- Tiêu biểu là trồng rau quả quanh năm trong nhà kính, nuôi trồng thủy hải sản, chăn nuôi các loại gia súc gia cầm… - Sự biến đổi này khiến cho xã hội đạt tới đỉnh cao của sự biến đổi va
Trang 1BÀI ĐIỀU KIỆN MÔN NHÂN HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN HỌC XÃ HỘI
Ở VIỆT NAM
Đề bài: Hãy mô tả sự thích ứng của con người nhìn từ góc độ đảm bảo nguồn thức
ăn, nhu cầu mặc, ở và công cụ lao động Liên hệ thực tiễn với địa phương em
Bài làm
Để tồn tại và phát triển, con người đã trải qua nhiều hình thức sản xuất khác nhau cũng như thích nghi với từng kiểu nhà ở và sáng tạo ra những trang phục phù hợp để bảo vệ sức khỏe Đồng thời liên tục chế tạo ra những công cụ lao động để
hỗ trợ trong quá trình sinh tồn và phát triển kinh tế Tất cả những điều này đã được con người thực hiện trải qua các thời kỳ lịch sử từ thời kỳ nguyên thủy đến nay
I Sự thích ứng của con người nhìn từ góc độ bảo đảm nguồn thức ăn
1 Bảo đảm nguồn thức ăn bằng săn bắt, hái lượm
- Đây là phương thức kiếm ăn cổ xưa của loài người
- Một số nơi vẫn còn duy trì phương thức này : ở Tây Nguyên, người Rục ở Quảng Bình, người Rơ Măm ở Kom Tum…
- Thường tập hợp thành những tập thể với quy mô nhỏ với trung tâm là tổ chức thân tộc
- Thường sống không ổn đinh, phụ thuộc vào hoàn cảnh và thời tiết…
- Người săn bắt cần có những tri thức về động vật, thực vật, thời tiết để lợi dụng thiên nhiên một cách tốt nhất cho cuộc sống
- Xã hội này tương đối bình đẳng, vai trò của người đàn ông và phụ nữ là khác nhau Người đàn ông do năng lực săn bắt nên họ có vai trò quan trọng hơn trong quyết định ý chí tập thể
- Tín ngưỡng phồn thực được chú trọng ( thờ cúng sinh thực khí, thờ cúng tổ tiên…)
2 Bảo đảm nguồn thức ăn bằng cách chăn nuôi du mục
- Theo các nhà khảo cổ, loài người bắt đầu thuần hóa thực vật khoảng 1 vạn năm trước và thuần hóa động vật để chăn nuôi khoảng 8 nghìn năm trước đây
- Nhờ chăn nuôi du mục, con người ít bị phụ thuộc vào môi trường tự nhiên, chủ động trong việc tìm kiếm thức ăn và bảo đảm thức ăn
- Xã hội chuyển từ nền kinh tế “ chiếm đoạt” sang nền kinh tế sản xuất
Trang 2- Cuộc sống thường thay đổi, theo sự di chuyển hoặc di chuyển theo định kỳ của các đàn gia súc lớn
- Người ta thường sống định cư hoặc bán định cư
- Vai trò của nam nữ được phân chia rõ rệt
- Liên minh thị tộc làm cho cơ cấu và tổ chức xã hội có sự thay đổi đáng kể
3 Bảo đảm nguồn thức ăn bằng du canh
- Nhờ cải tạo thực vật hoang dại, giai đoạn canh tác trồng trọt ngũ cốc và rau quả phát triển
- Bước đầu tiến hành song song hái lượm và trồng trọt, sau chuyển dần sang trọng điểm là canh tác trồng trọt
- Trung tâm canh tác của Châu Á là trung tâm canh tác đứng thứ nhất thế giới và Châu Mỹ là trung tâm thứ hai
- Canh tác du canh bắt đầu từ việc chọc lỗ gieo hạt, sau phát triển loại công cụ làm đất như cuốc
- Con người đã biết thích ứng với tự nhiên, biết chọn thời điểm canh tác và duy trì
sự màu mỡ của đất
- Nuôi thêm gia súc, gia cầm để bổ sung nguồn thức ăn
- Xuất hiện trao đổi mua bán vật phẩm
- Kỹ thuật canh tác là sở hữu đại gia đình
- Vai trò của nam nữ được phân công rõ rệt
4 Bảo đảm nguồn thức ăn bằng định canh
