LỜI CẢM ƠN Trong hai năm học tập và nghiên cứu chuyên ngành Động vật học tại trường ĐHSP Hà Nội, tôi đã hoàn thành luận văn tốt nghiệp với đề tài “Nghiên cứu đa dạng thành phần loài chi
Trang 1MỤC LỤC
PHẦN I MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Nội dung nghiên cứu 2
4 Tổng quan nghiên cứu 2
4.1 Hệ thống các sân chim, vườn chim ở Việt Nam 2
4.2 Quá trình hình thành và phát triển vườn chim Thung Nham 3
4.3 Đặc điểm tự nhiên và xã hội của Thung Nham 5
4.3.1 Vị trí địa lý 5
4.3.2 Điều kiện tự nhiên 6
4.3.3 Đặc điểm kinh tế - xã hội 10
4.3.4 Công tác quản lý và điều hành hoạt động du lịch sinh thái ở Thung Nham 12
5 Phương pháp nghiên cứu 13
5.1 Đối tượng nghiên cứu 13
5.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 13
5.3 Phương pháp nghiên cứu 15
5.3.1 Phương pháp quan sát chim ngoài thiên nhiên 15
5.3.2 Phương pháp phỏng vấn người dân địa phương 16
5.3.3 Định loại chim 17
5.3.4 Phương pháp phân tích số liệu 17
PHẦN II NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 18
CHƯƠNG 1: THÀNH PHẦN LOÀI CHIM 18
1.1 Thành phần loài chim 18
1.2 Nhận xét về đa dạng cấu trúc thành phần loài chim 25
1.2.1 Nhận xét tính đa dạng về thành phần loài chim 25
1.2.2 So sánh tính đa dạng về thành phần loài chim vủa vườn chim Thung Nham với các vườn chim khác ở Việt Nam 27
Trang 2CHƯƠNG 2: SỰ PHÂN BỐ CỦA CÁC LOÀI CHIM 31
2.1 Sự phân bố của các loài chim theo sinh cảnh 31
2.1.1 Các sinh cảnh vùng nghiên cứu 31
2.1.2 Đặc điểm phân bố các loài chim theo sinh cảnh 32
2.2 Phân bố các loài chim theo tuyến điều tra 34
2.2.3 Phân bố các loài chim trên các tuyến nghiên cứu 34
2.2.4 So sánh sự đa dạng các thành phần loài chim trên các tuyến nghiên cứu 35
CHƯƠNG 3: CÁC LOÀI CHIM NƯỚC LÀM TỔ TẬP ĐOÀN TẠI THUNG NHAM 37
3.1 Thành phần loài chim nước 37
3.2 Biến động các loài chim nước ở Thung Nham 38
CHƯƠNG 4: HIỆN TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH QUAN SÁT CHIM NGOÀI THIÊN NHIÊN Ở THUNG NHAM 41
4.1 Hiện trạng tài nguyên chim và các mối đe dọa 41
4.2 Đề xuất một số biện pháp bảo tồn và phát triển du lịch quan sát chim ngoài thiên nhiên 42
4.2.1 Một số biện pháp bảo tồn 42
4.2.2 Phát triển quan sát chim ngoài thiên nhiên 44
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 47
TÀI LIỆU THAM KHẢO 49
Trang 3DANH MỤC BẢNG
Bảng 1 Số liệu khí hậu các tháng trong năm 2014 7 Bảng 2 Số liệu khí hậu các tháng trong năm 2015 8 Bảng 3 Thời gian các đợt nghiên cứu thực địa tại vườn chim Thung Nham 15 Bảng 1.1 Thành phần loài chim ở Khu du lịch sinh thái Thung Nham, tỉnh Ninh Bình 18 Bảng 1.2 Tính đa dạng về họ, loài trong các bộ chim hiện diện ở khu vực nghiên cứu 25 Bảng 1.3 Sự phân bố thành phần loài theo các mùa và tình trạng các loài chim 29 Bảng 2.1 Một số loài thực vật chim chọn làm nơi trú ngụ 32 Bảng 3.1 Thành phần loài chim nước thuộc bộ Hạc ở Vườn chim Thung Nham 37 Bảng 3.2 Số lượng các loài chim nước tại Thung Nham đếm được qua các đợt nghiên cứu 39
DANH MỤC HÌNH
Hình 1 Vị trí của Vườn chim Thung Nham trên bản đồ tỉnh Ninh Bình 5 Hình 2 Ảnh chụp vệ tinh khu vực Thung Nham (nguồn Google earth, 2016) 14 Hình 2.1 Biểu đồ sự phân bố các loài chim theo sinh cảnh 33 Hình 2.2 Sơ đồ các tuyến nghiên cứu điều tra chim ở Khu du lịch sinh thái Vườn chim Thung Nham, tỉnh Ninh Bình 34 Hình 2.3 Sự đa dạng của các loài chim trên các tuyến nghiên cứu 35
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong hai năm học tập và nghiên cứu chuyên ngành Động vật học tại trường
ĐHSP Hà Nội, tôi đã hoàn thành luận văn tốt nghiệp với đề tài “Nghiên cứu đa
dạng thành phần loài chim ở khu du lịch sinh thái Thung Nham, tỉnh Ninh Bình”
Trong quá trình nghiên cứu, tôi đã nhận được sự giúp đỡ, động viên của các thầy cô giáo, bạn bè và gia đình Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong
bộ môn Động vật học, Khoa Sinh học, Trường ĐHSP Hà Nội, các thầy cô và các cán bộ của Bảo tàng Sinh vật ĐHSP HN, văn phòng tổ chức Birdlife International tại Hà Nội, ông Phạm Công Chất, Giám đốc Công ty CP TMDV Du lịch Doanh Sinh, các các bộ, nhân viện KDLST Vườn chim Thung Nham, các anh chị học viên lớp Cao học K24, anh Lý Ngọc Tú và em Vương Thu Phương đã giúp đỡ để tôi có thể hoàn thành đề tài nghiên cứu này
