóng tính, cộc cằn, hay ăn gian, sửa được những khuyết điểm mà cá nhân hay tập thể ttrong lúc chơi mắc phải

Trang 30

Trò chơi có giá trị hữu ích khi có luật chơi rõ ràng ,có thi đua, có thưởng, phạt công minh, bất vụ lợi, vô tư.

II Phân Loại Trò Chơi:

Nói đến loại trò chơi và phân loại trò chơi thì rất đa dạng và phong phú , trò chơi trên rừng, biển , sông , núi, ngoài trời, trong phòng v.v…Nên rất khó mà phân loại được hết Nhưng chúng ta có thể căn cứ vào một số điều kiện dưới đây để có thể phân loại trò chơi cho phù hợp với đối tượng chơi Ở một số sách về trò chơi, người ta chỉ đưa ra hai loại; trong phàng và ngoài trới hoặc trò chơi động và tĩnh mà thôi

Ở đây xin giới thiệu một số điều kiện để phân loại trò chơi cho phù hợp:

1 Theo tính chất nội dung: với cách này, ta có thể phân ra làm nhiều loại:

a/ Trò chơi phản xạ: (qui ước về động tác lời nói ).

_ Phản xạ thuận (làm theo khẩu lệnh) Vd: thụt – thò (nói thụt thì thụt tay vào, thò thì thò tay ra)hoặc nhảy ra - nhảy vô

_ Phản xạ nghịch (làm ngược lai với khẩu lệnh ) Vd: trò chơi ra, vô (quản trò hô ra thì nhảy vô, hô vô thì nhảy ra)

_ Phản xạ chéo (nói và làm thế nay thì nói và làm thế khác) Vd; quản trò vừa hô “cái mũi của tôi” vừa bấm lỗ tai, thì người chơi phải hô “lỗ tai của tôi” vừa nắm lỗ mũi của mình

b/ Trò chơi trí tuệ: Là một loại nghiêng về trí tuệ, phải sáng tạo và quan sát

nhanh, phải suy luận, phán đoán, thì mới chơi tốt được Trò chơi này luôn có qui định về mặt thời gian(hỏi-đáp) Vd: Truy tìm người yêu, hái hoa dân chủ (truyền thống, chuyên môn)

c/ Trò chơi vận động:

_ Vận động nhẹ : ngồi tại chỗ, có thể kết hợp hát với sing hoạt vòng tròn, đòi hỏi sự khéo léo và nhạy bén Vd: chuyền dép hoặc nón (bắt bài hát tập thể rồi bắt đầu chuyền, dứt bài hát mà dép hoặc nón tới ai thì người đó bị)

_ Vận động mạnh: dùng nhiều sức lực nhanh nhẹn, tháo vát, chơi được cả tập thể Vd; du kích qua sông ( nhiều đội thi đua, đưa người qua sông bằng cách là ngồi trên cây gậy để đưa qua sông , khoảng cách định trước)

d/ Trò chơi cảm giác: loại trò chơi phải sử dụng nhiều đển thị, thính, vị, xúc,

khứu giác, nó còn đòi hỏi phải kết hợp đến sự khéo léo, phán đoán , quan sát Vd: trò chơi kim (bày trên đất hay trên tấm trải một số vật dụng cho người chơi quan sát nhanh, sau đó đậy lại bắt người chơi phai ghi lại, hoặc nói lai có bao nhiêu vật trong đó ); trò chơi về khứu giác (cho một vài loại gia vị như tỏi, ớt, tiêu v.v…vào một túi nhỏ cho người chơi ngửi và đoán có bao nhiêu loại gia vị)

2 Theo đối tượng tham gia:

Đối tương chơi trò chơi rất quan trọng, nên người quản trò phải chú ý thêm lứa tuổi giới tính để tổ chức hoặc điều khiển cách chơi cho phù hợp

_ Đối tượng nam: cách chơi và luật chơi đơn giản nhủng đòi người chơi nhiệt tình , nên có vận động mạnh, tạo hào hứng liên tục, trò chơi luôn thay nhanh mới lạ, gay cấn, nhiều sôi động , rèn luyện thể lực, tháo vát, nhanh nhẹn, giáo

Trang 31

dục tính thi đua, không ích kỉ, vị tha, trung thực , luôn sẵn sàng Vd: thi kéo co cõng.

