1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

CÁC hư từ và, với, CÙNG TRÊN BA BÌNH DIỆN kết học NGHĨA học DỤNG học

136 114 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 136
Dung lượng 673 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Họ chỉ quan tâm nghiên cứu các phươngdiện ý nghĩa ngữ pháp, khả năng kết hợp và chức vụ cú pháp của các từ loại để từ đó có thể giúp bạn đọc phân biệt được sự khác nhau giữa từ loại hư t

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

 -NGUYỄN THỊ THANH HUYỀN

CÁC HƯ TỪ VÀ, VỚI, CÙNG TRÊN BA BÌNH DIỆN

KẾT HỌC - NGHĨA HỌC - DỤNG HỌC

Chuyên ngành : Ngôn ngữ học

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN

Ngưới hướng dẫn khoa học: PGS.TS LÊ THỊ LAN ANH

HÀ NỘI, 2016

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới PGS.TS Lê

Thị Lan Anh, người đã trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này.

Tôi xin trân trọng cảm ơn Phòng Sau đại học, Khoa Ngữ văn - Trường Đạihọc Sư phạm Hà Nội với tư cách là đơn vị đào tạo và tổ chức cho luận văn này đượcbảo vệ

Tôi cũng xin gửi lời tri ân tới các thầy cô trong Bộ môn Ngôn ngữ học Khoa Ngữ văn - Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã chỉ bảo, dạy dỗ và tạo điềukiện cho tôi trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu để hoàn thành khóa luận

-Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè và những người thân đã ủng hộ,giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận

Hà Nội, tháng 10 năm 2016.

Tác giả luận vặn

Nguyễn Thị Thanh Huyền

Trang 3

QUY ƯỚC TRÌNH BÀY

1 Quy ước viết tắt

CTCPCTNBHCTĐTĐĐTĐVBĐTTĐTCNVN

Cấu trúc cú phápCấu trúc nghĩa biểu hiệnCấu trúc đề - thuyết

Đề đề tài

Đề văn bản

Đề tình tháiPhần đềPhần thuyếtChủ ngữ

Vị ngữ

2 Các quy ước khác

Chú thích cho tài liệu trích dẫn được đặt trong dấu ngoặc vuông [ ] theo thứ tự: tên tài liệu trích dẫn, trang tài liệu; thông tin đầy đủ của tài liệu được ghi trong mục Tài liệu tham khảo Ví dụ:

“Xét thành phần câu là xét trong chỉnh thể của câu gắn liền với khái niệm chức năng của từ, gắn liền với hiện thực hóa các vị trí của các đơn vị tham gia vào

tổ chức câu” [30, 134]

Câu trích dẫn ở tài liệu số 30, trang 134

- Các d u có đánh d u sao (-) trong lu n văn là nh ng câu sai.ấ ấ ậ ữ

- Các d u có đánh d u sao (+) trong lu n văn là nh ng câu vi t l iấ ấ ậ ữ ế ạ

nh ng v n đúng.ư ẫ

Trang 4

MỤC LỤC

PHỤ LỤC

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Ngữ pháp chức năng (mô hình nghiên cứu ngôn ngữ trên ba bình diện)

đang là hướng nghiên cứu mở, được rất nhiều các nhà ngôn ngữ học quan tâm tìmhiểu Mô hình lí thuyết này đã được dùng để soi sáng các hiện tượng ngôn ngữ ởmọi cấp độ trong đó có cấp độ từ Ở đó, từ không chỉ được nghiên cứu ở trên bìnhdiện ngữ pháp mà nó còn được xem xét ở cả bình diện ngữ nghĩa và ngữ dụng.Dưới ánh sáng của ngữ pháp ba bình diện, các vấn đề về từ được xem xét một cáchtoàn diện và hệ thống

1.2 Tiếng Việt hiện đại có vốn từ vô cùng lớn Bên cạnh lớp thực từ phong

phú, đa dạng, không ngừng được bổ sung thêm từ mới là lớp hư từ luôn có tính chất

ổn định, hữu hạn Tuy là một tập hợp có số lượng không lớn nhưng hư từ lại được

sử dụng với tần số khá cao Nếu thiếu hư từ, chúng ta sẽ khó khăn trong việc thểhiện ý nghĩa ngữ pháp và quan hệ ngữ pháp

1.3 Trong lớp hư từ tiếng Việt, có ba từ rất giản dị nhưng chúng lại giữ vai

trò vô cùng quan trọng trong lời ăn tiếng nói hàng ngày cũng như trong các sáng tác

văn chương Đó là và, với, cùng.

Ba từ này là ba hư từ chuyên dụng, có tần số xuất hiện lớn trong hội thoạicũng như trong các tác phẩm văn chương Chúng được dùng rất linh hoạt với nhiềuchức năng khác nhau, biểu thị nghĩa tình thái đa dạng và độc đáo Những từ trênvừa có những nét đồng nhất nhưng lại có những nét khác biệt, không thể thay thếcho nhau khi sử dụng

Đây là những từ khá thú vị trong vốn từ vựng tiếng Việt nhưng vẫn chưa có

công trình khoa học nghiên cứu về chúng một cách hệ thống trên ba bình diện kết

học - nghĩa học và dụng học

Vì những lí do trên, chúng tôi chọn vấn đề “Các hư từ và, với, cùng trên ba

bình diện kết học - nghĩa học - dụng học” làm đề tài nghiên cứu của mình.

Trang 6

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Lịch sử nghiên cứu hư từ tiếng Việt

Từ thập niên 60 của thế kỉ XX trở lại đây, trong nghiên cứu ngữ pháp tiếngViệt, vấn đề từ loại nói chung và hư từ nói riêng được nhiều nhà nghiên cứu quantâm, xem xét Số lượng các công trình nghiên cứu về hư từ khá nhiều Tuy nhiên,quan điểm của các tác giả về vấn đề này chưa có sự thống nhất Có nhiều ý kiến,nhiều quan niệm và khuynh hướng khác nhau trong mỗi công trình nghiên cứu Sauđây chúng tôi xin điểm qua một số công trình nghiên cứu về hư từ tiếng Việt ở cácgiai đoạn

a Trước đây, khi được xem xét trên quan điểm của ngữ pháp truyền thống thì

hư từ tiếng Việt chủ yếu được nghiên cứu trên bình diện cấu trúc

Chúng tôi tìm thấy rất nhiều công trình của các nhà ngữ pháp về vấn đề hư từtrong nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt

Nguyễn Kim Thản trong Nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt đã căn cứ vào đặc

trưng từ vựng - ngữ pháp để xác định ra một số loại từ Tác giả chia tiếng Việt rathành ba loại lớn: thực từ, hư từ và tình thái từ Trong đó mỗi loại có thể chia thànhnhững nhóm nhỏ Theo tác giả, hư từ là những từ không có ý nghĩa từ vựng chânthực, không là thành phần câu nhưng là những dấu hiệu về tình cảm, thái độ vàđứng lẻ ở trong câu Vì vậy, ông cho rằng có thể chia chúng theo tác dụng ngữ pháp

Có những từ có tác dụng phụ thuộc vào những từ khác như những, cái hay biểu thị quan hệ ngữ pháp giữa từ này với từ khác như và, với…Ông cho biết, nhưng hư từ

dùng để chỉ quan hệ giữa một từ chính và một từ phụ gọi là giới từ còn những hư từdùng để liên hợp giữa hai từ và hai đoạn câu với nhau gọi là liên từ Ở công trìnhnày, tác giả chủ yếu nghiên cứu các hư từ dựa trên chức năng của nó trong câu Từ

đó, ông giúp bạn đọc phân biệt sự khác biệt giữa hư từ và thực từ dựa trên vai tròcủa chúng Còn về những vấn đề khác, ta thấy ở công trình này ông ít quan tâm hơn

Tác giả Diệp Quang Ban, Hoàng Văn Thung trong cuốn Ngữ pháp tiếng Việt

(tập 1) đã dựa vào tiêu chí ý nghĩa ngữ pháp, khả năng kết hợp, chức vụ cú pháp để

phân định vốn từ loại tiếng Việt trong đó có hư từ Theo các tác giả, “hư từ có bản

Trang 7

chất không thuần nhất, không có ý nghĩa từ vựng chân thực và chỉ có tác dụng nối kết mà không tự mình làm thành câu” [3, 153] Qua nghiên cứu, các tác giả cũng rút

ra kết luận “hư từ là nhóm từ có số lượng ít hơn thực từ, có ý nghĩa phạm trù chung

mờ nhạt, chuyên dùng biểu thị các quan hệ” [3, 153] Chúng ta thấy rằng, ở công

trình này, các tác giả đã chỉ ra được hoạt động trên bình diện kết học của từng nhóm

hư từ cụ thể còn ở bình diện nghĩa học và dụng học cũng chưa có sự quan tâm mộtcách thấu đáo

