Hiện tại, khu hệ Ve giáp ở vùng núi Mẫu Sơn, tỉnh Lạng Sơn còn chưathấy có công trình nào nghiên cứu, vì thế, với mong muốn bổ sung dẫn liệu vàmở rộng sự hiểu biết đầy đủ hơn về khu hệ V
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quảnêu trong luận văn là trung thực và chưa được ai công bố trong bất kỳ côngtrình nào khác
Tác giả luận văn
ĐỖ THỊ HÒA
Trang 4Nhân dịp này, tôi xin được cảm ơn chân thành và sâu sắc tới:
- Bộ môn Động Vật, bộ môn Công nghệ sinh học và vi sinh vật, Khoa
Sinh học, Trường ĐHSP Hà Nội.
- Trung tâm Nghiên cứu giáo dục Đa dạng sinh học (CEBRED), Trường
ĐHSP Hà Nội.
- Đề tài nghiên cứu cấp nhà nước NAFOSTED mã số 106.14-2012.46
- Ban quản lý khu du lịch Mẫu Sơn, thành phố Lạng Sơn.
Trân trọng cảm ơn các góp ý khoa học của thầy cô trong suốt quá trình tôi thực hiện đề tài luận văn.
Cuối cùng, xin tỏ lòng tri ân chân thành tới gia đình và bạn bè, là nguồn động viên về vật chất và tinh thần, truyền nhiệt huyết để tôi hoàn thành luận văn này.
Chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 05 năm 2015
Học viên
Đỗ Thị Hòa
Trang 5MỤC LỤC Trang phụ bìa Trang Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các ký hiệu, chữ viết tắt
Danh mục các bảng, biểu đồ
MỤC LỤC 1
PHẦN I MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích chọn đề tài 3
3 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 3
4 Tổng quan tài liệu 3
4.1 Lược sử nghiên cứu Microarthropoda trên thế giới 3
4.2 Lược sử nghiên cứu Microarthropoda ở Việt Nam 7
5 Đối tượng, địa điểm, thời gian và phạm vi nghiên cứu 15
5.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu 15
5.2 Phương pháp nghiên cứu 16
5.2.1 Thu mẫu đất, tầng rêu và thảm lá rừng 16
5.2.2 Phương pháp tách lọc mẫu Microarthropoda 17
5.2.3 Phân tích và định loại Ve giáp 17
5.2.4 Nhận dạng và chụp hình Ve giáp 21
5.2.5 Xử lý số liệu 22
5.3 Vài nét về đặc điểm tự nhiên và xã hội tại Mẫu Sơn, Lạng Sơn…………23
5.3.1 Vị trí địa lý và địa hình ………23
5.3.2 Điền kiện khí hậu và thủy văn……….24
5.3.3 Hệ thực vật và động vật………24
PHẦN II NỘI DUNG 26
Chương 1 Cấu trúc quần xã Chân khớp bé (Microarthropoda) theo 4 đai cao khí hậu ở vùng nghiên cứu 26
1.1 Cấu trúc nhóm phân loại của quần xã Microarthropoda 26
1.2 Cấu trúc mật độ của quần xã Microarthropoda 28
1.3 Cấu trúc phân bố theo tầng thẳng đứng của các nhóm Microarthropoda chính 33
1.4 Bàn luận và nhận xét 34
Chương 2: Đa dạng thành phần loài Ve giáp (Acari: Oribatida) ở vùng núi Mẫu Sơn, tỉnh Lạng Sơn 35
2.1 Danh sách các loài Ve giáp ở vùng nghiên cứu 35
Trang 62.3 Đặc điểm hình thái phân loại các loài Ve giáp ở vùng nghiên cứu 43
2.4 Đặc điểm phân bố của Ve giáp theo đai cao ở vùng nghiên cứu 54
2.5 Sự tương đồng về thành phần loài giữa các đai cao ở vùng nghiên cứu 56
2.6 Bàn luận và nhận xét 58
Chương 3: Cấu trúc quần xã Ve giáp (Acari: Oribatida) theo đai cao khí hậu ở vùng nghiên cứu 60
3.1 Thành phần loài, một số chỉ số định lượng, mật độ và phân bố theo tầng thẳng đứng của quần xã Ve giáp ở đai cao (I) (<300m) 60
3.1.1 Thành phần loài và phân bố của Ve giáp ở đai cao (I) <300m 60
3.1.2 Mật độ trung bình 62
3.1.3 Độ đa dạng loài H’ và độ đồng đều J’ 63
3.1.4 Các loại Ve giáp ưu thế theo tầng thẳng đứng trong đai cao (I) 64
3.2 Thành phần loài, một số chỉ số định lượng, mật độ và phân bố theo tầng thẳng đứng của quần xã Ve giáp ở đai cao (II) (>300m-600m) 65
3.2.1 Thành phần loài và phân bố của Ve giáp ở đai cao (II) (>300m-600m) 65
3.2.2 Mật độ trung bình 67
3.2.3 Độ đa dạng loài H’ và độ đồng đều J’ 68
3.2.4 Các loại Ve giáp ưu thế theo tầng thẳng đứng trong đai cao (II) 68
3.3 Thành phần loài, một số chỉ số định lượng, mật độ và phân bố theo tầng thẳng đứng của quần xã Ve giáp ở đai cao (III) (>600-900m) 70
3.3.1 Thành phần loài và phân bố của Ve giáp ở đai cao (III) (>600-900m) 70
3.3.2 Mật độ trung bình 72
3.3.3 Độ đa dạng loài H’ và độ đồng đều J’ 73
3.3.4 Các loại Ve giáp ưu thế theo tầng thẳng đứng trong đai cao (III) 73
3.4 Thành phần loài, một số chỉ số định lượng, mật độ và phân bố theo tầng thẳng đứng của quần xã Ve giáp ở đai cao (IV) (>900-1200m) 75
3.4.1 Thành phần loài và phân bố của Ve giáp ở đai cao (IV) (>900-1200m) 75
3.4.2 Mật độ trung bình 77
3.4.3 Độ đa dạng loài H’ và độ đồng đều J’ 78
3.4.4 Các loại Ve giáp ưu thế theo tầng thẳng đứng trong đai cao (IV) 79
3.5 So sánh đặc điểm định lượng của quần xã Ve giáp (Acari: Oribatida) ở 4 đai cao khí hậu 80
3.5.1 Số lượng loài 80
3.5.2 Mật độ trung bình 81
3.5.3 Độ đa dạng loài H’ và độ đồng đều J’ 81
3.5.4 Các loài Ve giáp ưu thế 82
Trang 73.6 Bước đầu đánh giá vai trò chỉ thị sinh học của quần xã Ve giáp theo đai cao ở
vùng núi Mẫu Sơn, Lạng Sơn 84
3.6.1 Cơ sở khoa học của việc sử dụng quần xã Ve giáp làm chỉ thị sinh học 84
3.6.2 Vai trò chỉ thị sinh học của quần xã Ve giáp trong môi trường đất của vùng nghiên cứu 86
3.6.2.1 Cấu trúc quần xã Ve giáp như yếu tố chỉ thị biến đổi theo đai cao nghiên cứu 86
3.6.2.2 Cấu trúc ưu thế của quần xã Ve giáp theo đai cao nghiên cứu 87
3.7 Bàn luận và nhận xét 89
PHẦN III KẾT LUẬN 91
TÀI LIỆU THAM KHẢO 93
PHỤ LỤC 98
Trang 8DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
TT Kí hiệu Ý nghĩa
1 Đai cao (I) Đai cao khí hậu <300m
2 Đai cao (II) Đai cao khí hậu >300m-600m
3 Đai cao (III) Đai cao khí hậu >600-900m
4 Đai cao (IV) Đai cao khí hậu >900-1200m
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH, BẢNG, BIỂU ĐỒ
2 Hình 2: Cấu trúc cơ thể và cấu tạo các cơ quan của Oribatida bậc cao 20
3 Hình 3: Vùng núi Mẫu Sơn và các địa điểm lấy mẫu 23
1 Bảng 1: Cấu trúc quần xã chân khớp bé (Microarthropoda: Oribatida,
Prostigmata, Mesostigmata, Astigmata, Collembola, Microarthropoda
khác) theo đai cao khí hậu và theo tầng thẳng đứng ở vùng nghiên cứu
31
2 Bảng 2: Danh sách loài và phân bố của Ve giáp theo đai cao và theo
tầng sâu thẳng đứng ở vùng núi Mẫu Sơn, tỉnh Lạng Sơn
36
3 Bảng 3: Cấu trúc phân loại học của Ve giáp ở vùng núi Mẫu Sơn, Lạng
Sơn
42
4 Bảng 4: So sánh tính đa dạng các taxon họ, giống, loài của khu hệ Ve
giáp vùng núi Mẫu Sơn, Lạng Sơn với khu hệ Ve giáp khác được
nghiên cứu trước đây
43
5 Bảng 5: Sự phân bố các bậc taxon của Ve giáp theo đai cao và theo tầng
sâu thẳng đứng ở vùng nghiên cứu
56
6 Bảng 6 : Tỷ lệ tương đồng về thành phần và số lượng loài Ve giáp giữa
các đai cao ở vùng nghiên cứu
57
7 Bảng 7 : Thành phần loài và phân bố của Ve giáp ở đai cao (I) 60
8 Bảng 8: Một số chỉ số định lượng của Ve giáp theo tầng thẳng đứng ở
đai cao (I)
63
9 Bảng 9: Các loài Ve giáp ưu thế theo tầng thẳng đứng ở đai cao (I) 64
10 Bảng 10: Thành phần loài và phân bố của Ve giáp ở đai cao (II) 65
11 Bảng 11: Một số chỉ số định lượng của Ve giáp theo tầng thẳng đứng ở
đai cao (II)
68
12 Bảng 12: Các loài Ve giáp ưu thế theo tầng thẳng đứng ở đai cao (II) 69
13 Bảng 13: Thành phần loài và phân bố của Ve giáp ở đai cao (III) 70
14 Bảng 14: Một số chỉ số định lượng của Ve giáp theo tầng thẳng đứng ở
đai cao (III)
73
15 Bảng 15: Các loài Ve giáp ưu thế theo tầng thẳng đứng ở đai cao (III) 74
16 Bảng 16: Thành phần loài và phân bố của Ve giáp ở đai cao (IV) 75
17 Bảng 17: Một số chỉ số định lượng của Ve giáp theo tầng thẳng đứng ở
đai cao (IV)
78
18 Bảng 18: Các loài Ve giáp ưu thế theo tầng thẳng đứng ở đai cao (IV) 79
Trang 10TT DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ Trang
