1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đa dạng thành phần loài cá ở khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước tiền hải, tỉnh thái bình

13 129 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 716,54 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘITRUNG TÂM NGHIÊN CỨU TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG ĐỀ CƯƠNG NGHIÊN CỨU dành cho Học bổng NAGAO tại Việt Nam Tên đề tài: Đa dạng thành phần loài cá ở Khu Bảo tồn thiên

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG

ĐỀ CƯƠNG NGHIÊN CỨU

(dành cho Học bổng NAGAO tại Việt Nam)

Tên đề tài: Đa dạng thành phần loài cá ở Khu Bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Tiền Hải, tỉnh Thái Bình

Họ tên học viên: Phạm Thị Thảo K28

Cơ sở đào tạo: Khoa Sinh học – Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

HÀ NỘI, THÁNG 10/2018

Trang 3

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

KVNC : Khu vực nghiên cứu

BTTN : Bảo tồn thiên nhiên

Trang 4

MỤC LỤC

(Để trang riêng)

Trang 5

1 Đặt vấn đề

Khu Bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Tiền Hải nằm về phía tả ngạn cửa Ba Lạt thuộc huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình Phía Tây giáp đê 6 thuộc các xã Nam Thịnh, Nam Hưng và Nam Phú; phía Bắc giáp lạch sâu cửa Lân; phía Nam là sông Hồng; phía Đông

là dải cồn cát cao Cồn Vành, Cồn Thủ (15 km) từ cửa Ba Lạt đến cửa Lân, tiếp giáp với Biển Đông Quy mô Khu BTTN đất ngập nước Tiền Hải là 12.500 ha, trong đó bao gồm diện tích rừng ngập mặn, đất bãi bồi và đất ngập nước Ngày 24/1/1995, Bộ khoa học, Công nghệ và môi trường đã quy hoạch mở rộng khu vực Ramsar đầu tiên của Việt Nam bao gồm cả Cồn Vành, Cồn Thủ Vì vậy nơi đây lưu giữ những giá trị sinh học đa dạng, phong phú; là nơi di trú của nhiều loài chim, cá, lưỡng cư bò sát ; là nơi bảo tồn các nguồn gen quý, hiếm trong đó có các loài cá

Trong những năm gần đây, người dân địa phương dựa vào nguồn lợi về du lịch và thủy hải sản đã tiến hành nhiều hình thức khai thác khác nhau như đánh bắt bằng lưới cỡ mắt nhỏ, đánh mìn, rà điện, đánh bắt vào mùa sinh sản, thu lượm các loài thân mềm vv Hơn nữa, môi trường sống của cá bị ô nhiễm bởi: nước thải sinh hoạt, các hoạt động du lịch gây ảnh hưởng đến nghề cá và đời sống của cá Ở Khu BTTN đất ngập nước Tiền Hải tuy đã có 1 số công trình nghiên cứu về thành phần loài cá như nghiên cứu về thành phần loài cá ở cửa sông Hồng, khu bảo tồn thiên nhiên Tiền Hải, Thái Bình của Nguyễn Hữu Dực năm 2010, nhưng việc nghiên cứu đó chỉ trong thời gian ngắn từ tháng 6 đến tháng 8 năm 2006 (Nguyễn Hữu Dực, 2010) và chưa có nghiên cứu nào về đặc điểm phân

bố các loài cá tại khu vực này Vì vậy việc tiến hành điều tra, nghiên cứu khu hệ cá tại Khu BTTN đất ngập nước Tiền Hải là rất cần thiết nhằm cung cấp cơ sở khoa học giúp địa phương phát triển nghề cá, khai thác bền vững và bảo vệ nguồn lợi cá

Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi thực hiện đề tài “Đa dạng thành phần loài

cá ở Khu Bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Tiền Hải, tỉnh Thái Bình”.

