DANH MỤC CÁC BẢNGBảng 3.1: Tần suất những khó khăn tâm lý của học sinh THCS người dân tộcthiểu số ở huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên...73Bảng 3.2: Tần suất và hiệu quả sử dụng của các cá
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Với tấm lòng thành kính, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của mìnhtới cô giáo hướng dẫn khoa học PGS.TS Phùng Thị Hằng, người đã hết lònggiúp đỡ, hướng dẫn em trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luậnvăn này
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy cô giáo khoa Tâm giáo dục học trường ĐHSP Hà Nội, đã giảng dạy, tạo mọi điều kiện, quan tâm
lý-và giúp đỡ em rất nhiều trong suốt quá trình học tập lý-và nghiên cứu
Em cũng xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu trường THCS BảoLinh và trường THCS Linh Thông, cùng các thầy giáo, cô giáo, các bậc phụhuynh, các em học sinh của hai trường đã nhiệt tình cộng tác, tạo mọi điềukiện thuận lợi cho em trong suốt thời gian thực hiện luận văn thạc sĩ Tâm lýhọc của mình
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 06 năm 2016
Học viên
Mai Thị Hương
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nhiên cứu 3
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3
4 Giả thuyết khoa học 3
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 4
7 Phương pháp nghiên cứu 4
8 Cấu trúc của luận văn 6
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHU CẦU THAM VẤN TÂM LÝ HỌC ĐƯỜNG CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ 7
1.1 Sơ lược lịch sử nghiên cứu về nhu cầu tham vấn tâm lý học đường 7
1.1.1 Trên thế giới 7
1.1.2 Ở Việt Nam 9
1.2 Những vấn đề chung về nhu cầu tham vấn tâm lý học đường 12
1.2.1 Nhu cầu 12
1.2.2 Tham vấn 22
1.2.3 Tâm lý học đường 32
1.2.4 Nhu cầu tham vấn tâm lý học đường 37
1.3 Nhu cầu tham vấn tâm lý học đường của học sinh THCS người dân tộc thiểu số 41
1.3.1 Một số đặc điểm tâm lý của học sinh THCS người dân tộc thiểu số 41
1.3.2 Những khó khăn tâm lý thường gặp của học sinh THCS là người dân tộc thiểu số 49
1.3.3 Nhu cầu tham vấn tâm lý học đường của học sinh THCS người dân tộc thiểu số 52
Trang 31.3.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu tham vấn tâm lý học đường của
học sinh THCS là người dân tộc thiểu số 59
Kết luận chương 1 63
Chương 2 TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 64
2.1 Một vài nét về địa bàn và khách thể nghiên cứu 64
2.1.1 Vài nét về địa bàn nghiên cứu 64
2.1.2 Vài nét về khách thể nghiên cứu 65
2.2 Tổ chức nghiên cứu 65
2.3 Các phương pháp nghiên cứu 67
2.3.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận 67
2.3.2 Phương pháp quan sát 67
2.3.3 Phương pháp trò chuyện 68
2.3.4 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi 68
2.3.5 Phương pháp chuyên gia 69
2.3.6 Phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình 70
2.3.7 Phương pháp thống kê toán học 70
Kết luận chương 2 72
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 73
3.1 Thực trạng khó khăn tâm lý của học sinh THCS người dân tộc thiểu số ở huyện Định Hóa tỉnh Thái Nguyên 73
3.1.1 Các lĩnh vực thường gặp khó khăn tâm lý của học sinh THCS người dân tộc thiểu số ở huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên 73
3.1.2 Mức độ ảnh hưởng của những khó khăn tâm lý đến cuộc sống, học tập của học sinh THCS người dân tộc thiểu số ở huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên 74
3.1.3 Cách thức giải quyết những khó khăn tâm lý của học sinh THCS người dân tộc thiểu số ở huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên và hiệu quả của các cách thức giải quyết 76
Trang 43.1.4 Các nhân tố tác động dẫn đến khó khăn tâm lý của học sinh THCS
người dân tộc thiểu số ở huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên 78
3.2 Thực trạng nhu cầu tham vấn tâm lý học đường của học sinh THCS người dân tộc thiểu số ở huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên 80
3.2.1 Nhu cầu tham vấn tâm lý trong lĩnh vực học tập 80
3.2.2 Nhu cầu tham vấn trong lĩnh vực sự phát triển tâm sinh lý 83
3.2.3 Nhu cầu tham vấn tâm lý trong lĩnh vực giao tiếp với cha mẹ, người thân 85
3.2.5 Nhu cầu tham vấn trong lĩnh vực tình bạn khác giới, tình yêu 90
3.2.6 Cách thức hỗ trợ mong muốn nhận được của học sinh THCS người dân tộc thiểu số ở huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên trước những khó khăn tâm lý 93
3.3 Nguyện vọng của học sinh THCS người dân tộc thiểu số ở huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên đối với gia đình, nhà trường và xã hội trong việc tham vấn tâm lý học đường 95
3.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu tham vấn tâm lý học đường của học sinh THCS người dân tộc thiểu số ở huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên 99
3.5 Kết quả nghiên cứu hai trường hợp điển hình 102
3.5.1 Trường hợp 1 ở trường THCS xã Bảo Linh huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên 102
3.5.2 Trường hợp 2 ở trường THCS xã Linh Thông, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên 104
3.6 Một số biện pháp tác động tâm lý- sư phạm đến nhu cầu tham vấn tâm lý học đường của học sinh THCS người dân tộc thiểu số ở huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên 106
Kết luận chương 3 108
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 109
TÀI LIỆU THAM KHẢO 113 PHỤ LỤC
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1: Tần suất những khó khăn tâm lý của học sinh THCS người dân tộcthiểu số ở huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên 73Bảng 3.2: Tần suất và hiệu quả sử dụng của các cách giải quyết KKTL củahọc sinh THCS người dân tộc thiểu số ở huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên 76Bảng 3.3: Các nhân tố tác động dẫn đến KKTL cho học sinh THCS người dântộc thiểu số ở huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên 79Bảng 3.4: Mức độ gặp khó khăn và nhu cầu tham vấn trong lĩnh vực học tập 81Bảng 3.5: Mức độ khó khăn và NCTV trong lĩnh vực sự phát triển tâm sinh lý .84Bảng 3.6: Mức độ khó khăn và NCTV trong lĩnh vực quan hệ với cha mẹ,người thân 86Bảng 3.7: Mức độ khó khăn và NCTV trong lĩnh vực quan hệ với thầy cô giáo 89Bảng 3.8: Mức độ khó khăn và NCTV trong lĩnh vực tình bạn khác giới, tình yêu 91Bảng 3.9: Nguyện vọng của học sinh đối với gia đình, nhà trường, thầy côgiáo và xã hội trong việc tham vấn tâm lý học đường 95Bảng 3.10: Những yếu tố ảnh hưởng đến NCTVTLHĐ của học sinh THCSngười dân tộc thiểu số ở huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên 100
Trang 6DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1 Mức độ ảnh hưởng của những khó khăn tâm lý đến cuộc sống, học tập của học sinh THCS người dân tộc thiểu số ở huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên 74 Biểu đồ 3.2: Cách thức hỗ trợ các em mong muốn 93
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Lĩnh vực tham vấn tâm lý là một lĩnh vực hoạt động trợ giúp chongười đang có khó khăn tâm lý để họ thực hiện được điều họ mong muốntrong cuộc sống Hay nói cách khác tham vấn tâm lý chính là hoạt động giúpcon người nâng cao khả năng tự giải quyết những khó khăn tâm lý gặp phảitrong cuộc sống Để giúp đỡ cá nhân duy trì được sự thăng bằng tâm lý, tăngcường khả năng ứng phó với các vấn đề nảy sinh trong cuộc sống hàng ngày.Trong quá trình đó, nhà tham vấn sử dụng kiến thức, kỹ năng để thiết lập mốiquan hệ tương tác tích cực nhằm giúp đối tượng nhận thức được bản thâncùng với vấn đề và các nguồn lực, qua đó tự xác định các giải pháp để giảiquyết vấn đề một cách có hiệu quả Nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là cácnước phát triển đã sử dụng dịch vụ tham vấn tâm lý như một công cụ đắc lựcgiúp cho cá nhân phát triển Nếu như ngành y là công cụ để giúp con ngườitrở nên khỏe mạnh, ổn định về thể chất thì hoạt động tham vấn tâm lý đóngvai trò giúp cho cá nhân đảm bảo tình trạng sức khỏe tinh thần, nâng cao chấtlượng cuộc sống
Sự phát triển của con người trải qua nhiều giai đoạn lứa tuổi khác nhau.Trong đó, lứa tuổi thiếu niên là một thời kỳ phát triển chiếm một vị trí đặcbiệt quan trọng Tuổi thiếu niên là giai đoạn phát triển của trẻ từ 11- 15 tuổi.Đây là lứa tuổi có bước nhảy vọt về thể chất lẫn tinh thần, các em đang táchdần khỏi thời thơ ấu để tiến sang giai đoạn phát triển cao hơn (người trưởngthành) Chính điều đó đã tạo nên nội dung cơ bản và sự khác biệt trong mọimặt phát triển: thể chất, trí tuệ, tình cảm, đạo đức của thời kỳ này Đây làthời kỳ chuyển tiếp từ tuổi thơ sang tuổi trưởng thành và được phản ánh bằngnhiều tên gọi khác nhau như: “Thời kỳ quá độ”, “Tuổi khó bảo”, “Tuổi khủnghoảng”, “Tuổi bất trị” Ở lứa tuổi thiếu niên có sự tồn tại song song “vừa