1 Biểu đồ 1.1: Cấu trúc nhóm phân loại Microarthropoda ở đai cao nghiên
cứu
27
2 Biểu đồ 1.2: Cấu trúc mật độ của các nhóm chính Microarthropoda ở đai
cao nghiên cứu
33
3 Biểu đồ 2.5: Sự tương đồng về thành phần loài Ve giáp giữa đai cao ở
vùng núi Mẫu Sơn, tỉnh Lạng sơn
57
4 Biểu đồ 3.1.2: Mật độ trung bình của Ve giáp theo tầng thẳng đứng ở
đai cao (I)
61
5 Biểu đồ 3.1.3: Độ đa dạng loài H’ và độ đồng đều J’ theo tầng thẳng
đứng ở đai cao (I)
63
6 Biểu đồ 3.2.2 Mật độ trung bình của Ve giáp theo tầng thẳng đứng ở đai
cao (II)
67
7 Biểu đồ 3.2.3: Độ đa dạng loài H’và độ đồng đều J’ theo tầng thẳng
đứng ở đai cao (II)
68
8 Biểu đồ 3.3.2 Mật độ trung bình của Ve giáp theo tầng thẳng đứng ở đai
cao (III)
72
9 Biểu đồ 3.3.3: Độ đa dạng loài H’ và độ đồng đều J’ theo tầng thẳng
đứng ở đai cao (III)
73
10 Biểu đồ 3.4.2 Mật độ trung bình của Ve giáp theo tầng thẳng đứng ở đai
cao (IV)
77
11 Biểu đồ 3.4.3: Độ đa dạng loài H’ và độ đồng đều J’ theo tầng thẳng
đứng ở đai cao (IV)
78
12 Biểu đồ 3.5.1: Số lượng loài Ve giáp phân bố ở các đai cao 80
14 Biểu đồ 3.5.3 Độ đa dạng loài H’ và độ đồng đều J’ theo đai cao 83
15 Biểu đồ3.6.2.1: Sự thay đổi giá trị các chỉ số mật độ trung bình, độ đa
dạng loài H’, độ đồng đều J’ của Ve giáp trong các đai cao nghiên cứu
87
16 Biểu đồ 3.6.2.2 Các loài Ve giáp ưu thế theo đai cao ở vùng nghiên cứu 89
Trang 11PHẦN I MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong cấu trúc hệ động vật đất, nhóm chân khớp bé – Microarthropoda vớikích thước cơ thể nhỏ bé (từ 0,1-0,2 đến 2-3mm) thường chiếm ưu thế về sốlượng so với nhóm khác Chân khớp bé trong đất gồm phần lớn là Ve bét (Acari)
và nhóm Bọ nhảy (Collembola) Ngoài ra chiếm số lượng không đáng kể còn cócác nhóm chân khớp bé khác (Microarthropoda khác) như Rết tơ (Myriapoda:Symphyla), Đuôi nguyên thủy, Hai đuôi, Ba đuôi (Protura, Diplura, Thusanura)
Trong hệ sinh thái đất Ve giáp đóng một vai trò quan trọng:
Chúng tham gia tích cực trong sự phân hủy vật chất hữu cơ, trong chu trìnhnito và trong quá trình tạo đất Tất cả các giai đoạn trong chu kì sống của chúngđều ăn với một phổ thức ăn rộng, bao gồm thực vật sống và chết, nấm, rêu, địa y
và thịt thối rữa (Krantz, 1978) [30]
Ve giáp tham gia vào quá trình phân hủy mùn và cấu trúc đất bằng cáchnghiền nát các hợp chất hữu cơ Phân của chúng dưới dạng viên đã bổ sung mộtdiện tích bề mặt lớn trong quá trình phân hủy và trở lại thành phần trọn vẹn trongtầng hữu cơ của đất
Ve giáp là nhóm quan trọng nhất trong số các động vật thuộc lớp hình nhện
có ảnh hưởng cả trực tiếp và gián tiếp đến sự hình thành và duy trì cấu trúc đất
(Mone et al., 1988) [34] Ve giáp góp phần phân tán vi khuẩn và nấm (bám
bên ngoài bề mặt cơ thể) hay ăn trực tiếp bào tử nấm, sau đó thải ra quađường tiêu hóa Nhiều loài tích lũy canxi và một số muối khoáng khác tronglớp vỏ dạ dày của mình Như vậy, cơ thể chúng có thể tạo thành một "ổ" dinhdưỡng quan trọng, đặc biệt trong các môi trường bị hạn chế về dinh dưỡng(Crossley, 1977) [27]
Nhiều Ve giáp là nhóm gây hại trưc tiếp cho rau, quả, cây trồng và thực vậthoang dại Do có khả năng di cư tích cự trong môi trường đất hoặc phát tán xathụ động nên Ve giáp có vai trò như những vecto mang truyền vi khuẩn, mầmbệnh và giun sán kí sinh (Vũ Quang Mạnh, 2007) [12]
Trang 12Ve giáp rất nhạy cảm với các biến đổi của môi trường sống vì thế chúngđược sử dụng như những đối tượng nghiên cứu chuẩn cho những điều tra giámsát biến đổi tài nguyên môi trường, nghiên cứu sinh thái tập tính, phục vụ nghiêncứu khoa học (theo Vũ Quang Mạnh, 1989, 1990, 2007) [7] [8] [12].
Ve giáp với tầm quan trọng của chúng trong hệ sinh thái tự nhiên cùng với
ý nghĩa thực tiễn đối với con người nên là đối tượng được quan tâm nghiên cứu
từ rất sớm trên thế giới Nhưng ở Việt Nam, đây là nhóm còn ít được biết đến.Khu hệ Ve giáp mới chỉ được nghiên cứu ở một số vùng rải rác của đất nước, cácdẫn liệu còn ít và chưa đồng bộ
Nằm ở độ cao trung bình trên 1000m so với mặt nước biển với hơn 80ngọn núi lớn nhỏ, nhiệt độ trung bình mùa hè dao động trong khoảng 16-21°C,mùa đông nhiệt độ xuống thấp những năm gần đây có hiện tượng băng tuyết.Vùng núi Mẫu Sơn được xác định là điểm du lịch nghỉ dưỡng lý tưởng củavùng Đông Bắc Vùng núi Mẫu SơnĐây là nơi có địa hình hiểm trở, tổng diệntích trên 10740ha, trong đó có 5380ha đất lâm nghiệp và 1543ha rừng nguyênsinh với nhiều loài cây quý hiếm hàng trăm năm tuổi và đa dạng hệ thống thảmthực vật sinh học cũng như các loài thú, côn trùng quý hiếm đã tạo ra sự đadạng sinh học Khu vực này được đánh giá là nơi có tiềm năng phát triển thànhkhu du lịch nghỉ dưỡng, du lịch sinh thái [51]
Thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, từ năm 2002 đến nay, tỉnhLạng Sơn đã tập trung đầu tư khai thác tiềm năng du lịch Mẫu Sơn góp phầnthúc đẩy ngành du lịch phát triển, lượng khách du lịch đến với Mẫu Sơn ngàycàng tăng Điều đó mang lại những ảnh hưởng tích cực cho nền kinh tế- xã hội.Nhưng bên cạnh đó cũng làm nảy sinh những tiêu cực do môi trường phảigánh chịu một lượng ô nhiễm từ sự phát triển nhanh chóng về xây dựng cáccông trình, rác thải , chất thải, chăn thả gia súc tự do, khai thác gỗ, chặt phácây rừng, làm mất đi phần nào sự cân bằng sinh thái môi trường Đặc biệt,việc chặt phá rừng làm mất đi nơi trú ngụ của nhiều loài động vật, làm suygiảm số lượng và sự đa dạng của chúng
Trang 13Hiện tại, khu hệ Ve giáp ở vùng núi Mẫu Sơn, tỉnh Lạng Sơn còn chưathấy có công trình nào nghiên cứu, vì thế, với mong muốn bổ sung dẫn liệu và
mở rộng sự hiểu biết đầy đủ hơn về khu hệ Ve giáp Việt Nam, chúng tôi đã chọn
đề tài:
"VE GIÁP (ACARI: ORIBATIDA) TRONG CẤU TRÚC NHÓM CHÂN KHỚP BÉ (MICROARTHROPODA) Ở VÙNG NÚI MẪU SƠN, TỈNH LẠNG SƠN"
2 Mục đích chọn đề tài
Nghiên cứu thành phần loài, đặc điểm phân bố của quần xã Ve giáp (Acari:Oribatida) trong cấu trúc nhóm Chân khớp bé (Microarthropoda: Acari,Oribatida, Collembola) ở vùng núi Mẫu Sơn và bước đầu đánh giá vai trò chỉ thịsinh học của chúng ở vùng nghiên cứu
3 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
1 Nghiên cứu cấu trúc nhóm phân loại của quần xã Chân khớp bé(Microarthropoda: Acari, Oribatida, Collembola) và đa dạng thành phần loài Vegiáp (Acari: Oribatida) ở vùng núi Mẫu Sơn, tỉnh Lạng Sơn
2 Xây dựng bộ ảnh hình thái phân loại các loài Oribatida xác định được ởvùng nghiên cứu
3 Nghiên cứu cấu trúc định lượng quần xã Oribatida theo tầng thẳng đứng,theo đai khí hậu và bước đầu đánh giá vai trò của chúng như yếu tố sinh học chỉthị sự thay đổi khí hậu theo đai cao ở vùng nghiên cứu
4 Tổng quan tài liệu
4.1 Lược sử nghiên cứu Microathropoda trên thế giới.
Nghiên cứu về Ve giáp trên thế giới được bắt đầu từ rất sớm Từ cuối thế
kỷ XIX, chúng đã được các nhà khoa học nghiên cứu về sinh vật quan tâm và tiếnhành tìm hiểu Khu hệ Ve giáp luôn được bổ sung bởi số lượng loài mới, đượcphát hiện tăng thêm mỗi năm [12] [18]
Ở Trung Quốc, Wang et al (2002, 2003) đã thống kê được 580 loài và
phân loài thuộc 279 giống và có cung cấp thông tin chi tiết về sự phân bố của mỗi
Trang 14Đến 2001, khu hệ Ve giáp thế giới đã ghi nhận hơn 1300 giống của 191 họ,với hơn 10000 loài Nhưng theo suy đoán của một số nhà khoa học chuyênnghiên cứu về Ve giáp, số lượng thực tế của các loài còn được tìm nhiều hơn thế(khoảng từ 50000 – 100000 [50].
