BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI ------PHAN THỊ LIÊN TUYỂN CHỌN, XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP PHẦN KIM LOẠI LỚP 12 NÂNG CAO NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC C
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
- -PHAN THỊ LIÊN
TUYỂN CHỌN, XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP PHẦN KIM LOẠI LỚP 12 (NÂNG CAO) NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO
HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Chuyên ngành : Lý luận và Phương pháp dạy học bộ môn Hóa học
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Xuân Trường
HÀ NỘI - 2016
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trước hết tôi xin được tỏ lòng biết ơn và gửi lời cảm ơn chân thành tới
PGS.TS Nguyễn Xuân Trường , người trực tiếp hướng dẫn luận văn, đã tận tìnhchỉ bảo và hướng dẫn cho tôi tìm ra hướng nghiên cứu, tiếp cận thực tế, tìm kiếm tàiliệu, giải quyết vấn đề,… nhờ đó tôi mới có thể hoàn thành luận văn này Sự quantâm chỉ bảo của thầy giúp cho tôi tự hoàn thiện bản thân mình trong công việc, thầy
là tấm gương sáng về sự cần mẫn, nghiêm túc và khoa học trong lao động
Ngoài ra trong quá trình học tập nghiêm cứu và thực hiện đề tài tôi còn nhậnđược rất nhiều sự quan tâm góp ý, hỗ trợ quý báu của quý thầy cô, đồng nghiệp, bạn
bè và người thân Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến:
Cha mẹ và những người thân trong gia đình đã hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợicho tôi trong suốt thời gian qua và đặc biệt trong thời gian tôi theo học khóa thạc sĩtại trường Đại học Sư Phạm Hà Nội
Quý thầy cô tổ bộ môn LL&PPDH Hóa học và quý thầy cô Khoa Hóa học –Trường Đại học Sư Phạm Hà Nội đã truyền dạy cho tôi những kiến thức bổ íchtrong suốt hai năm học vừa qua
Đồng thời tôi xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô, các em học sinh ở cáctrường đã nhiệt tình hợp tác giúp tôi làm thực nghiệm thành công
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 10 năm 2016
Tác giả
Phan Thị Liên
Trang 4MỤC LỤC
PHẦN I: MỞ ĐẦU 1
I LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1
II LỊCH SỬ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2
III MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU 2
IV GIẢ THUYẾT KHOA HỌC 3
V KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 3
VI NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 3
VII PHẠM VI NGHIÊN CỨU 3
VIII PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4
IX NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI 4
X CẤU TRÚC LUẬN VĂN 4
PHẦN II: NỘI DUNG 5
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 5
1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 5
1.1.1 Trên thế giới 5
1.1.2 Trong nước 6
1.2 Đổi mới phương pháp dạy học 7
1.2.1 Xu hướng đổi mới phương pháp dạy học 7
1.2.2 Những xu hướng dạy học hoá học hiện nay 8
1.3 Năng lực tự học 9
1.3.1 Khái niệm về tự học 9
1.3.2 Vai trò về việc tự học của HS 10
1.3.3 Khái niệm năng lực tự học 11
1.3.4 Các mức độ của năng lực tự học 11
1.3.5 Một số năng lực tự học cần phát triển cho HS THPT 12
1.3.6 Tự học có hướng dẫn 13
1.4 Bài tập hoá học 16
1.4.1 Khái niệm về bài tập hoá học 16
Trang 51.4.2 Tác dụng của bài tập hoá học 17
1.4.3 Phân loại bài tập hoá học 18
1.4.4 Tiến trình giải một bài tập hoá học 18
1.4.5 Xu hướng phát triển bài tập hoá học hiện nay 19
1.4.6 Mối quan hệ giữa nắm vững kiến thức và hoạt động giải BTHH với tài liệu tự học có hướng dẫn 20
1.5 Tình hình sử dụng bài tập hoá học để phát triển năng lực tự học cho học sinh THPT hiện nay 22
1.5.1 Mục đích và phương pháp điều tra 22
1.5.2 Kết quả điều tra thực tiễn việc sử dụng bài tập hoá học để phát triển năng lực tự học ở các trường THPT hiện nay 22
Tiểu kết chương 1 24
Chương 2: TUYỂN CHỌN, XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP PHẦN KIM LOẠI LỚP 12 NÂNG CAO NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 25
2.1 Nguyên tắc xây dựng bài tập mới và tuyển chọn bài tập phát triển NLTH 25
2.1.1 Nguyên tắc xây dựng bài tập mới 25
2.1.2 Nguyên tắc tuyển chọn bài tập phát triển NLTH cho học sinh 25
2.2 Một số biện pháp sử dụng bài tập hoá học theo hướng phát triển NLTH 26
2.2.1 Sử dụng bài tập hoá học theo hướng phát triển NLTH cho HS khi nghiên cứu kiến thức mới 26
2.2.2 Sử dụng bài tập hoá học theo hướng phát triển NLTH cho HS khi vận dụng, củng cố 27
2.2.3 Sử dụng bài tập hoá học theo hướng phát triển NLTH cho HS khi tự học ở nhà 27
2.2.4 Sử dụng bài tập hoá học theo hướng phát triển NLTH cho HS khi kiểm tra đánh giá tự học 28
2.3 Bài tập dùng để rèn một số năng lực trong việc phát triển NLTH cho HS 29
2.3.1 Bài tập phát triển năng lực tư duy độc lập 29
Trang 62.3.2 Bài tập bồi dưỡng năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề 32
2.3.3 Bài tập phát triển năng lực tư duy sáng tạo 36
2.3.4 Dùng bài tập để rèn luyện năng lực suy luận và khái quát hoá 39
2.3.5 Dùng bài tập để rèn luyện năng lực tổng hợp kiến thức 41
2.4 Một số phương pháp giải bài tập về kim loại 46
2.4.1 Bài toán về xác định tên kim loại 46
2.4.2 Bài toán về kim loại tác dụng với nước, kim loại tác dụng với dung dịch kiềm 48
2.4.3 Bài toán về kim loại tác dụng với dung dịch axit 50
2.4.4 Bài toán về kim loại tác dụng với dung dịch muối 55
2.4.5 Bài tập về kim loại tác dụng với oxit kim loại 58
2.4.6 Bài toán về điện phân 61
2.4.7 Bài toán giải bằng phương pháp kinh điển 65
2.5 Hệ thống bài tập phần kim loại dùng để phát triển NLTH cho học sinh THPT 66
2.5.1 Bài tập Đại cương về kim loại 66
2.6 Phương pháp sử dụng hệ thống bài tập phần kim loại để phát triển NLTH cho học sinh THPT 117
2.7.1 Nguyên tắc xây dựng đề kiểm tra 118
2.7.2 Xây dựng đề kiểm tra đánh giá 119
2.8 XÂY DỰNG CÔNG CỤ ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC TỰ HỌC 120
2.8.1 Biểu hiện và các mức độ đánh giá năng lực tự học 120
2.8.2 Công cụ đánh giá năng lực tự học 122
Tiểu kết chương 2 127
Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 128
3.1 Mục đích thực nghiệm sư phạm 128
3.2 Nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm 128
3.3 Nội dung thực nghiệm sư phạm 128
3.4 Kế hoạch thực nghiệm sư phạm 128
Trang 73.4.1 Đối tượng và địa bàn thực nghiệm 128
3.4.2 Thời gian thực nghiệm 128
3.5 Tiến hành thực nghiệm và xử lý kết quả 129
Tiểu kết chương 3 135
PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 136
TÀI LIỆU THAM KHẢO 138 PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC BẢNG, HÌNH
1. Danh mục bảng
Bảng 2.1 Các mức độ đánh giá năng lực tự học 120
Bảng 3.1 Bảng thống kê các điểm số (Xi) của bài kiểm tra số 1 129
Bảng 3.2 Bảng phân phối tần xuất của bài kiểm tra số 1 130
Bảng 3.3 Bảng phân phối tần suất lũy tích của bài kiểm tra số 1 130
Bảng 3.4 Bảng phân phối tần suất theo học lực của bài kiểm tra số 1 130
Bảng 3.5 Bảng tổng hợp các tham số đặc trưng của bài kiểm tra số 1 131
Bảng 3.6 Bảng thống kê các điểm số (Xi) của bài kiểm tra số 2 131
Bảng 3.7 Bảng phân phối tần suất của bài kiểm tra số 2 131
Bảng 3.8 Bảng phân phối tần suất lũy tích của bài kiểm tra số 2 132
Bảng 3.9 Bảng phân phối tần suất theo học lực của bài kiểm tra số 2 132
Bảng 3.10 Bảng tổng hợp các tham số đặc trưng của bài kiểm tra số 2 133
2 Danh mục hình Hình 3.1 Đồ thị đường lũy tích tổng hợp bài kiểm tra số 1 130
Hình 3.2 Đồ thị thống kê chất lượng bài kiểm tra số 1 131
Hình 3.3 Đồ thị đường lũy tích tổng hợp bài kiểm tra số 2 132
Hình 3.4 Đồ thị thống kê chất lượng bài kiểm tra số 2 133
Trang 9PHẦN I: MỞ ĐẦU
I LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Phương pháp dạy học lấy người học làm trung tâm gắn liền với tư tưởng dânchủ hoá giáo dục mà thực chất là phát huy mọi tiềm năng của người học, xoá bỏ tưtưởng giáo điều, áp đặt trong dạy học Vấn đề phát huy tích cực, tự lực chủ độngcủa học sinh, đào tạo những người lao động sáng tạo đã được đặt ra trong ngànhgiáo dục từ những năm 1960 Khẩu hiệu: “Biến quá trình đào tạo thành quá trình tựđào tạo” cũng đã đi vào các trường sư phạm từ thời điểm đó
Cùng với sự tiến bộ mạnh mẽ của các ngành khoa học cơ bản, khoa học côngnghệ, lí luận dạy học trong khoa học giáo dục cũng có những bước phát triển đáng
kể trong mấy thập kỷ trở lại đây Sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước(2000 – 2020), sự thách thức trước nguy cơ tụt hậu bằng cạnh tranh trí tuệ đòi hỏiđổi mới giáo dục, trong đó có sự đổi mới căn bản về phương pháp dạy và học
Luật giáo dục năm 2005 Chương I Điều 5 về phương pháp giáo dục nêu
rõ: “ Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác chủ động, sángtạo của người học, bồi dưỡng người học năng lực tự học, khả năng thực hành,lòng say mê học tập và ý trí vươn lên” Ngoài ra, phải chú trọng các điều kiệnchuẩn hoá nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục Để làm được điều đó cầnthiết phải đổi mới phương pháp dạy học và cách thức kiểm tra kết quả giáo dụcđối với các môn học ở mỗi lớp, mỗi cấp học Có thể nói cốt lõi của đổi mới dạy
và học là hướng tới học tập chủ động, chống lại thói quen học tập thụ động,thường xuyên tự học ở mọi điều kiện
Trong xã hội hiện đại, khi khoa học phát triển mạnh mẽ, sự bùng nổ củacách mạng thông tin đã tác động, ảnh hưởng sâu sắc đến giáo dục nói chung vàquá trình dạy học nói riêng Trong hoàn cảnh như vậy, giáo dục ý thức tự lực, tựhọc một cách thường xuyên, có kế hoạch và phương pháp đúng đắn khoa học chohọc sinh là một nhiệm vụ bắt buộc và là trách nhiệm nặng nề của người thầy Chỉ
có dạy cách học, cách tự học, tự học sáng tạo, học một biết mười, học đi đôi vớihành ,… mới đáp ứng được yêu cầu cao của sự phát triển xã hội đòi hỏi mộtnguồn nhân lực chất lượng cao
Trang 10Trong quá trình dạy học, một trong những phương tiện tổ chức hoạt động
tự lực học tập, phát huy tính tích cực của học sinh là sử dụng nguồn bài tập đểgiúp học sinh có thể dễ dàng trong việc tự học, tự đọc, tự kiểm tra đánh giá kếtquả học tập Tuy nhiên trong thực tế, có rất nhiều loại sách, tài liệu tham khảođược lưu hành cùng với sự phổ biến rộng của mạng Internet đã cung cấp cho họcsinh nguồn tài liệu đa dạng và phong phú Chính điều đó đã gây khó khăn chohọc sinh khi phải lựa chọn, phân loại tài liệu để tham khảo, nghiên cứu và sửdụng Ngoài ra, một số giáo viên mới chỉ dạy học để giải bài tập mà chưa dạyhọc bằng giải bài tập hoá học
Do đó, muốn nâng cao hiệu quả dạy học, mỗi giáo viên cần phải xây dựng vàlựa chọn hệ thống bài tập hoá học, tìm ra phương pháp giải nhanh và sử dụng chúngsao cho phù hợp với đặc điểm của từng kiểu bài lên lớp để củng cố hoàn thiện, nângcao kiến thức nhằm bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh
Xuất phát từ những vấn đề trên, với mong muốn góp phần nâng cao chất
lượng dạy học, vì vậy tôi chọn đề tài: “TUYỂN CHỌN, XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP PHẦN KIM LOẠI LỚP 12 (NÂNG CAO) NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG”.