Lê Biên trong Từ loại tiếng Việt hiện đại cũng đã đưa ra những quan niệm

của mình về hư từ Ông cho rằng, đây là loại từ chiếm số lượng từ không lớn, ýnghĩa của nó có tính chất ngữ pháp và là phương tiện diễn đạt quan hệ giữa các kháiniệm trong tư duy Tác giả phân hư từ ra ba nhóm là phụ từ, quan hệ từ và tình thái

từ Ở mỗi nhóm hư từ này, ông đã làm sáng tỏ ý nghĩa ngữ pháp, khả năng kết hợp

và hoạt động ngữ pháp của chúng với những minh họa cụ thể, rõ ràng Ta thấy rằng,cũng giống như hai công trình kể trên, nghiên cứu của Lê Biên về hư từ tiếng Việtvẫn chỉ dừng lại ở phương diện cấu trúc ngữ pháp mà thôi

Tác giả Đinh Văn Đức trong cuốn Ngữ pháp tiếng Việt cũng đã đưa ra ba tiêu

chuẩn về ý nghĩa, về khả năng kết hợp và chức vụ cú pháp để làm căn cứ phân định

hư từ Theo ông, hư từ là tiểu loại từ rất quan trọng, số lượng không lớn, tần số xuấthiện cao và có ý nghĩa thiên về tính chất ngữ pháp và không có khả năng làm thành

phần câu Ông rút ra kết luận hư từ không trực tiếp biểu niệm mà chỉ “là phương tiện biểu đạt mối quan hệ giữa các khái niệm trong tư duy theo cách thức phản ánh bằng ngôn ngữ của người bản ngữ” [24, 43] Bản chất này của hư từ sẽ quy định

khả năng kết hợp và chức năng của chúng trong câu Ta thấy, ở công trình nghiêncứu này, tác giả Đinh Văn Đức cũng vẫn chỉ xem xét các tiểu loại hư từ trên bìnhdiện ngữ pháp Tuy các tiểu loại được nghiên cứu một cách khá rõ ràng nhưngchúng tôi thấy nghiên cứu hư từ theo hướng đó vẫn còn nhiều phương diện cần khaithác và nghiên cứu sâu hơn

Trong cuốn Ngữ pháp tiếng Việt, tác giả Đỗ Thị Kim Liên cũng căn cứ vào ý

nghĩa phạm trù, khả năng kết hợp, chức vụ cú pháp để nghiên cứu hư từ Qua những

Trang 8

ý kiến phân tích và lý giải của mình, tác giả cho rằng hư từ là những từ không mang

ý nghĩa từ vựng, không độc lập tạo thành câu và làm thành tố trong cụm từ hoặclàm thành tố trong cụm từ và liên kết để tạo cụm từ mới

Tác giả Nguyễn Hữu Quỳnh trong Ngữ pháp tiếng Việt cũng có quan điểm

tương tự các tác giả trên khi căn cứ vào ý nghĩa khái quát, đặc điểm ngữ pháp giốngnhau của các từ để đi vào nghiên cứu các nhóm từ thuộc từ loại hư từ Và công trìnhnày cũng có những hạn chế giống với nhưng bài viết đã kể trên đây

Cũng nghiên cứu về hư từ tiếng Việt, tác giả Vũ Đức Nghiệu trong cuốn Hư

từ tiếng Việt thế kỉ XV trong Quốc âm thi tập và Hồng đức quốc âm thi tập lại đi sâu

vào nguồn gốc và quá trình phát triển của các hư từ trong một số tác phẩm Quanghiên cứu của tác giả, chúng ta thấy được nguồn gốc cũng như sự biến đổi về ýnghĩa và cách sử dụng của các hư từ Tuy nhiên, đây mới chỉ là những nhận định hếtsức khái quát về một số hư từ tiếng Việt và còn rất nhiều vấn đề để chúng ta tìmhiểu và nghiên cứu tiếp

Ở các công trình khác, ta thấy GS TS Hoàng Trọng Phiến trong cuốn Từ điển giải thích hư từ tiếng Việt (năm 2003) đã liệt kê khá đầy đủ ý nghĩa của từng

hư từ với những ví dụ cụ thể Ở công trình này, tác giả cũng nói sơ qua vị trí trongcâu của hư từ đang đề cập Tuy vậy, đây mới chỉ là những gợi ý khái quát, giúpngười đọc có cái nhìn ban đầu về các hư từ này mà thôi

Khi nhắc đến hư từ tiếng Việt, chúng ta phải kể đến chuyên luận Hư từ trong tiếng Việt hiện đại của tác giả Nguyễn Anh Quế (năm 1988) Ở đây, tác giả đã giúp

bạn đọc nắm bắt được những kiến thức về nguyên tắc cơ sở của việc phân định vàphân loại hư từ trong tiếng Việt; ý nghĩa chức năng của hư từ; hư từ và vấn đề từloại, phân loại hư từ; các hư từ chuyên dùng làm thành tố phụ đoản ngữ… Đây lànhững kiến thức hết sức cơ bản và quan trọng giúp người đọc có cái nhìn khái quátnhất về vấn đề này

Trong cuốn Giải thích các từ gần âm, gần nghĩa dễ nhầm lẫn (2003), tác giả

Trương Chính cũng đã giúp bạn đọc hiểu sơ qua về ý nghĩa của các hư từ có âm vànghĩa giống nhau Ở đây, tác giả mới chỉ làm sáng tỏ ý nghĩa và hoạt động ngữ pháp

Trang 9

của các hư từ để giúp bạn đọc có cái nhìn sơ bộ, tránh nhầm lẫn khi sử dụng những

từ đó

Tác giả Phạm Hùng Việt trong cuốn Trợ từ trong tiếng Việt hiện đại (2003)

đã nêu ra ý nghĩa ngữ pháp và vị trí của từng trợ từ tiếng Việt với những ví dụ cụthể Tuy nhiên, công trình này mới chỉ xem xét một bộ phận nhỏ của hư từ (trợ từ)

và chủ yếu nghiên cứu chúng trên phương diện ý nghĩa đơn lẻ chứ chưa nghiên cứucác hư từ một cách toàn diện và có hệ thống

Ngoài ra, ta có thể kể đến một số luận văn, khóa luận tốt nghiệp tại trườngĐại học Sư phạm Hà Nội cũng tập trung đi vào nghiên cứu vấn đề hư từ tiếng Việt

như Hư từ là trong tiếng Việt của tác giả Bùi Thị Vân Quỳnh (năm 2000), Hư từ chỉ

điều kiện - giả thiết trong tiếng Việt của tác giả Nguyễn Thị Thu Trang (năm 2007) hay Hư từ chỉ tình thái trong truyện ngắn của Thạch Lam của tác giả Trần Văn Ta

(năm 2014),…

Có thể nói, có khá nhiều các công trình nghiên cứu về hư từ tiếng Việt Tuynhiên, qua các bài viết trên đây, chúng ta dễ dàng nhận thấy thời kì trước ngữ phápchức năng, các tác giả chủ yếu tập trung vào vấn đề ngữ pháp hình thức của từ loại

mà ít quan tâm đến những bình diện khác Họ chỉ quan tâm nghiên cứu các phươngdiện ý nghĩa ngữ pháp, khả năng kết hợp và chức vụ cú pháp của các từ loại để từ

đó có thể giúp bạn đọc phân biệt được sự khác nhau giữa từ loại hư từ với các từloại khác Có một số công trình cũng đã tìm hiểu về nghĩa của từ nhưng lại nghiêncứu nghĩa độc lập, không làm toát lên được mối quan hệ giữa bình diện nghĩa vớicác bình diện khác của từ loại tiếng Việt Hạn chế này sẽ được giải quyết thấu đáokhi xem xét hư từ theo hướng của ngữ pháp chức năng

b Ngữ pháp chức năng là khuynh hướng nghiên cứu ngữ pháp hướng vàochức năng ngữ nghĩa Đưa ngữ pháp chức năng vào nghiên cứu ngữ pháp, các nhàngôn ngữ học đã vận dụng nó để xem xét, tìm hiểu ở cả lĩnh vực từ loại Biểu hiện rõnhất là gần đây xuất hiện một số luận văn thạc sĩ, bài báo đã xem xét, nghiên cứu một

số hư từ hoặc một số nhóm hư từ trên cả ba bình diện Chúng tôi xin điểm tên một sốluận văn, khóa luận tiêu biểu của một số tác giả như sau: Tác giả Quản Thị Thu

Trang 10

Phương (năm 2000) đã có đề tài Tìm hiểu hoạt động của các tiểu từ đi, thôi, nào, với, chứ Ở đây, tác giả đã nghiên cứu các tiểu từ để tìm ra sự giống và khác nhau giữa

chúng trên các bình diện Từ đó, đã đưa ra những cách sử dụng cụ thể và ý nghĩa củatừng trường hợp kèm theo những ví dụ minh họa giúp người đọc nhận diện chúng

trong những trường hợp sử dụng cụ thể Bên cạnh đó còn có đề tài Tìm hiểu hoạt

động ngữ pháp, ngữ nghĩa, ngữ dụng của hai từ cho và vì trong tiếng Việt của tác giả Triệu Như Mây (năm 2011); Thì, là, mà trong tiếng Việt nhìn từ lí thuyết ba bình

diện: kết học, nghĩa học và dụng học của tác giả Nguyễn Thị Kim Dung (năm 2012)

hay Tìm hiểu nhóm từ chỉ sự đồng nhất (cũng, còn, lại, vẫn, cứ, đều) trên ba bình

diện kết học, nghĩa học và dụng học của tác giả Nguyễn Thị Vân Anh (năm 2013)…

Nhìn chung, các tác giả trên đã xem xét những vấn đề được đưa ra theo hướng nghiêncứu ba bình diện của ngữ pháp chức năng một cách khá kĩ lưỡng

