Hoạt động của tế bào mast tại vùng da tổn thương ở bệnh mày đay.Nguồn:http://www.genomics.sinica.edu.tw/index.php/en/news/news-archives/429-anti-ige Các yếu tố nguy cơ liên quan đến bệnh
Trang 1NGUYỄN THỊ MINH CHÂU
ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG
Trang 2chân thành về tinh thần và kiến thức từ các thầy cô giáo, gia đình và bạn bè.Với lòng kính trọng và biết ơn, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới:
Ban Giám hiệu trường đại học Y Hà Nội và phòng đào tạo đại học, cácthầy, cô trong bộ môn Da liễu cùng toàn thể các thầy, cô của trường đại học Y
Hà Nội đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho em trong quá trình học tập trên ghếnhà trường và tiến hành nghiên cứu
Ban Giám đốc, phòng kế hoạch tổng hợp và tập thể cán bộ bác sĩ, điềudưỡng, nhân viên khoa Bệnh da phụ nữ và trẻ em, Bệnh viện Da liễu Trung ương,
đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong quá trình học tập, thu thập số liệu nghiên cứu
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới ThS BS Trần Thị Huyền, giảng
viên bộ môn Da liễu trường đại học Y Hà Nội, bác sĩ Bệnh viện Da liễu Trungương, người đã tận tình hướng dẫn, quan tâm và giúp đỡ em trong suốt quátrình thực hiện nghiên cứu và hoàn thành khóa luận này
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong hội đồng chấm khóa luận
đã cho em những góp ý quý giá để hoàn thiện khóa luận
Cuối cùng, em xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã luôn bên cạnh động viên
và giúp đỡ em trong suốt thời gian qua
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, tháng 06 năm 2019
Tác giả
Nguyễn Thị Minh Châu
Trang 3kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa được công bố trongbất kỳ công trình nghiên cứu nào khác.
Hà Nội, tháng 06 tháng 2019
Tác giả
Nguyễn Thị Minh Châu
Trang 4AAS : Angioedema activity score
(Bảng điểm đánh giá mức độ hoạt động phù mạch)AE-QoL : Angioedema quality of life questionnaire
(Bộ câu hỏi đánh giá chất lượng cuộc sống của bệnh nhân phù mạch)
CRP : C-reactive protein
(Protein phản ứng C)CU-Q2oL : Chronic urticaria quality of life questionnaire
(Bộ câu hỏi đánh giá chất lượng cuộc sống bệnh nhân mày đay mạn tính)
PAF : Platelet activating factor
(Yếu tố hoạt hóa tiểu cầu)UAS : Urticaria activity score
(Điểm mức độ hoạt động mày đay)UCT
(Tia cực tím B): Ultraviolet A(Tia cực tím A): Psoralen and ultraviolet A(Psoralen kết hợp tia cực tím A)
MỤC LỤC
Trang 6DANH MỤC HÌNH
DANH MỤC SƠ ĐỒ
Trang 7ĐẶT VẤN ĐỀ
Mày đay (urticaria/ hives) là một bệnh da thường gặp Trên thế giới cứ
100 người sẽ có khoảng 15-20 người mắc mày đay cấp tính ít nhất một lầntrong đời [1] Ở Việt Nam, theo Nguyễn Năng An, tỉ lệ này là 11,16% [2].Bệnh gặp ở mọi giới, mọi chủng tộc cũng như mọi lứa tuổi, trong đó chủ yếu
là ở giai đoạn từ sơ sinh đến 9 tuổi và từ 30 đến 40 tuổi [3]
Chẩn đoán mày đay chủ yếu dựa vào lâm sàng Bệnh đặc trưng bởinhững tổn thương ban đỏ, sẩn phù có quầng bao quanh, ranh giới rõ với vùng
da lành Chúng có hình dạng và kích thước thay đổi, có thể rải rác hoặc tậptrung thành từng mảng và xuất hiện ở bất cứ nơi nào trên cơ thể, kéo dài 30phút đến tối đa 24 giờ rồi mất đi và xuất hiện các tổn thương mới Bệnhthường rất ngứa, dai dẳng làm bệnh nhân rất khó chịu
Mày đay không phải là một bệnh lí trầm trọng nhưng là bệnh gây ảnhhưởng nhiều đến chất lượng cuộc sống Ở người lớn, mày đay làm giảm chấtlượng công việc Còn với trẻ nhỏ, bệnh làm trẻ kích thích, quấy khóc, kém ăn,kém chơi Với những trẻ lớn đang độ tuổi đến trường, bệnh làm trẻ kém tậptrung, ngứa ngáy, lo lắng, mất ngủ, mệt mỏi dẫn đến giảm khả năng học tập,thậm chí phải nghỉ học
Một số trường hợp bệnh mày đay đi kèm với phù Quincke Đó là một tổnthương sưng nề sâu dưới da với biểu hiện sưng phù là chính, da phía trên cómàu đỏ hoặc bình thường Chúng thường ít ngứa nhưng đau, rát bỏng và xuấthiện chủ yếu ở môi, mi mắt, lưỡi, đôi khi ở niêm mạc các cơ quan nội tạng(thanh quản, dạ dày, ruột …)
Căn nguyên gây bệnh mày đay rất phức tạp, bao gồm nguyên nhân bêntrong, bên ngoài, thậm chí không rõ căn nguyên Trên cùng một bệnh nhân cóthể có một hoặc nhiều căn nguyên kết hợp Thuốc, thức ăn, mạt bụi nhà, thay
Trang 8đổi thời tiết là những căn nguyên hay gặp nhất Ngoài ra, một số tác giả chorằng nhiễm khuẩn là một trong những căn nguyên hàng đầu gây nên tình trạngmày đay cấp ở trẻ nhỏ [4] Bệnh mày đay liên quan mật thiết đến vai trò của
tế bào mast và sự giải phóng histamin nên điều trị bệnh bằng các thuốc khánghistamin và/hoặc corticoid trong thời gian ngắn giúp lành tổn thương, giảmngứa nhanh chóng
Trên thế giới cũng như tại Việt Nam đã có nhiều nghiên cứu về bệnhmày đay nhưng tập trung chủ yếu ở đối tượng người lớn [12],[39] Các nghiêncứu về bệnh mày đay ở trẻ em còn ít [44],[53] Cho đến nay vẫn chưa cónghiên cứu nào về đặc điểm của bệnh mày đay ở trẻ em tại Bệnh viện Da liễuTrung ương
Vì vậy, chúng tôi tiến hành đề tài: “Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng
và tình trạng nhiễm trùng ở trẻ em bị bệnh mày đay” với 2 mục tiêu:
1 Khảo sát đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng bệnh mày đay ở trẻ em được điều trị nội trú tại Bệnh viện Da liễu Trung ương từ tháng 08/2018 đến tháng 04/2019.
2 Đánh giá tình trạng nhiễm trùng ở trẻ em bị bệnh mày đay.