II LỊCH SỬ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Ở nước ta hiện nay đã có một số công trình nghiên cứu về phát triển năng lực của
HS ở trường trung học phổ thông thông qua dạy học hóa học Ví dụ luận án tiến sĩ củaTrần Thị Thu Huệ: “Phát triển một số năng lực của HS THPT thông qua phương pháp và
sử dụng thiết bị trong dạy học hóa vô cơ” (Viện khoa học giáo dục Việt Nam, 2011); luận
án tiến sĩ của Nguyễn Thị Hồng Gấm: “Phát triển năng lực sáng tạo cho sinh viên thôngqua dạy học Hóa vô cơ và Lý luận – phương pháp dạy học hóa học ở trường cao đẳng sưphạm” (Viện khoa học giáo dục Việt Nam, 2012); Vũ Quốc Chung - Lê Hải Yến, Để tựhọc đạt được hiệu quả, NXB Đại học Sư phạm,
III MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Xây dựng, sử dụng các dạng bài tập phần kim loại Hóa học 12 (nâng cao)nhằm phát triển năng lực tự học cho học sinh THPT
Trang 11IV GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Nếu giáo viên xây dựng được HTBT phần kim loại hóa học 12 và các công cụđánh giá phù hợp ; có các biện pháp sử dụng hợp lí, hiệu quả trong các khâu của quátrình dạy học thì sẽ góp phần phát triển được một số năng lực của HS trong đó có nănglực tự học và nâng cao được kết quả dạy học hóa học hiện nay ở trường THPT
V KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
V.1 Khách thể nghiên cứu
Quá trình dạy học nói chung và quá trình phát triển NLTH cho học sinh nóiriêng ở trường THPT
V.2 Đối tượng nghiên cứu
- Hệ thống bài tập cho học sinh lớp 12 nâng cao phần kim loại
- Phương pháp sử dụng các bài tập trong việc phát triển NLTH môn hoá học
VI NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
1 Nghiên cứu cơ sở lí luận có liên quan đến đề tài
2 Nghiên cứu chương trình hoá học THPT nâng cao đi sâu vào nội dungphần kim loại
3 Tìm hiểu thực trạng NLTH của học sinh qua hệ thống bài tập phần kim loại
4 Lựa chọn, xây dựng hệ thống bài tập phần kim loại nhằm phát triển nănglực tự học hoá học cho học sinh lớp 12 THPT
5 Thực nghiệm sư phạm nhằm để đánh giá hiệu quả của hệ thống bài tập vàphương pháp sử dụng đã đề xuất
VII PHẠM VI NGHIÊN CỨU
-Nội dung kiến thức được giới hạn trong 3 chương: “ Đại cương về kimloại”, “Kim loại kiềm- Kiềm thổ- Nhôm” và chương “ Crom- Sắt- Đồng” hóa họclớp 12 chương trình nâng cao ở trường THPT
- Địa bàn nghiên cứu:
+ Trường THPT Giao Thủy C, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định
+ Trường THPT Giao Thủy, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định
- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 10/2015 đến tháng 10/1016
Trang 12VIII PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIII.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận
- Nghiên cứu các văn bản, chỉ thị của Đảng, Nhà nước, Bộ Giáo dục và Đàotạo có liên quan đến đề tài
- Nghiên cứu cấu trúc, nội dung chương trình SGK hoá học lớp 12 nâng cao,phần vô cơ lớp 10, 11 nâng cao, hệ thống các bài tập tham khảo có liên quan đếnphần kim loại
VIII.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Sử dụng phương pháp quan sát, điều tra, phỏng vấn để:
- Thăm dò về thực trạng tổ chức hoạt động tự học của học sinh hiện nay
- Trao đổi kinh nghiệm với đồng nghiệp giảng dạy bộ môn hoá học về biệnpháp hướng dẫn HS tự học
- Tìm hiểu tình hình và khả năng tự học của học sinh thông qua bài tập
VIII.3 Thực nghiệm sư phạm
Mục đích: Nhằm xác định tính đúng đắn của giả thuyết khoa học, tính hiệu
quả của các nội dung và phương pháp đã đề xuất
Phương pháp: Đưa vào áp dụng thử ở một số trường THPT.
VIII.4 Phương pháp thống kê toán học
Xử lí kết quả thực nghiệm bằng thống kê toán học
IX NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI
- Tuyển chọn, xây dựng được hệ thống bài tập phù hợp phần kim loại đểdùng cho việc phát triển NLTH cho học sinh THPT
- Nghiên cứu và đưa ra một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tácphát triển NLTH từ hệ thống bài tập đã đề xuất
- Xác định được năng lực tự học cần có ở học sinh và tiêu chí đánh giá
X CẤU TRÚC LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu, kết luận chung, kiến nghị, phụ lục và tài liệu thamkhảo thì nội dung luận văn gồm 3 chương:
Chương 1.Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc tự học và bài tập hóa học
Chương 2 Tuyển chọn, xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập phần kim loạilớp 12 nâng cao nhằm phát triển năng lực tự học cho học sinh THPT
Chương 3 Thực nghiệm sư phạm
Trang 13PHẦN II: NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Trên thế giới
Từ những năm trước công nguyên, các nhà tư tưởng Trung Quốc như Khổng
Tử, Mạnh Tử đã có những tư tưởng trong dạy học là phải quan tâm đến việc kíchthích, suy nghĩ của người học, người học phải suy nghĩ chứ không nên nhắm mắtlàm theo sách
Thế kỷ thứ 17 – 18, ở các nước châu Âu, các nhà giáo dục nổi tiếng nhưComenski, J.J Rousseau cũng đã có những quan điểm phải đưa ra biện pháp DHhướng học sinh tìm tòi suy nghĩ, khám phá, sáng tạo, tích cực tự đánh giá kiến thức.Những quan điểm này chỉ rõ: Không nên cho học sinh kiến thức có sẵn mà cần chohọc sinh phải tự phát minh ra, tự bồi dưỡng tinh thần độc lập trong sáng, đàm thoại
và trong việc ứng dụng vào thực tiễn
Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, việc tổ chức cho học sinh học tập theohướng tích cực hoá đã hình thành và phát triển những quan điểm, công trình nghiêncứu có quy mô lớn ở các nước châu Âu và Mỹ Nhiều nhà giáo dục ở các nước trênthế giới đã thấy rằng việc dạy học phải kích thích được hứng thú, sự độc lập tìm tòi,phát huy sáng tạo của học sinh, thầy giáo chỉ là người thiết kế, người cố vấn
Tác giả V.P Xtơrozicozin trong tác phẩm: “Tổ chức quá trình DH trongtrường phổ thông” cũng đã trình bày những nghiên cứu của mình về vai trò của họcsinh trong việc tự học, vị trí của tự học trong học tập, phương pháp tổ chức tự học,những nguyên tắc, điều kiện đảm bảo cho tự học có hiệu quả
Các thông tư chỉ thị của Bộ Giáo dục Pháp suốt những năm 1970 – 1980 đềukhuyến khích tăng cường vai trò chủ động tích cực của học sinh, chỉ đạo áp dụngphương pháp tích cực từ bậc sơ học, tiểu học đến trung học
Ở Hoa Kì, ý tưởng DH cá nhân hoá ra đời trong những năm 1970 đã đượcthử nghiệm tại gần 200 trường GV xác định mục tiêu, cung cấp các phiếu hướngdẫn để học sinh tiến hành công việc độc lập theo nhịp độ phù hợp với năng lực
Trang 14Từ năm 1990, ở Mỹ việc rèn luyện: “Kĩ năng đọc nghiên cứu” đã trở thànhmột trong những nhiệm vụ đào tạo cực kì quan trọng trong nhà trường Trong các kìnghỉ hè và công tác hỗ trợ học tập, người ta thường thành lập rất nhiều trung tâm
“Kĩ năng đọc nghiên cứu” đã giúp học sinh được học tập nhiều cách thức đọc khácnhau, là nền tảng để phát triển việc đọc có tính nghiên cứu thông qua việc đọc đúng,đọc làm nổi bật từng cấp độ ý nghĩa
1.1.2 Trong nước
Trong nghị quyết của Bộ chính trị về cải cách giáo dục (ngày 01 tháng 01năm 1979) đã viết: “Cần coi trọng việc bồi dưỡng hứng thú, thói quen và phươngpháp tự học cho HS, hướng dẫn HS biết cách nghiên cứu sách giáo khoa, thảo luậnchuyên đề, ghi chép tư liệu, tập làm thực nghiệm khoa học
Giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn trong tác phẩm: : Học và dạy cách học” đã đề cậpđến vai trò của người học, người dạy, mô hình tự học Từ năm 1977 – 1987, dưới sựchủ trì của ông, tập thể các nhà khoa học đã nghiên cứu và triển khai chương trình: “Tựhọc có hướng dẫn kết hợp với thực tập dài hạn ở trường phổ thông”
Tác giả Nguyễn Kì với: “Biến quá trình dạy học thành quá trình tự học” đã
đề ra nguyên tắc và các bước tổ chức học sinh tự học
Ngoài ra có rất nhiều tài liệu, luận văn thạc sỹ của nhiều tác giả gần đây cũngnghiên cứu về xây dựng hệ thống bài tập nhằm bồi dưỡng NLTH cho học sinhTHPT ở những môn học khác nhau,