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo hướng dẫn, PGS.TS Nguyễn Lân Hùng Sơn, người đã hướng dẫn tận tình, tỉ mỉ; người đã quan tâm và giúp đỡ tôi nhiệt thành trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành đề tài
Cuối cùng tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và tình yêu thương tới gia đình: bố mẹ, chồng và con trai Hoàng Nam, nguồn động lực to lớn giúp đỡ, động viên tôi vượt qua khó khăn trong suốt thời gian qua
Hà Nội, ngày 01 tháng 06 năm 2016
Học viên
Hoàng Thị Thanh Mùi
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nghiên cứu, số liệu được trình bày trong luận văn là trung thực và không trùng với các tác giả khác
Trang 7PHẦN I MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Việt Nam là một trong những nước trên thế giới có mức độ đa dạng sinh học (ĐDSH) cao, có nhiều hệ sinh thái (HST) khác nhau Đá vôi chiếm khoảng 10% diện tích bề mặt trái đất nhưng ở Việt Nam có tới 20% diện tích lãnh thổ phần đất liền, tức là khoảng 60,000 km2 ĐDSH và các HST tự nhiên, đặc biệt là HST núi đá vôi là tài nguyên thiên nhiên quý giá cho sự phát triển của đất nước [18] Tuy nhiên, nguồn tài nguyên quý giá này đã và đang bị suy thoái nghiêm trọng, thậm chí ảnh hưởng đến sự cân bằng sinh thái
Các vùng núi đá vôi cung cấp cho con người nhiên liệu, thức ăn, là nơi giải trí, là nơi lưu trữ các nguồn gen quý hiếm đặc biệt là các vùng đất ngập nước (ĐNN) nội địa do chúng kiến tạo thành ĐNN là những HST có năng suất sinh học cao, cung cấp lương thực, thực phẩm cho con người, đồng thời cũng đóng vai trò quan trọng trong sự sống còn của các loài chim, đặc biệt là các loài chim nước [14]
Vùng ĐNN Thung Nham thuộc xã Ninh Hải, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, có nhiều giá trị và các chức năng quan trọng Đây còn được gọi là thung chim vì địa hình đặc biệt và là nơi nuôi dưỡng nhiều loài chim Thung là địa hình lòng chảo có nước, trũng hơn so với vùng đất xung quanh được bao bọc bởi các dãy núi đá vôi kiến tạo thành Điều này tạo nên điểm nổi bật cho khu vực: núi bao quanh nước, nước xuyên núi, thực sự là một địa hình vững chãi để bảo vệ các loài chim Vì thế nên chim ở đây khá đa dạng với cả chim rừng và chim nước, tạo nên một chốn phong thủy hữu tình giữa một vùng có dân cư sinh sống Vườn chim có ý nghĩa và giá trị to lớn về khoa học, kinh tế - xã hội, là bộ phận cấu thành của HST đất ngập nước và núi đá vôi ở Ninh Bình, nơi sẽ thu hút khách du lịch, mang lại nguồn lợi kinh tế đáng kể trong tương lai Chính vì vậy cần có sự thống kê, phân loại về thành phần loài chim cũng như sự biến động của chúng theo thời gian làm cơ sở khoa học cho việc định hướng quản lí và bảo tồn có hiệu quả chất lượng vườn chim lâu dài Thung Nham là một khu ĐNN giàu tiềm năng, đang được khai thác vào du lịch sinh thái, nên cần có chính sách bảo vệ hợp lí cho khu cảnh quan thiên nhiên này
Trang 8Cho tới nay, chưa có công trình nghiên cứu nào về khu hệ chim ở đây Trước thực
tế đó, chúng tôi chọn đề tài: “Nghiên cứu đa dạng thành phần loài chim ở khu
du lịch sinh thái Thung Nham, tỉnh Ninh Bình” nhằm đưa ra những cơ sở khoa
học để quản lý và sử dụng hợp lý vườn chim theo hướng phát triển bền vững
2 Mục đích nghiên cứu
Xác định đa dạng thành phần loài, sự phân bố và biến động các loài chim ở Khu
du lịch sinh thái Thung Nham, tỉnh Ninh Bình làm cơ sở khoa học cho việc bảo tồn
và phát triển tài nguyên chim phục vụ du lịch sinh thái bền vững
3 Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu xác định thành phần loài chim hiện diện ở Khu du lịch sinh thái Thung Nham, tỉnh Ninh Bình
- Nghiên cứu sự phân bố thành phần loài chim trong khu vực nghiên cứu
- Nghiên cứu các loài chim nước trú ngụ, làm tổ tại Vườn chim Thung Nham
- Nghiên cứu hiện trạng và đề xuất giải pháp bảo tồn và phát triển tài nguyên chim phục vụ phát triển du lịch sinh thái quan sát chim hoang dã
4 Tổng quan nghiên cứu
4.1 Hệ thống các sân chim, vườn chim ở Việt Nam
Vườn chim (bird sanctuary): có diện tích từ 1-10ha