- Định canh là sự cố định địa điểm canh tác Đây là điều kiện khiến cho nông sản tạo
ra ngày càng dư thừa
- Đặc tính của hình thức sản xuất này là sử dụng kỹ thuật tổng hợp trong canh tác ( chọn giống, luân canh…) Con người thực sự làm chủ nông nghiệp
- Nông nghiệp tập trung là hình thức cao, đầu tư vốn và sức người vào một mảnh đất canh tác nhất định, sử dụng người và của, máy móc nông nghiệp để nâng cao năng suất
- Sản xuất nông nghiệp tập trung phát triển khiến cho : Trình độ kỹ thuật, lao động của con người cũng phát triển, sự phân hóa ngành nghề được đẩy mạnh dẫn đến sự phân hóa giai cấp ngày càng rõ rệt, phân công lao động theo giới cũng rõ rệt…
5 Nguồn thức ăn trong thời đại công nghiệp
- Công nghiệp hóa nông nghiệp diễn ra một cách mạnh mẽ thúc đẩy sản xuất lương thực, thực phẩm đạt tới quy mô lớn, hiệu quả cao nhất
Trang 3- Tiêu biểu là trồng rau quả quanh năm trong nhà kính, nuôi trồng thủy hải sản, chăn nuôi các loại gia súc gia cầm…
- Sự biến đổi này khiến cho xã hội đạt tới đỉnh cao của sự biến đổi vai trò theo giới
và phương thức sinh sống của con người thay đổi cơ bản : tách rời nơi ở với nơi sản xuất, sản xuất mang tính chuyên môn cộng đồng…
- Cách thức nuôi con thay đổi rõ rệt: lần đầu tiên con người bị đặt trong một cơ cấu không thể duy trì song song đó là vừa tham gia hoạt động kinh tế vừa nuôi dạy thế
hệ kế tiếp
- Sản xuất thức ăn trong thời đại công nghiệp tác động hết sức to lớn đối với môi trường tự nhiên, môi trường và xã hội sinh sống của con người Đó là sự ô nhiễm môi trường ( đất, nước, không khí ), cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên,…
- Tạo nên sự biến đổi to lớn trong xã hội: các giá trị truyền thống của xã hội, nề nếp gia đình bị phá vỡ, khoảng cách giàu nghèo và phân biệt giai tầng xã hội ngày càng phức tạp…
II Sự thích ứng từ góc độ quần áo, nhà ở
1 Quần áo- công cụ thích ứng với tự nhiên
- Con người biết lợi dụng những nguyên liệu sẵn có trong tự nhiên( vỏ cây, lông thú, ) để làm ra quần áo phù hợp, thích ứng với môi trường
- Quần áo luôn thay đổi từ thời cổ đại cho đến nay, chất liệu và kỹ thuật cũng thay đổi Làm cho mối quan hệ giữa con người với tự nhiên thêm gắn bó
- Quần áo giúp con người bảo vệ sức khỏe, tránh được sự khắc nghiệt của thời tiết
- Quần áo giúp con người làm đẹp cho mình, nhấn mạnh cá tính, giới tính; thể hiện vai trò, địa vị xã hội, ngành nghề, lĩnh vực công tác xã hội; biểu hiện về môn phái tôn giáo,võ thuật, văn hóa dân tộc, tính cộng đồng quốc gia…; giúp thể hiện vị trí của mình trong tập thể, thỏa mãn nhu cầu xã hội của con người
2 Nhà ở - công cụ thích ứng của con người với tự nhiên
- Nhà ở là nơi trú ngụ của con người, thể hiện sự thích ứng với tự nhiên và cá tính văn minh trong cuộc sống cộng đồng của con người
- Các hình thức nhà ở trong lịch sử:
Ngôi nhà tự nhiên – hang động
Ngôi nhà làm bằng chất liệu tự nhiên dễ kiếm : đất, đá, tre, nứa, rơm, rạ…
Ngôi nhà được xây bằng các nguyên liệu từ tự nhiên qua lao động chế tạo của con người : nhà ở lều bạt, nhà gạch, nhà xi măng cốt thép…
Trang 4III Sự thích ứng của con người từ góc độ công cụ và phương tiện kĩ
thuật