2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu liên quan đến đề tài

2.1 Tình hình nghiên cứu về cá ở Việt Nam

2.1.1 Lược sử nghiên cứu cá vùng cửa sông, ven biển, rừng ngập mặn ở Việt Nam

Trang 6

Vùng cửa sông là một đơn vị chuyển tiếp, được hình thành từ kết quả của quá trình tương tác sông - biển, song giữ vai trò hết sức quan trọng, trực tiếp hay gián tiếp chi phối đến các khu hệ sinh vật biển và nước ngọt Đã có khá nhiều công trình nghiên cứu được tiến hành ở vùng cửa sông như: Mai Đình Yên và Trần Định, điều tra khu hệ cá cửa sông Bạch Đằng, với 82 loài thuộc 45 họ, 10 bộ (theo Vũ Trung Tạng, 2009); khu hệ cá cửa sông Việt Nam của Vũ Trung Tạng (2009), gồm 615 loài cá thuộc 120 họ và 29 bộ Công trình này là tập hợp các nghiên cứu khu hệ cá cửa sông từ năm 1971 đến năm 2009 Tác giả cũng thống kê có 174 loài cá biển xâm nhập sâu vào nước ngọt theo các hệ thống sông Nghiên cứu thành phần loài cá ở cửa sông Hồng tại Tiền Hải, Thái Bình của Nguyễn Hữu Dực (2010); kết quả bước đầu nghiên cứu khu hệ cá ở cửa sông Thu Bồn, tỉnh Quảng Nam của Nguyễn Thị Tường Vi và cộng sự năm 2014 ghi nhận tại KVNC có sự xuất hiện của 139 loài thuộc 17 bộ, 63 họ và 110 giống; nghiên cứu thành phần loài cá, đặc điểm phân bố, tình hình khai thác và bảo vệ nguồn lợi cá ở lưu vực sông Ba Chẽ và sông Tiên Yên của Tạ Thị Thủy (2011) Đây đều là nguồn tư liệu quan trọng cho các nghiên cứu tiếp theo về khu hệ cá ở nơi đây cũng như có ý nghĩa thực tiễn đối với việc tổ chức khai thác và bảo vệ nguồn lợi các loài cá cửa sông

Vùng biển, ven biển là một vị trí quan trọng được các nhà khoa học đặc biệt là ngư loại học đặc biệt quan tâm Ở vùng biển Nam Trung Bộ có nghiên cứu về khu hệ cá ở các đầm phá của tỉnh Thừa Thiên - Huế của Võ Văn Phú (1997), gồm 163 loài Khu hệ cá

ven biển Việt Nam của Phạm Thược và cộng sự (1994), gồm 258 loài Trong cuốn “Cá biển Việt Nam” (tập 1) của Nguyễn Khắc Hường và Nguyễn Nhật Thi (1992), các tác giả

đã thống kê 86 loài thuộc 22 họ; Nguyễn Khắc Hường (1991, 1993) công bố trong “Cá biển Việt Nam” (tập 2) với 189 loài Trong cuốn “Cá biển Việt Nam, cá xương Vịnh Bắc Bộ” của Nguyễn Nhật Thi (1991), tác giả đã giới thiệu 218 loài cá thuộc 104 giống, 15

họ Ở vùng biển phía Bắc nước ta cũng có một số nghiên cứu như: Nguyễn Nhật Thi (1971), điều tra sơ bộ khu hệ cá vùng biển Quảng Ninh, gồm 183 loài cá thuộc 17 họ và

17 bộ, trong đó có 45 loài thuộc khu vực biển Tiên Yên; Osman và các cộng sự (2001) khi nghiên cứu cá ven biển Việt Nam có nêu 10 loài thuộc 9 giống và 8 họ cá ở Hạ Long; Nguyễn Hữu Dực (2010) công bố thành phần loài cá vùng ven biển Đầm Hà - Tiên Yên, Quảng Ninh với 152 loài cá thuộc 104 giống, 57 họ, 13 bộ, trong đó có 113 loài ở vùng ven biển Tiên Yên Đây là những tài liệu tham khảo về cá biển có giá trị trong nghiên cứu

và giảng dạy ở nước ta

Rừng ngập mặn là khu phòng hộ giúp cân bằng sinh thái, điều hòa khí hậu, chắn sóng, chống xói lở và ngăn sự xâm lấn biển Nơi đây có sự gặp gỡ của hệ sinh thái thủy vực và hệ sinh thái trên cạn, giữa hệ sinh thái nước ngọt và hệ sinh thái nước mặn đã tạo