Trang 9Chương 1 TỔNG QUAN
1.1 Đại cương về bệnh mày đay
Sẩn phù ở bệnh nhân mày đay có 3 đặc điểm nổi bật:
- Hình dạng thay đổi với sẩn phù ở giữa, bao quanh bởi một quầng đỏ
- Cảm giác ngứa, đôi khi bỏng rát
- Xuất hiện và biến mất trong vòng 30 phút đến 24 giờ trên nền da lành
Phù mạch trong mày đay đặc trưng bởi:
- Sẩn phù đỏ hoặc thay đổi màu sắc da xuất hiện đột ngột, rõ rệt ở dưới da hoặcniêm mạc
- Cảm giác đau, bỏng rát nổi trội hơn là ngứa
- Biến mất chậm hơn so với ban mày đay (có thể kéo dài tới 72 giờ)
1.1.2 Vài nét lịch sử về bệnh mày đay
Thuật ngữ mày đay có nguồn gốc từ tiếng La-tinh “urtica” nghĩa là câytầm ma, là loại cây dại, có hoa, thụ phấn nhờ gió, trên thân và lá có chi chítcác lông nhỏ chứa acid formic, khi tiếp xúc với da sẽ gây phản ứng làm cho
da rất ngứa và nhức
Bệnh mày đay đã được đề cập từ rất sớm, Hippocrate (460-377 trướcCông nguyên) đã mô tả các tổn thương rất ngứa ở da do tiếp xúc với lông của
Trang 10cây tầm ma và do côn trùng cắn, ông gọi nó là “knidosis” – tên Hy Lạp củacây tầm ma (nettle) Đặc biệt ông cũng đề cập đến những vết lằn trên da ởnhững bệnh nhân rối loạn tiêu hóa nhưng các thương tổn này ít ngứa hơn sovới những vết đốt của côn trùng [5].
Năm 1769, bác sĩ người Scotland William Cullen đã sử dụng thuật ngữ
“urticaria” và đặt tên chính thức cho căn bệnh mày đay này trong cuốn sách
“Synopsia Nosalogiae Methodica” [6]
Năm 1882, Quincke phát hiện ra hội chứng phù mạch, sau này đượcmang tên tác giả (phù Quincke) [7]
Năm 1906, bác sĩ Nhi khoa Von Pirquet người Áo, lần đầu tiên sử dụngthuật ngữ dị ứng (allergy) để chỉ khả năng phản ứng đặc hiệu đối với chấtngoại lai của cơ thể mẫn cảm [8]
Năm 1910, Dale đề xuất vai trò của histamin trong cơ chế dị ứng Sau
đó, một loạt các chất trung gian có vai trò trong dị ứng lần lượt được pháthiện: acetylcholin (1914), bradykinin (1949), serotonin (1954), prostaglandin(1936, 1967) và một số chất khác [8]
Thuốc kháng histamin được tìm ra đầu tiên bởi Bovet và Staub năm
1937 [9]
1.1.3 Dịch tễ học
Mày đay là bệnh phổ biến Theo một nghiên cứu tại vương quốc Anh, tỉ
lệ mắc bệnh mày đay là 15-20% trong dân số, trong đó chỉ có 1-3% bệnhnhân phải nhập viện điều trị [1] Tuổi, giới, chủng tộc, nghề nghiệp, vị trí địa
lí và các mùa trong năm được xem như là yếu tố nguy cơ của bệnh Theo sốliệu của trung tâm dịch vụ chăm sóc y tế ngoại trú Mỹ từ năm 1990-1997, phụ
nữ chiếm 69% tổng số người mắc mày đay, bệnh có hai đỉnh tuổi là từ sơ sinhđến 9 tuổi và từ 30 đến 40 tuổi [10]
Trang 11Mày đay cấp tính có thời gian kéo dài dưới 6 tuần Hầu hết các đợt cấp
có liên quan đến thức ăn, thời tiết, việc sử dụng thuốc hoặc tình trạng nhiễmtrùng ở trẻ nhỏ
Mày đay kéo dài trên 6 tuần được gọi là mày đay mạn tính Mày đaymạn tính được chia ra làm 2 nhóm lớn: mày đay mạn tính có yếu tố khởi phát(45%) và mày đay mạn tính tự phát (55%) với tỉ lệ mắc là 0,5% dân số [11].Người ta thấy 85% trẻ em bị mày đay không kèm theo phù mạch còn45% người lớn bị mày đay có phù mạch kèm theo [12]
1.1.4 Phân loại mày đay dựa trên thời gian và yếu tố nguy cơ
Sự phân bố dưới typ của mày đay rất rộng và trên một bệnh nhân có thểsong song tồn tại hai hay nhiều dưới typ khác nhau
Hiện nay, mày đay được phân loại phổ biến theo 2 cách: dựa trên thờigian bị bệnh và dựa trên nguyên nhân gây bệnh, yếu tố khởi phát
Bảng 1.1 Phân loại bệnh mày đay
Phân loại theo thời gian Phân loại theo nguyên nhân
Mày đay cấp: bệnh kéo dài
dưới 6 tuần
Mày đay mạn: bệnh kéo dài
trên 6 tuần và thương tổn mày
đay xuất hiện ít nhất 2 lần mỗi
- mày đay do ánh sáng mặt trời
- mày đay do nhiệt
- chứng vẽ nổi
- mày đay do rung động
- mày đay cholinergic
- mày đay do nước
Trang 121.1.5 Cơ chế bệnh sinh
Mày đay là bệnh đặc trưng bởi sự hoạt động của tế bào mast Khi có dịnguyên xâm nhập, các tế bào lympho T nhận dạng và tiết ra các kháng thểIgE, chúng gắn vào các thụ thể đặc hiệu ái lực cao FcεRI trên bề mặt tế bàomast và mở đầu cho các chuỗi phản ứng tiếp theo Histamin và các chất trunggian khác, như yếu tố hoạt hóa tiểu cầu (platelet activating factor, PAF) và cáccytokin được tiết ra từ các tế bào mast hoạt động ở da Kết quả dẫn tới sự hoạthóa hệ thần kinh cảm giác, giãn mạch và thoát huyết tương, sự tập trung tếbào viêm đến vùng tổn thương mày đay Về mô bệnh học, mày đay được mô
tả bởi sự phù nề ở thượng bì và trung bì, cùng với sự giãn mạch và tăng tínhthấm thành mạch, thoát huyết tương ở mô dưới da Còn phù mạch có cơ chếtương tự nhưng xảy ra ở lớp hạ bì và mô liên kết Vùng da bị mày đay thườngbiểu hiện sự tăng các phân tử kết dính nội mô, các peptid thần kinh, yếu tốtăng trưởng Có sự thâm nhiễm các tế bào viêm ra khỏi thành mạch như bạchcầu hạt trung tính, có thể kèm theo bạch cầu ưa acid, bạch cầu ưa base, cácđại thực bào, và tế bào lympho T nhưng không có sự thoái hóa thành mạch.Đây chính là đặc trưng của viêm mạch trong bệnh mày đay Vùng da khôngtổn thương ở bệnh nhân mày đay mạn tính tự phát cũng có sự gia tăng cácphân tử kết dính, thâm nhiễm các bạch cầu ưa acid và có mặt của các cytokin.Một số tác giả cũng đề cập đến có sự tăng từ nhẹ đến trung bình của các tếbào mast Những nghiên cứu này còn nhấn mạnh đến phức hợp tự nhiên trongsinh bệnh học của mày đay, chúng góp phần gây ra sự giải phóng histamin từcác tế bào mast ở da Những đặc trưng này của bệnh mày đay cũng được nhậnthấy ở trong một số tình trạng viêm khác nên chúng không đặc hiệu và không
có giá trị chẩn đoán Các dấu ấn sinh học đặc hiệu để phân biệt các typ màyđay khác nhau và phân biệt bệnh mày đay với các trình trạng bệnh khác đangđược tìm kiếm
Trang 13Hình 1.1 Hoạt động của tế bào mast tại vùng da tổn thương ở bệnh mày đay.