Ta thấy rằng, ngữ pháp chức năng vẫn là khá mới mẻ, còn nhiều lĩnh vực đểcác nhà nghiên cứu quan tâm, khám phá Cũng chưa có nhiều công trình nghiên cứu

hư từ tiếng Việt đi theo hướng này Tuy nhiên, có thể nói, khi xem xét một số hư từtheo hướng ba bình diện, các tác giả đã chỉ ra được đặc điểm của các hư từ này trêntừng bình diện kết học, nghĩa học và dụng học Với hướng nghiên cứu này, một số

hư từ đã được xem xét một cách khá toàn diện và có hệ thống

2.2 Lịch sử nghiên cứu các hư từ và, với, cùng

Và, với, cùng là ba hư từ khá quen thuộc của người Việt và được sử dụng với

tần số khá lớn trong hoạt động giao tiếp hàng ngày Cũng có một số tác giả đi vàonghiên cứu ba hư từ này trên những phương diện khác nhau Chúng tôi có thể kể rađây một số công trình tiêu biểu:

Trong tác phầm Hư từ tiếng Việt thế kỉ XV trong Quốc âm thi tập và Hồng Đức quốc âm thi tập, Vũ Đức Nghiệu đã có nhưng thống kê và nhận xét khái quát

về hư từ cùng Ông đã có ý thức so sánh hư từ cùng với hư từ và, với: “Trong Quốc

âm và Hồng Đức, cùng được dùng 68 lần: làm phó từ đi trước vị từ 25 lần, làm liên

từ 18 lần, làm giới từ 25 lần Ở đây, cùng xuất hiện (được dùng) với ý nghĩa, chức

năng làm liên từ, giới từ nhiều hơn là ý nghĩa, chức năng làm phó từ trước vị từ

Trang 11

Hiện nay, và (liên từ), với (liên từ, giới từ) đã đảm nhiệm chức năng liên từ, giới từ

của cùng và thay thế cho cùng trong đại đa số trường hợp Qua đó, có thể khẳng

định rằng từ thời Quốc âm và Hồng Đức, hư từ cùng đã đồng nghĩa với hư từ và (thời đó còn là hòa) ở chức năng liên từ, đồng nghĩa với hư từ với ở chức năng liên

từ, giới từ Chính sự đồng nghĩa này đã dần dần dẫn đến sự cạnh tranh và "phânphối lại" chức năng, ý nghĩa giữa chúng, khiến cho cùng bị thu hẹp bớt dung lượngnghĩa và năng lực hoạt động của nó lại

Tại trường Đại học Sư phạm Hà Nội, tác giả Quản Thị Thu Phương (năm

2000) đã có đề tài Tìm hiểu hoạt động của các tiểu từ đi, thôi, nào, với, chứ Ở đây,

tác giả đã nghiên cứu từ với trong thế so sánh với các tiểu từ khác để tìm ra sự giống

và khác nhau của các từ này Từ đó tác giả đã đưa ra những cách sử dụng cụ thể và

ý nghĩa của từng trường hợp kèm theo những ví dụ minh họa giúp người đọc nhậndiện chúng khi sử dụng

Ở các công trình nghiên cứu khác, ta thấy GS TS Hoàng Trọng Phiến trong

cuốn Từ điển giải thích hư từ tiếng Việt (năm 2003) đã làm sáng tỏ ba hư từ và, với, cùng trên phương diện ý nghĩa, từ đó giúp người đọc hiểu rõ ý nghĩa của từng từ cụ

thể Ở công trình này, tác giả cũng nói sơ qua vị trí trong câu của hư từ đang đề cập.Tuy vậy, đây mới chỉ là những gợi ý khái quát, giúp người đọc có cái nhìn ban đầu

về ba hư từ này mà thôi

Còn theo quan điểm của Diệp Quang Ban, Hoàng Văn Thung trong Ngữ pháp tiếng Việt (tập 1) thì và, với, cùng là kết tử đẳng lập, không gắn bó với bất kì

thành tố nào trong một kết hợp có quan hệ đẳng lập Chúng có ý nghĩa chỉ quan hệ

tập hợp (ví dụ: Hồi này anh béo ra và rất khỏe) Có nhiều trường hợp, và chỉ quan

hệ liệt kê (ví dụ: Tôi làm duyên làm dáng với anh và có kết quả).

Diệp Quang Ban trong cuốn Ngữ pháp tiếng Việt (2013) cũng nói sơ qua về các quan hệ từ này như sau: Quan hệ từ và có thể diễn đạt quan hệ bổ sung, thời gian đồng thời, thời gian nối tiếp, nguyên nhân, tương phản như trong sách và vở, đứng lên và đi ra ngoài, lửa lan rộng và ngôi nhà bùng cháy…Trong khi đó, tác giả nêu quan điểm về hư từ với, cùng như sau: Từ với, cùng chỉ quan hệ chung

Trang 12

đụng như trong: Nó sẽ đi với anh, Hoàn kết bạn với Lan… Ở trường hợp khác, tác giả Diệp Quang Ban cho biết: Về hình thức, với là quan hệ từ phụ thuộc chỉ đối tượng tiếp xúc khác với với là quan hệ từ bình đẳng chỉ sự bổ sung ở chỗ quan hệ

từ bình đẳng với có thể được thay thế bằng và Với có ý nghĩa tương đương đối với thì bao giờ cũng là quan hệ từ phụ thuộc Còn với trong Cho nó đi với! là phó

từ của động từ

Lê Biên trong Từ loại tiếng Việt hiện đại thì cho rằng và, với, cùng là những

hư từ biểu thị quan hệ liên hợp Ở một số trường hợp khác, ông cho rằng từ với còn

là trợ từ tình thái biểu thị thái độ cầu mong

Ta thấy, trong những công trình nghiên cứu của các tác giả trên đây về ba hư

từ và, với, cùng thì nhìn chung chưa có bài viết nào xem xét một cách toàn diện cả ba

từ này theo hướng của ngữ pháp chức năng Chỉ có một số công trình nghiên cứu vềtừng từ hay nghiên cứu một trong ba từ đặt trong mối tương quan với các từ khác

Đáng chú ý nhất là khóa luận tốt nghiệp Từ với và từ cùng trong tiếng Việt

trên ba bình diện kết học, nghĩa học và dụng học của tác giả Nguyễn Thị Bình (năm

2015) tại trường Đại học Sư phạm Hà Nội Ở khóa luận này, tác giả Nguyễn Thị

Bình tập trung xem xét hai từ với, cùng theo hướng ba bình diện Tuy nhiên, tác giả

mới chỉ tập trung nghiên cứu kĩ hai từ này với tư cách là các thực từ Còn trong vaitrò là hư từ thì mới chỉ được “đả động” qua, chưa được xem xét, phân tích một cách

kĩ lưỡng và có hệ thống

Như vậy, hư từ và, với, cùng đã ít nhiều được một số tác giả đề cập đến trong

các công trình nghiên cứu của mình Tuy nhiên, những nghiên cứu đó còn mang

tính chung chung, chưa có sự toàn diện và nhất quán Do đó vấn đề: hư từ và, với, cùng trên ba bình diện kết học, nghĩa học và dụng học vẫn là hướng mở cho các nhà

nghiên cứu tìm hiểu, khám phá

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích của đề tài là làm rõ những đặc điểm về ngữ pháp, ngữ nghĩa và ngữ

dụng của các hư từ và, với, cùng theo hướng nghiên cứu của ngữ pháp chức năng.

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích trên, chúng tôi tập trung giải quyết những nhiệm vụ sau:

Trang 13

- Tập trung nghiên cứu các vấn đề lí thuyết liên quan (lí thuyết về ba bìnhdiện, lí thuyết về từ loại).

- Khảo sát những trường hợp xuất hiện của từ và, với, cùng trong các phát ngôn.

- Làm rõ đặc điểm kết học, nghĩa học, dụng học của nhóm từ này trong phạm

vi khảo sát

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu và tư liệu khảo sát

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các từ và, với, cùng xét trên ba bình

diện của ngữ pháp chức năng

Nghiên cứu hư từ và, với, cùng dưới ánh sáng của ngữ pháp chức năng,

nghĩa là chúng sẽ được chúng tôi xem xét cả ở dạng tồn tại trong hệ thống và cảtrong hoạt động hành chức Các hư từ này sẽ được xem xét chủ yếu ở dạng tồn tại

độc lập và ở dạng kết hợp (cùng với, và cùng với).

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Ngôn ngữ học hiện đại có thể xem xét ba hư từ và, với cùng trong tiếng Việt

dưới nhiều góc độ, nhiều phương diện khác nhau Trong khuôn khổ của luận vănthạc sĩ, chúng tôi giới hạn việc xem xét ba hư từ này theo quan điểm ba bình diệnkết học, nghĩa học và dụng học của ngữ pháp chức năng

Phạm vi nguồn ngữ liệu:

Các kết quả khảo sát được chúng tôi đưa ra trong luận văn dựa trên các

nguồn ngữ liệu chính bao gồm: Từ điển tiếng Việt (2015, Hoàng Phê chủ biên,

Trung tâm từ điển học - Nxb Đà Nẵng); và 13 tác phẩm văn học sau đây:

(1) Vũ Bằng (2006), Thương nhớ mười hai, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội (2) Nam Cao (1997), Tuyển tập Nam Cao, tập 1, Nxb Văn học, Hà Nội (3) Nam Cao (1997), Tuyển tập Nam Cao, tập 2, Nxb Văn học, Hà Nội (4) Nguyễn Minh Châu (2012), Nguyễn Minh Châu tuyển tập, Nxb Văn học,

Trang 14

(7) Vũ Trọng Phụng (2004), Tuyển tập Vũ Trọng Phụng, Nxb Văn học, Hà Nội (8) Vũ Trọng Phụng (2004), Số đỏ, Nxb Văn học, Hà Nội.