Trang 9tính trẻ con, vừa tính người lớn”, điều này phụ thuộc vào sự phát triển mạnh
mẽ về cơ thể, sự phát dục, điều kiện sống, hoạt động của các em Sự mâuthuẫn giữa nhu cầu vươn lên làm người lớn và địa vị thực tế của học sinhTHCS đã tạo nên những khó khăn tâm lý trong tâm hồn của các em
Thực tế cho thấy, ở mỗi giai đoạn lứa tuổi các em có những vấn đề tâm
lý lứa tuổi riêng Đặc biệt là lứa tuổi học sinh THCS, tâm lý của các emthường chưa ổn định, đôi khi các em tự trầm trọng hóa những vướng mắc củamình, dẫn đến dễ chán nản, bất lực Trước xu thế phát triển của thời đại, kéotheo những biến đổi sâu sắc của xã hội đã đặt mọi người nói chung và họcsinh THCS nói riêng vào những cơ hội phát triển mới, đồng thời cũng phảiđối mặt với những thách thức, khó khăn mới Sự kỳ vọng quá cao của cha mẹ,thầy cô đang tạo nên áp lực rất lớn và gây căng thẳng cho học sinh trong cuộcsống và trong học tập Trong khi đó, sự hiểu biết của các em về bản thân cũngnhư kỹ năng sống của các em vẫn còn nhiều hạn chế
Hoạt động tham vấn tâm lý ở Việt Nam hiện nay phát triển tương đốimạnh mẽ với nhiều loại hình đa dạng và phong phú nhằm trợ giúp cho thânchủ nâng cao khả năng tự giải quyết những khó khăn tâm lý gặp phải trongcuộc sống Tuy nhiên hoạt động tham vấn chuyên biệt cho học sinh THCS,đặc biệt là học sinh THCS người dân tộc thiểu số, để đáp ứng nhu cầu thamvấn học đường ở các em trong lĩnh vực học tập và quan hệ giao tiếp, ứng xửvẫn còn là một lĩnh vực tương đối mới mẻ, cần được nghiên cứu và ứng dụng.Tâm lý học đường đang thực sự trở thành một trong những mối quan tâmhàng đầu của xã hội Vấn đề đặt ra là làm thế nào để có những biện pháp hỗtrợ tích cực, đáp ứng hiệu quả nhu cầu tâm lý học đường cho các em, nhằmgiúp các em vượt qua những khó khăn tâm lý trong cuộc sống, học tập, giúpcác em ý thức được sự phát triển của bản thân, tự tin trong hoạt động, tránhđược những cám dỗ ngoài xã hội
Trang 10Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài:
“Nhu cầu tham vấn tâm lý học đường của học sinh Trung Học Cơ Sở người dân tộc thiểu số ở huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên” với hy vọng
góp phần nào vào việc nghiên cứu nhu cầu tham vấn tâm lý học đường chohọc sinh THCS của tỉnh nhà để giúp đỡ các em tháo gỡ các khó khăn tâm lý,vượt qua thời kỳ khủng hoảng của lứa tuổi này
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Học sinh các khối lớp 6,7,8,9 thuộc hai trường THCS Bảo Linh vàTHCS Linh Thông, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Nhu cầu tham vấn tâm lý học đường của học sinh THCS người dân tộcthiểu số ở huyện Định hóa, tỉnh Thái nguyên
4 Giả thuyết khoa học
Học sinh THCS người dân tộc thiểu số ở huyện Định Hóa, tỉnh TháiNguyên đã và đang gặp những khó khăn tâm lý nhất định trong 5 lĩnh vực chủyếu: Học tập; sự phát triển tâm sinh lý của bản thân; giao tiếp với cha mẹ,người thân; giao tiếp với thầy cô giáo; tình bạn khác giới, tình yêu Các em cónhu cầu được tham vấn tâm lý học đường ở các mức độ khác nhau đối với cáclĩnh vực kể trên Nếu nhận được sự chia sẻ, tham vấn của các nhà tâm lý, cácnhà giáo dục thì các em sẽ tự tin hơn trong việc giải quyết những vướng mắccủa mình
Trang 115 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản có liên quan đến tâm lý họcđường; nhu cầu tham vấn tâm lý học đường của học sinh THCS
5.2 Khảo sát thực trạng nhu cầu tham vấn tâm lý học đường của học sinhTHCS người dân tộc thiểu số ở huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên
5.3 Đề xuất một số biện pháp tác động tâm lý- sư phạm đến nhu cầu tham vấntâm lý học đường của học sinh THCS người dân tộc thiểu số ở huyện Định Hóa,tỉnh Thái Nguyên, nhằm góp phần phát triển nhân cách toàn diện cho các em
6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
6.1 Giới hạn về đối tượng nghiên cứu
Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu thực trạng nhu cầu tham vấn tâm lý họcđường của học sinh THCS người dân tộc thiểu số trên 5 lĩnh vực: Học tập; sựphát triển tâm sinh lý của bản thân; giao tiếp với cha mẹ, người thân; giao tiếpvới thầy cô giáo; tình bạn khác giới, tình yêu
6.2 Giới hạn về khách thể nghiên cứu
Chúng tôi chọn ngẫu nhiên 8 lớp, trong đó có 4 lớp (thuộc các khối lớp
6, 7, 8, 9) của trường THCS Bảo Linh và 4 lớp (thuộc các khối lớp 6, 7, 8, 9)của trường THCS Linh Thông, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên Tổng sốkhách thể nghiên cứu là 200 em học sinh người dân tộc thiểu số
6.3 Giới hạn về địa bàn nghiên cứu
Trường THCS Bảo Linh và trường THCS Linh Thông, huyện ĐịnhHóa, tỉnh Thái Nguyên
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Tiến hành phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa khái quát hóa các tài liệu
có liên quan đến vấn đề nghiên cứu để xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài
Trang 127.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1 Phương pháp quan sát
Chúng tôi tiến hành quan sát hành vi, cử chỉ của các em học sinh tronghoạt động, giao tiếp Từ đó, có thêm được những thông tin về những khó khăntâm lý thường gặp trong cuộc sống và học tập của các em
7.2.2 Phương pháp trò chuyện
Chúng tôi tiến hành trò chuyện trực tiếp với các em học sinh cũng nhưcác thầy cô giáo trong trường để tìm hiểu thêm về thực trạng nhu cầu thamvấn tâm lý học đường của các em
7.2.3 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Đây là phương pháp chính chúng tôi sử dụng để nghiên cứu trong luậnvăn này Thông qua hệ thống câu hỏi đã được soạn sẵn nhằm khảo sát thựctrạng nhu cầu tham vấn tâm lý học đường của học sinh THCS trong một sốkhía cạnh như: học tập; sự phát triển tâm sinh lý của bản thân; giao tiếp vớicha mẹ, người thân; giao tiếp với thầy cô giáo; tình bạn khác giới, tình yêu.Các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu tham vấn tâm lý học đường của các emhọc sinh
7.2.4 Phương pháp chuyên gia
Xin ý kiến của các chuyên gia về các vấn đề có liên quan đến nhu cầu,tham vấn, tâm lý học đường, nhu cầu tham vấn tâm lý học đường để tiến hànhxây dựng cơ sở lý luận cho đề tài
7.2.5 Phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình
Nghiên cứu sâu một số trường hợp cụ thể, có khó khăn tâm lý điển hình
và có nhu cầu cấp thiết cần được tham vấn tâm lý học đường Chúng tôi sửdụng phương pháp khảo sát bằng các bảng hỏi, đồng thời kết hợp với cácphương pháp quan sát, và trò chuyện, để khai thác thông tin về thực trạng khókhăn vướng mắc tâm lý và nhu cầu được tham vấn tâm lý học đường
Trang 137.3 Các phương pháp thống kê toán học
Sử dụng các công thức toán học như tính phần trăm, tính trung bìnhcộng, độ lệch chuẩn Nhằm lượng hóa các kết quả thu được từ quá trình điềutra viết, quá trình quan sát và trò chuyện
8 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu; Kết luận; Khuyến nghị; Tài liệu tham khảo; Phụlục, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về nhu cầu tham vấn tâm lý học đường của
học sinh trung học cơ sở người dân tộc thiểu số
Chương 2: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Trang 14Tham vấn tâm lý học đường (School Counseling) hay còn gọi là thamvấn học đường là một nhánh của ngành tham vấn tâm lý được xuất hiện vàođầu thế kỷ 20 tại Hoa Kỳ Jesse B Davis có thể được xem là một trong nhữngngười đầu tiên trong lĩnh vực này khi giới thiệu một chương trình “Nhữnghướng dẫn về nghề nghiệp và đạo đức” (Vocational and Moral Guidance) chohọc sinh các trường học công Frank Parsons, được xem như cha đẻ của nghềHướng dẫn (còn gọi Khải đạo), đã viết cuốn sách “Chọn lựa một nghề ”(Choosing a Vocation) vào năm 1909 qua đó trình bày phương pháp kết nốinhững đặc điểm tính cách của một cá nhân với một nghề nghiệp Jesse Davis,Frank Parsons, Eli Weaver và nhiều người khác nữa đã tạo thành một trào lưuthúc đẩy cho sự phát triển của ngành tham vấn học đường.
Thế chiến thứ nhất, xuất hiện nhu cầu đánh giá (trắc nghiệm) các cánhân, từ lúc này thuật ngữ nhà tham vấn (counselor), thường được đề cập như
là những chuyên gia làm việc với những người trầm cảm, đã bắt đầu trở thànhmột phần trong từ điển của các nhà giáo dục
Thế chiến thứ hai kết thúc với những hậu quả nặng nề làm nảy sinh mộtnhu cầu rất lớn về các trắc nghiệm tâm lý và nó đã tác động một cách trực tiếp
Trang 15đến hoạt động khải đạo trong trường học Cũng vào thời gian thế chiến thứhai này, chính phủ Hoa Kỳ đã đưa ra yêu cầu cho các nhà tham vấn làm côngviệc sàng lọc, tuyển chọn các quân nhân và những chuyên gia cho các ngànhcông nghiệp Những năm 1930, lý thuyết đầu tiên về Khải đạo được giớithiệu: Lý thuyết về các nhân tố và đặc điểm của E G Williamson, (E G.Williamson’s Trait and Factor theory) Lý thuyết này trở nên nổi tiếng như làmột sự chỉ đạo cho hoạt động tham vấn.