Nguồn:http://www.genomics.sinica.edu.tw/index.php/en/news/news-archives/429-anti-ige
Các yếu tố nguy cơ liên quan đến bệnh mày đay:
Thuốc là một trong những tác nhân hàng đầu được nghi ngờ gây bệnhmày đay Nhiều trường hợp bệnh cải thiện rõ rệt sau khi dừng hoàn toàn thuốcnghi ngờ khởi phát bệnh hoặc được thay thế bằng một nhóm thuốc khác.Các tác nhân vật lý được đề cập đến rất nhiều trong mày đay mạn tính cóyếu tố khởi phát Thông tin đầy đủ của từng loại tác nhân rất quan trọng giúpngười bệnh hiểu rõ để nhận biết và phòng tránh chúng trong đời sống hàngngày Ví dụ như trong bệnh mày đay do áp lực hay chứng vẽ nổi, biện phápđơn giản là làm rộng phần tay cầm của những túi xách nặng để giảm áp lực đốivới bệnh mày đay do áp lực và giảm ma sát, tránh các triệu chứng của chứng vẽnổi Trong bệnh mày đay do ánh sáng mặt trời, việc xác định độ dài bước sóngtừng vùng để lựa chọn kem chống nắng phù hợp là rất cần thiết
Tình trạng nhiễm trùng cũng được báo cáo có liên quan tới mày đay mạn
tính Các vi sinh vật được nhắc đến gồm Helicobacter pylori gây bệnh lí dạ
dày, các vi khuẩn vùng mũi họng [13] Kí sinh trùng đường ruột hiếm gặp và
Trang 14được nhận thấy là tác nhân gây mày đay mạn tính ở những nước công nghiệpphát triển [13] Trước đây, Candida đường ruột được cho là nguyên nhân quantrọng của mày đay mạn tính [13] nhưng những phát hiện gần đây không ủng
hộ vai trò của nó trong việc gây ra bệnh mày đay [14] Ngoài các bệnh nhiễmtrùng, các quá trình viêm mạn tính cũng được xác định là yếu tố gây nên bệnhmày đay mạn tính, đặc biệt các bệnh viêm dạ dày mạn tính, hội chứng tràongược dạ dày thực quản, viêm ống mật, túi mật, viêm gan virus [15]
Mặc dù không có nhiều nghiên cứu về cơ chế tác động của stress nhưngcũng có bằng chứng cho thấy có sự liên quan về mức độ nghiêm trọng và hoạtđộng của bệnh với mức độ stress [16] Đặc biệt, sự căng thẳng về thể chất vàtinh thần có liên quan tới mày đay do cholinergic [17]
Dị ứng thức ăn qua IgE là nguyên nhân hiếm gặp gây ra mày đay mạntính Một số loại thức ăn như hải sản, các loại hạt, trứng, lùa mì, đậu nành làtác nhân gây bệnh thường gặp [15]
Trang 15Bảng 1.2 Bảng điểm đánh giá mức độ hoạt động bệnh mày đay
0 Không có Không
1 Nhẹ (<20 ban/ 24 giờ) Nhẹ (không gây phiền phức và khó chịu)
2 Trung bình (20-50 ban/ 24 giờ)
Trung bình (gây phiền phức nhưng không ảnh hưởng đến giấc ngủ và hoạt động hàng ngày)
3 Nặng (>50 ban/ 24 giờ hoặc có
vùng ban tập hợp thành mảng)
Nặng (nghiêm trọng, ảnh hưởng đến giấc ngủ và hoạt động hàng ngày)
Tổng điểm: 0-6 điểm/ngày, đánh giá trong vòng 1 tuần (tối đa 42điểm/tuần)
Nguồn: Mlynek A, Zalewska-Janowska A, Martus P, et al (2008) How to
assess disease activity in patients with chronic urticaria? Allergy, 63(6), 777-780.
Trước đây, O’Donnell và cộng sự đã chỉ ra rằng điểm số đánh giá về tìnhtrạng sức khỏe ở bệnh nhân mày đay mạn tính tự phát được so sánh ngangbằng với những bệnh nhân có bệnh lí mạch vành [18] Hơn nữa, tình trạng sứckhỏe và mức độ hài lòng ở bệnh nhân mày đay mạn tính tự phát thấp hơn sovới bệnh nhân có bệnh lí dị ứng đường hô hấp [19] Mày đay mạn tình còntiêu tốn chi phí đáng kể của người bệnh và xã hội [20],[21],[22]
1.1.7 Triệu chứng lâm sàng
Ngứa: thường là dấu hiệu đầu tiên, xảy ra ở nơi sắp sửa xuất hiện cácthương tổn, mức độ ngứa mang tính chủ quan của từng bệnh nhân và phụthuộc vào mức độ bệnh Đây là triệu chứng khiến bệnh nhân khó chịu, ảnhhưởng đến công việc, học tập, sinh hoạt
Thương tổn da cơ bản: dát đỏ, sẩn phù, kích thước 1-8 cm, màu đỏ hoặcmàu trắng với viền đỏ xung quanh, đa hình thái, hình tròn, ovan hoặc đa cung,ranh giới rõ với vùng da lành xung quanh Các thương tổn khu trú hoặc lan
Trang 16rộng thành từng mảng lớn, phân bố khắp nơi trên cơ thể Thời gian tồn tạingắn, từ 30 phút cho đến 24 giờ.
Phù mạch: sưng nề mi mắt, môi, lưỡi, đầu chi và có thể ở cả niêm mạccác cơ quan nội tạng như phù thanh quản gây khó thở, phù mạch ở niêm mạc
dạ dày, đường ruột gây đau bụng, rối loạn tiêu hóa,…
Mày đay có thể tồn tại đơn thuần hoặc kết hợp với phù mạch
1.1.8 Cận lâm sàng
- Mô bệnh học: hình ảnh phù trung bì, mô dưới da, giãn mạch nhưng không có
sự phá hủy thành mạch Có hiện tượng khử hạt tế bào mast và xâm nhập củacác tế bào viêm, chủ yếu là tế bào lympho tại mô tổn thương
- Huyết thanh học:
Định lượng IgE, tự kháng thể FcεRI
Các xét nghiệm liên quan tới các bệnh viêm gan virus, bệnh lí miễn dịchnhư lupus ban đỏ hệ thống, hội chứng Sjögren
- Xét nghiệm kí sinh trùng, vi khuẩn
Xét nghiệm phân tìm kí sinh trùng đường tiêu hóa
Nội soi dạ dày, xét nghiệm tìm Helicobacter pylori ở những bệnh nhân
có kèm viêm loét dạ dày – tá tràng
- Các test trong mày đay vật lý
Mày đay do lạnh: test đá lạnh, nước lạnh, gió lạnh
Mày đay do áp lực: test áp lực, test ngưỡng
Trang 17Mày đay do nhiệt: test nước nóng.