(9) Vũ Trọng Phụng (1997), Truyện ngắn, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội.

(10) Ngô Tất Tố (1984), Tắt đèn, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

(11) Ngô Tất Tố (1996), Ngô Tất Tố toàn tập, Nxb Văn học, Hà Nội.

(12) Phương Thu (2004), Ca dao tục ngữ Việt Nam, Nxb Thanh niên, Hà Nội (13) Nguyễn Tuân (2002), Vang bóng một thời, Nxb Đà Nẵng.

5 Phương pháp nghiên cứu

Để hoàn thành đề tài nghiên cứu, trong quá trình tiếp cận và phân tích đốitượng, chúng tôi sử dụng một số phương pháp, thủ pháp sau:

5.1 Thủ pháp thống kê, phân loại

Để nghiên cứu một cách thấu đáo hư từ và, với, cùng của tiếng Việt trên

ba bình diện kết học, nghĩa học và dụng học thì cần phải xác định được chínhxác số lượng các hư từ này trong từ điển tiếng Việt và trong các nguồn ngữ liệu.Sau đó, phân loại các hư từ đang xem xét dựa trên những đặc điểm giống nhautrên các bình diện ngữ nghĩa, ngữ pháp và ngữ dụng để có thể xếp chúng vàonhững tiểu loại nhất định

5.2 Thủ pháp so sánh

Trong các tiểu loại đã được phân nhóm, chúng tôi tiến hành so sánh, đốichiếu chúng với nhau để có những nhận xét cụ thể nhất Từ đó chúng tôi rút ra nhậnxét về sự giống nhau và khác nhau trên từng bình diện cụ thể của các hư từ này

5.3 Phương pháp phân tích, miêu tả

Đây là phương pháp nghiên cứu chủ yếu trong đề tài Sau khi thống kê, phânloại các ngữ liệu, việc vận dụng phương pháp phân tích - miêu tả sẽ giúp chúng tôichỉ ra một cách cụ thể các trường hợp điển hình về vị trí, cách kết hợp, chức năng

ngữ pháp của các từ và, với, cùng trong phạm vi nghiên cứu của luận văn.Sau đó,

dựa vào các kết quả đã thống kê, so sánh, đối chiếu, chúng tôi đi vào phân tích cácđặc điểm cấu tạo, ngữ nghĩa, ngữ dụng Từ đó làm sơ sở rút ra những kết luận chonhóm từ đang khảo sát

Trang 15

6 Đóng góp của luận văn

6.1 Đóng góp về lí luận

Thực hiện đề tài này, chúng tôi hi vọng sẽ bổ sung, hoàn thiện lí thuyết về babình diện của ngữ pháp chức năng khi xem xét các trường hợp cụ thể Từ đó, có thểcung cấp thêm cái nhìn mới về từ loại so với cách xem xét chúng dưới góc độ củangữ pháp truyền thống

6.2 Đóng góp về thực tiễn

Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ giúp người đọc nắm chắc được bản chất từ

loại, đặc điểm ngữ nghĩa và ngữ dụng của các hư từ và, với, cùng và biết cách sử

dụng chúng một cách hợp lí trong giao tiếp, giúp cho câu văn trở nên chặt chẽ,mạch lạc hơn Do vậy, đề tài sẽ là tài liệu tham khảo cho học sinh, sinh viên, cácthầy cô giáo, các nhà nghiên cứu quan tâm đến từ loại tiếng Việt nói riêng và ngữpháp tiếng Việt nói chung theo lí thuyết ba bình diện

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận văn có 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận

Chương 2: Bình diện kết học của hư từ và, với, cùng

Chương 3: Bình diện nghĩa học và dụng học của hư từ và, với, cùng

Trang 16

Chương 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT

Trong chương này, luận văn trình bày khái quát những nội dung lý thuyếtliên quan đến lí thuyết ba bình diện kết học, nghĩa học và dụng học theo quan điểmcủa ngữ pháp chức năng và một số lí thuyết liên quan đến từ loại và hư từ tiếng Việt

để làm cơ sở cho việc phân tích và mô tả đặc điểm của ba hư từ và, với, cùng trong

tiếng Việt trên ba bình diện ở các chương sau

1.1 Lí thuyết ba bình diện kết học, nghĩa học và dụng học theo quan niệm của ngữ pháp chức năng

Để có được những thành tựu to lớn như ngày hôm nay, ngôn ngữ học đã trảiqua một quá trình phát triển lâu dài, liên tục và vô cùng mạnh mẽ Nếu như trướcđây, ngành khoa học này chỉ nghiên cứu các đơn vị của ngôn ngữ ở bình diện ngữpháp mà cụ thể là mới chỉ chỉ ra được mối quan hệ giữa các tín hiệu với nhau trong

hệ thống ngôn ngữ thì vào nửa giữa của thế kỉ XX, ngữ pháp hiện đại đã có thêmnhững khám phá tiến bộ và vô cùng thú vị Ở đó, người ta đã chỉ ra được mối quan

hệ qua lại, ràng buộc, chi phối lẫn nhau giữa các bình diện ngôn ngữ: bình diện kếthọc, nghĩa học, dụng học

Người đưa ra những lí thuyết ban đầu về mô hình ba bình diện là Ch Morris(1938) Quan điểm của ông như sau:

Kết học (syntactics) (hay cú pháp như đã quen dùng đối với hệ thống kí hiệu

ngôn ngữ): nghiên cứu các kí hiệu trong mối quan hệ kết hợp với các kí hiệu khác

Nghĩa học (simantics): nghiên cứu các kí hiệu trong những mối quan hệ với

các sự vật ở bên ngoài hệ thống kí hiệu

Dụng pháp (pragmatics): nghiên cứu kí hiệu trong những mối quan hệ với

người sử dụng nó

Sau đây, chúng tôi sẽ đi vào trình bày những nội dung liên quan đến lí thuyết

ba bình diện theo quan điểm của ngữ pháp chức năng

1.1.1 Bình diện kết học

Bình diện kết học là bình diện nghiên cứu mối quan hệ giữa các đơn vị ngữpháp trong câu

Trang 17

Trong quan niệm của một số lớn các nhà ngôn ngữ học chức năng ngày nay,cương vị của các yếu tố thuộc bình diện cú pháp được xác định như sau: các chứcnăng cú pháp xác định cách trình bày sự tình theo cách sắp xếp của cấu trúc cú pháp.

Theo V.G Gak (1981): Bình diện cú pháp phản ánh mặt bề ngoài của câu,

cho thấy nó được cấu tạo như thế nào Chủ ngữ cú pháp và vị ngữ cú pháp có nhữngcách thể hiện nhất định bằng phương tiện hình thái học và cú pháp

S.C.Dik (1981) lại cho rằng: Bình diện cú pháp xét về mặt tiêu chuẩn, hình

thức thuần túy Bình diện này trình bày các sự tình theo cách sắp xếp của cấu trúcngữ pháp

Ở Việt Nam, có rất nhiều nhà nghiên cứu cũng đi vào khai thác lí thuyết babình diện và thu được thành quả không nhỏ Chúng ta có thể kể tên một số tác giả

có công đầu trong việc áp dụng lí thuyết ba bình diện vào nghiên cứu tiếng Việt trên

ba bình diện như: Đỗ Hữu Châu, Diệp Quang Ban, Cao Xuân Hạo, Nguyễn ĐứcDân, Nguyễn Văn Hiệp…

Trong cuốn Đại cương ngôn ngữ học - Ngữ dụng học (2001), NXB Giáo dục,

Hà Nội, GS.TS Đỗ Hữu Châu cho rằng: “Kết học là lĩnh vực của các quy tắc hình thức kết hợp của tín hiệu thành một thông điệp (có thể là các quy tắc tuyến tính hay quy tắc đồng thời tùy theo thể chất của từng hệ thống tín hiệu) Nói vắn tắt, kết học

là lĩnh vực nghiên cứu quan hệ giữa tín hiệu với tín hiệu” [12, 10]

Cao Xuân Hạo trong cuốn Sơ thảo ngữ pháp chức năng cho rằng: Bình diện

cú pháp là bình diện của những khái niệm được xác định bằng những tiêu chuẩn hình

thức thuần túy Các chức năng cú pháp như chủ ngữ, vị ngữ, bổ ngữ trực tiếp, bổ ngữgián tiếp, định ngữ được xác định không phải căn cứ vào việc các ngữ đoạn biểu thịcái gì mà vào mối quan hệ ngữ pháp với các ngữ đoạn khác được biểu thị bằng nhữngphương tiện hình thức gọi là tác tử cú pháp (syntactic operators) như hình thái cáchhoặc cá chuyển tố (translatifs hay relateurs), các “giới từ”, bằng sự phù ứng về số, vềngôi với một danh ngữ nhất định (đặc trưng của vị ngữ…) [25, 21]

Nhìn chung, có rất nhiều nhà nghiên cứu ngôn ngữ đưa ra các quan điểmkhác nhau về lí thuyết ba bình diện Nhưng tựu chung lại, các tác giả đều cho rằng

Trang 18

đây là bình diện nghiên cứu mặt hình thức của ngôn ngữ Ở bình diện này, nhữngvấn đề thường được quan tâm nghiên cứu là các quy tắc, cách thức liên kết các từthành cụm từ (cú pháp cụm từ) và thành các câu (cú pháp câu).

