1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NHẬN THỨC về LUẬT GIAO THÔNG ĐƯỜNG bộ của SINH VIÊN TRƯỜNGĐẠI học sư PHẠM hà nội

95 232 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 223,15 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì những lí do trên đề tài “Nhận thức về Luật giao thông đường bộ củasinh viên trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội” được đưa ra nhằm tìm hiểu nhận thức của sinh viên trường Đại học Sư phạm Hà

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI KHOA TÂM LÝ - GIÁO DỤC HỌC

- -NGUYỄN THỊ THUÝ NGA

NHẬN THỨC VỀ LUẬT GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Người hướng dẫn: TS Đào Minh Đức

Hà Nội, 2018

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong trường Đại học Sư phạm

Hà Nội, thầy cô trong khoa Tâm lý giáo dục đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ, tạođiều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt 4 năm học tập tại trường cũng như trongquá trình nghiên cứu

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành, sâu sắc nhất đến TS Đào MinhĐức, thầy đã trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện khóaluận tốt nghiệp này

Cảm ơn tất cả các bạn sinh viên trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã nhiệttình giúp đỡ và chia sẻ để tôi có thể hoàn thành được khóa luận của mình

Do năng lực nghiên cứu còn hạn chế, chắc chắn khóa luận không tránhkhỏi những thiếu sót Kính mong được sự đóng góp ý kiến của quý thầy cô giáo

để khóa luận được hoàn thiện hơn

Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 28 tháng 04 năm 2018

Sinh viên

Nguyễn Thị Thúy Nga

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 2

4 Giả thuyết khoa học 2

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài 3

7 Phương pháp nghiên cứu 3

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN NHẬN THỨC VỀ LUẬT GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 7

1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 7

1.1.1 Nghiên cứu ở nước ngoài 7

1.1.2 Nghiên cứu trong nước 10

1.2 Cơ sở lý luận nhận thức về Luật giao thông đường bộ 14

1.2.1 Nhận thức 14

1.2.1.1 Khái niệm nhận thức 14

1.2.1.2 Cấu trúc của nhận thức 17

1.2.1.3 Mức độ của nhận thức 18

1.2.2 Luật giao thông đường bộ 21

1.2.2.1 Khái niệm Luật giao thông đường bộ 21

1.2.2.2 Cấu trúc của Luật giao thông đường bộ 22

1.2.3 Nhận thức về Luật giao thông đường bộ của sinh viên sư phạm 23

1.2.3.1 Khái niệm nhận thức về Luật giao thông đường bộ 23

1.2.3.2 Một số đặc điểm tâm lý của sinh viên sư phạm 23

1.2.3.3 Khái niệm nhận thức về Luật giao thông đường bộ của sinh viên sư phạm 27

1.2.3.4 Cấu trúc của nhận thức về Luật giao thông đường bộ của sinh viên sư phạm 28

1.2.3.5 Nội dung của nhận thức về Luật giao thông đường bộ của sinh viên sư phạm 29

1.2.3.6 Một số yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức về Luật giao thông đường bộ của sinh viên sư phạm 31

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 35

Trang 4

CHƯƠNG 2 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU NHẬN THỨC VỀ LUẬT GIAO THÔNG

ĐƯỜNG BỘ CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 36

2.1 Địa bàn nghiên cứu và khách thể nghiên cứu 36

2.1.1 Vài nét về địa bàn nghiên cứu 36

2.1.2 Đặc điểm khách thể nghiên cứu 38

2.2 Kết quả nghiên cứu thực trạng nhận thức về Luật giao thông đường bộ của sinh viên trường Đại học Sư phạm Hà Nội 39

2.2.1 Đánh giá chung về mức độ nhận thức về Luật giao thông đường bộ của sinh viên thông qua 3 mức độ của nhận thức 39

2.2.2 Thực trạng nhận thức về Luật giao thông đường bộ của sinh viên trường Đại học Sư phạm Hà Nội 40

2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức về một số nội dung trong Luật giao thông đường bộ của sinh viên trường Đại học Sư phạm Hà Nội 50

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 52

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 53

1 Kết luận 53

2 Khuyến nghị 53

3 Hạn chế của nghiên cứu này và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo 56

TÀI LIỆU THAM KHẢO 57

PHỤ LỤC 61

Trang 5

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Giới tính 38 Bảng 2.2 Phương thức thường xuyên tham gia giao thông hiện nay của sinh viên 38 Bảng 2.2.1 Đánh giá chung về mức độ nhận thức về Luật giao thông đường bộ của sinh viên thông qua 3 mức độ của nhận thức 39 Bảng 2.2.2 Mức độ biết những nội dung thuộc Điều luật trong Luật giao thông đường

bộ 41 Bảng 2.2.3 Mức độ tìm hiểu Luật giao thông đường bộ qua các kênh thông tin 45 Bảng 2.2.4 Mức độ nghiêm trọng về hậu quả của việc không nhận thức đúng về Luật giao thông đường bộ 47 Bảng 2.2.5 Mức độ hài lòng khi thực hiện những quy định trong Luật giao thông đường bộ của sinh viên 49 Bảng 2.2.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức về Luật giao thông đường bộ của sinh viên 50

Trang 6

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 1 Phương thức thường xuyên tham gia giao thông của sinh viên hiện

nay 39

Biểu đồ 2: Sự cần thiết của việc nhận thức về Luật giao thông đường bộ 40

Biểu đồ 3: Mức độ hiểu về Luật giao thông đường bộ của sinh viên 43

Biểu đồ 4: Mức độ vận dụng về Luật giao thông đường bộcủa sinh viên 44

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong công cuộc hiện đại hóa đất nước không ngừng phát triển và đổi mới

về mọi mặt Sự phát triển của giao thông đường bộ là một sự tiến bộ của toàn xãhội Nhưng bên cạnh những thuận lợi như cơ sở hạ tầng được cải thiện, phươngtiện giao thông hiện đại,… thì kéo theo mặt trái đó là mất an toàn và tai nạn giaothông Nó đã và đang trở thành vấn đề gây bức xúc, gây thiệt hại cả người vàcủa đối với nền kinh tế của cả đất nước Đó là một trong những vấn đề lớn được

xã hội quan tâm

Theo số liệu thống kê, Việt Nam là quốc gia có tỉ lệ tử vong do tai nạn giaothông đứng hàng đầu thế giới Trong 8 tháng đầu năm 2017 với 12775 vụ tai nạngiao thông với 5422 người chết và 10543 người bị thương Trung bình mỗi năm

có 8670 người chết do tai nạn giao thông Tuy nhiên đây mới chỉ là số liệu đượccảnh sát ghi nhận tại hiện trường [2] Theo phân tích, thống kê của Bộ Công anliên quan đến tai nạn giao thông trong độ tuổi thanh thiếu niên chiếm gần 40%,trong đó đối với độ tuổi 18-27 tuổi chiếm 33.9% số vụ tai nạn giao thông trong cảnước [3] Thanh thiếu niên là lực lượng còn nằm trên ghế nhà trường và đó là thế

hệ tương lai của cả đất nước Tuy nhiên những vụ tai nạn giao thông nghiêmtrọng do lứa tuổi này gây ra đã và đang gia tăng

Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến người tham gia gây tai nạn giao thôngnhư phóng nhanh vượt ẩu, lạng lách đánh võng, vượt đèn đỏ, đường xá còn chưathuận lợi,… nhưng một trong những lí do đó là người tham gia giao thông chưahiểu và nắm được đầy đủ về Luật giao thông đường bộ, do đó việc chấp hànhcòn chưa nghiêm túc Hậu quả của thiếu nhận thức về Luật giao thông đường bộ

có thể dẫn đến những tác hại rất to lớn, thậm chí là tổn hại đến tính mạng củabản thân Đặc biệt với sinh viên của trường sư phạm, đó là những nhà giáo trongtương lai với sứ mệnh hình thành và giáo dục nhân cách cho học sinh Vì vậy,những sinh viên đó không chỉ cần bảo vệ cho chính bản thân mình mà còn làtấm gương cho các thế hệ học sinh noi theo khi tham gia giao thông

Trang 8

Vì những lí do trên đề tài “Nhận thức về Luật giao thông đường bộ của

sinh viên trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội” được đưa ra nhằm tìm hiểu nhận

thức của sinh viên trường Đại học Sư phạm Hà Nội, trên cơ sở đó đề xuất một

số giải pháp nhằm giúp sinh viên trường Đại học Sư phạm Hà Nội nâng caonhận thức về một số nội dung trong Luật giao thông đường bộ để hướng tới trởthành người giáo viên tương lai chuẩn mực về tri thức, đạo đức và chấp hành tốtcác quy định của xã hội

3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Nhận thức về Luật giao thông đường bộ của sinh viên trường Đại học Sưphạm Hà Nội

3.2 Khách thể nghiên cứu

Sinh viên trường Đại học Sư phạm Hà Nội

4 Giả thuyết khoa học

Nhận thức về Luật giao thông đường bộ của sinh viên trường Đại học Sưphạm Hà Nội vẫn còn chưa đầy đủ: sinh viên vẫn chưa hiểu rõ được những quyđịnh trong luật Có một số yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức về Luật giao thôngđường bộ của sinh viên trường Đại học Sư phạm Hà Nội Yếu tố ảnh hưởngnhiều nhất đến nhận thức về Luật giao thông đường bộ của sinh viên là lựclượng cảnh sát giao thông

Trang 9

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tổng hợp, hệ thống hóa cơ sở lý luận các vấn đề liên quan đến đề tài:nhận thức, Luật giao thông đường bộ, nhận thức về Luật giao thông đường bộ,nhận thức về Luật giao thông đường bộ của sinh viên sư phạm

- Khảo sát, đánh giá thực trạng nhận thức và những yếu tố ảnh hưởng đếnnhận thức về Luật giao thông đường bộ của sinh viên trường Đại học Sư phạm

Hà Nội

- Đề xuất một số giải pháp trên cơ sở điều tra thực trạng nhận thức về Luậtgiao thông đường bộ của sinh viên trường Đại học Sư phạm Hà Nội

6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài

Đối tượng nghiên cứu: nhận thức về Luật giao thông đường bộ của sinhviên trường Đại học Sư phạm Hà Nội, cụ thể là: hệ thống báo hiệu đường bộ (tínhiệu đèn giao thông, biển báo hiệu đường bộ); chấp hành báo hiệu đường bộ;người điều khiển, người ngồi trên xe mô tô, xe gắn máy; người điều khiển,người ngồi trên xe đạp, người điều khiển xe thô sơ khác; người đi bộ