Trang 7

những điều kiện cho việc hình thành một khu hệ sinh thái động - thực vật đa dạng, phong phú Tống Xuân Tám và cộng sự (2014) đã xây dựng dữ liệu về các loài cá ở rừng ngập mặn Cần Giờ, TP Hồ Chí Minh gồm 164 loài, xếp trong 127 giống, 71 họ, 18 bộ Ngoài

ra ở các hệ sinh thái rừng ngập mặn nhỏ, lẻ khác chưa có các nghiên cứu chuyên sâu về thành phần loài cá

2.1.1 Tình hình nghiên cứu cá ở khu vực nghiên cứu và vùng lân cận

Khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Tiền Hải, tỉnh Thái Bình là vùng cửa sông đang phát triển, thuộc loại cửa sông vùng châu thổ, có nhiều biến động Đã có một số công trình nghiên cứu về thành phần loài cá ở vùng biển này như nghiên cứu của Phan Nguyên Hồng và Hoàng Thị Sản (1993), Dương Ngọc Cường và Trần Minh Khoa (2004), Trần Thanh Thản (2004); Nguyễn Hữu Dực năm 2006 đã thu thập mẫu vật nghiên cứu đồng thời kết hợp với các kết quả đã được công bố trước đó xác định được ở vùng biển Tiền Hải có 184 loài thuộc 104 giống, 54 họ và 15 bộ Tuy nhiên các nghiên cứu trên chưa cụ thể, chuyên sâu cho hệ sinh thái rừng ngập mặn hay toàn vẹn Khu Bảo tồn Vì vậy cần thiết phải tiếp tục tiến hành nghiên cứu để có thêm hiểu biết về cá ở khu vực này, từ đó

có các biện pháp bảo tồn và khai thác thích hợp

3 Các câu hỏi nghiên cứu của đề tài nghiên cứu

+ Thường hệ sinh thái rừng ngập mặn có độ đa dạng sinh học cao vì đây là nơi có nguồn thức ăn dồi dào, nơi ẩn nấp lý tưởng cho các loài cá Liệu rằng hệ sinh thái rừng ngập mặn ở khu bảo tồn Tiền Hải có chức năng như vậy hay không? Có loài cá nào có giá trị kinh tế và giá trị bảo tồn ở khu vực? Hiện trạng khai thác và sử dụng nguồn lợi cá

ở đây như thế nào?

+ Trong quá trình thu mẫu, liệu có xuất hiện loài mới ngoài những loài đã được công

bố trong các nghiên cứu trước hay không, có loài nào mới xuất hiện Có thể nghiên cứu này sẽ bổ sung thêm một số loài cá cho cá biển, cá rừng ngập mặn ở Việt Nam

4 Mục tiêu nghiên cứu

Xác định được thành phần loài và đặc điểm phân bố các loài cá, xác định hiện trạng nguồn lợi cá từ đó đề xuất giải pháp bảo tồn và sử dụng bền vững đa dạng sinh học của các loài cá ở KVNC

Trang 8

5 Địa điểm, thời gian và đối tượng nghiên cứu

5.1 Địa điểm nghiên cứu

- Nghiên cứu thực hiện thu mẫu tại 1 số điểm ở Khu BTTN đất ngập nước Tiền Hải, tỉnh Thái Bình

- Mẫu vật được bảo quản và định loại tại phòng thí nghiệm bộ môn Động vật học, khoa Sinh học, trường Đại học Sư phạm Hà Nội

5.2 Thời gian nghiên cứu

Từ tháng 10/2018 – 6/2020

+ Tiến hành thu mẫu: Từ 1-12/2019

+ Tập hợp số liệu, viết luận văn: 1-6/2020

5.3 Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu tiến hành trên đối tượng là các loài cá thu được ở KVNC và sự phân bố của chúng

6 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp chụp ảnh mẫu vật trong phòng thí nghiệm

Mẫu vật sau khi được bảo quản trong formalin 5% hoặc cồn 80 độ được chụp ảnh

để so sánh sự biến đổi màu sắc với mẫu sống Tiến hành theo các bước sau:

Bước 1: Chia các mẫu vật thành các nhóm khác nhau dựa vào đặc điểm hình thái bên ngoài của chúng Các mẫu vật có nhiều đặc điểm hình thái giống nhau được xếp vào cùng 1 nhóm

Bước 2: Chọn những mẫu đẹp trong mỗi nhóm, đo kích thước chiều dài chuẩn (SL), ghi lại nhãn và mỗi mẫu vật để riêng vào 1 đĩa thủy tinh

