Là một con người của quê hương giàu truyền thống cách mạng – nơicon sông Cầu thơ mộng chảy qua, đồng thời cũng là nơi sản sinh ra đầy ắpcác truyền thuyết và lễ hội về Thánh Tam Giang giú
Trang 1thứ 4 của Ban chấp hành Trung ương Đảng (Khóa VII) đã khẳng định: “Nền văn hóa mà Đảng ta lãnh đạo toàn dân xây dựng là nền văn hóa tiên tiến, đậm
đà bản sắc dân tộc” Đảng và Nhà nước ta luôn khuyến khích việc tìm hiểu,
nghiên cứu những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Điều đó trở thànhnội lực tạo nên sức mạnh để Việt Nam hòa nhập cùng với thế giới
Trong những năm gần đây, ngành nghiên cứu văn hóa dân gian ở nước
ta đã đạt được những thành tựu đáng kể Đó là kết quả của quá trình lao động,tìm tòi, học hỏi, sáng tạo và cống hiến không biết mệt mỏi của các nhà nghiêncứu Kết quả đó đã được ghi nhận không chỉ trong các bản báo cáo, các côngtrình sưu tầm, nghiên cứu vốn văn hóa văn nghệ dân gian, mà còn thể hiện ởnhững tác động to lớn của nó đối với đời sống xã hội, với sự nghiệp giáo dục
Trang 2cả một hệ thống truyện kể thú vị, hấp dẫn, gợi nhắc lại những ngày cả dân tộc
ta sôi sục chống giặc Lương bảo vệ bờ cõi Qua truyền thuyết về TTG, chúng
ta càng thấy tự hào hơn về ý thức độc lập dân tộc, ý thức bảo vệ chủ quyền Tổquốc có ý nghĩa to lớn biết nhường nào Từ ý thức cộng đồng đã phát triểnthành ý thức giống nòi, tinh thần dân tộc mạnh mẽ Cũng qua đó, chúng tathấy được những trang lịch sử hào hùng của ông cha ta trong việc đấu tranhchống ngoại xâm của dân tộc
3 Việc sưu tầm, việc nghiên cứu truyền thuyết và lễ hội về TTG dọc sôngCầu đã sớm được nhiều sử gia và các bậc nhà trí thức quan tâm Có thể kể ramột số công trình như: Cuối thế kỉ XIV, Lý Tế Xuyên đã ghi chép lại truyền
thuyết về TTG trong cuốn Việt điện U linh Ngoài ra còn nhiều tác giả của: Lĩnh nam chích quái, Đại Việt sử kí toàn thư, Đại Nam nhất thống chí, Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam,…có ghi chép lại truyền thuyết này Cho đến nay truyền
thuyết và lễ hội về TTG cũng đã được nghiên cứu từ nhiều góc độ, nhiều khíacạnh khác nhau Việc nhìn lại một cách khái quát về lịch sử sưu tầm, nghiên cứutruyền thuyết và lễ hội về TTG vùng đất dọc sông Cầu là cần thiết Việc làm đómột mặt giúp chúng ta hiểu thêm bản thân tác phẩm, mặt khác giúp chúng ta cóthêm những bài học kinh nghiệm (cả những thành công và thiếu sót của các nhàsưu tầm, nghiên cứu đi trước) để đạt hiệu quả cao hơn
4 Là một con người của quê hương giàu truyền thống cách mạng – nơicon sông Cầu thơ mộng chảy qua, đồng thời cũng là nơi sản sinh ra đầy ắpcác truyền thuyết và lễ hội về Thánh Tam Giang giúp Triệu Quang Phục đánhgiặc giữ nước, bản thân tôi cũng muốn góp thêm chút công sức nhỏ của mìnhtrong việc nghiên cứu, tìm hiểu, khảo sát một số truyền thuyết quý giá của địaphương mà hiện nay vẫn chưa được quan tâm một cách đúng mức, còn bỏngỏ Đặc biệt các di sản đó còn liên quan đến việc thờ cúng, tín ngưỡng vàbảo vệ các di tích lịch sử quý báu còn tồn tại hiện nay
Trang 31.2 Lí do thực tiễn
Việc nhìn lại quá trình sưu tầm, nghiên cứu truyền thuyết Thánh TamGiang sẽ giúp cho người tiếp tục nghiên cứu, giảng dạy kế thừa được nhữngthành tựu trước đó, tránh được những vấp váp, thiếu sót và trong điều kiện cóthể, sẽ bổ khuyết cho việc nghiên cứu mới cho truyền thuyết sau này Từ đó,việc nghiên cứu truyền thuyết Thánh Tam Giang nói riêng, tác phẩm văn họcdân gian nói chung sẽ đi đúng hướng, có kết quả tốt hơn Đó cũng chính là lí dothứ hai khiến chúng tôi lựa chọn đề tài này
Luận văn này cố gắng tập hợp các công trình sưu tầm, ghi chép lại hệthống truyện kể về Thánh Tam Giang từ trước đến nay, các công trình nghiêncứu về hệ thống truyền thuyết ấy cũng như lễ hội hàng năm diễn nơi nhândân, qua nhiều đời, đã dựng nên những cơ sở thờ tự các nhân vật lịch sử liênquan đến hệ thống truyện kể về Thánh Tam Giang Qua đó người viết rút ra
Trang 4những kinh nghiệm, những bài học quý giá không chỉ về phương diện giáodục cho thế hệ trẻ lòng yêu nước, niềm tự hào về lịch sử đấu tranh chốngngoại xâm của dân tộc ta Không những thế, người viết còn rút ra những bàihọc về phương pháp sưu tầm, nghiên cứu truyền thuyết và lễ hội Coi đây làmột cơ hội ôn lại, củng cố các lý luận về văn học dân gian nói chung, về thểloại truyền thuyết nói riêng mà mình tiếp thu được trong những năm tháng màmình học tập ở khoa Ngữ Văn, trường Đại học Sư phạm Hà Nội, từ đó vậndụng vào công tác giảng dạy sau này ở các trường phổ thông.
Đây là một đề tài khó đòi hỏi chúng tôi phải có khả năng bao quát toàn bộ
tư liệu, phải có kiến thức lí luận, vốn văn hóa sâu rộng Với khả năng còn hạnchế, có thể chúng tôi chưa đáp ứng được hết yêu cầu trên Song với với tất cả sự
cố gắng, chúng tôi sẽ tập trung giải quyết vấn đề cơ bản nhất của đề tài là đưa ra
là: “Lịch sử sưu tầm, nghiên cứu truyền thuyết và lễ hội về Thánh Tam Giang vùng đất dọc sông Cầu” dưới góc độ tiếp cận ngữ văn dân gian học và văn hóa
dân gian
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, chúng tôi nghiên cứu:
- Lịch sử sưu tầm, nghiên cứu truyền thuyết về Thánh Tam Giangvùng đất dọc sông Cầu
- Lịch sử nghiên cứu lễ hội về Thánh Tam Giang vùng đất dọc sông Cầu
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tìm hiểu về lịch sử vấn đề sưu tầm, nghiên cứu truyền thuyết và lễhội về Thánh Tam Giang vùng đất dọc sông Cầu trên cơ sở những thành tựu, vànhững gì còn chưa được đề cập đến của các nhà nghiên cứu Từ đó đặt ra các vấn
đề cần tiếp tục giải quyết xung quanh truyền thuyết và lễ hội về Thánh Tam Giang
Luận văn sẽ sử dụng nguồn thần tích lưu lại ở các làng thuộc các địa phươngnơi con sông Cầu chảy qua (gồm 5 tỉnh: Bắc Cạn, Thái Nguyên, Hà Nội, Bắc
Trang 5Giang và Bắc Ninh), đặc biệt là 3 tỉnh (Thái Nguyên, Bắc Giang, Bắc Ninh) – địabàn chính của cuộc kháng chiến và qua các bản kể truyền miệng trong dân gian.
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài này, chúng tôi có sử dụng một sốphương pháp nghiên cứu sau:
4.1 Phương pháp lịch sử
Đây được coi là phương pháp chủ đạo trong quá trình chúng tôi thựchiện đề tài Bởi mục đích cơ bản nhất của đề tài là tìm hiểu quá trình sưu tầm,biên soạn, nghiên cứu truyền thuyết Thánh Tam Giang qua các thời kỳ trongtiến trình lịch sử của dân tộc, chỉ ra được quy luật hình thành và biến đổi vănbản, qua thời gian, diễn biến lịch sử nghiên cứu truyền thuyết và lễ hội vềThánh Tam Giang
Khi phân loại và xem xét các ý kiến, các công trình về cùng một sốphương diện của tác phẩm, luận văn đã áp dụng phương pháp nghiên cứuđồng đại Đồng thời, chúng tôi còn sử dụng phương pháp nghiên cứu lịch sửtheo hướng lịch đại trong khi tìm hiểu quá trình sưu tầm, nghiên cứu truyềnthuyết và lễ hội về Thánh Tam Giang qua từng giai đoạn lịch sử để thấy được
sự phát triển trong nhận thức, phương pháp nghiên cứu của những người làmkhoa học
4.2 Phương pháp thống kê, phân loại
Đây sẽ là phương pháp cơ sở giúp chúng tôi tập hợp, phân loại các côngtrình, ý kiến theo hệ thống trước khi đi sâu vào tìm hiểu, phân tích, đánh giá
4.3 Phương pháp nghiên cứu liên ngành
Truyền thuyết Thánh Tam Giang, cũng như bất kì một tác phẩm vănhọc dân gian nào khác, là một hiện tượng mang tính nguyên hợp Truyềnthuyết Thánh Tam Giang không chỉ được các nhà nghiên cứu xem xét ở góc
độ văn học mà còn trên nhiều góc độ khác nhau như: Sử học, dân tộc học,khảo cổ học, ngôn ngữ học và một số ngành nghệ thuật khác,…Để đánh giá
Trang 6một cách thấu đáo các ý kiến từ các góc độ khác nhau, chúng tôi sử dụngphương pháp liên ngành là cần thiết khi thực hiện đề tài này.
