1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá sự tham gia của cộng đồng dân tộc Mông trong công tác giảm nghèo tại xã Cán Cấu, huyện Si Ma Cai, tỉnh Lào Cai

110 58 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 1,45 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sự tham gia của cộng đồng dân tộc Mông trong giảm nghèo còn hạn chế. Vì vậy, việc phân tích thực trạng và xác định các yếu tố ảnh hưởng nhằm đề xuất một số giải pháp tăng cường sự tham gia của cộng đồng dân tộc Mông ở xã Cán Cấu trong các hoạt động giảm nghèo có hiệu quả đảm bảo cho phát triển bền vững là vấn đề cấp thiết hiện nay. Xuất phát từ những lý do trên, tôi chọn đề tài: “Đánh giá sự tham gia của cộng đồng dân tộc Mông trong công tác giảm nghèo tại xã Cán Cấu, huyện Si Ma Cai, tỉnh Lào Cai”.Tỷ lệ thành viên cộng đồng tiếp cận được thông tin của các chương trình dự án giảm nghèo trong lĩnh vực VH­XH.Tỷ lệ thành viên trong cộng đồng than gia xác định nhu cầu thiết yếu về VH­XH để giảm nghèo.Tỷ lệ thành viên trong cộng đồng tham gia lập kế hoạch trong các chương trình giảm nghèo.Tỷ lệ thành viên trong cộng đồng tham gia trực tiếp thực hiện chương trình giảm nghèo.

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng: số liệu và kết quả nghiên cứu trong khóa luận là trung thực và chƣa từng đƣợc sử dụng để bảo vệ một học vị nào Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện khóa luận này đã đƣợc cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã đƣợc ghi rõ nguồn gốc Nếu có bất kỳ vi phạm quyền tác giả hay có tranh chấp nào xảy ra tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm

Hà Nội, ngày 02 tháng 07 năm 2019

Sinh viên

Lù A Cống

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành khóa luận này ngoài sự cố gắng nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy cô giáo, bạn bè người thân, các cá nhân và các cơ quan Trước tiên, tôi xin trân trọng cảm ơn toàn thể các thầy cô giáo Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn, Học viện Nông Nghiệp Việt Nam đã truyền đạt cho tôi những kiến thức cơ bản và tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành sâu sắc tới ThS Hoàng Thị Hằng giảng viên bộ môn Bộ môn Kinh tế Tài nguyên và Môi trường, Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn, Học viện Nông Nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp đỡ và hướng dẫn tôi trong suốt thời gian tôi học tập cũng như hoàn thành khóa luận

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành sâu sắc nhất tới bạn bè, người thân, gia đình, đồng nghiệp đã hết sức giúp đỡ tôi trong suốt thời gian tôi học tập và hoàn thành khóa luận

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành sâu sắc tới UBND xã Cán Cấu và cộng đồng dân tộc Mông ở xã Cán Cấu đã hết sức giúp đỡ tôi trong thời gian tôi thực tập, thu thập số liệu và điều tra khảo sát tại địa phương

Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 02 tháng 07 năm 2019

Sinh viên

Lù A Cống

Trang 3

TÓM TẮT KHÓA LUẬN

Giảm nghèo là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta, từ những thành tựu

to lớn của công tác giảm nghèo đã góp phần tăng trưởng kinh tế và thực hiện công bằng xã hội cho đất nước Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn rất nhiều hạn chế: thu nhập của người dân chủ yếu là xoay quanh mức cận nghèo, kết quả giảm nghèo thì không được bền vững, đặc biệt với những vùng cao, vùng dân tộc thiểu số (đặc biệt người dân tộc Mông) thì giảm nghèo lại chưa đạt được kết quả như mong muốn Nguyên nhân chính của kết quả đó là do sự tham gia của cộng đồng vào giảm nghèo còn quá hạn chế Họ gần như chỉ tham gia một cách thụ động chứ chưa tham gia một cách toàn diện và chủ động Vấn đề đặt ra là phải làm thế nào để người dân tích cực tham gia vào các hoạt động giảm nghèo, để họ tham gia một cách chủ động và đầy đủ Vì chỉ có như thế thì công tác giảm nghèo mới đạt được hiệu quả

và bền vững

Cán Cấu là xã khó khăn về nhiều mặt, sản xuất nông nghiệp vẫn là ngành chính, trong đó chủ yếu là độc canh cây ngô và cây lúa, kinh tế chưa phát triển tỷ lệ hộ nghèo xã Cán Cấu năm 2018 giảm xuống còn 11,3% Tuy nhiên, trong xã dân cư chủ yếu là đồng bào người dân tộc Mông sinh sống và chiếm đa số Đời sống bà con còn rất nhiều khó khăn Trong những năm qua sự nghèo đói vẫn luôn bám theo họ cho đến tận bây giờ vẫn chưa có các biện pháp hiệu quả và bền vững Đặc biệt công tác giảm nghèo xã triển khai xuống còn quá hạn chế, chưa tập trung vào các nhu cầu thiết yếu của cộng đồng, chưa huy động được người dân tích cực tham gia vào các hoạt động Bên cạnh đó là trình độ của cán bộ còn thấp, nhận thức của người dân còn chậm, địa hình giao thông đi lại khó khăn cũng làm cho công tác giảm nghèo của xã đạt hiệu quả chưa cao

Qua nghiên cứu trên địa bàn xã, ta có thể thấy rằng sự tham gia của người dân vào giảm nghèo trong các chương trình mục tiêu quốc gia còn chưa cao Nguyên nhân chính là do trình độ của cán bộ triển khi các hoạt động dự án còn hạn chế và một số công trình CSHT là không phù hợp Về các hoạt động phát triển kinh

Trang 4

tế hộ thì người dân tham gia hết sức tích cực tuy nhiên kết quả chưa đáng kể Nguyên nhân cần phải kể đến đó là trình độ dân trí còn thấp, chưa kiên cố đã dẫn đến việc trồng trọt, chăn nuôi không đạt hiệu quả Ngoài ra cũng cần kể đến các hoạt động như hoạt động gìn giữ phong tục tập quán, hoạt động tương trợ cộng đồng thì cộng đồng dân tộc Mông đã nỗ lực rất nhiều để có thể tạo điều kiện tốt nhất cho công tác giảm nghèo Cụ thể họ tham gia lễ hội Gầu tào, lễ cúng rừng để

có động lực về tinh thần sau một năm lao động vất vả, họ đổi công cho nhau vừa làm tăng hiệu quả sản xuất, vừa tăng tính đoàn kết dân tộc Khi được hỏi thì gần như 100% người dân ở đây cho rằng: họ sẵn sàng đóng góp và tham gia các lễ hội truyền thống của dân tộc vừa để giao lưu trao đổi, vừa giữ gìn được phong tục tập quán của dân tộc mình

Qua đây ta có thể thấy rằng bộ phận lớn người dân ở đây rất muốn mình được tham gia một cách đầy đủ và toàn diện, tuy nhiên đã có rất nhiều nguyên nhân làm giảm sự tham gia của cộng đồng dân tộc Mông trong các hoạt động giảm nghèo Vậy vấn đề cấp thiết được đặt ra đó là: Các cấp chính quyền từ trung ương đến địa phương cần đưa ra các giải pháp để tăng cường sự tham gia của người dân trong các hoạt động giảm nghèo Cụ thể đối với nhà nước cần tiếp tục thực hiện các CT,

DA đang có, cải cách cách thức thực hiện cũng như huy động nguồn lực cho phù hợp với địa phương, từng hạng mục công trình Cần tăng cường các hỗ trợ PTKT, giảm nghèo cho các vùng kinh tế khó khăn, vùng sâu, vùng xa Hỗ trợ cơ bản cho đối tượng chính là hộ nghèo, dân tộc Mông, những người gặp rủi ro, người không

có khả năng cải thiện đời sống của mình xuất phát từ nhu cầu thực tiễn của họ tức

là hỗ trợ cái họ cần thiết nhất Đối với cấp xã, thôn đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho cán bộ và các tổ chức kinh tế, chính trị xã hội về mục đích, vai trò và ý nghĩa của việc huy động sự tham gia của cộng đồng vào các hoạt động kinh tế để giảm nghèo Đối với cộng đồng phải nhận thức đúng đắn giảm nghèo nhanh không chỉ là trách nhiệm của cộng đồng mà phải có sự nỗ lực tự giác vươn lên của chính bản thân hộ nghèo

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

TÓM TẮT KHÓA LUẬN iii

MỤC LỤC v

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT viii

DANH MỤC BIỂU ĐỒ x

PHẦN I MỞ ĐẦU 1

1.1 Tính cấp thiết 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.2.1 Mục tiêu chung 2

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 3

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 3

PHẦN II CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 4

2.1 Cơ sở lý luận 4

2.1.1 Một số khái niệm liên quan 4

2.1.2 Vai trò của sự tham gia của cộng đồng dân tộc trong giảm nghèo 7

2.1.3 Nội dung sự tham gia của cộng đồng dân tộc trong các hoạt động giảm nghèo 9

2.1.4 Những yếu tố ảnh hưởng sự tham gia của cộng đồng dân tộc trong giảm nghèo 15

2.2 Cơ sở thực tiễn 20

2.2.1 Kinh nghiệm về sự phát huy của cộng đồng dân tộc thiểu số trong giảm nghèo trên thế giới 20

2.2.2 Kinh nghiệm về sự tham gia của cộng đồng dân tộc thiểu số trong giảm nghèo tại Việt Nam 22

2.2.3 Một số hoạt động liên quan tại địa phương 28

Trang 6

2.2.4 Một số bài học kinh nghiệm rút ra về sự tham gia của cộng đồng trong

các chương trình giảm nghèo 29

2.2.5 Chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về huy động sự tham gia của cộng đồng các dân tộc thiểu số trong các chương trình giảm nghèo 30

PHẦN III ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33

3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 33

3.1.1 Điều kiện tự nhiên 33

3.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội 34

3.2 Phương pháp nghiên cứu 40

3.2.1 Chọn điểm nghiên cứu 40

3.2.2 Phương pháp thu thập số liệu 41

3.2.3 Phương pháp xử lý số liệu 43

3.2.4 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 44

PHẦN IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 45

4.1 Thực trạng tham gia cộng đồng dân tộc Mông trong giảm nghèo tại xã Cán Cấu 45

4.1.1 Sự tham gia của cộng đồng dân tộc Mông trong chương trình giảm nghèo 45

4.1.2 Sự tham gia của cộng đồng dân tộc Mông trong những hoạt động kinh tế hộ 51

4.1.3 Sự tham gia của cộng đồng dân tộc Mông trong tương trợ cộng đồng .58

4.1.4 Sự tham gia của cồng đồng dân tộc Mông trong giữ gìn phong tục tập quán, xóa bỏ hủ tục 59

4.2 Yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của cộng đồng dân tộc Mông trong giảm nghèo ở xã Cán Cấu 60

4.2.1 Nhóm yếu tố bên trong cộng đồng dân tộc 60

4.2.2 Nhóm yếu tố bên ngoài 62

4.3 Giải pháp tăng cường sự tham gia của cộng đồng dân tộc Mông trong giảm nghèo 67

4.3.1 Nâng cao năng lực, ý thức của các thành viên cộng đồng 67

4.3.2 Giải pháp tăng cường sự tham gia của cộng đồng dân tộc Mông trong các hoạt động phát triển kinh tế xã hội để giảm nghèo 70

Trang 7

4.3.3 Cải thiện chính sách 73

4.3.4 Nâng cao năng lực cho cán bộ 74

4.3.5 Hỗ trợ khi người dân gặp thiên tai 75

4.3.6 Nâng cao khả năng tiếp cận nguồn lực cho cộng đồng 75

4.3.7 Một số giải pháp trong hoạt động giảm nghèo 76

4.3.8 Giải pháp phát huy vai trò của người Mông trong hoạt động giảm nghèo 78

PHẦN V KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 80

5.1 Kết luận 80

5.2 Kiến nghị 81

TÀI LIỆU THAM KHẢO 83

PHỤ LỤC 85

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1 Tình hình sử dụng đất đai của xã Cán Cấu 35