Mày đay do ánh nắng: test với tia cực tím và ánh sáng nhìn được ở cácbước sóng khác nhau Loại trừ các bệnh da do ánh sáng khác
Mày đay vẽ nổi: dấu hiệu vẽ nổi, test ngưỡng
Mày đay do nước: test mặc áo ướt ở nhiệt độ cơ thể trong 20 phút
Mày đay do cholin: test vận động, tắm nóng
Mày đay do tiếp xúc: test lẩy da
1.1.9 Chẩn đoán
1.1.9.1 Mày đay cấp tính
Mày đay cấp tính được chẩn đoán chủ yếu dựa vào tiền sử và triệu chứnglâm sàng Mày đay cấp tính thường tự khỏi và kéo dài tối đa trong vòng 6tuần Vì vậy các test chẩn đoán không được khuyến cáo để chẩn đoán màyđay cấp tính Trừ thường hợp nghi ngờ mày đay do dị ứng typ 1 ở những bệnhnhân nhạy cảm hoặc có những yếu tố liên quan khác như thức ăn, thuốcchống viêm không steroid Trong trường hợp này, test dị nguyên nên đượctiến hành để tìm ra nguyên nhân thích hợp giúp phòng tránh
1.1.9.2 Mày đay mạn tính
Việc chẩn đoán mày đay mạn gồm 3 mục tiêu: 1 Loại trừ các chẩn đoánphân biệt; 2 Đánh giá mức độ hoạt động, ảnh hưởng và kiểm soát bệnh màyđay; 3 Xác định các yếu tố nguy cơ làm trầm trọng hơn tình trạng bệnh hoặcchỉ ra các nguyên nhân gây bệnh
1 Mày đay và phù mạch có thể là biểu hiện của một số tình trạng bệnh khác Ởbệnh nhân chỉ có mày đay (không có phù mạch) cần đưa ra các chẩn đoánphân biệt với mày đay viêm mạch và rối loạn đáp ứng viêm tại chỗ như hộichứng Schnitzler hay hội chứng Cryopyrin có chu kì Mặt khác, những bệnhnhân chỉ có phù mạch (không có mày đay) thì cần chẩn đoán phân biệt vớicác tình trạng phù mạch qua trung gian bradykinin, phù mạch do thuốc ức chế
Trang 18men chuyển, phù mạch không liên quan tế bào mast, phù mạch di truyền typ1-3
2 Đánh giá ban đầu về mức độ hoạt động bệnh (UAS, AAS), về mức độ ảnhhưởng đến chất lượng cuộc sống người bệnh (CU-Q2oL, AE-QoL), và mức
độ kiểm soát bệnh mày đay (UCT) là không thể thiếu để đưa ra quyết địnhđiều trị, cung cấp thông tin hữu ích về gánh nặng bệnh tật với người bệnh,cũng như yếu tố nguy cơ
3 Hỏi tiền sử là vấn đề thiết yếu để tìm nguyên nhân và các yếu tố nguy cơ ởbệnh mày đay, đặc biệt ở các bệnh nhân mắc mày đay lâu năm và không kiểmsoát được
Trong những thập kỉ gần đây, đã có nhiều tiến bộ trong việc xác địnhnguyên nhân của các typ và dưới typ mày đay khác nhau [23],[24] Trong số
đó, bệnh tự miễn qua trung gian tự kháng thể trực tiếp chống lại các thụ thể có
ái lực cao với IgE (kháng thể kháng FcεRI) hoặc các kháng thể kháng IgE, giả
dị ứng với thức ăn và thuốc (phản ứng quá mẫn không dị ứng), các bệnh
nhiễm trùng cấp và mạn (Helicobacter pylori hoặc Anisakis simplex) được
xem như là nguyên nhân của mày đay mạn tính Tuy nhiên, có sự thay đổi vềtần số các bệnh nền ở các nghiên cứu khác nhau Điều này cũng phản ánh sựkhác nhau giữa các khu vực trên thế giới, như chế độ ăn, tỉ lệ nhiễm trùng Vìvậy không nhất thiết phải tìm ra mọi nguyên nhân gây bệnh ở tất cả các bệnhnhân Bước đầu tiên trong việc chẩn đoán mày đay chính là hỏi tiền sử bệnhchi tiết giúp định hướng bệnh Những điểm cần chú ý khi khai thác tiền sửbệnh:
- Thời gian khởi phát bệnh
- Kích thước, hình dạng, sự phân bố, thời gian tồn tại của thương tổn
- Có kèm theo phù mạch hay không
Trang 19- Các triệu chứng khác kèm theo như sốt, đau nhức xương khớp, đau bụng, khóthở.
- Tiền sử gia đình mắc mày đay hoặc phù mạch
- Tổn thương có liên quan đến các yếu tố vật lý, các hoạt động thể dục không
- Sự liên quan đến thuốc, thức ăn, thời tiết, sự căng thẳng, hay tình trạng nhiễmtrùng
- Sự liên quan với nhịp ngày đêm, chu kì kinh nguyệt, kì nghỉ lễ
- Tiền sử nghề nghiệp, xã hội và các hoạt động giải trí
- Bệnh nhân có tiền sử bệnh tự miễn, bệnh dị ứng, bệnh nhiễm trùng hay cácvấn đề về rối loạn tiêu hóa
- Ở những bệnh nhân đã từng mắc mày đay, chúng ta cần hỏi về chẩn đoán, liệupháp điều trị, liều, thời gian điều trị cũng như kết quả điều trị trước đây
Bước thứ hai là thăm khám lâm sàng và sử dụng một số test vật lý đểchẩn đoán các typ mày đay
Những nhóm bệnh mày đay khác nhau có thể biểu hiện các triệu chứnglâm sàng khác nhau và thường rất ngứa gây cảm giác khó chịu Ví dụ nhữngban mày đay nhỏ, có quầng sáng xung quanh đặc trưng cho mày đaycholinergic, ban dạng đường kẻ gặp trong chứng vẽ nổi, ban tổn thương tậptrung ở vùng da hở trong mà đay do lạnh hoặc ánh sáng Những mày đay vật
lý có thể được xác định bởi những test dị nguyên như dùng những vật tù vẽlên da để nhận biết chứng vẽ nổi, những kích thích nóng lạnh sẽ cho biếtchứng mày đay do nhiệt, hay những bài tập vận động giúp xác định nhómmày đay liên quan đến cholinergic,…
Những tổn thương mày đay xuất hiện từng đợt (dưới 6 tuần) và biểu hiệnnhư nhau giữa các đợt thường liên quan đến phản ứng dị ứng do thức ăn,thuốc Vì vậy chúng ta cần chú ý trong việc khai thác tiền sử ở những bệnhnhân này Các test lẩy da, test kích thích được áp dụng cho những bệnh nhân
Trang 20này nhằm xác định sự tăng mẫn cảm với tác nhân gây bệnh qua trung gianIgE, nhưng có một số loại thuốc không liên quan đến IgE như thuốc chốngviêm không steroid, các opioid cũng gây nên tình trạng mày đay.