Trong tất cả các nghiên cứu của mình, các tác giả đều khẳng định: cần phảiđưa ra biện pháp tích cực để tổ chức HS tự học, trong đó bài tập là phương tiệnquan trọng để người dạy tổ chức hoạt động tự học, tự nghiên cứu cho học sinh.Đồng thời đã đưa ra nguyên tắc, qui trình xây dựng và biện pháp sử dụng bài tập nóichung và bài tập phát triển NLTH nói riêng Các thành công này của các tác giả sẽđược chúng tôi nghiên cứu, kế thừa trong luận văn này
Tuy nhiên, trong biện pháp hướng dẫn, cách thức sử dụng các dạng bài tập ởphần kim loại lớp 12 nâng cao để rèn NLTH cho học chưa nghiên cứu nhiều Do đó,
để đi sâu vào nghiên cứu lí thuyết để đưa ra các biện pháp sử dụng bài tập nhằm rènluyện cho học sinh tự học môn Hoá học là hết sức cần thiết, đặc biệt là phần dạyhọc sinh phần kim loại lớp 12 nâng cao hiện nay
Trang 151.2 Đổi mới phương pháp dạy học
1.2.1 Xu hướng đổi mới phương pháp dạy học
Chiến lược phát triển giáo dục (2001- 2020) đã chỉ rõ: Một trong những giảipháp thực hiện mục tiêu giáo dục là đổi mới phương pháp giáo dục: “Đổi mới vàhiện đại hoá phương pháp giáo dục, chuyển việc truyền đạt tri thức thụ động: thầygiảng, trò ghi sang hướng người học chủ động tư duy trong quá trình tiếp cận trithức, dạy cho người học phương pháp tự học, tự thu nhận thông tin một cách có hệthống và có tư duy phân tích, tổng hợp, phát triển được năng lực của mỗi cá nhân,tăng cường tính chủ động , tính tự chủ của học sinh,…”
Như chúng ta đã biết: Tự học, tự đào tạo là một con đường phát triển suốtđời của mỗi con người trong điều kiện kinh tế, xã hội nước ta hiện nay và cả maisau; đó cũng là giáo dục được nâng cao khi tạo ra được năng lực sáng tạo của ngườihọc, khi biến được quá trình giáo dục thành quá trình tự giáo dục Quy mô giáo dụcđược mở rộng khi có phong trào toàn dân tự học Vì vậy cuộc vận động tích cực, có
kế hoạch và phương pháp, kiên trì và khẩn trương, thường xuyên và rộng khắpnhằm từng bước chuyển đổi từ lối "dạy học thụ động , truyền thụ một chiều, thầydạy trò ghi nhớ" phổ biến hiện nay thành " thầy dạy- trò tự học" tạo ra năng lực tựhọc cho học sinh cùng phong trào toàn dân tự học, tự đào tạo mang lại chất lượngđích thực và phát triển tài năng của mỗi con người
Để thực hiện các yêu cầu trên không có con đường nào khác là ngoài việctruyền đạt kiến thức, người thầy phải khơi dậy và phát triển tối đa năng lực tự học,
tự sáng tạo của học sinh
Hiện nay, trong hệ thống phương pháp dạy học đang nổi lên các phươngpháp dạy lấy học sinh làm trung tâm: "Phương pháp dạy học tích cực", " Phươngpháp khám phá" Nói chung với các phương pháp này, người học giữ vai trò chủđộng tích cực trong học tập và không còn ở thế thụ động như trước đây Hay nóicách khác “thầy giáo không còn là người truyền đạt kiến thức sẵn có mà là ngườiđịnh hướng, tổ chức cho học sinh tự khám phá, tự tìm ra tri thức” Trong dạy họclấy học sinh làm trung tâm, phương pháp dạy học coi trọng việc rèn luyện cho họcsinh phương pháp tự học, học sinh tự chịu trách nhiệm về kết quả học tập của mình,tham gia tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau
Trang 161.2.2 Những xu hướng dạy học hoá học hiện nay
Từ thực tế của ngành giáo dục, cùng với yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực cho
sự phát triển đất nước, chúng ta đang tiến hành đổi mới PPDH chú trọng đến việcphát huy tính tích cực chủ động của HS coi HS là chủ thể của quá trình dạy học.Phát huy tính tích cực học tập của HS là nguyên tắc nhằm nâng cao chất lượng, hiệuquả của quá trình dạy học Nguyên tắc được nghiên cứu, phát triển mạnh mẽ trênthế giới và được xác định là một trong những phương pháp cải cách giáo dục phổthông Việt Nam Những tư tưởng, quan điểm, những tiếp cận mới thể hiện nguyêntắc trên đã được chúng ta nghiên cứu, áp dụng trong dạy học các môn học và đượccoi là phương pháp dạy học tích cực
1.2.2.1 Dạy học lấy học sinh làm trung tâm
Đây là một quan điểm được đánh giá là tích cực vì hướng việc dạy học chútrọng đến người học để tìm ra những PPDH hiệu quả Dạy học lấy HS làm trungtâm, đặt vị trí của người học vừa là chủ thể vừa là mục đích cuối cùng của quá trìnhdạy học, phát huy tối đa những tiềm năng của từng người học Do vậy, vai trò tíchcực chủ động, độc lập sáng tạo của người học được phát huy Người GV đóng vaitrò là người tổ chức, hướng dẫn, động viên các hoạt động độc lập của HS, đánh thứccác tiềm năng của mỗi HS giúp họ chuẩn bị tham gia vào cuộc sống
1.2.2.2 Đổi mới PPDH theo hướng hoạt động hoá người học
Định hướng hoạt động hoá người học đã chú trọng đến việc giải quyết vấn đềdạy học thông qua hoạt động tự giác tích cực và sáng tạo của người học, hình thànhcông nghệ kiểm tra đánh giá, sử dụng phương tiện kĩ thuật, đặc biệt là công nghệthông tin trong quá trình dạy học Trong dạy học hoá học cần sử dụng các biện pháphoạt động hoá người học như sau:
- Khai thác nét đặc thù môn Hoá học tạo các hình thức hoạt động đa dạng,phong phú của HS trong giờ học:
+ Tăng cường sử dụng thí nghiệm hoá học, các phương tiện trực quan,phương tiện kĩ thuật trong dạy học hoá học
+ Trong giờ học cần sử dụng phối hợp nhiều hình thức hoạt động của HSnhư: thí nghiệm, dự đoán lí thuyết, mô hình hoá, giải thích, thảo luận nhóm,… giúp
HS được hoạt động tích cực và chủ động
Trang 17- Tăng cường hoạt động của HS trong giờ học Hoạt động của giáo viên chútrọng đến việc thiết kế, hướng dẫn điều khiển các hoạt động và tư duy của HS khigiải quyết các vấn đề học tập thông qua các hoạt động cá nhân hay hoạt độngnhóm GV cần động viên HS hoạt động nhiều hơn trong giờ học, giảm tối đa cáchoạt động nhận thức thụ động.
- Tăng mức độ hoạt động trí lực chủ động của HS thông qua việc lực chọnnội dung và hình thức sử dụng các câu hỏi, bài tập có sự suy luận, vận dụng kiếnthức một cách sáng tạo
1.2.2.3 Tiếp cận kiến tạo trong dạy học
Theo lí thuyết kiến tạo, một số nhà nghiên cứu lý luận dạy học đã đưa ra cácchiến lược dạy học chính là cần tạo mọi điều kiện, hỗ trợ các điều kiện học tập đảmbảo cho người học: học được cách lập luận, suy luận phản hồi và cách giải quyếtvấn đề; có kĩ năng ghi nhớ, hiểu thấu vấn đề và biết cách sử dụng kiến thức đó; có
sự linh hoạt trong nhận thức; tự biết điều chỉnh hoạt động nhận thức để đạt hiệu quảtối đa; biết thể hiện, phản ánh sự quan tâm và linh hoạt trong nhận thức của mình
1.3 Năng lực tự học
1.3.1 Khái niệm về tự học
Có nhiều quan niệm khác nhau về tự học:
+ Theo GS Nguyễn Cảnh Toàn: “ Tự học là tự mình động não, suy nghĩ, sửdụng các năng lực trí tuệ (quan cụ) cùng các phẩm chất của mình rồi cả động cơ, tìnhcảm, cả nhân sinh sát, so sánh, phân tích tổng hợp,…) và có khi cả cơ bắp (khi phải
sử dụng công quan, thế giới quan (như trìu tượng, khách quan).Theo tác giả NguyễnNhư An: “Tự học, tự đào tạo, tự lực trong công tác học tập là yếu tố quan trọng và lànguyên nhân bên trong tực tiếp tác động đến chất lượng đào trí tiến thủ, không ngạikhó, ngại khổ, kiên trì nhẫn nại, lòng say mê khoa học, để chiếm lĩnh một lĩnh vựchiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình”
Như vậy, tự học có vai trò và ý nghĩa rất lớn trong giáo dục ở nhà trường vàtrong cả cuộc sống của người học Tự học còn tạo điều kiện hình thành và rèn luyệnkhả năng hoạt động độc lập, sáng tạo của mỗi người, trên cơ sở đó tạo tiền đề và cơhội cho họ học học tập suốt đời
Trang 18Theo V.P Xtơrozicozin (1981), tổ chức cho học sinh tự học có vai trò sau:+ Nâng cao tính tự giác và tính vững chắc trong việc nắm kiến thức của học sinh.+ Rèn cho học sinh kỹ năng, kĩ xảo được qui định trong chương trình củamỗi bộ môn, phù hợp với mục đích của nhà trường.