Năm 1940, đạo luật George Barden (George Barden Act) – đạo luật vềgiáo dục hướng nghiệp – ra đời đã mang lại những nguồn lực quan trọng cho
sự phát triển và hỗ trợ hoạt động khải đạo và tham vấn trong môi trường họcđường cũng như những môi trường khác Đây là lần đầu tiên những nhàtham vấn học đường, những kiểm huấn viên địa phương và các tiểu ban nhậnđược những sự hỗ trợ chính thức từ chính phủ (sự điều hành, tài chính vànguồn nhân lực…)
Năm 1957, năm mà vệ tinh Sputnik của Nga được phóng vào quỹ đạocũng là thời điểm mà ngành tham vấn và khải đạo được “phóng lên” Tiếptheo đó, đạo luật Nat’l Defense Ed Act (NDEA) ra đời năm 1958 Đạo luậtNDEA tập trung vào hai vấn đề: thứ nhất, cung cấp những nguồn lực để cácbang thiết lập và duy trì các hoạt động tham vấn, trắc nghiệm và khải đạotrong trường học; thứ hai, ủy quyền và cho phép các trường cao đẳng và đạihọc thiết kế các chương trình đào tạo tham vấn học đường
Năm 1953, hiệp hội các nhà tham vấn tâm lý học đường Hoa Kỳ(ASCA) tham gia vào APGA (American Personnel and GuidanceAssociation), tiền thân của hiệp hội tham vấn tâm lý Hoa Kỳ ACA (AmericanCounseling Association) ngày nay Năm 1962, cuốn sách của Wrenn, Nhàtham vấn trong một thế giới thay đổi (The Counselor in a Changing World) đã
Trang 16định chế hóa các mục tiêu của tham vấn học đường Năm 1964, ASCA pháttriển các vai trò và chức năng dành cho các nhà tham vấn học đường.
Năm 1965, đạo luật Giáo dục Tiểu học và Trung học (Elementary andSecondary Education Act) ra đời và cung cấp nguồn quỹ để phát triển những
cơ hội giáo dục cho những gia đình nghèo Đến những năm 80s và 90s, nhucầu về việc làm rõ những đặc tính và vai trò của nhà tham vấn học đườngđược xuất hiện với sự “chín muồi” của những vấn đề pháp lý liên quan
Năm 1997, Tiêu chuẩn quốc gia dành cho các chương trình tham vấnhọc đường (National Standards for School Counseling Programs) ra đời và kể
từ đó, ngành tham vấn học đường được xem là đã hoàn thiện
Hiện nay, hiệp hội các nhà tham vấn học đường Hoa Kỳ (ASCA) đượcxem là nguồn tham khảo và kiểu mẫu cho các chương trình tham vấn tâm lýhọc đường của hầu hết các nước trên thế giới ASCA hiện tại có hơn 23.000hội viên trên toàn thế giới và là một phân hội của ACA với hơn 60.000 hộiviên trên toàn thế giới.
1.1.2 Ở Việt Nam
Trước năm 1975 tại miền Nam Việt Nam, chương trình khải đạo họcđường đã được triển khai trong các trường học Sau ngày thống nhất đất nước,với sự thay đổi gần như hoàn toàn cách thức tiếp cận của giáo dục, chương trìnhkhải đạo đã không còn tồn tại trong các trường học với đúng nghĩa của nó
Trong khoảng 10 năm trở lại đây, với sự xuất hiện hàng loạt những vấn đềliên quan đến đạo đức, kỷ luật trường học, học sinh tự tử, áp lực thi cử, nhữngrối loạn tâm lý, quan hệ thầy trò… của các trường học Việt Nam, những nhàgiáo dục, tâm lý, những tổ chức và các cơ quan hữu trách đã “giật mình” và bắtđầu đề cập đến việc phải có các hoạt động tham vấn tâm lý trong trường học
Từ khoảng năm 2000, nhiều trường học tại Tp HCM như trườngKhánh Hội A – quận 4, Nguyễn Gia Thiều – quận Tân Bình, Diên Hồng –
Trang 17quận 10, Trương Công Định, Phú Mỹ – quận Bình Thạnh, Mạc Đỉnh Chi –quận 6 và rất nhiều trường khác nữa… đã chủ động phối hợp với các chuyênviên tâm lý và các tổ chức trong và ngoài nước để triển khai các chương trìnhtham vấn học đường cho học sinh.
Năm 2003, hội thảo “Nhu cầu tư vấn học đường tại Tp HCM” đượcViện Nghiên cứu Giáo dục, trường ĐHSP Tp HCM tổ chức với sự tham giacủa nhiều nhà tâm lý, giáo dục và hiệu trưởng các trường có hoạt động thamvấn học đường để “mổ xẻ” và kêu gọi sự quan tâm của giới chuyên môn cũngnhư các cơ quan chính phủ trong việc có các chiến lược nhằm phát triển hoạtđộng tham vấn học đường tại Việt Nam Cũng trong thời gian này, một vàisinh viên khoa Tâm lý – Giáo dục trường ĐHSP Tp HCM đã chọn đề tài choluận văn tốt nghiệp của mình về vấn đề tham vấn học đường Những “sựkiện” này được xem là những bước khởi đầu cho nhiều sự thay đổi tiếp theocủa ngành tham vấn học đường tại Việt Nam
Năm 2004, Trung tâm Hỗ trợ tư vấn tâm lý (CACP) thuộc trường Đạihọc khoa học xã hội và nhân văn Hà Nội được thành lập và cũng đề cập đếnhoạt động nghiên cứu và hỗ trợ hoạt động tham vấn học đường
Năm 2005, với sự chấp thuận của Ủy ban Dân số – Gia đình – Trẻ em
Tp HCM và sự hỗ trợ của UNICEF, Văn phòng tư vấn trẻ em Tp HCM đã tổchức hội thảo “Kinh nghiệm bước đầu thực hiện mô hình tham vấn trongtrường học” cũng nhận được sự quan tâm và chia sẻ kinh nghiệm thực tế củanhiều chuyên gia và những nhà lãnh đạo các trường học Đầu năm 2006, hộinghị toàn quốc về “Tư vấn tâm lý – giáo dục – thực tiễn và định hướng pháttriển” do Hội khoa học Tâm lý – Giáo dục Tp HCM tổ chức cũng đề cập đếnvấn đề tham vấn học đường như là một điều “khẩn thiết” nhằm hỗ trợ họcsinh và nhà trường trong hoạt động giáo dục Sở Giáo dục – Đào tạo Tp.HCM cũng tổ chức những buổi sinh hoạt đề cập đến hoạt động tư vấn học
Trang 18đường trong thời gian này với sự tham gia của các nhà tâm lý, giáo dục, nhàtrường và phụ huynh học sinh
Trong khoảng thời gian này, một văn bản của Bộ Giáo dục đã được banhành nhằm chỉ đạo và hướng dẫn các Sở và trường học cùng những tổ chứcliên quan trong việc triển khai thực hiện chương trình tham vấn học đường
Ngoài ra, chuyên mục tham vấn học đường do báo Phụ nữ Tp HCMkhởi xướng (ThS Nguyễn Thị Oanh phụ trách) cũng nhận được sự hưởng ứngrất nhiệt tình của đông đảo học sinh, phụ huynh và các trường học Tháng 06năm 2006, cuốn sách “Tư vấn tâm lý học đường” của tác giả Nguyễn ThịOanh đã được nhà xuất bản Trẻ phát hành trên toàn quốc
Những nghiên cứu trong khuôn khổ các luận án tiến sĩ Tâm lý học tạiViện tâm lý học, luận văn thạc sĩ tâm lý học tại khoa tâm lý học, Đại họcKHXH & NV được thực hiện đều đề cập đến nhiều khía cạnh về TLHĐ như:động cơ học tập của học sinh, sinh viên; phát triển trí tuệ của trẻ mẫu giáo,lớp 1; khó khăn tâm lý của trẻ; tính người lớn của học sinh THCS; giao tiếpgiữa cha mẹ và con cái [16; tr 312-319]
Hội thảo khoa học quốc tế Hà Nội, ngày 3- 4 tháng 8 năm 2009 với chủ
đề nhu cầu định hướng và đào tạo Tâm lý học đường; hội nghị quốc tế lần 2
về tâm lý học đường ở Việt Nam được tổ chức tại Thừa Thiên Huế, trườngĐHSP Tp HCM đã tiến hành tổ chức “Hội thảo Quốc tế Tâm lý học đườngtại Việt Nam lần thứ 3- phát triển mô hình và kỹ năng hoạt động Tâm lý họcđường” từ ngày 26/7 đến ngày 27/7/2012
Trước đó đã có nhiều công trình bàn về vấn đề TLHĐ như: tác giảTriệu Thị Hương, Học viện Cảnh sát nhân dân nghiên cứu về “thực trạng nhucầu tham vấn tâm lý của sinh viên Học viện Cảnh sát nhân dân”; tác giảNguyễn Thị Mùi, tác giả Nguyễn Thị Thanh Hồng, CN Nguyễn Thị HảiThiện, CN Trần Văn Thức, trường ĐHSP Hà Nội nghiên cứu về “nhu cầu
Trang 19tham vấn của học sinh một số trường trung học trên địa bàn thành phố Hà Nội”hay “nhu cầu tham vấn trong xã hội hiện đại” của tác giả Trần Quốc Thành,trường ĐHSP Hà Nội.