4.4 Phương pháp tổng hợp
Đây là phương pháp giúp chúng tôi có thể tìm hiểu, quan sát từng ýkiến, từng công trình nghiên cứu, từ đó tổng kết lại và đưa ra những đánh giáchủ quan, cũng như đề xuất của mình
4.5 Phương pháp điền dã
Chúng tôi tiến hành điền dã trên địa bàn các tỉnh thuộc vùng đất dọcsông Cầu, đặc biệt là 3 tỉnh: Thái Nguyên, Bắc Ninh, Bắc Giang và tham dựmột số lễ hội chính thờ Thánh Tam Giang
5 Đóng góp của luận văn
Luận văn này mong muốn đem lại những đóng góp sau:
1 Cố gắng miêu tả thật đầy đủ trong khả năng có hạn của mình về nhữngchặng phát triển của lịch sử sưu tầm, nghiên cứu truyền thuyết và lễ hội vềThánh Tam Giang qua các thời kì trước và sau cách mạng tháng Tám
2 Khẳng định thành tựu của các nhà sưu tầm, ghi chép, nghiên cứu truyềnthuyết và lễ hội về Thánh Tam Giang vùng đất dọc sông Cầu trong những chặngphát triển đó
3 Nêu lên một số vấn đề đặt ra từ quá trình sưu tầm, nghiên cứu cần đượctiếp tục tập trung giải quyết
Thông qua đó, luận văn giúp cho việc giảng dạy của giáo viên phổthông về thể loại truyền thuyết, đặc biệt là trong phần giảng dạy về văn họcđịa phương
6 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục và tài liệu tham khảo, luận văngồm ba chương như sau:
Trang 7Chương 1: Sơ lược về vùng đất dọc sông Cầu – cái nôi sản sinh truyền
thuyết và lễ hội về Thánh Tam Giang
Chương 2: Lịch sử sưu tầm, nghiên cứu truyền thuyết về Thánh Tam
Giang vùng đất dọc sông Cầu
Chương 3: Lịch sử nghiên cứu lễ hội về Thánh Tam Giang vùng đất
dọc sông Cầu
Trang 8NỘI DUNG Chương 1
SƠ LƯỢC VỀ VÙNG ĐẤT DỌC SÔNG CẦU – CÁI NÔI SẢN SINH TRUYỀN THUYẾT VÀ LỄ HỘI VỀ THÁNH TAM GIANG
1.1 Đôi nét về văn hóa – lịch sử vùng đất sông Cầu
1.1.1 Vị trí địa lí của sông Cầu
Sông Cầu là một trong những sông lớn của Việt Nam, có vị trí đặc biệtquan trọng từ ngàn đời xưa Sông Cầu - còn gọi là sông Như Nguyệt, sông ThịCầu hay sông Nguyệt Đức (xưa kia còn có tên là sông Vũ Bình hay sông PhúLương) là con sông quan trọng nhất trong hệ thống sông Thái Bình
Sông Cầu là dòng chảy chính của sông Thái Bình, bắt nguồn từ phíaBắc Tam Tao (Chợ Đồn, Bắc Cạn) ở độ cao trên 1.200m Sông Cầu chảy quathị xã Bắc Cạn, thành phố Thái Nguyên Tới ranh giới xã Mai Đình, huyệnHiệp Hòa (Bắc Giang) và xã Việt Long, huyện Sóc Sơn (Hà Nội) thì nhậnthêm một chi lưu nhỏ phía hữu ngạn là sông Cà Lồ rồi chảy về phía Đông quaranh giới hai huyện Việt Yên và Yên Dũng (Bắc Giang) với tỉnh Bắc Ninh rồihợp lưu với sông Thương với thị xã Phả Lại rồi chảy ra cửa biển ở Thái Bình(thuộc tỉnh Thái Bình)
Sông Cầu từ nguồn đến Phả Lại dài 288km, độ cao bình quân của lưuvực đến Phả Lại là 190m, do vậy độ dốc bình quân nhỏ chỉ khoảng 16,1%.Dựa vào dặc điểm dòng sông, có thể chia sông Cầu ra làm ba đoạn:
- Thượng lưu: Từ nguồn đến chợ Mới (Bắc Cạn) chảy theo hướng Bắc– Nam giữa vùng núi 400m đến 500m (có ngọn núi cao tới 1.326m đến1.525m), nên lòng sông hẹp, lắm thác ghềnh, độ dốc lên tới 10%
- Trung lưu: Từ Chợ Mới đến Thác Huống (Thái Nguyên), chảy theohướng Bắc – Nam sau thành hướng Tây bắc – Đông nam, chảy ở vùng đồicao từ 100m đến 300m, độ dốc đáy sông chừng 1%
Trang 9- Hạ lưu: Từ Thác Huống ra cửa Thái Bình Hướng chảy đoạn ở TháiNguyên theo hướng Bắc – Nam, sau đó chuyển theo hướng Tây bắc – Đôngnam trong đồng bằng Bắc Bộ Độ dốc lòng sông rất nhỏ chỉ khoảng 0,1%.
Sông Cầu có lưu lượng nước lớn, trung bình nhiều năm là 135m3/ giây.Trong lưu vực sông Cầu có tới 26 phụ lưu cấp 1 với tổng chiều dài 670km và
41 phụ lưu cấp 2 với tổng chiều dài 645km, ngoài ra còn hàng trăm phụ lưucấp 3, 4 và các sông suối ngắn dưới 10km
Chế độ nước của sông Cầu phù hợp với chế độ mưa Mùa lũ bắt đầu từtháng 6 đến tháng 9 chiếm 75% lượng nước, mùa cạn từ tháng 10 đến tháng 5năm sau nhưng chỉ chiếm 25% lượng nước cả năm
Sông Cầu ít phù sa, chỉ có 380 triệu tấn/năm, nhưng phù sa rất tốt chứa 3%canxi và P2O5, tỷ lệ Ni Tơ + 0,77 – 0,88% (gấp 3 đến 4 lần phù sa sông Hồng)
Sông Cầu đã làm nên nét đặc trưng của vùng Trung du miền núi và vùngđồng bằng Bắc Bộ, là con sông huyết mạch giao thông đường thủy gắn kết kinh
tế - văn hóa giữa các địa phương Sông Cầu là một trong những sông lớn ở ViệtNam, có vị trí địa lí đặc biệt, đa dạng và phong phú về tài nguyên cũng như lịch
sử phát triển kinh tế - xã hội của các tỉnh trong lưu vực sông Cầu Lưu vực sôngCầu hằng năm cung cấp hàng trăm triệu mét khối nước để phục vụ sản xuất vàđời sống sinh hoạt của nhân dân, có chức năng giữ cân bằng hệ sinh thái và cảnhquan thiên nhiên của toàn khu vực
trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc ta Bên dòng Như Nguyệt, quân
Trang 10dân ta thời Tiền Lý đã chặn đứng cuộc tiến công của hàng chục vạn quânTống xâm lược, giải phóng phần đất phía Bắc của Tổ quốc vừa bị chiếmđóng, đập tan âm mưu xâm lược của triều Tống.
Nhà Tống, sau thất bại trong lần xâm lược thứ nhất (năm 981), năm
1075 lại lăm le xâm lược nước ta lần thứ hai Nhà Tống ráo riết xây dựngnhiều căn cứ quân sự và hậu cần giáp vùng biên giới đông bắc nước ta làmnơi xuất phát trực tiếp cho các đạo quân xâm lược Không những thế, nhàTống còn mua chuộc, dụ dỗ, uy hiếp các tù trưởng ở vùng biên nhằm mụcđích chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết của dân tộc ta, đồng thời biến họthành nội gián cho mình
Quân Tống dự định sẽ tấn công vào Đại Việt theo đường biển và đườngbộ: Đường bộ từ Ung Châu đến Thăng Long là con đường tiện nhất Đâychính là con đường mà tướng nhà Tống là Quách Quỳ đem quân xâm lượcĐại Việt Đường biển đi từ Long Châu đến thượng lưu sông Thị Cầu (tứcsông Phú Lương chép trong chính sử) Theo ghi chép của Nguyễn Trãi trong
Dư địa chí thì từ thời Lê trở về trước, sông Cầu vẫn gọi là sông Phú Lương.
Trong cuộc kháng chiến chống Tống, sông Cầu có vị trí rất quan trọng SôngCầu cũng có vị trí quan trọng trong việc chuyển quân của quân Tống ĐặngXuân Bảng đã khảo rất kĩ về con sông Cầu (hay sông Nguyệt Đức) như sau:
“Sông này có hai nguồn:
Một nguồn từ phía Bắc núi Án Đĩnh, châu Bạch Thông, tỉnh Thái Nguyên, gọi là sông Đồng Mỗ, chảy theo huyện Cảm Hóa, châu Định xuống huyện Phú Lương Đến huyện Đồng Hỷ thì có sông Công bắt đầu từ núi Án Đĩnh chảy từ phía Đông Nam ập vào Lại chảy theo hướng đông nam, qua huyện Tư Nông, vào huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang, đến ngã ba Hương Ninh thì có sông Phù Lỗ từ Nhị Hà chia ra, qua các huyện An Lạc, An Lãng,
Trang 11tỉnh Sơn Tây, xuống huyện Kim Anh tỉnh Bắc Ninh nhập vào, lại chảy xuôi xuống ngã ba Xà, huyện Thiên Phúc.
Một nguồn từ núi Lục Dã, châu Định, tỉnh Thái Nguyên chảy theo hướng đông nam gọi là sông Mão, qua các huyện Văn Lãng, Đại Từ, Phổ Yên vào huyện Thiên Phúc tỉnh Bắc Ninh, đến ngã ba Xà hợp với sông Đồng Mỗ Thế là sông Nguyệt Đức” [5; 177].
Trước âm mưu khiêu khích và đe dọa xâm lược của nhà Tống, vua LýNhân Tông và Lý Thường Kiệt đã chủ động đối phó bằng những biện pháptích cực Nhà Lý đã liên kết, phủ dụ các tù trưởng dân tộc thiểu số vùng núiphía Bắc để phối hợp chống giặc, tiêu biểu là những tù trưởng họ Nùng ởChâu Quảng Nguyên, họ Thân ở Lạng Châu,…Lý Thường Kiệt đã chủ động
tổ chức quân lương tiến đánh chớp nhoáng vào thành Ung Châu, Khâm Châu
và Liêm Châu của nhà Tống Trong trận tập kích này, Lý Thường Kiệt đã huyđộng hơn 10 vạn quân thủy và quân bộ
Ngày 8 - 1 - 1077 quân Tống tiến vào nước ta theo hai ngả ở biên giớiphía Bắc và một ngả theo đường biển Đông Bắc Đến ngày 18 - 1 - 1077 mớiđến bờ Bắc sông Như Nguyệt, đóng thành hai cụm quân: Cụm Quách Quỳ vàcụm Triệu Tiết Trong khi đó ở vùng biển Đông Bắc, quân thủy của ta do Lý KếNguyên chỉ huy đã đánh bật về phía sau đạo quân thủy của Dương Tùng Tiên
Cuộc tập kích lần thứ nhất thất bại, sau đó Quách Quỳ định mở đợt tấncông thứ hai Nhưng vì phương tiện thiếu, lại chỉ có thể vượt sông trên haithủy đoạn hẹp (bến Thị Cầu và bến Như Nguyệt) nên cuộc tiến công thứ haicủa chúng bị thất bại Hai lần vượt sông, hai lần thất bại thảm hại, vì thế nêntuy còn trong tay gần nguyên vẹn số quân 10 vạn, số phu 20 vạn nhưng giặc
đã chuyển sang thế phòng ngự Quách Quỳ quyết định dứt khoát phải chờthủy binh và buồn rầu ra lệnh: “Ai bàn đánh sẽ chém”
Trang 12Trong điều kiện quân địch còn đông và lo phòng thủ như vậy nên takhông thể mở một cuộc tổng tiến công bao vây tiêu diệt toàn bộ quân địch.Trên sông Như Nguyệt, Lý Thường Kiệt mở một cuộc tiến công vào doanhtrại Quách Quỳ Một đêm tháng 3 năm 1077, khoảng 400 chiến thuyền củaquân ta ngược dòng sông Như Nguyệt bất ngờ đánh vào cụm quân QuáchQuỳ từ hướng Đông.