Thành phần loài Ve giáp không chỉ được bổ sung từ môi trường đất 15giống với nhiều loài chưa được mô tả, đã được thu thập từ thảm mục ở Oxtraylia
(Walter et al., 1993) [38] Walter đã ước tính rằng có ít nhất 102 loài Ve giáp
sống trong các tán cây của rừng mưa ở Oxtraylia, vòm lá của một cây cao 10m ởvùng mưa cận nhiệt đới nuôi dưỡng được gần 400000 Ve bét, mà chủ yếu Ve
giáp (Walter et al., 1995) [39] Có tới 85 giống thuộc 35 họ Ve giáp đã biết được
sống trên cây Hầu hết các loài thuộc nhóm Brachypylina, 2 giống của nhómDesmononata và một giống của Mixonomata cũng được thu thập từ các tán cây.Một vài taxon Ve giáp có nguồn gốc phát sinh sớm cũng có đại diện ở đây
(Norton, 1986; Walter et al., 1993) [35] [38].
Krivolutski et al, 2004 đã thực hiện công trình nghiên cứu sự cư trú của Ve
giáp trong lông các loài chim ăn thịt, chim cú và đã thu thập được 180 loài từ bộlông của hơn 2100 cá thể chim thuộc 150 loài chim với các nhóm sinh thái khác
nhau Một số loài Ve giáp thường xuyên sống trong lông chim (Krivolutski et al.,
2004) [32]
Nghiên cứu của Karasawa, 2004 cho thấy có một số loài của một vài giống(bao gồm Hydrozetes Berlese, 1902) sống trong các sinh cảnh nước ngọt: ao, hồ,sông, một số loài khác sống trong nước mặn: các bãi ven biển, rừng ngập mặn (Karasawa, 2004) [29]
Các nghiên cứu về sinh thái - sinh học Ve giáp có thể kể đến: Lindo et al.
(2007), nghiên cứu độ phong phú, độ đa dạng loài và thành phần quần xã Vegiáp ở dưới mặt đất và trên tán cây của 12 cây thông đỏ ở rừng thông - độccần nội địa (British columbia, Canada), các mẫu được thu từ tán lá, từ 3nhóm địa y khác nhau (địa y dạng lá, địa y dạng sợi và địa y dạng thùy) vàdưới gốc cây Kết quả cho thấy Ve giáp là nhóm chân khớp ưu thế ở các kiểusinh cảnh Số lượng chân khớp và Ve giáp phong phú nhất ở đất rừng trong
Trang 15mẫu địa y dạng lá so với các sinh cảnh khác (tán cây, địa y dạng sợi, dạngthùy) (theo Vũ Quang Mạnh, 2013) [47].
S Karasawa đã nghiên cứu ảnh hưởng của vi sinh cảnh (Microhabitat) và
sự phân cắt địa lý đến quần xã Ve giáp ở rừng ngập mặn tại đảo Ryukyu (NhậtBản), 2004 Ve giáp được thu thập từ lá, vỏ cây (ở 3 độ cao 0-50, 50-100, 100-150cm cách mặt đất), mẩu rễ cây, đất nền và từ loài tảo biển từ 2 hòn đảo cáchnhau 470km Kết quả cho thấy: thành phần loài quần xã Ve giáp ở vỏ đầu rễ cây
và vở thân cây có sự sai khác với ở lá cây, đất nền và từ tảo biển ở 2 hòn đảo này;quần xã Ve giáp ở cùng một kiểu sinh cảnh nhưng sống ở các địa điểm khác nhau
có khuynh hướng giống nhau hơn là những quần xã ở các sinh cảnh khác nhaunhưng cùng một địa điểm Điều này có nghĩa là cùng một thành phần loài Vegiáp ở rừng ngập mặn chịu ảnh hưởng của nhân tố vi sinh cảnh (đặc trưng đặcbiệt bởi các cây ngập nước thủy triều) lớn hơn là do bị phân cách về địa lí(Karasawa S., 2004) [29]
Zaitsev và Wolters, 2006 đã thực hiện các đợt điều tra thu mẫu Ve giáptheo một lớp cắt ngang Châu Âu, từ Hà Lan đến Matxcova (liên bang Nga) trongcùng một kiểu sinh cảnh (rừng rụng lá theo mùa) với mục đích đánh giá tác độngcủa khí hậu lục địa đến cấu trúc và độ đa dạng của quần xã Ve giáp Kết quảnghiên cứu cho thấy: khi hậu lục địa có ảnh hưởng rõ ràng đến cấu trúc, chứcnăng và độ đa dạng của các quần thể Ve giáp như làm gia tăng độ phong phú(mật độ trung bình) của các loài sống trên bề mặt thảm lá, theo chiều từ phía Tâysang phía Đông và làm giảm độ phong phú cua các loài sống trong lớp thảm Mặtkhác, cũng có những dấu hiệu chỉ thị cho sự thay đổi cấu trúc khu hệ dần dần,dọc theo lát cắt từ Tây sang Đông Kiểu đất đóng vai trò điều chỉnh thành phần
loài và độ giàu loài của quần xã Ve giáp (Zaitsev et al., 2006) [42].
Trong một nghiên cứu khác của Taylor và Wolters, 2005 hai tác giả đã sửdụng phương pháp túi lưới dựng lá để làm thực nghiệm nghiên cứu tác động của
sự khô hạn kéo dài của mùa hè đến cấu trúc quần xã Ve giáp trong 2 dạng lá (lácây sồi – cây lá rộng và lá cây vân sam – cây lá kim) với hai loại chất lượng (lá
Trang 16khô hạn có tác động đến sự phát triển của quần xã Ve giáp Trong thời gian ngắncủa nghiên cứu, quần xã Ve giáp trong lá cây sồi ít nhạy cảm với sự khô hạn hơn
so với quần xã Ve giáp trong lá vân sam Sự thay đổi về mật độ và thành phầnloài của Ve giáp được ghi nhận chỉ sau một vụ khô hạn của mùa hè đã cho thấy
có tiềm tàng một khả năng xảy ra sự thay đổi có ý nghĩa về cấu trúc quần xã Ve
giáp ở trong cả hai dạng lá nếu khí hậu thay đổi lâu dài (Taylor et al., 2005) [37].
Minor et al., 2004 đã điều tra ảnh hưởng của một vài loại vật liệu bổ sung
vào đất trồng liễu luân phiên trong thời gian ngắn đến độ phong phú, độ đa dạng
và cấu trúc quần xã quần xã Ve bét sống tự do trong đất (gồm hai nhóm Ve giáp
và Mesostigmata) phản ứng với các chất bổ sung khác với nhóm ăn mùn bã vànấm (Ve giáp) Phân đạm không ảnh hưởng lâu dài đến các nhóm Ve bét Lớp đấtphủ dẻo màu đen không ảnh hướng đến Mesostigmasa nhưng về lâu dài lại gâyhại cho Ve giáp Các vật liệu bổ sung vào đất có lợi cho Mesostigmata trong khi
đó, gây bất lợi cho Ve giáp [33]
Chachaj và Seniczak, 2006 nghiên cứu động thái mùa của độ phong phú
Ve giáp ở các đồng cỏ vùng đất thấp và các bãi chăn thả cừu, trâu bò ở một số địaphương Bắc Ba Lan, kết quả cho thấy: Động vật chăn thả đã làm thay đổi độngthái mùa của mật độ Ve giáp ở bãi chăn thả khi so sánh với đồng cỏ khô, chủ yếu
do độ phong phú của một vài loài Ve giáp Hầu hết Ve giáp đều nhạy cảm với
động vật chăn thả (Chachaj et al., 2006) [26].
Tìm hiểu về vai trò chỉ thị sinh học của Ve giáp cũng có nhiều công trìnhnghiên cứu
Ve giáp chịu ảnh hưởng có chọn lọc đối với thuốc trừ sâu Chúng tỏ ra
“trơ” hay không nhạy cảm với thuốc trừ sâu Thí dụ như với chlopyrifos (Stark,1992), phản ứng dương tính với thuốc trừ dịch hại (Broadbent và Tomlin, 1979)
và phản ứng âm tính với azadirachtin (Stark, 1992) (theo Vương Thị Hòa và nnk,2005) [2]
Theo Behan-Pelletier (1999), loài đông đảo xuất hiện chiếm ưu thế trongnhững môi trường sống đặc trưng hay trong các quần hợp đặc trưng, chúng nhưnhững sinh vật chỉ thị thích hợp [25]
Trang 17Một số nghiên cứu sơ bộ về chỉ thị sinh học trong môi trường đô thị cũngcho thấy Ve giáp là nhóm động vật nhạy cảm với sự thay đổi chất lượng khôngkhí (Weigmann, 1991) [41] Theo Steiner, ô nhiễm không khí, đặc biệt trongtrường hợp NO2 tăng cao, đã làm suy giảm độ giàu loài của Ve giáp và tạo ranhững quần xã đơn điệu nhiều hơn Ông cũng lưu ý rằng nhiều loài bị ảnh hưởngnhiều hơn bởi đặc trưng của vi sinh cảnh (Microhabitat) hơn là bởi mức độ ônhiễm và sự thay đổi trong các cấu trúc quần thể [36].