Một số trường, trung tâm giáo dục, nghiên cứu đã và đang từng bướcứng dụng TLHĐ vào trong trường học, đồng thời nhiều trung tâm cũng cónhiều hoạt động chuyên môn liên quan tới lĩnh vực TLHĐ như: trường THPTNguyễn Tất Thành, trường THPT Nguyễn Bỉnh Khiêm, trung tâm công nghệ-giáo dục
Đến nay, vấn đề tham vấn học đường tại Việt Nam đã trở thành một đềtài nóng bỏng và nhận được nhiều sự ủng hộ từ các em học sinh, phụ huynh,nhà trường, các nhà tâm lý – giáo dục và các tổ chức thuộc chính phủ cũngnhư các tổ chức phi chính phủ
Với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin cũng như của toàn
xã hội, nhu cầu tham vấn tâm lý học đường đã và đang trở thành nhu cầu cấpthiết, thu hút được sự quan tâm của toàn xã hội
1.2 Những vấn đề chung về nhu cầu tham vấn tâm lý học đường
1.2.1 Nhu cầu
1.2.1.1 Khái niệm nhu cầu
Theo tư tưởng của C.Mác thì “tiền đề đầu tiên của mọi sự tồn tại củacon người, và do đó là tiền đề của mọi lịch sử, đó là: người ta phải có khảnăng sống đã rồi mới có thể “làm ra lịch sử” Nhưng muốn sống được thìtrước hết phải có thức ăn, nước uống, nhà ở, quần áo và một vài thứ khác nữa.Như vậy, hành vi lịch sử đầu tiên là việc sản xuất ra những tư liệu để thỏamãn những nhu cầu ấy (sản xuất ra bản thân đời sống vật chất) Hơn nữa, đó
là một hành vi lịch sử, một điều kiện cơ bản của lịch sử mà người ta phải thựchiện hằng ngày, hằng giờ, chỉ nhằm để duy trì đời sống con người
Trang 20Theo Từ điển Bách khoa Toàn thư Triết học (Liên Xô)- nhu cầu là sựcần hay thiếu hụt một cái gì đó thiết yếu để duy trì hoạt động sống của cơ thểmột cá nhân con người, một nhóm xã hội hoặc toàn bộ xã hội nói chung Nhucầu là động cơ bên trong của tính tích cực [4]
Nhà tâm lý học Xô Viết A.G.Covaliop tiếp cận khái niệm nhu cầu với
tư cách là nhu cầu của nhóm xã hội Ông cho rằng: “nhu cầu là sự đòi hỏi củacác cá nhân và nhóm xã hội khác nhau muốn có những điều kiện nhất định đểsống và để phát triển Nhu cầu quy định sự hoạt động xã hội của cá nhân, cácgiai cấp và tập thể” [1]
Abraham Maslow (1908- 1970)- nhà tâm lý học Mỹ đại diện chotrường phái tâm lý học nhân văn, với lý thuyết phân bậc nhu cầu đã nhận địnhrằng: “khi một nhu cầu được thỏa mãn thì nó không còn là động lực thúc đẩy
Và những nhu cầu cơ bản của con người được ông xác định theo cấp bậc tăngdần và thể hiện trong các mức độ khác nhau”
B.Ph Lomov nhà tâm lý học Nga nổi tiếng khi nghiên cứu về nhâncách, ông cũng đã đề cập khá nhiều đến nhu cầu Ông cho rằng nhu cầu như
là một thuộc tính của nhân cách “Nhu cầu cá nhân là đòi hỏi nào đó của nó
về những điều kiện và phương tiện nhất định cho sự tồn tại và phát triển.Nhu cầu đó nhất thiết bắt nguồn từ những quá trình xảy ra có tính kháchquan trong đó cá nhân tham dự vào suốt cả đời sống của mình Dĩ nhiên, nhucầu là trạng thái của cá nhân, nhưng là nhu cầu về một cái gì đó nằm ngoài
cá nhân” [17]
A.N Leonchiev (1903- 1979)- nhà tâm lý học Nga cho rằng: “Nhu cầu
là một trạng thái của con người cần một cái gì đó cho cơ thể nói riêng Nhucầu luôn có đối tượng, có thể là vật chất hoặc tinh thần chứa đựng khả năngthỏa mãn nhu cầu Nhu cầu có vai trò định hướng, là động lực bên trong kíchthích hoạt động của con người” [2]
Trang 21Theo từ điển của bác sĩ Nguyễn Khắc Viện (2001), “Nhu cầu là điềucần thiết để đảm bảo tồn tại và phát triển” [21, tr 266].
Theo từ điển tâm lý học của tác giả Vũ Dũng, “nhu cầu là trạng thái của
cá nhân xuất phát từ chỗ nhận thấy cần những đối tượng cần thiết cho sự tồntại và phát triển của mình, là nguồn gốc tích cực của cá nhân”[5, tr 190]
Như vậy, dù là nhu cầu cá nhân hay nhu cầu xã hội, nó vẫn là biểu hiệnmối quan hệ tích cực của con người đối với hoàn cảnh sống Nhờ có nhu cầumới có hoạt động, con người nhờ đó mà có khả năng vượt qua khó khăn thửthách nảy sinh trong hoạt động Hoạt động của con người luôn hướng vào đốitượng nào đó và nhờ đó mà nhu cầu được thỏa mãn Tính tích cực của cá nhânbộc lộ trong quá trình chiếm lĩnh đối tượng để thỏa mãn nhu cầu và đòi hỏicon người phải có kinh nghiệm, tri thức và sáng tạo ra công cụ lao động.Công cụ lao động và hiểu biết là điều kiện để con người tác động vào thế giới
sự vật hiện tượng làm cho đối tượng bộc lộ để chiếm lĩnh, đồng thời với sựthỏa mãn nhu cầu, con người lại tích lũy thêm tri thức, kinh nghiệm phongphú hơn Điều đó cho thấy nhu cầu thể hiện mối quan hệ tích cực của cá nhânvới hoàn cảnh
Nhu cầu là hình thức tồn tại của mối quan hệ giữa cơ thể sống và thếgới xung quanh, là nguồn gốc của tính tích cực, mọi hoạt động của con ngườiđều là quá trình tác động vào đối tượng nhằm thỏa mãn nhu cầu nào đó Dovậy, nhu cầu được hiểu là trạng thái cảm nhận được sự cần thiết của đối tượngđối với sự tồn tại và phát triển của mình Nhu cầu khi được thỏa mãn sẽ tạo ranhững nhu cầu mới ở mức độ cao hơn, con người sau khi hoạt động để thỏamãn nhu cầu thì phát triển, và nảy sinh ra nhu cầu cao hơn nữa Và như vậy,nhu cầu vừa được coi là tiền đề, vừa được coi là kết quả của hoạt động Nhucầu là tiền đề của sự phát triển
Trang 22Có rất nhiều quan điểm khác nhau về nhu cầu, trên cơ sở phân tích cácquan điểm của các nhà nghiên cứu về nhu cầu và trên phạm vi của đề tàinghiên cứu, chúng tôi thống nhất lựa chọn và sử dụng khái niệm nhu cầu củatác giả Nguyễn Quang Uẩn : “Nhu cầu là sự thể hiện mối quan hệ tích cực của cá nhân đối với hoàn cảnh, là những đòi hỏi tất yếu mà cá nhân thấy cần
được thỏa mãn để tồn tại và phát triển” là khái niệm cơ bản của đề tài [19]
1.2.1.2 Đặc điểm nhu cầu
a, Nhu cầu bao giờ cũng có đối tượng
Đối tượng của nhu cầu là tất cả những yếu tố vật chất và tinh thần trongthế giới hiện thực có thể thỏa mãn được yêu cầu để tồn tại và phát triển Khinào nhu cầu gặp đối tượng có khả năng đáp ứng được sự thỏa mãn thì lúc đónhu cầu trở thành động cơ thúc đẩy con người hoạt động nhằm hướng đến đốitượng Đối tượng của nhu cầu càng được xác định cụ thể, rõ ràng thì ý nghĩacủa nó đối với đời sống cá nhân và xã hội càng được nhận thức sâu sắc vànhanh chóng được nảy sinh, củng cố và phát triển
Muốn hướng con người vào một hành vi nhất định, phải nghiên cứu hệthống nhu cầu của cá nhân đó, giúp họ ý thức được nhu cầu của họ Tạo điềukiện gặp gỡ giữa các nhu cầu đối tượng
Tính đối tượng của nhu cầu được xuất hiện trong hoạt động có đốitượng của chủ thể Nhu cầu với tư cách là một năng lực hướng dẫn, điềuchỉnh hoạt động khi được “đối tượng hóa” là điều kiện nảy sinh tâm thế Với
ý nghĩa đó, nhu cầu thực sự là một cấp độ của phản ánh tâm lý, ở cấp độ này,nhu cầu được phát triển thông qua sự phát triển nội dung đối tượng của nhucầu Đây chính là đặc điểm đặc trưng của nhu cầu ở con người
b, Nhu cầu có tính ổn định
Trong xu thế vận động, nhu cầu có thể xuất hiện lặp đi lặp lại (thôngthường ở mức độ cao hơn) khi sự đòi hỏi gây ra nhu cầu tái hiện Tính ổn
Trang 23định của nhu cầu được thể hiện bởi tần số xuất hiện một cách thường xuyên,liên tục Tính ổn định của nhu cầu thể hiện ở cấp độ cao của nhu cầu: cấp độtâm lý, nhu cầu là một thuộc tính tâm lý Nhu cầu càng phát triển ở mức độcao thì càng ổn định, càng bền vững.