- Con người chế tạo và sử dụng công cụ để cải biến tự nhiên nhằm thỏa mãn nhu cầu vật chất của họ
- Công cụ là vật gia công được chế tạo nhờ kỹ thuật, còn kỹ thuật là hệ thống thông tin tri thức, qua đó con người biến nó thành vật chất để tác động vào tự nhiên để sinh tồn và phát triển
- Các công cụ thô sơ như : đá, gậy, kéo, cung tên, nỏ…
- Các loại đồ dùng sinh hoạt hàng ngày : rổ rá, nong nia, võng, bát đũa…
- Các công cụ khai thác nguồn tự nhiên : cuốc, xẻng, búa, lưới, máy khai thác…
IV Liên hệ thực tiễn địa phương em ( Hải Phòng)
1 Từ góc độ đảm bảo nguồn thức ăn
Hải Phòng là một thành phố nằm ở phía Đông Bắc Bắc Bộ, có bờ biển dài trên
125 km, kể cả bờ biển quanh các đảo ngoài khơi có mạng lưới sông ngòi dày đặc thuộc hệ thống sông Thái Bình, đổ ra biển qua một số cửa sông chính là cửa sông Thái Bình, cửa sông Lạch Tray, cửa Cấm và cửa Nam Triệu Bờ biển Hải Phòng có hướng một đường cong lõm của bờ vịnh Bắc Bộ, địa hình thấp, nền đáy khá bằng phẳng Ở khu vực ven bờ cửa sông chất đáy chủ yếu là cát bùn, dọc lên phía Đông Bắc, giới hạn bởi quần đào Cát Bà, nền đáy gồ ghề, chất đáy chủ yếu là cát sỏi Vùng biển Hải Phòng còn có rất nhiều đảo lớn, nhỏ nằm rải rác, lớn nhất là đảo Cát Bà và xa nhất là đảo Bạch Long Vĩ
Nguồn lợi tự nhiên ở vùng biển Hải Phòng thể hiện sự đa dạng sinh học của biển nhiệt đới, gồm các hệ sinh thái rừng ngập mặn, hệ sinh thái san hô, hệ sinh thái cỏ biển Đó là nơi lưu giữ nguồn lợi sinh vật biển vô cùng phong phú và là nơi sinh cư, sinh sản của rất nhiều loài hải sản có giá trị kinh tế cao như tôm he, mực nang, mực ống, cá Hồng, cá Song, cá Mú, cua ghẹ và rất nhiều loài hải đặc sản khác
Vùng biển Hải Phòng là một trong những khu vực có mật độ phân bố của các loài hải sản khá cao so với các khu vực khác ở vùng biển vịnh Bắc Bộ Các ngư trường khai thác chính ở vùng biển Hải Phòng và các vùng lân cận là:
Ngư trường Bạch Long Vỹ: Đây là ngư trường khai thác truyền thống của
nghề lưới kéo đáy Năng suất khai thác cao tập trung chủ yếu ở vùng biển phía Đông và Đông Bắc đảo Bạch Long Vỹ, độ sâu ngư trường từ 30-50m
Trang 5Ở mùa gió Đông Bắc, các đàn cá thường tập trung với mật độ cao hơn so với
ở mùa gió Tây Nam Các loài chiếm sản lượng cao trong sản lượng khai thác
ở ngư trường Bạch Long Vỹ là: cá miễn sành hai gai, cá nục sồ, cá mối, cá lượng, cá phèn khoai, ngoài ra các loài cá hồng, cá trác, cá bạc má cũng là những đối tượng thường xuyên xuất hiện trong sản lượng khai thác
Ảnh: Ngư trường Bạch Long Vỹ
Ngư trường Cát Bà – Bắc Long Châu: Ở khu vực này đối tượng khai thác
chính là các loài tôm, trong đó tôm he, tôm sắt và tôm rảo là những đối tượng chiếm tỉ lệ cao trong sản lượng tôm khai thác được Ngoài ra, đây cũng là ngư trường khai thác cá hồng, cá song và một số loài cá kinh tế khác
Ảnh: Đánh bắt hải sản ở ngư trường Cát Bà
Ngư trường Nam Long Châu: đây là ngư trường khai thác chính của các
loài cá trích, cá hồng, cá mối và cá phèn Ngư trường này kéo dài suốt từ phía Nam đảo Long Châu đến cửa Ba Lạt Nghề lưới vây và nghề vó mành
Trang 6được sử dụng để khai thác cá nổi, chủ yếu là nhóm cá trích, cá cơm Nghề lưới kéo đáy được sử dụng để khai thác cá mối, cá phèn