Cấu trúc quần thể, độ giàu loài và đặc điểm sinh sản của Ve giáp cũng cóphản ứng âm tính với liều cao của một số kim loại nặng trong môi trường đô thị.Tiềm năng của Ve giáp như một nhóm sinh vật chỉ thị chọn lọc cho sự ô nhiễmkhông khí và ô nhiễm kim loại nặng là rất quan trọng, cần được nghiên cứu rộnghơn, nhiều hơn, đặc biệt là ở những nơi mà hệ sinh thái nông nghiệp tiếp giáp gầngũi với khu vực đô thị (Behan-Pelletier, 1999) [25]
Không chỉ giới hạn trong các vấn đề vừa nêu, trên thế giới còn có nhiềuhướng nghiên cứu khác nữa về Ve giáp như: nghiên cứu nguồn gốc phát sinh Vegiáp; lịch sử hình thành loài, hướng tiến hóa của Ve giáp; ảnh hưởng của cácnhân tố tự nhiên lên mật độ, thành phần loài Ve giáp; vài trò của Ve giáp trong sựphân hủy và chu trình dinh dưỡng; nghiên cứu về quy luật và các yếu tố phát tán
Ve giáp; nghiên cứu về môi trường sống Ve giáp; nghiên cứu về sự đa dạng vàphân bố của Ve giáp trên toàn cầu…
4.2 Lược sử nghiên cứu Microathropoda ở Việt Nam
Động vật Arthropoda đất bao gồm ve bét (Acari), hình nhện (Araneida), bọcạp (Scorpionida), rết, cuốn chiếu (Chilopoda & Diplopoda) và nhiều côn trùng(Insecta) khác Chúng là thành phần quan trọng, không thể thiếu, tham gia vàocác quá trình sinh học của môi trường đất Cấu trúc quần xã động vật đấtArthropoda và biến đổi của nó, liên quan chặt chẽ đến tính chất của môi trường.Nhiều đại diện Arthropoda đất là những thiên địch ăn mồi, cung cấp một số hoạtchất sinh học quan trọng Do có vai trò không thể thay thế, nên Arthropoda đấtđang được nghiên cứu nhiều trên toàn thế giới
Trang 18Oribatida là thành phần ưu thế trong quần xã động vật Arthropoda đất về
đa dạng nhóm phân loại và mật độ quần thể Khu hệ Oribatida của Việt Nam chỉ
mới bắt đầu được nghiên cứu rộng và chuyên sâu từ năm 1967 Có thể khái quát
quá trình nghiên cứu khu hệ Oribatida và nhóm Chân khớp (Arthropoda) ở hệsinh thái đất Việt Nam, qua 3 giai đoạn chính như sau:
4.2.1 Giai đoạn từ năm 1967 - 1986
Trước năm 1967, nghiên cứu Oribatida ở Việt Nam chưa được quan tâmnhiều và hầu như vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào về nhóm động vật này.Đến năm 1967, khu hệ Oribatida bắt đầu được các tác giả nước ngoài quan tâmnghiên cứu Công trình đầu tiên được công bố là: “New oribatida (Acari,Oribatei) from Vietnam” của hai tác giả người Hungari là Balogh J và Mahunka
S [23] Qua công trình này các tác giả đã giới thiệu về khu hệ, danh pháp và đặcđiểm phân bố của 33 loài Oribatida, trong đó mô tả 29 loài và 4 giống mới Tiếptheo là nghiên cứu của hai tác giả Tiệp Khắc Rajski và Szudrowicz (theo Ermilov
et al., 2011) [43] [44] [45].
Cũng nhóm tác giả này trong các năm 1979, 1980 đã nghiên cứu vềAcarina và Collembola ở đất canh tác, Savan, đất rừng Buôn Lưới, Konhanưng(xã Sơn Lang, An Khê, Gia Lai + Kontum), nông trường Biển Hồ (Plêiku Gia Lai– Kontum), trại giống bông Cheo Reo Theo kết quả nghiên cứu có sự khác nhau
về sự phân bố của Acarina và Colllembola theo mùa và theo chiều sâu thẳngđứng Vào mùa khô Acarina và Collembola phân bố chủ yếu ở tầng đất từ 0 – 20
cm (80%, 75,4% tương ứng của mỗi nhóm trong tổng số lượng) Mùa mưa 2nhóm động vật này phân bố đồng đều hơn theo chiều sâu thẳng đứng ở độ sâu từ
0 – 40 cm Thành phần loài Acarina và Collembola có sự sai khác rất nhỏ giữamùa mưa và mùa khô: mùa mưa Acarina chiếm 75,5%, Collembola chiếm 25,5%,mùa khô các tỉ lệ đó là 75,4% Acarina và 24,6% Collembola (theo Vũ QuangMạnh và nnk, 2012 [17]
Công trình đầu tiên đánh dấu cho sự phát triển của nghiên cứu trong giaiđoạn này là nghiên cứu về nhóm chân khớp bé (Microarthropoda) ở đất Cà Mau(Minh Hải) và Từ Liêm (Hà Nội) năm 1984 của Vũ Quang Mạnh Tác giả đã tiến
Trang 19hành nghiên cứu trên bờ sông Nhuệ, ở ruộng luân canh rau xanh xã Mai Dịch (TừLiêm, Hà Nội) và ở vườn trồng các loại cây lâu niên và rau xanh ven thị xã CàMau (Minh Hải) [6].
4.2.2 Giai đoạn từ năm 1987 - 2007
Trong giai đoạn này đầu tiên có thể kể đến công bố của Mara Jeleva và VũQuang Mạnh năm 1987 về ve giáp bậc thấp ở miền Bắc Việt Nam Trong côngtrình này, các tác giả giới thiệu đặc điểm phân bố, danh pháp phân loại học củanhững loài ve giáp bậc thấp đã phát hiện được tại thời điểm nghiên cứu ở miềnBắc Việt Nam (Jeleva M và Vu Quang Manh, 1987) [46]
Năm 1990, các tác giả Vũ Quang Mạnh và Cao Văn Thuật đã có nghiêncứu về cấu trúc định lượng của nhóm chân khớp bé (Microarthropoda: Oribatei,Acari khác và Collembola) ở 7 kiểu hệ sinh thái, 5 dải độ cao khí hậu và 3 loạiđất vùng đồi núi đông bắc Việt Nam Các tác giả đã xác định được mật độ chânkhớp bé trong lớp đất mặt 10 cm thay đổi từ 4040 đến 12180 cá thể / 1m2 ở các
hệ sinh thái, từ 2750 đến 16530 cá thể /1m2 ở các dải độ cao khí hậu và từ 5390đến 6200 cá thể/1m2 ở các loại đất nghiên cứu Lớn nhất là sai khác mật độ nhómchân khớp bé ở các dải độ cao khí hậu; còn ở các loại đất khác nhau thì sai khácnày hầu như không có Từ hệ sinh thái vườn trồng cây gỗ và cây ngắn ngàyquanh khu dân cư cho đến hệ sinh thái rừng nguyên sinh nhóm ve giáp luônchiếm số lượng lớn, từ 72,1% cho đến 83,7% tổng số lượng nhóm chân khớp bé,còn nhóm bọ nhảy chỉ dưới 10% tổng số lượng Chỉ riêng hệ sinh thái nôngnghiệp điển hình bọ nhảy chiếm đến 32,8% tổng số lượng chân khớp bé Theo dải
độ cao khí hậu có khuynh hướng tăng số lượng nhóm chân khớp bé ở dải nhiệtđới có mùa đông rét, cao 600 – 300m, và giảm chỉ số này ở dải nhiệt đới không
có mùa đông rét, cao 100 – 30 m, còn ở các dải khí hậu còn lại thì số lượng củachúng giữ vị trí trung bình, so với 2 dải cao trên Nhóm ve giáp luôn có số lượnglớn trong tổng số chân khớp bé, từ 65,7% đến 81,5%, còn bọ nhảy cũng chỉchiếm số lượng ít, từ 2,6% đến 15,1% tổng số lượng chân khớp bé Nghiên cứutrên 3 loại đất (đất pheralít mùn vàng nhạt trên núi cao, đất pheralít đỏ nâu trên
Trang 20giáp và cả nhóm chân khớp bé không chênh lệch nhiều giữa 3 kiểu đất nghiêncứu từ 3480 đến 4080 ve giáp và từ 5390 đến 6200 chân khớp bé trên 1m2 mặtđất [15] Như vậy có thể nói đây là một trong các công trình nghiên cứu khá đầy
đủ về nhóm Oribatida Các đặc điểm sinh thái học của nhóm động vật này đãđược lần lượt phân tích dưới tác động của các nhóm nhân tố sinh thái Đặc biệttrong nghiên cứu này tác giả đã chú ý đến ảnh hưởng của đai khí hậu đến cấu trúcquần xã Oribatida, đây là một hướng nghiên cứu mới trong giai đoạn này
Trong thông báo khoa học của các trường đại học năm 1994, Vũ QuangMạnh đã đưa ra dẫn liệu về cấu trúc quần xã ve giáp (Acari: Oribatei) vùng đảoCát Bà ven biển Bắc Việt Nam Qua nghiên cứu tác giả đã giới thiệu danh sáchcác loài ve giáp, sống ở đất vùng ven biển Yên Hưng (Quảng Ninh), đảo Cát Bà(Hải Phòng) và đồng bằng sông Hồng (Từ Liêm, Hà Nội) Tác giả đã xác địnhđược 28 loài ve giáp thuộc 16 họ, 22 giống [9]
Năm 1995, Vũ Quang Mạnh đã công bố công trình nghiên cứu vai tròcủa hệ động vật đất đối với quá trình cải tạo đất, góp phần phủ xanh đất trốngđồi trọc [10]
Tổng kết quá trình nghiên cứu về ve giáp ở Việt Nam của bản thân tác giả
và các tác giả có liên quan, năm 1995, Vũ Quang Mạnh và Vương Thị Hòa đãcông bố danh sách đầy đủ các loài ve giáp đất (Acari: Oribatei) ở Việt Nam tạithời điểm tổng kết Danh sách này bao gồm 146 loài ve giáp thuộc 87 giống, 44
họ Tính đa dạng phân loại học của khu hệ ve giáp thể hiện chủ yếu ở các taxonphân loại bậc giống và họ Trung bình cứ 1 họ có 2 giống, mỗi giống có chưa đến
2 loài Trong 44 họ ve giáp đất ở Việt Nam, thì 56,82% họ chỉ có 1 giống chỉ
riêng họ Oppiidae có 10 giống còn tất cả các họ còn lại chỉ có 5 giống trở xuống.