+ Dạy cho học sinh biết cách áp dụng tri thức, kĩ năng, kĩ xảo đã thu nhậnđược vào cuộc sống và lao động công ích
+ Phát triển khả năng nhận thức của học sinh (tính quan sát, tính ham hiểubiết, khả năng tư duy logic, tích cực sáng tạo)
+ Luyện cho học sinh khả năng lao động có kết quả, biết say mê vươn tớimục đích đặt ra
+ Chuẩn bị cho học sinh có thể tiếp tục tự học một cách có hiệu quả
+ Tự học là biện pháp tối ưu nhất là tăng độ bền kiến thức ở mỗi học sinh
Tự học là hoạt động học hoàn toàn không có giáo viên, học sinh không có sựtiếp xúc với giáo viên, là hình thức học tập hoàn toàn không có sự tương tác thầytrò, do đó học sinh phải tự lực thông qua tài liệu, qua hoạt động thực tế, qua thínghiệm để chiếm lĩnh tri thức
Tự học là hoạt động nhận thức mang tính tích cực, chủ động, tự giác,phát huy cao độ vai trò của HS với sự hợp tác của thầy cô, bạn bè và các điều kiệnhọc tập NLTH được thể hiện qua việc HS tự xác định đúng đắn động cơ học tậpcho mình, có khả năng tự quản lí việc học của mình, có thái độ tích cực trong cáchoạt động để có thể tự làm việc, điều chỉnh hoạt động học tập và đánh giá kết quảhọc tập của chính mình
1.3.2 Vai trò về việc tự học của HS
Năng lực tự học của HS có 4 vai trò chính sau:
+ Tự tìm ra ý nghĩa, làm chủ các kĩ xảo nhận thức, tạo ra cầu nối nhận thứctrong tình huống học
+ Làm chủ tri thức hiện diện trong chương trình học và tri thức siêu nhậnthức qua các tình huống học
+ Tự biến đổi mình, tự làm phong phú mình bằng cách thu lượm và xử líthông tin từ môi trường xung quanh mình
Trang 19+ Tự học, tự nghiên cứu, tự mình tìm ra kiến thức bằng hành động của chínhmình, cá nhân hoá việc học, đồng thời hợp tác với bạn trong cộng đồng lớp họcdưới sự hướng dẫn của giáo viên – Xã hội hoá lớp học.
1.3.3 Khái niệm năng lực tự học
Năng lực tự học là khả năng tự mình sử dụng các năng lực trí tuệ và có khi
cả năng lực cơ bắp cùng các động cơ, tình cảm, nhân sinh quan, thế giới quan đểchiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sởhữu của mình
NLTH được hiểu là khả năng học sinh tự khám phá được kiến thức, kĩ năngtheo mục đích nhất định dưới sự hướng dẫn của giáo viên
Theo Lê Công Triêm, NLTH khả năng tìm tòi, nhận thức và vận dụng kiếnthức vào tình huống mới hoặc tương tự với chất lượng cao
Kết quả tự học là cao hay là thấp là phụ thuộc vào NLTH của mỗi cá nhân.Mỗi người đều có một cách học khác nhau Cách học ở đây là tác động của ngườihọc đến đối tượng học Có 2 cách học cơ bản:
+ Dựa theo mô hình của Pavlop: Cách học do người học áp đặt, có phần thụ động.+ Dựa theo mô hình Skinner: Người học tự mò mẫm, tự lựa chọn cách học,
tự mình tìm kiếm ra kiến thức, là cách học chủ động theo cách thử đúng, sai
Có thể nói học là cách học, học phương pháp học chính là học cách tự họcbằng NLTH của mình NLTH luôn tiềm ẩn trong mỗi con người, là nội lực pháttriển bản thân của mỗi người học Khi người học biết cách tổ chức, thu thập, xử líthông tin và tự kiểm tra, tự điều chỉnh khi làm việc với các nguồn tri thức khácnhau, nghĩa là nắm được phương pháp học để học trên lớp và tự học
Trang 20thức, HS khó thu xếp tiến độ, kế hoạch tự học, không tự đánh giá được kết quả tựhọc của mình, Từ đó HS dễ chán nản và không tiếp tục tự học.
b) Tự học trong một giai đoạn của quá trình học tập: thí dụ như học bài haylàm bài tập ở nhà (khâu vận dụng kiến thức) là công việc thường xuyên của HS phổthông Để giúp HS có thể tự học ở nhà, GV cần tăng cường kiểm tra, đánh giá kếtquả học bài, làm bài tập ở nhà của họ
c) Tự học qua phương tiện truyền thông (học từ xa): HS được nghe GV giảnggiải minh họa, nhưng không được tiếp xúc với GV, không được hỏi han, khôngnhận được sự giúp đỡ khi gặp khó khăn Với hình thức tự học này, HS cũng khôngđánh giá được kết quả học tập của mình
d) Tự học qua tài liệu hướng dẫn: Trong tài liệu trình bày cả nội dung, cáchxây dựng kiến thức, cách kiểm tra kết quả sau mỗi phần, nếu chưa đạt thì chỉ dẫncách tra cứu, bổ sung, làm lại cho đến khi đạt được (thí dụ học theo các phần mềmtrên máy tính) Song nếu chỉ dùng tài liệu tự học HS cũng có thể gặp khó khăn vàkhông biết hỏi ai
e) Tự lực thực hiện một số hoạt động học dưới sự hướng dẫn chặt chẽ của
GV ở lớp: Với hình thức này cũng đem lại kết quả nhất định Song nếu HS vẫn sửdụng SGK hóa học như hiện nay thì họ cũng gặp khó khăn khi tiến hành tự học vìthiếu sự hướng dẫn về phương pháp học
Qua việc nghiên cứu các hình thức tự học ở trên thấy rằng mỗi hình thức TH
có những mặt ưu điểm và nhược điểm nhất định Để nhằm khắc phục được nhữngnhược điểm của các hình thức tự học đã có này và xét đặc điểm của HS giỏi hoá họcchúng tôi đề xuất một hình thức tự học theo tài liệu hướng dẫn và có sự giúp đỡ trựctiếp một phần của GV có thể gọi là "tự học có hướng dẫn qua bài tập hoá học"
1.3.5 Một số năng lực tự học cần phát triển cho HS THPT
Để học giỏi môn Hoá học, học sinh phổ thông cần có kiến thức hoá học cơbản vững vàng, sâu sắc và hệ thống Bên cạnh đó không thể thiếu năng lực tư duysáng tạo, kĩ năng thực hành tốt và phương pháp nghiên cứu khoa học Tất cả nhữngđiểm đó thể hiện ở một số năng lực sau:
a) Năng lực tiếp thu kiến thức: Đó là khả năng nhận thức vấn đề nhanh, cóhứng thú nhất là trong những bài, vấn đề mới
Trang 21b) Năng lực suy luận logic: Là khả năng phân tích sự vật hiện tượng, vấn đềqua các dấu hiệu đặc trưng của chúng, biết thay đổi góc nhìn, xét đủ các điều kiện
và còn biết quay lại điểm xuất phát để tìm đường đi mới
c) Năng lực lao động sáng tạo: Là khả năng tổng hợp các yếu tố, các thao tác
để thiết kế một dãy các hoạt động nhằm đạt kết quả theo nhiều cách khác nhaunhằm tìm ra con đường ngắn nhất, hiệu quả nhất Biết vận dụng linh hoạt, mềm dẻonhững kiến thức cơ bản và hướng nhận thức đó vào tình huống mới, không theođường mòn
d) Năng lực kiểm chứng: Biết suy xét đúng - sai từ một loạt sự kiện, tạo racác sự tương phản để khẳng định hoặc bác bỏ một vấn đề nào đó, biết rút ra kết luậnsau kiểm nghiệm
e) Năng lực thực hành: Hoá học là bộ môn khoa học thực nghiệm nên họcsinh giỏi hoá học cần có khả năng về thực nghiệm, tiến hành thí nghiệm hoá học:Biết sử dụng thành thạo các hệ thống kí hiệu, quy ước, trật tự hoá học; biết thựchiện các thao tác trong khi làm thí nghiệm, kiên trì trong quá trình thí nghiệm nhằmlàm sáng tỏ vấn đề lí thuyết qua thực nghiệm
1.3.6 Tự học có hướng dẫn
1.3.6.1 Tự học có hướng dẫn
- Học sinh muốn học tập có hiệu quả cần phải tự học Nhưng không thể đểcho học sinh tự mò mẫm để rút ra cách tự học mà cần phải nghiên cứu cách hướngdẫn cho học sinh và tạo ra những điều kiện để học sinh có thể thực hiện thành cônghoạt động tự học
- Hướng dẫn việc tự học là chỉ cho người học cách thức để chiếm lĩnh trithức một cách có hiệu quả, sáng tạo đồng thời hướng dẫn học sinh tự đánh giá nănglực của bản thân Qua đó tự mỗi học sinh sẽ có những điều chỉnh phù hợp với việchọc tập của mình
Tự học là một hình thức học Vậy hoạt động tự học cũng phải có mục đích,nội dung và phương pháp phù hợp Hình thức tự học có hướng dẫn vừa phải đảmbảo thực hiện đúng quan điểm dạy học hiện đại vừa phù hợp với đặc điểm nhậnthức của HS
Trang 22Cần hiểu mối quan hệ giữa dạy và tự học là quan hệ giữa tác động bên ngoài vàhoạt động bên trong Tác động dạy của GV là bên ngoài hỗ trợ cho HS tự phát triển, chỉ
có tự học của HS mới là nhân tố quyết định sự phát triển của bản thân HS Hình thức tựhọc có hướng dẫn là hướng dẫn để HS tự học Trong tự học có hướng dẫn, HS nhậnđược sự hướng dẫn từ hai nguồn: từ tài liệu hướng dẫn và trực tiếp từ GV
- Nguồn hướng dẫn qua tài liệu: Tài liệu SGK hóa học thường chỉ trình bày kiếnthức mà không có những chỉ dẫn về phương pháp hoạt động để dẫn đến kiến thức, đểhình thành kĩ năng Bởi vậy HS rất bị động, đọc đến dòng nào trong SGK thì biết đếndòng ấy không hiểu phương hướng bước đi kế hoạch như thế nào và sau khi học xongcũng không thể tự rút ra được điều gì về phương pháp làm việc để vận dụng cho cácbài sau Để khắc phục tình trạng đó tài liệu hướng dẫn tự học ngoài việc trình bày nộidung kiến thức, còn hướng dẫn cả cách thức hoạt động để phát hiện vấn đề, thu thậpthông tin, xử lí thông tin, rút ra kết luận, kiểm tra và đánh giá kết quả,
- Nguồn hướng dẫn trực tiếp của GV qua các giờ lên lớp: Hiện nay theo quyđịnh của Bộ giáo dục đào tạo, môn hoá học trong các trường THPT có thời gian từ2-3 tiết/ tuần, thời gian đó nếu để giảng giải kiến thức thì quá ít và sẽ phiến diện nếu
để HS hoàn toàn tự học thì cũng không được Chúng tôi cho rằng có thể tận dụngthời gian tiếp xúc giữa GV và HS để GV tổ chức, hướng dẫn và rèn luyện cho HSnhững kĩ năng tự học cụ thể Rất nhiều HS từ trước đến nay vẫn học tập một cáchthụ động, ghi chép học thuộc, áp dụng máy móc, chỉ dựa vào lời giảng của GV, hầunhư không có thói quen tự học, thậm chí đọc xong một đoạn trong SGK, không thể
tự tóm tắt được nội dung chính, đặc biệt là không thể rút ra phương pháp chung đểthực hiện một loại hoạt động nào đó, thí dụ: nghiên cứu một định luật hóa học phảilàm những gì? Rèn luyện kĩ năng tự học cho HS là một quá trình lâu dài phức tạp vàluôn luôn được củng cố, nâng cao và bổ sung thêm, bởi vậy tốt nhất là nên dànhthời gian tiếp xúc giữa GV và HS ở trên lớp để thực hiện công việc đó
Hoạt động tự học của HS có nhiều khâu, nhiều bước, được tiến hành thôngqua các hoạt động học tập của chính bản thân họ Đây là quá trình tự giác, tích cực,
tự lực chiếm lĩnh tri thức khoa học bằng hành động của chính mình hướng tớinhững mục đích nhất định Vì vậy, quá trình tổ chức dạy học phải làm cho hoạtđộng học của HS chuyển từ trạng thái bị động sang chủ động HS biết tự sắp xếp,
Trang 23bố trí các công việc sẽ tiến hành trong thời gian tự học, biết huy động các điều kiện,phương tiện cần thiết để hoàn thành từng công việc, biết tự kiểm tra, tự đánh giá kếtquả hoạt động tự học của chính mình.