Khách thế nghiên cứu: 150 sinh viên: 75 sinh viên khối tự nhiên và 75 sinhviên khối xã hội

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận

 Nội dung nghiên cứu lý luận

- Tập trung nghiên cứu các khái niệm công cụ: nhận thức, nhận thức vềLuật giao thông đường bộ, nhận thức về Luật giao thông đường bộ của sinh viên

và thao tác hóa các khái niệm đó, xác định những yếu tố cơ bản ảnh hưởng đếnnhận thức về Luật giao thông đường bộ của sinh viên

Trang 10

- Nghiên cứu các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành, thu thập số liệuthứ cấp từ nguồn tin cậy trong lĩnh vực giao thông đường bộ liên quan đến vấn

đề nghiên cứu

 Phương pháp nghiên cứu lý luận

+ Phương pháp nghiên cứu tài liệu

Phương pháp nghiên cứu tài liệu được dùng để nghiên cứu cơ sở lý luận,xác định các luận điểm nghiên cứu, các khái niệm công cụ, quy trình, phươngthức đánh giá, nhằm xây dựng khung lý thuyết và công cụ, nội dung nghiên cứu

đề tài

Tham khảo các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước, sách, tạp chíchuyên ngành có liên quan đến đề tài

+ Phương pháp phân loại và hệ thống lý thuyết

Phương pháp được dùng để sắp xếp các tài liệu khoa học thành hệ thốnglogic chặt chẽ theo từng đơn vị kiến thức, từng vấn đề khoa học để dễ nhận biết

và sử dụng cho mục đích nghiên cứu đề tài

7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

7.2.1 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

- Mục đích nghiên cứu:

+ Khảo sát mức độ nhận thức về Luật giao thông đường bộ của sinh viên ởcác khía cạnh: biết, hiểu, vận dụng

+ Khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức về Luật giao thông đường

bộ của sinh viên

+ Thu thập một số thông tin cá nhân và những thông tin cần thiết khác củakhách thể nghiên cứu

- Cách thức tiến hành:

+ Hướng dẫn khách thể làm khảo sát

+ Tạo điều kiện thuận lợi nhất có thể về thời gian, không gian và nhất làtâm lý cho khách thể nghiên cứu để họ yên tâm, cởi mở, thoải mái trong khi trảlời câu hỏi

Trang 11

+ Khách thể trả lời độc lập theo nhận thức riêng của cá nhân.

+ Những câu hỏi tìm hiểu về thông tin cá nhân được sắp xếp sau cùng đểtránh sự e ngại cho người trả lời

- Nội dung cụ thể của bảng hỏi như sau:

Câu 1: Tìm hiểu phương thức thường tham gia giao thông nhất hiện nay củasinh viên trường Đại học Sư phạm Hà Nội

Câu 2: Mức độ cần thiết của của việc nhận thức về Luật giao thông đường bộ.Không cần thiết = 1, Ít cần thiết = 2, Cần thiết = 3, Hoàn toàn cần thiết = 4.Câu 3: Nhận biết những quy định thuộc Điều luật trong Luật giao thôngđường bộ

Sai = 0, Đúng = 1

Câu 4: Mức độ hiểu một số quy định của sinh viên về Luật giao thôngđường bộ

Không hiểu = 1, Khá hiểu = 2, Rất hiểu = 3, Hoàn toàn hiểu = 4

Mức độ vận dụng một số quy định của sinh viên về Luật giao thông đường bộ.Chưa bao giờ = 1, Hiếm khi = 2, Thỉnh thoảng = 3, Thường xuyên = 4.Câu 5: Mức độ tìm hiểu Luật giao thông đường qua các kênh thông tin:Không bao giờ = 1, Hiếm khi = 2, Thỉnh thoảng = 3, Thường xuyên = 4.Câu 6: Các yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức về Luật giao thông đường bộcủa sinh viên

Không ảnh hưởng = 1, Ảnh hưởng ít = 2, Ảnh hưởng nhiều = 3, Ảnh hưởngrất nhiều = 4

Câu 7: Mức độ nghiêm trọng về hậu quả của việc không nhận thức đúng vềLuật giao thông đường bộ

Không nghiêm trọng = 1, Ít nghiêm trọng = 2, Nghiêm trọng = 3, Rấtnghiêm trọng = 4

Câu 8: Mức độ hài lòng khi thực hiện những quy định trong Luật khi thamgia giao thông

Không hài lòng = 1, Ít hài lòng = 2, Hài lòng = 3, Rất hài lòng = 4

Trang 12

7.2.2 Phương pháp phỏng vấn sâu

 Mục đích nghiên cứu:

Đề tài tiến hành phỏng vấn sâu nhằm mục đích thu thập các thông tin địnhtính, giúp lý giải sâu hơn các số liệu định lượng trong khi đánh giá thực trạngnhận thức về Luật giao thông đường bộ của sinh viên trường Đại học Sư phạm

Hà Nội

 Nguyên tắc phỏng vấn sâu:

+ Phỏng vấn phải được tiến hành trong bầu không khí cởi mở, chân thành, gâyđược thiện cảm để tạo cho khách thể cảm giác an toàn, tin cậy và thoải mái chia sẻ,bày tỏ ý kiến Cam kết bảo mật và chỉ sử dụng kết quả phỏng vấn vào mục đíchnghiên cứu

+ Người phỏng vấn đưa những câu hỏi dễ hiểu, được sắp xếp theo logicphù hợp, tránh những câu hỏi quá dài, thiếu tế nhị

+ Lắng nghe tích cực, khuyến khích khách thể trả lời thẳng thắn, trungthực

 Cách tiến hành:

+ Lựa chọn ngẫu nhiên 20 sinh viên, phỏng vấn sâu theo nội dung chuẩn bịtrước,

+ Người phỏng vấn ghi chép nhanh những câu trả lời của khách thể, có thể

sử dụng máy ghi âm để thu thập thông tin đầy đủ, chính xác

7.2.3 Phương pháp thống kê SPSS

Để có được kết quả nghiên cứu mang tính khách quan và có độ tin cậy cao,

đề tài sử dụng phần mềm thống kê SPSS phiên bản 20 để xử lý số liệu thu được

từ phiếu trưng cầu ý kiến

- Điểm trung bình cộng (Mean): được dùng để tính điểm trung bình cộng củatừng biến trong mỗi câu trong từng hiểu hiện của nhận thức về Luật giao thôngđường bộ của sinh viên trường Đại học Sư phạm Hà Nội và các yếu tố ảnh hưởng

- Độ lệch chuẩn (Standard Deviation): được sử dụng để đo mức độ phântán của dữ liệu thu được từ mỗi biến, mỗi câu hỏi và nhân tố

Trang 13

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN NHẬN THỨC VỀ LUẬT GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ

CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

1.1.1 Nghiên cứu ở nước ngoài

Cùng với sự phát triển ngày càng sâu, rộng theo hướng ứng dụng vào thựctiễn khoa học, Tâm lý học cũng ngày càng được nghiên cứu chuyên sâu và ứngdụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội Trong đó ứng dụngtâm lý học vào lĩnh vực hoạt động tham gia giao thông, đảm bảo điều kiện thamgia giao thông an toàn và tìm hiểu về Luật giao thông được quan tâm rất nhiều.Noordzij (1976) xác định năm điều kiện mà quy định của luật giao thôngđường bộ cần phải có, đó là: (1) Dễ hiểu cho tất cả người sử dụng đường bộ; (2)

Dễ dàng làm theo; (3) Không được mâu thuẫn hoặc xung đột với các luật khác;(4) Không được mâu thuẫn với tình huống ưu tiên; (5) Dễ dàng xác định hành vi

vi phạm Hơn thế nữa, luật giao thông đường bộ phải được biết và được chấpnhận bởi người tham gia giao thông [30]

Sayer và Downing (1981) nghiên cứu về nhận thức của những người lái xe

ở Jamaica, Pakistan và Thái Lan đã chỉ ra tình trạng là hầu hết lái xe thiếunhững kiến thức về quy định của luật giao thông ở những nơi ít quan tâm đếntuyên truyền, phổ biến luật giao thông, từ đó dẫn đến vi phạm luật giao thông[31]

Downing (1985) quan sát lái xe ở Pakistan đã liên tục chèn vạch hoặckhông chịu dừng lại khi có biển báo dừng xe, từ đó tác giả nhận định rằng, cácbiện pháp an toàn giao thông đường bộ ở các nước đang phát triển không phảiđược tự thực hiện thông qua hệ thống báo hiệu đường bộ như biển báo, vạch kẻđường,… mà cần được gắn với chiến dịch công khai và hiệu quả Những hành vi

vi phạm của người tham gia giao thông ở đó có thể là do họ thiếu kiến thức về

Trang 14

luật giao thông và các quy tắc an toàn hoặc do thái độ của họ đối với an toàngiao thông [27].