Sân chim (colony of birds): có diện tích tính đến hàng trăm hecta
Các sân chim, vườn chim là do nhiều loài chim nước có tập tính làm tổ tập đoàn Theo thống kê năm 2009, ở đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) có khoảng 30 vườn chim lớn nhỏ trên các tỉnh Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Trà Vinh, Đồng Tháp, Cần Thơ, An Giang, Cà Mau, Kiên Giang (riêng hai tỉnh Kiên Giang, Cà Mau đã có hơn 10 vườn chim) [17] Các vườn chim, sân chim ở khu vực này được nghiên cứu từ rất sớm Ngay từ năm 1985, Lê Đình Thủy đã có nghiên cứu về sân chim Đầm Dơi [19] Trong luận án tiến sĩ của Lê Đình Thủy (1995) đã cung cấp nhiều dẫn liệu về sinh học, sinh thái của các loài chim nước làm tổ tập đoàn ở sân chim Bạc Liêu và ứng dụng vào quản lý sân chim [20] Vùng Đồng Tháp Mười nổi
Trang 9tiếng với VQG Tràm Chim, ngôi nhà của nhiều loài chim nước kiếm ăn và trú ngụ, đáng chú ý là loài Sếu đầu đỏ
Ở miền Đông Nam Bộ, tại khu vực cửa khẩu Mộc Bài, Tây Ninh, từ năm 2005, đàn cò trắng hàng nghìn con bay về trú ngụ trong rừng tràm nước rộng khoảng 600
ha
Ở Nam Trung Bộ có vườn Cò của anh Nguyễn Văn Hưng, Nha Trang với hàng ngàn Vạc bay về vườn
Ở Bắc Trung Bộ, năm 2014, phát hiện ra vườn cò ba thế hệ của một gia đình ở
Lý Thành, Yên Thành, Nghệ An đã giữ gìn nguyên vẹn khu vườn 3 ha cho cò, vạc
và nhiều loài chim khác đến cư ngụ
Ở vùng châu thổ sông Hồng có các vườn chim Ngọc Nhị (thuộc tỉnh Hà Tây cũ nay là Hà Nội), Núi Đấu (Hải Phòng), Hải Lựu, Đạo Trù (Vĩnh Phúc), Đảo cò Chi Lăng Nam (Hải Dương), Vườn cò Đông Xuyên (Bắc Ninh), Vườn chim Thung Nham (Ninh Bình)…Các vườn chim lớn ở miền Bắc hầu như đều đã được nghiên cứu xác định thành phần loài, đặc điểm sinh học, sinh thái của các loài chim nước làm tổ tập đoàn tại vườn, các yếu tố tác động và giải pháp bảo tồn [10, 11, 12,16] Thung Nham là Vườn chim có vùng ĐNN ở trong địa phận được bao bọc bởi rừng trên núi đá vôi nên vừa là nơi quy tụ của các loài chim nước, đồng thời cũng là nơi sinh sống của các loài chim rừng và chim vườn
4.2 Quá trình hình thành và phát triển vườn chim Thung Nham
Vườn chim Thung Nham thuộc thôn Hải Nham, xã Ninh Hải, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình Vườn chim Thung Nham có diện tích khoảng 334.2 ha, nằm trọn trong vùng lõi của quần thể danh thắng Tràng An, cạnh khu du lịch nổi tiếng Tam Cốc - Bích Động Từ khi hình thành đến nay, Vườn chim thu hút một số lượng khá lớn các loài chim về trú ngụ và làm tổ, đặc biệt là chim nước
Năm 1995, sau khi giải ngũ, ông Phạm Công Chất tham gia viết mô hình kinh tế tổng hợp và đã có cơ hội đặt chân tới Thung Nham Khi đó, Thung Nham còn là một vùng đất hoang sơ, địa hình chủ yếu là ĐNN xen lẫn những ngọn núi đá vôi Ông đã ấp ủ ý tưởng xây dựng một khu du lịch sinh thái phát triển bền vững tại nơi
Trang 10này Năm 2003, ông quyết định thành lập doanh nghiệp - Công ty cổ phần Dịch vụ Thương mại và Du lịch Doanh Sinh và bắt đầu xin đầu tư của tỉnh cho dự án Từ những kinh nghiệm bản thân kết hợp học hỏi kinh nghiệm các vùng miền, ông đã xây dựng một khu HST đa dạng có sự sáng tạo giữa nhiều mô hình: vườn - rừng, nông lâm kết hợp, VAC Ông đã có những tiếp cận bền vững cho bảo tồn và phát triển ĐNN kết hợp với phát triển du lịch sinh thái, cộng đồng Ngoài dòng chảy của sông Bến Đang, còn có hệ thống các hồ sinh thái được nạo vét, đắp đập, be bờ trên những ruộng lúa ngày xưa Hệ thống thủy văn nhân tạo và tự nhiên chằng chịt trong vườn chim, tạo nên sơn thủy hữu tình Ngoài quá trình khai thác đầm nước, ông còn trồng thêm tre, nứa và một số cây gỗ trong khu vực rừng thứ sinh Chính những điều này đã tạo nên môi trường sống thích hợp cho nhiều loài chim Đất lành, chim đậu Các loài chim ở trong khu vực và vùng phụ cận, đặc biệt là các loài chim nước
đã về đây sinh sống và làm tổ ngày một nhiều Ở khu trang trại nông - lâm, phát triển tập đoàn cây ăn quả cung cấp hoa quả sạch cho du khách và một số loài chim Một số mô hình trồng cây xen canh đã được kết hợp: nhãn + dứa, bưởi/ xoài + chanh, mía tím + đậu/lạc…Áp dụng chăn thả quảng canh: lợn rừng, lợn nhà, dê, gà, vịt trời, ngỗng trời, gà sao…