_ Đối tượng nữ : cách chơi và luật chơi đơn giản, không vận động quá sức gây mệt, thường nên kèm bài hát, múa rèn luyện tính chịu khó quan sát, giáo dục tính hiền hoà, vui tươi chăm chỉ, nên chọn những trò chơi nhẹ nhàng Vd: thi nói vần các nhân vật anh hùng trong lịch sự Việt Nam

_ Đối tượng nam+nữ:cách chơi và luật chơi hơi khó, vận động mạnh, tạo sự thi đua không ngừng của các nhóm, rèn luyện sự phán đoán nhanh, tính đồng đội nhạy bén, tạo sự thân thiện , hoà đồng tập thể Vd: nhồi bóng tiếp sức nhanh

3 Theo số lượng và thời gian:

Chúng ta nên chú ý thêm về số lượng người chơi và thời gian chơi, khong thể nào mà 10 người chơi trò đó, mà 1000 người cũng chơi trò đó được , xin giới thiệu một số kinh nghiệm như sau:

_ Số lượng người chơi từ 15-50 người nên tạo bầu không khí vui nhộn lúc đầu ,tốt nhất nên sinh hoạt vòng tròn hoặc hát bài hát tập thể , sau đó có thể tổ chức chơi một số trò chơi vận động nhẹ, thời gian không quá 60 phút

_ Số lượng người chơi từ 50-100 người nên tổ chức trò chơi vận động mạnh, có tính thi dua cao, luật chơi nên đơn giản, có thể tổ chức được trò chơi lớn hoặc trò chơi đêm Thời gian chơi có thể từ 60-120 phút số lượng người từ 100-600 người hoặc nhiều hơn nữa, nên lựa trò chơi mà mọi người cùng tham gia được hết, ngoài ra có thể tổ chức trò chơi lớn hoặc trò chơi đêm hoặc phải tổ chức nhiều hoạt động cùng lúc , có thế mới thu hút được mọi người cùng chơi với số lượng này, không khí ban đầu rất quan trọng, cần tạo sự hào hứng ban đầu, thì những phút về sau luôn luôn sẽ sôi động

4 Theo địa điểm:

_ Trò chơi trong phòng: không gian giới hạn do tường, vách và đồ đạc, nên tạo bầu không khí nhẹ nhàng, dùng trò chơi vận động nhẹ , không quá dài , nên thay đổi liên tục trò chơi, tạo sự vui nhộ, rồi hãy vào những sinh hoạt trọng tâm

_ Trò chơi ngoài trời: không gian rộng rãi và thoáng như sân chơi, vườn cây, bãi biển, đất trại thì dùng các loại trò chơi vận động mạnh, có thi đua, nên tạo bầu không khí luôn luôn sôi động

III.Qui Trình Thực Hiện Trò ChơI:

1 Công việc chuẩn bị phải lưu ý:

_ Đối tượng và số lượng: quen hay chưa quen? số lương người tham gia? thái độ và trình độ? giới tính?

_ Địa điểm và thời gian:trong nhà, ngoài trời, chỗ chơi rộng, nắng gió, cây nhiều… Tính toán thời gian chơi cho phù hợp, từ khi bắt đầu chơi cho đến khi kết thúc

_ Lựa chọn nội dung chơi:thực hiện những trò chơi cho vừa sức và trình độ người chơi, cần truyền tải những nội dung gì về chuyên môn, kỹ năng, ngành nghề…

Trang 32

_ Vật dụng chơi: chuẩn bị vật dụng chơi, quà thưởng (nếu có) tại chỗ chơi có thể sử dung được vật dụng gì? Vd: chơi banh - gậy thì chuẩn bị banh và gậy.

2 Thực hiện trò chơi:

_ Ổn định tổ chức: hát tập thể , hô băng reo , chia tổ thi đua

_ Giới thiệu trò chơi, giải thích rõ ràng cách chơi, chơi đúng, sai, nói tên trò chơi, chơi thử một vài lần tạo cho người chơi quen với trò chơi

_ Chơi thật và tổng kết ; chơi thật, góp ý cách chơi để người chơi lần sau chơi cho đúng ,phạt nhẹ nhàng ,vui nhộn , tạo cho người chơi luôn có cảm giác thoải mái

*Chú ý: nếu trò chơi quá quen thuộc hoặc quá dễ nên nhanh chóng chuyển

sang trò chơi khác để tránh sự nhàm chán , trò chơi mà bị sai quá nhiều sẽ mất đi tính hấp dẫn của nó

IV.Những Yêu Cầu Người Quản Trò Cần CoÙ:

1.1 Quản trò là người quan trọng nhất:

Nội dung trò chơi hay người chơi tham gia nhiệt tình nhưng quản trò không biết cách tổ chức trò chơi thì cuộc vui chơi tập thể sẽ kém phần hấp dẫn và khó thành công Vì vậy rèn luyện kỹ năng quản trò là một vấn đề hết sức quan trọng đối với người cán bộ thanh niên ở cơ sở