Vào thời gian khi đại bản doanh của Quách Quỳ bị tiến công ồ ạt, toàn
bộ quân Tống ở các nơi và bản thân Triệu Tiết đang dồn sự chú ý vào mặttrận phía Quách Quỳ thì bất ngờ Lý Thường Kiệt mở trận công kích vào khốiquân Triệu Tiết Quân giặc trở tay không kịp, bị đại bại, quân số bị tiêu diệt
đến năm, sáu phần mười Sách Đại Việt sử lược đời Trần chép: “Lý Thường Kiệt biết quân Tống sức đã khốn, đang đêm vượt sông tập kích đại phá được quân Tống, mười phần chết đến năm, sáu”.
Ngay lập tức, vào tháng 3 năm 1077, quân Tống rút lui trong cảnh hỗnloạn Quách Quỳ sợ quân ta tập kích nên bí mật cho binh sĩ rút lui vào ban
đêm Tống sử đã ghi lại cảnh tượng đó như sau: “Quỳ muốn rút quân về, sợ giặc tập kích, bèn bắt quân lính khởi hành ban đêm, hàng ngũ không được chỉnh tề, tình hình hỗn loạn giẫm xéo lên nhau”.
Chiến thắng Như Nguyệt lần thứ 2 này vào cuối mùa xuân 1077 làchiến thắng của trận quyết chiến chiến lược có ý nghĩa kết thúc chiến tranh.Lúc này, quân Tống đã ở vào cảnh thế cùng lực kiệt Biết rõ ý chí xâm lượccủa giặc đã bị đè bẹp, Lý Thường Kiệt liền chủ động đề nghị “giảng hòa”,thực chất là mở một lối thoát cho quân Tống Đó là chủ trương kết thúc chiến
tranh mềm dẻo của Lý Thường Kiệt: “Dùng biện sĩ bàn hòa, không nhọc tướng tá, khỏi tốn xương máu mà bảo toàn được tôn miếu”.
Sang đến thế kỉ XX, trong thời kì kháng chiến chống thực dân Pháp, vùngđất ven sông Cầu này cũng diễn ra nhiều sự kiện lịch sử lớn Nơi đây từng là địa
Trang 13bàn để nghĩa quân Yên Thế của Đề Thám làm bàn đạp tấn công sang vùng VĩnhPhúc Đầu những năm 40 của thế kỉ XX, Hiệp Hòa (Bắc Giang) đã trở thành antoàn khu (ATK) của Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương.
Trải qua hàng nghìn năm lịch sử, những chiến tích vang dội trên vùngđất lịch sử sông Cầu này vẫn còn vang vọng mãi Truyền thống đoàn kết, đấutranh chống giặc ngoại xâm của ông cha ta đã được các thế hệ đời sau giữ gìn
và phát huy truyền thống tốt đẹp đó
1.1.2.2 Vùng văn hóa sông Cầu
Sông Cầu – một vùng đất cổ, hàng vạn năm trước đã có cư dân LạcViệt cổ cư trú và lập làng ven sông Cầu Bởi vậy, nơi đây có truyền thống vănhóa đa dạng và phong phú Mỗi một tỉnh nơi con sông Cầu chảy qua đềumang những nét văn hóa riêng trong bản sắc văn hóa chung Cư dân ở vencon Sông Cầu đã cùng nhau dựng nước và giữ nước lâu dài, gian khổ, đã từngsát cánh bên nhau bền chặt trong tinh thần đoàn kết
Qua quá trình lịch sử hàng nghìn năm đến nay, bên dòng sông Cầu đã tồntại một dòng văn hóa vô cùng phong phú và đặc sắc Vùng đất dọc sông Cầu đãlưu giữ được nhiều di chỉ khảo cổ minh chứng cho sự có mặt và quá trình phát
triển của con người ở vùng đất này từ thời văn hóa tiền Đông Sơn Các làng xã
hai bên bờ sông Cầu đều có lịch sử hình thành từ rất sớm Cư dân sống chủ yếubằng canh tác nông nghiệp kết hợp làm nghề thủ công, hàng loạt các di vật như:Trống đồng, dao găm, rìu, giáo, tấm che ngực, mảnh giáp,…bằng đồng vớinhững hoa văn độc đáo đã được tìm thấy ở các di tích Lăng Ngâm, Đại Trạch,Quả Cảm, Đại La,…Mảnh khuôn đúc trống đồng trong thành cổ Luy Lâu đãchứng tỏ người xứ Bắc rất tinh xảo trong nghề đúc đồng, chế tác các đồ trangsức, làm gốm Lưu vực sông Cầu thuộc địa phận huyện Yên Phong (tỉnh BắcNinh) đã phát hiện nhiều di tích chứa đựng những dấu tích của người Việt cổ.Tại di chỉ Nội Gầm thuộc thôn Phù Cầm (xã Dũng Liệt, huyện Yên Phong, tỉnh
Trang 14Bắc Ninh) đã phát hiện nhiều hiện vật của một xưởng chế tác đá tại chỗ Căn cứvào kĩ thuật chế tác, loại hình hiện vật thì di chỉ Nội Gầm thuộc giai đoạn vănhóa Đồng Đậu – nền văn hóa tiền Đông Sơn Đặc biệt, ở nơi đây còn phát hiệnquả cân – một minh chứng cho sự trao đổi kinh tế và giao lưu hàng hóa ở vùngven sông Cầu trong thời đại đồng thau Dọc theo các làng cổ ven sông Cầu từNgã Ba Hương La đến Quả Cảm (thuộc huyện Yên Phong, Bắc Ninh) còn pháthiện nhiều ngôi mộ cổ và nhiều hiện vật gốm thời Đông Hán ở các làng NhưNguyệt, Vọng Nguyệt, làng Đông Xuyên, làng Chân Lạc.
Dưới thời Bắc thuộc, sự phát triển liên tục của cư dân ven sông Cầuđược chứng minh bởi những dấu tích lò gốm men nhẹ lửa Đặc biệt, khu vựcthuộc làng Đương Xá (nay là xã Vạn An, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh)
đã phát hiện cả một khu lò gốm cổ, có niên đại ở thế kỉ IX – X Các nhà khảo
cổ học đã thu được các bức tường lò xây gạch còn khá nguyên vẹn, các loạibình gốm, ang, chậu,…trong đó có một số vết tích của men Lò gốm cổĐương Xá nơi đây được coi là một dấu ấn của lịch sử Việt Nam chuyển tiếp
từ thời Bắc thuộc sang thời tự chủ
Thời tự chủ của quốc gia Đại Việt kéo dài gần một thiên niên kỉ (938 –1858) Các vương triều phong kiến: Từ nhà Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần, Hậu
Lê, Mạc, Trịnh - Nguyễn, Tây Sơn, Nguyễn, thay nhau trị vì đất nước, xây dựngmột quốc gia độc lập Thời kì này, văn hóa phát triển mạnh mẽ và đạt đến đỉnhcao (đặc biệt dưới thời nhà Lý và nhà Trần) Vùng ven sông Cầu vẫn là nơi sầmuất giao lưu buôn bán Tôn giáo tín ngưỡng phát triển mạnh mẽ đã tạo nênnhững hệ thống đình, đền, chùa, tháp, lăng mộ nổi tiếng Một số chùa làng tiêubiểu như: Chùa làng Vọng Nguyệt (nay thuộc xã Tam Giang, huyện Yên Phong– nơi đây chính là một trong những địa điểm quan trọng trong cuộc kháng chiếnchống Tống ở thời nhà Lý) Chùa làng Vọng Nguyệt, chùa Khai Nghiêm, đền
Trang 15chùa Chân Lạc, chùa Quảng Báo, chùa làng Đại Lâm,…Có thể nói các di vậtkhảo cổ cùng những huyền tích, thần phả còn được lưu tại các đền, chùa vensông Cầu đã là những minh chứng đánh dấu mốc son thăng trầm của một cộngđồng làng xã trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc.
Biểu hiện của sự cộng cảm văn hóa lâu đời của cư dân ở nơi đây được phán
ánh thông qua những lễ hội diễn ra hàng năm Dọc tuyến sông Cầu từ “Thượng
Đu Đuổm, hạ Lục Đầu Giang” có tục thờ Thánh Tam Giang (Trương Hống –
Trương Hát) – 2 vị tướng đã đi vào lịch sử dân tộc từ thế kỉ thứ VI Với hàng trămđền thờ Thánh Tam Giang dọc con sông Cầu đã tạo nên nét văn hóa độc đáo màchỉ nơi đây mới có
Cũng trên mảnh đất này, những giá trị tư tưởng, tinh thần được phảnánh qua các huyền thoại ông Đùng, bà Đà, Lạc Long Quân – Âu Cơ, AnDương Vương, Thánh Gióng và thành Cổ Loa Đặc biệt là những huyền thoại,truyền thuyết về tục thờ rắn lưu truyền trong dân gian gắn liền với truyềnthuyết về Thánh Tam Giang (Trương Hống – Trương Hát), là tướng dưới thờiTriệu Quang Phục Đây chính là sự minh chứng hùng hồn cho sự phát triểnphong phú và đa dạng hơn bất cứ địa phương nào trên mảnh đất Việt ngànnăm văn hiến
Những di tích, những di vật của các làng xã ven sông Cầu là những dấu ấnvăn hóa vật thể, minh chứng cho sự phát triển, tồn tại không ngừng của cư dânnơi đây Đó là những tác phẩm nghệ thuật độc đáo, thể hiện tài nghệ của các conngười nối tiếp nhau trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc hàng nghìn năm, tạo nênmột dòng văn hóa phong phú, đặc sắc của vùng quê ven sông Cầu Người dânven sông Cầu tự hào với những thành tựu mà cha ông đã để lại, cùng nhau giữgìn phát huy những giá trị di sản nhằm góp phần xây dựng nên văn hóa tiên tiến,đậm đà bản sắc dân tộc
Trang 161.2 Giới thiệu chung về hệ thống truyền thuyết Thánh Tam Giang vùng đất dọc sông Cầu
1.2.1 Vài nét về nguồn gốc bản kể
Bước đầu tìm hiểu, sưu tầm về truyền thuyết TTG, chúng tôi thấy ở đây
có một khối lượng truyện kể tương đối phong phú Trong quá trình khảo sát
và tiếp cận đề tài, chúng tôi đã tập trung vào một số công trình tiêu biểu, cógiá trị tin cậy để thống kê và nghiên cứu
1 Lĩnh nam chích quái (Đinh Gia Khánh chủ biên, Nguyễn Ngọc Sankhảo đính – giới thiệu, Nxb Văn học, Hà Nội, 1990)
2 Việt điện u linh (Lý Tế Xuyên, Nxb Văn học, 1994)
3 Tổng tập văn học dân gian Việt Nam – tập 4 (Kiều Thu Hoạch chủbiên, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2004)
4 Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam (Nguyễn Đổng Chi, Nxb Khoahọc xã hội, Hà Nội, 1971)
5 Trương tôn thần sự tích (Thư viện Hán Nôm, bản in VHv 1286)
6 Thánh Tam Giang và sự tích thờ Thần (Trần Quốc Thịnh, NxbPhòng văn hóa thông tin thể thao, huyện Quế Võ, tỉnh Hà Bắc, 1990)
Trong những công trình kể trên, các tác giả đã tập hợp được khá nhiềutruyền thuyết về TTG từ nhiều nguồn tư liệu khác nhau một cách đầy đủ và đángtin cậy Đặc biệt là sau mỗi truyền thuyết đều ghi rõ xuất xứ bản kể
Ở công trình này và một số công trình khác, chúng tôi thống kê được 24truyện có liên quan đến Thánh Tam Giang và ông Cộc –ông Dài Con số nàychắc chắn chưa phải là tất cả (vì thời gian có hạn và chúng tôi gặp không ít khókhăn trong quá trình sưu tầm tài liệu) Tuy nhiên, với con 24 truyện kể cũng đã
có thể giúp chúng tôi có được một cái nhìn tổng quan khi đánh giá một tác phẩm
tự sự dân gian
Để tiện cho việc theo dõi đề tài, trước hết chúng tôi sẽ tổng hợp nhữngtruyện được lựa chọn vào trong bảng thống kê sau đây:
Trang 17Bảng 1: Bảng thống kê các truyện kể về Thánh Tam Giang và xuất xứ bản kể
STT Tên truyền thuyết Xuất xứ bản kể
1 Truyện hai vị thần ở Long
Nhãn, Như Nguyệt. Lĩnh nam chích quái
2
Khước địch thiện hựu, trợ thuận
đại vương uy địch dũng cảm,
hiển thắng đại vương.