Sau hơn 10 năm xây dựng và phát triển, năm 2013, dịch vụ du lịch sinh thái bắt đầu mở cửa Để bảo vệ an toàn cho các loài động vật sinh sống trong khu sinh thái, thời gian qua, công ty đã triển khai nhiều giải pháp như tăng cường công tác quản
lý, theo dõi quá trình di chuyển, sinh hoạt của các loài để có biện pháp hỗ trợ chúng kịp thời; đầu tư tạo sân bãi, bơm bùn, tạo độ phù sa tự nhiên cũng như tăng lượng thức ăn cho các loài động vật Cùng với đó, Công ty đã xây dựng tuyến đường dạo nội bộ với chiều dài 10km, một mặt giúp khách du lịch có thể thoải mái di chuyển
từ khu trung tâm đến tham quan khu rừng thứ sinh trên núi đá vôi và các danh lam thắng cảnh, mặt khác bảo vệ các loài chim, tránh sự tiếp xúc trực tiếp từ con người Hiện nay, ở vườn chim có sự quy tụ của rất nhiều loài chim nước: cò nhạn, cò ruồi, diệc xám, le hôi, vịt trời… Tuy nhiên, nạn săn bắn ở ngoài khu vực khi chim đi kiếm ăn và tình trạng chặt phá rừng làm củi đốt và các hoạt động nông nghiệp ở
Trang 11vùng phụ cận vẫn còn tồn tại Cần có sự phối hợp giữa chính quyền địa phương với Công ty để nâng cao ý thức bảo vệ thiên nhiên, môi trường một cách tự giác
Hiện nay, Thung Nham đã là điểm đến hấp dẫn với nhiều du khách trong và ngoài nước Như vậy, có thể thấy Vườn chim Thung Nham không những có giá trị bảo tồn mà còn có giá trị giáo dục vô cùng quan trọng Để có cơ sở khoa học cho công tác giáo dục, bảo tồn và phát triển bền vững Vườn chim Thung Nham, cần có những nghiên cứu đầy đủ về các loài chim ở đây
4.3 Đặc điểm tự nhiên và xã hội của Thung Nham
4.3.1 Vị trí địa lý
Khu du lịch sinh thái vườn chim Thung Nham nằm ở thôn Hải Nam, xã Ninh Hải, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, cách thành phố Ninh Bình khoảng 12km về phía đông, nằm trọn trong vùng lõi của quần thể danh thắng Tràng An, cạnh khu du lịch nổi tiếng Tam Cốc - Bích Động Từ chùa Bích Động theo tuyến đường bộ khoảng 4km là du khách đã đặt chân tới Thung Nham - xứ sở của các loài chim [28]
Vườn chim Thung Nham có tọa độ địa lý là:
20013’21.5” - 29059’57.2’’ vĩ độ Bắc,
105059’56’’ - 105052’60’’ kinh độ Đông
Hình 1 Vị trí của Vườn chim Thung Nham trên bản đồ tỉnh Ninh Bình
Trang 12HST rừng ngập nước tự nhiên có diện tích khoảng 334.2 ha, trong đó có 19 ha rừng nguyên sinh Địa giới hành chính như sau:
Phía đông giáp xã Ninh Xuân và Ninh Thắng, huyện Hoa Lư
Phía nam giáp xã Ninh Vân, huyện Hoa Lư
Phía tây giáp các xã Yên Sơn, thành phố Tam Điệp, xã Sơn Hà, huyện Nho Quan và xã Gia Sinh, huyện Gia Viễn
Phía bắc giáp xã Trường Yên và xã Ninh Xuân, huyện Hoa Lư
4.3.2 Điều kiện tự nhiên
- Địa hình Karst:
Khu vực nghiên cứu chủ yếu chứa các thành tạo đá vôi, có lượng mưa lớn, nền nhiệt cao và nước tầng mặt khá phong phú nên quá trình Karst hoạt động hầu như thường xuyên và mạnh mẽ Do đó các thành tạo địa hình trên mặt đất và dưới mặt đất xuất hiện cũng rất đa dạng Trên mặt đất chính là đỉnh và sườn các khối Karst, phễu và hố sụt, còn địa hình ngầm là các hang động
Đỉnh và sườn các khối Karst: đỉnh các khối này thường sắc nhọn với các vi địa hình dạng tai mèo, khá đặc trưng còn sườn thì dốc đứng với nhiều đống đá sụp đổ
Đó là các đỉnh núi có độ cao dưới 450m Trên hầu hết sườn dốc đứng, tai mèo dạng rãnh và luống khắc sâu vào vách đá rất phát triển tạo nên cảnh quan rất đẹp Lớp thổ
Trang 13nhưỡng ở đây chỉ gặp trong các hốc nhỏ, phân bố rải rác Do đó, hệ thực vật trên đỉnh và sườn núi trở nên thưa thớt, chủ yếu là những loài cây bụi, chịu khô hạn và thích nghi đặc biệt với điều kiện nghèo muối dinh dưỡng, tồn tại và phát triển trong các hang hốc Cây và đá chen nhau trong các sườn dốc của các hòn non bộ khổng lồ đem đến cho vùng những cảnh sắc hấp dẫn
Phễu và hố sụt (thung) trong khu vực khá phát triển Kích thước phễu thường nhỏ Đáy các thung khá bằng phẳng và được bao quanh bởi các vách đá dốc cứng Vật liệu lấp đầy đáy phễu và các thung là những sản phẩm hỗn tạp sau khi hòa tan
đá vôi còn sót lại (terrosa) Do vậy, đất trong các phễu và thung rất màu mỡ, nơi để trồng trọt, nơi ngập nước hoang hóa
