1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tỷ lệ và nhu cầu điều trị nắn chỉnh răng mặt ở trẻ em 12 tuổi có khớp cắn loại 2 tại bình dương năm 2017

79 95 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 2,62 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kết quả nghiên cứu cho thấy tất cả các mẫu hàm này đều có chung sáuđặc tính khớp cắn * Đặc tính I: Tương quan ở vùng răng hàm - Gờ bên xa của múi ngoài xa của răng hàm lớn vĩnh viễn thứ

Trang 1

Cùng với sự phát triển kinh tế, nhu cầu làm đẹp của người Việt Namngày càng tăng, trong đó chỉnh hình răng mặt là một lĩnh vực được nhiềungười quan tâm chăm sóc Ở Việt Nam tỷ lệ lệch lạc răng hàm ở mọi lứa tuổikhá cao Theo nghiên cứu của Hoàng Thị Bạch Dương năm 2000[2] tỷ lệ lệchlạc răng hàm của học sinh lớp 6 tại một trường ở Hà Nội là 91% Theo ĐồngKhắc Thẩm [3] tỷ lệ sai khớp cắn của người Việt là 83.2% Con số này trênthế giới cũng khá cao: Tại Trung Quốc tỉ lệ sai khớp cắn ở tuổi 12-14 là92.9% Tại Canada có 61% sai khớp cắn ở tuổi 10-15[4].

Một hàm răng lệch lạc ảnh hưởng nhiều đến thẩm mỹ, chức năng làmcho con người thiếu tự tin trong cuộc sống và là điều kiện cho các bệnh nhachu và sâu răng phát triển Ở lứa tuổi 12 hệ thống răng vĩnh viễn đã mọc gầnnhư đầy đủ Tìm hiểu tình trạng lệch lạc răng-hàm góp phần vào công tácphòng ngừa và điều trị bệnh răng miệng để có được khuôn mặt cân đối, hàmrăng khỏe mạnh là cần thiết

Trang 2

Điều trị và phòng ngừa bệnh sâu răng và viêm lợi rất phổ biến ở nước

ta nhưng chỉnh hình răng mặt là một lĩnh vực mới đang cần được quan tâmnhiều hơn trong cộng đồng xã hội Vấn đề xác định lệch lạc răng hàm và nhucầu điều trị chỉnh hình răng mặt cần được nghiên cứu ở nhiều vùng và nhiều

độ tuổi Điều tra về khớp cắn và nhu cầu điều trị CHRM đã được tiến hành ởnhiều nước trên thế giới [5], [6] như: Thụy điển, Nauy, Malaysia, Anh, Hoa

Kỳ, Phần Lan, Hồng Kông, Jordany Ở Việt Nam cũng đã có nhiều tác giảlàm về đề tài này, song nhìn chung đó là những nghiên cứu nhỏ lẻ, cỡ mẫuchưa lớn, chưa thể mang tính khái quát đặc trưng cho người Việt Nam Chính

vì thế việc có một bộ số liệu đầy đủ và chính xác, phù hợp với đặc điểm củatừng dân tộc là một yêu cầu bức thiết được đặt ra

Xuất phát từ những nhu cầu thực tiễn nhóm tiến hành nghiên cứu quy

mô lớn, nằm trong đề tài cấp nhà nước, để có thể đưa ra được một bộ số liệuchính xác, hoàn thiện và mang tính đặc trưng cao cho người Việt Nam Chúng

tôi chọn đề tài: “Tỷ lệ và nhu cầu điều trị nắn chỉnh răng mặt ở trẻ em 12 tuổi có khớp cắn loại 2 tại Bình Dương năm 2017”

Trang 3

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1.1 Khái niệm về khớp cắn

1.1.1 Tương quan các răng giữa hàm trên và hàm dưới

Khi hàm trên và hàm dưới cắn khớp, mỗi răng trên hai hàm sẽ khớp vớihai răng ở hàm đối diện Ngoạitrừ răng cửa giữa hàm dưới và răng hàm lớnthứ ba hàm trên chỉ khớp với một răng ở hàm đối diện

Mối tương quan một răng ăn khớp với hai răng giúp phân tán lực nhailên nhiều răng và duy trì sự cắn khớp giữa hai hàm

Hàm trên

Hàm dưới

Trang 4

Khi hai cung răng ở khớp cắn trung tâm, quan hệ giữa các răng theo ba chiều:

- Trước - sau:

+ Đỉnh núm ngoài gần RHL thứ nhất HT nằm ở rãnh ngoài RHL thứnhất HD

+ Đỉnh răng nanh HT nằm ở đường giữa răng nanh và RHN thứ nhất HD + Rìa cắn răng cửa trên tiếp xúc hay ở phía trước răng cửa dưới 1 - 2mm

Trang 5

1.1.3 Quan niệm khớp cắn bình thường của Andrew

Nghiên cứu của LawrenceF Andrews[11]từ 1960-1964 dựa trên việcquan sát 120 mẫu hàm có khớp cắn bình thường Các mẫu hàm được lựachọntheo tiêu chuẩn:

- Chưa qua điều trị chỉnh nha

- Các răng mọc đều đặn và thẩm mỹ

- Khớp cắn có vẻ đúng

- Có thể không cần đến điều trị chỉnh nha sau này

Kết quả nghiên cứu cho thấy tất cả các mẫu hàm này đều có chung sáuđặc tính khớp cắn

* Đặc tính I: Tương quan ở vùng răng hàm

- Gờ bên xa của múi ngoài xa của răng hàm lớn vĩnh viễn thứ nhất hàmtrên tiếp xúc với gờ bên gần của múi ngoài gần của răng hàm lớn vĩnh viễnthứ hai hàm dưới

Trang 6

- Múi ngoài gần của răng hàm lớn vĩnh viễn thứ nhất hàm trên khớp vớirãnh ngoài gần của răng hàm lớn vĩnh viễn thứ nhất hàm dưới.

- Múi trong gần răng hàm lớn vĩnh viễn thứ nhất hàm trên khớp vớitrũng giữa của răng hàm lớn vĩnh viễn thứ nhất hàm dưới

* Đặc tính II: Độ nghiêng gần xa của thân răng

- Độ nghiêng gần xa của thân răng là góctạo bởi đường thẳngvuông gócvới mặt phẳng nhai và trục thân răng Góc độ (+) khi phần nướu của trục răng

ở về phía xa so với phần bờ cắn hay mặt nhai Ngược lại là góc độ (-)

- Bình thường, các răng có góc độ (+) và độ nghiêng này thayđổi theotừng răng

* Đặc tính III: Độ nghiêng trong ngoài của thân răng

- Độ nghiêng trong ngoài của thân răng là góc tạo bởi đường thẳngvuông góc với mặt phẳng nhai và đường tiếp tuyến với điểm giữa mặt ngoàithân răng Góc độ (+) khi phần phía nướu của đường tiếp tuyến (hay của thânrăng) ở về phía trong so với phần bờ cắn hay mặt nhai Ngược lại là góc độ (-)

Độ nghiêng ngoài trong của thân răng cửa trên và dưới tương quannhau và ảnhhưởngđángkể đến độ cắn phủ và khớp cắn của các răng sau Cácrăng sau hàm trên (từ răng nanh đến răng hàm lớn thứ hai) có phần bờ cắnhay mặt nhai ở về phía trong so với phần nướu của thân răng Ở hàm trên, góc

độ (-) không thay đổi từ răng nanh đến răng cốinhỏ thứ hai và tăngnhẹ ở rănghàm lớn thứ nhất và thứ hai Đối với răng hàm dưới, góc độ (-) tăng dần từrăng nanh đến răng hàm lớn thứ hai

* Đặc tính IV: Không có răng xoay

Không có răng xoay hiện diện trên cung răng Vì nếu có, chúng sẽchiếm chỗ nhiều hoặc ít hơn răng bình thường

* Đặc tính V: Không có khe hở giữa các răng

Các răng phải tiếp xúc chặtchẽ với nhau ở phìa gần và xa ở mỗi răng,trừ các răng hàm lớn thứ ba chỉ tiếp xúc ở phía gần

Trang 7

Khe hở trên cung răng thường do bấthàihòa kích thước răng-hàm.