Bảng 3.2 Tình hình nhân khẩu và lao động của xã Cán Cấu 36

Bảng 3.3 Tình hình cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất xã Cán Cấu 38

Bảng 3.4 Tốc độ tăng trưởng kinh tế và giá trị sản xuất trồng trọt và tiểu thủ công nghiệp 40

Bảng 3.5 Mẫu điều tra dân tộc Mông tại xã Cán Cấu theo thu nhập 42

Bảng 3.6 Căn cứ lựa chọn hộ nghèo, cận nghèo và hộ trung bình 43

Bảng 4.1 Tỷ lệ hộ nghèo của xã Cán Cấu 2016-2018 45

Bảng 4.2 Số hộ tham gia đóng góp xây dựng CSHT 47

Bảng 4.3 Đánh giá của người dân về mức đóng góp vào xây dựng CSHT 47

Bảng 4.4 Hình thức tham gia đóng góp vào xây dựng CSHT 48

Bảng 4.5 Thực trạng tham gia trong các chương trình chính sách hỗ trợ phát triển 49

Bảng 4.6 Thực trạng tham gia trong các chương trình chính sách hỗ trợ phát triển 50

Bảng 4.7 Các loại cây trồng của hộ điều tra 52

Bảng 4.8 Năng suất cây trồng chính của hộ 1 vụ/năm 52

Bảng 4.9 Thay đổi kĩ thuật canh tác, sử dụng giống cây trồng mới 53

Bảng 4.10 Diện tích của các cây trồng chính của hộ 54

Bảng 4.11 Các loại vật nuôi chính 55

Bảng 4.12 Số lượng và giá trị vật nuôi tại xã 55

Bảng 4.13 Thay đổi kĩ thuật chăn nuôi, sử dụng giống vật nuôi mới 56

Bảng 4.14 Các hoạt động đa dạng hóa thu nhập 57

Bảng 4.15 Sự tham gia vào hoạt động tương tương trợ cộng đồng 58

Bảng 4.16 Sự tham gia vào hoạt động giữ gìn phong tục tập quán 59

Bảng 4.17 Trình độ văn hóa của các hộ điều tra 61

Bảng 4.18 Khả năng tiếp cận với các nguồn vốn ngân hàng 63

Bảng 4.19 Đánh giá năng lực cán bộ cấp xã của các hộ điều tra 65

Trang 10

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 4.1 Tỷ lệ sử dụng giống cây trồng, thay đổi kĩ thuật canh tác mới

của các hộ 53 Biểu đồ 4.2 Tỷ lệ thay đổi giống vật nuôi, thay đổi kĩ thuật nuôi mới của các hộ 56 Biểu đồ 4.3 Tỷ lệ người dân tiếp cận với các nguồn vốn ngân hàng 64

Trang 11

và người nghèo chưa thực sự vươn lên để thoát nghèo Đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa có điều kiện khó khăn

Để đảm bảo cho sự thành công của công tác giảm nghèo thì việc huy động và

sử dụng hợp lý các nguồn lực là rất quan trọng, đặc biệt là sự tham gia của cộng đồng các dân tộc thiểu số Cộng đồng là nơi liên kết những người dân với nhau, giữa người dân với các tổ chức và giữa các tổ chức với nhau trong cộng đồng Cộng đồng các dân tộc phối hợp cùng nhà nước giải quyết các vấn đề xã hội trong

đó có giảm nghèo Thực tiễn cho thấy ở địa phương nào có sự tham gia chặt chẽ của cộng đồng các dân tộc trong các chương trình giảm nghèo thì hiệu quả giảm nghèo càng rõ rệt tại địa phương đó Sự giúp đỡ của cộng đồng trực tiếp và kịp thời

là nhân tố tạo nên sự bền vững (Đỗ Kim Chung, 2010)

Xã Cán Cấu chủ yếu là cộng đồng dân tộc Mông sinh sống có điều kiện kinh

tế xã hội rất khó khăn, kinh tế kém phát triển, tỷ lệ hộ nghèo cao (Dân tộc Mông chiếm 96,4%, còn lại là dân tộc Kinh, Dao, Nùng ) Tính đến tháng 11 năm 2018

tỷ lệ nghèo giảm xuống còn 11.2% (UBND xã Cán Cấu, 2018), Các chương trình, chính sách hỗ trợ giảm nghèo như chương trình 135, Nghị quyết 30a, Nghị quyết

Trang 12

22 của tỉnh ủy về hỗ trợ nhân dân mọi mặt để phát triển sản xuất tăng thu nhập hộ gia đình, CT MTQG về xây dựng NTM,… đã góp phần nâng cao đời sống cho người dân, làm giảm đáng kể tỷ lệ nghèo của xã Song kết quả giảm nghèo chưa bền vững, tái nghèo thường xuyên xảy ra ở cộng đồng dân tộc Mông Sự tham gia của cộng đồng dân tộc Mông vào hoạt động giảm nghèo còn hặn chế do nhiều phong tục tập quán lạc hậu vẫn còn duy trì, chậm thay đổi Tình trạng trông chờ, ỷ lại vào nhà nước, không cố gắng thoát nghèo và người dân vượt biên trái phép đi Trung Quốc làm thuê gia tăng Một trong những nguyên nhân của hiện trạng này là

do cộng đồng dân tộc Mông chưa phát huy hết vai trò của mình trong giải quyết vấn đề giảm nghèo Sự tham gia của cộng đồng dân tộc Mông trong giảm nghèo còn hạn chế Vì vậy, việc phân tích thực trạng và xác định các yếu tố ảnh hưởng nhằm đề xuất một số giải pháp tăng cường sự tham gia của cộng đồng dân tộc Mông ở xã Cán Cấu trong các hoạt động giảm nghèo có hiệu quả đảm bảo cho phát triển bền vững là vấn đề cấp thiết hiện nay

Xuất phát từ những lý do trên, tôi chọn đề tài: “Đánh giá sự tham gia của cộng đồng dân tộc Mông trong công tác giảm nghèo tại xã Cán Cấu, huyện Si

Ma Cai, tỉnh Lào Cai”

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

1.2.1 Mục tiêu chung

Đánh giá thực trạng tham gia của cộng đồng dân tộc Mông trong công tác giảm nghèo tại xã Cán Cấu, huyện Si Ma Cai, tỉnh Lào Cai từ đó đề xuất giải pháp nhằm tăng cường sự tham gia của cộng đồng dân tộc Mông trong công tác giảm nghèo

Trang 13

- Phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới sự tham gia của cộng đồng dân tộc Mông trong công tác giảm nghèo trên địa bàn;

- Đề xuất giải pháp để tăng cường sự tham gia của cộng đồng dân tộc Mông trong công tác giảm nghèo trên địa bàn;

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu sự tham gia của người dân tộc Mông trong giảm nghèo tại

xã Cán Cấu, huyện Si Ma Cai, tỉnh Lào Cai;

Đối tượng điều tra là các cán bộ cơ quan lãnh đạo, quản lý, thực thi các chính sách giảm nghèo, người dân và các bên liên quan trong giảm nghèo tại địa phương

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nội dung: sự tham gia của người dân tộc Mông trong công tác giảm nghèo Phạm vi thời gian: số liệu được thu thập qua 3 năm 2016-2018

Thời gian thực hiện đề tài: Tháng 3/2019 đến 6/2019

Phạm vi không gian: Đề tài được nghiên cứu trên địa bàn xã Cán Cấu, huyện

Si Ma Cai, tỉnh Lào Cai

Trang 14

PHẦN II CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

sở các nhóm nhỏ kiểm soát các mối quan hệ cá nhân; (2) có sự liên hệ chặt chẽ với nhau về tình cảm, cảm xúc khi cá nhân thực hiện được các công việc hoặc nhiệm

vụ cụ thể; (3) có sự hiến dâng về mặt tinh thần hoặc dấn thân thực hiện các giá trị

xã hội được cả xã hội ngưỡng mộ; (4) có ý thức đoàn kết tập thể Cộng đồng được hình thành trên cơ sở các mối liên hệ giữa cá nhân và tập thể dựa trên cơ sở tình cảm là chủ yếu; ngoài ra còn có các mối liên hệ tình cảm khác Cộng đồng có sự liên kết cố kết nội tại không phải do các quy tắc rõ ràng thành văn, mà do các quan

hệ sâu hơn, được coi như là một hằng số văn hóa (http://wikpedia.org, 2018) Cộng đồng một đơn vị quần cư nhỏ, là cấu trúc xã hội đồng nhất, có chung một mục đích và quy tắc (Arunagrawal và Clack C Gibson, 1999)

Theo Tô Duy Hợp và cộng sự (2000) thì cộng đồng là một thực thể xã hội có

cơ cấu tổ chức (chặt chẽ hoặc không chặt chẽ), là một nhóm người cùng chia sẻ và chịu sự ràng buộc bởi các đặc điểm và lợi ích chung được thiết lập thông qua tương tác và trao đổi giữa các thành viên

Theo Nguyễn Thanh (2009) cộng đồng là tập hợp công dân cư trú trong một khu vực địa lý, hợp tác với nhau về những lợi ích chung và chia sẻ giá trị văn hóa chung Phạm Hồng Tung (2009) cho rằng cộng đồng là nhóm người có sức bền cố kết nội tại cao, với những tiêu chí nhận biết và quy tắc hoạt động, ứng xử chung dựa trên sự đồng thuận về ý chí, tình cảm, niềm tin và ý thức cộng đồng, nhờ đó

Trang 15

các thành viên của cộng đồng cảm thấy có sự gắn kết giữa họ với cộng đồng và với các thành viên trong cộng đồng

Tóm lại, cộng đồng là một nhóm người có cùng ngôn ngữ, đặc trưng về văn hóa, kinh tế xã hội truyền thống, hình thức sản xuất, có ý thức cộng đồng và có mối quan hệ gắn bó với nhau tạo nên những đặc trưng cơ bản của cộng đồng

2.1.1.2 Khái niêm dân tộc

Dân tộc đồng nghĩa với cộng đồng mang tính tộc người, ví dụ: dân tộc Kinh, dân tộc Tày, dân tộc Ba Na,… Cộng đồng này có thể là bộ phận chủ thể hay thiểu

số của một dân tộc sinh sống ở nhiều quốc gia dân tộc khác nhau, được liên kết với nhau bằng những đặc điểm ngôn ngữ, văn hoá và nhất là ý thức tự giác tộc người (Từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam)

Dân tộc còn gọi là tộc người, là một hình thái đặc thù của một tập đoàn người, một tập đoàn xã hội, xuất hiện trong quá trình phát triển của tự nhiên và xã hội, được phân biệt bởi ba đặc trưng cơ bản: ngôn ngữ, văn hóa và ý thức tự giác về cộng đồng, mang tính bền vững qua hàng nghìn năm lịch sử (Nguyễn Hoài Văn, 2005)

Dân tộc (ethnic) là tập hợp những người có chung chủng tộc, dân tộc, tôn giáo hoặc đặc trưng văn hóa (The free dictionary, 2011) Dân tộc đồng nghĩa với tộc người Khái niệm này thường được liên hệ với dân tộc thiểu số

2.1.1.3 Khái niệm cộng đồng dân tộc thiểu số

Dân tộc chỉ một cộng đồng có mối liên hệ chặt chẽ và bền vững, có chung sinh hoạt kinh tế, có cùng ngôn ngữ, có những nét đặc thù về văn hóa; xuất hiện sau bộ lạc, bộ tộc; kế thừa phát triển cao hơn những nhân tố tộc người ở bộ lạc, bộ tộc; và thể hiện thành ý thức tự giác tộc người của dân cư tộc người đó

Như vậy, khái niệm dân tộc để chỉ các tộc người cụ thể như người Kinh, người Tày, người Nùng, người Mông… Dân tộc là một cộng đồng người có mối liên hệ gắn bó, bền vững, có chung ngôn ngữ, phong tục tập quán và ý thức tự giác cộng đồng