Nhu cầu của con người cũng phụ thuộc vào những điều kiện và phươngthức sinh hoạt của gia đình và xã hội Cho nên muốn cải tạo những nhu cầuxấu xa ở con người trước hết phải cải tạo cơ sở xã hội đã làm nảy sinh ra nó.Muốn làm nảy sinh những nhu cầu tốt phải tạo ra những điều kiện và phươngthức sinh hoạt tưng ứng với nó
c, Nhu cầu có tính chu kỳ
Khi một nhu cầu nào đó được thỏa mãn không có nghĩa là nhu cầu ấy
đã chấm dứt mà nó chỉ tạm thời lắng xuống sau một thời gian lại tiếp tục táidiễn, nếu người ta vẫn còn sống và phát triển trong điều kiện và phương thứcsinh hoạt cũ, sự tái diễn đó thường có tính chất chu kỳ Tính chất chu kỳ này
là do sự biến đổi có tính chất chu kỳ của hoàn cảnh xung quanh và của cơ thểgây ra
1.2.1.3 Mối quan hệ giữa nhu cầu với một số thành tố xu hướng của nhân cách
a, Nhu cầu và động cơ
Nhu cầu có quan hệ chặt chẽ với động cơ Bất cứ hoạt động nào củachủ thể cũng có động cơ Đây là thành phần không thể thiếu, đóng vai trò thúcđẩy hoạt động của chủ thể Khi quan niệm nhu cầu là những đòi hỏi về vậtchất , tinh thần của cá nhân, cần được thỏa mãn để tồn tại và phát triển, màchỉ có thể thỏa mãn được bằng hoạt động chiếm lĩnh đối tượng của chính cánhân đó, thì mặc nhiên đã coi nhu cầu là yếu tố cấu thành hệ thống động cơcủa cá nhân
Trang 24A.N Leonchiev đã quan niệm động cơ như là đối tượng trả lời nhu cầunày hay nhu cầu khác Sự phát triển của hoạt động, của động cơ sẽ làm biếnđổi nhu cầu của con người và làm sản sinh ra các nhu cầu mới Ông viết: “nhucầu là cốt lõi bên trong của động cơ, nhu cầu muốn hướng dẫn được hoạtđộng thì phải được đối tượng hóa trong một khách thể nhất định” [6]
Thực tế cho thấy không phải nhu cầu nào cũng trở thành động cơ củahoạt động, chúng chỉ trở thành động cơ khi con người cảm thấy cần phải thỏamãn và có điều kiện thỏa mãn chúng Như thế, nhu cầu và động cơ có quan hệgắn bó chặt chẽ
đó để thỏa mãn nhu cầu Việc thỏa mãn này gây ra hứng thú cho chủ thể, làmcho chủ thể trở nên tích cực hoạt động hơn để tiếp tục thỏa mãn nhu cầu
c, Nhu cầu và định hướng giá trị
Định hướng giá trị là định hướng của cá nhân hay một nhóm xã hội tới
hệ thống giá trị này hay giá trị khác, trong đó các hiện tượng vất chất và tinhthần xuất hiện với tư cách là giá trị có khả năng thỏa mãn các nhu cầu và lợiích của họ Định hướng giá trị chứa đựng các yếu tố nhận thức, ý chí và cảmxúc cũng như các khía cạnh đạo đức, thẩm mĩ trong sự phát triển nhân cách,
là cơ sở bên trong của hành vi, quyết định lối sống của chủ thể Định hướnggiá trị và nhu cầu của chủ thể có mối quan hệ biện chứng, trong đó nhu cầu
Trang 25quyết định sự hình thành, phát triển của định hướng giá trị Ngược lại, địnhhướng giá trị lại là cơ sở bên trong quyết định sự lựa chọn đối tượng cũng nhưphương thức thỏa mãn nhu cầu.
d, Nhu cầu và lý tưởng
Nhu cầu là cơ sở của lý tưởng, còn lý tưởng là biểu hiện ở mức độ caocủa nhu cầu Lý tưởng là một hình ảnh mẫu mực, tương đối hoàn chỉnh, cósức lôi cuốn con người vươn tới để đạt được Nhờ có lý tưởng nên cá nhânluôn có những cảm xúc tích cực trong quá trình hoạt động để tìm kiếm đốitượng thỏa mãn nhu cầu của cá nhân
1.2.1.4 Phân loại nhu cầu
Thông thường, người ta căn cứ vào đối tượng thỏa mãn nhu cầu để phânchia các nhu cầu thành hai loại, đó là nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần
Và cũng có nhiều tác giả đưa ra các cách phân loại nhu cầu khác nhau:
- Erich Fromm, nhà phân tâm học mới, đưa ra những nhu cầu:
+ Nhu cầu quan hệ người- người
+ Nhu cầu tồn tại “cái tâm” con người
+ Nhu cầu đồng nhất bản thân và xã hội với dân tộc, giai cấp, tôn giáo.+ Nhu cầu về sự bền vững và hài hòa
+ Nhu cầu nhận thức nghiên cứu
- A.H Maslow đã sắp xếp các nhu cầu của con người theo 5 cấp bậc:nhu cầu cơ bản (basic needs); nhu cầu về an toàn (safety needs); nhu cầu về
xã hội (social needs); nhu cầu về được quý trọng (esteem needs); nhu cầuđược thể hiện mình (self- actualizing needs)
Sau đó, vào những năm 1970 và 1990, sự phân cấp này đã được cácnhà tâm lý học thuộc trường phái tâm lý học nhân văn hiệu chỉnh thành 7 bậc
và cuối cùng là 8 bậc [13]
Trang 261 Nhu cầu cơ bản (basic needs) 5 Nhu cầu được thể hiện mình
8 Sự siêu nghiệm (transcendence)
- Tác giả Steven Reiss trong cuốn sách “the Normal Personality- A new way of thinking about people” (nhân cách bình thường- một cách nghĩ
khác về con người) đã chia thành 16 loại nhu cầu [22]
1 Nhu cầu chấp nhận: muốn tránh
không bị phê bình và chối bỏ
9 Nhu cầu vận động cơ thể
2 Nhu cầu tò mò: khát khao về mặt
4 Nhu cầu gia đình: nuôi dạy con cái 12 Nhu cầu tiết kiệm, tích lũy
5 Nhu cầu tự trọng: hành xử theo
đạo đức
13 Nhu cầu kết nối xã hội, bạn bè
6 Nhu cầu công bằng: khát khao về
sự công bằng xã hội
14 Nhu cầu địa vị xã hội, khát khaodanh tiếng
7 Nhu cầu độc lập 15 Nhu cầu bình an nội tâm
8 Nhu cầu trật tự 16 Nhu cầu trả thù
Như vậy, có nhiều cách phân loại nhu cầu khác nhau, song ta thấy bảnchất của nhu cầu là rất phong phú và đa dạng
1.2.1.5 Các mức độ của nhu cầu
a, Ý hướng
Trang 27Giai đoạn đầu tiên, mức độ thấp nhất của nhu cầu là ý hướng Mặc dùtrong giai đoạn này, nhu cầu được phản ánh trong ý thức còn mù mờ, chưa rõràng Nhưng chính những tính chất của ý hướng cũng chứng minh đượcnhững phẩm chất đặc biệt của nó khác hẳn với nhu cầu ở động vật Bởi vì, ýhướng của con người, không thể tách rời thế giới trọn vẹn của nhân cách Ýhướng không tách rời cuộc sống của con người với tư cách là một thực thể xãhội Ý hướng được xem là bước đầu tiên xuất hiện nhu cầu khi mà nhu cầuchưa ý thức được đối tượng được thỏa mãn Có nghĩa là, trong mức độ nàycủa nhu cầu, chủ thể chưa ý thức về đối tượng thỏa mãn nhu cầu (cũng nhưchưa phản ánh được phương thức, phương tiện thỏa mãn nhu cầu đó) Khi đốitượng thỏa mãn nhu cầu được chủ thể ý thức thì bản thân nhu cầu đó chuyểnsang một giai đoạn mới, mức độ mới, đó là ý muốn.
b, Ý muốn
Ý muốn là giai đoạn thứ hai của nhu cầu khi mà chủ thể đó nhận ra đượcđối tượng cũng như mục đích của hoạt động thỏa mãn nhu cầu Tuy nhiên, ởmức độ này chủ thể vẫn chưa tìm ra được phương pháp, phương tiện thỏa mãnnhu cầu Lúc này, ý muốn có liên quan đến hoạt động rộng lớn (tính ước mơ,tính cảm xúc ) Một khi xuất hiện ý muốn như thế sẽ xuất hiện khuynh hướngmới cho phép chủ thể đi tìm con đường và phương tiện để thực hiện ý muốn này.Như vậy, khi mà chủ thể đã xác định được đối tượng, tìm thấy được ý nghĩa củanhững hoạt động của mình sẽ tạo nên tính tích cực bên trong của chủ thể, thúcđẩy quá trình tìm kiếm phương thức để thỏa mãn nhu cầu của mình Cho đến khicác con đường và phương tiện đó được tìm thấy thì ý muốn biểu hiện dưới dạngmột khuynh hướng đó được nhận rõ hoàn toàn Theo mức độ nhận thức ấy, ýmuốn sẽ chuyển sang một giai đoạn mới là ý định
c, Ý định
Trang 28Ý định là giai đoạn cao của ý thức trong nhu cầu của con người, nghĩa
là bản thân chủ thể đó nhận thức rõ cả về mục đích và phương tiện thực hiệnmục đích của hành động Chủ thể có khả năng nhận thức rõ sự sẵn sàng hànhđộng theo một phương hướng xác định, đồng thời chủ thể cũng có khả năngnhận thức về những kết quả (và hậu quả do những hành động của mình manglại) Ý định tự thân nó không chỉ là mục đích mà còn là hành động, hành độngdẫn tới mục đích
1.2.1.6 Sự hình thành nhu cầu
Quan điểm của các nhà tâm lý học phương Tây cho rằng nhu cầu sinhvật sẽ quyết định đến nhu cầu xã hội Nhu cầu sinh vật là cơ bản và mang tínhbẩm sinh, con người không thể ý thức và can thiệp bằng ý chí
Các nhà tâm lý học Macxit muốn khẳng định mối quan hệ chặt chẽgiữa nhu cầu và hoạt động: “Nhu cầu là nguồn gốc tính tích cực của hoạtđộng, nhưng bản thân nhu cầu lại được nảy sinh, hình thành và phát triểntrong hoạt động” [11]
A.N Leonchiev đã giải thích về mối quan hệ giữa nhu cầu và hoạtđộng: “Thoạt đầu nhu cầu chỉ xuất hiện như một điều kiện, một tiền đề chohoạt động Nhưng khi chủ thể hoạt động thì sẽ xảy ra sự biến hóa của nhucầu Sự phát triển của hoạt động mạnh bao nhiêu thì sự chuyển hóa nhu cầuthành kết quả của hành động càng mạnh mẽ bấy nhiêu”
Cũng theo A.N Leonchiev, bản thân thế giới đối tượng đã hàm chứatiềm tàng những nhu cầu nên trong quá trình chủ thể hoạt động tích cực sẽnhận thức được các đòi hỏi cần đáp ứng để tồn tại và phát triển, tức là xuấthiện nhu cầu mới Thông qua hoạt động, con người thỏa mãn nhu cầu hiệntại và trên cơ sở đó nảy sinh nhu cầu mới, thúc đẩy con người không ngừngtích cực hoạt động
Trang 29Như vậy, để hình thành nhu cầu về một đối tượng nào đấy, chúng taphải làm cho chủ thể có cơ hội làm quen với đối tượng và thực hiện hoạtđộng Trong quá trình đó, chủ thể có điều kiện thấy được ý nghĩa của đốitượng với cuộc sống bản thân, từ đó hình thành mong muốn về đối tượng,nhu cầu sẽ xuất hiện.