Ở trẻ em, mày đay có thể liên quan đến tình trạng nhiễm trùng như nhóm
Streptococcus và người ta cũng nhận thấy tình trạng này ở người lớn liên quan
với nhiễm virus viêm gan B, Epstein-Barr virus…
Thương tổn ở mày đay mạn tính kéo dài trên 6 tuần, được chia thànhmày đay mạn tính tự phát không tìm được nguyên nhân và mày đay mạn tính
có yếu tố khởi phát Khoảng 40% những trường hợp này có kèm theo phùmạch, thường ở đầu chi, mi mắt, môi, lưỡi, thanh quản nhưng không bao giờ
có thương tổn ở khí quản Dạng thương tổn này ít ngứa, thường là đau rát
Sơ đồ 1.1 Các bước tiếp cận chẩn đoán bệnh mày đay
Nguồn: The EAACI/GA²LEN/EDF/WAO Guideline for the Definition, Classification, Diagnosis and Management of Urticaria.
Trang 211.1.10 Điều trị
1 Mục tiêu điều trị là điều trị cho đến khi khỏi bệnh
2 Cách tiếp cận điều trị mày đay mạn:
a Xác định và loại bỏ nguyên nhân
b Tránh các yếu tố nguy cơ
Xác định và loại bỏ nguyên nhân, tránh các yếu tố nguy cơ
Để loại bỏ nguyên nhân cần phải chẩn đoán chính xác bệnh Tuy nhiênxác định nguyên nhân mày đay mạn ở hầu hết các trường hợp là rất khó, ví dụnhiễm trùng có thể là nguyên nhân, có thể là yếu tố nguy cơ hoặc không liênquan đến bệnh Cách duy nhất xác định nguyên nhân đó là sử dụng test kíchthích mù đôi, triệu chứng bệnh thuyên giảm khi loại bỏ yếu tố được nghi ngờ
là nguyên nhân gây bệnh và các triệu chứng sẽ quay trở lại khi tiếp xúc vớinguyên nhân Tuy nhiên, các triệu chứng của mày đay có thể xuất hiện và mất
đi tình cờ, sự thay đổi của triệu chứng khi làm test diễn ra một cách trùng hợpngẫu nhiên
Trang 22Điều trị triệu chứng bằng thuốc
Nguyên tắc chung của điều trị bằng thuốc là để giảm hoàn toàn triệuchứng, sử dụng thuốc tối đa khi cần và tối thiểu nhất có thể Các thuốc có tácdụng khác nhau được lựa chọn trong các đợt khác nhau của bệnh
Lựa chọn chính để giảm triệu chứng là giảm tác dụng của chất trung gian
tế bào mast như histamin, PAF và các thuốc khác tác động trên các cơ quanđích Các triệu chứng của mày đay liên quan với hoạt động của histamin trênreceptor H1 ở các tế bào nội mô và tận cùng thần kinh (gây ngứa) Vì thế,điều trị liên tục bằng kháng histamin H1 là đặc biệt quan trọng trong điều trịmày đay Sử dụng liên tục kháng histamin H1 ở mày đay mạn tính được ủng
hộ bởi các thử nghiệm lâm sàng [25] và cơ chế tác dụng của thuốc, chúng ứcchế hồi phục và có ái tính hơn với các receptor H1 không hoạt động, ổn địnhchúng ở trạng thái đó và đưa về cân bằng ở trạng thái không hoạt động
Tuy nhiên, các chất trung gian khác của tế bào mast (PAF, leukotrien,cytokin) có thể liên quan đến quá trình xâm nhập các bạch cầu ưa base, bạchcầu ưa acid và tế bào lympho [26] Các tác nhân này đáp ứng hoàn toàn vớimột đợt ngắn điều trị corticoid và không đáp ứng với kháng histamin
Các đánh giá chung về sử dụng thuốc liên quan đến cả mày đay mạn tính
và cấp tính Sự khác nhau giữa mày đay mạn tính có yếu tố khởi phát và màyđay mạn tính tự phát là ở một số dạng mày đay vật lý, như mày đay do lạnhthì điều trị từng đợt có hiệu quả hơn điều trị liên tục Đặc biệt nếu bệnh nhânbiết được việc sẽ tiếp xúc các tác nhân kích thích từ trước, như đi ra lạnh thì việc
sử dụng kháng histamin H1 dự phòng trước đó 2 giờ đủ để kiểm soát bệnh.Kháng histamin được lưu hành từ những năm 1950 Kháng histamin thế
hệ 1 có tác dụng kháng cholinergic, tác dụng gây ngủ, có tương tác với rượu
và các thuốc tác động trên thần kinh trung ương khác (an thần, giảm đau ).Chúng có thể gây ra cử động nhanh nhãn cầu khi ngủ và ảnh hưởng đến học
Trang 23tập, làm việc Các tác động này đặc biệt tăng lên khi thực hiện các hoạt độngphối hợp và phức tạp như lái xe Trong hướng dẫn điều trị mày đay củaGA²LEN (Global Allergy and Asthma European Network) khuyến cáo mạnhrằng không sử dụng kháng histamin thế hệ 1 trong điều trị dị ứng kéo dài ởngười lớn và đặc biệt ở trẻ nhỏ [27]
Quan điểm này được tổ chức y tế thế giới đồng ý trong hướng dẫn ARIA[28] Dựa trên các bằng chứng liên quan đến tác dụng phụ của kháng histaminthế hệ 1, khuyến cáo rằng không nên sử dụng kháng histamin thế hệ 1 là lựachọn đầu tiên trong điều trị mày đay mạn tính, trừ ở một số nơi không có sẵnthuốc kháng histamin thế hệ 2 Tác dụng phụ của kháng H1 thế hệ 1 liên quanđến sự thấm qua hàng rào máu não, gắn vào receptor H1 ở hệ thần kinh trungương và tương tác với tác dụng dẫn truyền thần kinh của histamin
Sự phát triển của thuốc kháng histamin thế hệ 2 đã hạn chế tác dụng gâyngủ và không có tác dụng kháng cholinergic Các thuốc kháng histamin thế hệ
2 mới nên được xem là lựa chọn đầu tiên trong điều trị triệu chứng bệnh màyđay bởi tính an toàn của chúng Tuy nhiên, đến nay nhiều so sánh trong cácthử nghiệm lâm sàng về tác dụng và an toàn của kháng histamin thế hệ 2 vẫncòn chưa được đầy đủ
Có nhiều nghiên cứu chỉ ra lợi ích của việc sử dụng liều cao hơn khánghistamin thế hệ 2 trên bệnh nhân và bằng chứng ở những nghiên cứu trướcđây đều đưa ra kết luận tương tự như việc sử dụng kháng histamin thế hệ 1
Có sự thay đổi ở các nghiên cứu khác nhau về việc sử dụng liều gấp 4 lần sovới liều khuyến cáo của bilastin, desloratadin, ebastin, fexofenadin,levocetrizin và rupatadin [29]
Tóm lại, các nghiên cứu gợi ý rằng phần lớn bệnh nhân mày đay khôngđáp ứng với liều thông thường sẽ có đáp ứng tốt với liều cao hơn Các thuốc
Trang 24kháng histamin ở liều thông thường là lựa chọn đầu tiên và tăng liều chỉ là lựachọn thứ hai trong điều trị mày đay.