Bước 3: Chụp ảnh mẫu vật: mẫu vật được chụp đặt trong khay nước và chụp vào lúc trời sáng Ghi số hiệu ảnh để đối chứng với kích thước của từng mẫu

6.2 Nguyên tắc phân loại

Trang 9

Dựa theo nguyên tắc phân loại động vật của Mayr (1969), tham khảo thêm tài liệu Nguyễn Ngọc Châu (2007)

6.3 Phương pháp đo, đếm hình thái

Đo đạc hình thái theo hướng dẫn của Pravdin (1961), tham khảo thêm các tài liệu: Mai Đình Yên (1978), Nguyễn Văn Hảo (2001, 2005), Rainboth (1996), Kottelat (2001)

và Nakabo (2002), Okamura (1997) Các chỉ số đo, đếm thể hiện ở bảng 3.1 và hình 3.2 Phân tích từ 13 đến 44 chỉ số đo, đếm tùy theo từng nhóm/từng loài theo các tài liệu cập nhật về công bố loài mới, taxon mới Phần này sẽ được trình bày rõ trong mô tả các loài Trong phòng thí nghiệm, chúng tôi tiến hành đo, đếm hình thái của tất cả 182 mẫu vật thu được Đo các kích thước bằng thước kẹp (Mitutoyo, Nhật Bản); đo, đếm vảy và tia vây bằng kính lúp hai mắt Nikon bội giác 10-40 đối với các kích thước nhỏ

Bảng 3.1 Số đo, đếm dùng trong định loại cá ở khu vực nghiên cứu

Các chỉ số đo

- Chiều dài chuẩn (SL) - Chiều dài vây ngực (LP)

- Chiều dài đầu (HL) - Chiều dài vây bụng (LV)

- Chiều cao của thân (BD) - Chiều dài tia vây đuôi (LC)

- Chiều cao cuống đuôi (DCP) - Chiều dài tia vây hậu môn (LA)

- Chiều dài cuống đuôi (LCP) - Chiều rộng đầu (HW)

- Khoảng cách trước vây lưng (PDL) - Chiều dài mõm (SnL)

- Chiều dài gốc vây lưng (LDB) - Đường kính mắt (ED)

- Chiều dài gốc vây hậu môn (LAB) - Phần sau mắt của đầu (POL)

- Chiều rộng thân (BW) - Khoảng cách giữa hai ổ mắt (IOW)

- Khoảng cách trước vây hậu môn (PAL) - Chiều dài hàm trên (UJL)

- Khoảng cách trước vây bụng (PVL) - Chiều dài hàm dưới (LJL)

- Khoảng cách trước vây ngực (PPL) - Chiều dài râu

Các chỉ số đếm

- Số tia vây lưng (D) - Số tia vây bụng (V)

- Số tia vây ngực (P) - Số tia vây hậu môn (A)

- Số lượng tia vây đuôi (C): tia phân nhánh

+ tia không phân nhánh

Trang 10

Gai cứng các vây ký hiệu bằng số La mã, tia đơn không hóa xương và các tia vây phân nhánh kí hiệu bằng chữ số Ả rập cách nhau bởi dấu phẩy (,)

- Số vảy đường bên (L.l)

- Số vảy trên đường bên (TRa): từ khởi

điểm gốc vây lưng xuống đường bên

- Số vảy dưới đường bên (TRb): từ khởi

điểm gốc vây hậu môn, hoặc gốc vây bụng

lên đường bên

- Số vảy dọc thân (LR) (ở các loài cá không có vảy đường bên)

- Số vảy ngang thân (TR) (ở các loài cá không có vảy đường bên)

- Số vảy trước vây lưng (PreD)

6.4 Phương pháp định loại tên khoa học các loài và mô tả

Định loại dựa vào đặc điểm hình thái ngoài

Các tài liệu chính dùng trong định loại: Các tài liệu chính dùng trong định loại: Nguyễn Văn Hảo (2001, 2005), Nguyễn Nhật Thi (1991), Nguyễn Khắc Hường (1991, 1993), Nakabo (2002), Okamura và Amaoka (2001) Sử dụng tài liệu Kottelat (2013) để kiểm tra và chỉnh sửa tên loài