Ảnh: Vẻ đẹp của ngư trường Long Châu
Một số nghề đánh bắt thuỷ hải sản ở Hải Phòng:
- Nghề lưới giã đôi: Đội tàu khai thác hải sản hoạt động bằng nghề lưới kéo
đôi ở Hải Phòng sử dụng tàu có công suất lớn từ 200CV trở lên, phổ biến các các tàu có công suất trên 300CV Tuy vậy nghề này đòi hỏi chi phí đầu
tư cho hoạt động sản xuất lớn, với giá nhiên liệu cao như hiện nay, hiệu quả sản xuất của nghề này đang giảm
- Nghề câu khơi: chủ yếu là nghề câu rạn, đối tượng đánh bắt chủ yếu là các
loài có giá trị kinh tế cao Tuy nhiên những năm gần đây do diện tích rạn san
hô suy giảm dẫn đến nguồn lợi cá bị suy giảm nghiêm trọng do vậy nghề này
ít có cơ hội phát triển
- Nghề chụp mực: nghề chụp mực mới du nhập vào Hải Phòng và phát triển
rất nhanh Nghề chụp mực đánh bắt chủ yếu ở các vùng biển xa bờ cho hiệu quả kinh tế cao, hoạt động quanh năm, ngư trường khai thác chính là vùng biển phía Tây dảo Bạch Long Vỹ
- Nghề lưới giã tôm: nghề lưới giã tôm phát triển với số lượng lớn Đối tượng
đánh bắt chủ yếu là tôm bộp, tôm sắt
- Nghề lưới rê: chiếm tỉ lệ khá cao trong cơ cấu nghề khai thác hải sản, nghề
lưới rê có năng suất không cao nhưng đánh bắt những đối tượng có giá trị kinh tế cao nên có xu hướng ổn định về số lượng nghề nghiệp
- Nghề câu: là nghề chiếm tỉ trọng nhỏ trong cơ cấu nghề khai thác gần bờ
Trang 7- Nghề đăng đáy: đây là nghề truyền thống của nhiều cộng đồng ngư dân địa
phương, chủ yếu đánh bắt cá nhỏ ở vùng vửa sông ven biển
- Nghề te, xiệp: là nghề khai thác có tính huỷ diệt cao, nghề này thường đánh
bắt ở các vùng ven bờ, ảnh hưởng nghiêm trọng đến nguồn lợi và hệ sinh thái
Ảnh: Đánh bắt hải sản tại Đồ Sơn, Hải Phòng
Nhắc đến Hải Phòng, người ta nghĩ đến đầu tiên là hải sản tươi sống, đa dạng, phong phú với giá thành rẻ Đó là nhờ vị trí địa lý thuận lợi khiến việc đánh bắt và vận chuyển hải sản tiện lợi Đánh bắt thuỷ sản cũng trở thành nghề chính của cư dân nơi đây, đảm bảo nguồn thức ăn ngày càng phong phú
Hải Phòng có nhiều vùng rươi lớn với tổng sản lượng khai thác mỗi năm có thể lên đến hàng trăm tấn Hầu hết các xã có vùng nước lợ ven các sông Văn Úc, Thái Bình, sông Luộc, sông Hóa thuộc các huyện An Lão, Kiến Thụy, Tiên Lãng Vĩnh Bảo đều có rươi Giá rươi dao động từ 300 nghìn đến 800 nghìn đồng/kg Như vậy, người dân có thể thu hàng trăm triệu, hàng tỉ đồng sau một vụ rươi
Trang 8Ảnh: Người dân thu hoạch rươi tại xã Kiến Thiết, huyện Tiên lãng
2 Sự thích ứng ở góc độ quần áo, nhà ở
- Quần áo của người dân Hải Phòng giống quần áo của người Kinh: gồm các yếu tố cơ bản như quần+ áo Theo sự phát triển của thế giới, quần áo ngày càng đa dạng về màu sắc, phong cách Quần áo phụ nữ đa dạng hơn đàn ông: váy, đầm, jumsuit, yếm… Về cơ bản, quần áo là điều bắt buộc phải có của người dân Không mặc quần áo là sự xấu hổ của một người tư duy bình thường
- Nhà ở tại Hải Phòng: Làm bằng các nguyên vật liệu như gạch, bê tông, cốt thép vững chắc với các kiểu kiến trúc khác nhau Tuy các công trình kiến trúc ngày càng độc đáo và mới mẻ nhưng nơi đây vẫn lưu giữ nhiều công trình kiến trúc cũ từ thời Pháp
Trang 9Ảnh: Ga Hải Phòng đã được tu sửa nhưng vẫn giữ nguyên kiểu kiến trúc cũ