* Đặc tính VI: Đường cong Spee phẳng hay cong ít

- Khớp cắn bình thường có đường cong Spee không sâu quá 1,5mm.Đường cong Spee sâu quá sẽ gây thiếu chỗ cho răng hàm trên

1.2 Phân loại lệch lạc khớp cắn

1.2.1 Phân loại lệch lạc khớp cắn theo Angle

Vào thập niên 1900, Edward H Angle (1855-1930) đã đưa ra phân loạikhớp cắn [12] Đây là một cách phân loại đầu tiên và rất hữu dụng quan trọngcho đến ngày nay Ông dựa vào răng hàm lớn vĩnh viễn thứ nhất (răng số 6) và

sự sắp xếp của các răng theo đường cắn để phân loại khớp cắn thành 4 loại.+ Phân loại theo Angle: Có 4 nhóm

- Khớp cắn bình thường (trung tính)

Hình 1.3 Khớp cắn trung tính [12]

Quan hệ trung tính giữa răng hàm lớn thứ nhất hàm dưới và hàm trên:Đỉnh núm ngoài gần răng hàm lớn thứ nhất trên khớp với rãnh giữa ngoài củarăng hàm lớn thứ nhất hàm dưới Các răng sắp xếp theo đường cắn

- Sai khớp cắn loại I

Trang 8

Hình 1.4 Sai khớp cắn loại I [12]

Núm ngoài gần răng hàm lớn vĩnh viễn thứ nhất hàm trên khớp với rãnhngoài gần răng hàm lớn vĩnh viễn thứ nhất hàm dưới, nhưng đường cắn khớpkhông đúng do các răng trước mọc sai chỗ, răng xoay hoặc do những nguyênnhân khác

- Sai khớp cắn loại II

Hình 1.5 Sai khớp cắn loại II [12]

Múi ngoài gần răng hàm lớn vĩnh viễn thứ nhất hàm trên tiến về phía gần

so với rãnh ngoài gần răng hàm lớn vĩnh viễn thứ nhất hàm dưới (một bênhoặc 2 bên) Quan hệ với các răng khác là đường cắn không đúng

Loại này có 2 tiểu loại:

Tiểu loại 1: Cung răng hàm trên hẹp, hình chữ V, nhô ra trước với răngcửa trên nghiêng về phía môi (hô), độ cắn chìa tăng, môi dưới thường chạmmặt trong răng cửa trên

Tiểu loại 2: Các răng cửa giữa hàm trên nghiêng vào trong nhiều trongkhi các răng cửa bên hàm trên nghiêng ra phía ngoài khỏi răng cửa giữa, độcắn phủ tăng, cung răng hàm trên ở răng nanh thường rộng hơn bình thường

- Sai khớp cắn loại III

Trang 9

Hình 1.6 Sai khớp cắn loại III [12]

Múi ngoài gần răng hàm lớn thứ nhất hàm trên khớp về phía xa so vớirãnh ngoài gần răng hàm lớn thứ nhất hàm dưới, cắn ngược vùng răng cửa(một bên hoặc hai bên) Quan hệ với các răng khác là đường cắn không đúng

Ưu nhược điểm của cách phân loại này:

Ưu điểm:

- Phân loại của Angle là một bước tiến quan trọng Ông không chỉ phânloại một cách có trậttự các loại khớp cắn sai mà ông còn là người đầu tiênđịnh nghĩa một khớp cắn bình thường và bằng cách này đã phân biệt đượcmột khớp cắn bình thường với sai khớp cắn

Nhược điểm:

- Răng hàm lớn vĩnh viễn thứ nhất mọc sai vị trí, thiếu hay đã nhổ thìkhông phân loại được

- Cách phân loại này chỉ quan tâm quan hệ răng theo chiều trước sau

1.2.2 Phân loại theo BSI

Bên cạnh phân loại lệch lạc khớp cắn kinh điển của Angle, năm 1983,Bristish Standard Institude (Viện tiêu chuẩn Anh) đưa ra phân loại lệch lạckhớp cắn dựa trên quan hệ răng cửa Phân loại răng cửa dựa trên tương quancủa rìa cắn răng cửa HD và mặt lưỡi răng cửa HT, được chia thành các loại:

- Loại I: Rìa cắn răng cửa dưới tiếp xúc hoặc nằm ngay dưới gót răngcửa trên

- Loại II: Rìa cắn răng cửa dưới nằm về phía sau so với gót răng cửatrên Loại này lại có hai tiểu loại:

+ Tiểu loại I: Độ cắn chìa tăng và răng cửa trên thường ngả ra trước.+ Tiểu loại II: Độ cắn chìa thường nhỏ nhưng cũng có thể tăng, răngcửa trên ngả sau (quặp)

Trang 10

- Loại III: Rìa cắn răng cửa dưới nằm về phía trước gót răng cửa trên Độcắn chìa giảm hoặc ngược [13].

Hình 1.7 Phân loại khớp cắn theo tương quan răng cửa của BSI [13]

1.3 Hình dạng và kích thước cung răng

1.3.1.Hình dạng cung răng

Nhìn từ phía mặt nhai các răng được sắp xếp thành một cung (cungrăng) Vì cấu trúc hình cung được xem là sự sắp xếp tạo nên tính ổn định vàvững chắc

Một bộ răng vĩnh viễn đầy đủ gồm 32 chiếc, chia đều cho 2 cung răng:cung răng trên và cung răng dưới Do răng hàm lớn thứ 3 thường có hoặckhông (không có mầm răng), khái niệm về bộ răng gồm 28 chiếc được sửdụng trên lâm sàng

Năm 1920, Williams [14] đã nêu lên sự đồng dạng giữa hình dạng củarăng cửa và hình dạng của cung răng Nếu răng có hình dạng hình vuông sẽkèm theo mặt hình vuông và cung răng cũng có dạng hình vuông Các tác giả

đã phân biệt ba dạng cung răng là hình vuông, hình ô van và hình tam giác.Năm 1971, Brader [15] đưa ra một mẫu cung răng Mẫu này dựa trênmột ê líp 3 tiêu điểm và đã làm thay đổi quan niệm về hình dạng cung răng

Trang 11

Đường cong cung răng rất giống với đường cong của ê líp, các răng sắp xếpchỉ một phần ở cực nhỏ của toàn bộ đường cong Ông cho rằng cấu trúc củacung răng có 4 đặc trưng chủ yếu:

- Hình dạng của cung răng

- Kích thước của cung răng

- Sự đối xứng hai bên

- Sự thay đổi của các cấu trúc xung quanh dẫn đến sự biến đổi hình thểcủa cung răng

Rickett đã tiến hành một loạt nghiên cứu về hình dạng cung răng và đãđưa ra kết luận:

- Hình dạng cung răng hàm trên đồng dạng với hình dạng cung răng hàm dưới

- Cung răng hàm trên ở phía trước hơn so với cung răng hàm dưới

- Có 5 dạng cung răng: Dạng hình thuôn dài, dạng hình thuôn dài hẹp,dạng hình trứng, dạng hình trứng hẹp, dạng hình vuông

Nhưng trên thực tế, hiện nay sự phân loại hình dạng cung răng chủ yếuđược sử dụng trong chẩn đoán và điều trị chỉnh hình răng mặt là phương phápphân loại của Chuck và Williams [14]là: Dạng hình vuông, dạng hình tamgiác (hình thuôn dài), hình ô van (hình trứng)

1.3.2 Kích thước cung răng

Zsigmundy (1980) là người đầu tiên đo kích thước cung răng sữa.Sau đó

có nhiều tác giả đã quan tâm đến vấn đề này như Moorrees [16],[17], Meredith[18], chapman [19], Foster [20], Chang [21], Ngô Thị Quỳnh Lan [22] Theodõi những thay đổi về chiều dài, chiều rộng và chu vi cung răng giúp các nhànghiên cúu đánh giá được sự tăng trưởng và phát triển của cung răng trongquá trình phát triển của hệ thống sọ-mặt-răng

 Chiều rộng cung răng

Trang 12

Thường được xác định bằng khoảng cách hai điểm đối xứng trên cungrăng ở bên phải và bên trái Tùy theo sự lựa chọn từng tác giả, các điểm mốc cóthể là các đỉnh múi [22], các hố hoặc các điểm lồi tối đa mặt ngoài hay mặt trongcủa các răng [20] Mặc dù cách chọn các điểm mốc đo khác nhau nhưng cácnghiên cứu về thay đổi tăng trưởng chiều rộng cung răng trong giai đoạn răngsữa và giai đoạn đầu của bộ răng hỗn hợp đều cho kết quả giống nhau.Chiềurộng cung răng của nam lớn hơn nữ [21],[16] Chiều rộng cung răng của trẻKenya (6-8 tuổi) qua đo răng nanh là 33,9mmvới hàm trên và 26,6 mm với hàmdưới, đo qua răng 6 là 53,1mm với hàm trên và 47 với hàm dưới [22].