Việt điện u linh
3 Trương Hống, Trương Hát Theo Trương tôn thần sự tích (Lưu tại
thư viện Hán Nôm, bản in VHv 1286).
4 Sự tích thần sông Như Nguyệt
Theo thần tích làng Gia Thượng và Cầu Lỗi, tổng Gia Thụy, huyện Gia Lâm, tỉnh Bắc Ninh.
7 Sự tích Trương Hát Theo thần tích làng Phù Khê, tổng Nghĩa
Lập, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh.
8 Sự tích anh em Trương Hát
Theo thần tích thông Đông, làng Phù Khê, tổng Nghĩa Lập, huyện Từ Sơn, Bắc Ninh.
9 Sự tích Thánh Tam Giang Theo thần tích làng Đẩu Hàn, huyện Võ
Giàng, Bắc Ninh.
10 Truyện tích Thánh Tam Giang Theo thần tích làng Mật Ninh, huyện
Việt Yên, Bắc Giang.
11 Sự tích Đức Tam Giang Trương
tôn thần.
Theo thần tích làng Mai Thượng, xã Mai Đình, huyện Hiệp Hòa, Bắc Giang.
12 Trương Tam Giang thánh tích Thần tích làng Đoài (xã Tam Giang,
huyện Yên Phong, Bắc Ninh).
Bảng 2: Bảng thống kê truyện về Ông Cụt – ông Dài và xuất xứ bản kể
ST Tên truyện Địa điểm Xuất xứ bản kể
Trang 18ven sông Kỳ Cùng.
Lô (Tuyên Quang).
thoại Việt Nam.
Nam.
12 Truyền thuyết đền Tranh Sông Tranh, Hải Dương.
Theo thần tích đền Tranh, xã Đồng Tâm, huyện Ninh Giang, Hải Dương.Những truyền thuyết trên đây đều xuất phát từ dân gian trên cơ sở bảotồn bằng con đường truyền miệng Trên con đường phát triển của lịch sử,chúng được ghi chép lại bằng nhiều cách thức khác nhau Nhiều truyền thuyếtvốn được lưu hành trong dân gian đã được văn bản hóa dưới dạng thần tíchđược lưu giữ tại các địa phương Những thần tích này đều được ghi chép bởicác nhà Nho và tất nhiên không tránh khỏi sự chi phối nhiều hoặc ít bởi tưtưởng chính thống Còn một số truyền thuyết khác lại đơn thuần được chépbởi một cá nhân nào đó trong làng, xóm của nước Việt Nam Những truyềnthuyết loại thứ hai này không bị lệ thuộc vào tư tưởng của các nhà Nho màmang tính chất tư duy đặc thù của nhân dân lao động
Qua nghiên cứu, hơn 24 truyện được kể về ông Cộc – ông Dài và TTG,
Trang 19chúng tôi thấy truyện ông Cộc – ông Dài được dân gian sáng tác trước, nhưngvới thời gian dần dần trở thành cơ sở để từ đó hình thành cốt truyện về TTG.
Nhóm truyện mà chúng tôi thống kê trong bảng trên đây thuộc nhiều niênđại khác nhau theo lịch sử của dân tộc Hầu hết chúng ra đời vào thời kì bìnhminh của lịch sử dân tộc, đặc biệt nhiều hơn cả là truyền thuyết thời HùngVương và truyền thuyết thời kì Bắc thuộc Đây chính là thời kỳ phát triển đỉnhcao của thể loại truyền thuyết, gắn liền với những bước khởi đầu trong côngcuộc dựng nước và giữ nước Đây cũng là thời kì mà tâm lí sáng tạo của nhândân chịu ảnh hưởng rất lớn bởi tư duy thần thoại và tín ngưỡng dân gian, khiRắn được coi là vật tổ, là vị thần chủ Từ đó Rắn bước vào truyền thuyết nhưmột con vật đã được sùng bái, mang trong mình sức mạnh của một vị thần vàgánh thêm sức mạnh mới mà thể loại truyền thuyết gán cho nó
1.2.2 Nhận xét
1.2.2.1 Tên truyện
Trong số 24 truyện chúng tôi thống kê được, hầu hết là tên do nhân dânđặt ra sau khi suy tôn, ghi nhận công đức của các vị anh hùng: Trương Hống– Trương Hát hoặc tên được đặt theo đặc điểm của nhân vật: Ông Cộc (vì một
lí do nào đó mà mất chiếc đuôi)
Nhìn chung qua tên truyện, người đọc phần nào cũng nắm được tênnhân vật chính (Trương Hống – Trương Hát hay ông Cộc – ông Dài) và cácchiến công mà các nhân vật tạo nên
Trang 201.2.2.2 Chủ đề - nội dung chính
Khi đi sâu tìm hiểu về chủ đề - nội dung chính của truyện về ThánhTam Giang, chúng tôi nhận thấy có hai chủ đề chính được phát triển dựa trênhai kiểu truyện khác nhau:
- Chủ đề thứ nhất (truyện ông Cộc – ông Dài): Chinh phục thiên nhiên Nhóm truyện thuộc chủ đề thứ nhất này có cốt truyện rất đơn giản, làsản phẩm của tư duy thần thoại nguyên sơ Xưa kia, trong công cuộc khaikhẩn đất hoang, con người thường xuyên gặp phải những tai họa từ môitrường địa lí tự nhiên như: Thiên tai, thú dữ,…do vậy, muốn tồn tại, ngườidân phải tìm cách đối phó với nó Cuộc sống của người dân chủ yếu gắn vớinông nghiệp, đặc biệt là nông nghiệp lúa nước Một trong những yếu tố ảnhhưởng trực tiếp đến người nông dân là nước Nước là yếu tố không thể thiếutrong các hoạt động sản xuất cũng như cuộc sống sinh hoạt của họ Tuy nhiên,nước cũng gây những ảnh hưởng nghiêm trọng tới cuộc sống của nhân dân: lũlụt, hạn hán,…Bởi vậy, họ luôn khao khát một điều kiện thuận lợi để sản xuấtnông nghiệp Niềm khao khát ấy được phản ánh qua công cuộc chống thiêntai (đắp đê trị thủy hay làm mưa chống hạn) Để hiện thực hóa ước mơ củanhân dân lao động (hàm chứa bên trong đó là sự phản ánh hiện thực khắcnghiệt mà con người luôn phải đối phó) Bất lực trong hiện tại, dân gian tìmđến hướng giải thoát trong những giá trị tinh thần, gửi gắm vào đó tất cả niềmtin, hi vọng chính đáng của mình Con người luôn mơ ước sống hòa hợp với
tự nhiên Vì vậy, họ tìm đến sự giúp đỡ của lực lượng siêu nhiên
Xuất phát từ môi trường tự nhiên gắn với điều kiện sông nước như: rắn,rồng (một linh vật là sản phẩm của trí tưởng tượng dân gian hình thành từ
“gốc rắn” kết hợp với một số loài khác Trong dân gian vẫn thường hay lưu
truyền câu: “Nhất điểu, nhì xà, tam ngư, tứ tượng” Là loài động vật thuộc
loại được sùng bái hàng đầu ở vùng sông nước, rắn đã đi vào tâm thức dân
Trang 21gian như một vị thủy thần.
Sống trong môi trường nước, rắn thường gắn liền với một khúc sông, đoạnsông và thống trị khúc sông đó (sông Cầu, sông Kỳ Cùng, sông Thương, sông Lô,
…) Hình tượng rắn trong truyện ông Cộc – ông Dài vốn sinh ra từ hai quả trứng,được người dân nuôi nấng sau đó thống trị một khúc sông Rắn thường gây hạicho cuộc sống của người dân ven sông, nhưng có lúc rắn lại rất đỗi hiền hòa, giúp
cư dân khi có thiên tai Bởi vậy, cư dân luôn ước mong sống hòa hợp với tự nhiên.Chính những ước mơ, khát khao cháy bỏng ấy đã được dân gian gửi gắm thôngqua những tác phẩm dân gian
- Chủ đề thứ hai (truyện Trương Hống – Trương Hát): Chống giặcngoại xâm
Lịch sử dân tộc ta trải qua những cuộc chiến tranh xâm lược kéo dàiđầy máu và nước mắt, đặc biệt là quãng thời gian bị chìm dưới ách đô hộ củacác triều đại phong kiến Trung Hoa Từ thực tế ấy, nhân dân ta không ngừngnổi dậy chiến đấu, giành lại độc lập, tự do cho dân tộc
Công cuộc chiến đấu chống giặc ngoại xâm được phản ánh thông quaviệc ca ngợi những người anh hùng dân tộc Những người anh hùng ấy cũngxuất thân từ cuộc sống đời thường, được dân gian gán cho những diện mạo vàtài năng thần kỳ, làm nên những kỳ tích xuất chúng trong cuộc chiến đấu chốnggiặc ngoại xâm đầy cam go, thử thách, nhưng vô cùng oanh liệt và hào hùng.Người anh hùng chống giặc ngoại xâm chính là hình ảnh thu nhỏ cho sức mạnhcủa cả dân tộc
Cùng xuất phát từ hình tượng rắn nhưng chủ đề của hai truyện lại hoàntoàn khác nhau Hình tượng rắn trong truyện ông Cộc – ông Dài biểu trưngcho sức mạnh huyền bí của tự nhiên, mà con người mong muốn, khát khaosống hòa hợp với nó Nhưng do thực tại khó khăn nên họ đã gửi gắm những
mơ ước của mình thông qua những câu chuyện được phóng đại, mong muốn
Trang 22một cuộc sống an lành, no đủ Bởi vậy, họ đã lập những đền thờ gần các consông với mong ước đó sẽ thành sự thật Đó là những tư duy ban đầu của conngười thuở hồng hoang Thời gian dài sau đó, trải qua một chặng đường pháttriển, tư duy của con người cũng thay đổi Lúc bấy giờ đất nước ta phải trảiqua những cuộc xâm lăng của các thế lực bên ngoài, đòi hỏi phải có nhữngngười anh hùng làm nên những kì tích trong cuộc kháng chiến bảo vệ nền độclập của dân tộc Bởi vậy, cùng khai thác về hình tượng rắn, nhưng ở thời kìnày rắn đã gắn với con người cụ thể (Trương Hống – Trương Hát), lập nênchiến công, giúp nhân dân ta đánh thắng quân xâm lược.