Cú pháp cụm từ: nghiên cứu tổ chức hình thức của từ theo quan hệ cú pháp:

quan hệ đẳng lập, quan hệ chủ vị, quan hệ chính phụ

Cú pháp câu: Đây là lĩnh vực nghiên cứu cách tổ chức của các kiểu câu khác

nhau trong một ngôn ngữ cụ thể, nó thuộc về cấu trúc nội tại của hệ thống ngônngữ Cú pháp câu tập trung vào hai vấn đề chính: các thành phần câu và các kiểucâu theo cấu tạo ngữ pháp Cấu trúc cú pháp sẽ phân biệt với cấu trúc nghĩa biểuhiện trên bình diện nghĩa và cấu trúc đề thuyết trên bình diện ngữ dụng

Tóm lại, bình diện ngữ pháp là bình diện quan trọng của câu Nó cho ta biếtmặt hình thức của ngôn ngữ Ở bình diện này, những vấn đề thường được quan tâmnghiên cứu là các quy tắc, cách thức liên kết các từ thành cụm từ (cú pháp cụm từ)

và thành các câu, kiểu câu (cú pháp câu) như trên đã trình bày

1.1.2 Bình diện nghĩa học

Trong ngôn ngữ học hiện đại nói chung và trong trào lưu ngữ pháp chứcnăng nói riêng, bình diện nghĩa học của từ được đặc biệt quan tâm Khi đi vàonghiên cứu bình diện nghĩa theo hướng của ngữ pháp chức năng, người ta đã chú ýtới hai thành phần nghĩa cơ bản: nghĩa biểu hiện (còn gọi là nghĩa miêu tả, nghĩa sựvật, nghĩa mệnh đề, nghĩa quan niệm) và nghĩa tình thái của câu

a Nghĩa tình thái

Nghĩa tình thái là thành phần nghĩa có vị trí quan trọng và luôn có mặt ởtrong câu tuy đây là một thành phần nghĩa vô cùng phức tạp Chúng có thể là cácđơn vị ngôn ngữ thuộc các cấp độ khác nhau (từ, ngữ, câu) ở các phương diện khácnhau (phương diện từ vựng, phương diện ngữ pháp) nhưng nó cũng có thể là cácyếu tố thuộc về trật tự từ, ngữ điệu… Chính sự phức tạp này đã dẫn đến những Córất nhiều cách định nghĩa khác nhau về chúng Nhìn chung, các định nghĩa đều đềcập tới quan hệ giữa thực tế được phản ánh với người phát ngôn và nội dung đượcmiêu tả trong phát ngôn Trong các định nghĩa, chúng tôi hoàn toàn nhất trí với

Trang 19

quan niệm của tác giả Nguyễn Văn Hiệp về nghĩa tình thái: “Phạm trù ngữ nghĩa này bao gồm những quan điểm, thái độ khác nhau của người nói, được biểu hiện như là những thông tin kèm theo, có tác dụng định tính cho nội dung được miêu tả trong câu, xét trong mối quan hệ với người nghe, với hoàn cảnh giao tiếp” [28, 84]

Không chỉ có các quan niệm khác nhau về nghĩa tình thái mà trong thực tế sửdụng ngôn ngữ, ta thấy cũng xuất hiện những ý kiến không đồng nhất về các phânloại loại nghĩa này

Tác giả Nguyễn Thị Lương trong cuốn Câu tiếng Việt (2013) cho rằng có bốn

loại nghĩa tình thái thường gặp sau đây:

- Tình thái của hành động nói

Hành động nói là một hoạt động nói năng, được thực hiện bằng cách nói ra câu nói biểu thị mục đích / ý định của người nói [30, 180] Do được dùng để thể

hiện thái độ, mục đích, ý định của người nói nên hành động nói chính là một loại ýnghĩa của câu - ý nghĩa tình thái Ví dụ:

(1) Tôi nhất định không lùi bước trước khó khăn (hành động khẳng định) (2) Tôi có nói điều đó đâu (hành động phủ định - bác bỏ)

- Tình thái liên cá nhân: thể hiện thái độ, tình cảm, mối quan hẹ giữa người

nói với người nghe Nó thường được thể hiện qua cách dùng các đại từ nhân xưng,các từ hô gọi và các tình thái từ…Ví dụ:

(3) Mình ơi, lấy hộ em cái mũ (dùng từ hô gọi để biểu thị thái độ thân mật)

- Tình thái chủ quan: thể hiện thái độ, cách đánh giá của người nói đối với sự

việc được nêu trong câu Đây là loại tình thái phong phú về ý nghĩa, đa dạng vềphương tiện biểu hiện Ví dụ:

(4) Chắc chắn anh đã biết việc đó (thái độ tin cậy cao được thể hiện qua quán ngữ tình thái chắc chắn)

(5) Hình như anh ấy đã về (thái độ chưa chắc chắn thể hiện qua tiểu từ tình thái hình như)

- Tình thái khách quan: nêu nhận xét, đánh giá về sự việc được phản ánh

trong câu nhưng ở góc độ khách quan (có thể kiểm tra tính đúng / sai của sự đánhgiá ) Ví dụ:

Trang 20

(6) Đúng là có chuyện đó (khẳng định)

(7) Tôi đâu có đến muộn (phủ định bác bỏ)

Như vậy, có thể thấy rằng, nghĩa tình thái là một loại nghĩa quan trọng,không thể thiếu được trong câu Nó biểu thị thái độ, quan hệ, cách đánh giá củangười nói đối với người nghe hay của người nói đối với hiện thực được phản ánhtrong câu Tuy nhiên, trong một câu nói, ở nhiều trường hợp, điều người ta quantâm đến là nội dung biểu hiện có tính chất cốt lõi về ngữ nghĩa của câu Dưới đâychúng tôi xin trình bày thành phần nghĩa biểu hiện của câu

b Nghĩa biểu hiện

* Khái niệm nghĩa biểu hiện:

Câu là đơn vị cơ bản và tối thiểu có thể sử dụng vào việc giao tiếp Thườngkhi hiện thực hóa một câu, người nói muốn trao đổi hoặc truyền đạt đến người nghemột thông tin nào đó về một sự vật, sự việc, hiện tượng (gọi là sự tình hay sự thể)đang diễn ra trong thực tế khách quan bên ngoài ngôn ngữ Lúc này, sự việc hoặchình ảnh của sự việc ấy trở thành nghĩa biểu hiện của câu diễn đạt nó Do đó, nghĩabiểu hiện của câu có thể được hiểu là thành phần nghĩa phản ánh vật, việc, hiệntượng nào đó của hiện thực Sự phản ánh này là sự phản ánh thông qua quá trìnhnhận thức của con người và sự chi phối của logic Tác giả Nguyễn Thị Lương cho

rằng: Nghĩa biểu hiện của câu là nghĩa biểu thị vật, việc, hiện tượng (gọi chung là

sự tình) trong thực tế khách quan được phản ánh vào trong câu, qua lăng kính chủ quan của người nói (viết) [30, 151]

* Cấu trúc nghĩa biểu hiện:

Cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu là cấu trúc nghĩa của sự việc được phản ánhvào câu gồm nội dung sự tình và các yếu tố tham gia vào sự tình

Nội dung của sự tình có thể là một đặc trưng hay quan hệ có tính động hoặctính tĩnh làm thành cái cốt lõi của sự tình Các nhà ngữ pháp chức năng thường gọi

yếu tố này là vị tố (vị từ) Ở trong câu, nó thường được diễn đạt bằng động từ, tính

từ, từ chỉ quan hệ không dùng độc lập hoặc danh từ Ví dụ:

(8) Ta nói chuyện với nhau, thế nào cũng xong [1, 39] (vị tố là động từ)

Trang 21

(9) Đó là một buổi sáng đầy sương thu và gió lạnh (vị tố là từ chỉ quan hệ

không dùng độc lập)

Bên cạnh vị tố, còn có các yếu tố tham gia vào sự tình với một chức năng

nghĩa nhất định được gọi là các vai nghĩa Các vai nghĩa thường được phân biệt

thành hai loại là tham thể (tham thể cơ sở, diễn tố) và chu cảnh (cảnh huống, chu

tố, tham thể mở rộng).