 Chiều dài cung răng

Tùy theo điểm mốc được chọn, có nhiều loại chiều dài cung răng Sửdụng phổ biến nhất là chiều dài cung răng đo từ điểm giữa hai răng cửa giữađến đường nối mặt xa hai RHS2, đỉnh múi ngoài gần RHS2 (răng hàm nhỏvĩnh viễn thứ hai), đỉnh hai răng nanh [21],[20] hai múi gần - ngoài răng hàmlớn vĩnh viễn thứ nhất [23]

Các nghiên cứu đều cho thấy chiều dài cung răng HT luôn lớn hơn HD

ở mọi lứa tuổi Mẫu thay đổi theo tuổi của chiều dài cung răng cho thấykhông khác nhau nhiều giữa HT và HD, tuy nhiên mức độ giảm của HD nhiềuhơn HT do sự di gần của các răng trong thời kỳ đầu bộ răng hỗn hợp [21].Trên nhóm trẻ việt nam5,5 tuổi chiều dài cung răng qua RHS2 là 27,7mm-28,4mmvới hàm trên và 25,17mm-25,75 với hàm dưới [21]

 Chu vi cung răng

Theo Moorrees (1959), chu vi cung răng sữa là chiều dài của đườngcong từ mặt xa của RHS2 (răng hàm nhỏ thứ hai với bộ răng vĩnh viễn), quađỉnh múi ngoài và bờ cắn của các răng, đến mặt xa RHS2 bên đối diện

Chu vi cung răng là một thông số rất quan trọng, đặc biệt ở giai đoạn bộrăng hỗn hợp để đánh giá vấn đề khoảng trống cho các răng vĩnh viễn mọc

Trang 13

Moorrees nhận thấy chu vi cung răng tăng rất ít ở hàm trên (1,32 mm ở nam, 0,5

mm ở nữ), và giảm ở hàm dưới (3,39 mm ở nam, 4,48 mm ở nữ) khi nghiên cứutrên nhóm trẻ từ 5 đến 18 tuổi (ở bộ răng vĩnh viễn, chu vi cung răng được đođến mặt xa răng hàm nhỏ thứ hai) Chu vi cung răng ở hàm trên luôn lớn hơn ởhàm dưới mọi lứa tuổi.Chu vi cung răng ở trẻ Mỹ da trắng lúc 6-8 tuổi là 74mm-76.9mm với hàm trên và 66,9mm-69,1mm với hàm dưới [24]

Hình 1.8 Đo chiều rộng và chiều dài cung răng [15]

1.3.3 Một số phương pháp đo kích thước cung răng trên mẫu

Khi xuất hiện hiện tượng chen chúc răng thì sự phân tích khoảng cácrăng ở hàm trên và hàm dưới là cần thiết.Nguyên tắc cơ bản trong việc phântích là xác định chu vi cung răng(khoảng sẵn có trên cung răng)và cho dù kíchthước gần xa của các răng như thế nào chăng nữa thì cũng chỉ có một khoảngcung hàm nhất định dành cho chúng

1.3.4 Đo chiều rộng và chiều dài cung răng

Theo ChangHP [20], Ngô Thị Quỳnh Lan [21] gồm các mốc đo như sau:

- Chiều rộng cung răng trước: là khoảng cách giữa hai đỉnh của hai răngnanh (sữa hoặc vĩnh viễn), gồm rộng trước trên (RTT) và rộng trước dưới(RTD)

- Chiều rộng cung răng sau 1: là khoảng cách hai đỉnh múi ngoài-gần của

Trang 14

hai RHS2 hoặc đỉnh múi ngoài của răng số 5, gồm rộng sau trên 1 (RST1) vàrộng sau dưới 1 (RSD1).

- Chiều rộng cung răng sau 2: là khoảng cách hai đỉnh múi ngoài-gần củahai răng hàm lớn 1, gồm rộng sau trên 2 (RST2) và rộng sau dưới 2 (RSD2)

- Chiều dài cung răng trước: là khoảng cách từ điểm giữa hai răng cửagiữa đến đường nối hai đỉnh răng nanh (sữa hoặc vĩnh viễn), gồm dài trướctrên (DTT) và dài trước dưới (DTD)

- Chiều dài cung răng sau 1: là khoảng cách từ điểm giữa hai răng cửa giữa đến đường nối hai đỉnh múi ngoài gần RHS2 hoặc múi ngoài răng

số 5, gồm dài sau trên 1 (DST1) và dài sau dưới 1 (DSD1)

- Chiều dài cung răng sau 2: là khoảng cách từ điểm giữa hai răng cửagiữa đến đường nối hai đỉnh múi ngoài gần RHL1, gồm dài sau trên 2 (DSD1)

và dài sau dưới 2 (DSD2)

Hình 1.9 Sơ đồ điểm mốc và các kích thước cung răng [21]

Đo chu vi cung răng:

Bằng cách chia đoạn [25],[26],[27]: cách đo này có ưu điểm là dễ thựchiện, ít sai số, hiện nay sử dụng phổ biến:

Chia cung răng thành các đoạn thẳng để có thể đo được như sau

- Đoạn 1: Từ điểm tiếp xúc phía gần RHL1 bên phải đến điểm tiếp xúcphía gần răng 3 bên phải

Trang 15

- Đoạn 2: Từ điểm tiếp xúc phía gần răng 3 bên phải đến điểm tiếp xúcgiữa 2 răng cửa giữa

- Đoạn 3: Từ điểm tiếp xúc 2 răng cửa giữa đến điểm tiếp xúc phía gầnrăng 3 bên trái

- Đoạn 4: Từ điểm tiếp xúc phía gần răng 3 bên trái đến điểm tiếp xúcphía gần RHL1 bên trái

Hình 1.10 Sơ đồ đo chu vi cung răng bằng cách chia đoạn để đo [28]

Với cách đo này, Brust [7] đã đưa ra tiêu chuẩn cho việc điều trị như sau:

- Chênh lệch giữa khoảng cần có và khoảng hiện có từ 3-4 mm thì điềutrị o cần nhổ răng

- Từ 4-6 mm thì điều trị phối hợp nhiều biện pháp không cần nhổ răng

- Chênh lệch trên 6 mm thì điều trị bắt buộc phải nhổ răng

+ Phương pháp đo truyền thống [27]

Để xác định chu vi cung rănglà dùng sợi dây thép uốn cong theo đỉnhmúi ngoài các răng sau và rìa cắn các răng trước, tính từ mặt xa răng hàm sữa

2 bên trái đến mặt xa răng đối diện Đường này tương ứng với đường cắn.

1.4 Nguyên nhân gây lệch lạc răng

Nguyên nhân lệch lạc răng đã được chia thành 3 nhóm sau đây [29],[30], [31], [32]

 Yếu tố môi trường

 Yếu tố di truyền

 Các nguyên nhân khác

1.4.1 Ảnh hưởng của môi trường

Trang 16

 Các ảnh hưởng của chức năng với sự phát triển của cấu trúc xương mặt.

Ảnh hưởng của sự cân bằng trên bộ răng được biểu rõ hơn khi quan sátảnh hưởng của những loại áp lực khác nhau Do sự đáp ứng sinh học, thớigian tác dụng của lực quan trọng hơn cường độ lực

Khi đặt một lực nhai mạnh trên răng, dây chằng nha chu vốn thấm đầydịch sẽ hoạt đồng như một “lò xo” chống shock, giữ răng trong một chốc láttrong khi xương ổ răng uốn cong và răng bị dịch chuyển một đoạn ngắn cùngvới xương Nếu lực nhai mạnh kéo dài hơn vài giây, sẽ cảm thấy đau, và do

đó lực nhai sẽ ngừng lại nhanh chóng Loại lực mạnh, ngắt quãng từng cơn sẽkhông có ảnh hưởng trên vị trí lâu dài của răng

Những ảnh hưởng của sự cân bằng có thể xảy ra: cường độ và thời giancủa lực tác động trên răng [1]

Những ảnh hưởng của sự lực cân

bằng có thể xảy ra Cường độ của lực

Thời gian tác động của lực

Sự tiếp xúc của các răng

Vừa phảiNhẹRất nhẹ

Vừa phảiVừa phải

NhẹThay đổi

Rất ngắnRất ngắn

NgắnRất ngằnKéo dài

Thay đổiThay đổiKéo dàiKéo dài

Trang 17

Nghiên cứu năm 1907 của Angle [33] khẳng định phương pháp chế biếnthực phẩm hiện đại làm cho con người thay đổi chế độ ăn từ ăn cứng sang ănmềm có thể là nguyên nhân lệch lạc khớp cắn Butler’s Field[32] nghiên cứu

về hình thái, đặc điểm mọc răng, số lượng răng của răng người cổ đại thấy: dophải sử dụng răng để nhai nghiền các thực phẩm thô nhiều nên người cổ đạithường mọc đủ răng khôn, kích thước của nhóm răng trước và răng sau lớnhơn và ít gặp tình trạng mọc răng lệch lạc hơn so với răng của người hiện đại