* Hình tượng rắn trên con đường lịch sử hóa
Từ thần thoại đến truyền thuyết là một chặng đường phát triển không phải
là ngắn, phản ánh một tiến trình phát triển mới của lịch sử và nhận thức của conngười Thần thoại là cái nôi của truyền thuyết, nên không thể phủ nhận sựchuyển hóa đan xen tồn tại giữa hai thể loại này Nếu như thần thoại thiên về lígiải và phản ánh những khát vọng chinh phục thiên nhiên thì truyền thuyết lạigiải quyết những vấn đề của lịch sử Do đó, những vấn đề truyền thuyết phảnánh, đặc biệt về người anh hùng chống giặc ngoại xâm đều mang tính lịch sử
Hình tượng rắn xuất hiện dày đặc trong tác phẩm tự sự dân gian, cómột quá trình phát triển mạnh mẽ và biến đổi sâu sắc từ thần thoại đến truyềnthuyết Sự di chuyển của rắn từ thể loại này sang thể loại khác là một quátrình rất dài và phức tạp, thể hiện tư duy và nhận thức của con người trongtừng thời kỳ lịch sử
Trong thần thoại, hình tượng rắn mang ý nghĩa của tự nhiên huyền bí
và là vị thần tượng trưng cho sức mạnh của cả nước Ở thần thoại, rắn (ÔngCộc – ông Dài) là hiện thân của thần thiện hay thần ác là do khoác áo của tựnhiên sinh lợi hay sinh hại và thường gắn với một khúc sông Nó được hìnhthành trong trí tưởng tượng và bằng tưởng tượng của con người
Trang 23Đến truyền thuyết, hình tượng rắn không những là hiện thân của tự nhiên
mà còn gắn với sự kiện lịch sử Những nhân vật ấy ra đời thần kỳ, chứa đựngnhững tướng mạo, tài năng khác nhau và gánh vác sứ mệnh lịch sử trọng đại.Nói cách khác, khi bước vào truyền thuyết rắn đã được nhân hóa để chứa đựngnhững sức mạnh của tập thể, cộng đồng dân tộc trong buổi đầu dựng nước vàgiữ nước Khi đất nước có chiến tranh, lại tiếp tục được lịch sử trao cho trọngtrách lớn lao, họ chính là hình ảnh thu nhỏ của tinh thần dân tộc
Như vậy, truyện ông Cộc – ông Dài là cơ sở ban đầu hình thành nêntruyền thuyết về TTG Mong ước ban đầu thể hiện tâm linh của người dân mơước một cuộc sống hòa hợp với tự nhiên (ông Cộc hay làm dâng nước, ảnhhưởng đến cuộc sống của nhân dân) Nhưng về sau, thần thoại được truyềnthuyết hóa mạnh mẽ, gắn với hình ảnh của anh hùng chống giặc ngoại xâm
1.2.2.3 Địa chỉ phân bố các truyền thuyết và địa điểm thờ
Trong số 24 truyện mà chúng tôi thống kê được, nhiều truyện có tính hưcấu mang yếu tố huyền ảo, lấp lánh Truyện ông Cộc – ông Dài và truyền thuyếtTTG thuộc hai tiểu lọai khác nhau nên chủ đề phản ánh cũng khác nhau Bởi vậy,địa chỉ phân bố và địa điểm thờ cũng không giống nhau:
Truyện ông Cộc – ông Dài được phân bố khắp miền Bắc, kéo dài vàotận trong miền Trung Nơi nào có các con sông lớn, nơi đó được dân gianlưu truyền truyện ông Cộc – ông Dài (sông Kỳ Cùng, sông Cầu, sôngThương, sông Lô, sông Lam,…) với nhiều dị bản khác nhau Các dị bản ấyđều có một đặc điểm chung: Cốt truyện kể về hai con rắn thống trị một khúcsông, có lúc gây hại, cũng có lúc lại giúp đỡ cư dân ở ven sông và được cưdân nơi đây lập đền, miếu để thờ
Truyền thuyết TTG gắn với cuộc kháng chiến chống giặc Lương bảo vệ
bờ cõi ở thế kỉ thứ VI và cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Tống ở thế
kỉ thứ XI Cuộc chiến đấu chống Tống đầy cam go, quyết liệt của nhân dân ta
Trang 24diễn ra trên sông Như Nguyệt (sông Cầu) Bởi vậy, vùng đất dọc sông Cầu –địa bàn chính của cuộc chiến đấu mới lưu truyền truyện kể về TTG Mỗi địaphương dọc con sông Cầu lại lưu giữ những bản thần tích của làng mình, vớinhững phong tục riêng thông qua nghi lễ thờ cúng và các lễ hội cổ truyền.Trương Hống – Trương Hát được coi là những vị thần vị thánh thiêng che chởcho người dân địa phương.
Để xây dựng truyền thuyết về anh hùng chống giặc ngoại xâm, tác giảdân gian đã thiêng hóa nhân vật qua ba quá trình:
- Huyền thoại hóa
- Lịch sử hóa
- Địa phương hóa
Quá trình địa phương hóa đã biến nhân vật được thờ trở thành ngườicủa quê hương mình Bởi vậy, gắn với chiến thắng vang dội của quân ta trước
sự xâm lược của giặc Tống trên sông Cầu, dân gian đã lịch sử hóa hình tượngrắn, những vị thần gắn với yếu tố nước trong thần thoại trở thành vị anh hùngchống giặc ngoại xâm của vùng đất dọc sông Cầu
Mọi địa điểm thờ đều gắn liền với sự phân bố truyền thuyết Chúng tôi
sẽ phân tích, nghiên cứu sâu hơn ở chương ba của đề tài
Trang 25Tiểu kết chương 1
Ở chương 1, chúng tôi thấy cần khái quát lại một số vấn đề cơ bản sau:
1 Vùng đất dọc sông Cầu giàu truyền thống văn hóa, vùng đất và conngười nơi đây đã từng chứng kiến nhiều cuộc xâm lăng của phong kiếnphương Bắc, phương Tây Họ đã một lòng một dạ đứng lên chống lại kẻ thùxâm lược, tiêu biểu là cuộc kháng chiến chống Tống ở thế kỷ XI Từ điểmsáng của lịch sử này đã nảy sinh bao truyền thuyết, bao câu chuyện đượctruyền tụng từ đời này qua đời khác, với tất cả sự sáng tạo không ngừng, niềmtin thiêng liêng vô hạn tạo dựng nên hình tượng TTG
2 Truyền thuyết về Thánh Tam Giang cùng với công lao to lớn của haiông trong quá trình bảo vệ đất nước, đã để lại trong lòng nhân dân vùng đấtdọc sông Cầu nói riêng và nhân dân cả nước nói chung niềm tôn kính đời đờikhông bao giờ phủ lấp
3 Ở chương này chúng tôi chỉ dừng lại ở việc khảo sát và nhận xétbước đầu về những tư liệu đã thống kê được Việc đi sâu vào những nghiêncứu và thành tựu đạt được chúng tôi sẽ tiếp tục triển khai và giải quyết ởchương 2 và chương 3
Trang 26Chương 2 LỊCH SỬ SƯU TẦM, NGHIÊN CỨU TRUYỀN THUYẾT VỀ THÁNH TAM GIANG VÙNG ĐẤT DỌC SÔNG CẦU
2.1 Lịch sử sưu tầm truyền thuyết về Thánh Tam Giang vùng đất dọc sông Cầu
Giống như các truyện kể dân gian khác, truyền thuyết về TTG cũng có
số phận lịch sử của mình Nó đã trải qua bao thăng trầm cùng với những biếnchuyển trong đời sống lịch sử của dân tộc Để đảm bảo tính hệ thống, chúngtôi tạm thời chia quá trình sưu tầm, truyền thuyết về TTG vùng đất dọc sôngCầu theo hai thời kì lớn:
2.1.1 Thời kì trước cách mạng tháng 8 - 1945
Đây là một quãng thời gian khá dài trong lịch sử dân tộc Tất cả nhữngbiến động xã hội đều tác động và ảnh hưởng rất lớn tới đời sống văn hóa dân tộc
mà cụ thể là việc sưu tầm, biên soạn truyền thuyết về TTG Phương tiện trực tiếp
để thực hiện công việc này chính là văn tự Dân tộc ta đã có chữ viết của riêngmình từ rất sớm Đây cũng chính là lí do giải thích quá trình sưu tầm, biên soạntruyền thuyết về TTG chỉ được tính từ thời phong kiến độc lập (từ năm 938 -khi các nhà Nho sử dụng văn tự Hán để ghi chép truyện truyền miệng)
2.1.1.1 Thời kì quốc gia phong kiến độc lập (938 - 1858)
Chiến thắng Bạch Đằng vĩ đại cuối năm 938, do Ngô Quyền lãnh đạo,
đã chấm dứt hẳn thời kì đô hộ kéo dài trên 10 thế kỉ của phong kiến phươngBắc Lịch sử dân tộc Việt Nam bước sang một trang mới Giai cấp phong kiến
đã mạnh dạn khai phá con đường dựa vào sức dân, dưới sự thống trị của nhànước dân chủ tập quyền, lấy quan hệ phong kiến xây dựng mọi mặt của xã hôinhằm xây dựng một quốc gia hoàn chỉnh
Ở thời kì này, cùng với sự xuất hiện của chữ viết thì những sáng tác nghệthuật truyền miệng của nhân dân đã bắt đầu được quan tâm Các nhà Nho lúc
Trang 27bấy giờ chưa ý thức được văn học dân gian như một loại hình nghệ thuật Chứctrách chính của họ là làm chính sử (Các sử gia nói chung thì làm chính sử, cácnhà Nho khác thì ghi chép truyền thuyết về lịch sử dân tộc – một thứ sử đã đượckhúc xạ qua lăng kính đầy tưởng tượng của dân gian) và ghi chép về đất nước vàcon người để phục vụ triều chính Bởi vậy, việc sưu tầm truyền thuyết TTG chưađược nhìn nhận từ góc độ học thuật, coi nghiên cứu văn học là một ngành khoahọc mà xuất phát chủ yếu từ mục đích chính trị của các vương triều phong kiến(sắc phong thần cho các địa phương để dùng thần quyền củng cố cho vươngquyền) hoặc bổ khuyết lịch sử cũng là bắt nguồn từ ý thức bảo tồn những câuchuyện được lưu truyền trong dân gian.