Hệ thống phân loại sắp xếp theo Nelson (2016) Giống và loài sắp xếp theo alphalbet Mỗi loài trong danh sách các loài cá ở khu vực nghiên cứu được nêu tên Việt

Hình 3.2 Sơ đồ đo, đếm của loài Lateolabrax japonicus (theo Nakabo, 2002)

Ghi chú: ODF Gốc vây lưng; DS Gai cứng vây lưng; DR Tia vây lưng; OA Gốc

vây hậu môn; AS Gai cứng vây hậu môn; AR Tia vây hậu môn

Trang 11

Nam, tên khoa học kèm theo tên tác giả, năm công bố, địa điểm thu mẫu, số mẫu nghiên cứu, kích thước mẫu và cấp độ quí hiếm trong Danh lục Đỏ IUCN

Mô tả các loài theo Nguyễn Văn Hảo (2005), Nguyễn Khắc Hường (1991, 1993), Nakabo (2002) và mô tả chi tiết đối với các loài cá mới được phát hiện ở Việt Nam, các loài chưa định được tên loài

6.5 Phương pháp chuyên gia

Trong quá trình định loại, có những mẫu vật khó xác định vị trí trong hệ thống phân loại, sẽ nhờ sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Hữu Dực, PGS.TS Nguyễn Xuân Huấn

6.6 Phương pháp xử lý số liệu

Sử dụng các phần mềm Excel

7 Nội dung nghiên cứu

- Định loại và mô tả các loài cá ở Khu BTTN đất ngập nước Tiền Hải, Thái Bình

- Tổng hợp và lập danh sách các loài cá ở khu hệ nghiên cứu

- Đặc điểm phân bố của một số loài

- Đề xuất các giải pháp bảo tồn và sử dụng bền vững đa dạng sinh học của các loài cá

ở KVNC

8 Dự kiến kết quả nghiên cứu

8.1 Danh sách và thành phần loài cá ở Khu BTTN đất ngập nước Tiền Hải, Thái Bình 8.2 Mô tả một số loài cá thu được ở KVNC

8.3 Nhận xét về sự phân bố của các loài cá ở khu hệ nghiên cứu

8.4 Đề xuất các giải pháp bảo tồn và sử dụng bền vững đa dạng sinh học của các loài cá

ở KVNC

9 Kế hoạch thực hiện nghiên cứu

11/2018 Nhận đề tài, thu thập tài liệu

Trang 12

1/2019 Viết đề cương, trao đổi với giáo viên hướng dẫn

Từ 1/2019 đến 12/2019 Thu mẫu hàng tháng 1 lần

1/2019-1/2020 Định loại, phân tích mẫu trong phòng thí nghiệm

3-4/2020 Lập danh sách loài, xử lý số liệu

10 Tài liệu tham khảo

Tiếng Việt

1 Dương Ngọc Cường, Trần Minh Khoa (2004), Thành phần loài cá thuộc các xã phía Bắc

huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định, Tuyển tập Hệ sinh thái rừng ngập mặn vùng ven biển đồng bằng sông Hồng, NXB Nông nghiệp, Hà Nội: 99-105.

2 Nguyễn Hữu Dực (2010), Đa dạng thành phần loài cá vùng ven biển Đầm Hà-Tiên Yên,

Quảng Ninh, Tuyển tập hội thảo quốc gia Cần Giờ-Thành phố Hồ Chí Minh, Phục hồi và quản lý hệ sinh thái rừng ngập mặn trong bối cảnh biến đổi khí hậu, (Ban nghiên cứu hệ sinh

thái rừng ngập mặn -MERD, trung tâm nghiên cứu tài nguyên và môi trường -CRES, Đại học Quốc Gia, HN VNU): 207-215

3 Nguyễn Hữu Dực (2010), Thành phần loài cá cửa sông Hồng, Khu bảo tồn thiên nhiên Tiền

Hải, Thái Bình, Kỷ yếu hội thảo quốc gia lần thứ II, Môi trường và phát triển bền vững, Nxb