Cộng đồng các dân tộc: là những dân tộc, tộc người có sự liên kết gắn bó, có chung bản sắc văn hoá, do có chung nguồn gốc, sắc tộc, ngôn ngữ, y phục và sự tương

Trang 16

đồng về phong tục tập quán Những cộng đồng tộc có thể có chung địa bàn quần cư, có thể không, nhưng dù sinh sống xa khác nhau, họ vẫn có thể chia sẻ những đặc trưng văn hoá, phong tục tập quán và các yếu tố khác (Phạm Hồng Tung, 2009)

Dân tộc thiểu số là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Khoản 2 Điều 4 Nghị định 05/2011/NĐ-CP)

Tóm lại, cộng đồng dân tộc thiểu số được hiểu là những tộc người không phải người Kinh, có mối quan hệ gắn bó, cùng chung ngôn ngữ, bản sắc văn hóa và phong tục tập quán, hình thức sản xuất, có ý thức cộng đồng và chuẩn mực đạo đức tạo nên những đặc trưng cơ bản của cộng đồng dân tộc đó

2.1.1.4 Khái niệm về sự tham gia

Sự tham gia: Đây là một khái niệm gây khá nhiều tranh cãi xoay quanh vấn

đề vai trò của các bên liên quan của dự án (Clayton, 1997)

Khởi đầu, người ta xem sự tham gia của người dân chỉ đơn thuần là việc đóng góp sức lao động vào việc thực hiện các hoạt động của dự án Theo Okamura hình thức tham gia này của người dân chỉ đơn giản giới hạn trong việc thực thi các quyết định, kế hoạch, mục tiêu, và hoạt động được chính phủ hoặc các quan chức khác xây dựng trước (Okamura, Jonathan, 1986)

Sự tham gia có nghĩa là cùng thực hiện một hoạt động nào đó Hàng ngày con người “tham gia” vào sự phát triển của địa phương thông qua hoạt động sống của

cá nhân và gia đình, các hoạt động sinh kế và trách nhiệm đối với cộng đồng (Trường Văn Tuyển, 2007) Không có một ví dụ đơn lẻ đúng đắn nào về sự tham gia Tuy nhiên, việc kiểm soát hoạt động và mức độ sự tham gia luôn là sự gắn kết một cách lâu dài, chủ động và có vai trò ngày càng cao vào quá trình phát triển Từ việc xác định vấn đề đến việc lập kế hoạch, thực hiện, giám sát, đánh giá các hoạt động nhằm nâng cao đời sống cộng đồng vào bảo đảm sự phân chia công bằng lợi ích của sự phát triển

Khái niệm về sự tham gia của người dân, mặc dù về nguyên tắc là tương tự nhau song không có khái niệm chung, hoặc mô hình chung nào được áp dụng cho

Trang 17

tất cả các chương trình, dự án Các tổ chức khác nhau có cách diễn giải về sự tham gia khác nhau và đây là công cụ để họ quyết định chiến lược và phương pháp cho hành động của họ Với Việt Nam phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” được nhấn mạnh, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay khi mối quan tâm của Đảng và Nhà nước là tạo mọi điều kiện cho người dân, cộng đồng hay các tổ chức tham gia trong quá trình tổ chức thực hiện các chương trình dự án Phương châm này cũng hoàn toàn phù hợp với cách diễn giải về sự tham gia của người dân của nhiều tổ chức quốc tế khi đầu tư cho các chương trình, dự án phát triển ở Việt Nam như Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) hay Ngân hàng thế giới (WB)

“Trong phát triển nông thôn sự tham gia của người dân bao gồm sự tham gia của họ trong quá trình ra quyết định, trong quá trình thực hiện các chương trình, dự án và các quyết định đó, trong chia sẻ lợi ích và trong đánh giá các chương trình, dự án” “Sự tham gia là quá trình trong đó các bên tham gia chia sẻ sự kiểm soát đối với các sáng kiến phát triển, các quyết định và các nguồn lực có ảnh hưởng đến họ”

Theo cách diễn giải trên, sự tham gia của người dân hay cộng đồng được thực hiện xuyên suốt trong chu trình một chương trình, dự án từ lập kế hoạch (thảo luận

về sự đóng góp, phân bổ nguồn lực, trách nhiệm, ra quyết định), tổ chức thực hiện, hưởng lợi, đánh giá và duy trì kết quả dự án

Sự tham gia của cộng đồng trong giảm nghèo bao gồm:

- Sự tham gia trong chương trình giảm nghèo: là các hoạt động xây dựng cơ

sở hạ tầng và các hoạt động hỗ trợ phát triển của Chính Phủ

- Sự tham gia trong phát triển kinh tế hộ: trồng trọt, chăn nuôi và các hoạt động đa đạng sinh kế khác (làm thuê, làm công ăn lương…)

- Sự tham gia trong tương trợ người nghèo: đổi công, cho công …

- Sự tham gia trong giữ gìn phong tục tập quán, xóa bỏ hủ tục tham gia các

lễ hội……

2.1.2 Vai trò của sự tham gia của cộng đồng dân tộc trong giảm nghèo

Qua nhiều công trình nghiên cứu đã chứng minh rằng trong nền kinh tế thị trường, cộng đồng dân tộc đóng vai trò quan trọng Cộng đồng dân tộc đã và đang

Trang 18

trở thành tác nhân tham gia quản lý xã hội, với các vai trò nổi bật như cung cấp dịch vụ; điều hoà mối quan hệ giữa Nhà nước và xã hội; tự quản, bảo vệ quyền lợi của các thành viên và xây dựng lòng tin

Phát triển KT đóng vai trò nòng cốt cho sự phát triển của toàn xã hội, còn phát triển VHXH lại đóng vai trò không thể thiếu của đời sống xã hội, nó đảm bảo cho đời sống tinh thần của mỗi thành viên trong xã hội; cả các hoạt động phát triển

KT và các hoạt động phát triển đều Vì vậy để giảm nghèo nhanh và bền vững cần phát triển đồng bộ cả KT và VH- XH

Thực tế cũng đã chứng minh vai trò quan trọng của cộng đồng các dân tộc trong giảm nghèo Theo Quyết định số 170/2005/QĐ­TTg ngày 8/7/2005 về việc ban hành chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2006-2010: Một khi đã nâng cao năng lực và trao quyền cho người dân trong cộng đồng các dân tộc thì cộng đồng hoàn toàn có khả năng huy động tất cả các năng lực và tài sản của mình vào các hoạt động phát triển KT mang lại lợi ích cho họ, phát huy lợi thế linh hoạt, có thể chịu đựng và vượt qua các áp lực tốt để có thể giảm nghèo, tiến tới cuộc sống tốt đẹp hơn Sự kết hợp hài hòa giữa thị trường - Nhà nước và cộng đồng để thực hiện các hoạt động phát triển KT, xóa đói giảm nghèo bền vững sẽ cho thấy kết quả đạt được là tốt nhất

Trong các hoạt động phát triển KT của các chương trình giảm nghèo, cộng đồng các dân tộc là đối tượng thụ hưởng, là mục tiêu nhắm tới của các các chương trình giảm nghèo do Nhà nước, địa phương thực hiện Khi thực thi thì cộng đồng các dân tộc có vai trò chủ yếu thực hiện và thụ hưởng Cũng là yếu tố quan trọng, quyết định trong thực hiện hiệu quả và thành công của các chương trình hay chính sách đó

Nếu không có sự tham gia của cộng đồng hoặc họ chỉ đóng vai trò thụ hưởng trong chương trình, dự án hay các chính sách đó thì sẽ thiếu đi mục đích hỗ trợ, lực lượng để thực hiện, và cũng không thể có kết quả cao, hoặc hỗ trợ có thể sai lệch Các hoạt động chương trình, dự án nhằm vào những người nghèo trong cộng đồng các dân tộc, do vậy cộng đồng các dân tộc vừa đóng vai trò là khách thể vừa đóng

Trang 19

vai trò là chủ thể để các hoạt động này “tấn công” vào đó nhằm tạo điều kiện cho

họ đạt được các điều kiện sống về vật chất và tinh thần ở mức tối thiểu

Qua những phân tích ở trên chúng ta thấy rằng: Cộng đồng dân tộc đóng một

vai trò quan trọng trong giảm nghèo, bản thân người dân sẽ giúp cho giảm nghèo bền vững hơn, hiệu quả hơn

2.1.3 Nội dung sự tham gia của cộng đồng dân tộc trong các hoạt động giảm nghèo

2.1.3.1 Sự tham gia của cộng đồng dân tộc trong chương trình giảm nghèo

Đối với các chương trình giảm nghèo thuộc các chương trình mục tiêu quốc gia

về giảm nghèo, nội dung sự tham gia của cộng đồng được thể hiện trong hai hoạt động chính đó là: Hoạt động xây dựng CSHT và hoạt động các chính sách hỗ trợ của nhà nước

a) Sự tham gia của cộng đồng dân tộc trong xây dựng CSHT

Trong hoạt động xây dựng CSHT, nội dung sự tham gia của cộng đồng được

thể hiện ở từng khâu, cộng đồng có thể tham gia một hay nhiều khâu trong thực hiện một hoạt động giảm nghèo thuộc chương trình, dự án; đó là các khâu: biết, xác định nhu cầu ưu tiên lập kế hoạch thực hiện, triển khai thực hiện, giám sát đánh giá, hưởng lợi và quản lý

b) Sự tham gia của cộng đồng dân tộc trong các chính sách hỗ trợ

Khác với các hoạt động xây dựng CSHT thì trong các hoạt động của các chính sách hỗ trợ thì vì đặc thù của chính sách và trình độ dân trí của người dân nên cộng đồng các dân tộc chỉ khâu hưởng lợi

Nội dung sự tham gia của cộng đồng trong từng khâu của một hoạt động giảm nghèo như sau:

Cộng đồng dân tộc biết các hoạt động giảm nghèo trong chương trình mục tiêu quốc gia

Chủ trương phát triển KT- VH-XH từ khi thực hiện đổi mới của Việt Nam luôn chú trọng "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra" Biết các hoạt động trong các CT, DA là bước đầu tiên giúp cho cộng đồng hình dung được các CT, DA có hoạt động gì, liên quan gì đến cộng đồng Cung cấp thông tin cho cộng đồng về các

Trang 20

hoạt động là bước cần thiết để giúp cộng đồng biết, hiểu hoạt động giảm nghèo cũng như nhận biết quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong đó Thông tin ở bước này cần: cụ thể hóa từng chi tiết, dễ hiểu, địa phương hóa ngôn ngữ, thông tin đầy đủ, chính xác, kịp thời rõ ràng về ngôn ngữ, nội dung Bên cạnh đó nên giải thích nếu như thành viên cộng đồng có thắc mắc, để họ đưa ra quyết định đúng đắn về hoạt động mà họ đang được biết và có thể sẽ tham gia

Tham gia vào lập kế hoạch thực hiện các hoạt động giảm nghèo

Hoạt động giảm nghèo nào cũng cần được cụ thể hóa thành kế hoạch các cấp, các ngành địa phương và người hưởng lợi Kế hoạch cần được xây dựng theo

xu hướng có sự tham gia của cộng đồng, người dân xác định nhu cầu rồi có thể từ

đó cộng đồng tự lập kế hoạch thực hiện hay do ban chỉ đạo địa phương vạch sẵn còn cộng đồng có trách nhiệm đóng góp và được sử dụng cũng như quản lý sản phẩm Kế hoạch được lập nên cân đối giữa nguồn lực có thể huy động và nhu cầu cần hỗ trợ để giảm nghèo, đảm bảo hài hòa đầu tư của Nhà nước với sự đóng góp của cộng đồng Kế hoạch của các cấp và các ngành cần có sự thống nhất về nội dung, chỉ tiêu và hệ thống đánh giá

Vì vậy, sự tham gia lập kế hoạch triển khai thực hiện các hoạt động giảm nghèo của cộng đồng là đúng đắn hợp lý đảm bảo tính công bằng xã hội, phát huy sự nỗ lực của cộng đồng trong giảm nghèo (Đỗ Kim Chung, 2011)