Trong 44 họ ve giáp thì số họ có từ 1 – 5 loài chiếm 86,36%, số họ chỉ có 1 loàichiếm 47,73% Còn các họ có từ 6 loài trở lên chiếm 13,63% tổng số họ [13]
Năm 1997, trong công trình nghiên cứu khu hệ Oribatida của vùng núi caoPhanxipăng, Krivolutsky và cộng sự đã phát hiện ra 7 họ không những là đại diệnđặc trưng của miền Bắc Việt Nam mà còn là đặc trưng của hệ động vật mang tính
Ấn Độ - Mã Lai, với yếu tố khí hậu ôn đới [48]
Trang 21Một trong các hướng nghiên cứu thu hút được rất nhiều sự chú ý của cácchuyên gia chuyên ngành là nghiên cứu về vai trò chỉ thị sinh học của Ve giápnói riêng và của nhóm động vật chân khớp bé nói chung Thuộc vào hướngnghiên cứu này, có thể kể đến công trình nghiên cứu của nhóm tác giả Vũ QuangMạnh, Đỗ Huy Trình, Nguyễn Trí Tiến báo cáo tại hội thảo bảo vệ môi trường và
sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên năm 2002 Trong công trình này các tácgiả đã nghiên cứu về ảnh hưởng của chế độ bón phân lên cấu trúc quần xã độngvật chân khớp bé (Microarthropoda) ở đất canh tác vùng Bắc Giang Các tác giả
đã nghiên cứu cấu trúc và mật độ các nhóm ve bét chính ở đất canh tác với 7 chế
độ bón phân khác nhau và ở đất đối chứng Các mẫu đất được thu theo hai tầngthẳng đứng, tầng 1: sâu trong đất từ 0 – 10cm, tầng 2: sâu trong đất từ 11 – 20cm
Các nhóm ve bét chính được khảo sát và đối chứng là ve giáp (Oribatei), ve mò mạt (Gamasina), ve Uropodina và ve bét khác (other Acarina) [19].
Năm 2004, Vũ Quang Mạnh và Nguyễn Xuân Lâm đã đưa ra kết quảnghiên cứu quần xã chân khớp bé ở các đai khí hậu của vườn quốc gia Tam Đảo.Các tác giả đã tiến hành nghiên cứu ở các đai độ cao 450m, 900m và 1300m Kếtquả phân tích về mật độ, phân bố và cấu trúc nhóm cho thấy ở đai cao khí hậu
1300, trên 1m2 số lượng nhóm Oribatei, Collembola chiếm 34,46%, 0,8% tổng số
lượng cá thể chân khớp bé còn lại các ve bét khác chiếm số lượng chủ yếu Ở đaicao khí hậu 900m, tỉ lệ số lượng cá thể Oribatei, Acarina khác và Collembola lầnlượt là: 39,9%, 23,3%, 23,7% Tương ứng ở đai cao khí hậu 450m, các tỉ lệ nàytương ứng là: 50,3%, 19,4%, 15,7% Như vậy tỉ lệ số lượng cá thể nhóm Oribatei
có xu hướng tăng theo chiều giảm độ cao của đai khí hậu Đặc điểm khác biệt có
ở mật độ quần xã chân khớp bé đạt lớn nhất ở hệ sinh thái rừng của đai cao900m, thấp hơn và tương đối đồng đều ở đai cao 1300m và 450m, không xácđịnh thấy có sự sai khác đặc biệt trong cấu trúc quần xã chân khớp bé, theo ba đaicao khí hậu của vườn quốc gia Tam Đảo Kết quả phân tích về mật độ, phân bố
và tỷ lệ giữa các nhom Oribatei, ve Gamasina và ve Uropodina cho thấy ở đai cao1300m tỷ lệ số lượng cá thể của Oribatei, Gamasina và Uropodina lần lượt là
Trang 22ở đai cao khí hậu 450m, Oribatei chiếm 72,2%, Gamasina chiếm 20,5% vàUropodina chỉ chiếm 0,1% Như vậy tương tự như ở các nhóm chân khớp bé, mật
độ quần xã Acarina đạt lớn nhất ở hệ sinh thái rừng của đai cao 900m, thấp hơn
và tương đối đồng đều hơn ở các đai cao 1300m và 450m [14]
Ngoài các công trình trên, còn phải kể đến của nhóm tác giả Vương ThịHòa, Hoàng Nguyên Bình, Nguyễn Sỹ Vinh, Vũ Quang Mạnh được công bốnăm 2005, nghiên cứu về ảnh hưởng của thuốc trừ sâu Shachong Shuang 200
SL đến cấu trúc và số lượng của động vật chân khớp bé (Microarthropoda) ở
đất vườn thí nghiệm khoa sinh – KTNN trường ĐHSPHN2 Xuân Hòa, MêLinh, Vĩnh Phúc [3]
Năm 2007, trong báo cáo hội nghị khoa học toàn quốc về sinh thái và tàinguyên sinh vật lần thứ hai, Vũ Quang Mạnh đã trình bày việc áp dụng phươngpháp biểu đồ lưới trong nghiên cứu cấu trúc quần xã động vật Tác giả đã trìnhbày kết quả phân tích sự hình thành quần xã động vật ve giáp (Acari: Oribatida) ởmiền bắc Việt Nam bằng phương pháp biểu đồ lưới Cấu trúc quần xã đã đượckhảo sát theo 6 kiểu hệ sinh thái khác nhau ở miền Bắc Việt Nam Qua phân tíchbằng phương pháp biểu đồ lưới ta thấy sự biến đổi của quần xã ve giáp ở các hệsinh thái đất ở miền Bắc Việt Nam diễn ra theo trình tự, từ rừng tự nhiên đến các
hệ sinh thái nhân tác, mà trong đó gồm cả rừng nhân tác, cuối cùng là trảng cỏ tựnhiên và cây bụi Mẫu phân tích ở mức độ loài thu được từ các vùng và sinh cảnhcàng đồng nhất càng tốt Đối với các nhóm động vật đất, có thể thu mẫu theo đặcđiểm tầng thảm phủ thực vật, theo các tán cây rừng , theo các tầng sâu trong đất,theo mùa trong năm Các số liệu để so sánh có thể là dẫn liệu định tính của khu
hệ, như danh sách thành phần loài hay tính chất của các pha phát triển, tuổi sinhhọc hoặc các số liệu định lượng cá thể, sinh lượng… Phương pháp biểu đồ lưới
có thể dùng để so sánh từng đôi giá trị chỉ số đồng dạng thành phần loài đồngthời với nhiều chỉ tiêu khác nhau trong cùng một thời điểm [11]
Một trong những công trình tiêu biểu đánh dấu bước phát triển trong giaiđoạn này là Động vật chí của Vũ Quang Mạnh được công bố năm 2007 Trong
Trang 23công trình này tác giả đã trình bày danh sách gồm 150 loài ve giáp phát hiệnđược ở Việt Nam cho đến thời điểm nghiên cứu [12].
4.2.3 Giai đoạn từ năm 2008 đến nay
Đầu tiên có thể kể đến công trình của Vũ Quang Mạnh, Lưu Thanh Ngọc,Nguyễn Hải Tiến nghiên cứu về cấu trúc quần xã chân khớp bé(Microarthropoda: Oribatida, Collembola) ở đất liên quan đến đặc điểm thảm câytrồng ở vùng đồng bằng sông Hồng, Việt Nam Nghiên cứu được tiến hành ở 5tỉnh thuộc đồng bằng sông Hồng: Hà Tây, Hà Nội, Thái Bình, Nam Định, trên 6loại sinh cảnh: rừng tự nhiên, rừng nhân tác, đất trồng cây gỗ lâu năm, vườnquanh nhà trồng xen cây lâu năm và ngắn ngày, trảng cỏ và bãi cỏ hoang, ruộngcanh tác lúa cạn Kết quả nghiên cứu cho thấy, đã xác định được 32 loàiOribatida ở vùng đồng bằng sông Hồng Ở sinh cảnh rừng tự nhiên Oribatidaluôn chiếm mật độ ưu thế với 8.267 cá thể/m2, chiếm 40,26% tổng số lượng chânkhớp bé Trong cấu trúc quần xã Microarthropoda ở rừng nhân tác, Oribatidacũng chiếm mật độ lớn nhất với 9.333 cá thể/m2, chiếm 48,28% tổng số lượng cáthể chân khớp bé Trong mẫu thảm lá rừng nhân tác mật độ Microarthropoda xácđịnh được là thấp hơn so với rừng tự nhiên Ở sinh cảnh đất trồng cây gỗ lâu nămxác định thấy mật độ các nhóm Microarthropoda tăng đáng kể và Oribatida đạtmật độ cao nhất với 14.400 cá thể/m2 Ở sinh cảnh vườn quanh nhà trồng xen câylâu năm và ngắn ngày, xác định thấy có sự sai khác rõ rệt về mật độ của Oribatida
so với các sinh cảnh nghiên cứu khác Oribatida chỉ đạt 5.511 cá thể/m2 và chiếm14,8%, là mật độ rất thấp so với các nhóm Microarthropoda khác cùng sinh cảnhnghiên cứu Nhóm Oribatida có mật độ cá thể lớn nhất ở sinh cảnh trảng cỏ vàbãi cỏ hoang, so với 5 sinh cảnh nghiên cứu còn lại, đạt 16.400 cá thể/m2, chiếm48,24% tổng số lượng Microarthropoda Thành phần loài Oribatida phát hiệnđược ở sinh cảnh trảng cỏ và bãi cỏ hoang khá lớn so với các sinh cảnh khác.Phân tích cấu trúc quần xã Microarthropoda ở sinh cảnh ruộng canh tác lúa cạncho thấy, Oribatida có mật độ lớn nhất với 9.600 cá thể/m2 Tuy nhiên đa dạngthành phần loài Oribatida ở sinh cảnh ruộng lúa cạn là rất thấp, chỉ phát hiện được
Trang 24nói chung và thành phần loài Oribatida nói riêng ở vùng nghiên cứu có sự biếnđổi liên quan đến đặc điểm cây trồng và thảm phủ thực vật [16].