Như vậy khái niệm tự học ở đây được hiểu là hoạt động tự lực của HS để chiếmlĩnh tri thức khoa học đã được qui định thành kiến thức học tập trong chương trình vàSGK với sự hướng dẫn trực tiếp hoặc gián tiếp của GV thông qua các phương tiện họctập như tài liệu tự học có hướng dẫn, tài liệu tra cứu, giáo án điện tử,
HS không dùng SGK phổ thông mà sử dụng tài liệu viết riêng cho họ tự học.Tài liệu tự học có hướng dẫn cung cấp cho HS nội dung kiến thức và phương pháphọc nội dung kiến thức đó
sẽ bao gồm hoạt động của GV và HS:
- GV biên soạn "tài liệu tự học có hướng dẫn", hướng dẫn HS cách sử dụngtài liệu HS theo hướng dẫn trong tài liệu mà tự lực hình thành kiến thức, kĩ năng,
- GV sử dụng những giờ lên lớp để rèn luyện cho HS kĩ năng, kĩ xảo tự học,đánh giá kết quả, điều chỉnh kế hoạch
Như vậy, trong cách dạy học này có hai kiểu hướng dẫn được phối hợp với nhau:
- Hướng dẫn bằng lời viết ngay trong tài liệu, đó là những chỉ dẫn về kếhoạch, về phương pháp giải quyết vấn đề, thu thập, xử lí thông tin, nhằm địnhhướng cho HS có thể tự lực thực hiện các hành động học một cách có ý thức, cóphương hướng rõ ràng
Trang 24- Hướng dẫn ngay tại lớp những loại hoạt động cụ thể để rèn luyện kĩ năng tựhọc GV theo dõi giúp đỡ, uốn nắn, điều chỉnh ngay tại lớp.
1.4 Bài tập hoá học
1.4.1 Khái niệm về bài tập hoá học
- Theo từ điển tiếng Việt: Bài tập là yêu cầu của chương trình cho học sinhlàm để vận dụng những đề đã học và cần giải quyết vấn đề bằng PP khoa học
- Về mặt lý luận dạy học, để phát huy tối đa tác dụng của bài tập hoá họctrong quá trình dạy học, người giáo viên phải sử dụng và hiểu nó theo quan điểm hệthống và lý thuyết hoạt động Một học sinh lớp 1 không thể xem bài toán thuộcchương trình lớp 12 là "bài tập" và ngược lại, đối với học sinh lớp 12, bài tập thuộcchương trình lớp 1 không còn là "bài tập" nữa! Bài tập chỉ có thể là "bài tập" khi nótrở thành đối tượng hoạt động của chủ thể, khi có một người nào đó có nhu cầuchọn nó làm đối tượng, mong muốn giải nó, tức là khi có một "người giải" Vì vậy,bài tập và người học có mối liên hệ mật thiết tạo thành một hệ thống toàn vẹn,thống nhất và liên hệ chặt chẽ với nhau: Bài tập - đối tượng; Người giải - chủ thể
Bài tập là một hệ thông tin chính xác bao gồm hai tập hợp gắn bó chặt chẽ,tác động qua lại với nhau, đó là những điều kiện và những yêu cầu Người giải baogồm hai thành tố là cách giải và phương tiện giải (cách biến đổi, thao tác trí tuệ,…)
Sơ đồ cấu trúc của hệ bài tập:
Trang 251.4.2 Tác dụng của bài tập hoá học
- Bài tập hoá học là một trong những phương tiện hiệu nghiệm cơ bản nhất đểdạy học sinh vận dụng các kiến thức đã học vào thực tế cuộc sống, sản xuất và tậpnghiên cứu khoa học, biến những kiến thức đã thu được qua bài giảng thành kiến thứccủa chính mình Kiến thức nhớ lâu khi được vận dụng thường xuyên như M.A Đanilôpnhận định:" Kiến thức sẽ được nắm vững thực sự, nếu học sinh có thể vận dụng thànhthạo chúng vào việc hoàn thành những bài tập lý thuyết và thực hành.”
- Đào sâu, mở rộng kiến thức đã học một cách sinh động, phong phú, chỉ có vậndụng kiến thức vào giải bài tập học sinh mới nắm vững kiến thức một cách sâu sắc
- Là phương tiện để ôn tập, củng cố, hệ thống hoá kiến thức một cách tốt nhất
- Rèn luyện kĩ năng hóa học cho học sinh như: Kĩ năng viết và cân bằngphương trình hoá học, kĩ năng tính toán theo công thức và phương trình hoá học, kĩnăng thực hành như cân, đo, nung sấy, đun nóng, lọc, nhận biết hoá chất,…
- Phát triển năng lực nhận thức, rèn trí thông minh cho học sinh (học sinh cóhiểu sâu mới hiểu được trọn vẹn) Một số bài tập có tình huống đặc biệt ngoài cáchgiải thông thường còn có cách giải độc đáo nếu học sinh có tầm nhìn sắc sảo Thôngthường nên yêu cầu học sinh giải bằng nhiều cách: có thể tìm ra cách giải ngắn nhất,hay nhất, đó là cách rèn luyện tư duy thông minh cho học sinh Khi giải bài toánbằng nhiều cách dưới các góc độ khác nhau, khả năng tư duy của học sinh tăng lêngấp nhiều lần so với việc học sinh giải nhiều bài toán bằng một cách và không phântích đến nơi đến chốn
- Bài tập hoá học còn được sử dụng như một phương tiện nghiên cứu tài liệumới (hình thành khái niệm, định luật, ) khi trang bị kiến thức mới, giúp học sinhtích cực, tự lực lĩnh hội kiến thức một cách sâu sắc và bền vững Điều này thể hiện
rõ khi học sinh làm bài tập thực nghiệm định lượng
- Bài tập hoá học phát huy tính tích cực, tự lực của học sinh và hình thànhphương pháp học tập hợp lí
- Bài tập hoá học còn là phương tiện để kiểm tra kiến thức, kĩ năng của họcsinh một cách hiệu quả
- Bài tập hoá học có tác dụng giáo dục đạo đức tác phong, rèn luyện tính kiêntrì, trung thực, chính xác khoa học và sáng tạo, phong cách làm việc khoa học (có tổ
Trang 26chức, kế hoạch,…), nâng cao hứng thú học tập bộ môn Điều này thể hiện rõ khigiải bài tập thực nghiệm.
Bản thân một bài tập hoá học chưa có tác dụng gì cả: Không phải một bài tậphoá học "hay" thì luôn có tác dụng tích cực! Vấn đề phụ thuộc chủ yếu là "người sửdụng nó" Làm thế nào phải biết trao đúng đối tượng, phải biết cách khai thác triệt
để mọi khía cạnh của bài toán, để học sinh tự mình tìm ra cách giải, lúc đó bài tậphoá học thật sự có ý nghĩa
1.4.3 Phân loại bài tập hoá học
Có nhiều cách phân loại bài tập hoá học dựa trên các cơ sở khác nhau
+ Dựa vào mức độ kiến thức (cơ bản, nâng cao)
+ Dựa vào tính chất bài tập (định tính, định lượng)
+ Dựa vào hình thái hoạt động của học sinh (lý thuyết, thực nghiệm)
+ Dựa vào mục đích dạy học (ôn tập, luyện tập, kiểm tra)
+ Dựa vào cách tiến hành trả lời (trắc nghiệm khách quan, tự luận)
+ Dựa vào kĩ năng, phương pháp giải bài tập (lập công thức, hỗn hợp, tổnghợp chất, xác định cấu trúc, )
+ Dựa vào loại kiến thức trong chương trình (dung dịch, điện hoá, động học,nhiệt hoá học, phản ứng oxi hoá - khử,…)
+ Dựa vào năng lực của học sinh (năng lực phát hiện - giải quyết vấn đề,năng lực vận dụng vào thực tiễn, năng lực sáng tạo,…)
1.4.4 Tiến trình giải một bài tập hoá học
Tiến trình khái quát giải một BTHH gồm các giai đoạn và yêu cầu khi giảibất kì bài tập nào, còn gọi là các bước chung hay là dàn ý gồm có 4 bước sau:
Bước 1: Nghiên cứu đề bài
- Đọc kĩ đề bài, tìm hiểu điều kiện đầu bài và yêu cầu của bài ra
- Tóm tắt đầu bài theo quy ước của bản thân theo kí hiệu quen dùng
- Quy đổi, thống nhất đơn vị theo cùng hệ thống
Bước 2: Xác lập mối quan hệ
- Mô tả hiện tượng, quá trình hoá học có thể xảy ra trong bài toán
- Xác lập mối quan hệ giữa các yếu tố đã cho và cần tìm
- Xác lập các quy tắc và định luật cần áp dụng cần thiết cho bài toán
Trang 27Bước 3: Thực hiện tiến trình giải
- Phân tích, tổng hợp, khái quát hoá để rút ra kết luận cụ thể
- Từ các mối quan hệ trên xác lập bảng các phương trình tiếp tục luận giải,tính toán biểu diễn các đại lượng cần tìm qua các đại lượng đã cho
- Xác định kết quả với độ chính xác cho phép
Bước 4: Kiểm tra xác nhận kết quả
Để xác nhận được kết quả vừa tìm được cần kiểm tra lại một số phương án sau:
- Kiểm tra lại đã xét hết các trường hợp chưa, trả lời hết câu hỏi chưa
- Kiểm tra lại các phép tính đã chính xác chưa, thứ nguyên đúng chưa
- Kiểm tra lại kết quả vừa giải có phù hợp với thực nghiệm không
- Thử giải bằng phương án khác có đúng không
Trong quá trình giảng dạy cần tạo cho HS có thói quen giải các bài tậptheo quá trình khái quát này sẽ giúp HS những phương hướng chung để giải bàitập, nó giúp học sinh định hướng giải bài tập tốt hơn, tuy nhiên với mỗi loại bàitập cần có hành động và thao tác cụ thể, chúng chỉ giống nhau ở bốn bước cơbản mà thôi
1.4.5 Xu hướng phát triển bài tập hoá học hiện nay
Hiện nay xu hướng phát triển chung của BTHH cần đảm bảo các yêu cầu:
1 Nội dung BT phải ngắn gọn, súc tích, không quá nặng về tính toán mà tậptrung vào rèn luyện và phát triển năng lực tư duy hoá học cho HS
2 Tăng cường các BTHH thực nghiệm để rèn luyện các thao tác, khả năng làmthí nghiệm cho HS nhằm giúp học sinh chủ động trong phương pháp tiến hành TN
3 Tăng cường các BTHH có tính thực tiễn Từ đó làm cho HS nhận ra hoáhọc không còn là những khái niệm và phản ứng khó hiểu, khó nhớ mà rất gần gũi,thiết thực với cuộc sống Khai thác các yếu tố ảnh hưởng của hoá học với môitrường, kinh tế, đời sống sản xuất và các hiện tượng trong tự nhiên sẽ làm cho nộidung BT trở nên hấp dẫn, kích thích sự tò mò, đam mê của HS đối với ngành HH
4 Tăng cường các BTHH định lượng được xây dựng trên quan điểm khôngphức tạp hoá bởi các thuật toán mà chú trọng đến các phép tính được sử dụng nhiềutrong thực hành HH
5 Tăng cường số lượng các bài tập có sử dụng hình vẽ, vẽ đồ thị, sơ đồ,…
Trang 286 Chuyển hoá một số dạng BTHH tự luận sang dạng trắc nghiệm kháchquan, gọi tắt là BT trắc nghiệm.