Các thói quen xấu

- Thói quen mút ngón tay

Khi mút ngón tay trong thời gian dài, lực mút của các cơ môi má và lựcđẩy của ngón tay vào các răng cửa làm cho răng cửa hàm trên nghiêng rangoài, răng cửa hàm dưới ngả vào lưỡi dẫn đến cắn hở vùng răng cửa, hẹpcung hàm trên và khẩu cái sâu bất thường, cắn chéo các răng phía sau Đây làhậu quả của áp lực đặt trực tiếp lên răng kết hợp với sự biến đổi tư thế nghỉcủa má môi

- Đẩy lưỡi

Đẩy lưỡi bao gồm đẩy lưỡi tiên phát (do trẻ không thay đổi phản xạ nuốtsau khi đã mọc răng) và đẩy lưỡi thứ phát do các thói quen xấu như thởmiệng, mút ngón tay Đẩy lưỡi có thể đơn giản (không phối hợp với các thóiquen xấu khác), hoặc phức hợp (khi phối hợp với các thói quen xấu khác).Khi đẩy lưỡi, lực mà lưỡi tác động lên các răng khác nhau dẫn đến tình trạng

ít cắn khớp và cắn hở [29]

Theo quan điểm mới hiện nay, hiển tương đẩy lưỡi khi nuốt thường gặptrong hai trường hợp: ở trẻ nhỏ có khớp cắn bình thường, đẩy lưỡi biểu hiệnchỉ như là một giai đoạn chuyển tiếp trong sự trưởng thành sinh lý bìnhthường; và ở cá nhân trong bất kỳ tuổi nào có răng cửa di chuyển, đẩy lưỡi là

sự thích ứng đối với khe hở giữa các răng [1]

- Thói quen mút môi

Trang 18

Có thể là mút môi trên hoặc mút môi dưới Mút môi dưới có thể gâycắn hở như mút ngón tay nhưng mức độ nhẹ hơn Mút môi trên có thể gây racắn ngược vùng răng cửa

Lực của môi, má, và lưỡi nhẹ hơn lực nhai rất nhiều, nhưng lại kéo dàihơn Thử nghiệm cho thấy ngay cả lực rất nhẹ cũng có thể làm răng dichuyển Nếu thời gian tác dụng của lực vừa đủ

- Các thói quen khác

Klein [34] báo cáo thói quen chống tay vào cằm khi ngồi có thể dẫn đếncắn sâu, một số nhạc cụ thổi bằng miệng gây đè nén vào răng hoặc mặt, hàmnếu sử dụng thường xuyên và lâu dài có thể gây lệch lạc khớp cắn

1.4.2 Ảnh hưởng di truyền

Nguyên nhân của sai khớp cắn có thể do những được tính di truyền Thứnhất, thừa hưởng sự không hài hòa giữa kích thước của răng và kích thước củahàm, có thể dẫn đến hiện tượng răng mọc chen chúc hoặc thưa kẽ., Thứ nhì, thừahưởng sự không cân xứng giữa kích thước và hình dạng của xương hàm trên vàxương hàm dưới, có thể đưa đến tương quan cắn khớp không đúng

Sự ảnh hưởng của yếu tố di truyền thể hiện rất rõ trong nhô hàm dưới.Một nghiên cứu ở nhóm trẻ có sai khớp cắn loại ba nặng cho thấy rằng 1/3nhóm trẻ này có cha hoặc mẹ có sai khớp cắn loại ba , và 1/6 nhóm trẻ thì cóanh,chị hoặc em cũng có biểu hiện sai khớp cắn Dị dạng mặt kiểu mặt dàiđứng loại thứ hai về những dị dạng di truyền trong gia đình Nòi chung, anh,chị, em trong gia đình thường cùng có lệch lạc khớp cắn nặng, có thể vì sựthừa hưởng giống nhau về đặc tính và kiểu tăng trường đưa đến cùng cónhững đáp ứng giống nhau đối với yếu tố môi trường [1]

Harris và Kowalski [35] đã nghiên cứu đến cấu trúc của xương sọ và mặtphát hiện sự di truyền đặc tính nhô hàm dưới ở gia đình hoàng tộc Austro

Trang 19

người Hungari với xương hàm dưới quá phát và nhô ra trước Nghiên cứu củaSuzuki [36] ở 1362 người Nhật Bản bị nhô hàm dưới đến từ 243 gia đình thìthấy tỷ lệ con bị nhô hàm dưới ra trước ở những gia đình có bố mẹ bị nhôhàm dưới ra trước là 34.3%, trong khi ở những gia đình có bố mẹ bìnhthường, tỷ lệ con bị nhô hàm dưới là 7.5%.

1.4.3 Nguyên nhân đặc biệt

Sự phát triển răng bất thường

- Thiếu răng bẩm sinh, có thể là thiếu nhiều răng (thiếu nhiều hơn 6 răng,không bao gồm răng hàm lớn thứ ba) hoặc thiếu ít răng (thiếu từ 6 răng trởxuống, không bao gồm răng hàm lớn thứ ba) Nguyên nhân là do bất thườngtrong quá trình tạo mầm răng của thai nhi Ví dụ như trong hội chứng loạn sảnngoại bì

- Răng dị dạng và răng thừa: Bất thường về kích thước và hình dạng răng

là hâu quả của sự rối loạn xảy ra trong thời kỳ biệt hóa về phương diện môhọc hoặc hình thể của sự phát triển răng Thường xảy ra nhất là sự thay đổi vềkích thước, đặc biệt là răng cửa bên và răng cối nhỏ thứ hai Có khoảng 5%dân số có sự bất hài hòa đáng kể về kích thước răng hàm trên và hàm dưới [1]

Ví dụ: chứng răng nhỏ, răng to , thiểu sản men , răng dính, răng sinh đôi,răng thừa đường giữa hàm trên…

- Cản trở mọc răng : Để cho răng vĩnh viễn mọc, lớp xương phía trêncũng như chân răng sữa phải tiêu ngót, và răng sẽ mọc xuyên qua nướu răng.Răng dư, xương hoại tự, và lớp nướu sợi dày có thể cản trở sự mọc răng Tất

cả những cản trở trên đều hiện diện trong hội chứng loạn sản đòn sọ Dokhông chỉ nhổ răng dư mà còn phải loại bỏ lớp xương phía trên, và bộc lộnướu Ở những trường hợp nhẹ, một số răng vĩnh viễn mọc trễ có thể gópphần tạo ra sai khớp cắn chi khi những răng còn lại di chuyển sai vị trí trên

Trang 20

cung răng Do các răng mọc quá chen chúc, do niêm mạc hoặc xương xơ dày,

do nang, khối u hoặc u răng

- Răng mọc sai vị trí, thay đổi vị trí: Thỉnh thoảng, mầm răng vĩnh viễnnếu ở sai vị trí có thể đưa đến răng vĩnh viễn này mọc sai vị trí Trường hợpnày thường xảy ra ở răng cối lớn thứ nhất hàm trên Nếu thường mọc của răngcối lớn thứ nhất hàm trên ở về phía gần ngay từ đầu, thì răng vĩnh viễn nàykhông thể mọc được, và chân răng cối sữa thứ hai bị tổn thương Vị trí phíagần của răng cối vĩnh viễn sẽ dẫn đến răng mọc chen chúc nếu không đượcđiều trị chỉnh hình Nhưng răng khác mọc sai vị trí hiếm xảy ra, những cũng

có thể đưa đến răng đổi chỗ hoặc mọc ở vị trí bất thường.[1]

Mất răng

- Mất răng sữa sớm: Hiển tượng răng di gần khi có khoảng trống thườngxảy ra ở răng cối vĩnh viễn, do hướng mọc răng nghiêng về phía gần Răngcối lớn thứ nhất di gần khi răng cối sữa thứ hai mất sớm có thể dấn đến chenchúc vùng răng cối nhỏ vĩnh viễn Đo đó cần phỉ giữ khoảng khi răng cối sữathứ hai mất sớm Khi răng cối sữa thứ nhất hoặc răng nanh sữa mất sớm, do

sự co rút chỉ đồng của những dây chằng ngang xương ổ ở nướu răng và áp lực

từ môi và má, các răng cửa vĩnh viễn thường có khuynh hướng di xa Nếu mấtrăng nanh và răng cối sữa thứ nhất sớm ở mặt bên phần hàm, thi những răngvĩnh viễn bên đó sẽ đi xa đưa đến sự mất cân xứng của khớp cắn cũng như sẽ

có khuynh hướng răng mọc chen chúc.[1]