Các liệu pháp đối với bệnh nhân không đáp ứng kháng histamin
Omalizumab (anti-IgE) được chứng minh có tác dụng rất tốt và an toàntrong điều trị mày đay mạn tính tự phát [30],[31] Omalizumab cũng được báocáo có tác dụng trong mày đay mạn tính có yếu tố khởi phát [32], bao gồmmày đay do lạnh [33], mày đay do ánh nắng [34], mày đay do nhiệt [35],chứng vẽ nổi [36] cũng như mày đay áp lực [37] Trong mày đay mạn tính tựphát, omalizumab bảo vệ khỏi phát triển phù mạch, cải thiện chất lượng cuộcsống, phù hợp với điều trị lâu dài và có tác dụng trong điều trị mày đay táiphát [38],[39] Omalizumab trong mày đay mạn tính có tác dụng ở liều 150-
300 mg/tháng Liều omalizumab phụ thuộc vào nồng độ IgE toàn phần huyếttương [40] Khuyến cáo sử dụng liều ở mày đay mạn tính tự phát là 300mgmỗi tháng Liều thông thường và thời gian điều trị thay đổi ở mỗi quốc gia.Cyclosporin A cũng có tác dụng trực tiếp, trung bình lên sự giải phóngcác chất trung gian của tế bào mast [41] Tác dụng của cyclosporin A trongkết hợp với kháng histamin thế hệ 2 mới được chỉ ra trong các thử nghiệmkiểm soát thuốc an thần cũng như trong các thử nghiệm ở trong mày đay mạntính tự phát, nhưng nó không được khuyến cáo như là thuốc chính do có nhiềutác dụng phụ [42] Cyclosporin A là thuốc không chính thống trong điều trịmày đay và được khuyến cáo ở những bệnh nhân không đáp ứng với khánghistamin và omalizumab, kể cả khi kết hợp hai thuốc Tuy nhiên, cyclosporin
A có tỉ lệ nguy cơ trên lợi ích tốt hơn so với sử dụng corticoid kéo dài
Một số thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên đã đánh giá tác dụng của khángthụ thể leukotrien (LTRA) Các nghiên cứu khó để so sánh do sự khác nhau vềquần thể nghiên cứu Nhìn chung mức độ bằng chứng về tác dụng của LTRAtrong điều trị mày đay còn thấp và thuốc tốt nhất hiện nay vẫn là montelukast
Trang 25Hiện tại, các thuốc corticoid bôi ngoài da thường được sử dụng và tácdụng tốt với các bệnh dị ứng, nhưng trong mày đay nó lại không có lợi ích(trừ mày đay áp lực chưa có nhiều bằng chứng) Corticoid đường toàn thânđược sử dụng tại liều 20-50 mg/ngày prednisone trong thời gian ngắn để ngănngừa các biến chứng Trong mày đay cấp và đợt cấp của mày đay mạn tính tựphát, một đợt ngắn corticoid đường uống, điều trị tối đa trong 10 ngày có thể
có ích trong giảm thời gian, tình trạng hoạt động của bệnh [43] Tuy nhiên cácnghiên cứu có chất lượng còn ít
1.2 Đặc điểm bệnh mày đay ở trẻ em
1.2.1 Dịch tễ học và cơ chế bệnh sinh
Các nghiên cứu về mày đay trẻ em hiện nay còn rải rác nhưng các kếtquả đều cho thấy nguyên nhân, triệu chứng mày đay ở trẻ em cũng tương tựngười lớn Bệnh tập trung nhiều ở lứa tuổi sơ sinh đến 9 tuổi Chỉ có một sốkhác biệt nhỏ ở mày đay trẻ em so với người lớn Nhiều tác giả đã nhận thấymối liên quan giữa mày đay và tình trạng nhiễm khuẩn ở trẻ Theo Liu vàcộng sự, nhiễm khuẩn là nguyên nhân hàng đầu gây ra mày đay ở trẻ em(chiếm 48,8%) [4] Một nghiên cứu trước đây chỉ ra rằng 30% trẻ em bị màyđay là do virus [44], và ở một nghiên cứu khác thì con số này lên đến 79,5%[45] Bằng phương pháp phân lập đã xác nhận sự có mặt của
Cytomegatovirus, Herpes simplex 1, virus cúm A trong huyết thanh của trẻ
đang mắc mày đay cấp Xét nghiệm huyết thanh học cũng đã xác định được
các virus như Enterovirus, Parvovirus, Epstein-Barr virus [45] Ngoài ra, liên cầu khuẩn nhóm A tan máu beta, Mycoplasma pneumoniae cũng được nhắc
đến với như là nguyên nhân gây bệnh mày đay ở trẻ em [45]
1.2.2 Lâm sàng
Trang 26Các thương tổn cơ bản ở trẻ em giống với người lớn Ban dát đỏ, sẩnphù, kích thước 1-8 cm, màu đỏ hoặc màu trắng với viền đỏ xung quanh, đahình thái, hình tròn, ovan hoặc đa cung, ranh giới rõ với vùng da lành xungquanh Các thương tổn khu trú hoặc lan rộng thành từng mảng lớn, phân bốkhắp nơi trên cơ thể, tồn tại dưới 24 giờ Tổn thương gây ngứa nhiều khiến trẻrất khó chịu, mệt mỏi, quấy khóc, mất ăn, mất ngủ, ảnh hưởng nhiều đến sứckhỏe và học tập
Khoảng 15% trẻ em mắc mày đay có kèm theo phù mạch Vị trí xuấthiện thường ở mi mắt, môi, lưỡi, đầu chi Cần đặc biệt chú ý những trườnghợp mày đay kèm theo triệu chứng chỉ điểm có tổn thương phù mạch ở các cơquan nội tạng Khi trẻ có dấu hiệu tổn thương đường hô hấp như viêm longđường hô hấp trên, khò khè, thở rít và các dấu hiệu của phản ứng quá mẫnnhư mất ý thức, trụy tim mạch, các dấu hiệu nặng đường tiêu hóa như đaubụng, tiêu chảy cần cho trẻ nhập viện ngay để điều trị, tránh các biến chứngxấu của bệnh
1.2.3 Cận lâm sàng
Ngoài những xét nghiệm tương tự người lớn, cần chú ý đến những kếtquả cận lâm sàng nhằm đánh giá tình trạng nhiễm trùng ở trẻ:
- Công thức máu, máu lắng, CRP
- Tổng phân tích nước tiểu
Trang 27Điều trị kháng sinh ở trẻ có tình trạng nhiễm khuẩn với biểu hiện nhưviêm long đường hô hấp trên, khò khè, đau họng, rối loạn tiêu hóa, tiểu buốt,tiểu rắt…
Điều trị triệu chứng bệnh mày đay bằng thuốc
Nhiều nhà lâm sàng sử dụng kháng histamin thế hệ 1 là lựa chọn đầu tiêntrong điều trị các bệnh dị ứng ở trẻ em vì sự an toàn của các thuốc này đượcbiết rõ hơn các thuốc kháng histamin thế hệ 2 mới vì thời gian sử dụng trênthực hành lâm sàng lâu hơn Cũng vì thế, ở một số quốc gia, thuốc khánghistamin H1 thế hệ 2 mới không được cấp phép để sử dụng ở trẻ em dưới 6tháng tuổi Trong khi đó, có khuyến cáo sử dụng kháng histamin H1 thế hệ 1mặc dù các chỉ số đánh giá lâm sàng của các công ty dược phẩm trên cácthuốc này chưa được chặt chẽ Nhiều bác sĩ chọn kháng histamin H1 thế hệ 1