Tác giả Parker và cộng sự (1992) nghiên cứu thái độ của lái xe đối với bốnhành vi vi phạm luật giao thông đường bộ là: lái xe sau khi uống rượu bia, lái xequá tốc độ, giữ khoảng cách quá gần với phương tiện đi trước và vượt xe mộtcách nguy hiểm trên 881 người tham gia giao thông Kết quả cho thấy, lái xe cóthái độ tiêu cực với cả bốn hành vi vi phạm, trong đó thái độ với hành vi vượtquá tốc độ là ít tiêu cực hơn với ba hành vi còn lại [32]

Tác giả Lin (1998) tiến hành nghiên cứu trên 4729 lái xe máy là sinh viên ởmột trường cao đẳng ở thành thị và hai trường cao đẳng ở nông thôn, đã tìm rarằng các lái xe trẻ tuổi nhận thức tình huống nguy hiểm sắp xảy đến với mìnhtrong những tình huống giao thông khác nhau là kém hơn người ở độ tuổi lớnhơn Nguyên nhân được chỉ ra rằng, trong quá trình đào tạo lái xe ô tô và mô tô,

cơ sở đào tạo đã chú ý đến đào tạo kỹ năng điều khiển phương tiện nhiều hơn làchú ý đến kỹ năng nhận thức liên quan đến dự đoán, phát hiện và đánh gia cácnguy cơ, rủi ro trong tình huống giao thông [29]

Tác giả Taniguchi Shunji (Nhật Bản) cho rằng: Trong tâm lý học có tổchức Quốc tế IAAP (International Association of Applied Psychology) – Hiệphội Quốc tế tâm lý học ứng dụng, trong tổ chức này có một bộ phận chuyên vềtâm lý học giao thông Tại Nhật Bản, hiện nay đang có tổ chức JATP (JapaneseAssociation of Traffic Psychology) – Hội tâm lý học giao thông Hiệp hội này làmột hiệp hội lớn của Nhật Bản đang phấn đấu để tìm giải pháp cho các vấn đềgiao thông khác nhau từ khía cạnh tâm lý học và các lĩnh vực có liên quan (VũDũng, 2005, tr 170-171) Theo ông thì tâm lý học giao thông có ba mục đích:thứ nhất là mô tả hiện tượng, thứ hai là giải thích rõ cơ chế của hiện tượng đó vàcuối cùng là để dự đoán và phòng ngừa các tai nạn [7]

Các tác giả White, Cunningham và Titchener (2011) nghiên cứu 243 lái xetrong độ tuổi từ 17 – 25 nhằm xác định cách thức can thiệp giảm khuynh hướngnhận thức lạc quan đối với kỹ năng lái xe Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng,

Trang 15

những nam thanh niên có kinh nghiệm lái xe có xu hướng nhận thức lạc quanhơn về những nguy cơ, rủi ro tai nạn [34].

Tác giả Elawad và cộng sự (2012) nghiên cứu thái độ đối với luật giaothông mới ban hành ở Qatar bằng phương pháp phỏng vấn 2000 lái xe ô tô Kếtquả cho thấy: 80% lái xe đồng tình với luật này vì nó giúp giảm thiểu tai nạngiao thông ở Qatar, nhưng chưa đồng tình với mức phạt quá cao của luật giaothông mới [28]

Kết quả nghiên cứu nhận thức lái xe về an toàn giao thông ở Delhi (Ấn Độ)của nhóm tác giả Chakrabarty, Gupta và Bhatnagar (2013) khuyến nghị rằng:Chính phủ cần phải chú ý đến các chương trình nâng cao nhận thức trên cơ sởphối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước và cảnh sát giao thông Trong đóchú ý các khía cạnh quan trọng của an toàn đường bộ là nâng cao kiến thức vềquy tắc, quy định của luật giao thông, hệ thống báo hiệu đường bộ, phạt nhữnglái xe vi phạm luật giao thông về tốc độ, sử dụng điện thoại khi lái xe, uống rượuhoặc sử dụng ma túy khi lái xe [26]

Tác giả Al-Zahrani (2015) dùng bảng gồm 19 câu hỏi khảo sát nhận thức vàthái độ đối với quy định của luật giao thông đường bộ trên 120 sinh viên từ 18-23tuổi ở Ả-Rập Xê-út liên quan đến hành vi thắt dây an toàn Kết quả cho thấy, có12,5% sinh viên đồng tình cao với quy định của luật giao thông đường bộ, 75%đồng tình ở mức trung bình và 12,5% đồng tình ở mức thấp Nghiên cứu cũng chothấy, 85% sinh viên nhận thức được tầm quan trọng của việc thắt dây an toànnhưng chỉ có 33,6% sinh viên coi đó là điều bắt buộc phải tuân thủ hoặc coi đó làhành vi văn minh; trong đó, 59,16% sinh viên cho biết lý do thắt dây an toàn là sợ

bị phạt, 18,3% sinh viên cho rằng thắt dây an toàn do thuyết phục bởi tầm quantrọng của nó và tự giác tuân thủ [23]

Những nghiên cứu trên cho thấy vấn đề về giao thông đường bộ được các tácgiả trên thế giới quan tâm với những số liệu đáng tin cậy Mỗi nghiên cứu đã chỉ rađược những vấn đề quan trọng về nhận thức, thái độ, hành vi Thông qua đó đề ra

Trang 16

những biện pháp làm giảm thiểu tai nạn giao thông, nâng cao ý thức của ngườitham gia giao thông

1.1.2 Nghiên cứu trong nước

Ở Việt Nam, lĩnh vực giao thông có nhiều bài viết và một số công trìnhnghiên cứu ở góc độ khoa học pháp lý Đề tài khoa học cấp Bộ (Bộ Công an) có

đề tài Những giải pháp tăng cường công tác đảm bảo trật tự ATGT đường bộ

của lực lượng cảnh sát giai đoạn 2001-2010 do tác giả Vũ Sĩ Doanh làm chủ

nhiệm đề tài này Đề tài này đề cập ở góc độ pháp lý: tình hình trật tự ATGTđường bộ ở Việt Nam và những giải pháp để nâng cao chúng từ chức năng củalực lượng cảnh sát giao thông [6]

Dưới góc độ tuyên truyền, phổ biến, giao dục: tập trung chủ yếu là các bàiviết có tính thời sự, sự kiện, các số liệu thống kê của Ủy ban an toàn giao thôngquốc gia Bên cạnh đó còn có tháng an toàn giao thông, tháng giao thông vănhóa, tuần lễ hưởng ứng về an toàn giao thông, các chương trình phổ biến, giáodục pháp luật giao thông trên phương tiện thông tin đại chúng, trong đó đáng kể

là chuyên mục An toàn giao thông - VTV1, chương trình Tôi yêu Việt Nam –VTV3 do Đài truyền hình Việt Nam tổ chức

Lĩnh vực giao thông, tìm hiểu về Luật giao thông, trật tự an toàn giao thôngtiếp cận dưới góc độ khoa học tâm lý đã có nhiều nghiên cứu Tác giả Nguyễn

Như Chiến (2009) thực hiện đề tài Nghiên cứu hành vi chấp hành luật giao

thông đường bộ của học sinh THCS Tác giả đề cập và phân tích khá rõ nét về

diễn biến tình hình và biểu hiện hanh vi chấp hành luật giao thông đường bộ củahọc sinh trung học cơ sở ở các khía cạnh hành động bên ngoài, nhận thức, thái

độ thông quan các hành vi chấp hành và hành vi vi phạm luật giao thông đường

bộ khi các em đi xe đạp, đồng thời chỉ ra thực trạng hanh vi chấp hành luật giaothông đường bộ của học sinh THCS khi tham gia giao thông dựa trên số liệu thuđược từ nhiều nguồn thông tin khác nhau, phân tích các yếu tố tâm lý, xã hộiảnh hưởng đến hành vi chấp hành luật giao thông của học sinh trung học phổthông [5]

Trang 17

Đề tài Nghiên cứu hành vi tham gia giao thông của sinh viên trường Đại

học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng của tác giả Ngô Thị Lệ Thủy (2010) đã đưa ra

rằng đa số sinh viên đều có nhận thức tốt về tầm quan trọng và ý nghĩa của việcchấp hành nghiêm chỉnh luật an toàn giao thông (90%) Tuy nhiên thì số lượngsinh viên không hiểu luật và vi phạm luật giao thông cao hơn rất nhiều so vớisinh viên không phạm lỗi Mỗi sinh viên vi phạm pháp luật an toàn giao thông là

do những nguyên nhân chủ yếu là có việc gấp, bị trễ học, do thói quen, ý thức tựgiác chưa cao và chương trình giáo dục chưa đầy đủ Vì vậy tác giả đưa ra một

số khuyến nghị như phải có một đề tài nghiên cứu kỹ về biện pháp giáo dục antoàn giao thông cho sinh viên, tăng cường tạo ra những tình huống, thói quen đểsinh viên rèn luyện hành vi [20]

Đề tài luận văn thạc sĩ của tác giả Bùi Đức Trọng (2010) nghiên cứu về

Thái độ tham gia giao thông của học sinh THPT trên địa bàn thành phố Hà Nội.

Đề tài này đề cập đến vấn đề thái độ khi tham gia giao thông của học sinhTHPT Nhìn chung, thái độ của học sinh đối với việc tham gia giao thông làchưa thực sự tích cực Học sinh sẽ có thái độ tích cực hơn nếu các em thực sựquan tâm, chủ động nhận thức và tìm hiểu về vấn đề này Từ ý kiến đánh giá củagiáo viên, cha mẹ học sinh, lực lượng chức năng đảm bảo an toàn giao thông thì

đó có những đề xuất, biện pháp phù hợp làm thay đổi thái độ cho học sinh khitham gia giao thông một cách tích cực hơn [21]

Nghiên cứu luận văn thạc sĩ tâm lý học của tác giả Tô Nhi A (2012) về đề

tài Hành vi tham gia giao thông của sinh viên một số trường đại học tại Thành

phố Hồ Chí Minh đưa ra thực trạng hành vi tham gia giao thông của sinh viên từ

đó góp phần giúp nhà trường thiết kế những chương trình tuyên truyền Luật giaothông đường bộ cho sinh viên có hiệu quả hơn, đồng thời giúp các cơ quan hữuquan có thêm căn cứ để lựa chọn các biện pháp cải thiện tình hình an toàn giaothông trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh [1]

Đề tài Hành vi nguy cơ khi tham gia giao thông đường bộ của thanh thiếu

niên của tác giả Nguyễn Văn Lượt, Phí Thị Thanh Hà (2015) khảo sát 170

Trang 18

thanh thiếu niên trên địa bàn thành phố Hà Nội về các hành vi nguy cơ của họkhi tham gia giao thông đường bộ bằng các phương tiện xe đạp điện, xe máyđiện và xe máy Kết quả nghiên cứu cho thấy: các hành vi nguy cơ nhiều nhất

ở thanh thiếu niên là “sử dụng điện thoại khi lái xe” và “đi sai làn đường”, có

sự khác biệt về hành vi nguy cơ khi tham gia giao thông đường bộ giữa cácnhóm sinh viên xét theo tiêu chí giới tính, tuổi và loại phương tiện sử dụng Từcác kết quả của nghiên cứu này đã đưa ra gợi ý rằng, cần phải tập trung vàomặt nhận thức để giảm thiểu hành vi nguy cơ khi tham gia giao thông cho cácnhóm đối tượng [15]

Nghiên cứu Nâng cao ý thức chấp hành Luật giao thông đường bộ cho

sinh viên trường Đại học Nội Vụ của tác giả Đào Thu Hương (2015) đã nghiên

cứu thực trạng ý thức chấp hành Luật giao thông đường bộ của sinh viên Đa sốsinh viên trường Đại học Nội Vụ Hà Nội có nhận thức khá về an toàn giao thôngđường bộ nhưng trên thực tế ý thức tự giác chấp hành của sinh viên lại chưa caohay chấp hành một cách chống đối Từ đó đề ra một số giải pháp chấp hành Luậtgiao thông cho sinh viên như tăng cường nguồn tư liệu sách báo về an toàn giaothông tại thư viện trường, tăng cường hơn nữa hoạt động giáo dục về an toàngiao thông của nhà trường, phát động những phong trào, cuộc thi tìm hiểu vềLuật an toàn giao thông và có cách cảnh báo dối với những sinh viên vi phạmLuật an toàn giao thông [12]

Đề tài Thái độ của thanh niên đối với chuẩn mực pháp luật giao thông

đường bộ của tác giả Nghiêm Đình Đạt (2017) đã chỉ ra rằng: những thanh

niên được khảo sát chưa thể hiện thái độ tích cực đối với một số quy định củachuẩn mực pháp luật giao thông đường bộ Họ có thái độ không đồng tình nhấtđối với những quy định về cấm sử dụng điện thoại và thiết bị âm thanh (trừthiết bị trợ thính) khi lái xe mô tô Nghiên cứu này cho thấy: các quy định củachuẩn mực pháp luật giao thông đường bộ cần được nâng cao hơn tính chínhđáng và phù hợp với thực tiễn Từ đó đề xuất một số ý kiến nhằm nâng cao thái

Trang 19

độ của người dân nói chung và thanh niên nói riêng về lý do cần phải chấphành các quy định đó [8].