Hang động Karst: các hang động ngập nước thường xuyên, kích thước hẹp, ít thạch nhũ Một vài hang được đưa vào sử dụng cho khách tham quan du lịch: hang Bụt, động Vái Giời
b) Khí hậu
Ninh Hải nằm ở phía tây nam châu thổ sông Hồng, trực tiếp chịu ảnh hưởng của khí hậu châu thổ bắc bộ và bắc khu bốn cũ Khí hậu nhiệt đới gió mùa với sự phân hóa sâu sắc giữa các mùa trong năm: nóng ẩm và lạnh khô
Bảng 1 Số liệu khí hậu các tháng trong năm 2014
Trang 14C, tuy nhiên trong vùng xuất hiện một số đợt rét đậm gây ra bởi gió mùa Đông Bắc với nhiệt độ dưới
100C, mỗi đợt có thể kéo dài 5 ÷ 6 ngày Nhiệt độ tối thấp tuyệt đối có khi xuống tới 2.40C Nhiệt độ không khí trung bình mùa hè thường cao Tháng 7 là tháng có nhiệt độ cao nhất, trên 300C, với nhiệt độ tối cao tuyệt đối lên đến 420C
Trang 15- Độ ẩm không khí
Độ ẩm dao động từ 84 ÷ 85% Vào thời kì gió mùa đông bắc (tháng 11 đến tháng
3 năm sau) khí hậu trong vùng trở nên lạnh và hanh khô với độ ẩm thấp, đôi khi xuống đến 10 ÷ 20%
- Lượng mưa
Lượng mưa trung bình 1,800 ÷ 1,900mm Vào mùa đông, lượng mưa chỉ chiếm đến khoảng 10% tổng lượng mưa năm Khoảng tháng 2 đến tháng 3 hàng năm, mưa phùn kéo dài 30 ÷ 40 ngày, làm cho độ ẩm không khí tăng lên đến 80% Trong mùa gió mùa Tây Nam (tháng 4 đến tháng 11), mưa nhiều, lượng mưa chiếm 88 ÷ 90% tổng lượng mưa năm, tháng mưa nhiều nhất là tháng 8, 9 và có ngày lượng mưa đạt đến 451mm Vào những tháng này có thể có bão Mưa lớn, khả năng tiêu úng chậm
có thể gây nên lụt lội cho vùng
- Bốc hơi
Lượng bốc hơi chưa vượt quá 1,000mm/năm, song lượng bốc hơi cao thường xảy
ra vào những tháng khô hanh
- Chế độ gió
Hằng năm chịu ảnh hưởng của hai loại gió chính: gió mùa Đông Bắc từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, mang theo luồng không khí khô và lạnh Gió mùa Tây Nam thổi từ tháng 4 đến tháng 7 mang theo không khí nóng và ẩm Ngoài ra còn có một
ít ảnh hưởng của gió Lào
c) Thủy văn
Ninh Hải có sông Bến Đang chảy qua, gây ảnh hưởng mạnh đến chế độ thủy văn của khu ĐNN Sông Bến Đang là một phân lưu rút nước từ hệ thống sông Chim - sông Hoàng Long và trở thành là một phụ lưu đổ nước vào hệ thống sông Bút- sông Vạc - sông Đáy Sông Bến Đang là một con sông thoát lũ, tiêu úng được mở rộng từ những năm đầu thập kỷ 70 của thế kỷ XX nên nó còn được gọi là sông Mới, cấp nước ngọt cho 38,839 ha đất canh tác của khu vực phía nam tỉnh Hiện đang có
dự án nạo vét và nâng cấp đê sông Bến Đang Tuyến du lịch sông Bến Đang - hang Bụt - vườn chim Thung Nham -Thung Lau Lá - Thung Kê - rừng nguyên sinh thuộc
Trang 16khu du lịch Tam Cốc - Bích Động phục vụ du khách muốn tìm hiểu về lịch sử sông Bến Đang, bến thuyền nhà Lê, tham quan hang Bụt, đặc biệt là tham quan, chiêm ngưỡng đa dạng HST
Ngoài ra còn có hệ thống sông, hồ nhân tạo được đào để thả cá và chứa nước trên các ruộng lúa cũ Hệ thống dòng chảy này kết nối với dòng Bến Đang tạo nên một mạng lưới dòng lưu xuyên suốt, cung cấp nước tưới tiêu cho khu vực, tạo sinh cảnh hữu tình trên cạn dưới nước, góp phần làm đa dạng hóa sinh vật trong thung
Chế độ thủy văn trong vùng phụ thuộc vào lượng mưa theo mùa trong năm, trong
đó hệ thống dòng chảy là nhân tố quyết định hàng đầu Trong vùng có một vài con suối thường xuyên có nước cả mùa khô tuy với lưu lượng rất thấp Vào mùa mưa, khu đất bị ngập nước nhiều, đặc biệt vào những ngày mưa lớn Vào mùa khô, các hang động chân núi trở thành một trong những nhân tố quan trọng, không chỉ duy trì độ ẩm và nước quanh năm cho đầm, mà nhờ đó còn làm cho thời tiết trong vùng
4.3.3 Đặc điểm kinh tế - xã hội
Một số đặc điểm kinh tế - xã hội của xã Ninh Hải theo báo cáo năm 2014, cụ thể như sau:
a) Dân cư
Diện tích: 21.90 km²
Dân số: 5,147 người
Mật độ dân số: 235 người/km²
Trang 17Đây là xã có diện tích lớn thứ 8 Ninh Bình Theo số liệu thống kê hàng năm, tính đến 2014, xã có 2,170 hộ gia đình với 6,650 nhân khẩu [26]
Tỷ suất sinh hàng năm là 0.085%0 Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là 0.9%
b) Kinh tế
Sản xuất nông nghiệp trồng trọt: tập trung vào trồng lúa nước và các loại cây ăn quả, xen kẽ mía tía, rau, hoa sen Tổng diện tích gieo trồng là 363.15ha, trong đó diện tích đất trồng lúa là 293.9ha Hệ số sử dụng đất đạt 1.2 lần/năm Năng suất lúa trung bình cả năm đạt 100.5 tạ/ha