Một công trình khác nghiên cứu về Oribatida ở vườn quốc gia Phong Nha– Kẻ Bàng là công trình của Nguyễn Hải Tiến, Vũ Quang Mạnh Các tác giả đãnghiên cứu về vai trò chỉ thị sinh học của cấu trúc quần xã ve giáp với sự thay đổiđiều kiện môi trường ở khu vực nghiên cứu Tác giả tiến hành nghiên cứu trên 5sinh cảnh theo diễn thế suy giảm của thảm rừng gồm: rừng tự nhiên, rừng nhântác trên nền núi đá vôi và trên nền núi đất, đất canh tác nông nghiệp, đất trảng cỏ,cây bụi và đất bồi tụ ven sông Qua nghiên cứu tác giả đã ghi nhận được 106 loài
và 1 phân loài Oribatida, trong đó có 24 loài mới xác định đến giống Các loài vàphân loài này thuộc 73 giống, 40 họ theo hệ thống phân loại của P Balogh và J.Balogh (1992, 2002) [22] [24]
Trong các công trình được công bố gần đây thì có thể nói công trình cómức nghiên cứu chuyên sâu và rộng nhất công trình nghiên cứu về hệ thống, địađộng vât, hình thái và vai trò trong hệ sinh thái của oribatida của Vũ Quang Mạnhđược trình bày trong luận án tiến sĩ khoa học của tác giả Trong công trình nàytác giả đã tổng kết và đưa ra danh sách đầy đủ các loài oribatida đã được pháthiện ở Việt Nam tại 7 khu vực cho tới thời điểm nghiên cứu Theo đó về đa dạngthành phần loài ve giáp tại tất cả các địa điểm nghiên cứu được ghi nhận gồm 316loài và 4 phân loài, thuộc 163 giống và 60 họ và 2 phân họ trong đó có 155 loài(48,44% tổng số loài) lần đầu tiên được phát hiện cho khu hệ Ve giáp Việt Nam
và 183 loài được mô tả mới cho khoa học Đặc biệt trong công trình này tác giả
đã đưa ra được bộ ảnh chụp và kích thước đo được của đa số các loài được mô tả
Từ phân tích kết quả thu được tác giả đánh giá một trong các đặc trưng địa độngvật học của khu hệ ve giáp Việt Nam là tính đa dạng Nó bao gồm tất cả 8 yếu tốđịa động vật thế giới chỉ trừ Nam cực Thành phần địa động vật chủ yếu cả khu
hệ ve giáp Việt Nam là các loài phương Đông với 192 loài (chiếm 60,0%) tổng sốloài đã được ghi nhận tại Việt Nam Khu hệ Việt Nam có tính đặc trưng cao với
111 loài (chiếm 34,68% tổng số loài) chỉ phát hiện ở Việt Nam [47]
Trang 25Cho đến nay, đã có nhiều đề tài của sinh viên làm luận văn tốt nghiệp, luậnvăn Thạc sỹ, luận án Tiến sỹ nghiên cứu nhóm đối tượng này ở nhiều địa điểmkhác nhau, nhiều phạm vi và nội dung khác nhau (Ngô Như Hải, 2011; NguyễnHải Tiến 2012, ) [1], [21].
Như vậy, nghiên cứu Microarthropoda ở Việt Nam đã bắt đầu từ thế kỷ
XX nhưng mới chỉ tiến hành lẻ tẻ, không đồng bộ Cho đến cuối những năm 1970đến 1980 với hàng loạt các công trình do các tác giả Việt Nam tiến hành đã đềcập vấn đề một cách toàn diện, có hệ thống và đã đạt được nhiều kết quả đángchú ý
5 Đối tượng, địa điểm, thời gian và phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu
Đối tượng:
Nghiên cứu các loài thuộc bộ Ve giáp (Oribatida), phân lớp ve bét (Acari),lớp hình nhện (Arachnida), phân ngành chân khớp có kìm (Chelicerata), ngànhchân khớp (Arthopoda) ở vùng núi Mẫu Sơn tỉnh Lạng Sơn
Thời gian:
Tiến hành nghiên cứu thực địa thu mẫu vào tháng 6 năm 2014 Ngay khi đithu mẫu về, chúng tôi đã tiến hành lọc và tách mẫu Microarthropoda ra khỏi đấttrong phòng thí nghiệm Sau đó tiến hành tách mẫu, phân tích và xử lý số liệu từđầu tháng 7/2014 cho đến cuối tháng 5/2015
Địa điểm:
Nghiên cứu được tiến hành ở vùng núi Mẫu Sơn huyện Lộc Bình, tỉnhLạng Sơn Ở 4 đai cao khí hậu (theo Vũ Tự Lập, 2006) [5]
Đai cao (I) (<300m) Tọa độ địa lý: 21° 50’ 48.6” N - 107° 00’688” E
Đai cao (II) (>300m-600m) Tọa độ địa lý: 21° 50’ 48.3” N - 107° 00’672” E.Đai cao (III) (>600-900m) Tọa độ địa lý: 21° 50’ 50,7” N - 108° 00’689” E.Đai cao (IV) (>900-1200m) Tọa độ địa lý: 21° 50’ 57,5” N-108° 00’721” E
Trang 265.2 Phương pháp nghiên cứu
5.2.1 Thu mẫu đất, tầng rêu và thảm lá rừng
Phương pháp thu mẫu đất, tách lọc và phân tích xử lý mẫu Oribatida được
sử dụng theo phương pháp chuẩn chuyên ngành và đã được áp dụng đồng bộ ởViệt Nam Mẫu thu tại sinh cảnh rừng tự nhiên ở các đai cao
Mẫu rêu trên mặt đất: 0 → +100cm (kí hiệu +1); Mẫu thảm lá rừng trênmặt đất: 0cm (kí hiệu: 0); Mẫu đất thu được ở 2 độ sâu thẳng đứng trong đất: 0 -10cm, 10 - 20cm (kí hiệu lần lượt là -1, -2)
Trọng lượng mỗi mẫu rêu là 200g/ 1 mẫu
Kích thước mỗi mẫu thảm lá rừng là (25x25)cm2
Kích thước mỗi mẫu đất là (5x5x10)cm3
Lấy mẫu tại 4 điểm thuộc mỗi đai cao Mỗi điểm lấy 5 mẫu định lượng.Tổng số mẫu thu ở 4 đai cao khí hậu: 80 mẫu định lượng Mẫu định tính được thu
ở quanh điểm thu mẫu định lượng để bổ sung thành phần loài Ve giáp ở khu vựcnghiên cứu
Máy GPS đo tọa độ, bản đồ, thu mẫu bằng hộp kim loại có kích thước
(5x5x15) cm3, thuổng, dao cạo rêu, thước kẻ, túi nilon, giấy etiket (giấy can),
máy ảnh chụp sinh cảnh, sổ nhật kí, bút, bút phớt
Dùng hộp kim loại (5x5x15) cm3, thuổng lấy mẫu đất ở vị trí nêu trên
Ở mỗi vị trí ta thu mẫu đất vào túi nilon nhỏ ghi rõ thông tin vào giấy canbuộc mẫu
Các mẫu cùng đai cao thì cho vào 1 túi to ghi kí hiệu để tránh nhầm lẫn
Chú thích kí hiệu ghi trên giấy can theo 1 trình tự nhất định
Ghi nhật kí thực địa: ngày thu, người thu, thời tiết, sinh cảnh, phỏng vấnqua dân địa phương
Mẫu được đem về phòng thí nghiệm để phân tích không để quá 3 ngày
Trang 275.2.2 Phương pháp tách lọc mẫu Microarthropoda
Tiến hành tách lọc động vật chân khớp bé (Microarthropoda) ra khỏi đấttheo phương pháp dùng phễu lọc Berlese – Tullgren trong thời gian 7 ngày đêm.Mẫu đất trên phễu lọc khô dần và theo đó, Microarthropoda sẽ chui dần xuốngphía dưới qua phễu lọc và rơi xuống đáy phễu Dưới đáy phễu có gắn ốngnghiệm, bên trong đựng dung dịch cồn nguyên chất để cố định mẫu
Phễu lọc thủy tinh (hoặc giấy cứng) cao 30cm; đường kính miệng 18cm;đường kính vòi 1,0cm
Rây lọc hình trụ có thành vành kim loại đường kính 15cm, cao 4cm, lướilọc bằng sợi nilon có kích thước mắt lưới (1,5x1,5) mm
Giá gỗ, vòi gắn phễu với ống nghiệm (quả bóng bay)
Giấy etiket, cồn nguyên chất
Các mẫu đất được bẻ nhỏ rải đều trên mặt rây, phần vụn lọt qua mắt lưới sẽđược đổ lại trước khi đặt rây lên phễu
Rây để vào miệng phễu cứng, vòi phễu có ống thu đựng dung dịch địnhhình là cồn nguyên chất và giấy can ghi thông số
Lọc trong 7 ngày đêm liên tục và để cố định tránh va chạm
Sau khi lọc dùng bông không thấm nước nút kín ống nghiệm và dùng dâynịt bó những ống có cùng công thức và cho vào lọ ghi nhãn để phân tích tránhnhầm lẫn
5.2.3 Phân tích và định loại Ve giáp
Giấy lọc, cốc thủy tinh, nước cất, đĩa Petri, kính hiển vi, kim phân tích, lamlõm, bút không phai, dung dịch định hình axit lactic
Dùng giấy lọc có chia ô gấp hình phễu đặt lên cốc thủy tinh
Đổ dung dịch trong ống nghiệm lên phễu lọc đó, tráng lại nhiều lần bằngnước cất để tránh sót mẫu
Sau khi lọc đặt giấy lọc chứa mẫu lên đĩa Petri có ghi rõ thông tin ởđáy hộp
Tiến hành phân tích dưới kính hiển vi có độ phóng đại 200- 400 lần
Trang 28Dùng kim phân tích để nhặt mẫu, nhận dạng và ghi số lượng từng nhómvào sổ bảo tàng.
Mẫu Oribatida, trước khi được định loại cần được tẩy màu, làm trong vỏkintin cứng Quá trình làm trong màu có thể diễn ra trong một vài ngày hoặc lâuhơn nên cần nhặt Oribatida riêng ra một lam kính lõm Dựa vào đặc điểm hìnhdạng ngoài, dùng kim tách sơ bộ chúng thành nhóm có hình thù giống nhau riêng.Đặt lamel ở bên trái lam kính sao cho chỉ phủ một phần chỗ lõm Dùng kimchuyển từng Oribatida vào chỗ lõm dưới lamel để quan sát ở các tư thế khác nhautheo hướng lưng và hướng bụng Khi mẫu ở đúng tư thế quan sát, ta chuyển sang
ở kính hiển vi
Sau khi định loại xong, các loài được đo kích thước và chụp ảnh; tất cả các
cá thể cùng một loài để chung vào một ống nghiệm, dùng dung dịch định hìnhbằng cồn tuyệt đối Dùng giấy can ghi các thông số tên loài cần thiết bằng bút chìrồi nút bằng bông không thấm nước; tất cả các ống nghiệm được đặt chung vào lọthuỷ tinh lớn chứa cồn tuyệt đối để bảo quản lâu dài Ghi tất cả các tên loài đãđược định loại vào nhật ký phòng thí nghiệm
Đặc điểm hình thái phân loại Ve giáp (Acari: Oribatida): Ve giáp là
nhóm chân khớp có kìm hình nhện (Arthropoda: Chelicerata), do có kíchthước cơ thể nhỏ từ 0,1-0,2 đến 1,0-2,0mm, nên được xếp vào nhóm chânkhớp bé (Microarthropoda) Cơ thể của chúng thường phồng hình khối vàđược bao phủ bởi vỏ kitin dày, tạo nên màu vàng nhạt đến nâu đen của nhóm
Ve giáp Cơ thể của chúng chia thành hai phần chính là đầu ngực và bụng.Trên cơ thể mang 6 đôi phần phụ, bao gồm 1 đôi kìm, 1 đôi chân xúc giác
pedipalpi và 4 đôi chân bò [12].