Ở Việt Nam, theo những gì tôi đã tìm hiểu thì cho đến nay mới có một sốcông trình nghiên cứu tâm lý học liên quan đến lĩnh vực giao thông như: hành vichấp hành Luật giao thông đường bộ của học sinh, hành vi giao tiếp có văn hóakhi tham gia giao thông của học sinh, thái độ tham gia giao thông của sinh viên,

… Việc nghiên cứu về nhận thức về Luật giao thông đường bộ của sinh viênchưa có một công trình nghiên cứu nào Tôi hy vọng rằng đề tài Nhận thức vềmột số nội dung trong Luật giao thông đường bộ của sinh viên trường Đại học

Sư phạm Hà Nội sẽ góp phần làm sáng tỏ nhận thức của sinh viên đối với vấn đềLuật giao thông đường bộ

Từ những nghiên cứu trên cho thấy, những nghiên cứu về giao thôngđường bộ cũng như về luật giao thông đường bộ được nhiều nhà nghiên cứu trênthế giới sớm quan tâm nghiên cứu với những số liệu thống kê đáng tin cậy.Trong khi đó, những nghiên cứu ở Việt Nam còn mới mẻ với số lượng ít, đặcbiệt về nhận thức về luật giao thông đường bộ thì theo những gì tôi tìm hiểu thìchưa có công trình nào nghiên cứu khía cạnh trong tâm lý như: nhận thức, hành

vi, thái độ về luật giao thông đường bộ được các tác giả nước ngoài và trongnước quan tâm với kết quả nghiên cứu đáng tin cậy Tuy nhiên, mỗi nghiên cứu

ở đây thường chỉ tập trung vào một hoặc một số vấn đề chỉ báo ở khía cạnh nhậnthức với mức độ khác nhau của người tham gia giao thông, chưa đánh giá đầy

đủ và đặt các vấn đề đó trong mối quan hệ mật thiết với nhau để giải thích thỏađáng tại sao người tham gia giao thông lại chấp hành hoặc vi phạm luật giaothông ở vấn đề nhận thức Vì vậy kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần bổxung một số vấn đề lý luận cơ bản về nhận thức Luật giao thông đường bộ củasinh viên Cơ sở lý luận không chỉ dùng để nghiên cứu nhận thức về Luật giaothông đường bộ của sinh viên trên một loại phương tiện nào đó mà nghiên cứutrên nhiều loại phương tiện khác Cơ sở lý luận của đề tài sẽ góp phần định hình

rõ, làm phong phú thêm hệ thống lý luận của phân ngành tâm lý học giao thông

Trang 20

đang còn mới mẻ ở Việt Nam, đặc biệt về vấn đề nhận thức về Luật giao thôngđường bộ.

1.2 Cơ sở lý luận nhận thức về Luật giao thông đường bộ

1.2.1 Nhận thức

1.2.1.1 Khái niệm nhận thức

Nhận thức là một trong ba mặt cơ bản của đời sống tâm lý con người (nhậnthức, tình cảm, hành động) Có rất nhiều vấn đề về nhận thức vẫn còn đang đượcnghiên cứu và tìm hiểu và có rất nhiều khái niệm về nhận thức được đưa ra Quaquá trình tìm hiểu tôi có tìm được một số khái niệm

Theo từ điển tiếng Việt: “Nhận thức là kết quả của quá trình phản ánh vàtái hiện hiện thực trong tư duy, kết quả con người nhận biết, hiểu biết thế giớiquan” [6] Theo định nghĩa này có thể thấy được nhận thức vừa là một quá trình

có mở đầu, diễn biến và kết thúc, diễn ra trong não người, thông qua sự tư duy.Khi đã nhận thức được một hiện thực nào đó con người lại dùng chính nhận thức

đó để tiếp tục tiến hành những quá trình nhận thức mới

Theo từ điển triết học Mac- Lenin: “Nhận thức là quá trình phản ánh biệnchứng, tích cực, tự giác và sáng tạo thế giới khách quan vào trong bộ óc của conngười trên cơ sở thực tiễn” [4] Như vậy, để cải tạo thực tiễn hướng đến việcphục vụ cho cuộc sống, con người không ngừng tìm hiểu, tác động vào thế giớikhách quan để có được những nhận thức nhất định về hiện thực khách quan Để

có những nhận thức đó thì con người tự nguyện tìm hiểu và tác động vào thếgiới khách quan với thái độ tích cực và những sáng kiến mới nhằm biến đổi thựctiễn, phục vụ cho cuộc sống ngày càng phát triển của con người

Theo Từ điển tâm lý học, tác giả Nguyễn Khắc Viện (chủ biên) đã nêu rađịnh nghĩa: “Nhận thức là một quá trình hoặc kết quả phản ánh và tái hiện hiệnthực vào trong tư duy, nhận biết và hiểu biết thế giới khách quan” [22] Quátrình ấy đi từ cảm giác đến tri giác, từ tri giác đến tri thức, diễn ra ở các mức độ:Kinh nghiệm hàng ngày về đồ vật và người khác, mang tính tự phát,thường hỗn hợp với tình cảm, thành kiến, thiếu hệ thống

Trang 21

Khoa học, các khái niệm được kiến tạo một cách chặt chẽ, có hệ thống với

ý thức về phương pháp và những bước đi của tư duy để chứng mình đúng – sai.Trong quá trình nhận thức này, những cái sai sẽ dần dần được loại bỏ đểcon người có được nhận thức đúng đắn về hiện thực khách quan

Theo Từ điển Giáo dục học: “Nhận thức là quá trình hay là kết quả phảnánh và tái tạo hiện thực vào trong tư duy của con người và sự tác động qua lạigiữa nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính làm cho nhận thức của con ngườingày càng chính xác hơn về đối tượng, càng tiến gần hơn đến chân lý kháchquan” [9] Như vậy, định nghĩa này đã khẳng định nhận thức là một quá trình vàkết quả thu được của nó là sự phản ánh hiện thực khách quan Nhận thức gồmhai quá trình: nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính Hai quá trình này khôngthể tách rời nhau mà diễn ra song song, cùng hỗ trợ nhau nhằm nâng cao nhậnthức cho con người

Theo cuốn Giải thích thuật ngữ Tâm lý – Giáo dục học: “Nhận thức là toàn

bộ những quy định mà nhờ đó những đầu vào cảm xúc được chuyển hóa, được

mã hóa, được lưu giữ và sử dụng Hiểu nhận thức là một quy trình, nghĩa là nhờ

có quy trình đó mà cảm xúc của con người không mất đi, nó được chuyển hóavào đầu óc con người, được con người lưu giữ và mã hóa,…”

Theo quan điểm của K.K.Platônôp – nhà tâm lý học Liên Xô: “Nhận thức

là quá trình thu nhận những tri thức chân thực trong thế giới khách quan trongquá trình hoạt động xã hội” [13] Nói đến nhận thức là nói đến tính tích cực củacon người, nói đến khả năng phản ánh những thuộc tính của sự vật, hiện tượng,mối quan hệ của chúng trong hiện thực khách quan thông qua hoạt động thựctiễn của con người Con người sống trong những điều kiện tự nhiên và môitrường xã hội nhất định, đòi hỏi con người phải nhận thức được các quy luật của

tự nhiên, cải tạo xã hội phục vụ cho mục đích của con người

Các quan niệm của các nhà tâm lý học cho thấy rằng: “Nhận thức là sựphản ánh chủ quan về thế giới khách quan trong đầu óc con người, bao gồm cácquá trình từ biết (nhận biết, ghi nhớ, nhắc lại), đến hiểu (có thể áp dụng kiến

Trang 22

thức vào giai quyết tình huống mới) Quá trình nhận thức vận động, phát triểnkhông ngừng, mang bản chất xã hội – lịch sử Kết quả cuối cùng của quá trìnhnhận thức cho ta hiểu biết và kiến thức giúp con người ngày càng tiếp cận hiệntượng, tiếp cận chân lý”.

Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “Nhận thức là quá trình phản ánh hiện thựcxung quanh, hiện thực của bản thân mình, trên cơ sở đó con người tỏ thái độ vàhành động đối với thế giới xung quanh và đối với bản thân mình” [10] Trongviệc nhận thức thế giới, con người có thể đạt tới những mức độ khác nhau, từthấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp Kết quả nhận thức có thể cho ra sảnphẩm là nhận thức đúng hoặc nhận thức sai, nhận thức từng bộ phận hay nhậnthức cái tổng thể, nhận thức một phần hay nhận thức trọn vẹn sự vật hiện tượng,nhận thức thuộc tính bên ngoài hay đi sâu vào bản chất bên trong, dẫn đườngtìm ra quy luật và chân lý

Như vậy theo định nghĩa này cần xác định ba yếu tố:

+ Thứ 1, nhận thức là quá trình phản ánh hiện thực khách quan, Nếu conngười có nhận thức tốt là quá trình phản ánh hiện thực khách quan đúng đắn vàđầy đủ

+ Thứ 2, nhận thức có mối quan hệ với tình cảm, thái độ Tức là khi conngười nhận thức tốt sẽ chỉ đạo, định hướng, điều khiển tình cảm và giúp conngười tỏ thái độ phù hợp

+ Thứ 3, nhận thức có mối quan hệ với hành động Nghĩa là nhận thức tốt

sẽ làm động lực thúc đẩy con người hành động và đạt kết quả tốt

Từ việc phân tích quan điểm khác nhau về nhận thức, nghiên cứu này chỉlựa chọn và chấp nhận một số quan điểm để làm cơ sở lý luận theo hướngnghiên cứu của đề tài, người nghiên cứu xin lựa chọn định nghĩa của tác giảPhạm Minh Hạc để làm cơ sở nghiên cứu vì sự phù hợp của nó đối với đốitượng nghiên cứu của đề tài

Trang 23

Tóm lại, nhận thức là quá trình phản ánh hiện thực xung quanh, hiện thựccủa bản thân mình, trên cơ sở đó con người tỏ thái độ và hành động đối với thếgiới xung quanh và đối với bản thân mình.

1.2.1.2 Cấu trúc của nhận thức

Nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính

Nhận thức cảm tính là giai đoạn đầu tiên của toàn bộ hoạt động nhận thứccủa con người Đặc điểm của nhận thức cảm tính là phản ánh các thuộc tính bềngoài của sự vật hiện tượng với các mức độ khác nhau từ thấp đến cao Nhậnthức cảm tính phản ánh trực tiếp các sự vật hiện tượng khi chúng trực tiếp tácđộng vào các giác quan của chúng ta Sản phẩm của nhận thức cảm tính là cáccảm giác riêng lẻ, là các hình tượng

Nhận thức cảm tính bao gồm: cảm giác và tri giác

Cảm giác là một quá trình tâm lý phản ánh thuộc tính riêng lẻ của sự vậthiện tượng khi chúng đang tác động trực tiếp vào các giác quan của ta

Tri giác là quá trình tâm lý phản ánh một cách trọn vẹn các thuộc tính của

sự vật hiện tượng khi chúng trực tiếp tác động vào các giác quan của ta

Nhận thức lý tính là quá trình nhận thức phản ánh các thuộc tính bản chấtbên trong của sự vật hiện tượng, khi chúng đang trực tiếp tác động vào các giácquan của chúng ta

Các quá trình của nhận thức lý tính: bao gồm có tư duy và tưởng tượng

Tư duy là một quá trình tâm lý phản ánh những thuộc tính bản chất, nhữngliên hệ và quan hệ bên trong có tính quy luật của sự vật hiện tượng trong hiệnthực khách quan mà trước đó ta chưa biết Sản phẩm của tư duy là các tri thứcmới như các khái niệm, công thức, định luật,…

Tưởng tượng là một quá trình tâm lý phản ánh những cái chưa từng cótrong kinh nghiệm của cá nhân bằng cách xây dựng những hình ảnh mới trên

cơ sở những biểu tượng đã có Sản phẩm của tưởng tượng là những hình ảnh,biểu tượng mới trên cơ sở của những biểu tượng đã có trước đó

Mối quan hệ giữa nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính

Trang 24

Nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính đều là các mức độ nhận thức khácnhau của con người, chúng có quan hệ biện chứng với nhau để nhận thức củacon người trở nên hoàn chỉnh, điều này được thể hiện như sau:

+ Nhận thức cảm tính là cơ sở, là nguồn nhiên liệu cho nhận thức lý tính+ Nhận thức lý tính tác động trở lại nhận thức cảm tính làm cho nhận thứccảm tính đầy đủ hơn, chính xác hơn, tinh vi hơn

Nhận thức cảm tính và nhân thức lý tính đều nảy sinh từ thực tiễn và lấy thựctiễn làm tiêu chuẩn kiểm tra tính đúng đắn của nhận thức Thực tiễn kiểm nghiệmtính chân lý của nhận thức và tiếp tục làm nảy sinh quá trình nhận thức mới

Tóm tại, hoạt động nhận thức mang lại hiểu biết cần thiết về sự vật, hiệntượng Con người có thể đạt được những mức độ nhận thức khác nhau từ chưabiết đến biết, từ nhận thức những thuộc tính bề ngoài tới bản chất bên trong, từmức độ nhận thức là nhận thức cảm tính đến nhận thức ở mức độ cao là nhậnthức lý tính Con người có mức độ nhận thức không giống nhau, bởi trình độnhận thức cũng như tính tích cực của hoạt động chiếm lĩnh tri thức của mỗingười là khác nhau

Nhận thức cảm tính bao gồm: cảm giác và tri giác

Cảm giác là một quá trình tâm lý phản ánh thuộc tính riêng lẻ của sự vậthiện tượng khi chúng đang tác động trực tiếp vào các giác quan của ta

Trang 25

Tri giác là quá trình tâm lý phản ánh một cách trọn vẹn các thuộc tính của

sự vật hiện tượng khi chúng trực tiếp tác động vào các giác quan của ta

Nhận thức lý tính là quá trình nhận thức phản ánh các thuộc tính bản chấtbên trong của sự vật hiện tượng, khi chúng đang trực tiếp tác động vào các giácquan của chúng ta

Các quá trình của nhận thức lý tính: bao gồm có tư duy và tưởng tượng

Tư duy là một quá trình tâm lý phản ánh những thuộc tính bản chất, nhữngliên hệ và quan hệ bên trong có tính quy luật của sự vật hiện tượng trong hiệnthực khách quan mà trước đó ta chưa biết

Tưởng tượng là một quá trình tâm lý phản ánh những cái chưa từng cótrong kinh nghiệm của cá nhân bằng cách xây dựng những hình ảnh mới trên

cơ sở những biểu tượng đã có

Cách 2: Phân chia mức độ nhận thức:

B.S.Bloom – Nhà sư phạm người Mỹ, năm 1956, ông và các đồng sự biênsoạn tài liệu “Hệ phân loại các mục tiêu sư phạm, lĩnh vực nhận thức Ông chianhận thức thành nhiều yếu tố khác nhau, phân loại mục tiêu nhận thức ra thành 6mức độ từ thấp đến cao Mỗi mức độ đặc trưng cho hoạt động trí tuệ [24]

Mức 1: Biết – đưa vào trí nhớ và phục hồi lại thông tin của cùng một đốitượng nhận thức, ghi nhớ, có thể nhắc lại các sự kiện, định nghĩa các khái niệm,nội dung các định luật…

Mức 2: Hiểu – có thể thuyết minh, giải thích, chứng minh những kiến thức

đã lĩnh hội (phục hồi ngữ nghĩa thông tin trong những đối tượng khác nhau, thiếtlập liên hệ ở những đối tượng khác nhau)

Mức 3: Vận dụng – có thể áp dụng kiến thức vào những tình huống mới,khác với trong bài học (sử dụng các quy tắc, nguyên tắc, những phác đồ giảiquyết một vấn đề nào đó)

Mức 4: Phân tích – biết phân chia một toàn thể thành các bộ phận, một vấn

đề lớn thành những vấn đề nhỏ, làm sáng tỏ những mối quan hệ giữa các bộ

Trang 26

phận (đồng nhất những bộ phận tạo nên cái tổng thể, từ đó phận biết đối tượngtrong ý tưởng đó).

Mức 5: Tổng hợp – biết sắp xếp các bộ phận thành toàn thể thống nhất,ghép các vấn đề nhỏ thành các vấn đề lớn hơn, tạo thành một tổng thể mới liênkết tất cả các bộ phận tạo nên tổng thể

Mức 6: Đánh giá – có thể nhận định, phán đoán về giá trị, ý nghĩa của mỗikiến thức (tạo thành những phán đoán về số lượng cũng như chất lượng thao táctạo nên chất lượng trí tuệ)

Hai mức độ đầu là nhận thức ở mức độ thấp, bốn mức độ sau là nhận thức

ở mức độ cao (vì chúng đều là các thao tác tư duy phức tạp hơn, huy động 3thao tác phân tích, tổng hợp, đánh giá)

Những ưu điểm của hệ phân loại này đã giúp khá nhiều nhà nghiên cứu tìmthấy thang đánh giá nhận thức dễ sử dụng, cho phép họ tìm ra các phương pháptác động vào chủ thể nghiên cứu một cách hiệu quả

Cách 3: Chia các mức nhận thức thành 3 mức độ sau: nhận biết, thông hiểu,vận dụng

- Nhận biết: Đây là mức độ thấp nhất của sự hiểu biết hay nắm vững kháiniệm Trong mức độ này, con người mới chỉ có khả năng phản ánh được nhữngdấu hiệu cụ thể, bên ngoài các khái niệm hay các các sự vật, chưa có khả năngchỉ ra được các mối liên hệ hay các dấu hiệu bản chất, có tính quy luật củachúng Ở mức độ nhận biết, việc vận dụng những hiểu biết trong việc giải quyếtcác tình huống giả định và các tình huống trong thực tế rát hạn chế Biểu hiệncủa mức độ nhận biết là: hạn ra được các vấn đề chung nhất: nhận biết được cácdấu hiệu, những biểu hiện cụ thể và hình thức bên ngoài của sự vật, hiện tượnghay các khái niệm

- Thông hiểu: Mức độ này được đánh giá bằng việc nắm vững những dấuhiệu đặc trưng cơ bản, những thuộc tính bản chất của sự vật, hiện tượng hay kháiniệm Mặc dù đã nhận thức được các dấu hiệu cơ bản của sự vật hay các kháiniệm nhưng khả năng vận dụng những hiểu biết này trong việc giải quyết tình

Trang 27

huống còn hạn chế Biểu hiện của mức độ hiểu biết này là có thể chỉ ra đượcnhững dấu hiệu bản chất của các khái niệm hay các thuộc tính đặc trưng của các

sự vật, hiện tượng và phân biệt được các khái niệm hay các sự vật hiên tượngnày với các sự vật hiện tượng khác

- Vận dụng: Đây là mức độ cao nhất của sự hiểu biết, nắm vững kiến thức.Sau khi đã nhận biết, thông hiểu được vấn đề, nhận thức phát triển đến mức caonhất là sự vận dụng thành công để giải quyết những vấn đề, các tình huống từđơn giản đến phức tạp Mặc dù việc vận dụng sự nhận biết và thông hiểu củamình về bản chất của sự vật có thể diễn ra ở các cấp độ khác nhau tùy thuộc vàocách vận dụng, tốc độ giải quyết vấn đề hay độ phức tạp của tình huống và vấn