1.2.2 Tham vấn
1.2.2.1 Khái niệm tham vấn
Theo từ điển tiếng Anh của đại học Oxford, thuật ngữ “Counselling”được định nghĩa là “professional advice and help given to people with aproblem” Như vậy “Counselling” được hiểu là một chuyên gia hướng dẫnhay trợ giúp người khác khi những cá nhân này có những khó khăn về tâm
lý Khi dịch sang tiếng Việt, thuật ngữ này thường được các tác giả dịch làtham vấn
Trong đề tài này, chúng tôi coi thuật ngữ “tham vấn” đồng nghĩa vớithuật ngữ “tham vấn tâm lý” với cùng một nội hàm khái niệm
Tác giả Carl Rogers (1952) đã mô tả tham vấn như là quá trình trợ giúptrong mối quan hệ an toàn với nhà trị liệu, đối tượng tìm thấy sự thoải mái, chia
sẻ và chấp nhận những trải nghiệm đã từng bị chối bỏ để hướng tới thay đổi
D Blocher (1966) cho rằng tham vấn là sự giúp đỡ người kia nhậnđược bản thân, những hành vi có ảnh hưởng đến môi trường xung quanh,đồng thời trợ giúp họ xây dựng những hành vi có ý nghĩa, thiết lập mục tiêu
và phát triển những giá trị cho hành vi được mong đợi Trong khái niệm này,tác giả đã quan tâm tới sự nhận thức hành vi và tập nhiễm hành vi mới
J.Mielke (1999) định nghĩa “Tham vấn là một quá trình, một mối quan
hệ nhằm giúp đỡ thân chủ cải thiện cuộc sống của họ bằng cách khai thác nhậnthức và thấu hiểu những suy nghĩ, cảm xúc và hành vi của thân chủ” [20]
Trang 30Về phía các tác giả Việt Nam, định nghĩa tham vấn cũng được xem xét,phân tích từ nhiều khía cạnh khác nhau:
Trong từ điển Tâm lý học, tác giả Nguyễn Khắc Viện cho rằng: “Thamvấn là quá trình các chuyên gia tâm lý chuẩn đoán, tìm hiểu căn nguyên vàthiết lập cách xử lý đối với những trẻ em có vấn đề về tâm lý” [21] Ở đây,khái niệm tham vấn được nhìn nhận thiên về góc độ y học và giới hạn chủ yếuchỉ cho những trẻ em có vấn đề về tâm lý
Tác giả Trần Quốc Thành xem tham vấn như là quá trình chuyên giatham vấn đặt mình vào vị trí của thân chủ, hiểu vấn đề của thân chủ và cùngthân chủ chia sẻ, định hướng cho thân chủ cách giải quyết vấn đề của họ chứkhông thay họ giải quyết vấn đề [15]
Tác giả Trần Thị Minh Đức cho rằng tham vấn là một tiến trình tươngtác giữa người làm tham vấn (người có nghề chuyên môn và kỹ năng thamvấn, có phẩm chất đạo đức của nghề tham vấn và được pháp luật thừa nhận)với thân chủ (người đang có vấn đề khó khăn về tâm lý cần được giúp đỡ).Thông qua các kỹ năng trao đổi, chia sẻ thân mật, tâm tình, giúp thân chủhiểu và chấp nhận thức tế của mình, tự tìm lấy tiềm năng bản thân để giảiquyết vấn đề của chính mình Trong định nghĩa này, bên cạnh việc đề cậpđến các yếu tố quan trọng như tiến trình tương tác, yêu cầu và chuyên mônnghiệp vụ, tác giả còn nhấn mạnh yếu tố pháp lý đối với loại hình hoạt độngnày trong xã hội
Theo tác giả Bùi Thị Xuân Mai, tham vấn hay tham vấn tâm lý đềuthuộc lĩnh vực công tác xã hội, với tư cách là một hoạt động chuyên môn,tham vấn được đánh giá như một công cụ đắc lực trong trợ giúp cá nhânhoặc gia đình để giải quyết những vấn đề tâm lý- xã hội nảy sinh Tác giảđịnh nghĩa khái niệm này như sau: “Tham vấn là một hoạt động mà nhàchuyên môn, bằng kiến thức, hiểu biết và kỹ năng nghề nghiệp của mình
Trang 31thấu hiểu những cảm xúc, suy nghĩ và hành vi của đối tượng (cá nhân, giađình hay nhóm), giúp họ khai thác nguồn lực, tiềm năng cho quá trình giảiquyết” [12, tr 39].
Dù tiếp cận tham vấn từ góc độ nào thì hầu hết các tác giả đều nhấnmạnh khía cạnh tự giải quyết vấn đề của đối tượng với sự trợ giúp của nhàchuyên môn Điều này có nghĩa rằng, trong quá trình trợ giúp, người làmtham vấn bằng kiến thức và kỹ năng tham vấn, giúp đối tượng tự nhận thức đểthay đổi, qua đó học hỏi cách thức đối phó với vấn đề trong cuộc sống, làmnền tảng cho việc thực hiện tốt chức năng xã hội của cá nhân
Từ các quan niệm nêu trên, chúng tôi thấy khái niệm của tác giả TrầnThị Giồng là khái niệm dễ tiếp cận hơn cả Trong luận văn của mình, chúngtôi sử dụng khái niệm này làm khái niệm công cụ để tiến hành nghiên cứu
“Tham vấn là sự tương tác giữa nhà tham vấn và thân chủ, trong quá trình này, nhà tham vấn sử dụng các kỹ năng chuyên môn giúp thân chủ khơi dậy tiềm năng để họ có thể tự giải quyết vấn đề đang gặp phải”[7].
* Đặc điểm của hoạt động tham vấn
Hoạt động tham vấn được diễn ra trong một quá trình với các hoạt độngxây dựng mối quan hệ, khai thác tìm hiểu xác định vấn đề, giải quyết vấn đề
Về bản chất, tham vấn là hoạt động hay phương pháp trợ giúp đốitượng tự quyết định vấn đề chứ không phải là hoạt động đưa ra lời khuyênnhư từng được hiểu Sự trợ giúp ở đây được thể hiện qua việc giúp đối tượnghiểu được chính họ, hoàn cảnh của họ, khám phá và sử dụng những tiềm năngnguồn lực đang tồn tại trong bản thân họ, hay xung quanh họ để gải quyết vấn
đề Với ý nghĩa này, tham vấn còn có tác dụng giúp đối tượng nâng cao khảnăng đối phó với vấn đề trong cuộc sống
Hoạt động tham vấn được diễn ra trên cơ sở mối quan hệ giao tiếp đặcbiệt, đòi hỏi sự tương tác tích cực giữa người làm tham vấn- là người rợ giúp
Trang 32và đối tượng- là người có vấn đề về tâm lý xã hội bởi nhiều lý do khác nhau.Mối quan hệ tương tác này chủ yếu được thực hiện trong tương tác trực tiếp.
Người làm tham vấn là người được trang bị các giá trị, thái độ đạo đứcnghề nghiệp, những tri thức hiểu biết về tâm lý con người, các kỹ năng thamvấn để thấu hiểu đối tượng, giúp đối tượng tự vượt lên chính mình
Đối tượng được tham vấn do những nguyên nhân khác nhau trở nênmất cân bằng về tâm lý, khó khăn trong thích nghi, hòa nhập xã hội Trongnhiều tài liệu người được tham vấn được gọi là thân chủ, hay khách hàng.Tham vấn có thể là một hoạt động chuyên môn, hoặc một dạng dịch vụ xãhội, hay mối quan hệ trợ giúp được sử dụng bởi những người làm tham vấnchuyên nghiệp, hay bán chuyên nghiệp, được xem như những người làm côngtác trợ giúp
1.2.2.2 Các hình thức tham vấn
* Hình thức tham vấn
Sự can thiệp của tham vấn có thể diễn ra dưới ba hình thức: cá nhân,gia đình hoặc nhóm
- Hình thức cá nhân: Hình thức cá nhân có nghĩa là chỉ một người
trong vai trò thân chủ, như vậy chỉ một người sử dụng một dịch vụ nhất định
và là “đơn vị chú ý” Trong thuật ngữ chuyên môn công việc này được gọi là
“một với một”, hoặc nói cách khác một thân chủ làm việc với một ngườitham vấn Đối với trẻ, tham vấn cá nhân có thể được thực hiện qua buổi nóichuyện, sự vui chơi chữa bệnh như diễn kịch với con thú, đồ chơi, vẽ, nặnđất tất cả những điều đó giúp tiếp cận trí tưởng tượng, những cảm xúc,những lo lắng của trẻ
- Hình thức gia đình: Hình thức gia đình có nghĩa là một số hoặc tất cả
thành viên trong một gia đình cơ bản và đại gia đình tự tới hoặc tới dưới sức
ép của xã hội để làm dịu đi những vấn đề liên quan với mức độ lớn hoặc nhỏ
Trang 33đến toàn xã hội hay đa phần Hình thức này rất có tác dụng khi có sự mâuthuẫn thuộc chức năng do thiếu sót và có những cuộc nói xấu nhau trong giađình Cả gia đình ngồi lại với nhau cùng với nhân viên công tác xã hội, ngườilàm tham vấn để thảo luận những vấn đề trong gia đình, xem xét các thànhviên nhận định do nguyên nhân nào nảy sinh vấn đề, cần làm gì để giải quyết.Trọng tâm là ảnh hưởng qua lại giao tiếp cũng như sự liên kết trong gia đình.