1 Việt điện u linh là một trong những tập truyện cổ nhất nước ta, xuất
hiện vào khoảng thế kỉ thứ XIV Các truyện dân gian được biên soạn lần đầu
tiên trong Việt điện u linh (Lí Tế Xuyên soạn năm 1329) Tác giả đã dựa vào
những bản thần tích trong đợt sắc phong của vua nhà Trần và tham khảo thêm
Ngoại sử kí (Đỗ Thiện soạn và khoảng thế kỉ XII), Báo cáo cực truyện (không
còn lưu tên tác giả) và ít nhiều có dựa vào những câu chuyện được truyềntụng trong dân gian mà biên soạn
Trong lời đề tựa viết năm 1329, Lý Tế Xuyên cũng đã biện giải về mục
đích biên soạn Việt điện u linh: “Thánh nhân đời trước đã nói: Những bậc sáng suốt ngay thẳng mới đáng gọi là thần, không phải hạng dâm tà, yêu ma quỷ quái cũng lạm gọi là thần được Trong nước Việt - nam ta xưa nay, các thần ở miếu đền xưa nay rất nhiều, mà những bậc thần có công giúp nước cứu dân kể cũng không được mấy Xét về phẩm loại có các thần khác nhau: hoặc có vị là tinh túy của sông núi, hoặc có vị là nhân vật thiêng liêng, khí thế lừng lẫy về trước, anh linh còn mãi về sau, nếu không theo sự tích chép ra thì khó lòng nhận xét được rõ” [ 98; 14] Việt điện u linh không chỉ ghi chép về những vị thần có nguồn gốc
thần thoại như: Hùng Vương, Thánh Tản Viên – vốn là những vị thần trong thần
Trang 28thoại Việt cổ, mà còn ghi chép về những vị thần vốn là anh hùng lịch sử thờiphong kiến như: Hai Bà Trưng, Triệu Quang Phục, Lý Thường Kiệt.
Thánh Tam Giang hay còn gọi là hai anh em Trương Hống – TrươngHát được nhân dân ta thờ phụng từ rất lâu, cũng là tinh túy của núi sông
Trong Việt điện u linh, truyện được ghi chép lại dưới tên: “Khước địch thiện
hựu, trợ thuận đại vương uy địch dũng cảm, hiển thắng đại vương” Cho đến nay truyền thuyết TTG trong Việt điện u linh vẫn được coi là văn bản gốc
đáng tin cậy nhất và là nguồn tư liệu quý cho những công trình nghiên cứungữ văn nói riêng và các ngành khoa học khác nói chung
2 Việc biên soạn truyền thuyết dân gian nói chung và truyền thuyếtTTG nói riêng bị gián đoạn đến hơn một thế kỉ sau Vào đầu thế kỉ XV, giặcMinh sang xâm lược nước ta với những âm mưu thâm độc, đã gây nên sự tráotrộn về mọi mặt từ văn hóa đến xã hội, gây nên những tổn thất nặng nề Saukhi giặc Minh bị quét ra khỏi bờ cõi, đất nước thái bình, vua Lê Thánh Tôngmới hạ chiếu yêu cầu tìm tòi thu thập những truyện còn lưu lại nhằm khôiphục vốn văn hóa của dân tộc Ngô Sĩ Liên với cương vị là người đứng đầu
Quốc Sử Viện lúc bấy giờ đã biên soạn bộ Đại Việt sử kí toàn thư Lần đầu
lịch sử dân tộc từ thời Hồng Bàng đến hết thời An Dương Vương được đưachính thức vào quốc sử
Ngô Sĩ Liên đã nêu cách biên soạn tác phẩm của mình Qua đó có thểthấy nguồn sưu tập văn bản truyền thuyết TTG ở đây là “dã sử” Tác giả đãđưa ra mốc thời gian xác định: Mùa xuân tháng 3 năm 1076, Lý Thường Kiệtchỉ huy quân sĩ kháng chiến chống quân Tống xâm lược trên sông NhưNguyệt Như vậy, truyện về TTG được ghi chép trong cuốn sử này mang âmhưởng rõ rệt của truyền thuyết mà vẫn giữ được những chi tiết kì ảo như:
“Tục truyền rằng: Thường Kiệt đắp lũy làm rào ở dọc sông để cố giữ Một đêm các quân sĩ chợt nghe tiếng ở trong đền Trương tướng quân có tiếng
Trang 29ngâm to rằng: Nam quốc sơn hà nam đế cư/Tiệt nhiên định phận tại thiên thư/Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm/ Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư Rồi sau quả nhiên thế Trương tướng quân anh em hai người, người anh tên là Hống,
em tên Hát, đều là tướng giỏi của Triệu Việt Vương bị Lý Nam Đế đánh bại…” [52; 238] Điều này có lẽ do tính chất tự thân của truyền thuyết và nằm
ngoài ý muốn chủ quan của người biên soạn Để lấp đầy những khoảng trốngthời gian do truyền thuyết tạo nên với quan điểm của nhà Nho viết sử, Ngô SĩLiên đã viết liền mạch kết chuỗi các sự kiện lịch sử với mốc thời gian rõ ràng.Tuy nhiên, lúc này truyền thuyết về TTG trong quan niệm của các sử giađược biên chép theo hướng bổ khuyết cho chính sử chứ chưa được nhìn nhậnnhư một tác phẩm văn học dân gian
3 Cùng thời với Ngô Sĩ Liên, vào khoảng thế kỉ XV, trước thực trạngngày càng mai một của văn hóa dân tộc, một số cận thần nhà Lê đã cố côngsưu tầm và nhặt nhạnh trong dân gian những câu chuyên truyền miệng rồi ghi
chép, biên soạn lại lưu giữ cho đời sau Trong đó đáng kể nhất là cuốn Lĩnh Nam chích quái ra đời vào khoảng thế kỉ XV (dưới thời nhà Trần) Những bản Lĩnh nam chích quái còn truyền đến ngày nay là do Vũ Quỳnh và Kiều
Phú sưu tầm và biên soạn Sau Vũ Quỳnh và Kiều Phú (sau thế kỉ XV), sách
bị sửa lại và thêm bớt rất nhiều lần Có chín bản Lĩnh nam chích quái khác
nhau, mỗi bản lại có một số truyện không giống hẳn với các bản khác Bản ítnhất chép 22 truyện, bản nhiều nhất chép đến 42 truyện Có tất cả 76 truyệnkhác nhau, trong đó chỉ có một số truyện do Vũ Quỳnh và Kiều Phú sưu tập
Trong số hơn 20 truyện được chép trong Lĩnh nam chích quái, truyện TTG là truyện thứ 17 có nhan đề: “Truyện hai vị thần ở Long Nhãn, Như Nguyệt” [70; 82] Có thể thấy, trong Lĩnh nam chích quái, truyền thuyết TTG đã được
văn bản hóa như một tác phẩm văn học dân gian với cốt lõi là “sự thực lịch
sử” Cùng với Việt điện u linh, Lĩnh nam chích quái cũng được coi là văn bản
Trang 30đáng tin cậy và là nguồn tư liệu quý cho nghiên cứu văn học dân gian nóichung và truyền thuyết TTG nói riêng.
4 Chế độ phong kiến bắt đầu lâm vào khủng hoảng trầm trọng từ thế kỉXVI Chiến tranh giữa các tập đoàn phong kiến xảy ra liên miên, chế độphong kiến ngày càng mục nát, mâu thuẫn xã hội ngày càng gay gắt, các cuộckhởi nghĩa nổ ra ở khắp nơi Những biến động của tình hình xã hội đã ảnhhưởng trực tiếp tới đời sống văn hóa tinh thần của dân tộc Công việc sưutầm, biên soạn, bảo tồn các tác phẩm văn học dân gian bị chững lại Trong cácthế kỉ tiếp theo, truyền thuyết về Thánh Tam Giang được lưu lại bằng thể thơ
lục bát trong các bộ sử của nước ta ở thế kỉ XVI và XVII Việt sử diễn âm là
cuốn sách diễn ca lịch sử Việt Nam, ra đời vào khoảng niên hiệu Cảnh Lịchnhà Mạc (1548 – 1553), có dành một đoạn dài nhắc đến truyền thuyết TTG:
“Tháng bảy có Tống binh sang Toàn những tướng mạnh binh cường ba muôn
Đến thành Phù Lỗ đóng vây Quân ta quân nó đôi bên ngất trời Chưa phân thắng phụ về ai Ngày rằm tháng Chạp vua nằm chiêm bao
Thấy đôi thần nhân bái chào Trương Hống Trương Hát bước vào quỳ thưa
Chúng tôi thần đế ngày xưa Phụng thờ nhà chúa bấy giờ chẳng sai Tiên Hoàng có sắc chỉ bày
Đi về phong chức cho tôi tước quyền Trung thần bất sự nhị quân Chúng tôi tự vẫn làm thần đạo ngay Thượng đế thấy vậy thương thay
Trang 31Phong cho chúng tôi quỷ bộ thần quân Đại Hành thức dậy mừng thay Nửa đêm thấy một cơn mây Bạo phong hắc ám gió bay vội vàng Tống binh mất vía trở dường Chúng quỷ đánh gãy đao thương liền cờ Bỗng nghe mảng tiếng không hư Thần nhân hiện xuống có thơ ngâm rằng Thi vân:
Nam quốc sơn hà Nam đế cư Hoàng thiên dĩ định tại thiên thư Như hà Bắc Lỗ cảm xâm phạm Hội kiến phong trần tận tảo trừ” [61].