Nông nghiệp: 103-112

4 Nguyễn Văn Hảo (2005), Cá nước ngọt Việt Nam, tập 2, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội.

5 Nguyễn Văn Hảo (2005), Cá nước ngọt Việt Nam, tập 3, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội.

6 Nguyễn Văn Hảo (chủ biên), Ngô Sĩ Vân (2001), Cá nước ngọt Việt Nam, tập 1, Nxb Nông

nghiệp, Hà Nội

7 Phan Nguyên Hồng và Hoàng Thị Sản, 1993, Mangroves of Viet Nam, IUCN 16-17

8 Nguyễn Khắc Hường (1991), Cá biển Việt Nam, tập 2, quyển 1, Nxb Khoa học và Kỹ thuật

Hà Nội

9 Nguyễn Khắc Hường (1993), Cá biển Việt Nam, tập 2, quyển 2, Nxb Khoa học và Kỹ thuật

Hà Nội

Trang 13

10 Nguyễn Khắc Hường (1993), Cá biển Việt Nam, tập 2, quyển 3, Nxb Khoa học và Kỹ thuật

Hà Nội

11 Nguyễn Khắc Hường, Nguyễn Nhật Thi (1992), Cá biển Việt Nam, tập 1, Nxb Khoa học và

Kỹ thuật Hà Nội

12 Võ Văn Phú (1997), Thành phần loài của khu hệ cá đầm phá tỉnh Thừa Thiên Huế, Tạp chí Sinh học, 19 (2): 14-22.

13 Vũ Trung Tạng (2009), Sinh thái học các hệ cửa sông Việt Nam (Khai thác, duy trì và quản

lý tài nguyên cho phát triển bền vững), Nxb Giáo dục, Hà Nội.

14 Tống Xuân Tám, Nguyễn Thị Như Hân (2014), Xây dựng dữ liệu về các loài cá ở rừng ngập mặn Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh, Tạp chí Khoa học ĐHSP TPHCM, số 61: 74-81

15 Trần Thanh Thản (2004), Thành phần các loài cá thuộc Khu Bảo tồn thiên nhiên Tiền Hải, Thái Bình, NXB Nông nghiệp, Hà Nội: 107-115.

16 Nguyễn Nhật Thi (1991), Cá Biển Việt Nam – cá xương vịnh Bắc Bộ, NXB Khoa học và kỹ

thuật, Hà Nội

17 Tạ Thị Thủy (2011), Nghiên cứu thành phần loài, đặc điểm phân bố, tình hình khai thác và bảo vệ nguồn lợi cá ở lưu vực sông Ba Chẽ và sông Tiên Yên thuộc địa phận Việt Nam, Luận án

Tiến sĩ Sinh học

18 Nguyễn Thị Tường Vi, Lê Thị Thu Thảo, Nguyễn Thị Ngọc Nở, Võ Văn Quang (2014), Kết

quả bước đầu nghiên cứu khu hệ cá cửa sông Thu Bồn, tỉnh Quảng Nam, Tạp chí Khoa học và Công nghệ Biển, Tập 15, Số 1: 55-66

19 Mai Đình Yên (1978), Định loại cá nước ngọt các tỉnh phía Bắc Việt Nam, Nxb Khoa học và

Kỹ thuật.Tiếng Anh

20 Kottelat M (2000), Dianoses of new genus and 64 new species of fishes of Lao (Teleostei:

Cyprinidae, Balitoridae, Bagridae, Syngnathydae, Chauhuriidae and Tetraodontidae), J South Asian Nat Hisit., Vol.5, No.1: 37-82.

21 Kottelat M (2001), Freshwater fishes of Northern Vietnam, The World Bank

22 Kottelat M (2001), Fishes of Laos, WHT publication, Printed in Srilanca by Gunaratne

Offest Ltd

23 Mayr E (1974), Những nguyên tắc phân loại động vật (Bản dịch của Phan Thế Việt), Nxb

Khoa học và Kỹ thuật

24 Nakabo T (2002), Fishes of Japan, with pictorial keys to species, English edition I, II, Takai

University Press

25 Nelson J S (2016), Fishes of the World, 5th edn, Wiley, Hobken, NJ.

26 Rainboth W.J (1996), Fishes of the Cambodian Mekong, MRC, FAO, DANIDA

Tiếng Nhật

27 Okamura O., and Amaoka K (1997), Sea fishes of Japan, Yama-Kei, Akasaka, Minato-ku,

Tokyo

Website

http://thiennhienviet.org.vn/sourcebook/pdf/DB%20Song%20Hong/Tien%20Hai.pdf

Ngày đăng: 17/07/2019, 21:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w