Chăn nuôi: chủ yếu là gia súc như trâu, bò, lợn, dê và gia cầm như gà, vịt…Đàn trâu có 80 con, đàn lợn có 800 con, đàn dê có 500 con Ở đây thuận lợi cho việc chăn thả vịt Số lượng vịt lên tới hơn 2,000 con
Tổng thu nhập từ nông nghiệp là: 1,649.6 tấn
Tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ:
+ Ngành nghề truyền thống:
Thêu ren Ninh Hải là một trong 6 làng nghề truyền thống ở Ninh Bình nhận bằng làng nghề truyền thống và được nhà nước hỗ trợ phát triển Vào năm 1285, khi theo triều đình nhà Trần đến đây, bà Trần Thị Dung, vợ quan thái sư Trần Thủ Độ đã truyền dạy cho nhân dân nghề này
Sản phẩm thêu làm ra đã trở thành mặt hàng truyền thống đặc sắc, chuyên bán cho khách du lịch Những năm 1990, 100% số lao động của Ninh Hải làm thêu, người có tay nghề thấp thì làm những sản phẩm đơn giản rẻ tiền, người có tay nghề cao thì làm các sản phẩm tinh xảo hơn, giá trị hơn Năm 2006, số lao động chuyên làm thêu giờ chỉ còn 47% số lao động của xã, riêng thôn Văn Lâm có nhiều nghệ nhân nhất khoảng 1,500 người Ngày nay nghề thêu đã phát triển thành các tổ hợp sản xuất và doanh nghiệp tư nhân chuyên làm các mặt hàng thêu, huy động hầu hết các tay kim giỏi trong làng Các tổ hợp sản xuất này đều đã tìm được thị trường tiêu thụ ổn định, mà hầu hết là xuất khẩu ra nước ngoài Nghề thêu là nghề nhẹ nhàng,
có nhiều triển vọng và không gây ô nhiễm môi trường nên được địa phương tạo điều kiện để phát triển
Trang 18Chợ Đồng Văn - Đam Khê Ngoài - Xã Ninh Hải là chợ quê trên địa bàn huyện Hoa Lư nằm trong danh sách các chợ loại 1, 2, 3 ở Ninh Bình từ năm 2008
+ Du lịch:
Ninh Hải là xã trong phạm vi ranh giới Quần thể danh thắng Tràng An - Tam Cốc - Bích Động đã được Chính phủ Việt Nam xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt quan trọng và được UNESCO công nhận là di sản thế giới năm 2014
Tính đến năm 2010, Ninh Hải là xã có 3 di tích cấp quốc gia là Tam Cốc, chùa Bích Động, đền Thái Vi Cả 3 di tích này tạo nên khu du lịch Tam Cốc - Bích Động Khu du lịch có lượng khách tham quan lớn thuận lợi phát triển làng nghề truyền thống, tạo nguồn thu về du lịch, dịch vụ và thay đổi cơ cấu lao động địa phương
c) Văn hóa, giáo dục
Toàn xã có 1,741 gia đình văn hóa, công tác giáo dục được quan tâm Xã có một trường học Tiểu học với 396 học sinh; một trường THCS với 390 học sinh Năm 2014, số học sinh thi đỗ vào các trường đại học là 22 em, trường cao đẳng
có 2 em, trường trung học chuyên nghiệp có 5 em
d) Giao thông vận tải
Các tuyến đường lớn được phủ nhựa hóa Các đường trong làng được bê tông hóa, tạo điều kiện cho người dân trong xã lưu thông giao dịch, đi lại thuận lợi Khách du lịch đến tham quan lộ trình dễ dàng, suôn sẻ
e) Y tế
Xã có một trạm y tế với 1 bác sĩ, 4 y sĩ Trạm y tế có 9 phòng xây mái bằng, tất
cả các phòng đều được trang bị đầy đủ trang thiết bị Thường xuyên có y, bác sỹ túc trực đảm bảo tốt việc khám chữa bệnh cho nhân dân Trạm y tế xã đạt chuẩn năm
2005
4.3.4 Công tác quản lý và điều hành hoạt động du lịch sinh thái ở Thung Nham
Ban quản lý Vườn chim gồm 22 người Bao gồm: một giám đốc (ông Phạm Công Chất) và một quản lý chung Ngoài ra, đây là một đơn vị kinh doanh du lịch nên có các ban chuyên môn bộ phận, cụ thể gồm: 6 kế toán (1 kế toán trưởng), 5 nhân viên kinh doanh, 1 nhân viên hành chính, 4 nhân viên phụ trách du lịch và hơn 30 nhân
Trang 19viên làm việc trong chuỗi nhà hàng và cung ứng thực phẩm Khu du lịch được bảo tồn nghiêm ngặt với 4 bảo vệ, trong đó có 1 người chuyên bảo vệ vườn chim Ông
Võ Đức Hạnh nguyên là cựu chiến binh đội đặc công với lòng yêu thiên nhiên và ý thức trách nhiệm cao do được rèn luyện trong quân ngũ là người trực tiếp lo cho sự
an nguy của những chú chim Ông ăn ngủ và sống luôn ở trong rừng, trực gác vườn chim như một chiến sĩ canh gác thực sự
Do công tác bảo vệ tương đối tốt nên số lượng chim ngày một tăng, nhiều loài đã
ở lại vườn chim sinh sản nên Vườn chim đã thu hút khách du lịch cả bốn mùa quanh năm với số lượng ngày một tăng