Chấn thương vùng mặt, các rối loạn phát triển răng và xương

- Biến dạng xương mặt (thường là kém phát triển) do trong thời kỳ bào thai,tay hoặc chân thai nhi ở tư thế bất thường ép vào vùng mặt đang phát triển

- Chấn thương xương hàm dưới do dùng forceps để lấy thai: Trongnhững trường hợp người mẹ sinh khó, sử dụng kềm forcep ở đau trẻ ở sọ sinh

có thể làm tổn thương một bệnh hoặc cả hai bên khớp thái dương hàm Có

Trang 21

một thời gian, người ta cho rằng đây là nguyên nhân đưa đến sự kém pháttriển của hàm dưới Tuy nhiên, người ta nhận thấy rằng mặc dủ tỷ lệ sử dụngforcep đã giảm đáng kể trong suốt 50 năm qua, tỷ lệ sai khớp cắn loại hai vớihàm dưới kém phát triển vấn không giảm Theo quan niệm hiện nay, sụn lồicầu không phải là yếu tố quyết định cho sự tăng trưởng đúng đắn của xươnghàm dưới, nên không dễ dàng cho rằng sự kém phát triển của xương hàm dưới

là do chấn thương khi sanh Tóm lại chấn thương ở hàm dưới xảy ra khi sanh

có vẻ là nguyên nhân hiếm của lệch lạc mặt Nếu trẻ sơ sinh có hàm dưới lệchlạc thì thường là do bẩm sinh.[1]

- Gãy xương hàm ở trẻ em: trẻ nhỏ té và va chạm có thể làm gãy xươnghàm Ở hàm dưới, thường xảy ra gãy cổ lồi cầu hàm dưới Tuy nhiên, vùng lồicầu hàm dưới có khuynh hướng phục hồi nhanh ở trẻ nhỏ Khoảng 75% trẻ

em bị gãy sớm lồi cầu hàm dưới có hàm dưới phát triển bình thương, vàkhông có sai khớp cắn sau nay Nếu có biến chứng của gãy lồi cầu thì thường

là sự phát triển không cân xứng của hàm dưới, với bên tổn thương phát triểnchậm lại so với bên bình thường

- Rối loạn chức năng cơ và sự co rút do sẹo xơ: Hệ cơ mặt có thể ảnhhưởng đến sự tăng trưởng của xương hàm theo hai cách Thứ nhất, sự thanhlập xương ở điểm bám cơ tùy thuộc vào hoạt động của cơ, thứ nhì, hệ cơ làmột thành phần quan trọng của toàn bộ khuôn mô mềm mà sự tăng trưởng của

nó thương mang theo xương hàm dưới xuống phía dưới và ra trước Mất mộtphần của hệ cơ có thể xảy ra do những nguyên nhân không rõ trong bào thaihoặc là hậu quả của tai biến khi sanh nhưng thường gặp nhất là do tổn thươngdây thần kinh vận động

- Chấn thương răng: Chấn thương ở răng sữa có thể làm dịch chuyểnmầm răng vĩnh viễn bên dưới bằng hai cách Thứ nhất, nếu chấn thương xảy

ra trong khi thân răng vĩnh viễn được thành lập, tạo men răng sẽ bị rối loạn và

có khiếm khuyết ở thân răng vĩnh viễn Thứ hai, nếu chấn thương xảy ra sau

Trang 22

khi thân răng được hoàn tất, thân răng có thể bị dịch chuyển so với chân răng.

Sự thành lập chân răng ngưng lại, chân răng răng sau sau nay sẽ bị ngắn đi.Trường hợp phổ biến là sự thành lập chân răng vẫn tiếp tục, nhưng phần cònlại của chân răng sẽ tạo thành một góc so với thân răng đã bị dịch chuyển.[1]

Dinh dưỡng.

Thức ăn bổ dưỡng rất cần thiết cho trẻ Ngoài các chất dinh dưỡng chínhnhư protid, glucid, lipid, calci cũng là chất khoáng không thể thiếu cho sựphát triển và duy trì cấu trúc của xương Thiếu calci, do sự hấp thu của cơ thểkém hay do dịnh dưỡng kém, có thể làm bệnh nhân có khớp cắn sai do xươnghàm phát triển không đầy đủ Có nhiều thành phần dinh dưỡng tham gia vàtác động ảnh hưởng đến tế bào xương như protein, calci, phosphor, cácvitamin D,K,C và một số vi lượng như đồng, kẽm, mang, magnc

Phụ nữ lúc mang thai thương xuyên uống rượu sẽ dẫn đến tổn thương hệmiễn dịch thai nhi, chậm phát triển trí tuệ, xương tay chân và sọ mặt pháttriển không bình thường Phụ nữ mang thai nghiện rượu nặng sẽ không hấpthu đủ nhu cầu chất dinh dưỡng hàng ngày cho thai nhi, đặc biệt là protein Sựhấp thu các chất vi lượng, khoáng và vitamin bị giảm và hạn chế, dẫn đếnnhiều tai biến trầm trọng khi sinh[1]

Các bệnh tại chỗ

Các bệnh đường hô hấp Các bệnh vùng quanh răng Bệnh sâu răng.Chứng lưỡi to Khối u, nang, các phanh bám bất thường, …

1.5 Chỉ số nhu cầu điều trị chỉnh nha: The Index Of Orthodontic

Treatment Need (IOTN)

Đánh giá nhu cầu điều trị CHRM cần thiết không chỉ với các chuyên giadịch tễ, mà còn cho các lãnh đạo ngành y tế trong việc lập kế hoạch ưu tiêncho các chương trình sức khỏe cộng đồng Vấn đề khó khăn là xác định đối

Trang 23

tượng có nhu cầu điều trị CHRM khi đánh giá nhu cầu điều tri của một nhómcộng đồng.

Tiêu chuẩn chính để điều trị CHRM là thẩm mỹ của bộ răng kém Đây làkết quả trực tiếp của khớp cắn không đúng Thẩm mỹ chính là lý do thôngthường để bệnh nhân tìm kiếm điều trị chỉnh nha và cải thiện khớp cắn là kếtquả điều trị cần thiết [37] Nếu chỉ dựa vào khuôn mặt và thẩm mỹ thì khôngthể xác định nhu cầu điều trị CHRM, rất khó xác định ai cần điều trị và aikhông cần điều trị chính xác trong cộng đồng Nếu vừa khám trên mẫu răng

và trên phim thì xác định tương quan sai khớp cắn chính xác để xác định nhucầu điều trị nhưng rất khó thực hiện trong cỡ mẫu lớn Có nhiều chỉ số đãđược phát triển từ những năm 50, 60 của thế kỷ XX và là công cụ tốt cho cácđiều tra dịch tễ CHRM Vào những năm 1970 chỉ số TPI của Grainer(Grainer’s treatment Priority Index) [6] là đáng chú ý nhất vì nó dùng nhiềutrong điều tra tổng quát nhu cầu CHRM tại Mỹ Tuy nhiên chỉ số này chỉ dựavào lâm sàng cổ điển không được sự chấp nhận rộng rãi Không có chỉ số nàotối ưu cho mọi điều tra Đa số các chỉ số dùng cho bộ răng vĩnh viễn, nhưngcho phép để điều chỉnh phù hợp khi dùng cho bộ răng hỗn hợp

Năm 1989 Shaw và cộng sự đã sáng lập và phát triển một hệ thống ghinhận tình trạng sai khớp cắn còn gọi tắt là chỉ số IOTN dung để xác định nhucầu điều trị CHRM và chất lượng kết quả điều trị CHRM [38] Sau đó chỉ sốđược hiệu chỉnh, bổ sung năm 1990 bởi Richmond [39] cùng với sự tham giacủa chuyên gia nắn chỉnh về các mức độ điều trị chỉnh nha để đánh giá mức

độ cần thiết chăm sóc CHRM trong dịch vụ nha khoa công cộng, điều tra vềsai khớp cắn và cũng dùng để xác định về nhu cầu điều trị và chất lượng điềutrị CHRM Đây là một công cụ có lợi dụng trong các nghiên cứu nha khoacông cộng và dịch tễ khớp cắn Chỉ số nhu cầu điều trị được chấp nhận và sửdụng rộng rãi bởi chuyên gia nắn chỉnh răng trên thế giới

Trang 24

Hiện nay IOTN của Shaw và Brook được dùng nhiều trong các điều tranhu cầu điều trị CHRM Các nghiên cứu được thực hiện để khẳng định tiềmnăng của IOTN trong nha khoa cộng đồng và khuyến cáo dùng giảng dạy chosinh viên nha khoa Các nhà thực hành nha khoa tổng quát nên biết và sửdụng IOTN cho nhiều mục đích khác nhau.