Tham gia đóng góp nguồn lực và trực tiếp thực hiện các hoạt động giảm nghèo

Cần phát huy được sức dân đóng góp vào các hoạt động giảm nghèo, sự nỗ lực từ người dân mới đem lại hiệu quả cao và kết quả bền vững Trong kế hoạch thực hiện cần xác định được khả năng đóng góp của cộng đồng, huy động nguồn lực đó tham gia Ở điều kiện cộng đồng còn nghèo đói, sự đóng góp không nhất thiết phải bằng tiền, có thể bằng sức lao động, hiện vật ở giới hạn họ có và sẵn sàng, việc đó làm cho họ quý trọng, giữ gìn sản phẩm, kết quả hơn bởi có một phần công sức của họ

Trang 21

Tham gia theo dõi, giám sát đánh giá quá trình thực hiện các hoạt động giảm nghèo

Công tác theo dõi, giảm sát đánh giá quá trình thực hiện các hoạt động giảm nghèo trong các CT, DA về giảm nghèo đảm bảo cho mục đích của hoạt động phát triển KT - VH - XH được thành công hơn đồng nghĩa với việc hiệu quả giảm nghèo cao hơn Hoạt động giảm nghèo nào cũng có những nhóm người thực hiện theo dõi, giám sát đánh giá, báo cáo bằng văn bản Nhưng với hoạt động hỗ trợ giảm nghèo cho cộng đồng, phải đảm bảo cơ chế giám sát đánh giá có sự tham gia, để cộng đồng giám sát đánh giá và có ý kiến phản hồi về các lợi ích mà họ nhận được cũng như hạn chế của các hoạt động đó trong các CT, DA Từ đó cộng đồng hiểu được

sự tham gia của mình có ý nghĩa, trách nhiệm và có kết quả tốt nhất

Tham gia sử dụng, hưởng lợi các sản phẩm, kết quả của các hoạt động giảm nghèo

Khi được đóng góp thực hiện và sử dụng, hưởng lợi các sản phẩm của các hoạt động sẽ thấy được ý nghĩa thực và tầm quan trọng của các hoạt động trọng của sản phẩm đó đối với cuộc sống Vấn đề đặt ra là: người dân đã được hưởng lợi đúng với nhu cầu của họ chưa? Hưởng lợi gì? Bao nhiêu từ sản phẩm, kết quả của hoạt động? Đạt bao nhiêu % nhu cầu? Lập kế hoạch chương trình thực hiện các hoạt động giảm nghèo cần đề cập đến: người dân cần gì, đóng góp bao nhiêu, lợi ích họ được hưởng là gì? Đã cân đối với nguồn lực họ đóng góp chưa? Lợi ích cộng đồng nhận được chính là động lực lớn thúc đẩy họ tham gia thực hiện các hoạt động, cần phải cụ thể hóa những lợi ích mà hoạt động giảm nghèo mang lại

Cộng đồng quản lý, bảo vệ các sản phẩm, kết quả của các hoạt động giảm nghèo mang lại

Thông thường sau khi bàn giao, nghiệm thu các sản phẩm của CT, DA sẽ giao lại cho chính cộng đồng đó quản lý, bảo vệ và sửa chữa Với một số hoạt động

hỗ trợ trực tiếp thì người được thụ hưởng trực tiếp là người quản lý, bảo vệ, sửa chữa như: hỗ trợ mô hình, cho vay vốn, hỗ trợ đầu vào sản xuất, hỗ trợ đất sản xuất… Với một số hạng mục, hoạt động mang tính đầu tư công thì thường giao lại cho một nhóm người quản lý Thông qua các tổ chức cộng đồng để xây dựng quy chế, điều kiện, phạm vi chung trong đó vai trò của cộng đồng cần biểu hiện ở các

Trang 22

nội dung cụ thể như: hướng dẫn người dân sử dụng đúng; bảo vệ công trình đúng quy định; cử đại diện cộng đồng quản lý; giám sát các hoạt động của tổ chức được giao quản lý; giám sát công tác sửa chữa, duy tu công trình; huy động sự đóng góp của cộng đồng trong sửa chữa, duy tu công trình

Như vậy chúng ta có thể thấy rõ được rằng để thực hiện thành công một CT,

DA nào đó thì cộng đồng phải tham gia đầy đủ và tích cực tất cả các khâu Tuy nhiên đây là một việc hết sức khó khăn bởi vì nhận thức của cộng đồng còn thấp, các điều kiện về kinh tế, văn hóa không cho phép và trình độ của các bộ triển khai thực hiện chương trình cũng còn rất hạn chế

2.1.3.2 Sự tham gia của cộng đồng dân tộc trong phát triển kinh tế hộ gia đình

Kinh tế hộ gia đình là một loại hình kinh tế tương đối phổ biến và được phát triển ở nhiều nước trên thế giới Nó có vai trò rất quan trọng trong việc phát triển kinh tế, nhất là trong nông nghiệp Ở Việt Nam, kinh tế hộ gia đình lại càng có ý nghĩa to lớn, bởi vì nước ta bước vào nền kinh tế hàng há nhiều thành phần theo động cơ thị trường trên nền tảng gần 80% dân đang sinh sống ở khu vực nông thôn

và sinh kế chủ yếu từ sản xuất nông nghiệp

Trong cộng đồng dân tộc, mỗi thành viên cộng đồng vừa là người sản xuất, vừa là người tiêu thụ sản phẩm chính ở cộng đồng đó và cộng đồng khác Bên cạnh hoạt động sản xuất nông nghiệp họ cũng có thể tự đa dạng hóa thu nhập bằng các ngành nghề khác, hay buôn bán kinh doanh, tăng vụ, luân canh hay thay đổi kĩ thuật canh tác và áp dụng tiến bộ khoa học kĩ thuật Trong kinh tế hộ có thể tự tích lũy, tiết kiệm và tái đầu tư linh hoạt trong khả năng nguồn vốn họ có, hộ cũng có thể huy động các nguồn vốn ngắn hạn, dài hạn khác nhau từ bên ngoài hộ như: vay

hộ khác, vay ngân hàng, vay các tổ chức, cửa hàng và doanh nghiệp; bằng tiền hay hiện vật Hộ có khả năng tái đầu tư linh hoạt vào vụ sau, có thể tận dụng các nguồn lực hiệu quả nên hộ có khả năng tự vượt qua khủng hoảng mà các thành phần kinh tế khác khó có thể làm được

Vì vậy phát triển kinh tế hộ gia đình là việc làm mang lại hiệu quả thiết thực nhất trong các hoạt động phát triển kinh tế để giảm nghèo Cần nâng cao năng lực, tinh

Trang 23

thần trách nhiệm của họ đối với nghèo đói của chính gia đình mình, trao quyền cho họ

để họ tự bứt phá ra khỏi vòng luẩn quẩn nghèo đói

2.1.3.3 Sự tham gia của cộng đồng dân tộc trong các hoạt động cộng đồng tương trợ

Trong một cộng đồng có nhiều đặc điểm chung: chung về ngôn ngữ, chung

về phong tục, tập quán và có tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái, giúp đỡ lẫn nhau được coi là những hoạt động không chỉ mang lại hiệu về mặt kinh tế còn mà đen lại nét về văn hóa một số cộng đồng tương trợ phổ biến là:

Cứu đói: Hoạt động cứu đói có thể hiểu là hoạt động giúp những người thiếu

đói có cái ăn tạm thời như khi gặp thiên tai, hoặc cũng có thể hoạt động này mang tính chất thường niên, cứu đói dài hạn Trên thực tế ở nước ta hiện nay tình trạng thiếu đói vẫn còn diễn ra, tuy nhiên bộ phận này chiếm tỷ lệ nhỏ Hoạt động cứu đói có thể thực hiện từ một cá nhân, đó là cá nhân ấy tự mang lương thực của mình hay gia đình mình có để đi cho, cho vay hàng xóm, người thân giúp họ qua cơn đói; hoặc có thể hoạt động cứu đói ấy được thực hiện bởi một tập thể, một tổ chức Tập thể kêu gọi và quyên góp cơ sở vật chất cần thiết nhằm cứu giúp cộng đồng trong lúc khó khăn, hoạn nạn

Câu nói “Một miếng khi đói bằng một gói khi no” cho chúng ta thấy được giá trị của miếng cơm manh áo khi gặp đói rét; những thành viên trong cộng đồng mới thực sự hiểu được người thân, hàng xóm của mình cần cái gì và cần vào lúc nào bởi họ sống và họ hiểu được hoàn cảnh của nhau, chính vì vậy mà họ giúp đỡ nhau một cách dễ dàng nhất và đem lại hiệu quả ngay lúc đói mà không bị ràng buộc hay gặp khó khăn giống như có sự giúp đỡ từ bên ngoài (sự giúp đỡ của các

tổ chức, của nhà nước…) Những lúc như thế này vai trò của cộng đồng các dân tộc càng được nhấn mạnh hơn trong công cuộc giảm nghèo chung của địa phương

Cho vay lúc giáp hạt

Ở những vùng nghèo đói nói chung và các cộng đồng dân tộc thiểu số ở các tỉnh miền núi phía Bắc nói riêng tình trạng đói giáp hạt diễn ra khá phổ biến Lí do

là vốn tích lũy của họ không được nhiều cho nên cứ sắp tới vụ thu hoạch thì hầu như đều phải cần tới sự trợ giúp từ bên ngoài để sinh tồn có nhiều địa phương cần

Trang 24

tới quỹ cứu đói của chính phủ và các tổ chức bên ngoài một cách thường xuyên Tuy nhiên trong địa bàn các vùng nghèo đói chúng ta phải kể tới hành động tương trợ lẫn nhau giữa các cộng đồng, có thể huy động sự giúp đỡ của anh chị em gia đình, hàng xóm láng giềng hay bạn bè Nhiều nơi có thể dựa vào quỹ tương trợ người nghèo được lập trên chính địa phương đó do chính những thành viên trong cộng đồng gây dựng lên

Đổi công

Nghèo đói thường đi liền tới khan hiếm nguồn lực và nghèo nàn về khoa học

kĩ thuật Chính vì thế, trong nhiều trường hợp người nghèo sẽ thực hiện trao đổi nguồn nhân lực cho nhau trong khi công việc quá nhiều hoặc cần chia sẻ những tiến bộ khoa học kĩ thuật cho nhau trong quá trình lao động sản xuất Điều này tạo nên sự đoàn kết trong chính cộng đồng, sự tương trợ và giúp đỡ lẫn nhau.Trực tiếp tham gia vào công cuộc giảm nghèo tại địa phương

2.1.3.4 Sự tham gia của cộng đồng dân tộc Mông trong các lễ hội truyền thống, gìn giữ phong tục tập quán, xóa bỏ hủ tục

Mỗi cộng đồng dân tộc có những nét truyền thống văn hóa và những phong tục tập quán riêng Việc gìn giữ những phong tục tập quán ấy đòi hỏi sự chung tay của các thành viên trong cộng đồng Trong các phong tục của một cộng đồng có những tục lệ đẹp nên gìn giữ và lưu truyền, chính các phong tục này là động lực tinh thần vô cùng mạnh mẽ để giúp cộng đồng thoát nghèo Không chỉ vậy, nếu tổ chức các lễ hội một cách thành công và lành mạnh thì niềm tin của dân vào chính quyền địa phương sẽ tăng lên từ đó tạo điều kiện cho công tác thực hiện các chương trình giảm nghèo Tuy nhiên cũng có không ít những hủ tục gây trở ngại cho sự phát triển và nó cần được xóa bỏ Chứng tỏ rằng : sự tham gia của người dân vào các lễ hội, gĩn giữ phong tục và xóa bỏ hủ tục có ảnh hưởng lớn tới hiệu quả của các hoạt động trong đời sống vì vậy nó ảnh hưởng tới hiệu quả giảm nghèo