5 Khoảng cuối thế kỉ XVII xuất hiện tác phẩm Thiên nam ngữ lục – tác
phẩm thơ Nôm được mệnh danh là dài nhất thời trung đại, viết về lịch sửnước nhà từ thời Hồng Bàng đến thời Hậu Trần, gồm 8136 câu thơ lục bát và
31 bài thơ chữ Hán, 2 bài thơ chữ Nôm Truyền thuyết TTG được Thiên nam ngữ lục ghi chép dường như tiếp thu quan điểm của tác giả Việt sử diễn âm về
bài thơ thần, hai bản chép tương đối giống nhau:
Trang 32“Bấy giờ binh mã sửa sang Địch cùng Nhân Bảo là thằng giặc Ngô Mười buôn binh mạnh thẳng thua Qua miền Giang Bắc, đấy là Phù Lan Đêm thấy hai ngài đến màn Xưng danh là Hát, xưng danh là Hồng Giúp đời Triệu Việt có công Thuở chẳng như lòng, ẩn nội Phù Lan
Ơn trời thượng đế xét thương Quyền cho chúa tể giữ phương yên này
Bây chừ bệ hạ đến đây Nguyện ra giúp nước phá này giặc Ngô Phán rằng: Tướng quan y như Công nên thời lập miếu thờ trả ơn Ngày sau Nhân Bảo ra quân Trên không nghe tiếng người ngâm thơ rằng:
Nam quốc sơn hà Nam đế cư Hoàng thiên dĩ định tại thiên thư Như hà Bắc Lỗ cảm xâm phạm Hội kiến phong trần tận tảo trừ” [40].
6 Sang đến thế kỉ XIX, lịch sử đất nước ta trải qua những biến động dữdội: Cái chết của vua Quang Trung và sự sụp đổ của nhà Tây Sơn; cuộc trảthù tàn khốc của Gia Long Nguyễn Ánh và công cuộc gây dựng cơ nghiệp củanhà Nguyễn Trong những năm đầu tiên, nhà Nguyễn ra sức củng cố địa vị,
ổn định đất nước, bảo vệ bờ cõi, các lĩnh vực văn học dân gian chưa phải lànhững vấn đề được quan tâm hàng đầu Truyện về TTG chỉ được ghi chép lạitrong các bộ sử và địa chí của triều Nguyễn
Trang 33Năm 1806, Lê Quang Định, khi ấy là Thượng thư bộ binh, khởi sự việc
biên soạn bộ Hoàng Việt nhất thống dư địa chí Đây được coi là bộ địa chí
đầu tiên của triều Nguyễn gồm 10 quyển, ghi chép một cách tường tận về hệthống giao thông đường bộ lẫn đường thủy của nước ta vào đầu thế kỉ XIX
Có thể nói, sự ra đời của Hoàng Việt nhất thống dư địa chí có ý nghĩa rất lớn
với công cuộc xây dựng triều đại nhà Nguyễn, là cơ sở cho việc xây dựng bộ
dư địa chí lớn nhất sau này (Đại nam nhất thống chí) Truyện TTG được ghi
chép trong Hoàng Việt nhất thống dư địa chí khi mô tả về sông Nguyệt Đức (sông Cầu) và có dựa vào Đại Việt sử kí: “Thấy nói thần họ Trương tên Hống cùng em là Hát, cả hai là danh tướng của Triệu Việt Vương, khi Triệu mất, hai ông ẩn vào núi Phù Long, Lý Nam Đế mua giá ngàn vàng, hai ông đều tự sát Thời Lê Đại Hành, tướng Tống là Nhân Bửu đem quân sang xâm lấn, nhà vua thân chinh đi đánh, đêm mộng thấy hai ông đến xưng danh hiệu rồi nguyện cùng nhà vua đi phá giặc, sau khi giặc tan, nhà vua phong cho người anh là Đại Đương Giang Hộ Quốc thần vương, đền thờ ở sông Như Nguyệt; người em là Tiểu Đương Giang Hộ Quốc thần vương, đền thờ ở Nam Giang.
Về sau quân Tống lại sang xâm lấn, vua sai Lý Thường Kiệt đem quân ra đánh, trên đường đi ngang qua đền này, đêm nghe trong đền có tiếng ngâm rằng: Nam quốc sơn hà Nam đế cư…” [26; 467].
7 Vào năm Gia long thứ tám (1809), Phan Huy Chú đã tìm tòi, biên soạn
cuốn Lịch triều hiến chương loại chí trong vòng khoảng mười năm Đến năm
1821, khi đó giữ chức biên tu trường Quốc Tử Giám, ông đã dâng Lịch triều hiến chương loại chí lên vua Minh mạng Phần ghi chép về TTG trong bộ sử này khá giống Đại Việt sử kí toàn thư với mốc thời gian xác định và những chi tiết gắn với
motif hiển linh của hai anh em họ Trương giúp Lý Thường Kiệt đánh giặc Tống.Điều đó phần nào cho thấy ranh giới giữa văn và sử thời kì này vẫn chưa đượcphân định rõ ràng Tính chất “văn sử bất phân” vẫn còn rõ nét
Trang 34Khoảng năm 1850, khi đất nước được hưởng thái bình, ông vua Tự Đứyêu thích văn chương nghệ thuật và giỏi chữ nghĩa hạ chỉ dụ yêu cầu biên
chép lại các việc xưa, thể hiện rõ ý thức tự tôn của dân tộc: “Đời nào khởi nghiệp tất phải có sử của thời ấy…Việc học quốc sử chưa ra mệnh lệnh phải gia công nên học trò đọc sách hoặc làm văn chỉ biết có sử Trung Quốc, ít người đoái hoài đến sử nước ta Việc đời cổ đã lờ mờ, lấy gì làm kinh nghiệm cho việc đời nay…Đạo học sở dĩ chưa sáng tỏ, nguyên nhân chẳng phải vì sử
cũ chưa đầy đủ đó sao?” [63;10].
8 Tác phẩm Đại nam quốc sử diễn ca của Lê Ngô Cát và Phạm Đình
Toái được biên soạn vào năm 1870 Đại Nam quốc sử diễn ca là một tác
phẩm diễn ca lịch sử bằng thể thơ lục bát gồm 1887 cặp câu lục bát Truyện
về TTG được nhắc tới thông qua truyện Triệu Quang Phục: Cha con TriệuQuang Phục – Cảo Nương, cha con Lý Phật Tử - Nhã Lang và có sự giúp sứccủa chỏm mũ đầu mâu Có thể dễ dàng nhận thấy những motif, những côngthức folklore của truyền thuyết An Dương Vương trong truyện Triệu QuangPhục Truyện Trương Hống, Trương Hát được lồng vào trong truyện về TriệuViệt Vương khi hai ông là tướng giỏi, đã ra sức phản đối chuyện Cảo Nương(con gái Triệu Quang Phục) kết hôn với Nhã Lang (Con trai Lý Phật Tử),được kể lại bằng 160 cặp câu lục bát từ khi Triệu Việt Vương lên nối ngôi:
“Triệu Việt Vương thay nối ngôi trời, Định đô cứ hiểm đóng ngoài Phiên – Ngung.
[…] Có người Hống, Hát họ Trương,
Vũ biền nhưng cũng biết đường cơ mưu.
*Rằng: “Xưa Trọng Thủy, Mỵ Châu, Hôn nhân là giả, khấu thù là chân.
Mảnh gương vãng sự còn gần, Lại toan bắt mối Châu Trần sao nên” [9].
Trang 35Có thể nói, tác phẩm này chưa truyền tải được rõ nét nội dung của truyềnthuyết Sự chuyển đổi về thể loại khiến cho tác giả buộc phải chọn lọc chi tiết.
Đó cũng chính là nguyên nhân khiến cho đôi chỗ Đại Nam quốc sử diễn ca đã
làm mất đi nét đặc sắc của tác phẩm văn học dân gian Cho dù đánh giá dưới góc
độ nào thì Đại nam quốc sử diễn ca cũng chỉ là một tác phẩm phóng tác dựa trên
cơ sở của truyền thuyết dân gian chứ không phải bản thân là truyền thuyết Có
thể coi Đại nam quốc sử diễn ca là một trong những dạng thức văn bản hóa
truyền thuyết TTG
9 Bộ sách dư địa chí viết bằng chữ Hán do Quốc sử quán triều Nguyễn
biên soạn: Đại Nam nhất thống chí (1882) có thể coi là tác phẩm kết thúc quá
trình biên soạn truyền thuyết TTG trong thời kì phong kiến độc lập Đây là bộsách lớn nhất và quan trọng nhất về địa chí Việt Nam dưới thời phong kiến, sáchgồm 28 tập và được chia làm 31 quyển Trong đó có đoạn truyền thuyết về TTG
được ghi chép lại: “Ở trên bờ ngã ba sông thuộc xã Hương – La, huyện Yên – Phong Sử chép thần họ Trương tên Hống, cùng với em là Hát, đều làm tướng quân của Triệu Việt Vương, sau ẩn ở núi Phù – long Hậu Lí Nam đế triệu ra, nhưng không theo rồi đều uống thuốc độc chết Khi Nam Tấn vương nhà Hậu Ngô đem quân đánh Lý Huy, đóng ở cửa Phù – Lan, đến đêm mộng thấy hai anh
em họ Trương đến yết kiến và xin theo đi giúp quân Khi đánh tan được giặc, Nam Tấn Vương phong cho người anh làm Đại đương giang đô hộ quốc vương thần,…” [109; 103] Vào thời điểm này, truyền thuyết TTG vẫn được biên chép
theo hướng bổ khuyết cho chính sử chứ chưa được nhìn nhận như một tác phẩmvăn học dân gian
Nhìn lại quá trình sưu tầm và biên soạn truyền thuyết về TTG trongthời kì phong kiến độc lập từ thế kỉ X đến đầu thế kỉ XIX, chúng ta có thể rút
ra một số kết luận sau:
1 Truyền thuyết TTG được biên soạn trong tình trạng “văn sử bất
Trang 36phân”, hầu hết xuất phát từ mục đích bổ sung cho quốc sử và được ghi chéptrong các cuốn địa chí, chứ không phải nhằm mục đích bảo tồn văn học, vănhóa dân gian.