* Tham thể và cấu trúc vị tố - tham thể

Tham thể là những vai nghĩa xuất hiện trong sự tình do sự đòi hỏi, ấn địnhtrực tiếp của vị tố Mỗi vị tố cụ thể sẽ quy định số lượng và các chức năng nghĩakhác nhau của các tham thể đi cùng với nó tạo nên một sự tình nhất định Chính vìvậy, sự có mặt của các tham thể sẽ xác định bản chất của từng loại vị tố và từng loại

sự tình cụ thể Nếu thay đổi tham thể và chức năng nghĩa của chúng , ta sẽ có một

sự tình khác và một vị tố khác

Vị tố cùng các tham thể của nó sẽ làm thành cấu trúc vị tố - tham thể (cấutrúc nòng cốt của các sự tình) Khi sự tình được phản ánh vào trong câu, nó sẽ trởthành phần cốt lõi trong cấu trúc nghĩa biểu hiện

Tồn tại trong thực tế sử dụng ngôn ngữ sẽ có những sự tình có cấu trúc một

vị tố - tham thể, cấu trúc hai tham thể, cấu trúc ba tham thể

Thực tế sử dụng ngôn ngữ cho thấy các loại hình sự tình khác nhau sẽ có cấutrúc vị tố - tham thể khác nhau Mỗi loại sự tình trong hiện thực được đặc trưng bởimột cấu trúc vị tố - tham thể nhất định Chúng khác nhau về các đặc trưng / quan hệcũng như về số lượng và các kiểu loại tham thể

Như vậy, xét về mặt nghĩa, tham thể là những vai nghĩa tất yếu do bản thân ýnghĩa của vị tố quy định Nếu thay đổi số lượng hay chức năng nghĩa của các thamthể (cũng có nghĩa vị tố đã có sự thay đổi) sẽ dẫn tới sự thay đổi của sự tình chứa

nó Đây chính là sự khác biệt cơ bản giữa tham thể và chu cảnh.

Trong các sự tình nêu đặc trưng, ta thường gặp một số tham thể là: động thể,đương thể, cảm thể, phát ngôn thể, đích thể, tiếp thể…

Trang 22

* Chu cảnh

Chu cảnh là những vai nghĩa xuất hiện trong sự tình do sự chi phối của tìnhhuống, của ngữ cảnh chứ không chịu sự chi phối trực tiếp của vị tố Bởi vậy, chúngkhông có tác dụng xác định đặc tính cho các loại vị tố, cho cấu trúc nghĩa của cácloại sự tình cũng như cho chính các loại sự tình Chúng là các yếu tố về thời gian,không gian, nguyên nhân, mục đích, cách thức, phương tiện… có mặt trong sự tình,làm cho sự tình được đầy đủ hơn Ví dụ:

(10) Họ đến đây lúc năm giờ chiều.

Ta thấy, việc tồn tại của chu cảnh thời gian “lúc năm giờ chiều” giúp chúng

ta xác định được thời điểm mà hành động của các nhân vật diễn ra

Xuất hiện trong sự tình, không do sự chi phối trực tiếp của vị tố nhưng cácchu cảnh cũng không hoàn toàn không liên quan tới chúng Chu cảnh phải được vị

tố chấp nhận Ta không thể ghép nó vào bất kì loại sự tình nào một cách tùy tiện

Ta có thể kể ra một số nhóm chu cảnh thường gặp trong sự tình là: không gian(vị trí,hướng, điểm đến), thời gian (thời điểm, thời hạn, tần số), phương tiện, cách thức,nguyên nhân, hệ quả, mục đích điều kiện, vai diễn, mức độ, khoảng cách…

Cũng giống như các tham thể, chu cảnh có thể được hay không được hiệnthực hóa trong câu, tùy thuộc vào tình huống giao tiếp và ngữ cảnh cụ thể Tuynhiên, hai loại vai nghĩa này khác nhau ở chỗ: tham thể thường chỉ có mặt ở mộtloại sự tình nhất định do sự chi phối của một loại vị tố nhất định Còn cách chu cảnh

do biểu thị các ý nghĩa về thời gian, nơi chốn… lại có khả năng đi với nhiều loại vị

tố, xuất hiện trong nhiều loại sự tình khác nhau Mặt khác, khi được hiện thực hóatrong câu, tham thể thường trong vai trò các thành phần chính của câu (chủ ngữ, bổngữ) còn chu cảnh thường trong vai trò thành phần phụ (trạng ngữ hoặc đề ngữ) Vềphương tiện diễn đạt, tham thể thường do các danh từ hay cụm danh từ đảm nhậncòn chu cảnh thì đa dạng hơn, nó có thể được biểu thị bằng một danh từ (cụm danhtừ), động từ (cụm động từ), tính từ (cụm tính từ), số từ (cụm số từ)… Ta thấy, sựphân biệt hai vai nghĩa trên đây một mặt căn cứ vào bản thân nghĩa của chúng, mặtkhác cũng dựa vào vị trí của chúng trong cấu trúc nghĩa biểu hiện và cấu trúc cúpháp để xác định

Trang 23

Tóm lại, đúng như Halliday đã nhận định: “Sự phân biệt giữa chu cảnh và tham thể có lẽ là sự phân biệt phù hợp cho mọi ngôn ngữ” [26, 268] Khi đã phân

biệt được hai loại vai nghĩa này, chúng ta sẽ xác định rõ vai trò của các vai nghĩatrong sự tình cũng như xác định rõ các kiểu sự tình

Trên đây, chúng ta đã tìm hiểu một cách khái quát nhất bình diện ngữ nghĩacủa câu với hai vấn đề cơ bản là nghĩa tình thái và nghĩa biểu hiện Trong câu, cácthành phần nghĩa này không tồn tại một cách riêng rẽ mà phối hợp, bổ sung chonhau tạo nên bình diện ngữ nghĩa của câu

1.1.3 Bình diện dụng học

Bình diện ngữ dụng là bình diện của mối quan hệ giữa các đơn vị ngôn ngữvới người sử dụng Ở bình diện này, đối tượng xem xét là câu trong hoạt động giaotiếp, tức là câu với tư cách là một thông điệp

Nguyễn Thị Lương cho rằng: “Bình diện này nghiên cứu mối quan hệ giữa câu với người sử dụng, giữa câu với việc sử dụng trong tình huống giao tiếp cụ thể nhằm phát hiện những ý nghĩa của câu - phát ngôn trong tình huống cụ thể đó” [30, 156]

Với tư cách là một thông điệp, cấu trúc thông tin của câu là vấn đề đượcquan tâm hàng đầu với các nội dung như: cấu trúc đề - thuyết, tin cũ - tin mới, tiêuđiểm Bên cạnh cấu trúc thông tin, ở bình diện ngữ dụng của câu, còn một số vấn đềnhư: câu phân loại theo mục đích nói, hành vi ngôn ngữ, nghĩa dụng học của câu(nghĩa tường minh và nghĩa hàm ẩn)…Các vấn đề này hết sức quan trọng nhưngcũng vô cùng phức tạp, khó nắm bắt Sau đây, chúng tôi xin trình bày một số vấn đềliên quan đến luận văn

a Cấu trúc đề - thuyết

Về vấn đề này, hiện nay tồn tại rất nhiều quan điểm khác nhau Một quanniệm cho rằng, trong tiếng Việt, cấu trúc đề - thuyết là cấu trúc cơ bản của câu và nónằm ngoài bình diện logic - ngôn từ Tiêu biểu là quan niệm của tác giả Cao XuânHạo Tác giả cho rằng, khi nói ra một câu, người ta đưa ra một cái đề (thành tố trựctiếp của câu nêu rõ phạm vi ứng dụng của điều được nói bằng thành tố trực tiếp thứhai: phần thuyết), rồi nói ra một điều gì về cái đó hoặc trong khuôn khổ của cái đề

Trang 24

đó Trật tự bình thường của cái đề - thuyết là phần đề đi trước phần thuyết Những

phương tiện đánh dấu biên giới giữa đề và thuyết là hai tác tử phân giới thì và mà.

Khác với quan niệm trên, phần đông các nhà Việt ngữ học quan niệm cấutrúc đề - thuyết là cấu trúc thông báo của câu, nó thuộc về lĩnh vực phân đoạn thựctại câu hoặc nằm trong bình diện tổ chức cú như một thông điệp trong mô hình líthuyết ngữ pháp chức năng của Halliday Các nhà nghiên cứu cho rằng, cấu trúc nàytồn tại song song với cấu trúc chủ vị vì đây là hai cấu trúc thuộc hai bình diện khácnhau (cấu trúc chủ - vị thuộc bình diện ngữ pháp còn cấu trúc đề - thuyết thuộc bìnhdiện dụng học) Trong cấu trúc đề - thuyết, đề được chọn làm xuất phát điểm chocâu nói Phần câu còn lại được dùng để phát triển phần đề (giải thích cho vật, việc,hiện tượng nêu ở phần đề) được gọi là phần thuyết

Cấu trúc đề - thuyết được hình thành trong từng hoàn cảnh giao tiếp cụ thể

và có thể thay đổi tùy theo hoàn cảnh giao tiếp và nhiệm vụ giao tiếp đặt ra Trênthực tế, việc chọn từ ngữ nào làm phần đề (xuất phát điểm) của câu là tùy thuộc vàothái độ, cách nhìn nhận sự việc của người nói Như vậy, quan hệ giữa phần đề vàphần thuyết là quan hệ trật tự thông báo tuyến tính Đó là cách sắp xếp các bộ phận

có nghĩa trong câu theo trật tự trước - sau phản ánh kinh nghiệm tổ chức thông điệpcủa người nói

Khi nghiên cứu cấu trúc đề - thuyết, các nhà Việt ngữ học đã quan tâm đếnviệc phân loại đề Tuy nhiên, vấn đề này cũng tồn tại hai quan điểm:

Quan điểm 1: Phân loại đề thành đề văn bản, đề tình thái, đề đề tài.