- Hình thức nhóm: Hình thức nhóm có nghĩa là sự tập hợp những cá
nhân không liên quan với nhau để đạt một mục đích nào đó làm giảm bớtnhững vấn đề khó khăn của cá nhân hoặc vấn đề mang tính xã hội nhằm đềcao sự phát triển cá nhân Ưu điểm của hình thức này đối với trẻ em là giúpcác em học hỏi hình thành các kỹ năng xã hội, và thu hút được sự ủng hộ bạnhữu lẫn nhau Đối với nhân viên tham vấn, có thể trực tiếp đánh giá nhữngthiếu sót trong những sự việc, những người cùng địa vị ảnh hưởng lẫn nhaunhư sự rút lui tránh né và các kỹ năng xã hội kém cỏi khác
Nhìn chung, cho dù tham vấn diễn ra dưới hình thức nào thì cũng đi tớimục đích chung là:
- Giúp thân chủ thay đổi tình trạng cảm xúc bất lợi hoặc cải thiện, tăngcường động cơ để thay đổi hành vi khi sự thay đổi hành vi là cần thiết
- Giúp các thân chủ tăng thêm hiểu biết về bản thân và hoàn cảnh của
họ bằng cách cung cấp cho họ những thông tin có giá trị thích hợp
- Đề xuất với họ những lựa chọn mang tính thực tế phải phù hợp vớinhững nhu cầu, tình trạng cảm xúc, lai lịch văn hóa và niềm tin cá nhân củacác thân chủ
- Giúp đỡ các thân chủ đưa ra các quyết định lành mạnh dựa trên nhữngthông tin sẵn có và những khả năng giúp đỡ
- Cung cấp cho các thân chủ sự giúp đỡ trong thời kỳ khủng hoảng.Hướng dẫn các thân chủ thực hiện các quyết định của họ
Trang 34Tóm lại, công tác tham vấn dựa trên nguyên lý cơ bản cho rằng conngười có khả năng tự giúp chính mình và bởi vậy các nguyên tắc về sự tựquyết định, tự tham gia vào tiến trình tham vấn phải được thực hiện.
* Loại hình tham vấn
Thực tế hiện nay có 6 loại hình tham vấn tâm lý cơ bản, cụ thể là:
- Tham vấn qua báo: Đây là loại hình tham vấn gián tiếp xuất hiện sớm
nhất ở Việt Nam, thường tham vấn cho các thân chủ gặp rắc rối trong tìnhyêu, hôn nhân và hạnh phúc gia đình Với tuổi học sinh thì có những thắc mắc
về tình yêu, tình bạn khác giới, trong quan hệ với thầy cô, bạn bè thân chủviết ra những khó khăn tâm lý mà mình gặp phải và mong nhà tham vấn giúp
đỡ, gỡ rối những khó khăn của mình Báo chí là phương tiện thông tin đạichúng nên nguyên tắc giữ bí mật không được thực hiện tuyệt đối Loại hìnhtham vấn này thường xuất hiện trên các báo như: Tiền phong, phụ nữ, sinhviên, hạnh phúc gia đình Với tuổi học sinh thì có báo Hoa học trò, báo Thiếuniên tiền phong
- Tham vấn qua đài: Hiện nay trên đài tiếng nói Việt Nam có các
chương trình như “Cửa sổ tình yêu”, “Cô Tấm ngày nay” Ở đây thân chủgặp những vấn đề khó khăn về sức khỏe, giới tính và tình bạn, tình yêu gọiđiện bày tỏ với các chuyên gia tham vấn họ sẽ được giúp đỡ, giải đáp nhữngkhó khăn Cũng giống như tham vấn qua báo, tham vấn qua đài là loại hìnhtham vấn qua phương tiện thông tin đại chúng nên nguyên tắc giữ bí mật cũngkhông được thực hiện tốt
- Tham vấn qua điện thoại: Loại hình tham vấn này khá phát triển trong
thời gian gần đây Thân chủ có khó khăn trong cuộc sống gọi điện thoại đến
để được hỗ trợ vượt qua những khó khăn này Loại hình này đã bắt đầu đápứng được nhu cầu của khách hàng Trong loại hình tham vấn này, nguyên tắc
bí mật thông tin cho thân chủ được đảm bảo Hiện nay ở Việt Nam có nhiều
Trang 35trung tâm tham vấn qua điện thoại như: “Trung tâm tư vấn hạnh phúc giađình” “Trung tâm tư vấn sức khỏe sinh sản” “Trung tâm tư vấn kỹ năng cuộcsống” đường dây tư vấn và hỗ trợ trẻ em của Uỷ ban dân số- gia đình và trẻ
em Việt Nam
- Tham vấn trực tiếp tại trung tâm tham vấn: Trong loại hình này, nhà
tham vấn và thân chủ đối thoại trực tiếp với nhau Đây là cách tối ưu nhấtgiúp thân chủ vượt qua những khó khăn, trở ngại, bởi loại hình tham vấn nàygiúp nhà tham vấn hiểu sâu sắc hơn về vấn đề của thân chủ đang gặp phải.Chính vì thế nó được coi là một loại hình tham vấn có hiệu quả nhất đồng thờicũng là loại hình đòi hỏi nhà tham vấn phải sử dụng phối hợp các kỹ năngtham vấn để khai thác thông tin, phản hồi cảm xúc, phản ánh lại Có nhữngvấn đề của thân chủ chỉ giải quyết thành công thông qua hình thức tham vấnnày Loại hình tham vấn này cho phép khám phá thành công chiều sâu vô thứccủa thân chủ và chiều sâu cảm xúc, tình cảm của họ Có thể là tham vấn cánhân, tham vấn gia đình và tham vấn nhóm Với loại hình này nguyên tắc bímật tuyệt đối được thực hiện Ở nước ta hiện nay loại hình tham vấn này chưađược phát triển nhiều
- Tham vấn qua Internet: Loại hình tham vấn này mới phát triển trong
thời gian gần đây và nó bắt đầu đáp ứng được nhu cầu của người sử dụngInternet Ở đây, thân chủ sử dụng hình thức viết thư điện tử, qua đó thực hiệnmong muốn được tham gia vấn đề những khó khăn của mình, hay bằng hìnhthức tham vấn trực tuyến Loại hình này có những đặc điểm giống loại hìnhtham vấn qua báo đài và điện thoại Nhưng có khác là thân chủ dùng cả haihình thức viết thư, gọi điện để giải tỏa được những khó khăn tâm lý của mình
- Tham vấn qua truyền hình: Tham vấn qua truyền hình được thực hiện
thông qua các chương trình của đài truyền hình Việt Nam như chương trìnhvăn hóa ứng xử người xây tổ ấm; sức khỏe là vàng Các chương trình này
Trang 36đưa ra những chủ đề mà con người hay gặp khó khăn nhất và mời các chuyêngia tâm lý bàn luận về cách giải quyết.
Tóm lại, trong các loại hình tham vấn trên, ở nước ta hiện nay có sựphát triển khá nhiều loại hình tham vấn qua điện thoại Đây là loại hình thamvấn phổ biến nhất ở nước ta trong giai đoạn hiện nay Có thể chất lượng củacác trung tâm tham vấn qua điện thoại là vấn đề cũng nhiều điều phải bàn,song trong thời điểm hiện tại đây là hình thức tham vấn tiện ích và hữu hiệunhất để hỗ trợ mọi người những cách thức ứng phó và vượt qua những khókhăn thường gặp trong cuộc sống
Như vậy, dưới những góc độ khác nhau có rất nhiều hình thức thamvấn khác nhau, tuy nhiên trong đề tài này, chúng tôi chỉ tập trung vào lĩnh vựctham vấn học đường và các kỹ năng tham vấn chúng tôi nghiên cứu có thểđược sử dụng trong cả tham vấn cá nhân và tham vấn nhóm
1.2.2.3 Các bước cơ bản của tham vấn
Hiện nay, nhiều tác giả trong và ngoài nước đưa ra các quan điểm khácnhau về các giai đoạn của quá trình tham vấn Tại Việt Nam, trong ngànhtham vấn đang sử dụng phổ biến mô hình tham vấn 5 giai đoạn Cụ thể:
* Giai đoạn 1: Thiết lập quan hệ
Mục đích của nhà tham vấn trong giai đoạn này là xây dựng một mốiquan hệ tham vấn với thân chủ bằng việc sử dụng các kỹ năng và thái độ thamvấn Xây dựng lòng tin và một mối quan hệ tốt sẽ tạo động lực cho thân chủtiếp tục tham gia các cuộc tham vấn tiếp theo
* Giai đoạn 2: Thu thập thông tin, xác định vấn đề
Mục đích của giai đoạn này là tìm hiểu những mối quan tâm chủ yếucủa thân chủ và xác định những mặt mạnh và hạn chế sẽ ảnh hưởng đến khảnăng giải quyết vấn đề của thân chủ Để đạt được những mục đích trên, nhàtham vấn cần tìm hiểu hoàn cảnh của thân chủ, gồm cả môi trường xã hội,
Trang 37giáo dục, gia đình, tình cảm, thể chất, tâm lý Sau khi tập hợp các thông tinnày, nhà tham vấn và thân chủ cùng đánh giá hoàn cảnh hiện tại và hợp táclàm việc để xác định phạm vi vấn đề cụ thể cần giải quyết.