do tính an toàn hơn so với kháng histamin H1 thế hệ 2 Tuy nhiên, cũng cókhuyến cáo không sử dụng kháng histamin H1 thế hệ 1 trên trẻ sơ sinh và trẻnhỏ Vì thế lúc này lựa chọn đầu tiên trong điều trị mày đay ở trẻ em vẫn làkháng histamin H1 thế hệ 2 và phác đồ tăng liều được xem xét như ở ngườilớn Chỉ một số thuốc được chứng minh có tác dụng và an toàn với trẻ em nhưcetirizin [46], desloratadin [47], fexofenadin [48], levecetirizin [49], rupatadin[50], bilastin [51] và loratadin [46] Thêm vào đó, lựa chọn kháng histaminthế hệ 2 ở trẻ nhỏ phụ thuộc vào tuổi, tính sẵn có và không phải tất cả thuốcđều có sẵn dạng siro, dễ hấp thu đối với trẻ Tuổi thấp nhất được cho phép sửdụng các thuốc này thay đổi theo từng quốc gia
Thuốc kháng histamin H1 (diphenhydramin) được sử dụng dưới dạngđường tĩnh mạch hoặc đường uống bằng viên giải phóng nhanh
Thuốc kháng histamin H2 được cân nhắc ở những bệnh nhân có tìnhtrạng phản ứng mẫn cảm
Liều duy nhất epinephrin giúp giải quyết nhanh tình trạng mày đay ở trẻ,nhưng do tác dụng ngắn nên có thể cân nhắc liều thứ 2
Trang 28Nếu các tổn thương mày đay không mất sau 2 giờ dùng thuốc, hoặc xuấthiện thêm các triệu chứng khác, có thể dùng thêm corticoid toàn thân(prednisone 1 mg/kg/ngày) không quá 5 ngày để tránh các tác dụng khôngmong muốn của thuốc đối với trẻ.
1.3 Một số nghiên cứu về bệnh mày đay ở trẻ em
Nghiên cứu Liu TH, Lin YR, Yang KC và cộng sự về trẻ em mắc màyđay cấp tính lần đầu tại các đơn vị cấp cứu nhi khoa và đơn vị điều trị ngoạitrú từ tháng 1/2000 đến 12/2006 ở 953 trẻ dưới 18 tuổi cho thấy bệnh màyđay gặp ở mọi lứa tuổi Nguyên nhân gây bệnh mày đay rất đa dạng, mỗinguyên nhân đặc trưng ở mỗi lứa tuổi khác nhau, đặc biệt những nguyên nhângây bệnh mày đay đã được xác định có xu hướng tập trung chủ yếu ở trẻ dưới
7 tuổi Tỉ lệ mày đay nhiễm khuẩn chiếm 48,4% số ca nhập viện, nguyên nhânchính là nhiễm khuẩn đường hô hấp trên Tỉ lệ này giảm dần theo lứa tuổi, trẻnhỏ (56,5%), tiền học đường (51,2%), học đường (42,1%) và thanh thiếu niên(17,1%) [4]
Nghiên cứu Tang N, Mao MY và cộng sự tại khoa da liễu bệnh việnXiangya thuộc trường đại học phía nam trung tâm từ tháng 1/2013 đến tháng5/2017 cho thấy trong số 411 trẻ em bị bệnh mày đay có 314 trẻ bị mày đaycấp tính (76,4%), nguyên nhân nhiễm trùng có tỉ lệ cao nhất chiếm 41%.Triệu chứng kèm theo chủ yếu là đau bụng và tiêu chảy (44%) Những trẻ bịviêm da cơ địa dễ bị mày đay hơn [52]
Nghiên cứu khác của Bilbao A và cộng sự năm 1999 tại khoa cấp cứunhi trên 44 trẻ từ 1 đến 12 tuổi bị mày đay cấp kèm theo biểu hiện nhiễmtrùng hoặc sốt Kết quả cho thấy có 22 trẻ ở độ tuổi 1 đến 2 tuổi (50%) Có 40trẻ (90,9%) có biểu hiện nhiễm trùng đường hô hấp, trong đó chỉ 4 trẻ đượcchẩn đoán xác định viêm phổi, 4 trẻ còn lại có biểu hiện nhiễm trùng đườngtiêu hóa (9,1%) Căn nguyên virus được tìm thấy ở 35 trẻ (79,5%) Có 38,6%
Trang 29trẻ có phù mạch kèm theo Trước khi có biểu hiện mày đay, 21 trẻ (47,7%) đãđiều trị kháng sinh và khi được sử dụng lại kháng sinh nghi ngờ thì không cóbất kì tác dụng phụ nào [45].
Trang 30Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
- Tất cả các bệnh nhân từ 0-15 tuổi được chẩn đoán xác định bệnh màyđay và điều trị nội trú tại Bệnh viện Da liễu Trung ương từ tháng 08/2018 đếntháng 04/2019
- Tiêu chuẩn lựa chọn:
o Tuổi: 0-15 tuổi
o Tổn thương cơ bản của mày đay (tiêu chuẩn bắt buộc):
+ Ban hình dạng thay đổi với sẩn phù ở giữa, bao quanh bởi một quầng đỏ.+ Cảm giác ngứa, đôi khi bỏng rát
+ Xuất hiện và biến mất trong vòng 30 phút đến 24 giờ trên nền da lành
o Có thể có tổn thương phù mạch kèm theo:
+ Sẩn phù đỏ hoặc thay đổi màu sắc da xuất hiện đột ngột, rõ rệt ở vùng hạ bì,dưới da hoặc màng nhầy
+ Cảm giác đau, bỏng rát nổi trội hơn là ngứa
+ Biến mất chậm hơn so với ban mày đay (có thể kéo dài tới 72 giờ)
o Và/ hoặc các triệu chứng khác: ngứa, sốt, khò khè, khó thở, đau họng, đaubụng, tiêu chảy
o Cận lâm sàng: đầy đủ các xét nghiệm đánh giá tình trạng nhiễm trùng gồmtổng phân tích tế bào máu ngoại vi và/hoặc máu lắng và/hoặc CRP
- Tiêu chuẩn loại trừ:
o Sẩn phù kéo dài trên 24 giờ
o Phù mạch đơn thuần
o Các bệnh nhân không được làm xét nghiệm đầy đủ: tổng phân tích tế bào máungoại vi, CRP, máu lắng
Trang 312.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp nghiên cứu
Mô tả cắt ngang, tiến cứu
2.2.2 Thời gian nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 08 năm 2018 đến tháng 04 năm 2019
2.2.3 Địa điểm nghiên cứu
Khoa Bệnh da phụ nữ và trẻ em, Bệnh viện Da liễu Trung ương
2.2.4 Cỡ mẫu nghiên cứu
Cỡ mẫu thuận tiện Lấy mẫu toàn bộ bệnh nhân từ 0-15 tuổi được chẩnđoán xác định bệnh mày đay cấp tính, mày đay mạn tính và điều trị nội trú trongthời gian từ tháng 08/2018 đến tháng 04/2019 tại bệnh viện Da liễu Trung ương
Kết quả thu được 73 bệnh nhân đủ tiêu chuẩn lựa chọn
2.2.5 Các bước tiến hành nghiên cứu
2.2.5.1 Lập mẫu bệnh án nghiên cứu (phụ lục 1)
Chúng tôi tiến hành thu thập các thông tin của bệnh nhân
Trang 32Tiền sử dị ứng thức ăn
Tiền sử dị ứng thời tiết
Tiền sử viêm mũi dị ứng
Tiền sử hen phế quản
Tiền sử viêm da atopy
Tiền sử dị ứng trong gia đình
- Triệu chứng xuất hiện đầu tiên
Tiểu buốt, tiểu rắt
Viêm loét, bọng nước trên da
Đau, sưng nề, chảy dịch tai
Trang 33Đau răng, viêm lợi
- Cận lâm sàng
Bạch cầu
Máu lắng, CRP
GOT, GPT, creatinin, ure
Điện giải đồ Na, K, Cl
Tổng phân tích nước tiểu
X-quang phổi (bệnh nhân có triệu chứng viêm long đường hô hấp trên,khò khè, khó thở, thở rít, sốt)
- Thu thập kết quả xét nghiệm cận lâm sàng
- Mỗi bệnh nhân thuộc đối tượng nghiên cứu được hỏi bệnh, ghi nhận các chỉtiêu có trong bộ câu hỏi, đảm bảo tính trung thực và khách quan
• Xử lý số liệu
- Các tính toán sử dụng phần mềm SPSS 20.0
- Các biến rời rạc được mô tả bằng tần suất, tỉ lệ %
- Các biến liên tục được mô tả bằng giá trị trung bình
Trang 34- Các test thống kê được sử dụng là kiểm định T-test, test chính xác Fisher(Fisher exact test), test χ2.