Trang 25

2.1.4 Những yếu tố ảnh hưởng sự tham gia của cộng đồng dân tộc trong giảm nghèo

2.1.4.1 Nhóm yếu tố bên trong cộng đồng dân tộc

a) Năng lực, ý thức của các thành viên trong cộng đồng

Năng lực tham gia của các thành viên là khả năng các thành viên trong cộng đồng tham gia một cách hiệu quả trong các hoạt động chung, là khả năng gây ảnh hưởng tới các quyết định tập thể của các thành viên (Adamstrong, 2010) Năng lực tham gia của các thành viên cộng đồng quyết định bởi trình độ văn hóa và điều kiện kinh tế các thành viên

Trình độ văn hóa của mỗi thành viên trong cộng đồng càng cao thì cộng đồng đó có sức mạnh lớn hơn trong các hoạt động phát triển Ngược lại, sự hạn chế

về kiến thức, kĩ năng của các thành viên trong cộng đồng là một cản trở cho sự tham gia của người dân vào các hoạt động phát triển để giảm nghèo Năng lực, ý thức của các thành viên trong cộng đồng quyết định tới hành động của người dân trong việc tham gia tích cực hay không tích cực trong các hoạt động giảm nghèo

Điều kiện kinh tế cả cộng đồng càng cao thì việc thực hiện các CT, DA càng

dễ dàng và hiệu quả Ngoài ra điều kiện kinh tế cũng là động lực thúc đẩy việc tham gia của cộng đồng vào hoạt động phát triển giảm nghèo Và ngược lại nếu điều kiện kinh tế khó khăn thì nó sẽ cản trở việc cộng đồng tham gia vào các hoạt động giảm nghèo

b) Phong tục tập quán riêng của cộng đồng dân tộc

Phong tục tập quán tạo nên nét riêng biệt cho cộng đồng mỗi dân tộc, những nét đẹp về phong tục ấy tạo nên nét riêng biệt và góp phần cho đời sống của cộng đồng thêm đa dạng Những phong tục, tập quán ấy có ảnh hưởng rất lớn tới sự tham gia của cộng đồng trong các hoạt động giảm nghèo, bởi nó tác động tới suy nghĩ và hành động của mỗi thành viên trong cộng đồng Mỗi dân tộc có một nét truyền thống và phong tục tập quán riêng, vì vậy việc ban hành chính sách sao cho phù hợp với mỗi vùng, mỗi địa phương và huy động sự đồng tình, sự tham ra của cộng đồng dân tộc ở địa phương ấy sẽ đen lại hiệu quả giảm nghèo nhanh và bền vững

Trang 26

c) Nguồn lực, khả năng tiếp cận nguồn lực của người dân

Phạm Bảo Dương (2009) đã chỉ rõ cộng đồng nghèo với nguồn lực còn hạn chế và khả năng tiếp cận nguồn lực còn gặp nhiều khó khăn nên ảnh hưởng đến sự tham gia vào các hoạt động liên quan đến các chương trình, dự án xóa đói giảm nghèo

Sự tham gia của cộng đồng các dân tộc thiểu số trong các chương trình dự án giảm nghèo chưa nhiều do những đặc trưng về phong tục tập quán Một số cộng đồng dân tộc mang nặng tập tục không có lợi cho giảm nghèo như coi trọng lễ hội, không tích lũy, thích đông con, không thích đi làm xa, thiếu tinh thần vượt nghèo (Phạm Bảo Dương, 2010)

Trên thực tế cũng đã cho thấy, sự tham gia của mỗi cộng đồng dân tộc vào các hoạt động có mức độ khác nhau, cộng đồng người Kinh thường tham gia nhiều hơn do họ có trình độ cao hơn, suy nghĩ và nhận thức nhanh nhạy hơn và điều kiện kinh tế của họ cũng phát triển hơn Còn đối với cộng đồng các dân tộc thiểu số thì sự tham gia của họ trong các chương trình, dự án giảm nghèo hạn chế hơn do những đặc trưng về phong tục tập quán cũng như sự nhận thức chưa được nhanh nhạy

2.1.4.2 Nhóm yếu tố bên ngoài cộng đồng dân tộc

a) Cơ chế chính sách giảm nghèo của Nhà nước

Các cơ chế, chính sách và giải pháp mà Nhà nước đưa ra là yếu tố tạo đà và thúc đẩy cho công cuộc giảm nghèo Chính vì vậy mà sự phù hợp và kịp thời của mỗi cơ chế, chính sách và giải pháp trong các hoạt động phát triển liên quan nhiều tới sự thành bại trong việc nỗ lực giảm nghèo của địa phương và cộng đồng

Theo Phạm Bảo Dương (2010) cơ chế, chính sách giảm nghèo hiện nay còn khiếm khuyết nên chưa khuyến khích được sự tham gia của cộng đồng dân tộc Hầu hết các chính sách xóa đói, giảm nghèo đều được tiếp cận theo hướng từ trên xuống nên chưa huy động được sự tham vấn của cộng đồng Do đó mà chính sách không phù hợp với điều kiện thực tế, các hỗ trợ không hợp với nguyện vọng của người nghèo, gây lãng phí về tài chính Có thể nhận thấy rằng việc tiếp cận từ trên xuống tạo nên tâm lý ỷ lại của người dân, gây ra sự thiếu trách nhiệm của cộng đồng với các hỗ trợ và kết quả hoạt động Do đó, cần có sự tham gia của cộng đồng

Trang 27

vào xây dựng chính sách, đóng góp thực hiện thì sẽ nâng cao được tinh thần trách nhiệm cộng đồng

b) Năng lực cán bộ quản lý địa phương

Cán bộ quản lý ở địa phương không chỉ là người điều hành, chỉ đạo mà còn

là người bạn, người đồng hành trong thực hiện các hoạt động giảm nghèo cùng với các thành viên trong cộng đồng Một cán bộ cơ sở giỏi không chỉ cần trình độ học vấn cao, năng lực quản lý tốt mà còn phải gần gũi và am hiểu về cuộc sống của người dân, được lòng dân thì việc điều hành, chỉ đạo mới đem lại hiệu quả cao

Năng lực cán bộ quản lý của các cấp ở địa phương, đặc biệt là cấp cơ sở cũng là yếu tố quan trọng ảnh hưởng rất lớn đến sự tham gia của các thành viên cộng đồng vào các hoạt động giảm nghèo Ở đâu năng lực thực thi chính sách của cán bộ tốt và ý thức về tầm quan trọng của sự huy động cộng đồng tham gia các hoạt động thì ở đó vai trò của cộng đồng được tôn trọng, họ có cơ hội tham gia nhiều hơn vào các hoạt động phát triển Cán bộ quản lý có năng lực, nhận thức cao cũng có thể điều hành tốt, sử dụng hiệu quả nguồn nhân, vật lực để các hoạt động giảm nghèo có được hiệu quả cao hơn

Giám sát, kiểm tra đánh giá từ cấp trên: cũng rất quan trọng đảm bảo cộng đồng tham gia được hữu hiệu theo nguyên tắc dân biết, dân bàn, dân kiểm tra và thực hiện theo các quy định của quy chế dân chủ ở cơ sở

c) Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên

Điều kiện tự nhiên và nguồn tài nguyên thiên nhiên là một trong những yếu

tố ngoại cảnh tác động mạnh mẽ tới hiệu quả giảm nghèo, bởi nó ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp, công nghiệp hay các sản phẩm từ thủ công nghiệp

Trong các hoạt động sản xuất kinh doanh để phát triển kinh tế, sản xuất nông nghiệp là hoạt động sinh kế chủ yếu của các hộ nông dân trong cộng đồng các dân tộc, các hoạt động ấy phụ thuộc nhiều vào các yếu tố tự nhiên như thời tiết, khí hậu, thiên tai dịch bệnh và nguồn tài nguyên như khoáng sản, độ màu mỡ của đất

Do đó nơi có điều kiện tự nhiên tốt, khí hậu ôn hòa, ít gặp thiên tai và có nguồn tài

Trang 28

nguyên phong phú thì cộng đồng nơi đó có điều kiện tốt hơn để sản xuất; nhờ sự ủng hộ của thời tiết, khai thác hợp lý nguồn tài nguyên, từ đó tăng thu nhập và nâng cao đời sống, góp phần giảm nghèo Ngược lại điều kiện tự nhiên không thuận lợi, tài nguyên đất hạn chế, thiên tai lũ bão nhiều dẫn tới dịch bệnh cây trồng và vật nuôi thì có cố gắng cũng mang tính chất đánh bạc với thiên nhiên; và sự nỗ lực của các cộng đồng phần nào bị hạn chế Sự khắc nhiệt của điều kiện tự nhiên và nghèo nàn về tài nguyên là một trong những lí do khiến cho người dân mãi không thoát ra khỏi cái vòng luẩn quẩn của nghèo đói

d) Điều kiện kinh tế- xã hội- môi trường

Điều kiện kinh tế xã hội của địa phương chi phối mạnh đến các vấn đề phát triển cộng đồng như: điều kiện cơ sở hạ tầng, các dịch vụ công, các phát động kinh

tế xã hội dành cho cộng đồng nhằm phát triển để giảm nghèo Điều kiện kinh tế của địa phương cũng chi phối khả năng hỗ trợ người nghèo và tổ chức các hoạt động phát triển để giảm nghèo Nỗ lực để giảm nghèo cần có các điều kiện: điện, đường, trường, trạm; phục vụ sản xuất, giao lưu buôn bán và các hoạt động phát triển KT -

VH - XH Trong nỗ lực giảm nghèo, dựa vào sức mạnh cộng đồng là cần thiết nhưng cũng cần chú ý tới điều kiện kinh tế địa phương có thể đảm bảo đến đâu, để

có chính sách hỗ trợ phù hợp, có thể hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng cơ bản trước cho địa phương

e) Các nguồn lực hỗ trợ bên ngoài

Các nguồn lực hỗ trợ từ bên ngoài cộng đồng cũng có những ảnh hưởng hưởng rất quan trọng đến sự tham gia của cộng đồng trong các hoạt động phát triển, nhất là các hoạt động phát triển KT - VH - XH để giảm nghèo Hiện nay, những nơi có tỷ lệ người nghèo cao như khu vực miền núi phía Bắc đã nhận được

sự quan tâm đầu tư hỗ trợ giảm nghèo của các tổ chức quốc tế như Ngân hàng Thế giới, các tổ chức phi chính phủ như: Oxfarm, CARE,… Phương thức triển khai các hoạt động giảm nghèo của các tổ chức này triệt để áp dụng nguyên tắc từ dưới lên, phân cấp, trao quyền cho cộng đồng tổ chức thự hiện

Trang 29

Chương trình Chia sẻ (Thụy Điển) đã dành khoản ngân sách cho từng cộng đồng thôn bản (Quỹ phát triển thôn bản) trao quyền tối đa để cộng đồng phát huy sáng kiến, thực hiện các hoạt động giảm nghèo phù hợp Có thể nói ở những nơi có

dự án giảm nghèo do quốc tế tài trợ vai trò của cộng đồng các dân tộc thiểu số ở thôn bản được phát huy khá tốt

Các nghiên cứu cho thấy cộng đồng các dân tộc thiểu số bước đầu tham gia vào xóa đói giảm nghèo nhưng ở mức độ chưa nhiều Tại Sơn Động, Bắc Giang cộng đồng các dân tộc chưa được tham gia nhiều vào quá trình ra quyết định Cộng đồng được tham gia họp bàn bình xét hộ nghèo nhưng sự tham gia của cộng đồng trong việc xây dựng các đề án giảm nghèo, xếp hạng ưu tiên các hạng mục đầu tư, triển khai thực hiện và giám sát các chương trình xóa đói giảm nghèo rất hạn chế Mức độ đóng góp nguồn lực của người dân và cộng đồng trong các chương trình hỗ trợ giảm nghèo rất ít làm tăng tính ỷ lại của người nghèo (Đỗ Kim Chung, 2010) Tại Hà Giang và các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long cộng đồng các dân tộc đã được phổ biến về chính sách xóa đói giảm nghèo nhưng chỉ có tỉ lệ rất nhỏ các thành viên trong cộng đồng được tham gia vào khâu đánh giá giám sát chính sách (Phạm Bảo Dương, 2010)