IOTN gồm hai phần:

- Phần sức khỏe răng (DHC: The dental health component)

- Phần thẩm mỹ răng (AC: The Aesthetic component )

Để đánh giá sự hợp lý và tin cậy của IOTN theo một nghiên cứu tại Anhcủa Br Dent.J [40] nghiên cứu điều tra giá trị của IOTN như một công cụtrong kế hoạch chỉnh nha phòng ngừa Kết quả là trên 80% các nha sỹ sửdụng IOTN như một phương tiện điều tra trong kế hoạch chỉnh nha phòngngừa

Một số nghiên cứu so sánh IOTN với một chỉ số khác cũng đã được thựchiện [41],[42] Mỗi chỉ số có ưu điểm riêng, tuy nhiên IOTN có độ tin cậy caokhi dùng để xác định nhu cầu điều trị CHRM vì IOTN có thể dùng khám trựctiếp hoặc trên mẫu thạch cao

Gần đây, Shaw và nhiều tác giả khác đã thực hiện nghiên cứu dọc để xácđịnh độ tin cậy của IOTN theo thời gian [38], với điều kiện khi tham gia cácmẫu nghiên cứu không được CHRM hoặc nhổ răng Kết quả nghiên cứu chothấy IOTN tin cậy được theo thời gian từ 11-19 tuổi, có nghĩa sức khỏe răngtheo IOTN lúc 11 tuổi dường như không thay đổi đến 19 tuổi mặc dù có sựthay đổi theo theo gian của một số đặc điểm riêng biệt nào đó Mức đo lường

về thẩm mỹ răng theo IOTN có khuynh hướng cải thiện theo thời gian

Chỉ số IOTN đánh giá hai mặt sức khỏe răng và thẩm mỹ răng đưa rathông tin giá trị làm cơ sở để giải thích cho bệnh nhân về vấn đề sức khỏerăng miệng của họ Hai phần này bổ sung cho nhau, sức khỏe răng cần cho

Trang 25

chức năng nhai và được xem là quan trọng thì thẩm mỹ răng góp phần làmđẹp khuôn mặt tạo sự tự tin cho bản thân khi giao tiếp giúp thành công trongnghề nghiệp hay trong cuộc sống.

Điều tra nhu cầu CHRM của lứa tuổi 18 giúp đánh giá lệch lạc răngmiệng và đánh giá nhu cầu điều trị chỉnh nha ở lứa tuổi này

1.5.1 Phần sức khỏe răng

Nhằm đánh giá về chức năng của răng dựa vào phân loại khớp cắn củaAngle, độ cắn chìa, cắn phủ, cắn ngược, cắn hở, thay đổi vị trí tiếp xúc và các đặcđiểm khác như là răng thừa, răng mọc kẹt, răng bị cản trở mọc, còn răng sữa…Đánh giá sức khỏe răng của chỉ số nhu cầu điều trị có 5 mức độ Từ 1 làkhông cần điều trị đến 5 là cần phải điều trị ngay Phần này có thể dùng trongkhám lâm sàng hay trên mẫu nghiên cứu của bệnh nhân

Dựa trên các đặc tính khớp cắn để phân loại từng bệnh nhân cụ thể vàxếp vào mức điều trị nào Bệnh nhân trong nhóm 5 là các bệnh nhân khe hởmôi hàm ếch, mất nhiều răng, khớp cắn bị phá hủy nhiều hay răng cửa bị sangchấn nhiều… Phần sức khỏe răng được dùng như một thước đo đơn giản cóthể dễ dàng quan sát các đặc điểm của sai khớp cắn

Sự phân chia cụ thể các mức độ điều trị dựa vào các yếu tố sau:

Mức độ 1: Không có nhu cầu điều trị nắn chỉnh.

Lệch lạc khớp cắn rất ít, chen chúc chưa đến 1mm

Mức độ 2: ít có nhu cầu điều trị nắn chỉnh.

a Độ cắn chìa 3,5-6mm, và hai môi chạm được nhau ở tư thế nghỉ

b Có khớp cắn chéo vùng răng trước dưới 1mm

c Sự khác biệt của cắn chéo răng trước hoặc sau dưới 1mm giữa vị trítiếp xúc lùi sau và lồng múi tối đa

d Có răng dịch chuyển sai vị trí từ trên 1 đến 2mm

e Cắn hở phía trước hoặc phía sau từ trên 1 đến 2mm

Trang 26

f Khớp cắn sâu lớn hơn hoặc bằng 3,5mm và răng cửa dưới khôngchạm lợi hàm trên.

Mức độ 3: có nhu cầu điều trị nắn chỉnh trung bình.

a Độ cắn chìa từ trên 3,5-6mm, hai môi không chạm nhau

b Cắn khớp chéo răng trước từ trên 1 đến 3,5mm

c Khớp cắn chéo phía trước hoặc sau từ trên 1 đến 2mm giữa vị trí tiếpxúc lui sau và vị trí lồng múi tối đa

d Các răng chen chúc từ trên 2 đến 4mm

e Cắn hở phía trước hoặc phía sau từ trên 2 đến 4mm

f Khớp cắn sâu hoàn toàn, răng cửa hàm dưới chạm vào lợi hàm trênhoặc vòm miệng nhưng không gây tổn thương

Mức độ 4: nhu cầu điều trị nắn chỉnh lớn.

a Thiếu ít răng cần phải điều trị phục hình tiền chỉnh nha hoặc chỉnhnha để tạo khoảng trống (1 răng /1 cung răng)

b Độ cắn chìa tăng lớn hơn 6mm nhưng nhỏ hơn hoặc bằng 9mm

c Cắn khớp chéo phía trước hơn 3,5mm nhưng không ảnh hưởng tớichức năng ăn nhai và phát âm

d Cắn khớp chéo phía trước lớn hơn 1mm và nhỏ hơn 3,5mm gây khókhăn trong việc ăn nhai và phát âm

e Khớp cắn chéo phía trước hoặc phía sau lớn hơn 2mm giữa vị trítiếp xúc lui sau và vị trí lồng múi tối đa

f Khớp cắn kéo không có sự tiếp xúc cắn khớp chức năng ở một hoặc

cả hai múi ngoài

g Các răng chen chúc nhiều, lớn hơn 4 mm

h Khớp cắn hở ở phía trước hoặc phía bên lớn hơn 4mm

i Khớp cắn sâu hoàn toàn, tổn thương lợi và vòm miệng

j Răng mọc một phần, bị cản trở mọc bởi răng bên cạnh… Có răng thừa

Trang 27

Mức độ 5: có nhu cầu điều trị nắn chỉnh nhiều nhất.

a Cản trở mọc răng (trừ răng hàm lớn thứ ba) do răng chen chúc, có

răng thừa, còn răng sữa, và các nguyên nhân bệnh lý khác

b Thiếu nhiều răng, có chỉ định làm phục hình (hơn 1 răng/1 cung

răng) cần có phục hình tiền chỉnh nha

c Độ cắn chìa tăng lớn hơn 9mm.

d Cắn khớp chéo phía trước lớn hơn 3,5mm gây khó khăn trong việc

ăn nhai và nói

e Khe hở môi-vòm miệng và các bất thường về sọ mặt khác.

f Có răng sữa ngầm.

Trên mỗi cá nhân có thể ghi nhận rất nhiều đặc điểm về sức khỏe răngtương ứng với các mức độ của IOTN, nhưng xếp loại sẽ do đặc điểm có mứccao nhất của cá nhân đó

Ví dụ: Sinh viên có răng mọc kẹt tương ứng với mức 4 theo IOTN, cácđặc điểm khác đều ở mức 1 thì sinh viên đó được xếp vào mức 4/cần điều trị

1.5.2 Phần thẩm mỹ răng

Dựa theo 10 hình tiêu chuẩn của Evans và Shaw [40] năm 1987 Đánhgiá sự xắp xếp răng thẩm mỹ hay không Hình 1 là sự xắp xếp răng thẩm mỹnhất và hình 10 là sự xắp xếp răng kém thẩm mỹ nhất

Trang 28

Hình 1.11 10 bức ảnh đánh giá thẩm mỹ răng[34],[58]

Hình 1-2: (Không cần điều trị) Răng xắp xếp đều đặn, có sự ăn khớp củahàm trên và hàm dưới, có thể có sai sót nhỏ như đường giữa răng cửa trên vàdưới không nằm trên một đường thẳng

Hình 3-4: (Điều trị ít) Cung răng không đều lắm, có một vài yếu tố nhỏcần điều trị như là: Khe thưa không rộng, có một răng khớp cắn chưa đúnghoặc lệch ngoài cung

Hình 5-7: (Cần phải điều trị) Sự xắp xếp các răng thiếu thẩm mỹ: Khớpcắn sâu, khe hở giữa răng cửa hoặc giữa răng cửa giữa và răng cửa bên, thiếuchỗ một răng, có cắn hở ở phía bên, răng mọc khấp khểnh…

Hình 8-10: (Rất cần điều trị) Răng xắp xếp sai lệch nhiều, khớp cắn sâu,khớp cắn hở, thiếu chỗ nhiều răng… tạo nên bộ răng kém thẩm mỹ nhất rất

cần phải chỉnh nha.