Số lượng khách tới tham quan tăng bình quân 200% năm Thành phần du khách
đa dạng từ học sinh, sinh viên, giới yêu chim, đến các công nhân viên chức, khách thăm quan du lịch trong và ngoài nước
Năm 2014, ban quản lý Vườn chim đã làm tốt công tác quản lý và bảo vệ cảnh quan đảo cò Những ngày cao điểm như các dịp nghỉ lễ, Vườn chim đón tiếp hơn 2,000 lượt khách thăm quan từ các đoàn thể cán bộ, học sinh, người nước ngoài và trong nước đến tham quan và tìm hiểu
Theo ông Phạm Công Chất, chúng tôi thu được một số dẫn liệu về các dự án mới, quy hoạch mới ở nơi đây Chủ yếu là các quy hoạch trước mắt về cơ sở hạ tầng, dịch vụ du lịch, ít đề cập đến bảo vệ khu sinh thái vườn chim
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu về các loài chim trong khu vực Khu du lịch sinh thái Vườn chim Thung Nham và các yếu tố tác động lên sự tồn tại và phát triển của chúng
5.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Địa điểm nghiên cứu:
Trang 20Hình 2 Ảnh chụp vệ tinh khu vực Thung Nham (nguồn Google earth, 2016)
Đề tài được tiến hành nghiên cứu tại Thung Nham, xã Ninh Hải, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình Thung Nham nằm trong khu rừng đặc dụng Hoa Lư với địa hình Karst đá vôi trồi lên giữa vùng đồng bằng ven biển tương đối bằng phẳng của miền Bắc Việt Nam Vùng đá vôi nổi lên này nằm xen kẽ với hàng loạt các khe suối có nước thường xuyên và các thung lũng ngập nước theo mùa Độ cao tuyệt đối của vùng từ 10 ÷ 281 m
Khu vực nghiên cứu có tọa độ địa lý:
20013’21.5” - 29059’57.2’’ vĩ độ Bắc
105059’56’’ - 105052’60’’ kinh độ Đông
- Thời gian nghiên cứu:
Đề tài được thực hiện từ tháng 5/2015 đến tháng 6/2016 Trong khoảng thời gian trên chúng tôi đã tiến hành 8 đợt nghiên cứu thực địa cụ thể như sau:
Trang 21Bảng 3 Thời gian các đợt nghiên cứu thực địa tại vườn chim Thung Nham
5.3 Phương pháp nghiên cứu
5.3.1 Phương pháp quan sát chim ngoài thiên nhiên
Trong nghiên cứu chim, đây là phương pháp cơ bản, truyền thống mà các nhà điểu học đều áp dụng Các kĩ năng cơ bản của phương pháp này được chúng tôi tham khảo ở một số tài liệu trong và ngoài nước [1,5]
Việc nghiên cứu chim ngoài thiên nhiên đòi hỏi người nghiên cứu phải có những kiến thức nhất định về phân loại qua tìm hiểu và tích lũy Chúng tôi đã thu thập thông tin từ các tài liệu trong và ngoài nước, các mẫu lưu giữ trong bảo tàng và qua thực tế quan sát, đối chiếu mẫu sống ở cửa hàng chim cảnh, tập dượt định loại thiên nhiên tại những điểm dễ quan sát dưới sự hướng dẫn của các nhà điểu học giàu kinh nghiệm
Quan sát, nhận biết chim ngoài thiên nhiên được thực hiện như sau:
Quan sát trực tiếp chim bằng mắt thường khi tiếp cận chim ở cự ly gần Khi đi quan sát chúng tôi thường ngụy trang quần áo, mũ và các dụng cụ phụ trợ có màu phù hợp với màu sắc của thảm thực vật Đi lại nhẹ nhàng, không gây tiếng động mạnh Chọn những điểm phục kích trên vườn chim có ngụy trang để quan sát chim Hạn chế tối đa việc làm chim sợ hãi khiến trứng rơi vỡ hoặc chim non rời tổ và sa cành chết
Trang 22Quan sát bằng ống nhòm ở cự ly xa: để định loại chính xác các loài chim cần quan sát kĩ đặc điểm của từng loài về màu sắc lông, màu mỏ màu mắt, màu chân…Sử dụng ống nhòm Nikon 10 x 40, ống fieldscopes Nikon Việc sử dụng ống nhòm quan sát các loài chim ở vườn chim nhìn từ trên thuyền phía ngoài hồ sẽ làm chim ít hoảng sợ và náo loạn[5] Để chụp ảnh các loài chim chúng tôi sử dụng máy ảnh Nikon D300 gắn với ống téle 70 ÷ 300 và ống téle 100 ÷ 400 có ống nối x 1.5 Ngoài ra, sử dụng thêm máy quay phim Canon để quan sát hoạt động và đếm các loài chim nước ở vườn chim
Có thể nhận biết chim qua tiếng kêu, tiếng hót Trước khi ra thực địa, chúng tôi được chuyên gia cho nghe băng tiếng kêu, tiếng hót của các loài chim dự kiến có thể gặp, học cách ghi nhớ, đặc điểm phân biệt và nhận dạng Trong những thời điểm ánh sáng không đảm bảo cho việc quan sát được rõ ràng, thì việc nhận dạng âm thanh này rất có ích cho việc định loại được chính xác Đồng thời nghiên cứu âm sinh học của các loài chim sẽ giúp hiểu thêm về sự tương tác giữa các cá thể trong một quần thể, và giữa các loài trong một quần xã chim ở khu vực nghiên cứu Với những tiếng chim khó định loại thì được ghi âm bằng thiết bị Sony recorder và về