Đây là quan điểm của Halliday và được tác giả Diệp Quang Ban ứng dụngtrong nghiên cứu câu tiếng Việt Sau đây là ba loại đề:

- Đề-đề tài: nêu thực thể hay sự việc có quan hệ về nghĩa biểu hiện với phần

thuyết của câu

- Đề tình thái: nêu thái độ của người nói với người nghe hoặc cách nhìn của

người nói đối với cái được nói đến trong câu

- Đề văn bản: Chỉ ra mối quan hệ nghĩa - logic của câu với lời trước đó hay

với tình huống

Trang 25

Trên thực tế, có những câu chỉ dùng một loại đề gọi là đơn đề nhưng lại có những câu tồn tại nhiều loại đề gọi là bội đề.

Trong các kiểu câu, nếu đề đề tài trùng với chủ ngữ thì đó là đề không đánh

dấu Nếu đề đề tài không trùng với chủ ngữ thì gọi là đề đánh dấu.

Quan điểm 2: Phân biệt thành hai loại đề: Khung đề và Chủ đề

Khung đề: là yếu tố nêu rõ những điều kiện làm thành cái khung về cảnhhuống không gian, thời gian trong đó điều nói ở phần thuyết có hiệu lực

Chủ đề: là thành phần câu chỉ cái đối tượng được nói đến trong phần thuyết,cái chủ thể của sự nhận định Ví dụ:

(11)

Trời vừa sẫm tối, tôi cùng một cậu chiến sĩ lên đường.

ThuyếtĐề

[4, 15]

Trong thực tế sử dụng ngôn ngữ, cấu trúc đề - thuyết có khi đầy đủ cả haithành phần nhưng cũng có những trường hợp, do sự chi phối của các yếu tố thuộc

về ngữ cảnh, mục đích giao tiếp, cấu trúc này bị tỉnh lược thành phần Lúc đó, câu

chỉ còn lại phần đề hoặc phần thuyết.

Cấu trúc đề - thuyết có quan hệ mật thiết với cấu trúc tin cũ - tin mới.Thường tin cũ (phần đã biết) chứa trong phần đề của câu còn tin mới (phần chưabiết) được chứa trong phần thuyết Trên thực tế, trật tự này nhiều khi không cố định

b Lập luận

Lập luận là đưa ra những lí lẽ nhằm dẫn đến một kết luận nào đấy Nó bao

gồm kết luận và một hoặc nhiều luận cứ dẫn đến kết luận ấy Ví dụ: Trời đẹp (luận cứ) nên tôi đi chơi (kết luận).

Trong lập luận có các chỉ dẫn lập luận Đây là những dấu hiệu hình thức mànhờ chúng người nghe nhận ra được hướng lập luận và các đặc tính lập luận của cácluận cứ trong một quan hệ lập luận Các chỉ dẫn lập luận gồm hai loại lớn là tác tửlập luận và kết tử lập luận

Tác tử lập luận là một yếu tố khi được đưa vào nội dung nào đấy sẽ làm thay

Trang 26

đổi tiềm năng lập luận của nó, độc lập với thông tin miêu tả vốn có của nó Ví dụ:

(12) Bây giờ đã tám giờ rồi (muộn)

(13) Bây giờ mới tám giờ thôi (sớm)

Kết tử lập luận là những yếu tố phối hợp hai hoặc một số phát ngôn thànhmột lập luận duy nhất Nhờ các kết tử mà các phát ngôn trở thành luận cứ hay kếtluận của một lập luận Ví dụ:

(14) Trời đẹp nên tôi đi chơi.

Trong lập luận, hư từ có vai trò là các chỉ dẫn lập luận giúp chúng ta nhận rahướng và đặc tính của lập luận đang xét

c Hành động ngôn ngữ

Hành động ngôn ngữ là hành động thực hiện khi tạo ra một phát ngôn trong một cuộc giao tiếp Hành động ngôn ngữ đòi hỏi phải có điều kiện, thao tác, cách thức tổ chức thao tác và quan trọng nhất là đích như mọi hoạt động khác của con người có ý thức [15, 55]

Trong một cuộc giao tiếp, một phát ngôn được tạo ra thường do ba loạihành động:

Hành động tạo lời: Hành động sử dụng các đơn vị, các quan hệ ngoài ngônngữ để tạo nên các biểu thức có nghĩa

Hành động mượn lời: Hành động phát ngôn nhằm gây ra một tác động nào

* Mối quan hệ giữa ba bình diện ngữ pháp - ngữ nghĩa và ngữ dụng

Trang 27

Như chúng ta đã biết, ngữ pháp chức năng là một khuynh hướng ngôn ngữhọc hiện đại chủ trương nghiên cứu ngôn ngữ trên cả ba bình diện ngữ nghĩa - ngữpháp và ngữ dụng Tuy nhiên, với ngữ pháp chức năng, ba bình diện này khôngđược nghiên cứu độc lập, tách biệt nhau mà chúng được nhìn nhận trong mối quan

hệ tương tác lẫn nhau Tuy nhiên, trên thực tế, ba bình diện này chỉ có quan hệ vớinhau chứ không hoàn toàn đồng nhất và không có sự tương ứng một đối một vớinhau bởi vì chúng thuộc về ba bình diện khác nhau Chính vì thế, chỉ khi được soichiếu ba bình diện trong mối quan hệ tương hỗ thì chức năng của từ khi tham giahoạt động giao tiếp mới được xem xét một cách đầy đủ và toàn diện nhất Vì vậy,khi nghiên cứu thì không được xem xét một bình diện một cách riêng lẻ, tách biệthoàn toàn khỏi các bình diện khác mà phải đồng thời phải xem xét chúng trên babình diện vừa độc lập, vừa tương tác này

1.2 Hệ thống từ loại tiếng việt

1.2.1 Khái quát về từ loại tiếng Việt

1.2.1.1 Khái niệm từ loại

Mỗi một ngôn ngữ đều có một hệ thống từ loại riêng biệt và vô cùng phongphú Tiếng Việt cũng không phải là ngoại lệ Khái niệm về từ loại được các nhànghiên cứu ngôn ngữ ở Việt Nam định nghĩa như sau:

Lê Biên quan niệm: “Từ loại là sự phân loại vốn từ của một ngôn ngữ cụ thể thành những loại, những hạng dựa vào những đặc trưng ngữ pháp Sự quy loại của một lớp từ nào đó vào một loại từ nhất định được xác định bởi những đặc trưng về ngữ pháp, về hoạt động ngữ pháp của nó trong việc thực hiện một chức năng cú pháp nhất định” và “Từ loại là một phổ niệm của mọi ngôn ngữ, không phụ thuộc vào phương thức biểu hiện nó”, hay “chỉ sự phân loại từ nào nhằm mục đích ngữ pháp theo bản chất ngữ pháp của từ mới được gọi là từ loại” [3, 8]

Còn Đinh Văn Đức trong cuốn Ngữ pháp tiếng Việt - Từ loại lại cho rằng:

“Từ loại là lớp từ có cũng bản chất ngữ pháp, được phân chia theo ý nghĩa, theo khả năng kết hợp với các từ ngữ khác trong ngữ lưu và thực hiện những chức năng ngữ pháp nhất định ở trong câu” [24, 23]

Ta thấy rằng, phân chia hệ thống từ vựng theo tiêu chí đặc trưng ngữ pháp,

Trang 28

bản chất ngữ pháp của chúng sẽ cho ta từ loại Hay nói cách khác, từ loại là lớp từ

có sự tương đồng, giống nhau về các đặc điểm ngữ pháp

1.2.1.2 Tiêu chuẩn phân định từ loại tiếng Việt

Về vấn đề phận định từ loại tiếng Việt, mỗi nhà nghiên cứu có quan điểm,cách nhìn nhận và gọi tên khác nhau Tuy nhiên, nhìn một cách khái quát có thể căn

cứ vào ba tiêu chuẩn: ý nghĩa ngữ pháp khái quát, khả năng kết hợp và chức vụ cúpháp trong câu

a Dựa vào ý nghĩa ngữ pháp

Là ý nghĩa phạm trù, có tính khái quát hóa cao, là kết quả của quá trình trừutượng hóa nghĩa của hàng loạt cái cụ thể có mặt trong thực tế được người bản ngữnhận thức, phản ánh qua các khái niệm Ý nghĩa khái quát là ý nghĩa chung của các

từ được quy loại vào thành một nhóm - một loại từ Đây là một tiêu chí quan trọng

để phân định từ loại Ví dụ: danh từ là từ chỉ sự vật và thực thể có sự vật tính (bàn, ghế, sách, vở, sự, cuộc…), động từ là từ chỉ quá trình, các dạng vận động của sự vật, thực thể có sự vật tính (ăn, chơi, ngủ)…

b Dựa vào khả năng kết hợp

Xem xét, đánh giá khả năng kết hợp của từ là việc phân tích mối quan hệ của

từ với các thành tố xung quanh nó Từ mối quan hệ này, chúng ra xem xét từ đangxét có thể đảm nhận vai trò ngữ pháp làm thành tố chính hay thành tố phụ trong câu,

nó có thể kết hợp với những từ nào, có thể thay thế và bị thay thế ra sao trongnhững bối cảnh ngôn ngữ nhất định do chính từ tạo ra Qua việc phân tích trên,chúng ta có thể sắp xếp từ vào một lớp từ loại nhất định