đề đặt ra,… Tuy nhiên, với bất kỳ mức độ nào, việc cá nhân biết vận dụngnhững hiểu biết của mình để giải quyết các tình huống là sự đánh dấu nhận thứccủa con người đạt đến mức độ cao nhất: mức độ biết vận dụng

Trên đây là ba mức độ cơ bản của nhận thức Biểu hiện trong nhận thức củacon người về một khái niệm hay một sự vật thông thường diễn ra một cách tuần

tự theo các cấp độ trên, từ mức độ nhận biết các dấu hiệu bên ngoài của kháiniệm hay sự vật, tiếp đến các dấu hiệu, thuộc tính bản chất bên trong của chúng

và cuối cùng được thể hiện bằng khả năng vận dụng những hiểu biết này vàogiải quyết những tình huống với các mức độ khác nhau Đây là cơ sở chung để

đo các mức độ nhận thức của con người

Trong đề tài này, áp dụng kết hợp nội dung đánh giá của B.S.Bloom vàchia thành 3 mức độ nhận thức, đó là: biết, hiểu, vận dụng, để đánh giá mức độnhận thức của sinh viên sư phạm về Luật giao thông đường bộ

1.2.2 Luật giao thông đường bộ

1.2.2.1 Khái niệm Luật giao thông đường bộ

Luật giao thông đường bộ là một loại chuẩn mực pháp luật thuộc phạm trùchuẩn mực xã hội, là văn bản pháp luật có giá trị pháp lý cao, tạo hành langpháp lý đầy đủ cho công tác đảm bảo an toàn giao thông ở nước ta

Trang 28

Quốc hội khóa XII kỳ họp thứ 4 ngày 13 tháng 11 năm 2008 đã thông qua

“Luật giao thông đường bộ” có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 07 năm 2009

để thay thế cho Luật giao thông đường bộ ngày 29/6/2001

Luật giao thông đường bộ là hệ thống các quy tắc xử sự do Nhà nước đưa

ra cho người, phương tiện trong quá trình tham gia và sử dụng các công trìnhgiao thông đường bộ và giao thông đô thị nhằm đảm bảo an toàn về người,phương tiện và tài sản của Nhà nước và nhân dân

1.2.2.2 Cấu trúc của Luật giao thông đường bộ

Cấu trúc của Luật giao thông đường bộ có 08 chương với 89 Điều:

Chương I từ đi Điều 1 đến Điều 8 nêu “Những quy định chung”

Chương II từ Điều 9 đến Điều 38 nêu “Quy tắc giao thông đường bộ”.Chương III từ Điều 39 đến Điều 52 quy định “Kết cấu hạ tầng giao thôngđường bộ”

Chương IV từ Điều 53 đến Điều 57 đề cập “Phương tiện tham gia giaothông đường bộ”

Chương V từ Điều 58 đến Điều 63 quy định “Người điều khiển phươngtiện tham gia giao thông đường bộ”

Chương VI nói về ‘Vận tải đường bộ”:

- Mục 1 từ Điều 64 đến Điều 81 nói về “Hoạt động vận tải đường bộ”

- Mục 2 từ Điều 82 đến Điều 83 nói về “Dịch vụ hỗ trợ vận tải đường bộ”.Chương VII từ Điều 84 đến Điều 87 quy định “Quản lý nhà nước về giaothông đường bộ”

Chương VIII từ Điều 88 đến Điều 89 quy định “Điều khoản thi hành”.Đối tượng áp dụng của Luật giao thông đường bộ: Luật giao thông đường

bộ áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân hoạt động, sinh sống trên lãnh thổnước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Như vậy Luật giao thông đường bộ áp dụng đối với đối tượng sinh viên,trong đó có sinh viên của trường Đại học Sư phạm Hà Nội

Trang 29

Phạm vi điều chỉnh của Luật giao thông đường bộ bao gồm: Quy định quytắc giao thông đường bộ, các điều kiện đảm bảo an toàn giao thông đường bộcủa kết cấu hạ tầng, phương tiện và người tham gia giao thông đường bộ, hoạtđộng vận tải đường bộ và quản lý nhà nước về giao thông đường bộ

1.2.3 Nhận thức về Luật giao thông đường bộ của sinh viên sư phạm

1.2.3.1 Khái niệm nhận thức về Luật giao thông đường bộ

Như trên đã phân tích, nhận thức là quá trình phản ánh hiện thực xungquanh, hiện thực của bản thân mình, trên cơ sở đó con người tỏ thái độ và hànhđộng đối với thế giới xung quanh và đối với bản thân mình

Luật giao thông đường bộ là hệ thống các quy tắc xử sự do Nhà nước đưa

ra cho người, phương tiện trong quá trình tham gia và sử dụng các công trìnhgiao thông đường bộ và giao thông đô thị nhằm đảm bảo an toàn về người,phương tiện và tài sản của Nhà nước và nhân dân

Do chưa có một nghiên cứu nào đưa ra khái niệm nhận thức về Luật giaothông đường bộ nên, từ những khái niệm về nhận thức, Luật giao thông đường

bộ nêu trên, tôi rút ra khái niệm nhận thức về Luật giao thông đường bộ như sau:

“Nhận thức về Luật giao thông đường bộ là sự hiểu biết, vận dụng những quyđịnh trong Luật giao thông đường bộ vào trong cuộc sống”

Trong nhận thức về Luật giao thông đường bộ, có thể do những vấn đề từchính bản thân hoặc từ bên ngoài tác động mà mặc dù có sự hiểu biết nhất định, cónhận thức đúng đắn là nếu không hiểu biết được những nội dung trong Luật giaothông đường bộ thì khi tham gia giao thông sẽ gặp rất nhiều vấn đề gây những ảnhhưởng không tốt đến bản thân và những người xung quanh mà đã làm trái vớinhững quy định của pháp luật đề ra Những điều này cho thấy được nhận thức, cảmxúc, hành vi đối với việc tham gia giao thông, tìm hiểu về Luật giao thông đường

bộ đôi khi không có sự thống nhất

1.2.3.2 Một số đặc điểm tâm lý của sinh viên sư phạm

a Tính chất học tập của sinh viên sư phạm:

Trang 30

Do chức năng học tập mang tính nghề nghiệp cao nên tính chất học củasinh viên sư phạm có nhiều điểm khác biệt so với thanh niên, học sinh và cácngành nghề khác.

Thứ nhất: Tính mục đích của việc học tập rất rõ ràng, Học tập ở đây làquá trình học để trở thành người nhà giáo có những đặc điểm tương ứng củanghề sư phạm

Thứ hai: Đối tượng học tập của sinh viên sư phạm là hệ thống tri thức, kỹnăng cơ bản có tính hệ thống và tính khao học của lĩnh vực nghề giáo

Thứ ba: Học tập của sinh viên sư phạm mang tính nghiên cứu cao Sinhviên tự chủ động làm việc với các tài liệu khoa học, việc học mang tính tựnghiên cứu, tự tìm tòi trong các tài liệu khoa học, phương tiện thông tin, kỹthuật, thư viện, phòng thực hành, thực nghiệm

Thứ tư: Học tập của sinh viên mang tính tự giác cao, độc lập và tự do cao.Sinh viên được toàn quyền quyết định việc học của mình theo yêu cầu của giảngviên và yêu cầu từ nghề nghiệp Vì vậy, cốt lõi trong việc học của sinh viên sưphạm là sự tự ý thức về học tập của họ, đặc biệt trong môi trường sư phạm vàhọc theo tích lũy tín chỉ Trong điều kiện tính độc lập, tự do cao thì sự tự ý thức

và tính kỷ luật tự giác là nhân tố quyết định sự thành công của việc học, sự tự tinđứng trên bục giảng

Những đặc điểm trên cho thấy học tập của sinh viên sư phạm có sự căngthẳng cao về trí tuệ và nhân cách Đó chính là sự chuẩn bị trực tiếp các yếu tốtâm lý cần thiết để chuẩn bị trở thành một người giáo viên trong tương lai, đảmnhiệm việc dẫn dắt và dạy học cho học sinh, cung cấp nhiều loại năng lực chohọc sinh trong thời đại xã hội ngày càng phát triển

b Động cơ học tập của sinh viên sư phạm:

Sinh viên sư phạm có 4 động cơ học tập phổ biến nhằm thỏa mãn nhu cầuhọc tập và nghề nghiệp của mình

Trang 31

Động cơ học tập của sinh viên mang tính nhận thức khoa học Động cơ nàynhằm thỏa mãn nhu cầu tri thức khoa học, say mê, hứng thú đối với các vấn đềnghiên cứu giáo dục, khao khát khám phá tri thức mới.

Sinh viên sư phạm học tập vì động cơ nghề nghiệp Họ học tập vì muốn tạo

ra cơ sở vững chắc cho nghề nhà giáo tương lai

Sinh viên sư phạm có động cơ học để hình thành giá trị xã hội Sinh viênhọc vì những giá trị xã hội của việc học mang lại, mong muốn được cống hiếnhết mình vì lợi ích cho công đồng, đặc biệt là cho những thế hệ học sinh saunày

Sinh viên sư phạm mong muốn học tập để khẳng định mình trong học tập.Sinh viên ý thức được năng khiếu, khả năng, sở trường của mình và mong muốnđược khẳng định chúng trước mọi người

Những động cơ trên đều có giá trị thúc đẩy hoạt động học tập của sinh viên

sư phạm Tuy nhiên, tùy từng thời điểm và tùy từng sinh viên mà các động cơtrên có sức mạnh thúc đẩy khác nhau

Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến động cơ học tập của sinh viên sư phạmnhư: nội dung tri thức khoa học, phương pháp giảng dạy của giảng viên, ý thứccủa sinh viên về giá trị của việc học,… [16]

c Đặc điểm nhận thức của sinh viên sư phạm:

+ Cảm giác và tri giác:

Đặc điểm nổi bật của sự phát triển cảm giác, tri giác có tính ý thức, tínhmục đích, có hệ thống biểu hiện rõ rệt trong quá trình học tập cũng như trongmọi hoạt động khác Tri giác của sinh viên sư phạm có độ nhạy cảm cao, tri giác

có mục đích đạt tới mức độ rất cao ở các loại tri giác Khả năng quan sát trở nên

hệ thống và toàn diện hơn do môi trường làm việc với nhiều học sinh, bao quáttất cả học sinh trong lớp Sinh viên sư phạm có thể điều khiển được hoạt độngcủa mình theo kế hoạch chung và chú ý đến mọi khâu do làm giáo án, lên kếhoạch bài giảng