2 Truyền thuyết Thánh Tam Giang được biên soạn theo bốn hướng chính:
- Trong các tập thần tích
- Trong các bộ sử
- Trong các cuốn sách ghi chép truyện truyền miệng
- Trong các bộ dư địa chí
Trong đó, đặc biệt phải kể đến hai cuốn Việt điện u linh và Lĩnh nam
chích quái được biên soạn theo hướng thứ nhất và thứ ba Đây có thể được coi
là hai công trình có giá trị nhất trong thời phong kiến độc lập và vẫn cònnguyên giá trị cho đến ngày nay
Cùng với những biến động của lịch sử từ năm 1858 – 1945, việc sưu tầm,biên soạn truyền thuyết TTG cũng có những thay đổi đáng kể
2.1.1.2 Thời kì Pháp thuộc (1858)
Năm 1858, thực dân Pháp đã đổ bộ vào cửa biển Đà Nẵng, nổ tiếng súngđầu tiên chính thức xâm lược Việt Nam Đến năm 1885 thực dân Pháp đã đặtxong ách đô hộ ở nước ta và xã hội Việt Nam đã dần trở thành xã hội thuộc địanửa phong kiến Xã hội có những biến chuyển to lớn về mọi mặt từ kinh tế,chính trị cho đến văn hóa - xã hội Pháp đã phá hoại tất cả nề nếp Phương Đôngvốn đã rất ổn định từ lâu đời Đồng thời chúng thiết lập một chế độ bảo hộ mới
có hệ thống và kèm theo đó là một đội ngũ đông đảo các trí thức người Pháp đãtới Việt Nam điều tra nghiên cứu về các lĩnh vực (phong tục, tín ngưỡng, ngônngữ, văn học, lịch sử, địa lí,…) với nhiều mục đích khác nhau nhưng chủ yếu là
để phục vụ cho công cuộc khai thác thuộc địa
Công cuộc khai thác thuộc địa đã tạo ra một luồng gió mới mẻ đếnnhiều mặt của đời sống xã hội Việt Nam Một bộ phận trí thức “Tây học” đã
Trang 37tiếp thu những thành tựu nghiên cứu khoa học nước ngoài và thể hiện được sựtiến bộ trong công trình nghiên cứu của mình Thời gian này có khá nhiều
sách biên soạn truyện dân gian được ấn hành như: Truyện đời xưa – 1866, Ước lược truyện tích nước Nam – 1887, Truyện đời xưa lựa nhóm lấy những truyện hay có ích – 1888, Truyện cổ nước Nam – 1932 [112; 580] Trong khi
các truyền thuyết về Hùng Vương, Thánh Gióng, Hai Bà Trưng đều được biênsoạn thì việc sưu tầm, biên soạn truyền thuyết Thánh Tam Giang vẫn chịu sựchi phối của quan điểm chính trị, chưa thực sự được xem như là một hoạtđộng khoa học độc lập
Những sách có biên soạn truyền thuyết TTG không phải là công trình
chuyên về biên soạn truyện dân gian mà là sách về lịch sử Đó là cuốn Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim (xuất bản năm 1921 tại Hà Nội), Việt Nam văn hóa sử cương của Đào Duy Anh (Xuất bản năm 1938 tại Huế) và cuốn Việt Nam cổ văn học sử của Nguyễn Đổng Chi (Hàn Thuyên xuất bản cục,
năm 1942) Tuy nhiên đã xuất hiện một số điểm khác biệt so với những cuốnbiên niên sử thời phong kiến đó là các soạn giả đã bắt đầu nhìn truyền thuyếtThánh Tam Giang từ góc độ lịch sử và chứng minh sự thực lịch sử mà lại có
sự phân biệt khá rõ ràng giữa lịch sử khách quan và lịch sử trong truyềnthuyết Tuy vậy, mục đích chính vẫn là biên niên sử
Đóng góp mang tính giá trị nhất ở thời kì này phải kể đến sự ra đời củacuốn thần tích về Thánh Tam Giang được chép lại bằng chữ Hán với tên gọi:
Trương Tôn thần sự tích in năm Bảo Đại thứ tư (1929), được lưu tại Viện
nghiên cứu Hán Nôm (bản in VHv 1286) Cuốn sách gồm 68 trang, chia rabốn phần: Phần một là sự tích mẹ Vân mẫu của Trương Tôn thần, phần hai là
sự tích Trương tôn thần, phần ba là văn tế Trương Tôn thần, phần bốn là các
xã thờ Trương tôn thần Ở đây, gương mặt của thể loại truyền thuyết đã ítnhiều được thể hiện đậm nét với nhiều motif như: Sinh nở thần kì, giấc mơ
Trang 38điềm báo, lập chiến công phi thường và motif về sự hóa thân, âm phù…Cùngvới đó là những chi tiết kì ảo như: Nằm mộng thụ thai, tiếng thơ ngân vanglên từ đền, đoàn kỵ binh trong mây trắng,…Đặc biệt, truyện luôn gắn liền vớinhân vật và sự kiện lịch sử: Triệu Quang Phục, Lý Phật Tử, Lê Hoàn, LýThường Kiệt…Có thể nói, ở đây truyện mang tính thiêng hóa quá khứ và tônvinh lịch sử - đặc trưng của thể loại truyền thuyết.
Như vậy, từ năm 1858 đến năm 1945, đóng góp nhiều nhất, có giá trị nhất
cho việc sưu tầm, biên soạn truyền thuyết TTG chính là cuốn Trương Tôn thần
sự tích Lần đầu tiên, việc sưu tầm truyền thuyết TTG thực sự được coi như một
thao tác quan trọng trong nghiên cứu ngữ văn dân gian nói riêng và văn hóa dângian nói chung Với số lượng ít ỏi trong khoảng thời gian không dài, nhưng cáccông trình biên soạn của các tác giả đã có những đóng góp quan trọng cho việcnghiên cứu và bảo tồn các tác phẩm văn học dân gian Việt Nam
Trải qua mười thế kỉ (từ thế kỉ X đến thế kỉ XX), việc sưu tầm, biênsoạn truyền thuyết TTG đã được manh nha tuy có phần rải rác nhưng cũng đãdần dần có định hướng và ngày càng có hệ thống Những thành tựu đó đã tạo
cơ sở cho sự phát triển hoạt động sưu tầm, biên soạn truyền thuyết TTG ởnhững thời kì sau
2.1.2 Thời kì từ cách mạng tháng 8 - 1945 cho đến nay
Cách mạng tháng Tám thành công rực rỡ đã mở ra một kỉ nguyên mới chodân tộc ta Sau khi chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập ngày 2 - 9
- 1945, nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ra đời với mục tiêu xây dựng hìnhthái xã hội hiện đại dưới sự chỉ đạo của Đảng Lao Động Việt Nam Nhà nướcnon trẻ ra đời phải đương đầu với âm mưu chống phá của các thế lực thù địch vàcuộc xâm lược lần thứ hai của thực dân Pháp (1945 - 1954) Với cuộc tổng tiếncông và nổi dậy mùa xuân năm 1975, đất nước ta đã hoàn toàn thống nhất Năm
1986, sau hơn mười năm khắc phục hậu quả do chiến tranh, Việt Nam đã tiến
Trang 39hành cải cách và bước vào thời kì đổi mới với sự đi lên mạnh mẽ về mọi mặt củađời sống đất nước đặc biệt là trong những năm gần đây.
Trong những mục tiêu xây dựng và phát triển đất nước, văn hóa là mộttrong những vấn đề luôn được nhà nước quan tâm và chú trọng Văn hóa là nềntảng tinh thần của xã hội Đất nước chỉ phát triển bền vững khi các mặt: Chínhtrị, kinh tế, văn hóa - xã hội đều phát triển Do đó văn hóa vừa là động lực thúcđẩy sự phát triển kinh tế và xã hội, vừa là mục tiêu của sự phát triển đó Trongcông cuộc xây dựng đất nước, Đảng đã đề ra một chủ trương quan trọng, Nghị
quyết Trung ương lần thứ V đã chỉ rõ: “Xây dựng một nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” Nền văn hóa ấy là tổng hòa của những tinh
hoa văn hóa các dân tộc
Những bước ngoặt lịch sử nói trên đều có tác động không nhỏ đến đờisống văn hóa, nhất là đối với văn hóa – văn học dân gian và cũng có ảnhhưởng trực tiếp đến việc sưu tầm, biên soạn các tác phẩm văn học dân giannói chung và truyền thuyết TTG nói riêng
2.1.2.1 Từ năm 1945 – 1975
Sau năm 1954, miền Bắc Việt Nam được hoàn toàn giải phóng, nhưng đấtnước bị chia cắt làm hai miền Nam – Bắc Đảng và Chính phủ đã đề ra những chủtrương và chương trình cụ thể hướng đến công cuộc thống nhất đất nước, đặt ra
mục tiêu lớn nhất là “tất cả cho tiền tuyến Miền Nam” và đề ra nhiều chủ trương
cho hoạt động sưu tầm, biên soạn nghiên cứu văn hóa và văn nghệ dân gian
Tiên phong là Hội văn nghệ Việt Nam được thành lập vào năm 1948.Tiếp sau đó các cơ quan chuyên trách, các tạp chí nghiên cứu văn hóa – vănnghệ dân gian cũng lần lượt được thành lập: Hội văn nghệ Việt Nam năm
1967, Tập san nghiên cứu Văn – Sử - Địa năm 1954, Tập san nghiên cứu vănhọc năm 1960, Tạp chí nghiên cứu nghệ thuật năm 1973 Cùng với đó là việcthành lập các nhà xuất bản (Nxb Văn học, Nxb Văn hóa, Nxb Giáo dục) nhằm
Trang 40công bố những tác phẩm văn học, những công trình nghiên cứu văn học dângian có giá trị Từ đó tạo điều kiện thúc đẩy quá trình sưu tầm biên soạntruyện dân gian nói chung và truyền thuyết TTG nói riêng.
Từ năm 1945 đến năm 1975, truyền thuyết TTG được sưu tầm và biênsoạn khá dè dặt, chỉ trong khoảng một số tài liệu sau:
Cuốn Lược khảo thần thoại Việt Nam năm 1956 của Nguyễn Đổng Chi là
cuốn đầu tiên sưu tầm và biên soạn lại truyền thuyết về TTG sau gần một thế kỉ bịchững lại do thực dân Pháp đô hộ Trong lời tựa của cuốn sách, Nguyễn Đổng Chi
có viết: “Chúng tôi có đưa vào đây một số truyền thuyết có liên quan đến nhân vật thần thoại để độc giả hình dung thêm ít nhiều về thần thoại đã không còn nữa.
Có thể thấy những truyền thuyết đó là biến tướng của thần thoại hoặc là gốc từ thần thoại mà ra” [12; 7] Ở đây, lần đầu tiên truyền thuyết này được Nguyễn Đổng Chi đặt tên có nhan đề: “Truyện ông Dài, ông Cụt” Theo ông: Truyện ông
Dài, ông Cụt có nguồn gốc sâu sa từ sự tích thần Nước trong thần thoại Việt Nam
ít nhiều bị pha trộn với sự tích thần Nước trong thần thoại Trung Quốc
Năm 1957, Vũ Ngọc Phan đã biên soạn cuốn Truyện cổ Việt Nam.
Ở đây, truyền thuyết TTG được biên soạn có vài điểm khác biệt so với các
bản kể xưa nhất trong Việt điện u linh và Lĩnh nam chích quái Trong Truyện cổ Việt Nam, hai ông Trương Hống, Trương Hát không được nhắc
đến là tướng của Triệu Quang Phục
Khoảng hơn mười năm sau, vào năm 1971 bộ sách Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam gồm 5 tập của Nguyễn Đổng Chi ra đời cũng có kể lại sự tích về
ông Cộc – ông Dài Ở đây, soạn giả đã chú ý tới việc tìm tòi thêm những dị bản
trong nước và trên thế giới, có sự bổ sung phong phú hơn Truyện “Ông Dài ông Cộc hay là sự tích sông Kỳ Cùng” đã được Nguyễn Đổng Chi biên soạn, kèm
theo hàng loạt những dị bản của người Tày ở Lạng Sơn ven sông Kỳ Cùng, vùngven sông Cầu, sông Thương