Mức độ tham gia của cộng đồng các dân tộc trong xóa đói giảm nghèo còn hạn chế do các nguyên nhân:

Thứ nhất, cơ chế, chính sách giảm nghèo còn khiếm khuyết nên không

khuyến khích được sự tham gia của cộng đồng các dân tộc trong xóa đói, giảm nghèo Hầu hết các chính sách xóa đói, giảm nghèo đều được tiếp cận theo hướng

từ trên xuống (top-down) nên đã không huy động được sự tham vấn của cộng đồng

Do đó mà chính sách không phù hợp với điều kiện thực tế, các hỗ trợ không phù hợp với nguyện vọng của người nghèo, gây lãng phí về tài chính (Phạm Bảo Dương, Đỗ Kim Chung, 2010)

Thứ hai, sự tham gia của bản thân cộng đồng các dân tộc chưa nhiều do

những đặc trưng về phong tục tập quán hoặc đặc điểm riêng của mỗi cộng đồng

Trang 30

2.2 Cơ sở thực tiễn

2.2.1 Kinh nghiệm về sự phát huy của cộng đồng dân tộc thiểu số trong giảm nghèo trên thế giới

a, Kinh ngiệm Hàn Quốc

Trong những năm 1950, Hàn Quốc là nước nghèo nhất trên thế giới Từng bị thuộc địa của Nhật Bản đến tận cuối thế kỷ 19, trải quả 3 năm chiến tranh từ 1949-

1952, Hàn Quốc bị phá hủy hoàn toàn, đi lên từ đói nghèo

Hiện nay Hàn Quốc được xếp vào nhóm nước có nền kinh tế phát triển Tuy nhiên, trước đây Hàn Quốc cũng nhiều quốc gia khác phải đối mặt với tình trạng nghèo đói ảnh hưởng rất nhiều đến nền kinh tế của đất nước Chính vì vậy, từ những năm 70 thế kỷ XX, Hàn Quốc đã thực hiện “chương trình đổi mới nông thôn” hướng vào giúp đỡ phát triển kinh tế - xã hội ở vùng nông thôn nghèo và giúp đỡ người nghèo đa dạng hóa về sinh kế và thu nhập Sau 30 năm, Hàn Quốc

đã hoàn thành các mục tiêu của “chương trình đổi mới nông thôn” và cơ bản giải quyết xong vấn đề nghèo đói Sự thành công của Hàn Quốc về phát triển nông thôn

và giảm nghèo do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó phải kể đến nguyên nhân: Nhà nước đã trao quyền tự chủ cho cơ sở và người dân, làm gì, làm như thế nào do người dân và chính quyền cấp cơ sở tự quyết định Nhà nước và các cấp chính quyền cấp trên cơ sở chỉ đóng vai trò định hướng hoạt động phát triển nông thôn và giảm nghèo, không can thiệp cụ thể vào công việc của chính quyền cơ sở

và người dân

b, Kinh nghiệm của Nhật Bản

Nhật Bản là quốc gia đất hẹp người đông, điều kiện phát triển kinh tế rất khó khăn, nghèo tài nguyên lại thường hay động đất… Nhưng đặc điểm của người Nhật Bản là rất ham làm việc, biết tiết kiệm và căn cơ, Nhật Bản đã vươn lên thành cường quốc về kinh tế, đời sống nhân dân tăng cao, tình trạng đói nghèo đã giảm xuống thấp Có được thành quả như vậy là do Nhật Bản đã đưa ra kế hoạch và chính sách kết hợp sự tham gia của cộng đồng vào phát triển kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân, xóa đói giảm nghèo bền vững Trong đó, phong trào “Một làng, một

Trang 31

sản phẩm” (OVOP) được Nhật Bản sử dụng rất thành công Qua gần 25 năm, sự thành công và kinh nghiệm của phong trào đã lôi cuốn không chỉ các địa phương trên khắp Nhật Bản mà còn rất nhiều quốc gia khác quan tâm tìm hiểu và áp dụng Phong trào OVOP được một nhóm nông dân ở thị trấn Oyama, quận Oita, Nhật Bản khởi xướng từ những năm 60 thế kỷ trước “Hãy trồng mận và hạt để đi nghỉ ở Hawaii” là khẩu hiệu thôi thúc người dân Oita hành động Sau mấy năm chuyển đổi

cơ cấu cây trồng, thay đổi sản phẩm đã tạo nên sự thành công lớn của Hợp tác xã Oyama Có 3 nguyên tắc cơ bản để phát triển phong trào OVOP: hành động phương nhưng suy nghĩ toàn cầu; tự tin sáng tạo và phát triển nguồn nhân lực Mỗi địa phương, tuỳ theo điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của mình, lựa chọn ra những sản phẩm độc đáo, mang đậm nét đặc trưng của địa phương để phát triển Yếu tố thành công chủ yếu của phong trào OVOP là việc nhận biết những nguồn lực chưa được sử dụng tại địa phương trước khi vận dụng nguồn lực một cách sáng tạo để cung cấp trên thị trường

c) Kinh nghiệm của Ấn Độ

Ấn Độ cũng là một nước đạt nhiều thành tựu đáng kể trong XĐGN Những thành tựu này có được, bên cạnh những chính sách hợp lý của chính phủ Ấn Độ còn cần phải nói đến sự tham gia của cộng đồng và người dân trong quá trình thực hiện những chính sách này Điển hình là: chính sách tạo việc làm cho người nghèo,

Ấn Độ ban hành Luật Bảo đảm việc làm cho nông dân, Luật này bảo đảm về pháp lý

để mỗi nông dân có đủ 100 ngày có việc làm/năm, với mức lương 1,5 USD/ngày, không có việc làm, nông dân sẽ nhận được một khoản trợ cấp thất nghiệp Để có thể đưa ra được đạo luật này, chính phủ Ấn Độ đã phải điều tra mức sống cũng như thu nhập hằng ngày của nông dân Có như vậy, những con số đưa ra mới phù hợp với yêu cầu sống của người nông dân

Trang 32

d) Kinh nghiệm của Trung Quốc

Kể từ khi thực hiện cải cách mở cửa đến nay, Trung Quốc đã chính thức khởi động chương trình XĐGN bằng dự án phát triển với quy mô lớn, có kế hoạch và có tổ chức trong phạm vi cả nước Mười năm qua, mức tăng thu nhập bình quân đầu người của nông dân thuộc 592 huyện trọng điểm xóa đói, giảm nghèo cấp quốc gia đã vượt mức tăng bình quân của cả nước Trung Quốc

Có được những thành quả trên đó là do Trung Quốc có chính sách XĐGN hợp

lý, người dân tham gia nhiệt tình vào quá trình giảm nghèo Như trong chính sách đưa KHCN vào XĐGN, Trung Quốc đã rất thành công khi đưa KHCN vào giảm nghèo Chính sách này thành công là nhờ một phần rất lớn vào sự tham gia của cộng đồng vào thực hiện chính sách Cụ thể đó là: Trong bước điều tra, xây dựng quy hoạch tổng thể: Trung Quốc cử các đoàn chuyên gia xuống địa bàn cùng với người dân địa phương điều tra cơ bản (điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế xã hội, ) Chính sự tham gia của người dân đã giúp đỡ đoàn chuyên gia nắm bắt được những thế mạnh cũng như những khó khăn gặp phải

Điều tra, xây dựng và lựa chọn các dự án KH và CN có hiệu quả và khả thi, phù hợp với quy hoạch tổng thể: Các cơ quan nghiên cứu và các tập thể khoa học được cử tới địa phương cùng với nhân dân địa phương đã khảo sát sâu và đề xuất các dự án cụ thể phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương để trình lên Bộ KH và CN xem xét

và chọn lựa

Trong bước thực hiện đưa KH và CN vào phục vụ đời sống đã được sự tham gia nhiệt tình của cộng đồng nói chung, đặc biệt là người nghèo Họ tham gia các lớp tập huấn do địa phương tổ chức, nắm bắt được những khóa học tiên tiến, giúp phục vụ cho đời sống hằng ngày của họ

2.2.2 Kinh nghiệm về sự tham gia của cộng đồng dân tộc thiểu số trong giảm nghèo tại Việt Nam

Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI: khẳng định, giảm nghèo

bền vững là một trọng tâm của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011

Trang 33

– 2020 nhằm cải thiện và từng bước nâng cao điều kiện sống của người nghèo, trước hết là khu vực miền núi, đồng bào dân tộc thiểu số; tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện ở các vùng nghèo; thu hẹp khoảng cách chênh lệch giữa thành thị - nông thôn, giữa các vùng, các dân tộc và các nhóm dân cư

Chính phủ Việt Nam đã và đang triển khai nhiều chương trình quốc gia nhằm

hỗ trợ xóa đói giảm nghèo và nâng cao đời sống cho cộng đồng các dân tộc thiểu số Hiện nay Nhà nước đã và đang triển khai một số chương trình lớn như: chương trình

134, chương trình 135, nghị quyết 30a… Đặc biệt là Chương trình mục tiêu quốc gia

về xây dựng Nông thôn mới

a) Chương trình 135 và các chương trình dự án giảm nghèo

Năm 2018 đánh dấu tròn 20 năm thực hiện Quyết định số 135/1998/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn (ĐBKK) miền núi và vùng sâu, vùng xa (gọi tắt là Chương trình 135) Thứ trưởng, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc Y Thông khẳng định: “Sau 20 năm thực hiện, Chương trình

135 đã đạt được những thành tựu vô cùng lớn lao

Hệ thống cơ sở hạ tầng ở vùng dân tộc thiểu số (DTTS) và miền núi, vùng kinh

tế - xã hội (KT-XH) ĐBKK được đầu tư xây dựng hàng ngàn công trình đường, điện, trường, trạm, hệ thống thủy lợi, nhà sinh hoạt cộng đồng… Nhiều mô hình hỗ trợ phát triển sản xuất đã tạo cơ hội việc làm, cải thiện sinh kế cho đồng bào DTTS, giúp bà con vươn lên thoát nghèo bền vững”

Chương trình 135 được xác định là chương trình đặc biệt quan trọng trong chiến lược phát triển KT-XH của đất nước có ảnh hưởng không những đến phát triển KT-

XH, cải thiện đời sống cho đồng bào ở các vùng này, mà còn góp phần củng cố an ninh, quốc phòng ở những địa bàn xung yếu, chiến lược của đất nước

Trong giai đoạn 2011 - 2015, Chương trình 135 tập trung ưu tiên đầu tư, hỗ trợ hai nội dung chính là kết cấu hạ tầng và phát triển sản xuất Sau 5 năm thực hiện,

“98% trung tâm xã và 70% thôn đã có điện, so với mục tiêu là 95% trung tâm xã và trên 60% thôn có điện 58,94 xã có hệ thống thủy lợi nhỏ đáp ứng yêu cầu sản xuất và đời sống, so với mục tiêu là 50%” (Ủy ban Dân tộc - Văn phòng Chương trình 135, 2016-2020)

Trang 34

Những dấu ấn quan trọng

Đặng Tiến Hùng (2019), Chương trình 135 được triển khai qua 4 giai đoạn Giai đoạn 1999 - 2005, chương trình đã thực hiện đầu tư trên địa bàn 2.410 xã Giai đoạn 2006-2010, triển khai tại 1.958 xã Giai đoạn 2011-2015, có 2.331 xã được thụ hưởng chương trình và giai đoạn 2016-2018, thực hiện ở địa bàn 2.139 xã

“Qua từng giai đoạn, Chương trình 135 được thực hiện theo nhiều mô hình khác nhau Mỗi một mô hình đều có mục tiêu, nội dung cụ thể phù hợp với thực trạng