Trang 29Hình 1: Sơ đồ cấu trúc cơ thể của Oribatida (theo Vũ Quang Mạnh, 2007)
Ghi chú:
Prosoma: là phần đầu ngực bao gồm cả 4 đôi chân I, II, III và IV.
Proterosoma: là phần trước đầu ngực chỉ bao gồm 2 đôi chân trước.
Hysterosoma: là phần thân bao gồm cả giáp hậu môn (AN), giáp sinh dục
(G) và 2 đôi chân sau
Prodorsum : là tấm giáp đầu ngực.
Notogaster: là tấm giáp lưng.
Gnathosoma: là phần hàm miệng.
Propodosoma: là phần thân trước mang đôi chân I và II.
Metaprodosoma: là phần thân giữa mang đôi chân III và IV.
Podosoma: là phần ngực bao gồm cả 4 đôi chân.
Anogenital region: vùng hậu môn – sinh dục gồm giáp hậu môn và giáp
sinh dục
Trang 30ro,lm: lông ro; tấm lamella.
Le, in, ss: lông mọc trên lamalla, lông interlamela, lông sensilus.
Tutorium: tấm kitin chìa ra nằm dưới và chạy song song với lamella.
Cuspis: phần đỉnh của tấm lamella chìa lên bề mặt cơ thể.
Prolamela: phần tấm kéo dài ở trước lamella, không chìa lên trên bề mặt
cơ thể
Mentotectum: tấm viền cằm.
Pteromorpha: là tấm cánh nối với notogaster.
Custodium: là của tấm kitin nhọn, chạy dài từ pd4 đến pd1.
Discidium: là tấm gốc của custodium chìa lên mặt cơ thể, nằm ở phần gốc
các chân
c
Trang 31Aa, A1,A2,A3 và Ah,Al là các đôi vùng lỗ thở mặt lưng và phía bên cơ thể;
ta, te, ti, ms, r1, r2, r3, p1, p2, p3, la, lm: các lông notogaster ở ve giáp bậc cao; Aspis: vùng sau chỏm nhọn rotrum ở nhóm ve giáp bậc thấp dạng ptychoid; c1, c2, c3, cp, d1, d2 ,e1, e2, f1, f2, h1, h2, h3, ps1, ps1, ps3: các lông notogaster ở
ve giáp bậc thấp; gla: tuyến dầu nhờn; h: Lông dưới miệng; 1a, 1b, 1c và 2a, 3a,
3b, 3c và 4a, 4b, 4c, 4d: các lông của epimeres 1, 2, 3 và 4; ap1, ap2, ap3, ap4, ap5, ap sej., ap.st.: các mấu lồi trong apodemes; pd1, pd2, pd3, pd4: các tấm pedotecta phủ mặt trên của gốc các chân; ia, ih, im, ips, iad, ian: các khe cắt lyrifissures.
G, AG: giáp sinh dục và giáp quanh sinh dục; g và ag: các lông sinh dục và
lông quanh sinh dục
Danh sách các loài Oribatida thu được ở vùng nghiên cứu được sắp xếptheo hệ thống phân loại của Subias L S (2013) [49] Các loài trong một giốngđược sắp xếp theo vần a, b, c Định loại Ve giáp (Acari: Oribatida) chủ yếu theotài liệu định loại, các khóa định loại của các tác giả: Vũ Quang Mạnh, 2007;Balogh J và Balogh P., 1992, 2002; Krantz G W & Water D E., 2009; GhilarovM., D Krivolutsky, 1975; Subias L S (2013) [12], [22], [24] [28] [31] [49]
5.2.4 Nhận dạng và chụp hình Ve giáp
Trong quá trình định loại, công việc được tiến hành đồng thời là lựa chọncác cá thể có hình dạng đặc trưng cho loài (các bộ phận, các phần phụ cơ thể, cácđặc điểm để nhận dạng dễ quan sát, màu sắc đẹp) và đánh dấu để làm mẫu chụp
Trước khi chụp cần chuẩn bị mẫu vật Ve giáp Đầu tiên chuẩn bị lam lõm(được lau sạch bằng cồn) sau đó tiến hành như sau: nhỏ axit lactic vào lam lõm,đưa lamen vào bên trái lam lõm, đưa lam kính lên kính lúp, dùng kim phân tíchnhặt từng cá thể Ve giáp đã được chọn lọc và đánh dấu đưa vào dưới lamen vàchỉnh tư thế của mẫu vật (theo mặt lưng, bụng hoặc nghiêng theo mục đích cầnchụp) sau đó chuyển sang kính hiển vi có độ phóng đại lớn hơn để kiểm tra lạicho đúng loài cần chụp Nếu tư thế của mẫu chưa đạt yêu cầu thì có thể chỉnh lại(sao cho dễ quan sát, có thể nhìn thấy được các bộ phận, phần phụ, đặc điểm
Trang 32nhận dạng tốt nhất) bằng cách dùng tay nhẹ nhàng điều khiển lamen ở bên tráilam lõm để thay đổi tư thế, góc độ của mẫu.
Tiến hành tương tự cho đến loài cuối cùng Các mẫu Ve giáp được chuẩn
bị xong sẽ được đưa lên kính có độ phóng đại lớn hơn để chụp hình Chúng tôi sửdụng kính hiển vi Olympus CX41 (Nhật) có độ phóng đại từ 10-1000 lần để chụphình Ảnh chụp được lấy từ nhiều góc độ, tư thế khác nhau của mẫu để thể hiệnđược các đặc điểm hình thái phân loại của loài
- Độ ưu thế (D):
D = n a
N x 100Trong đó: na:Số lượng cá thể của loài a
N: Tổng số cá thể của toàn bộ mẫu theo tầng phân bố hay đai caonghiên cứu
Loài ưu thế là loài có độ ưu thế (D) có giá trị bằng hoặc lớn hơn 5%
- Độ đa dạng loài (H’) – Chỉ số Shannon – Weaver
Trang 33Trong đó: s - số lượng loài;
ni - số lượng cá thể của loài thứ i
N - tổng số lượng cá thể trong tầng phân bố hay đai cao nghiên cứu.Giá trị H’ dao động từ 0 đến ∞
- Độ đồng đều (J’) – Chỉ số Pielou
S
H J
ln
''
Trong đó : H’ - độ đa dạng loài
S - số loài có trong tầng phân bố hay đai cao nghiên cứu
Giá trị J’ dao động từ 0 đến 1
5.3 Vài nét về đặc điểm tự nhiên và xã hội tại Mẫu Sơn, Lạng Sơn
5.3.1 Vị trí địa lý và địa hình
Trang 34Hình 3: Vùng núi Mẫu Sơn và các địa điểm lấy mẫu (www.langson.gov.vn)
Mẫu sơn là vùng núi cao chạy theo hướng Đông- Tây nằm trên địa bàn 3xã: Công Sơn, Mẫu Sơn (huyện Cao Lộc) và xã Mẫu Sơn (huyện Lộc Bình), tỉnhLạng Sơn, cách thành phố Lạng Sơn 30km về phía Đông Tỉnh Lạng Sơn có tọa
độ địa lý 20° 27’ - 22° 19’ vĩ Bắc và 106° 06’ - 107° 21’ kinh Đông Phía Bắcgiáp tỉnh Cao Bằng, phía Đông Bắc giáp Sủng Tả (Quảng Tây, Trung Quốc), phíaNam giáp tỉnh Bắc Giang, phía Đông Nam giáp tỉnh Quảng Ninh, phía Tây giáptỉnh Bắc Cạn, phía Tây Nam giáp tỉnh Thái Nguyên Đây là vùng núi cao củatỉnh, có địa hình đa dạng, độ cao trung bình 800-1000m so với mặt nước biển,bao gồm một quần thể gồm 80 ngọn núi lớn nhỏ với đỉnh cao nhất là Phia Po(1.541m, con gọi là đỉnh Công hay Công Sơn_nơi đặt cột mốc 42, biên giới ViệtTring), đỉnh Pia Mê cao 1520m Diện tích khu Mẫu Sơn khoảng 550 km² Khudân cư sống rải rác gần khu rừng trồng, thuộc vành đai thấp với độ cao không quá
700 m so với mặt nước biển [52]
5.3.2 Điền kiện khí hậu và thủy văn
Khí hậu:
Khu vực Mẫu Sơn là nơi có khí hậu ôn hòa, mát mẻ nhất tỉnh Lạng Sơn.Vùng núi Mẫu Sơn có khí hậu hai mùa rõ rệt Mùa đông từ tháng 11 đến tháng 3năm sau, nhiệt độ trung bình 7,2-13,2°C Mùa hè từ tháng 4 đến tháng 10, mùa hèthường mưa nhiều Lượng mưa trung bình 2 225,3mm/ năm Nhiệt độ trung bình16-20,9°C, cao tuyệt đối 24°C (vào tháng 7) Độ ẩm tương đối trung bình năm:80-85% Số giờ nắng trung bình khoảng 1600 giờ [52]
Thủy Văn:
Hệ thống sông suối trong vùng khá dày Phía Bắc có suối Pắc Đây, LàngKim, Co Khuông, Khuổi Phiêng, Khuổi Luông Phía Nam có Khuổi Lầy, KhuổiTẳng, Khuổi Cấp, Na Mìu, Lập Pia, Bản Khoai Độ ẩm không khí cao 92% Lưulượng thủy văn biến đổi nhiều, mùa đông chỉ chiếm 10-20% lưu lượng thủy văn
so với mùa hè, song nhìn chung suối không bị khô cạn vào mùa đông [52]
5.3.3 Hệ thực vật và động vật
Trang 35Giới động vật Lạng Sơn khá phong phú và đa dạng: lớp thú có 8 bộ với 56loài Hổ (Panthera tigris), Báo hoa mai (Panthera pardus), Báo gấm (Pardofelis),Gấu Ngựa (Ursus malayanus) ; lớp chim có 18 bộ, 46 bộ với 200 loài Phượnghoàng (Phoenix), Trĩ (Phasianidae), Sáo (Sturnidae), Bìm bịp (Centropussinensis), Gà lôi trắng (Lophura nycthemera) ; lớp bò sát lưỡng cư có 3 bộ, 17