Như vậy, xu hướng phát triển bài tập hoá học hiện nay hướng để rèn luyệnkhả năng vận dụng kiến thức, phát triển khả năng tư duy hoá học cho HS ở các mặt:
lý thuyết, thực hành và ứng dụng
1.4.6 Mối quan hệ giữa nắm vững kiến thức và hoạt động giải BTHH với tài liệu tự học có hướng dẫn
1.4.6.1 Mối quan hệ giữa nắm vững kiến thức và hoạt động giải BTHH
Theo lý luận dạy học, kiến thức được hiểu là kết quả của quá trình nhận thức,bao gồm: Một tập hợp nhiều mặt về chất lượng và số lượng của các biểu tượng vàkhái niệm lĩnh hội được, giữ lại trong trí nhớ và được tái tạo lại khi có những đòihỏi tương ứng
- Những kiến thức được nắm một cách tự giác, sâu sắc phần lớn là có tích luỹthêm kĩ năng, kĩ xảo sẽ trở thành công cụ tư duy của học sinh
- Theo M.A Đanilov: "Kĩ năng là khả năng của con người biết sử dụng cómục đích và sáng tạo những kiến thức và kĩ xảo của mình trong quá trình hoạt động
lý thuyết cũng như thực tiễn Kĩ năng bao giờ cũng xuất phát từ kiến thức, dựa trênkiến thức Kĩ năng chính là kiến thức trong hành động, còn kĩ xảo là hành động mànhững hợp thành của nó do luyện tập mà trở thành tự động hoá Kĩ xảo là ở mức độcao của sự nắm vững kĩ năng Nếu như kĩ năng đòi hỏi ở mức độ nhiều, ít sự tựkiểm tra tự giác, tỉ mỉ thì kĩ xảo là hành động được tự động hoá, trong đó sự tự kiểmtra tự giác xảy ra chớp nhoáng và các thao tác được thực hiện rất nhanh, như mộttổng thể, dễ dàng và nhanh chóng
- Sự nắm vững kiến thức có thể được phân biệt ở 3 mức độ: biết, hiểu và vậndụng được
+ Biết một kiến thức nào đó nghĩa là nhận ra nó, phân biệt nó với các kiếnthức khác, kể lại nội hàm của nó một cách chính xác Đây là mức độ tối thiểu màhọc sinh cần đạt trong giờ học
+ Hiểu một kiến thức là gắn kiến thức ấy vào một kiến thức đã biết đưa được
nó vào trong hệ thống vốn kinh nghiệm của bản thân, nói cách khác, hiểu một kiếnthức là nêu đúng nội hàm và ngoại diện của nó, xác lập được những quan hệ giữa nó
Trang 29và hệ thống kiến thức, vận dụng được trực tiếp kiến thức ấy vào những tình huốngquen thuộc dẫn đến có khả năng vận dụng nó một cách linh hoạt và sáng tạo.
+ Vận dụng kiến thức vào giải quyết các nhiệm vụ thực tiễn, tức là phải tìmđược kiến thức thích hợp trong vốn kiến thức đã có để giải quyết một nhiệm cụ mới.Thông qua vận dụng những kiến thức đã nắm vững một cách thực sự, sâu sắc hơncàng làm chủ quá trình nắm vững kiến thức một cách tự giác, sáng tạo, làm cho mốiquan hệ giữa lý thuyết và thực tiễn càng sâu sắc, càng gần gũi Mặt khác, trong khivận dụng kiến thức, các thao tác tư duy được trau dồi, một số kĩ năng, kĩ xảo đượchình thành và củng cố, hứng thú học tập của học sinh được nâng cao
- Để đảm bảo cho học sinh nắm vững kiến thức hóa học một cách vững chắccần phải hình thành cho họ kĩ năng, kĩ xảo, vận dụng kiến thức thông qua nhiềuhình thức luyện tập khác nhau Trong đó, việc giải bài tập một cách có hệ thống từ
dễ đến khó là một hình thức rèn luyện phổ biến được tiến hành nhiều nhất Theonghĩa rộng, quá trình học tập là quá trình liên tiếp giải các bài tập Vì vậy, kiến thứcthực sự được nắm vững hoàn toàn nếu như họ tự giác, tích cực vận dụng linh hoạt,tạo thành kiến thức ấy để giải quyết những bài toán khác nhau Ở đây chúng ta thấy
rõ mối quan hệ biện chứng giữa nắm vững và vận dụng kiến thức trong quá trìnhnhận thức của học sinh
1.4.6.2 Ý nghĩa của tài liệu tự học có hướng dẫn đối với việc học tập của
học sinh
Thông qua tài liệu tự học có hướng dẫn, người học qua quá trình học tậpnghiên cứu tự trang bị cho mình không những tri thức mà còn cả cách tiếp cận vàcon đường để chiếm lĩnh tri thức của nhân loại Tri thức của loài người là vô tận vìvậy để việc học tập có hiệu quả cao thì người học phải biết mình cần học những gì,học như thế nào khi tiếp cận một yêu cầu học tập Người học muốn học có hiệu quảthì tự bản thân học phải biết cách đánh giá năng lực của mình Như vậy trong suốtquá trình tự học, bản thân người học sẽ chủ động thực hiện hoạt động nhận thức vàhoạt động kiểm tra đánh giá quá trình học tập của mình
Nắm vững kiến thức Vận dụng kiến thức
Trang 301.4.7 Vai trò của bài tập hoá học trong việc phát triển NLTH cho học sinh
Trong việc phát triển NLTH cho HS, bài tập nói chung và bài tập hoá họcnói riêng là phương tiện không thể thiếu để rèn luyện, bồi dưỡng cho các em kĩnăng tự học cơ bản như: kĩ năng thu thập, xử lí thông tin; kĩ năng vận dụng trithức đã học vào thực tiễn và đặc biệt là kĩ năng tự kiểm tra, đánh giá và tự điềuchỉnh quá trình tự học
+ Bài tập Hoá học là phương tiện để rèn luyện cho học sinh khả năng thuthập thông tin
+ Bài tập Hoá học là phương tiện để rèn luyện cho học sinh khả năng xử líthông tin
+ Bài tập Hoá học là phương tiện để rèn luyện cho học sinh khả năng vậndụng tri thức vào trong thực tiễn
+ Bài tập Hoá học là phương tiện để rèn luyện cho học sinh kĩ năng tự kiểmtra đánh giá và tự điều chỉnh mình
1.5 Tình hình sử dụng bài tập hoá học để phát triển NLTH cho học sinh THPT hiện nay
1.5.1 Mục đích và phương pháp điều tra
Để nắm rõ thực tế việc phát triển NLTH cho học sinh qua bài tập hoá học,chúng tôi tiến hành việc điều tra việc dạy học hóa học của giáo viên và học sinh ở một
số trường trên địa bàn huyện Giao Thủy tỉnh Nam Định bằng các phương pháp sau:
- Phát phiếu điều tra cho 20 giáo viên dạy hoá học ở các trường THPT để tìmhiểu về vấn đề thầy cô giáo rèn luyện NLTH cho học sinh ở mức độ nào
- Trò truyện với giáo viên và học sinh để biết được cụ thể vấn đề bồi dưỡngNLTH cho HS thông qua việc sử dụng BTHH
1.5.2 Kết quả điều tra thực tiễn việc sử dụng bài tập hoá học để phát triển NLTH ở các trường THPT hiện nay
1.5.2.1 Việc phát triển NLTH cho học sinh của GV
Qua điều tra chúng tôi nhận thấy: Một số giáo viên đã rất nỗ lực với phươngpháp dạy học theo hướng tích cực hoá hoạt động của người học, có chú trọng khảnăng rèn luyện khả năng phát triển tư duy, NLTH thông qua dạy học hoá học nóichung và sử dụng bài tập nói riêng
Trang 31Về việc sử dụng BTHH, GV dùng trong giờ nghiên cứu tài liệu mới thườngvới mục đích dẫn dắt, gợi mở đến kiến thức mới Trong giờ luyện tập hệ thống hoákiến thức, GV sử dụng bài tập chủ yếu để tái hiện kiến thức cũ hoặc ra những bàitập khó, rồi dạy cho HS giải được những bài tập này để khắc sâu kiến thức Tronggiờ kiểm tra cũng như vậy, rất ít sử dụng các loại bài tập đòi hỏi khả năng tự họccủa học sinh.