KT - XH của địa bàn cũng như khả năng cân đối nguồn lực cho chương trình” Trước khi thực hiện Chương trình 135, xuất phát điểm, hầu hết các xã ĐBKK, xã vùng sâu, vùng xa, biên giới đều có cơ sở hạ tầng thiết yếu rất thấp kém hoặc chưa có, các yếu tố xã hội chưa đạt mức tối thiểu; dân trí thấp, tỉ lệ mù chữ và thất học trên 60%, nhiều bệnh tật, tập tục lạc hậu Bên cạnh đó, điều kiện sản xuất rất khó khăn, chủ yếu phát rừng làm nương rẫy, du canh, du cư Số hộ đói nghèo ở khu vực này trên 60% (Đặng Tiến Hùng, 2019)

Sau 20 năm thực hiện, Chương trình 135 đã mang lại kết quả rất ấn tượng Hầu hết các xã ĐBKK đã có đầy đủ các công trình hạ tầng, tuy quy mô còn nhỏ, số lượng còn hạn chế so với nhu cầu nhưng đã có bước thay đổi lớn về KT-XH trên địa bàn Theo thống kê sơ bộ, 100% các xã có đường ô tô đến trung tâm; 99% trung tâm xã và 80% thôn có điện 65% xã có hệ thống thủy lợi nhỏ đáp ứng yêu cầu sản xuất và đời sống; 88% thôn có đường cho xe cơ giới và 42% thôn có đường giao thông đạt chuẩn; trên 50% xã có trạm y tế đạt chuẩn Tỉ lệ hộ nghèo, hộ cận nghèo, nhất là hộ đồng bào DTTS trên địa bàn giảm nhanh theo từng giai đoạn (giai đoạn 1999-2005, giảm 4,5%/năm; giai đoạn 2006 đến nay, giảm khoảng 3,5%/năm) Nhiều hộ DTTS vươn lên làm giàu

Qua thực hiện đầu tư cơ sở hạ tầng đã xóa bỏ phần lớn các trường, lớp tạm, tạo điều kiện huy động hầu hết trẻ em trong độ tuổi ở các xã ĐBKK đến trường, góp phần tích cực hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học, trung học cơ sở ở các xã vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới Các trạm y tế đạt chuẩn đảm bảo phục vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân và hàng ngàn hộ dân đã có nước sạch để dùng

Trang 35

“Những kết quả trên đã làm thay đổi nhanh và cơ bản diện mạo của nông thôn vùng DTTS và miền núi, thực sự là lực lượng vật chất to lớn, góp phần thúc đẩy nhanh công tác giảm nghèo ở địa bàn ĐBKK này” (Đặng Tiến Hùng, 2019)

b) Vận động cộng đồng các dân tộc tham gia xây dựng nông thôn mới ở huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam

Xây dựng nông thôn mới là chương trình hướng tới mục tiêu làm chuyển biến sâu sắc bộ mặt nông thôn Ở huyện thấy đây là một nhiệm vụ mới nên rất cần

sự tham gia với vai trò là chủ thể của người dân Ở đâu ta cũng thấy vai trò rất to lớn của người dân mà cụ thể là nông dân Đó là những tấm gương đi đầu trong chuyển đổi cơ cấu sản xuất trong nông nghiệp, chuyển dịch ngành nghề từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp hoặc kinh doanh nông nghiệp, dịch vụ nông nghiệp và vận động người khác tham gia, do vậy cần phát huy vai trò của người dân: dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra Ở xã A Nông huyện Tây Giang người dân đã tự khai thác cát ở suối về để đổ bê tông đường liên thôn Do đó, từ một xã chưa có đường Ôtô năm 2005 thì đến nay 4/4 thôn tại A Nông đều được bê tông hóa Qua 3 năm thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng NTM, đến nay xã đã đạt 13 tiêu chí Tổng nguồn vốn đầu tư xây dựng trên địa bàn xã từ khi triển khai thực hiện đến nay ước tính hơn 81 tỷ đồng, trong đó nguồn vốn từ chương trình NTM hơn 2,9 tỷ đồng; huy động người dân cống hiến, đóng góp hơn 45.000m2 đất

ở và 7,5ha đất sản xuất với tổng giá trị đóng góp hơn 13 tỷ đồng cùng hơn 5.000 ngày công Hiện tại, toàn xã có 248ha cao su; khoanh vùng 18 khu chăn nuôi tập trung với hơn 200 con bò; đẩy mạnh diện tích trồng lúa nước, lúa SRI cải tiến Đời sống văn hóa, công tác giữ gìn, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa được chú trọng Thu nhập bình quân đầu người đạt gần 14 triệu đồng/năm Huyện vùng cao Tây Giang đã xây dựng hàng trăm ki-lô-mét đường liên xã, huy động hàng ngàn ngày công tham gia làm đường nối liền các bản làng vùng cao (Văn Thảo, Đài Truyền thanh – Truyền hình Nam Giang)

Trang 36

Để xây dựng nông thôn mới thành công, chúng ta cần vận động nhân dân hiểu được sự làm chủ của mình Muốn vậy người dân phải trở thành chủ thể, giữ vai trò trung tâm của chương trình này nhưng trước tiên phải tuyên truyền để nhân dân nhận thức đầy đủ cả về trách nhiệm và quyền lợi của họ Tăng cường tuyên truyền đến người dân bằng nhiều kênh, nhiều hình thức, nhiều phương tiện để đồng bào hiểu, nhận thức sâu sắc về con đường đi đến mục tiêu dân giầu, bản đẹp Trong nhiệm vụ này, vai trò của người có uy tín trong thôn bản đặc biệt quan trọng, để chính những người đó trở thành tuyên truyền viên tích cực của chương trình

c) Tại Nghệ An

Dự án “Tăng cường tiếng nói và sự tham gia của cộng đồng dân tộc thiểu số trong xóa đói giảm nghèo” đã phát huy được sự tham gia của cộng đồng các dân tộc Mục tiêu của dự án nhằm góp phần xóa đói giảm nghèo cho đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh, nâng cao vai trò của đồng bào dân tộc thiểu số trong việc

ra quyết định có ảnh hưởng đến sinh kế của họ; nâng cao năng lực cho cơ quan đại diện quyền lợi cho người dân.Đối tượng trực tiếp của dự án là 500 cán bộ và đại biểu HĐND cấp xã, huyện, tỉnh và 45.000 người dân tộc thiểu số tại 12 xã của 12 huyện được thụ hưởng dự án là Nghĩa Đàn và Quế Phong Thông qua tập huấn kiến thức đã tạo sự tự tin cho đồng bào, giúp họ phân tích và sắp xếp theo thứ tự mà họ quan tâm và đưa ra các chính kiến và quan điểm liên quan tới các chương trình

135, 30a tại địa phương… người dân sau khi tham gia lớp tập huấn đã có những suy nghĩ thay đổi tích cực về các chương trình giảm nghèo đang thực hiện tại địa phương

d) Kinh nghiệm xóa đói giảm nghèo ở huyện Đakrông, tỉnh Quảng Trị

Đakrông là một huyện miền núi của tỉnh Quảng Trị và là một trong 62 huyện nghèo nhất của cả nước Kinh tế của huyện chậm phát triển, chủ yếu dựa vào nông

- lâm nghiệp, diện tích đất sản xuất lương thực, rau màu rất ít (chỉ chiếm 4,63% diện tích đất tự nhiên) Dân cư sinh sống không tập trung, nếp sống, tập quán sinh hoạt, sản xuất vẫn theo lối cũ, lạc hậu Huyện có địa hình chia cắt, giao thông đi lại khó khăn, khí hậu khắc nghiệt Dân tộc Pa Cô và Vân Kiều chiếm trên 80% dân số

Trang 37

toàn huyện Năm 2005, tỷ lệ hộ nghèo trên địa bàn chiếm đến 63,63% (theo tiêu chuẩn cũ); năm 2011 giảm xuống 41,18% (theo tiêu chuẩn mới) Với quyết tâm của Đảng bộ, chính quyền và đặc biệt là sự tham gia của cộng đồng các dân tộc thiểu số công cuộc XĐGN trên địa bàn huyện đạt được nhiều kết quả Thu nhập đầu người

từ 700.000 đồng/người/năm (năm 2001), tăng lên 4,79 triệu đồng/người/năm (năm 2011) Đến nay, trên địa bàn huyện không còn hộ đói, tỷ lệ hộ nghèo từ 48% (năm 2008) giảm xuống còn 30% (năm 2010, theo chuẩn quy định tại quyết định số 170/2005/Q Đ-TTg); năm 2011 là 41,8% (theo chuẩn mới)

Từ 2001 đến nay, huyện đã hỗ trợ xây dựng được 3.355 nhà ở cho hộ nghèo

Cơ bản hoàn thành mục tiêu giảm tỷ lệ hộ nghèo theo tinh thần Nghị quyết 30a của Chính phủ và đề án giảm nghèo nhanh và bền vững của huyện Mỗi năm đã giải quyết và tạo việc làm mới cho khoảng 700 - 800 lao động, tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 24%, trong đó đào tạo nghề là 13,2% Đã xuất khẩu được 325 lao động đi lao động ở nước ngoài, bình quân mỗi năm xuất khẩu 108 lao động, vượt kế hoạch đặt ra (đề án đặt mục tiêu mỗi năm xuất khẩu 50 - 100 lao động) Để có được kết quả trên huyện thực hiện nhiều các giải pháp trong đó là việc tăng cường và nâng cao chất lượng công tác tuyên truyền, giáo dục giúp cho cán bộ, đảng viên và nhân dân hiểu rõ quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về phát triển kinh tế, XĐGN từ đó tạo sự thống nhất cao trong tư tưởng và hành động Đối với đồng bào dân tộc thiểu số coi trọng hình thức tuyên truyền, hướng dẫn “cầm tay chỉ việc”, bằng các mô hình trình diễn để đồng bào được “tai nghe, mắt thấy” học tập

và làm theo Phát huy vai trò của già làng, trưởng bản, những người có uy tín cao ở địa phương và sự tham gia của người dân vào công tác giảm nghèo (Trần Văn Phương, 2013)

e) Huyện Si Ma Cai: nhiều cách làm hay trong xóa đói giảm nghèo

Si Ma Cai là huyện có khí hậu tiểu vùng ôn đới đặc thù, rất phù hợp cho phát triển các loại rau màu trong vụ đông Vì vậy, vài năm gần đây, Trung tâm dịch vụ nông nghiệp huyện đã tham mưu cho chính quyền địa phương triển khai phát triển nhiều mô hình sản xuất rau vụ đông tại các xã Mản Thẩn, Nàn Sín, Sín Chéng Để

Trang 38

khuyến khích người dân phát triển diện tích cây vụ đông, huyện Si Ma Cai đã ban hành nhiều cơ chế hỗ trợ Riêng cây rau bắp cải trái vụ hiện đã được trung tâm dịch

vụ nông nghiệp huyện triển khai tới 10/13 xã, với tổng diện tích trồng trong vụ đông năm nay là gần 24 héc ta, năng xuất trung bình đạt khoảng 25 tấn/ha, với giá bán bình quân 8 nghìn đồng/kg, ước tính người dân thu nhập tới trên 200 triệu /1 héc ta trồng bắp cải trái vụ Đây là loại rau dễ trồng, dễ chăm sóc, có thời gian sinh trưởng ngắn, năng suất ổn định

Theo tính toán thì khi trồng 1ha rau bắp cải cho thu lãi gấp từ 8 đến 10 lần so với trồng cây ngô Vườn bắp cải này là của gia đình anh Lừu Mí Lùng ở thôn Say Sáng Phìn, xã Mản Thẩn, đây là một trong những hộ tiêu biểu của xã về trồng rau vụ đông đem lại nguồn thu nhập cao Hiện nay gia đình anh đang tập trung chăm sóc 0,5 ha rau bắp cải để bán dịp sau tết, khi nhu cầu rau xanh tăng cao Cũng trên diện tích này và cũng với cây bắp cải, vụ đông trước gia đình đã thu về được trên 30 triệu đồng Chất lượng cải bắp trồng ở Si Ma Cai rất ngon nên thị trường có nhu cầu lớn, nhiều thời điểm các thương lái đến tận ruộng để thu mua Những vụ rau trái vụ càng đắt khách và bán được giá hơn, nhân rộng ra để góp phần giúp người nông dân Si Ma Cai đã thoát nghèo bền vững và vươn lên làm giàu từ chính những lợi thế có sẵn của địa phương (Cổng thông tin điện tử Si Ma Cai, 2018)