+ Trí nhớ:

Trang 32

Ghi nhớ có chủ định giữ vai trò chủ đạo, ghi nhớ logic trừu tượng và ghinhớ ý nghĩa ngày càng hoàn thiện Ghi nhớ có ý nghĩa chiếm ưu thế trong hoạtđộng nhận thức của sinh viên

Một số tác giả đã trích dẫn sự thiếu kinh nghiệm như là một yếu tố gópphần vào tỷ lệ tai nạn giao thông cao ở lứa tuổi thanh niên (Catchpole Cairney

và Macdonald, 1994) [25] Trong điều kiện của quá trình trí nhớ dài hạn, thiếukinh nghiệm có liên quan đến sự thiếu hiểu biết về các yếu tố như tình huốnggiao thông, giải quyết vấn đề và các chiến lược ra quyết đinh,…

+ Chú ý:

Sinh viên muốn tham gia giao thông an toàn, đúng luật pháp phải có sự tậptrung của chú ý Mặt khác, một thông tin, thông điệp, chương trình về luật giaothông chỉ hiệu quả đối với sinh viên khi nó được chú ý và thu hút sự chú ý củanhững thanh niên

Chú ý của sinh viên sư phạm có nhiều thay đổi so với lứa tuổi trước Chú ý

có chủ định trở thành thương xuyên hơn Năng lực di chuyển và phân phối chú ýcũng được phát triển và hoàn thiện một cách rõ rệt Sự tập trung chú ý và chú ýbên vững ở mức độ cao [18]

+ Tư duy:

Khả năng tư duy trừu tượng của sinh viên phát triển đến trình độ cao Tínhđộc lập, sáng tạo trong tư suy, khả năng lập luận và khái quát của tư duy ở sinhviên sư phạm ngày càng được hoàn thiện, khả năng phê phán và tính mềm dẻotrong tư duy cũng phát triển cao Sinh viên sư phạm đưa ra những lập luận chobài giảng của mình, xử lý những tình huống phát sinh của học sinh trong môitrường học đường

+ Đời sống tình cảm:

Sinh viên đã trưởng thành về tâm sinh lý nên đời sống tình cảm của sinh viênrất phong phú, tình cảm đã phát triển sâu sắc và bền vững Ở thời kỳ này, tình cảmtrí tuệ, tình cảm đạo đức và tình cảm thẩm mỹ của sinh viên phát triển đến mức độtích cực nhất

Trang 33

d Một số đặc điểm nhân cách của sinh viên:

+ Nhu cầu:

Nhu cầu xã hội của sinh viên sư phạm có sự phát triển về chất Nhu cầuđược tôn trọng tiếp tục phát triển sâu hơn Ngoài ra, nhu cầu tự thể hiện cũngthôi thúc sinh viên tự khẳng định mình một cách quyết liệt và mạnh mẽ cái tôicủa mình trong những hoàn cảnh khác nhay của đời sống cá nhân cũng như đờisống xã hội

+ Sự phát triển về tự đánh giá, tự ý thức và tự giáo dục:

Tự đánh giá ở sinh viên sư phạm với những biểu hiện phong phú và sâusắc Sinh viên không chỉ tự đánh gía hình ảnh bản thân mình với tình chất bềngoài, hình thức mà còn đi sâu vào nội dung các phẩm chất, các giá trị của nhâncách Vì vậy, tự đánh giá của sinh viên có ý nghĩa tự ý thức và tự giáo dục Bêncạnh đó, tự đánh giá của sinh viên sư phạm được thể hiện thông qua sự đốichiếu, so sánh, học hỏi từ những người khác

Tự ý thức của sinh viên sư phạm mang tính toàn diện và sâu sắc Sinh viênnhận thức bản thân, đánh gí bản thân cả hình thức chuẩn mực của người nhàgiáo đến những phẩm chất bên trong như: danh dự, lòng tự trọng, tinh thần tráchnhiệm,… của người giáo viên tương lai và cả năng lực cá nhân

Tự đánh giá và tự ý thức là cơ sở của sự tự giáo dục ở sinh viên sư phạm.Sinh viên chỉ có thể tự giáo dục chính mình khi họ hiểu rõ về bản thân mình Từ

đó, họ phải phấn đấu và rèn luyện những phẩm chất nhân cách để đáp ứng yêucầu từ công việc, xã hội Do vậy, trong quá trình tuyên truyền, giáo dục về luậtgiao thông đường bộ, không chỉ làm cho sinh viên hiểu, đồng tình và thực hiệnhành vi chấp hành quy định của pháp luật giao thông đường bộ, mà quan trọnghơn phải có sự chuyển nó thành sự tự đánh giá, tự ý thức, tự giáo dục thườngxuyên của sinh viên theo đúng chuẩn mực người nhà giáo và của cả xã hội

1.2.3.3 Khái niệm nhận thức về Luật giao thông đường bộ của sinh viên sư phạm

Sinh viên sư phạm là người học tập và làm việc trong môi trường sư phạm.Sinh viên sư phạm có đầy đủ đặc điểm tâm sinh lý của lứa tuổi sinh viên nói

Trang 34

chung Bên cạnh đó thì sinh viên có những đặc trưng riêng khác so với nhữngsinh viên trong môi trường khác do hoạt động nghề nghiệp đó là: trở thành mộtngười giáo viên trong tương lai, không chỉ truyền đạt kiến thức mà còn giáo dụcnhân cách cho thế hệ trẻ.

Mọi hành vi, cử chỉ, hiểu biết và khả năng nhận thức của người giáo viênđều tác động đến nhận thức của học sinh Vì vậy khi đã làm việc trong môitrường sư phạm thì yêu cầu của sinh viên hay giáo viên đều cần phải mẫu mực

về mọi mặt Khi tham gia giao thông thì học sinh cũng có sự đánh giá, nhìn nhận

về hành vi khi tham gia giao thông của giáo viên để bắt chước và học tập nênsinh viên cần phải rèn luyện thật kỹ trước khi ra thực hành nghề Nhận thức vềLuật giao thông đường bộ sẽ giúp cho sinh viên có những hiểu biết, hành vi vàthái độ đúng khi tham gia giao thông

Qua những khái niệm về nhận thức, Luật giao thông đường bộ và sinh viên

sư phạm, đề tài xin đưa ra khái niệm nhận thức về Luật giao thông đường bộ củasinh viên sư phạm như sau: “Nhận thức về Luật giao thông đường bộ của sinhviên sư phạm là sự hiểu biết, vận dụng những quy định trong Luật giao thôngđường bộ vào trong cuộc sống Nhận thức về Luật giao thông đường bộ khôngchỉ giúp có những kiến thức về luật, có thái độ và hành vi đúng đắn khi tham giagiao thông mà còn làm gương cho thế hệ trẻ noi theo”

1.2.3.4 Cấu trúc của nhận thức về Luật giao thông đường bộ của sinh viên sư phạm

Trong đề tài này, áp dụng kết hợp nội dung đánh giá của B.S.Bloom vàchia thành 3 mức độ nhận thức, đó là: biết, hiểu, vận dụng, để đánh giá mức độnhận thức của sinh viên sư phạm về Luật giao thông đường bộ

Trang 35

trong Luật giao thông đường bộ Ví dụ như sử dụng làn đường nằm ở Điều 13,chương 2 của Luật giao thông đường bộ

Mức 2: Hiểu

Hiểu là kết quả của quá trình nhận thức lý tính Hiểu là quá trình phản ánhgián tiếp, độc lập và mang tính khái quát, nảy sinh trên cơ sở biết (nhận thứccảm tính) Hiểu về một số nội dung trong luật giao thông đường bộ là hiểu đượcnội dung của những vấn đề và ý nghĩa của vấn đề đó nói tới là gì

Việc hiểu đối tượng đều dựa trên tri thức và những tư tưởng đã có trongkinh nghiệm của mỗi người, chính vì thế mà mỗi người có mức độ hiểu khácnhau về một số nội dung trong Luật giao thông đường bộ

Mức 3: Vận dụng

Vận dụng là tiêu chí quan trọng nhất trong nhận thức Vận dụng việc hiểukhái niệm và những nội dung trong Luật giao thông đường bộ có những biểuhiện sau:

- Vận dụng việc hiểu khái niệm và một số nội dung trong Luật giao thôngđường bộ để xem xét hành vi đó là đúng hay sai? Nên hay không nên?

- Phê phán, bình luận, đánh giá Biết vận dụng những hiểu biết của mình đểlàm sáng tỏ những vướng mắc

- Biểu hiện cao nhất của việc vận dụng khái niệm và một số nội dung trongLuật giao thông đường bộ là điều khiển được hành vi của mình, tránh vi phạm giaothông, gây tổn hại đến tính mạng cũng như tài sản của con người Từ việc hiểu,thay đổi được nhận thức, hành vi của bản thân mình thì cũng sẽ giúp cho nhữngngười xung quanh có nhận thức, hành vi đúng đắn khi tham gia giao thông

Nhìn chung 3 mức độ nhận thức có liên quan chặt chẽ với nhau, ảnh hưởngqua lại lẫn nhau Nhận thức không đơn thuần là quá trình tiếp nhận đơn giảnnhững hiểu biết về một số nội dung trong Luật giao thông đường bộ mà là quátrình hiểu và tư duy tích cực để con người vận dụng những hiểu biết đó khi thamgia giao thông một cách an toàn, giảm thiểu tai nạn giao thông, mang lại cuộcsống yên ấm cho người dân trên cả đất nước

Trang 36

1.2.3.5 Nội dung của nhận thức về Luật giao thông đường bộ của sinh viên sư phạm

- Nhận thức của sinh viên sư phạm về sự cần thiết của chấp hành các quyđịnh của luật giao thông đường bộ

Sự cần thiết của việc chấp hành các quy định của Luật giao thông đường

bộ, trước hết, thể hiện ở chỗ: sinh viên nhận thức được tính chính đáng của luậtgiao thông đường bộ và tính chính đáng của việc thực thi các quy định đó bởicác cơ quan có thẩm quyền Tính chính đáng là một vấn đề phát sinh trongtương tác, hoặc giữa hai người, hoặc giữa một người và một hệ thống, trong đómột bên đưa ra tuyên bố nào đó, mà người kia chấp nhận hay từ chối Chấp nhậnhoặc từ chối phụ thuộc vào việc đòi hỏi đó được coi là chính đáng