* Giai đoạn 3: Xác định mục tiêu, xây dựng kế hoạch.
Mục tiêu của giai đoạn này là giúp thân chủ xác định một định hướngthiết thực cho cuộc sống Nếu cuộc tham vấn không có mục tiêu hay địnhhướng thì nhà tham vấn và thân chủ sẽ cảm thấy “vu vơ” và lúng túng đốivới các mục đích trong tham vấn Trong giai đoạn này hãy hỏi: “(thân chủ)muốn điều gì xảy ra?” và “Nếu mọi chuyện xảy ra như (thân chủ) muốn thì
sẽ thế nào?”
* Giai đoạn 4: Tìm kiếm các giải pháp thay thế
Khi vấn đề và mục tiêu đã được làm sáng tỏ, nhà tham vấn và thân chủbắt đầu nghĩ nhanh các giải pháp Nhà tham vấn có thể đặt câu hỏi: “Theo (thânchủ) có bao nhiêu cách khác nhau để giải quyết vấn đề này?” Nếu có thể:
+ Hãy chia vấn đề thành các bước nhỏ, có thể thực hiện được
+ Xác định rõ những điều cụ thể thân chủ có thể thực hiện để cải thiệntình hình của thân chủ
+ Đặt thứ tự ưu tiên cho các giải pháp khả thi cùng với thân chủ
+ Trong giai đoạn này nhà tham vấn và thân chủ xác định các góc độkhác nhau để từ đó giải quyết vấn đề Cố gắng giúp thân chủ chia nhỏ nhữngvấn đề “có quy mô lớn” thành các bước nhỏ, dễ xử lý hơn
* Giai đoạn 5: Đánh giá và kết thúc ca tham vấn.
Trong giai đoạn này, nhà tham vấn cần đảm bảo rằng thân chủ cónhững mục tiêu cụ thể để theo đuổi Bên cạnh đó, nhà tham vấn cũng xác định
rõ những khó khăn hoặc lo lắng có thể xảy ra khi thực hiện những thay đổinhằm giải quyết vấn đề Ở giai đoạn này, việc xác định mục tiêu cụ thể chomỗi lần tham vấn với thân chủ là rất có hiệu quả Những thay đổi không thể
Trang 38diễn ra sau một đêm vì vậy hãy kiên nhẫn Khi thân chủ có khả năng theođuổi mục đích đặt ra hãy khen ngợi thân chủ Giai đoạn này thường dễ bỏ quatrong mô hình, nhưng nó thực sự quan trọng để đảm bảo thành công lâu dàicủa tham vấn.
1.2.2.4 Các nguyên tắc của tham vấn tâm lý
Nguyên tắc tham vấn là những quy định mang tính chỉ đạo hoạt độngcủa nhà tham vấn, chính là yếu tố phân biệt tham vấn với tư cách là hoạt độngnghề nghiệp với một cuộc trò chuyện thông thường, cũng như phân biệt thamvấn với các nghề nghiệp khác
Có 4 nguyên tắc tham vấn cơ bản
+ Nguyên tăc tôn trọng thân chủ
+ Nguyên tắc đảm bảo sự bí mật, kín đáo trong tham vấn
+ Nguyên tắc dành quyền tự quyết cho thân chủ
+ Nguyên tắc chấp nhận thân chủ
1.2.2.5 Một số kỹ năng tham vấn tâm lý cơ bản
Là sự phối hợp kiến thức, kinh nghiệm, ngôn ngữ, tình cảm Hành vi cửchỉ, ánh mắt, nụ cười của nhà tham vấn một cách hài hòa, hợp lý, để giao tiếpvới thân chủ nhằm giúp họ tìm ra các giải pháp và lựa chọn phương án giảiquyết những vấn đề bức xúc của bản thân theo hướng tích cực
Kỹ năng tham vấn, là yếu tố quyết định nhất đến thành công của một
ca tham vấn Trong quá trình tham vấn, nhà tham vấn cần sử dụng linh hoạtcác kỹ năng tham vấn và cần lưu ý một điều rằng không phải tất cả các kỹnăng tham vấn đều có mức độ sử dụng vào thực tế như nhau Khi tham vấnchúng ta thường không sử dụng riêng lẻ từng kỹ năng mà thường có sự kếthợp giữa các kỹ năng tham vấn Trong các kỹ năng tham vấn, có một số kỹnăng được sử dụng chủ yếu trong quá trình tham vấn như: kỹ năng lắngnghe, kỹ năng phản hồi
Trang 391.2.3 Tâm lý học đường
1.2.3.1 Khái niệm tâm lý học đường
Tâm lý học trường học (chuyển dịch từ thuật ngữ tiếng Anh là “schoolPsychology”) hay còn gọi bằng thuật ngữ quen thuộc là Tâm lý học đường(TLHĐ) đã manh nha xuất hiện và chính thức ra đời từ cuối thế kỷ thứ IX-đầu thế kỷ XX tại Hoa Kỳ Giai đoạn từ 1890 đến 1969 là giai đoạn TLHĐ ẩntrong hoạt động và công việc của các chuyên gia đánh giá tâm lý- giáo dụcvới mục đích xếp lớp giáo dục đặc biệt cho học sinh Cho đến nay, TLHĐ đã
và đang được nhân rộng, triển khai ở nhiều nước trên thế giới
Trong khi khái niệm TLHĐ đã là một khái niệm quen thuộc với nhiềungười ở các nước phát triển thì ở Việt Nam khái niệm TLHĐ còn tương đốimới lạ đối với nhiều người, nội hàm của nó chưa được thống nhất giữa cácnhà nghiên cứu khác nhau
Tháng 3 năm 2006, báo phụ nữ Tp.HCM và nhà xuất bản Trẻ cho rađời cuốn sách “Tư vấn tâm lý học đường” của tác giả Nguyễn Thị Oanh.Trong đó, tuy tác giả không đưa ra một định nghĩa chính thức, song từ nộidung cuốn sách cho thấy khái niệm “Tâm lý học đường” được hiểu ngầm làmột chuyên ngành của khoa học tâm lý, chuyên ngành nghiên cứu về cáchgiải quyết những khó khăn tâm lý xuất hiện ở tuổi học sinh (đặc biệt là họcsinh mới lớn) trong các mối quan hệ với gia đình, bạn bè, người yêu, học tập,định hướng nghề nghiệp cần được giải quyết kịp thời nhằm tháo gỡ nhữngrào cản ảnh hưởng xấu đến kết quả học tập và sự phát nhân cách tốt đẹp củacác em [18]
Năm 2008, tại hội thảo do Viện nghiên cứu sư phạm, Trường ĐHSP HàNội tổ chức với tiêu đề “Tâm lý học đường, triển khai và ứng dụng vào thựctiễn nhà trường Việt Nam” đã khẳng định: Tâm lý học đường thuộc lĩnh vựcnghiên cứu ứng dụng những tri thức tâm lý học (một lĩnh vực thuộc tâm lý
Trang 40học thực hành nói chung) vào thực tiễn trường học nhằm nâng cao chất lượng
và hiệu quả học tập của học sinh
Hội nghị quốc tế lần 2 về tâm lý học đường ở Việt Nam đã cho rằng:
“Tâm lý học đường là chuyên ngành khoa học hướng hoạt động nghiên cứu
và ứng dụng của mình đến mục tiêu giải quyết những vấn đề tâm lý nảy sinhtrong môi trường học đường” [6]
Dựa trên những tài liệu và các nghiên cứu của các cán bộ tâm lý họcđường có uy tín hiện nay, các chuyên gia tâm lý học đường đã thống nhất đưa
ra một số khái niệm thường gặp và đang được sử dụng rộng rãi trong lĩnh vựctâm lý học đường:
Tâm lý học trường học (TLHTH) hay tâm lý học đường (TLHHĐ) làmột chuyên ngành thực hiện công việc đánh giá (phòng ngừa) nhằm phát hiệnnhững học sinh có thể có khó khăn về nhận thức, xúc cảm xã hội hay xúc cảmhành vi; phát triển và thực hiện các chương trình can thiệp tâm lý học sinh; cốvấn học sinh; tham gia phát triển và lượng giá chương trình; nghiên cứu,giảng dạy, hỗ trợ và giám sát cho những người đang học nghề
Ngày 14/01/ 2011, nhóm tác giả Trần Thị Lệ Thu, Lê Văn Hảo, LêNguyên Phương, Brent Duncan, Đặng Hoàng Minh đề xuất khái niệmTLHTH/TLHĐ như sau:
“Tâm lý học trường học (hay còn gọi là tâm lý học học đường) là một chuyên ngành tâm lý ứng dụng nhằm thực hiện công tác phát hiện sớm, phòng ngừa và can thiệp cho trẻ em- thanh thiếu niên trong các lĩnh vực nhận thức, học tập, hành vi, cảm xúc hoặc xã hội ở môi trường học đường, gia đình và cộng đồng; đồng thời tham gia nghiên cứu, xây dựng, phát triển và lượng giá các chương trình này” [10].
Trong luận văn này, chúng tôi lựa chọn sử dụng khái niệm của nhómtác giả nói trên làm khái niệm công cụ để nghiên cứu