2.2.3 Một số hoạt động liên quan tại địa phương

Triển khai thực hiện các phong trào phát động năm 2018 cụ thể:

* Phong trào về phát triển sản xuất, nâng cao giá trị thu nhập cho người dân: Chỉ đạo, hướng dẫn nhân dân ứng dụng 100% giống mới, năng suất cao thực hiện trong năm; triển khai thực hiện dự án trồng rau trái vụ và cây ăn quả

* Phong trào thi đua xây dựng đường giao thông nông thôn gắn với duy tu bảo dưỡng các công trình hạ tầng nông thôn:

Trong tháng 10 xã được Tập đoàn công nghiệp – Viễn thông quân đội VIETTEL Lào Cai hỗ trợ 50 tấn xi măng cấp phát cho nhân dân 5 thôn đổ đường liên gia ngõ xóm, đến nay đã đổ được 3km

Trang 39

* Phong trào về cải tạo vệ sinh môi trường nông thôn: Triển khai vận động làm mới được 9 nhà vệ sinh, nâng cấp xong 12 nhà chưa đạt chuẩn Xây mới 02 nhà, nâng cấp 01 nhà văn hóa thôn Chư Sang đã thực hiện xong

* Phong trào thi đua giữ gìn an ninh trật tự nông thôn: Công tác phòng chống tội phạm, quản lý an ninh nông thôn, được tăng cường, tình hình an ninh chính trị, trật tự xã hội trên địa bàn cơ bản ổn định và giữ vững Duy trì mô hình tự quản về

an ninh trật tự Tăng cường phối hợp lồng ghép trong các buổi họp thôn tuyên truyền nhân dân chấp hành các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và nhà nước

*Phong trào thi đua nếp sống văn hóa, giữ gìn bản sắc dân tộc: Phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư đến từng thôn bản, tổ chức họp đăng ký gia đình văn hóa, thôn văn hóa, cơ quan, đơn vị văn hóa Tổ chức văn hóa, văn nghệ, TDTT các ngày lễ kỷ niệm để góp phần giữ gìn bản sắc và truyền thống văn hóa dân tộc (UBND xã Cán Cấu, 2018)

2.2.4 Một số bài học kinh nghiệm rút ra về sự tham gia của cộng đồng trong các chương trình giảm nghèo

Từ bài học kinh nghiệm sự tham gia của cộng đồng trong các hoạt động văn hóa - xã hội chống đói nghèo của các nước trong khu vực, mà một số nước thực hiện đã có kết quả rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam:

Từ kinh nghiệm trên cho thấy rằng Nhà nước không nên can thiệp trực tiếp tới hộ nghèo, mà chỉ thông qua chính sách tạo môi trường kinh tế xã hội thuận lợi

để hỗ trợ cho người nghèo phát triển

Chuyển sự can thiệp từ trên xuống sang cách tiếp cận có sự tham gia: Các giải pháp và chính sách giảm nghèo không thuần túy xuất phát từ sự can thiệp ở bên ngoài Sự phát huy cao độ để người dân tham gia vào quá trình giảm nghèo đảm bảo cho giảm nghèo trở nên bền vững Các giải pháp giảm nghèo phải xuất phát từ nhu cầu của người nghèo, tạo điều kiện cho người nghèo được biết, được bàn, phải đóng góp, được làm, được giám sát, được quản lý và hưởng lợi thành quả

Trang 40

Chính phủ cần có chính sách cạnh tranh để tạo ra động lực thu hút sự tham gia của khu vực nông thôn Phát huy nội lực của địa phương và thúc đẩy những người dân tham gia, đặc biệt là cộng đồng dân tộc thiểu số Đồng thời, việc tôn vinh và trao thưởng cho những địa phương thực hiện thành công cũng là một yếu tố thúc đẩy đáng kể

Phải có người lãnh đạo tài năng và tận tâm để triểm khai thực hiện các chương trình, dự án để lãnh đạo, chỉ đạo và tạo điều kiện cho sự tham gia một cách toàn diện của người dân

Lồng ghép các chương trình đầu tư công cho giảm nghèo và phát triển kinh

tế của các tổ chức, các cấp và các ngành: Hoạt động giảm nghèo mang tính xã hội cao, do đó có nhiều tổ chức, nhiều cấp, nhiều ngành và các tổ chức xã hội tham gia đầu tư và hỗ trợ giảm nghèo

Cùng với nhà nước là sự tác động của các tổ chức, đoàn thể, hiệp hội, các doanh nghiệp và các tổ chức phi Chính phủ Đây là lực lượng tham gia trực tiếp vào quá trình xã hội hoá chương trình giảm nghèo

2.2.5 Chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về huy động sự tham gia của cộng đồng các dân tộc thiểu số trong các chương trình giảm nghèo

Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI đã khẳng định, giảm nghèo bền vững là một trọng tâm của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011 – 2020 nhằm cải thiện và từng bước nâng cao điều kiện sống của người nghèo, trước hết là khu vực miền núi, đồng bào dân tộc thiểu số; tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện ở các vùng nghèo; thu hẹp khoảng cách chênh lệch giữa thành thị - nông thôn, giữa các vùng, các dân tộc và các nhóm dân cư

Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn là một văn bản pháp luật được Uỷ ban thường vụ Quốc hội Việt Nam khoá XI đã thông qua vào ngày 20 tháng 4 năm 2007 (Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11) và có hiệu lực thi hành

từ ngày 1 tháng 7 năm 2007 và được Chủ tịch nước Việt Nam ra lệnh công bố trên toàn quốc Đây là văn bản quy định về thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn và

là văn bản pháp lý quan trọng nhằm phát huy quyền dân chủ của nhân dân ở xã,

Ngày đăng: 17/07/2019, 23:18

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Giàng Seo Châu (2012). “Nghiên cứu sự tham gia của cộng đồng các dân tộc thiểu số trong các hoạt động giảm nghèo ở huyện Si Ma Cai-tỉnh Lào Cai.”Luận văn Thạch sĩ. NXB Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu sự tham gia của cộng đồng các dân tộc thiểu số trong các hoạt động giảm nghèo ở huyện Si Ma Cai-tỉnh Lào Cai
Tác giả: Giàng Seo Châu
Nhà XB: NXB Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 2012
4. Hồ Hữu Lƣợng (2015): “Đánh giá sự tham gia của cộng đồng dân tộc mường trong giảm nghèo tại xã thành Minh, huyện Thạch thành, tỉnh Thanh Hóa”. Khóa luận tốt nghiệp. NXB Học viện nông nghiệp Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá sự tham gia của cộng đồng dân tộc mường trong giảm nghèo tại xã thành Minh, huyện Thạch thành, tỉnh Thanh Hóa
Tác giả: Hồ Hữu Lƣợng
Nhà XB: NXB Học viện nông nghiệp Việt Nam
Năm: 2015
5. Trần Thanh Sơn (2012): “Nghiên cứu sự tham gia của cộng đồng các dân tộc vào các hoạt động kinh tế trong chương trình giảm nghèo: trường hợp nghiên cứu tại huyện Si ma cai (tỉnh Lào Cai) và huyện Xín Mần (tỉnh Hà Giang)”. Luận văn Thạch sĩ. NXB Trường Đại học nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu sự tham gia của cộng đồng các dân tộc vào các hoạt động kinh tế trong chương trình giảm nghèo: trường hợp nghiên cứu tại huyện Si ma cai (tỉnh Lào Cai) và huyện Xín Mần (tỉnh Hà Giang)
Tác giả: Trần Thanh Sơn
Nhà XB: NXB Trường Đại học nông nghiệp Hà Nội
Năm: 2012
7. Bùi Văn Vƣợng (2014): “Đánh giá tình hình thực hiện các chính sách xóa đói giảm nghèo tại xã An Bình, huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình”. Khóa luận tốt nghiệp. NXB Học viện nông nghiệp Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá tình hình thực hiện các chính sách xóa đói giảm nghèo tại xã An Bình, huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình
Tác giả: Bùi Văn Vƣợng
Nhà XB: NXB Học viện nông nghiệp Việt Nam
Năm: 2014
8. Lưu Thị Tho (2010): “Nghiên cứu sự tham gia của cộng đồng các dân tộc về các hoạt động phát triển kinh tế trong các chương trình giảm nghèo: trường hợp nghiên cứu tại xín mần (hà giang) và đà bắc (hòa bình)”. Luận văn Thạch sĩ. NXB Trường Đại học nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu sự tham gia của cộng đồng các dân tộc về các hoạt động phát triển kinh tế trong các chương trình giảm nghèo: trường hợp nghiên cứu tại xín mần (hà giang) và đà bắc (hòa bình)
Tác giả: Lưu Thị Tho
Nhà XB: NXB Trường Đại học nông nghiệp Hà Nội
Năm: 2010
2. Đỗ Kim Chung (2010). Một số vấn đề lý luận và thực tiễn hỗ trợ giảm nghèo và đầu tƣ công cho giảm nghèo, Tạp chí khoa học và phát triển, 8(4): 708- 718. Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội Khác
3. Phạm Bảo Dương (2010c). Một vài suy nghĩ đổi mới cơ chế chính sách xóa đói giảm nghèo, Tạp chí Kinh tế và dự báo, 16(451): 38-40, Trường Đại học nông nghiệp Hà Nội Khác
6. Lưu Thị Tho và Phạm Bảo Dương (2013): Sự tham gia của cộng đồng các dân tộc trong các hoạt động giảm nghèo ở một số địa phương miền núi phía bắc. Tạp chí khoa học và phát triển 2013, tập 11, số 2: 249 259, Trường Đại học nông nghiệp Hà Nội Khác
9. Chính Phủ (1998). Quyết định thủ tướng chính phủ (1998) Chương trình Phát triển kinh tế xã hội các xã đặc biệt khó khăn miền núi và vùng sâu, vùng xa của Thủ tướng chính phủ Khác
10. Chính Phủ (2005). Quyết định số 170/2005/QĐ­TTg ngày 8/7/2005 về việc ban hành chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2006-2010 Khác
11. Chính Phủ (2008). Nghị quyết số 30a/2008/NQCP của Chính phủ: Về Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo 12. Hội đồng nhân dân tỉnh Lào Cai (2015). NQ số 35/2015/NQ-HĐND ngày Khác
13. Chính Phủ (2016). Quyết định 59/2015/QĐ-TTg áp dụng từ ngày 1/1/2016: Các tiêu chí để xét duyệt hộ nghèo giai đoạn 2016-2020 Khác
14. UBND xã Cán Cấu (2018). BÁO CÁO: Tình hình thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội năm 2018, Phương hương nhiệm vụ năm 2019 Khác
15. UBND xã Cán Cấu (2018). BÁO CÁO: Kết quả thực hiện công tác thống kê đất đai năm 2016, 2017, 2018 xã Cán Cấu, huyện Si Ma Cai, tỉnh Lào Cai 16. UBND xã Cán Cấu (2018). Báo cáo: kết quả xây dựng nông thôn mới giaiđoạn 2011-2018 của xã Cán Cấu, huyện Si Ma Cai, tỉnh Lào Cai Khác
17. Trường Văn Tuyển,2007, Phát triển cộng đồng. Giáo trình của Trường Đại học Nông Lâm Huế, Nhà xuất bản Nông nghiệp, 2005 Khác
1. Tên :.......................................................................2.Tuổi: ………………… Khác
4. Nơi cƣ trú: Thôn/bản………….xã Cán Cấu, huyện Si Ma Cai, tỉnh Lào Cai 5. Nghề nghiệp:Nông dân Công nhân C/V chức nhà nước Kinh doanh Khác(ghi rõ) Khác

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w