Theo Tyler (2001), nhận thức về nghĩa vụ là trung tâm của tính chính đáng.Tính chính đáng tồn tại đến mức độ mà mọi người nhận thấy trách nhiệm cá nhânphải theo các quy tắc xã hội và tuân theo các cơ quan quyền lực xã hội [33]

Như vậy, sinh viên sư phạm cần nhận thức về sự cần thiết phải chấp hànhLuật giao thông đường bộ qua các chỉ báo cơ bản sau đây:

+ Để đảm bảo an toàn tính mạng, tài sản cho người tham gia giao thông.+ Để đảm bảo giao thông thông suốt, trật tự, hiệu quả

+ Để giảm thiểu thiệt hại về kinh tế - xã hội cho đất nước

+ Để xây dựng văn hóa giao thông

+ Để thực hiện trách nhiệm, nghĩa vụ của công dân với nhà nước và xã hội

- Nhận thức của sinh viên sư phạm về những quy định của Luật giao thôngđường bộ

Trong đề tài này tôi chỉ nghiên cứu nhận thức của sinh viên về quy địnhcủa Luật giao thông đường bộ đối với những quy định, cụ thể như sau:

+ Nhận thức của sinh viên sư phạm về hệ thống báo hiệu đường bộ: tínhiệu đèn giao thông, biển báo hiệu đường bộ (Điều 10)

+ Nhận thức của sinh viên sư phạm về chấp hành báo hiệu đường bộ (Điều 11)

Trang 37

+ Nhận thức của sinh viên sư phạm về quy định đối với người điều khiển,người ngồi trên xe mô tô, xe gắn máy (Điều 30).

+ Nhận thức của sinh viên sư phạm về quy định đối với người đi bộ (Điều 32)+ Nhận thức của sinh viên sư phạm về quy định đối với người điều khiển

và người ngồi trên xe đạp (Điều 31)

- Nhận thức của sinh viên về hậu quả của của việc không nhận thức đúng

về Luật giao thông đường bộ:

+ Hậu quả về pháp lý: bị xử phạt hành chính (bằng tiền và các hình hức xửphạt bổ xung); bị nhà trường kỷ luật, xử lý hình sự

+ Hậu quả về sức khỏe, tâm lý: bị thương vong và những hệ tâm lý phát sinh.+ Hậu quả về kinh tế: mất tiền nộp phạt, đền bù thiệt hại do bản thân gây

ra, chi phí chữa trị,…

+ Hậu quả về xã hội: gây thiệt hại đối với gia đình, gây thương tích chongười khác, ảnh hưởng đến xây dựng văn hóa giao thông,…

1.2.3.6 Một số yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức về Luật giao thông đường bộ của sinh viên sư phạm

- Các yếu tố chủ quan

+ Yếu tố ngành học

Các tác giả Phan Thuận và Dương Thị Ngọc Thu (2014) nghiên cứu cácyếu tố tác động đến hành vi sai lệch chuẩn mực xã hội của người tham gia giaothông đường bộ ở thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam trên các nhóm khách thể cónghề nghiệp khác nhau, bao gồm: nhóm khách thể kinh doanh, buôn bán; nhómkhách thể là công chức, viên chức (giáo viên, quân đội, công an); nhóm kháchthể là công nhân, nông dân và làm nghề tự do; nhóm khách thể là học sinh, sinhviên Kết quả khảo sát cho thấy, nhóm công chức, viên chức là nhóm có tỉ lệ viphạm luật giao thông thấp hơn so với các nhóm khác ở tất cả các lỗi Trong khi

đó, các nhóm nghề như kinh doanh, buôn bán; nhóm công nhân, nông dân vàlàm nghề tự do có tỷ lệ vi phạm luật giao thông tương đối cao Điều đáng lưu ý

Trang 38

trong phát hiện này là, nhóm học sinh, sinh viên cũng có hành vi vi phạm luậtgiao thông với tỉ lệ đáng kể [19].

Luật giáo dục do Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam, Khóa IX, kỳ họpthứ 7, thông qua ngày 14/6/2005, tại Điều 15 quy định vai trò, trách nhiệm củanhà giáo: Nhà giáo giữ vai trò quyết định trong việc đảm bảo chất lượng giáodục, nhà giáo phải không ngừng học tập, rèn luyện, nêu gương tốt cho ngườihọc Đối với sinh viên sư phạm là tương lai sẽ trở thành những người nhà giáotrong tương lai, vấn đề nhận thức về luật giao thông không chỉ là đảm bảo antoàn cho chính bản thân mà còn phải làm gương cho những thế hệ học trò saunày Vì vậy, yếu tố về nghề nghiệp của sinh viên trường sư phạm có sự ảnhhưởng đến nhận thức về Luật giao thông đường bộ

+ Tính chủ động, tích cực của sinh viên sư phạm

Sự tích cực, chủ động tìm hiểu những kiến thức cũng như những quy tắc,điều lệ trong Luật giao thông đường bộ có ảnh hưởng đến nhận thức về Luậtgiao thông của sinh viên sư phạm Chính sự tích cực, chủ động đó giúp bản thântăng thêm sự hiểu biết về pháp luật, có các ứng xử phù hợp đối với những tìnhhuống giao thông trên đường và tham gia giao thông một cách an toàn

+ Ý thức và trách nhiệm đạo đức đối với bản thân và mọi người

Mỗi người không thể nhớ hết, hiểu biết hết các quy định của pháp luật songnếu hiểu được sự cần thiết của chúng cùng với lối sống phù hợp đạo đức, ý thứctrách nhiệm đối với bản thân và cộng đồng, họ sẽ tự kiềm chế gây ra những hành

vi vi phạm pháp luật Điều quan trọng trong giáo dục, phổ biến pháp luật do vậychính là việc làm sao nâng cao được khả năng nhận thức pháp lý và gây dựngđược tình cảm, niềm tin pháp lý ở mỗi cá nhân Nếu để học sinh thờ ơ trướcpháp luật thì khó lòng tạo dựng được tình cảm, thái độ đúng đắn đối với phápluật và việc thực hiện các hành vi hợp pháp Giáo dục pháp luật kết hợp với giáodục đạo đức có mục đích và yêu cầu hình thành tính hướng thiện trong hành vicủa các cá nhân, nó có ý nghĩa vừa giúp bản thân cũng như những thế hệ học

Trang 39

sinh tương lai của mình có sự hiểu biết về pháp luật, sống phù hợp với nhữngchuẩn mực của xã hội.

Như vậy ý thức và trách nhiệm đạo đức đối với bản thân và mọi người củasinh viên sư phạm có ảnh hưởng đến nhận thức về Luật giao thông đường bộ

- Các yếu tố khách quan

+ Yếu tố nhà trường

Môi trường học tập và làm việc rất quan trọng và có tầm ảnh hưởng mạnh

mẽ đến thực hiện pháp luật của sinh viên, tác động trực tiếp lên nhận thức, thái

độ và hành vi của họ Khi học tập trong môi trường mô phạm thì việc hiểu biết

về Luật giao thông đường bộ là rất cần thiết để không chỉ đảm bảo an toàn chobản thân mà còn phải làm gương cho những thế hệ học sinh sau này

Trong lĩnh lực giao thông, yếu tố nếp sống, thói quen có ảnh hưởng rấtmạnh mẽ đến nhận thức và hành vi pháp luật của người tham gia giao thông Vìvậy, yếu tố nhà trường có sự ảnh hưởng đến nhận thức về Luật giao thôngđường bộ của sinh viên

+ Yếu tố pháp luật

Trong đề tài này nghiên cứu sự ảnh hưởng của yếu tố pháp luật ở khía cạnhtính chính đáng của pháp luật giao thông đường bộ Tính chính đáng của luậtgiao thông đường bộ thể hiện ở sự đúng đắn, phù hợp, hợp pháp của các quyđịnh của luật giao thông đường bộ cũng như của các cơ quan thực thi pháp luật.+ Dư luận xã hội

Sự bất bình của dư luận xã hội đối với những hành vi vi phạm pháp luật cótác động mạnh mẽ đến việc uốn nắn, điều chỉnh nhận thức về pháp luật của các cánhân Những phán xét, đánh giá của dư luận xã hội đối với những hành vi của cánhân, ở mức độ nào đó đều tham gia vào điều chỉnh nhận thức, hành vi, thái độcủa sinh viên khi tìm hiểu về luật giao thông đường bộ Nhận thức về pháp luật,giáo dục pháp luật góp phần hình thành động cơ và hành vi tích cực pháp luật.Đây chính là mục đích có ý nghĩa đặc biệt trong hệ thống các mục đích giáo dụcpháp luật cho các cá nhân nói chung và cho sinh viên sư phạm nói riêng

Trang 40

+ Phương tiện truyền thông, báo chí

Việc tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật giao thông trên báo chí vàphương tiện truyền thông đại chúng có ảnh hưởng đến nhận thức về luật giaothông của sinh viên sư phạm Nhưng thông tin, hình ảnh đó giúp sinh viên có cáinhìn đa chiều về những vấn đề liên quan đến Luật giao thông đường bộ và từ đótiếp thu, có những hiểu biết riêng cho chính bản thân mình

+ Lực lượng Cảnh sát giao thông

Điều 87 Luật giao thông đường bộ quy định Cảnh sát giao thông thực hiệnviệc tuần tra, kiểm soát để kiểm soát người và phương tiện tham gia giao thôngđường bộ; xử lý vi phạm pháp luật về giao thông đường bộ đối với người vàphương tiện tham gia giao thông đường bộ và chịu trách nhiệm trước pháp luật

về quyết định của mình; phối hợp với các cơ quan quản lý đường bộ phát hiện,ngăn chặn hành vi vi phạm quy định bảo vệ công trình đường bộ và hành lang

an toàn giao thông [14] Với quy định về sự tuần tra, kiểm soát và xử lý của lựclượng Cảnh sát giao thông có nghiêm mình, nghiêm khắc hay không sẽ ảnhhưởng rất lớn đến nhận thức về Luật giao thông đường bộ, thái độ và hành vicủa sinh viên khi tham gia giao thông

Ngày đăng: 17/07/2019, 21:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w