họ với 50 loài; lớp cá có hàng chục họ [52]
Lạng Sơn có tài nguyên thực vật khá phong phú: kiểu rừng kín thườngxanh mưa ẩm nhiết đới, kiểu rừng kín nửa rụng lá ẩm nhiệt đới, kiểu rừng kínrụng lá hơi ẩm nhiệt đới, kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm, cận nhiệt đới.Nhiều cây rừng tự nhiên có giá trị: Đinh, Lim, Sến, Nghiến, Hoàng Đàn, Lát,Pơmu, Samu, Trầm Các cây rừng nhân tạo chủ yếu: Bạch Đàn, Keo, Thông nhiều loài cây công nghiệp và cây ăn quả Đặc biệt, vùng núi Mẫu Sơn có độ caotrên 800m chủ yếu là rừng nguyên sinh, nơi ở độ cao khoảng 600m-800m chủyếu là rừng thông mới trồng; xuống phía dưới chủ yếu là núi đá vôi với các loạicây bụi và cây dây leo [52]
Trang 36PHẦN II NỘI DUNG Chương 1 Cấu trúc quần xã Chân khớp bé (Microarthropoda) theo 4 đai
cao khí hậu ở vùng nghiên cứu 1.1 Cấu trúc nhóm phân loại của quần xã Microarthropoda
Các nhóm Microarthropoda chính nghiên cứu (theo Vũ Quang Mạnh, 2013) [47]:
Phân ra 6 nhóm: (1) Prostigmata, (2) Mesostigmata, (3) Oribatida, (4)Astigmata, (5) Collembola, (6) Microarthropoda khác, theo 4 đai cao khí hậu trênmặt biển (theo Vũ Tự Lập, 2006) [5] Các đai cao khí hậu nghiên cứu:
(I) <300m: đai cao nhiệt đới ẩm không có mùa đông lạnh
(II) >300m-600m: đai cao nhiệt đới ẩm đôi khi có mùa đông lạnh
(III) >600-900m: đai cao chuyển tiếp từ nhiệt đới sang á nhiệt đới
(IV) >900-1200m: đai cao á nhiệt đới
Biểu đồ 1.1 giới thiệu Cấu trúc nhóm phân loại của Microarthropoda chính
Ở đai cao (I), Oribatida chiếm tỷ lệ 58,1%, nhóm Collembola chiếm tỷ lệ11,8% và Microarthropoda khác chiếm 17,0%
Ở đai cao (II), tỷ lệ Oribatida 57,2%, trong khi đó nhóm Collembola chiếm
Trang 37Đai cao (IV)
Biểu đồ 1.1: Cấu trúc nhóm phân loại Microarthropoda ở đai cao nghiên cứu
Trang 381.2 Cấu trúc mật độ của quần xã Microarthropoda
Bảng 1 giới thiệu cấu trúc mật độ, cấu trúc nhóm phân loại và cấu trúcphân bố theo tầng thẳng đứng của các nhóm Microarthropoda chính Qua nghiêncứu trên 4 đai cao nhận thấy sự phân bố mỗi nhóm có đặc điểm riêng, cụ thể:
So sánh giữa 4 đai cao, nhóm Oribatida có mật độ lớn nhất ở đai cao (II)với 22.000 cá thể/m2, thấp nhất ở đai cao (IV) 10.640 cá thể/m2 NhómProstigmata có mật độ lớn nhất ở đai cao (IV) 6.640 cá thể/m2, thấp nhất ở đaicao (II) với 2.720 cá thể/m2 Nhóm Mesostigmata có mật độ lớn nhất ở đai cao(II) 2.240 cá thể/m2, thấp nhất ở đai cao (I) 1.360 cá thể/m2 Nhóm Astigmata
có mật độ lớn nhất ở đai cao (IV) 6.400 cá thể/m2, thấp nhất ở đai cao (II) vàđai cao (III) 320 cá thể/m2 Nhóm Collembola có mật độ lớn nhất ở đai cao(III) 14.720 cá thể/m2, thấp nhất ở đai cao (I) 4.400 cá thể/m2.Microarthropoda khác có mật độ lớn nhất ở đai cao (IV) 9.760 cá thể/m2, thấpnhất ở đai cao (II) 4.240 cá thể/m2
Ở đai cao (I) trung bình trên 1m2 chúng tôi thu được 37.280 cá thểMicroarthropoda Trong đó có 21.680 cá thể Oribatida, có mật độ lớn nhất ở tầngthảm lá 8.720 cá thể và mật độ thấp nhất ở tầng 10-20cm 1.680 cá thể Với 3.040
cá thể Prostigmata, mật độ lớn nhất ở tầng 0-10cm 880 cá thể và mật độ thấp nhất
ở tầng 10-20cm 640 cá thể Nhóm Mesostigmata 1.360 cá thể, mật độ thấp nhất ởtầng 10-20cm 160 cá thể, các tầng còn lại mỗi tầng có 400 cá thể NhómAstigmata 480 cá thể, mật độ lớn nhất ở tầng 0-10cm với 320 cá thể, tầng rêukhông xuất hiện cá thể nào Collembola có 4.400 cá thể, mật độ lớn nhất ở tầngrêu 2.560 cá thể và mật độ thấp nhất ở tầng 10-20cm 320 cá thể NhómMicroarthropoda khác với 6.320 cá thể có mật độ lớn nhất ở tầng rêu 3.200 cá thể
và mật độ thấp nhất ở tầng 10-20cm 400 cá thể
Ở đai cao (II) trung bình trên 1m2 thu được 38.480 cá thể Microarthropoda.Trong đó có 22.000 cá thể Oribatida, mật độ lớn nhất ở tầng 10-20cm với 880 cáthể và mật độ thấp nhất ở tầng 0-10cm 3.680 cá thể Prostigmata 2.720 cá thể,mật độ lớn nhất ở tầng thảm lá 1.440 cá thể và thấp nhất ở tầng rêu, tầng >10-
Trang 3920cm 320 cá thể Nhóm Mesostigmata có 3.520 cá thể, mật độ thấp nhất ở tầng 10cm 480 cá thể, cao nhất tầng thảm lá 1.760 cá thể Nhóm Astigmata 320 cá thể,mật độ lớn nhất ở tầng rêu 160 cá thể, tầng 0-10cm không xuất hiện cá thể nào.5.680 cá thể Collembola, mật độ lớn nhất ở tầng rêu 3.360 cá thể và mật độ thấpnhất ở tầng 10-20cm 560 cá thể Nhóm Microarthropoda khác có 4.240 cá thể,mật độ lớn nhất ở tầng thảm lá 2.080 cá thể và mật độ thấp nhất ở tầng 10-20cm
0-320 cá thể
Ở đai cao (III) trung bình trên 1m2 có 42.240 cá thể Microarthropoda.Nhóm Oribatida có 16.720 cá thể, mật độ lớn nhất gặp ở tầng thảm lá 8.400 cáthể và mật độ thấp nhất ở tầng >10-20cm 960 cá thể Có 3.040 cá thểProstigmata, mật độ lớn nhất ở tầng thảm lá 1.600 cá thể và mật độ thấp nhất ởtầng 10-20cm 400 cá thể Nhóm Mesostigmata có 2.240 cá thể, mật độ thấp nhất
ở tầng >10-20cm 160 cá thể, tầng thảm lá có mật độ cao nhất 1.120 cá thể NhómAstigmata 320 cá thể, mật độ lớn nhất ở tầng thảm lá 160 cá thể, tầng rêu khôngxuất hiện cá thể nào Collembola 14.720 cá thể, mật độ lớn nhất ở tầng thảm lá5.040 cá thể và mật độ thấp nhất ở tầng 10-20cm 2.400 cá thể NhómMicroarthropoda khác 5.200 cá thể có mật độ lớn nhất ở tầng rêu 2.400 cá thể vàmật độ thấp nhất ở tầng 10-20cm 640 cá thể
Ở đai cao (IV) trung bình trên 1m2 thu được 41.360 cá thể Microarthropoda.Trong đó có 10.640 cá thể Oribatida, mật độ lớn nhất ở tầng rêu 5.200 cá thể vàthấp nhất ở tầng 10-20cm 960 cá thể Prostigmata 6.640 cá thể, mật độ lớn nhất ởtầng rêu 4.000 cá thể và thấp nhất ở tầng 10-20cm 560 cá thể NhómMesostigmata 3.360 cá thể, mật độ lớn nhất ở tầng rêu 2.400 cá thể, thấp nhất ởtầng 10-20cm 80 cá thể Astigmata 6.400 cá thể, mật độ lớn nhất ở tầng thảm lá3.200 cá thể, thấp nhất ở tầng 10-20cm 80 cá thể Nhóm Collembola 10.320 cáthể có mật độ lớn nhất ở tầng rêu 6.000 cá thể và mật độ thấp nhất ở tầng >10-20cm 560 cá thể Microarthropoda khác 9.760 cá thể có mật độ lớn nhất ở tầngrêu 4.400 cá thể và mật độ thấp nhất ở tầng >10-20cm 720 cá thể
Trang 40Oribatida là nhóm có giá trị mật độ lớn nhất trong số 6 nhómMicroarthropoda ở cả 4 đai cao khí hậu Tiếp theo là Mesostigmata và Astigmata
là nhóm chiếm tỷ lệ về mật độ không đáng kể ở cả 4 đai cao nghiên cứu
Nhìn chung, mật độ của cả 6 nhóm đều có xu thế giảm đi khi phân bốxuống tầng sâu (tầng đất >10-20cm) Mật độ có giá trị cao của các nhóm thườngghi nhận được ở tầng rêu (với đai cao >900-1200m) và ở tầng thảm lá (với đaicao >600-900m) hoặc ở cả 2 tầng (với đai cao >300m-600m) Riêng ở đai caodưới 300m sự phân bố mật độ của các nhóm có sai khác so với xu thế chung:hoặc giá trị mật độ đồng đều hơn ở cả 3 tầng (với nhóm Mesostigmata) và(Prostigmata)
Ở đai cao >300m-600m, giá trị mật độ chung của Microarthropoda phân bốkhông chênh lệch nhau nhiều theo 4 tầng so với 3 đai cao còn lại