đối chiếu với bộ sưu tập tiếng chim trong đĩa DVD Birds of Tropical Asia 3 - Sound
and Sights của Jelle Scharringa do Bird Songs International phát hành
Việc đếm chim theo định kì là một cách tốt để ước tính quy mô đàn chim, phát hiện những thay đổi về số lượng, sự đa dạng loài và những nguyên nhân biến động
do môi trường cư trú hay những tác động khác Đếm chim cung cấp thông tin tổng quát của quần thể chim đặc biệt là đối với đối tượng chim di cư và các loài chim nước làm tổ, trú ngụ tập đoàn
5.3.2 Phương pháp phỏng vấn người dân địa phương
Những thông tin do người dân cung cấp là một phần quan trọng trong nghiên cứu chim vì người dân là những người có kiến thức thực tế về loài chim ở địa phương Trước khi phỏng vấn cần chuẩn bị sẵn hệ thống câu hỏi với những câu hỏi đơn giản,
rõ ràng có mục tiêu nhất định Câu hỏi cần được lặp lại với nhiều người để tăng tính chính xác của câu trả lời Trong quá trình phỏng vấn, chúng tôi sử dụng ảnh màu
Trang 23trong sách hướng dẫn nhận dạng chim ngoài tự nhiên để định danh loài Chúng tôi ghi nhận sự xuất hiện, tần suất và một số mô tả hoạt động của chim được mọi người cung cấp để đối chiếu một cách chính xác trong định danh loài
Nhờ đó, có thể thu thập được những thông tin hữu ích về thành phần loài, sự phân bố, thức ăn, mùa sinh sản của chim từ cán bộ quản lý, hướng dẫn viên, lực lượng bảo vệ, các nhân viên trong Khu du lịch và người dân địa phương
5.3.3 Định loại chim
Để định loại chim ngoài tự nhiên, chúng tôi sử dụng các sách hướng dẫn nhận dạng chim có ảnh màu minh họa của Việt Nam và khu vực Đông Nam Á [4,7,23,24] Ngoài ra để định loại chi tiết, chúng tôi sử dụng thêm một số sách định loại mô tả chi tiết hình thái chim Việt Nam và một số đặc điểm sinh học, sinh thái hiện biết về các loài chim [8,9]
Tên khoa học, tên phổ thông, tên tiếng Anh của các loài chim lấy theo Danh lục chim Việt Nam (2011) [13]
Danh lục chim được sắp xếp theo hệ thống của Sibley - Ahquis - Monroe được
sử dụng trong Danh lục chim thế giới (Dickinson eds., 2003)[21] Một số kết quả nghiên cứu về phân loại học chim cũng được cập nhật dựa trên tài liệu của Hội Điểu học quốc tế IOC [22]
Trong quá trình định loại chim, chúng tôi có tham khảo thêm ý kiến và hỗ trợ thẩm định của thầy hướng dẫn và các chuyên gia
5.3.4 Phương pháp phân tích số liệu
Các số liệu thu thập ngoài thực địa được ghi chép cẩn thận vào nhật kí thực địa Sau đó, tiến hành xử lí số liệu thống kê bằng Excel
Trang 24PHẦN II NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CHƯƠNG 1: THÀNH PHẦN LOÀI CHIM
1.1 Thành phần loài chim
Chúng tôi tiến hành nghiên cứu thành phần loài chim hiện diện trong khu vực nghiên cứu Kết hợp những quan sát thực tế trong hai năm 2015 - 2016 và phỏng vấn Ban quản lý, nhân viên khu du lịch và người dân địa phương về sự hiện diện của các loài chim thời gian trước đó, chúng tôi nhận được danh mục thành phần loài chim ở khu vực nghiên cứu thể hiện trong bảng Tổng số loài chim xác định được là
77 loài, 59 giống phân bố trong 12 bộ, 31 họ Trong đó đáng chú ý có 11 loài chim nước quen thuộc ở khu vực Vườn chim Thung Nham
Bảng 1.1 Thành phần loài chim ở Khu du lịch sinh thái Thung Nham, tỉnh Ninh Bình
Trang 2631 Bách thanh đuôi dài
Lanius schach Linnaeus, 1758 3 A Long-tailed Shrike
Trang 27Đớp ruồi xanh gáy
đen Hypothymis azurea (Boddaert, 1783) 1, 3 A Black-naped Monarch
Chiền chiện núi họng
Hill Prinia
42 Chiền chiện đầu nâu
Prinia rufescens Blyth, 1847 3 A Rufescent Prinia
43
Chiền chiện bụng
Plain Prinia
44 Chích bông đuôi dài
Orthotomus sutorius (Pennnant, 1769) 2,3 A Common Tailorbird
Chào mào vàng mào
đen Pycnonotus melanicterus (Gmelin,
Black-crested Bulbul
Red-whiskered Bulbul
48 Bông lau tai trắng
Pycnonotus aurigaster (Vieillot, 1818) 2,3 A Sooty-headed Bulbul
Trang 2860 Khướu bụi đầu đen
Stachyris nigriceps Blyth, 1844 1 QS Grey-thoated Babbler
61 Vành khuyên nhật bản Zosterops japonicus (Temminck and
Japanese White-eye
Asian Fairy-bluebird