1.2 Biết cách sử dụng trò chơi đúng đối tượng và hợp với trò chơi:

Khi chuẩn bị cuộc chơi, quản trò phải quan sát trạng thái tâm lý, niềm say mê nhiệt tình của người chơi, từ đó lựa chon những trò chơi cho phù hợp Hãy chọn những trò chơi đơn giản mà mọi người đều có thể dễ dàng thực hiện Khi người chơi đã nhập cuộc thì tiếp tục đưa vào những trò chơi đòi hỏi cao hơn, phức tạp hơn Cũng cần có những trò chơi hay dành cho phần kết thúc để người chơi có cảm giác "thòm thèm" muốn chơi nữa

1.3 Bắt đầu cuộc chơi một cách dí dỏm, hài hước, hấp dẫn:

Điều kiện để cuộc hơi thành công là người chơi muốn chơi, nắm vững luật chơi, tự nguyện, nhiệt tình chủ động tham gia trò chơi

Vì vậy, trước hết cần dùng những lời nói ngắn gọn, hài hước, dí dỏm giới thiệu tên trò chơi, mục đích ý nghĩa của nó Tiếp theo cần nêu rõ cách chơi và

những "luật lệ” cần tuân thủ Sau cùng là nêu trước ý định sẽ thưởng phạt những ai chơi tốt hay phạm luật

Cần cho mọi người chơi thử một lần: "chơi nháp", sau đó tiến hành chơi thật và cử trọng tài bắt lỗi những ai phạm luật

1.4 Biết điều hành trò chơi một cách linh họat, thông minh:

Dự kiến những tình huống bất trắc và xử lý tình huống một cách hợp lý

Quản trò phải di chuyển sao cho có thể quan sát được toàn bộ cuộc chơi, nhanh chóng phát hiện ra những người lanh lợi, họat bát, dí dỏm làm nòng cốt cho cuộc chơi

Nghiêm túc tuân thủ luật chơi đảm bảo thực sự công bằng, bình đẳng, song vẫn vui vẻ, thoải mái và hào hứng

Cuộc chơi bắt đầu từ những trò chơi đơn giản nhất và phức tạp lên dần Biết dùng những trò chơi phụ làm "hình phạt" tạo điều kiện cho mọi người được thư

Trang 33

giãn và biết chấm dứt cuộc chơi đúng thời điểm (tốt nhất là vào lúc cao điểm) hay đã phân định thắng thua rõ ràng Cố gắng duy trì một bầu không khí hoàn toàn thoải mái, thư giãn thật sự, không kể gì thắng hay thua

1.5 Biết cách luyện tập tác phong phù hợp trong khi điều khiển trò chơi:

Dáng điệu, cử chỉ của người quản trò phải gây được thiện cảm, tạo sự chú ý ban đầu, tạo nên sự gần gũi thân quen trong suốt cuộc chơi

Tâm hồn trong sáng cởi mở toàn tâm toàn ý cho cuộc vui chung Biết hành động, biết nói sao cho đúng lúc, đúng đối tượng, biết khích lệ tán dương sự cố gắng của mọi người nhằm bảo đảm hiệu quả giáo dục sâu sắc trong cuộc chơi

Có bản lĩnh vững vàng, ứng xử nhanh nhẹn không cáu gắt, la mắng và sẵn sàng nhường "diễn đàn" cho những quản trò khác mà không mặc cảm

Biết cách sẵn sàng thay đổi trò chơi theo yêu cầu của người chơi, nhanh chóng phát hiện và chỉ định quản trò cho phù hợp với từng trò chơi

1.6 Biết tích lũy kiến thức và kinh nghiệm, thực sự cầu thị:

Qua quan sát những quản trò khác, người chơi trong cuộc rút ra những kinh nghiệm bổ ích cho bản thân về vốn trò chơi, kỹ năng tổ chức chơi và phong cách của người quản trò Đồng thời chú ý lắng nghe ý kiến nhận xét quan sát thái độ của người chơi để điều chỉnh những gì chưa hợp lí

Quản trò cần thuộc và hát đúng một số những bài hát cộng đồng(đơn giản, dễ nhớ, dễ hát), để phục cho trò chơi

Nên cần có cuốn sổ để sưu tầm, sáng tác trò chơi, những bài hát cộng đồng và những băng reo trong sinh họat tập thể

1.7 Mạnh dạn, tự tin, khiêm tốn:

Khi có cơ hội phải mạnh dạn tham gia các cuộc chơi khác nhau, là người chơi tích cực, hăng hái, nhiệt tình trong các cuộc chơi Phải xuất hiện đúng lúc, mạnh dạn thực hiện vai trò của mình một cách tự tin, gây ấn tượng, tránh đứng ngoài cuộc bình phẩm, chê bai người khác