1.6 Một số nghiên cứu về khơp cắn và nhu cầu điều trị chỉnh hình răng mặt theo chỉ số IOTN

Trang 29

1.6.1 Các nghiên cứu về khớp cắn

Sự thay đổi của khớp cắn từ giai đoạn bộ răng sữa đến khi RHL1 mọc vàđến giai đoạn khớp cắn cuối cùng được mô tả vào năm 1973 khi Arya vàSavara nghiên cứu trên 118 trẻ Bắc Âu từ 4,5 đến 14 tuổi Nghiên cứu chỉ rarằng khớp cắn ban đầu của các răng vĩnh viễn mọc lên có tương quan vớiquan hệ mặt phẳng tận cùng của các răng hàm sữa:quan hệ gần hoặc xa củacác răng hàm vĩnh viễn mọc lên sẽ được duy trì ở bộ răng vĩnh viễn, trong khi70% trường hợp răng hàm vĩnh viễn mọc lên đầu đối đầu sẽ chuyển thànhkhớp cắn loại I và 30% thành khớp cắn loại II.Tác giả cũng đưa ra phươngpháp dự đoán tương quan RHL1ở khớp cắn loại đối đầu đúng với tỷ lệ 81% ở

bộ răng vĩnh viễn và 87% ở bộ răng hỗn hợp [43]

Nghiên cứu của Hoàng Thị Bạch Dương (2000) trên 100 trẻ 12 tuổi đãđưa ra tỷ lệ trẻ có khớp cắn sai loại I là 39%, khớp cắn sai loại II là 43%,khớp cắn sai loại III là 9%, khớp cắn bình thường là 9% [2]

Nghiên cứu của Eve Tausche trên trẻ 6-8 tuổi tại Đức, chỉ ra tỷ lệ trẻ

có khớp cắn sâu là 46,2%; khớp cắn hở là 17,7%, cắn chéo là 8,2%; cắnngược 3,2% [44]

Nghiên cứu của Trịnh Hồng Hương (2007) trên 130 trẻ cho thấy trong

số trẻ 75 có răng 6 thì tỷ lệ loại I là 42,7%, tỷ lệ loại đối đầu 41,3%, tỷ lệloại II là 13,3%,loại III là 2,7% [45]

Khi thực hiện nghiên cứu phân bố quan hệ khớp cắn trên 1681 trẻLithuania từ 7 đến 15 tuổi, sidlauskas và Lopatiene (2009) đã đưa ra các tỷ lệphân bố với nhiều tham số khác nhau như sai khớp cắn,độ cắn chùm và cắnchìa [46]

Nghiên cứu của Marcos Alan (2010) trên 4776 trẻ 6-10 tuổi cho thấy tỷ lệ trẻ

có khớp cắn bình thường là 14,83%; 57,24% sai khớp cắn loại I; 21,73% sai khớpcắn loại II,6,2% sai khớp cắn loại III; cắn chéo gặp ở 19,58% trường hợp trong đó

Trang 30

10,41% xảy ra vùng răng trước, 9,17% xảy ra vùng răng sau Số trẻ có khớp cắnsâu và khớp cắn hở chiếm tỷ lệ 18,09%, 15,85% [47]

Góis (2011)thực hiện nghiên cứu dọc hiện tượng cắn chùm cắn chìa trên

212 trẻ trong giai đoạn 8 đến 11 tuổi và đã đi đến kết luận trẻ bị sai khớp cắn

ở giai đoạn răng sữa có xu hướng bị sai khớp cắn ở giai đoạn răng hỗn hợpnhiều hơn so với nhóm đối chứng (94,1% so với 67,7%) [48]

1.6.2 Một số nghiên cứu về chỉ số nhu cầu điều trị IOTN

* Nghiên cứu của Ahmn M Hamdan thuộc khoa chỉnh nha trường đạihọc nha khoa Jordanian năm 1998 [49]

“Nghiên cứu nhu cầu điều trị chỉnh nha của học sinh Jordanian sử dụng phần sức khỏe răng của chỉ số nhu cầu điều trị chỉnh nha IOTN”

Khám 320 học sinh tuổi từ 14- 17 được chọn ngẫu nhiên từ 4 vùng chínhcủa Ammant theo sự phân chia của bộ giáo dục và đào tạo Jordan có kết quảnhư sau: 28% phải điều trị chỉnh nha và 22% nên điều trị

Trang 31

Phần sức khỏe răng: 38.8% Cần phải điều trị

*Nghiên cứu của Birkeland K Boe OE và Wisth PJ[51] khoa chỉnh nha

và đại học Bergen Norway Anh với nghiên cứu:

“CHRM liên quan trẻ em 11 tuổi và cha mẹ với nhu cầu điều trị chỉnhnha sử dụng chỉ số nhu cầu IOTN”

Nhóm nghiên cứu gồm 359 trẻ em trong đó 51% nam và 49% nữ tuổitrung bình là 10.6

Kết quả: 53.2% phải điều trị và nên điều trị

Kết quả: 12% mức 1(Không cần điều trị CHRM)

Trang 32

Nghiên cứu này khẳng định nhu cầu điều trị CHRM của trẻ em Trung Quốctương tự trẻ em Capca.Thái độ và yêu cầu điều trị CHRM là tương tự nhau.

*Nghiên cứu của Abdullah MS, Rock WP năm 2001 [53] “Đánh giá nhu cầuđiều trị CHRM của 5112 trẻ em Malaysian dùng chỉ số IOTN và chỉ số DAI”Nghiên cứu đánh giá tần xuất sai khớp cắn trong một cỡ mẫu lớn trẻ em lứatuổi 12 và so sánh đánh giá nhu cầu điều trị CHRM theo hai chỉ số 5112 trẻ emđược lựa chọn ngẫu nhiên theo kỹ thuật phân tầng từ các dân tộc của Malaysian.Đối tượng nghiên cứu đã được dùng hai thành phần của IOTN và DAI

Kết quả: Tỉ lệ trẻ em phải điều trị sức khỏe răng ở mức 4-5 là 47.9%

Và 22% Phải điều trị thẩm mỹ răng ở mức 8-10Chỉ số DAI là 24.1% Cần điều trị

Kết hợp cả hai chi số có 30% trẻ em phải điều trị CHRM

*Nghiên cứu của Nguyễn Thị Ngân Hà, Hoàng Tử Hùng[54] năm 2004tại Đà Nẵng ước lượng nhu cầu điều trị chỉnh hình răng mặt tại Đà Nẵng”Mẫu nghiên cứu gồm 425 trẻ lứa tuổi 12 được chọn ngẫu nhiên theo cụm

từ học sinh lớp 6 năm học 2002-2003 tại Đà Nẵng Trong đó có 208 nam và

217 nữ được khám và đánh giá theo chỉ số IOTN

Kết quả:

Nhu cầu điều trị về sức khỏe răng: Mức 1(Không cần điều trị): 22.6%

Mức 2 (Nhẹ /Ít cần điều trị): 28.2%

Mức 3 (Cần điều trị trung bình): 17.2% Mức 4-5 (Nặng /Cần điều trị): 32%

Nhu cầu điều trị về thẩm mỹ răng: Mức 1-2 (Không cần điều trị): 43.5%

Mức 3-4 (Ít cần điều trị): 33.7%

Mức 5-7 (Cần điều trị trung bình): 17.9% Mức 8-10 (Cần điều trị): 4.9%

Trang 34

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Trẻ 12 tuổi nằm trong nhóm đối tượng nghiên cứu thuộc đề tài cấp Nhànước lấy tại Bình Dương

2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn

o Học sinh 12 tuổi

o Cha mẹ ông bà nội ngoại là người Việt Nam, dân tộc kinh

o RHL vĩnh viễn thứ nhất không bị sâu răng phá hủy mặt nhai quá lớn,không bị sâu ở những vị trí là các điểm mốc đo: đỉnh múi ngoài gần

o Tự nguyện tham gia nghiên cứu với sự đồng ý của phụ huynh học sinh

o Khớp cắn loại II theo phân loại của Angle

2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ

2.2 Địa điểm và thời gian

Địa điểm nghiên cứu: Mẫu được lấy tại Tỉnh Bình Dương, sau đó đượcthực hiện tại nhà A7 Viện đào tạo Răng Hàm Mặt – Đại học Y Hà Nội.

Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 10/2017 đến tháng 10/2018.

2.3.Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Thiết kế nghiên cứu

Sử dụng phương pháp nghiên cứu là: Nghiên cứu mô tả cắt ngang

Trang 35

2.3.2 Cỡ mẫu nghiên cứu

Chúng tôi áp dụng công thức tính cỡ mẫu ước tính 1 chỉ số trung bình cho nghiên cứu điều tra cắt ngang như sau:

Trong đó:

n: Cỡ mẫu nghiên cứu tối thiểu

(1) Sai sót loại I (α): Chọn α = 0,05, tương ứng có ít hơn 5% cơ hội rút ): Chọn α): Chọn α = 0,05, tương ứng có ít hơn 5% cơ hội rút = 0,05, tương ứng có ít hơn 5% cơ hội rút

ra một kết luận dương tính giả

(2) Sai sót loại II (β) hoặc lực mẫu (power là 1- β): Chọn β = 0,1 (hoặc ) hoặc lực mẫu (power là 1- β) hoặc lực mẫu (power là 1- β): Chọn β = 0,1 (hoặc ): Chọn β) hoặc lực mẫu (power là 1- β): Chọn β = 0,1 (hoặc = 0,1 (hoặc lực mẫu=0,9), tương ứng có 90% cơ hội tránh được một kết luận âm tính giả

n = (1,96 + 1,28)*(1,96 + 1,28) * 5,4*5.4/ (0,8 * 0,8) = 478 (mẫu hàm).Mỗi đối tượng nghiên cứu đều được nghiên cứu cả cung hàm trên và cunghàm dưới

Như vậy để dự phòng sai số trong quá trình lấy số liệu, chúng tôi dự định

sẽ tiến hành nghiên cứu trên khoảng 500 người

Vì đề tài của chúng tôi chỉ là một nhánh nhỏ trong đề tài nghiên cứu lớn cấp nhà nước, nên toàn bộ đối tượng nghiên cứu của chúng tôi cũng nằm trong pham vi đối tượng nghiên cứu của đề tài cấp nhà nước

Trang 36

2.3.3 Phương pháp chọn mẫu

2.3.4 Các biến số và chỉ số nghiên cứu

2.3.4.1 Thông tin của đối tượng nghiên cứu và mục tiêu 1

nghĩa/Phân loại

Phương pháp thu thập

Phân loại mất, thiếu

răng vĩnh viễn Biến nhị phân

Phân loại răng mọc

1 Có

2 Không

Khám lâm sàng,trên mẫu

Phân loại tương quan

răng 6 theo Angle Biến nhị phân Angle II, Khác

Khám lâm sàng,

Đo trên mẫu

Hình dạng cung răng Biến thứ hạng

1 Hình oval

2 Hình tròn

3 Hình vuông

Đo trên mẫu

Chiều rộng phía trước

cung răng (rtt,rtd) Biến định lượng mm Đo trên mẫuChiều dài phía trước

cung răng (dtt,dtd) Biến định lượng mm Đo trên mẫuChiều dài phía sau

cung răng 1

(dst1,dsd1)

Chiều dài phía sau

cung răng 2

(dst2,dsd2)

Chu vi cung răng

Trang 37

2.3.4.2 Mục tiêu 2

Tên biến Loại biến Chỉ số/Định

nghĩa/Phân loại

Phương pháp thu thập

8-Đo trên mẫu

2.3.5 Phương tiện nghiên cứu

- Dụng cụ khám: khay, gương, gắp, thám trâm, găng tay, khẩu trang

- Dụng cụ, vật liệu lấy dấu, đổ mẫu: thìa lấy dấu, chất lấy dấu, thạchcao đá, thạch cao thường, bát trộn, bay trộn, sáp ghi dấu cắn, đèn cồn

- Dụng cụ đo: Thước cặp điện tử Mitutoyo CD-6”CSX, thước thẳng,compa bút chì, bút đánh dấu

Trang 38

Hình 2.1 Thước cặp điện tử Mitutoyo CD-6”CSX [56]

Hình 2.2 Bộ dụng cụ lấy dấu, đỗ mẫu, đo đạc 2.3.6 Các bước tiến hành nghiên cứu

- Bước 1: Lập danh sách đối tượng nghiên cứu

- Bước 2: Khám lâm sàng

- Bước 3: Tiến hành lấy mẫu hàm

- Bước 4: Đo đạc các chỉ số trên mẫu hàm

- Bước 5: Nhập và xử lý số liệu

- Bước 6: Viết luận văn

Trang 39

T8 T9-T10 T3-T8 T9-T12 Lập danh sách

đối tượng nghiên cứu

Khám lâm sàng Lấy dấu Phân tích và đo đạc trên mẫu.

Xử lý kết quả Viết và bảo vệ luận văn

Biểu đồ 2.1 Biểu đồ GANTT mô tả tiến độ thực hiện đề tài

Bước 1: Lập danh sách đối tượng nghiên cứu

Bước 2: Khám lâm sàng.

- Khám ngoài miệng: sự cân đối, hài hòa của khuôn mặt

- Khám trong miệng:

+ Khám xác định tương quan răng RHL thứ nhất ở hai bên

+ Khám xác định tình trạng đường giữa, cắn hở, cắn chéo, cắn sâu + Khám các răng khác: Răng sâu, các răng đang mọc

Các thông tin trên được đưa vào phiếu khám cho mỗi học sinh

Bước 3: Lấy dấu hai hàm bằng Alginate với sáp cắn ở tư thế khớp cắn lồng múi tối đa sau đó đổ mẫu bằng thạch cao đá.

Lấy dấu: Biên giới mặt ngoài cung hàm đến đáy ngách lợi, mặt trongđối với hàm dưới đến ranh giới giữa lợi và sàn miệng, đằng sau tối thiểu đếnphía xa RHL thứ hai của mỗi cung hàm

Đổ mẫu: Đổ mẫu bằng thạch cao đá, đổ đế bằng thạch cao thường ngaysau khi lấy dấu Gỡ mẫu khi đã đông cứng

Mài mẫu theo tiêu chuẩn của chỉnh hình răng mặt:

+ Đế dày từ 3 – 4cm, mặt phẳng đế song song với mặt phẳng cắn

Ngày đăng: 18/07/2019, 13:12

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
15. Brader A. C. (1972). Dental arch form related with intraoral forces: PR=c, Am J Orthop 61, 541-562 Sách, tạp chí
Tiêu đề: AmJ Orthop
Tác giả: Brader A. C
Năm: 1972
16. Moorrees C.F.A. (1959), The dentition of the growing child: A longitudinal study of the dental development between 3 and 18 years of age, Cambridge:Havard University Press, 87- 110 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cambridge:"Havard University Press
Tác giả: Moorrees C.F.A
Năm: 1959
17. Moorrees C.F.A. (1969), Growth study of the dentition: A review, Am. J.Orthod., 55 (6), 600-615 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Am. J."Orthod
Tác giả: Moorrees C.F.A
Năm: 1969
19. Chapman H.P. (1935), The normal dental arch and its changes from birth to adult, The British Dental Journal, LVIII(5), 201-229 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The British Dental Journal
Tác giả: Chapman H.P
Năm: 1935
20. Foster T.D., Grundy M.C., Lavelle C.L.B. (1977), A longitudinal study of dental arch growth, Am. J. Orthod., 72 (3), 309-314 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Am. J. Orthod
Tác giả: Foster T.D., Grundy M.C., Lavelle C.L.B
Năm: 1977
21. Chang H.P. (1998), A morphological study on the craniofacial complex and dental arch of chinese children with primary dentition, Journal Osaka Dent.Univ., 22(2), 55-100 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal Osaka Dent."Univ
Tác giả: Chang H.P
Năm: 1998
22. Ngô Thị Quỳnh Lan (2000), Nghiên cứu dọc sự phát triển của đầu mặt và cung răng ở trẻ từ 3 đến 5,5 tuổi, Luận án tiến sỹ y học, Trường Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh, 64-167 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu dọc sự phát triển của đầu mặt vàcung răng ở trẻ từ 3 đến 5,5 tuổi
Tác giả: Ngô Thị Quỳnh Lan
Năm: 2000
23. Hassanali J., Odhiambo J.W. (2000), Analysis of dental cast of 6-8 and 12- year-old Kenyan children, Eu. J. Orthod., 135-142 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Eu. J. Orthod
Tác giả: Hassanali J., Odhiambo J.W
Năm: 2000
18. MeredithH.V., HoppW.M (1956), A longitudinal study of dental arch width at the deciduos secord molars on children 4 to 8 years of age Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w