Ảnh: Nhà hát lớn Hải Phòng- nơi diễn ra các sự kiện lớn của thành phố
Trang 10Ảnh: Bưu điện trung tâm của Hải Phòng
Một điểm đặc biệt ở Hải Phòng là dọc theo con sông Tam Bạc là chợ Trần Quang Khải, chợ Đổ, chợ Sắt.Đứng từ phía cầu Lạc Long nhìn vào phía sau phố
Lý Thường Kiệt sẽ thấy những mái nhà lợp ngói âm dương của Hoa Kiều Có thể nói đây là “phố cổ” của Hải Phòng xưa, xuất hiện cùng với buổi đầu ra đời của thành phố Ngày nay, tuy thành phố đã có những quy hoạch nhằm cải tạo vẻ đẹp
mỹ quan nhưng vẫn giữ nguyên những con phố cổ và khu chợ này
Hiện nay, Việt Nam còn duy nhất cầu quay sông Hàn ở Đà Nẵng còn hoạt động, trở thành điểm nhấn của thành phố Ít ai biết rằng cách đây 114 năm, tại TP Hải Phòng, người Pháp từng xây dựng một cây cầu quay dành cho xe lửa Mỗi khi tàu thuyền qua lại, cầu lại được quay Năm 1901, cầu Quay bắc qua sông Tam Bạc được khởi công, sau một năm thì hoàn thành Cầu bằng dầm thép, có 2 nhịp và 3 khoang thông thuyền, phục vụ cho cả đường bộ và đường sắt Để không gây trở ngại cho các tàu thuyền qua lại trên sông, các kỹ sư người Pháp đã thiết kế nhịp giữa cầu có thể quay ngang 90 độ, dọc theo sông
Những năm đầu, cầu được điều khiển thủ công bởi 5-6 công nhân người Việt Họ sử dụng hệ thống ròng rọc để quay cả một nhịp cầu dài khoảng 50 m, nặng cả trăm tấn Sau một thời gian, việc vận hành được thực hiện bằng động cơ điện Cầu không quay vào giờ nhất định mà khi có tàu thuyền lớn đi qua thì nhân
chặn miền Bắc tiếp nhận xăng dầu, vũ khí, đạn dược từ nước ngoài qua cảng Hải Phòng, từ Hải Phòng chi viện cho chiến trường miền Nam, đế quốc Mỹ đánh phá
ác liệt bằng đường không Hàng nghìn tấn bom đạn trút xuống Hải Phòng Nhiều
Trang 11cây cầu bị trúng bom đổ sập, hư hỏng, trong đó có cầu Quay Kể từ đó, cầu được sửa lại và đặt cố định
Ảnh: Cầu Quay khi còn hoạt động
Ảnh: Cầu Quay hiện nay
Trang 12Ảnh: Hồ Tam Bạc- Địa điểm tổ chức nhạc nước và bắn pháo hoa
3 Sự thích ứng từ góc độ công cụ lao động và phương tiện kĩ thuật
Cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, việc ứng dụng công nghệ để đánh bắt thuỷ hải sản, nuôi trồng, cải tiến công cụ lao động và phương tiện kĩ thuật là điều cần thiết Từ những hình thức chăn nuôi, đánh bắt cơ bản, người dân nơi đây đã dần áp dụng nhiều công cụ lao động mới, hình thức sản xuất, chăn nuôi, trồng trọt và đánh bắt mới
Ví dụ với ngành khai thác lưới rê Thực trạng khai thác lưới rê trên địa bàn Hải Phòng cho thấy hầu hết các loại nghề rê đang hoạt động khai thác khơi có các thông số kỹ thuật chưa thực sự phù hợp để có thể đánh bắt được đa loài trong những điều kiện thời tiết, ngư trường khác nhau, do vậy, hiệu quả chuyến biển thường không ổn định
Hiệu quả của nghề khai thác lưới rê phụ thuộc vào nhiều yếu tố: phương tiện đánh bắt, ngư cụ, trang thiết bị đánh bắt, ngư trường, bảo quản sản phẩm… Để nâng cao hiệu quả của nghề khai thác lưới rê ở Hải Phòng, cần nghiên cứu cải tiến, hoàn thiện đồng bộ các yếu tố đó Về ngư cụ, nhóm nghiên cứu đã tiến hành cải tiến các loại lưới rê 1 lớp và 3 lớp Lưới rê cải tiến được thực hiện dựa trên lưới rê mẫu truyền thống, tuân thủ cơ bản quy trình, kỹ thuật khai thác của lưới rê truyền