Một phần cũng do ảnh hưởng bởi lối dạy truyền thống, các giáo viên còn gặpkhó khăn trong trong việc thiết kế các bài tập, đặc biệt là loại bài tập phát triển tưduy, NLTH cho HS Họ còn lúng túng khi sử dụng vào các khâu của quá trình dạyhọc nên các phương pháp DH tích cực được dùng còn hạn chế hoặc mang tính hìnhthức, tính hiệu quả, tốn nhiều thời gian Vì vậy, yêu cầu giáo viên hiện nay là cầnphải nắm vững cơ sở lí luận, các nguyên tắc và qui trình xây dựng, sử dụng các bàitập để phát triển NLTH cho HS
1.5.2.2 Việc tự học của học sinh qua bài tập hoá học.
Thông qua phiếu thăm dò ý kiến và trao đổi trực tiếp với giáo viên, học sinhmột số trường THPT, chúng tôi có nhận xét như sau:
1 Về việc đọc tài liệu trước khi nghe giảng trên lớp: Đa số các em đều có ýthức đọc bài mới trước khi đến lớp nhưng chỉ chú tâm vào những phần kiến thức có vẻhấp dẫn, thú vị, còn lại thì bỏ qua Như vậy dẫn tới việc chuẩn bị bài chưa đạt hiệu quả.Nguyên nhân chính là vì các em chưa nắm được mục đích yêu cầu của bài học
2 Đối với học sinh khá giỏi môn Hoá học, yêu cầu của bài học không chỉdừng lại ở mức độ biết mà chủ yếu ở mức độ hiểu và vận dụng các kiến thức đượchọc Ngoài ra còn cần rèn luyện những kĩ năng thông qua quá trình học tập
3 Một thực tế là học sinh rất ngại học lý thuyết, chỉ thích làm bài tập Các
em quên mất rằng lý thuyết chính là cơ sở quan trọng nhất để giúp các em giảiquyết được nhanh, đúng các bài tập Kiến thức cơ bản chính là những nội dung màcác em cần nắm vững, khắc sâu trong quá trình học tập của mình Các bài tập nhiềukhi chỉ là để giúp các em hiểu rõ, vận dụng và khắc sâu kiến thức
4 Việc trình bày một bài giải sao cho hiệu quả cũng là một vấn đề hay gặp.Các em học sinh giỏi có thể tìm ra hướng giải và đáp số của bài tập một cách nhanhchóng, nhưng trình bày ra sao thì không phải em nào cũng làm được Trong quátrình trao đổi, rất nhiều em muốn giáo viên giảng và trình bày kĩ hơn trong quá trìnhchữa bài tập
Trang 325 Một thực tế trong trường phổ thông, đó là nhiều học sinh chưa biết cáchhọc và tự học, việc học hoàn toàn phụ thuộc vào những buổi đi học trên lớp hoặcchỉ làm bài tập khi GV giao Một số học sinh vẫn còn thụ động trong việc làm bàitập, chờ giải đáp từ các bạn tích cực hơn là chờ câu trả lời từ giáo viên Như vậy, cóthể nói hệ thống bài tập của giáo viên đưa ra để sử dụng chưa thực sự kích thíchhứng thú học tập và khả năng tìm tòi sáng tạo của HS.
Tóm lại, hiện nay nhiều HS chưa biết cách học, chỉ quen học thuộc lòng, thụđộng, chưa tích cực sáng tạo trong việc tìm kiếm bài tập mới Điều này do các em ítđầu tư công sức, thời gian vào việc học, học tập chỉ mang tính đối phó Với các em
có ý thức tự giác, yêu thích môn học thì lại không có phương pháp học đúng cáchnên chưa khai thác triệt để được những kiến thức trong quá trình làm bài tập
Xuất phát từ thực tế như vậy, trong quá trình biên soạn hệ thống các bài tập
về kim loại lớp 12 nâng cao, tôi đã cố gắng chọn những bài tập để các em HS cóthể hoàn thiện kiến thức của mình qua quá trình tự học
Tiểu kết chương 1
Trong chương này tôi đã trình bày cơ sở lí thuyết chủ yếu về vấn đề pháttriển NLTH cho học sinh THPT, bài tập hoá học và các vấn đề có liên quan Sau khinghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn về việc phát triển
NLTH cho học sinh thông qua BTHH, tôi nhận thấy việc tuyển chọn, xây dựng
và sử hệ thống BTHH ở trường THPT giữ một vai trò quan trọng trong quá trình DHhoá học Tính tích cực của BTHH được nâng cao hơn khi BTHH được sử dụng như lànguồn kiến thức để học sinh tìm tòi chứ không phải là tái hiện kiến thức
Muốn vậy, GV phải biết cách tổ chức tình huống học tập phù hợp, giao bàitập cho HS trong quá trình tự học, hướng dẫn cho HS khi các em gặp khó khăntrong việc giải quyết các bài tập, đồng thời HS phải tự giác hoạt động, chủ độngtrong việc tìm tòi giải quyết các vấn đề đặt phát triển tư duy độc lập, tư duy sáng tạo
có đủ sức làm chủ bản thân, có khả năng hội nhập và tự thích ứng cao với hoàncảnh khi ra trường
Trang 33
Chương 2 TUYỂN CHỌN, XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP PHẦN KIM LOẠI LỚP 12 NÂNG CAO NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC
CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 2.1 Nguyên tắc xây dựng bài tập mới và tuyển chọn bài tập phát triển NLTH 2.1.1 Nguyên tắc xây dựng bài tập mới
Dựa vào mục đích, nội dung và phương pháp dạy học hoá học, cơ sở tâm lýcủa học sinh, nội dung chương trình và đặc điểm của bộ môn hoá học có thể thiết kếcác bài tập hoá học mới xuất phát từ bài tập mẫu(gốc) theo các nguyên tắc sau:
1 Nghịch đảo điều kiện và yêu cầu
2 Phức tạp hoá điều kiện
3 Phức tạp hoá yêu cầu
4 Phức tạp hoá cả điều kiện và yêu cầu
5 Ghép nội dung nhiều bài toán với nhau
6 Chuyển BT dạng tự luận sang các dạng TNKQ và ngược lại
Ngoài 6 nguyên tắc trên ta còn cần phải chú ý các yêu cầu sau:
- Hệ thống bài tập thiết kế phải giúp học sinh tiếp thu được kiến thức mới,
mở rộng kiến thức đã học, phát huy được tính tích cực chủ động của người học
- Hệ thống BT phải phát triển các thao tác tư duy và rèn luyện các kỹ năng TH
- Nội dung bài tập phù hợp với đối tượng học sinh, thời gian học tập
- Thiết kế bài tập hoá học theo nguyên tắc từ dễ đến khó, từ đơn giản đếnphức tạp, nhưng nội dung các bài tập phải phản ánh được đầy đủ chương trình hoáhọc, củng cố ôn tập các khái niệm, các định luật cơ bản của hoá học
Những nguyên tắc trên giúp ta nắm được cơ chế biến hoá nội dung bài tậptheo hướng có mức độ phức tạp, độ khó khác nhau tuỳ vào mục đích dạy học
2.1.2 Nguyên tắc tuyển chọn bài tập phát triển NLTH cho học sinh
Để hệ thống bài tập có tác dụng phát triển NLTH cho HS thì ngoài việc đảmbảo các nguyên tắc chung đã nêu trên cần đảm bảo các nguyên tắc sau đây:
- Hệ thống bài tập phải hướng vào những suy nghĩ độc lập, giúp các em bộc
lộ những kiến thức tự tìm tòi phát hiện
Trang 34Khi xây dựng hệ thống BTHH, giáo viên cần lựa chọn những bài tập đặt HSvào trạng thái phải suy nghĩ, cân nhắc, xem xét, suy luận, … thì mới có thể trả lờichính xác Cần hạn chế các bài tập không cần suy nghĩ, xem xét ,… chỉ cần thay số
là có thể trả lời được mà không hiểu ý nghĩ, bản chất của vấn đề Vì trong khi suynghĩ, cân nhắc để tìm cách giải quyết các yêu cầu của BT, học sinh sẽ bộc lộ nhữngkiến thức tìm tòi, phát hiện trong quá trình tự học của mình
- Hệ thống bài tập phải phát huy tính sáng tạo của học sinh: Khi xây dựng hệthống BTHH theo hướng phát triển NLTH cho HS cần chú trọng những BT ở mứcsáng tạo Những bài tập ở mức sáng tạo sẽ phát huy được khả năng vận dụng kiếnthức của HS trong những tình huống mới
Ngoài ra cần chú trọng những bài tập có tính cập nhật, vì những BT đó yêucầu HS phải thường xuyên cập nhật thông tin, từ đó rèn luyện kĩ năng thu thập, xử lí
và vận dụng các thông tin vào trong những điều kiện cụ thể của BT
2.2 Một số biện pháp sử dụng bài tập hoá học theo hướng phát triển NLTH 2.2.1 Sử dụng bài tập hoá học theo hướng phát triển NLTH cho HS khi nghiên cứu kiến thức mới
Kiến thức thức mới được hình thành chủ yếu là sự kế thừa và phát triển kiếnthức mà HS sinh đã học ở bậc Trung học cơ sở hoặc dựa vào các quan niệm đượchình thành từ kinh nghiệm cuộc sống Để tổ chức, điều khiển quá trình nghiên cứumới, đồng thời tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh, GV có thể sử dụng
hệ bài tập phù hợp với các bước khác nhau của quá trình nghiên cứu kiến thức thứcmới Cụ thể:
Ở phần mở bài, giáo viên nên chọn những bài tập được trình bày dưới dạngtình huống có vấn đề nhằm kích thích hứng thú, nhu cầu cần phải nghiên cứu, giảiquyết Yêu cầu của các bài tập ở bước này là phải ngắn gọn, mang yếu tố tình huống
và hướng vào nội dung kiến thức cơ bản của bài
Có thể sử dụng các biện pháp sau để tạo tình huống có vấn đề
Lựa chọn những bài tập có nội dung nó chứa đựng mâu thuẫn nhận thứcnhận thức giữa cái đã biết, mâu thuẫn đó phải vừa sức, tạo ra được cho HS hứng thúnhận thức và niềm tin có thể nhận thức được Tuỳ theo đối tượng HS và nội dungtừng bài học cụ thể như:
Trang 35Lựa chọn các bài tập mà nội dung của nó tình huống bất ngờ Đó là những sựkiện, hiện tượng mà ta không ngờ nó xảy ra như thế Nhiệm vụ cần giải quyết làlàm sáng tỏ nguyên nhân khoa học của hiện tượng.