- Sự khác biệt giữa hai nhóm nghiên cứu có ý nghĩa thống kê nếu p <0,05
2.3 Các biến số trong nghiên cứu
Bảng 2.1 Các biến số trong nghiên cứu
Tuổi
trung
bình
Tuổi trungbình
Trung bình tuổi của các
bệnh nhân
Trung bìnhcộng của tuổi
Địnhlượng
Nhóm
tuổi
<1 tuổi1-5 tuổi6-12 tuổi
>12 tuổi
Tuổi được tính từ lúc
đủ tuổi trong ngày sinhnhật đến trước ngàysinh nhật tiếp theo 1ngày
Tiền sử
dùng
thuốc
- Thuốc kháng sinh đường uống
- Thuốc tiêm không rõ loại
- Thuốc bôi không rõ loại
Các thuốc được dùngtrong vòng 3 thángtrước khi bị bệnh màyđay
Số lượngbệnh nhân
Địnhlượng
% bệnh nhân Địnhtính
Trang 35Dị ứng thức ăn: tương
tự dị ứng thuốc trong
đó thức ăn là khángnguyên trực tiếp hoặcgián tiếp
Dị ứng thời tiết: làphản ứng bất lợi của cơthể với thời tiết nónghoặc lạnh quá mức
Viêm da atopy: lànhững biểu hiện tổnthương trên da ở mộtbệnh nhân có cơ địa dịứng, đặc trưng bởinhững dấu hiệu lâmsàng của hiện tượngquá mẫn tức thì và quámẫn muộn
Hen phế quản: viêmmạn tính niêm mạc phếquản làm tăng phản
Số lượngbệnh nhânmỗi nhóm
Địnhlượng
% mỗi nhóm Định
tính
Trang 36ứng thường xuyên vớitác nhân kích thích, cothắt cơ trơn phế quản.
Sự co thắt có thể phụchồi
Viêm mũi dị ứng: viêmmạn tính niêm mạc
Số lượngbệnh nhân
Địnhlượng
Trung bìnhcộng số ngày
Địnhlượng
Trang 37sở y tế hoặc tự muahoặc không điều trị gì
Số lượngbệnh nhânmỗi nhóm
Địnhlượng
% có,
% không
Địnhtính
% có,
% không
Địnhtính
Số bệnh nhânmỗi nhóm
Địnhlượng
Sốt vừa:>38°C đến39°C
Sốt cao:>39°C
Số bệnh nhânmỗi nhóm
Địnhlượng
% mỗi nhóm Định
tính
Trang 38Nhiễm trùng tiêu hóa:
đau bụng, nôn, tiêuchảy
Nhiễm trùng tiết niệu:
tiểu buốt, tiểu rắt
Nhiễm trùng tai mũihọng: đau, sưng nề,chảy dịch tai
Nhiễm trùng da: bọngnước, rỉ dịch, vảy tiết,ngứa
Nhiễm trùng răng hàmmặt: đau răng, sưng nề,chảy mủ, hơi thở hôi
Số bệnh nhânmỗi nhóm
Địnhlượng
- Bạch cầu tăng theo lứa tuổi
%bình thường
% tăng
Địnhtính
Máu lắng
- Máu lắng bình thường1h<10mm và
2h<20mm
- Máu lắng tăng:
1h ≥10mm và/hoặc 2h ≥ 20mm
%bình thường
% tăng
Địnhtính
% tăng
Địnhtính
Trang 395,5 pH bất thường < 5,5
%bình thường
%bất thường
Địnhtính
Bạch cầu
- Bạch cầu bình thường(-)
- Bạch cầu bất thường (+)
%bình thường
%bất thường
Địnhtính
Nitrit - Nitrit bình thường (-)
- Nitrit bất thường (+)
%bình thường
%bất thường
Địnhtính
Protein
- Protein bình thường (-)
- Protein bất thường (+)
%bình thường
%bất thường
Địnhtính
Hồng cầu
-Hồng cầu bình thường (-)
-Hồng cầu bất thường (+)
%bình thường
%bất thường
Địnhtính
- Siêu âm ổ bụng bình thường,
- Siêu âm ổ bụng bất thường
%bình thường
%bất thường
Địnhtính
X-quang - X-quang bình thường,
- X-quang bất thường
%bình thường
%bất thường
ĐịnhtínhChẩn
có triệu chứng nhiễmtrùng trên lâm sàng và/
hoặc có kết quả cậnlâm sàng bạch cầu tăng,
% mỗi nhóm Định
tính
Trang 40- Không rõ
- Không nhiễmtrùng
CRP tăng ≥ 20mg/dlhoặc có dấu hiệu nhiễmtrùng trong kết quảtổng phân tích nướctiểu, X-quang ngực,siêu âm ổ bụng
2.4 Đạo đức trong nghiên cứu
- Tất cả bệnh nhân đều tham gia nghiên cứu một cách tự nguyện, được sự đồng
ý của người giám hộ
- Tất cả thông tin liên quan đến bệnh nhân tham gia nghiên cứu đều được giữ bímật
- Các số liệu được thu thập trung trực, các kết quả được xử lý và phân tích theophương pháp khoa học