1.8 Những điều nên tránh:

Đưa ra trò chơi không phù hợp với tâm trạng mọi người, người chơi chưa nắm vững luật chơi, chưa có sự chuẩn bị chu đáo

Những trò chơi xúc phạm đến nhân cách của người chơi, những trò chơi thiếu văn hóa, thiếu tính giáo dục

Dùng hình phạt thô bạo hay kéo dài thời gian phạt đối với người phạm luật hay người thua, dễ gây nhàm chán

Dáng vẻ qúa đạo mạo, nghiêm nghị khi điều hành như là trọng tài của cuộc thi đấu thể thao

Thiên vị hoặc quá dễ dãi bỏ qua hình phạt đối với người phạm luật, người thua

Kéo dài những động tác thừa làm cho người chơi cảm thấy mệt mỏi, khó chịu Tự ái nóng nảy bỏ dở cuộc chơi khi bị xúc phạm hay bị người chơi chê trách

2 Làm thế nào để có nhiều trò chơi?

2.1 Sưu tầm trò chơi:

Trang 34

Mỗi cán bộ đoàn, hội nên có bộ sưu tập trò chơi theo thể loại: Trò chơi dân gian, trò chơi sinh họat tập thể và trò chơi thể thao từ các nguồn sau:

Các trò chơi đã được in thành sách

Các trò chơi đã được in trong các báo chí và giới thiệu trên truyền hình

Các tò chơi trong sinh họat cộng đồng mà bản thân được tham dự, được quan sát, sau đó ghi chép lại

Các trò chơi được người khác phổ biến lại

Tổ chức thi sưu tầm và điều khiển trò chơi:

Thông qua các buổi sh có thể tổ chức cuộc thi sưu tầm và điều khiển trò chơi phục vụ cho từng chủ đề nhất định Sau đó chọn lọc biên tập lại, nếu có điều kiện thì tổ chức chơi mà mỗi trò chơi đều được người sưu tầm đứng ra làm quản trò

2.2 Sáng tác trò chơi:

Tổ chức thi sáng tác trò chơi: Bằng phương pháp đã nêu trên có thể tổ chức cuộc thi sáng tác trò chơi trong cán bộ, đoàn viên, hội viên theo các hướng sau:

Sáng tác trò chơi phục vụ cho từng đối tượng: ấu sinh , thiếu sinh , kha sinhSáng tác trò chơi theo chủ đề gắn với các ngày lễ lớn trong năm, gắn với các vấn đề dân số, sức khỏe, môi trường và sinh họat hàng ngày của các bạn trẻ Sáng tác trò chơi phục vụ cho từng loại hình sinh họat như: Cắm trại , xuất du , thám du

Mỗi trò chơi khi sáng tác cần tuân thủ những qui định chặt chẽ: Mục đích, yêu cầu, ý nghĩa của trò chơi, đối tượng, số lượng người chơi, luật chơi và cách tổ chức

Sau mỗi cuộc thi cần biên tập lại, bổ sung, sửa đổi và phổ biến cho mọi người thông qua chơi thử Những trò chơi nào đạt yêu cầu cần đưa ngay vào bộ sưu tập

Từ một trò chơi đã có, thiết lập nguyên tắc đưa ra nhiều trò chơi khác tương tự:

Trên thực tế có những trò chơi hay có thể phát triển thành nhiều trò chơi khác (là hệ qủa của nó) mà người chơi không cảm thấy bị trùng lặp Bí quyết chính là ở chỗ tìm thấy nguyên tắc của nó rồi dựa vào từng hoàn cảnh, từng đối tượng cụ thể để hình thành các trò chơi khác

2.3 Sưu tập các mẩu chuyện vui, các câu đố:

Những mẩu chuyện vui, các loại câu đố dân gian hàng ngày là kho tư liệu qúy cho chúng ta trong điều hành cuộc chơi Người quản trò nhất thiết phải có vốn đó để sử dụng khi cần thiết như làm thư giãn cuộc chơi, hay chuyển sang trò chơi trí tuệ( đố vui) hoặc trò chơi mang tính vui chơi giải trí (thi kể chuyện vui) v.v

Ngoài những phương pháp trên có thể tận dụng mọi điều kiện, mọi lúc để ghi chép những kinh nghiệm, tư liệu của người khác mà mình bất chợt gặp hay những ý nghĩ xuất hiện trong đầu

Nếu quan tâm thường xuyên đến những vấn đề trên bạn sẽ trở thành người

Ngày đăng: 05/09/2013, 12:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w