Lựa chọn các bài tập mà nội dung của nó tình huống không phù hợp Đó lànhững sự kiện, hiện tượng trái ngược với quan niệm thông thường của học sinh.Nhiệm vụ cần giải quyết là phân tích những chỗ sai trong cách hiểu thông thường từ
đó tìm ra cách hiểu khoa học, phù hợp
Lựa chọn các bài tập mà nội dung của nó tình huống xung đột Đó là những
sự kiện, hiện tượng chứa những quan điểm trái ngược nhau Nhiệm vụ cần giảiquyết là tìm hiểu, phân tích, phê phán những quan điểm sai để tìm ra chân lí Lựachọn các bài tập mà nội dung có tình huống bác bỏ Đó là những sự kiện, hiệntượng đẽ dẫn đến những kết luận sai lầm Nhiệm vụ cần giải quyết là đưa ra nhữngcăn cứ khoa học để những kết luận thiếu khoa học hay kết luận sai lầm
Lựa chọn các bài tập mà nội dung của nó có tình huống lựa chọn trong nhiềuphương án được đưa ra Nhiệm vụ cần quyết là lựa chọn một phương án hợp lítrong điều kiện cụ thể nhất định
2.2.2 Sử dụng bài tập hoá học theo hướng phát triển NLTH cho HS khi vận dụng, củng cố
Khi kết thúc bài học, GV có thể sử dụng một số bài tập để học sinh củng cố vậndụng kiến thức đã học Để HS nắm vững được kiến thức của bài đồng thời rèn luyện chocác em các kĩ năng vận dụng cụ thể, GV có thể sử dụng các biện pháp sau:
- Sử dụng các bài tập nhằm giải quyết các tình huống đặt ra ở đầu bài học
- Từ những kiến thức cơ bản của bài, GV dùng các bài tập có tính sáng tạo để
HS vận dụng các kiến thức đã học để giải quyết Tuỳ theo đối tượng HS, GV có thể:
+ Hướng dẫn, gợi ý tài liệu cũng như cách giải để HS có thể tự lực vận dụngkiến thức để giải quyết các yêu cầu của bài tập
+ Để học sinh tự lực giải quyết các yêu cầu của bài tập
2.2.3 Sử dụng bài tập hoá học theo hướng phát triển NLTH cho HS khi
tự học ở nhà
Tự học ở nhà là hình thức tự học chủ yếu của người học So với tự học trênlớp, tự học ở nhà có thuận lợi về mặt thời gian và nguồn tài liệu tham khảo, nhưng
Trang 36có khó khăn là không được sự hướng dẫn trực tiếp của thầy Bài tập ở khâu nàynhằm vào hai mục đích: một là giúp học sinh củng cố hệ thống hoá những kiến thức
đã học đồng thời rèn luyện các kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tế; hai là giúphọc sinh chuẩn bị tiếp cận kiến thức của bài học mới
Để đảm bảo các bài tập hoá học trong khâu tự học ở nhà có hiệu quả, giáoviên có thể sử dụng các biện pháp sau:
- Đối với các bài tập dùng để củng cố kiến thức, rèn luyện các kĩ năng vận dụng,
GV cần phải lựa chọn một hệ thống bài tập phù hợp giao cho học sinh Các bài tập nàyđược sắp xếp từ dễ đến khó, từ cơ bản đến sáng tạo và đảm bảo các yêu cầu:
+ Vừa phải cả về số lượng và mức độ
+ Hướng vào các phần kiến thức cơ bản đã học
+ Bao gồm những bài tập rèn luyện kĩ năng vận dụng cơ bản và những kĩnăng vận dụng sáng tạo
+ Cần tăng cường các bài tập có nội dung tổng hợp, yêu cầu học sinh phảivận dụng kiến thức của nhiều phần khác nhau để giải quyết
- Hướng dẫn học sinh các tài liệu cần đọc để giải quyết các yêu cầu đặt ra trong
hệ thống bài tập giáo viên giao cho học sinh, chú ý đến các tài liệu dễ tìm, sát với đốitượng học sinh cũng như chuẩn kiến thức, kĩ năng theo qui định của chương trình
- Đối với những bài tập khó giáo viên có thể hướng dẫn học sinh biết cách giải,đối với những: “ lỗ hổng” về kiến thức, GV có thể hướng dẫn bổ sung cho các em
- Tổ chức thành các nhóm học tập ở nhà để các em trao đổi thông tin, giúp
đỡ nhau trong học tập, cử nhóm trưởng phụ trách và chịu trách nhiệm về việc họctập của nhóm trước GV
2.2.4 Sử dụng bài tập hoá học theo hướng phát triển NLTH cho HS khi kiểm tra đánh giá tự học
Kiểm tra đánh giá có vai trò rất quan trọng trong quá trình tự học của ngườihọc Ở khâu này, học sinh coi như thực hiện xong các nhiệm vụ do GV giao, ngườihọc cần được kiểm tra, đánh giá hiệu quả việc tự học của mình Để việc kiểm tra,đánh giá có hiệu quả GV cần sử dụng các biện pháp sau đây:
- Xác định và phổ biến với học sinh các tiêu chí đánh giá cụ thể về thái độ,kiến thức, kĩ năng và năng lực vận dụng tri thức độc lập, sáng tạo
Trang 37- Phối hợp giữa việc kiểm tra đánh giá của giáo viên với việc tự kiểm tra,đánh giá của học sinh trong đó chú trọng đến việc kiểm tra, đánh giá của học sinh.
Để giúp HS tự kiểm tra, đánh giá quá trình học tập của mình Cụ thể là:
+ Lựa chọn các bài tập cơ bản, tiêu biểu trong số các bài tập đã giao cho họcsinh, ra cho HS lựa chọn các bài tập cơ bản, tiêu biểu trong số các bài tập đã giaocho học sinh, ra cho HS và yêu cầu cho HS làm ngay tại lớp hoặc ở nhà sau đó nộplại bài cho giáo viên Nếu có thời gian, GV có thể cho HS hoặc đại diện nhóm HStrình bày các bài làm trước lớp, cả lớp và giáo viên cùng hoàn thiện các bài giải,từng cá nhân học sinh tự đánh giá kết quả tự học của mình; nếu không có thời gian,
GV có thế nhận xét, hướng dẫn giải các bài tập đã giao cho HS, từng cá nhân họcsinh tự đánh giá kết quả tự học của mình
+ Hướng dẫn cho HS chọn ở các BT ở các tài liệu tham khảo, những bài tập
cơ bản, tương tự những bài tập giáo viên đã giao cho, tự giải và đối chiếu với kếtquả ở các tài liệu tham khảo hoặc trao đổi với bạn bè, thầy cô và tự đánh giá mức độnắm kiến thức của mình qua quá trình tự học Hình thức này đòi hỏi tính tự giác caocủa người học và người học phải được bồi dưỡng kĩ năng lựa chọn những bài tập cơbản để vừa hướng vào các nội dung cơ bản của chương trình vừa đảm bảo được thờigian tự học ở nhà của người học Cụ thể là GV phải định hướng cho HS lựa chọnbao nhiêu bài tập, những dạng nào, ở tài liệu nào ?
- Hạn chế sử dụng những bài tập có mức độ tái hiện, tăng cường sử dụng cácbài tập ở mức độ sáng tạo để giúp học sinh tự đánh giá được NLTH của bản thân
- Động viên, khuyến khích HS tự nhận ra những hạn chế, thiếu sót của mình
và tự hoàn thiện kiến thức qua quá trình tự học của mình
2.3 Bài tập dùng để rèn một số năng lực trong việc phát triển NLTH cho HS 2.3.1 Bài tập phát triển năng lực tư duy độc lập
Trong quá trình dạy học cần phải rèn cho học sinh thói quen suy nghĩ độclập, từ đó mới có tư duy logic, tư duy hình tượng, rồi mới đến tư duy phê phán Có
tư duy phê phán mới có tư duy sáng tạo Như vậy, độc lập là tiền đề cho sáng tạotrong quá trình tự lực học tập
Các bài tập phát triển NLTH phải hướng HS vào những suy nghĩ độc lập,giúp các em tìm tòi, phát hiện ra kiến thức
Trang 38Ví dụ 1: Khử hoàn toàn 8 gam một oxit kim loại M cần vừa đủ 3,36 lít khí
CO (ở đktc) Muốn hoà tan lượng kim loại thu được cần 200 ml dung dịch HCl 1M.Tìm công thức oxit kim loại
Hướng dẫn
Để làm được ví dụ này học sinh phải biết cách lập công thức oxit của kimloại M Nếu không suy nghĩ kĩ, các em sẽ đặt công thức là M2On Vấn đề đặt ra là:Công thức M2On chỉ phù hợp với các kim loại có hoá trị không đổi Vậy với các kimloại có nhiều mức oxi hoá thì công thức trên có còn phù hợp hay không? Khi đó họcsinh phải suy nghĩ và tìm cách giải quyết Từ đó tìm công thức tổng quát phù hợp là
1,5x
( 1)
Đề bài chưa rõ là hoá trị của kim loại M không đổi hay thay đổi, vậy thì phảigọi công thức của muối clorua kim loại M như thế nào?
Đến đây học sinh phải định hướng bài toán sang 2 trường hợp:
Trường hợp 1: Nếu hoá trị của M không đổi thì
Từ (1) và (2) ta thấy điều này vô lí �Trường hợp này loại.
Trường hợp 2: Nếu M có hoá trị thay đổi
Trang 39�0,2 2 = 2m
M
5,6
M � MM = 28m Khi đó chọn m = 2 �MM = 56 là phù hợp �M là Fe
Thay vào:
5,6M
y 0,15 �
y 0,15 3 Công thức oxit là Fe2O3
Ví dụ 2: Hoà tan hết 4,431 gam hh X gồm Al, Mg trong HNO3 loãng, thu được dd A
và 1,586 lít (đktc) hh khí B gồm NO và N2O Hãy xác định % mỗi kim loại trong hh
X theo 3 cách khác nhau
Hướng dẫn
Cách 1: + PTPƯ: Al + 4HNO3 Al(NO3)3 + NO + 2H2O (1)
3Mg + 8HNO3 3Mg (NO3)2 + 2NO + 4H2O (2)8Al + 30HNO3 8Al(NO3)3 + 3N2O + 15H2O (3)4Mg + 10HNO3 4Mg (NO3)2 + N2O + 5H2O (4)+ Gọi a,b là số mol của NO, N2O có : 30a + 44b = 2,59
Cách 2: + Gọi số mol Al, Mg là x, y có:
(a) Al - 3e Al3+ NO3- + 3e + 4H+ NO + 2H2O (c)
x 3x 0,105 0,035
Trang 402.3.2 Bài tập bồi dưỡng năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề
Đây là một trong những năng lực cần thiết phải rèn luyện cho học sinh vì nó
có tác dụng rất lớn kích thích hoạt động tư duy sáng tạo của học sinh Khi giải quyếtvấn đề đòi hỏi học sinh phải huy động các kiến thức, tài liệu thu thập, xem xét đánhgiá thông tin một cách chính xác, khoa học qua đó giúp học sinh nắm chắc kiếnthức Đồng thời hình thành cho HS là khả năng nhận thức vấn đề nhanh, có hứngthú nhất là trong những vấn đề mới
Khi xây dựng hệ thống bài tập hoá học, giáo viên cần chọn những bài tập đặthọc sinh vào trạng thái phải suy nghĩ, cân nhắc, xem xét suy luận thì mới có thể trả