Cụ thể cho vấn đề nêu ở trên có thể thấy rằng, lớp từ có khả năng làm trungtâm của tổ hợp là thực từ, ngược lại là hư từ (diễn đạt) Sau đó, chúng ta dựa vào sựchi phối của từ giữ vai trò trung tâm để nhận diện các từ ở vị trí thành tố phụ và cóthể dựa vào khả năng kết hợp của các từ làm thành tố phụ để xác định xem các từtrung tâm thuộc từ loại gì và chúng ta cũng có thể dựa vào đặc điểm của lớp từ làmthành tố phụ này để nhận ra đặc điểm của lớp từ làm thành tố phụ khác trong một tổhợp đang xét

Trong những tiêu chí dùng để phân định từ loại nói trên thì có thể nói khả

Trang 29

năng kết hợp chính là một đặc trưng chủ yếu về ngữ pháp, có vai trò quyết địnhtrong việc phân định từ loại tiếng Việt.

c Dựa vào chức vụ cú pháp

Đặc tính ngữ pháp của từ còn được thể hiện ở khả năng cấu tạo câu của từ

Ta thấy rằng trong một hoạt động ngôn ngữ, trong cấu trúc của mỗi phát ngôn, các

từ thường đảm nhiệm những chức năng ngữ pháp rõ ràng, riêng biệt Việc phân tích

cụ thể chức vụ cú pháp của từ trong câu sẽ giúp chúng ta đánh giá được đầy đủ hơnđặc điểm ngữ pháp, bản chất từ loại của một lớp từ nào đó Thông thường, các từthuộc cùng một nhóm từ loại có thể đảm nhận cùng một chức vụ cú pháp trong câu.Tuy vây, vẫn có những trường hợp khác biệt

Trong tiếng Việt, ta thấy danh từ, động từ, tính từ thường đảm nhận vai trò làmthành tố chính trong một tổ hợp còn số từ, phụ từ thường đảm nhận vai trò làm thành

tố phụ để bổ sung ý nghĩa cho thành tố chính Quan hệ từ giữ vai trò liên kết cácthành phần câu với nhau còn để phân tách ranh giới các thành phần câu, tạo ra dạngthức các kiểu câu theo mục đích phát ngôn thì người ta thường dùng tình thái từ

Cụ thể hơn, ta thấy rằng trong một câu, danh từ thường đảm nhận vai trò chủngữ còn động từ và tính từ giữ vai trò là vị ngữ Một số vị trí phụ như liên ngữthường do quan hệ từ đảm nhận, tình thái ngữ thường do trợ từ đảm nhận Tuynhiên vẫn có những trường hợp chức năng cú pháp của những từ này đảo ngược lại.Đây chính là lí do khiến tiêu chí dựa vào chức vụ cú pháp để phân định từ loại thiếutính ổn định, thuyết phục hơn so với hai tiêu chí được nêu ở trên

Điều quan trọng nhất khi phân định từ loại của một từ tiếng Việt thì ta cầnđặt từ đang xem xét vào hoàn cảnh cụ thể kết hợp với những tiêu chí đã được nêu ởtrên để có sự phân định hợp lí, đầy đủ và thuyết phục nhất

1.2.1.3 Phân định hệ thống từ loại tiếng Việt

Trong khoa học nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt, có rất nhiều quan điểm khácnhau để phân chia hệ thống từ loại Chúng ta có thể điểm qua một vài quan điểmcủa các tác giả như sau:

Lê Biên lại cho rằng có 9 loại trong hệ thống từ loại tiếng Việt Đó là: danh

Trang 30

từ, động từ, tính từ, số từ, đại từ (thuộc nhóm thực từ) và phụ từ, quan hệ từ, tìnhthái từ, thán từ (thuộc nhóm hư từ).

Nguyễn Tài Cẩn lại có cách phân chia dựa vào tiêu chí đoản ngữ Theo ông,

có thể chia hệ thống từ vựng tiếng Việt gồm 9 loại: danh từ, động từ, tính từ, số từ,đại từ, phó từ, quan hệ từ, trợ từ, thán từ

Diệp Quang Ban trong cuốn Ngữ pháp tiếng Việt (2013) thì chia hệ thống từ

loại tiếng Việt thành 10 loại như sau: danh từ, động từ, tính từ, số từ, đại từ, mạo từ,phó từ, quan hệ từ, tiểu từ tình thái, thán từ

Nguyễn Kim Thản lại căn cứ vào khả năng kết hợp và biện pháp cải biên của

từ đã chia ra các loại nhỏ trong hệ thống từ loại tiếng Việt sau đây: danh từ, thời vị

từ, số từ, động từ, tính từ, đại từ, phó từ, giới từ, liên từ, hệ từ, trợ từ, thán từ

Theo quan điểm của Bùi Minh Toán, Nguyễn Thị Lương thì từ loại tiếng Việt

có các nhóm sau: danh từ, động từ, số từ, tính từ, đại từ, phụ từ (phó từ, từ kèm),quan hệ từ, tình thái từ

Có rất nhiều ý kiến khác của các tác giả về vấn đề này Tuy nhiên, mỗi tácgiả lại căn cứ vào những tiêu chí phân loại khác nhau để đưa ra quan niệm củamình Qua khảo sát những nghiên cứu gần đây của các tác giả, chúng tôi thấy rằng,xét về mặt ngữ pháp, cách phân chia sau đây nhận được sự đồng tính của các nhànghiên cứu hơn cả Hệ thống từ loại tiếng Việt được sắp xếp thành các nhóm theobảng phân loại sau:

Bảng 1.1: Hệ thống từ loại tiếng Việt

Tìnhthái từ(trợ từ,thán từ)

1.2.1.4 Hiện tượng chuyển loại từ

Từ trong tiếng Việt không có hình thức ngữ âm riêng cho từng từ loại, cũng

Trang 31

không biến đổi hình thức ngữ âm để biểu hiện các ý nghĩa ngữ pháp khác nhau vàquan hệ ngữ pháp khác nhau Do đó có nhiều trường hợp vẫn cùng một hình thứcngữ âm nhưng khi thì mang những đặc điểm ngữ pháp của từ loại (tiểu loại) này,khi thì mang các đặc điểm ngữ pháp của từ loại (tiểu loại) khác Hiện tượng đóđược gọi là sự chuyển loại của từ.

Trong lịch sử phát triển của một ngôn ngữ cũng như trong thực tế sử dụngngôn ngữ hàng ngày, có thể diễn ra sự chuyển hóa của một thực từ sang hư từ và cóthể ngược lại

Sự chuyển loại có thể diễn ra giữa các từ loại và cả giữa các tiểu loại của một

từ loại Khi có sự chuyển tiểu loại thì cũng diễn ra sự thay đổi cả ý nghĩa khái quát

1.2.2 Hư từ và đặc điểm của hư từ

1.2.2.1 Khái niệm hư từ

Trong bất kì ngôn ngữ nào, hư từ là lớp từ ra đời muộn hơn so với thực từ và

là một vấn đề vô cùng phức tạp Tuy số lượng có hạn song tần suất hoạt động củalớp từ này lại vô cùng lớn Nó có vị trí quan trọng trong việc thể hiện quan hệ ngữpháp Đã có khá nhiều tác giả đề cập đến vấn đề hư từ trong tiếng Việt Có thể nói,các nhà ngữ pháp khi nghiên cứu về tiếng Việt đều trực tiếp hoặc gián tiếp nói đến

từ loại này Dưới đây là quan điểm của một số tác giả:

Tác giả Nguyễn Như Ý cho rằng: “Hư từ không có chức năng định danh, không có khả năng độc lập làm thành phần câu, dùng để biểu thị các quan hệ ngữ nghĩa - cú pháp khác nhau giữa các thực từ” [41, 123]

Trang 32

Còn Đỗ Hữu Châu có quan điểm: “Hư từ không tồn tại độc lập nếu không có những thực từ Tuy vậy, chúng vẫn khác với các từ tố ở chỗ không gắn chặt với thực

từ, chúng vẫn có đời sống riêng giữa các thực từ, thậm chí giữa các mệnh đề nữa.Hư từ vẫn biểu thị khái niệm: đó là khái niệm về sự tương quan giữa các sự vật Bởi vậy, hư từ - là những từ - quan hệ - tuy không làm thành phần của câu nhưng rất cần thiết cho việc xây dựng câu [11, 20]

Trong khi đó, tác giả Nguyễn Kim Thản đưa ra quan điểm như sau: “Theo nghĩa dùng trong ngôn ngữ học, hư từ là những từ không có ý nghĩa từ vựng chân thực, mà chỉ có tác dụng làm công cụ ngữ pháp để chỉ các ý nghĩa ngữ pháp khác nhau của các từ” [36, 35]

Còn Đinh Văn Đức lại quan niệm hư từ “là tập hợp không lớn về số lượng các từ, bản chất của ý nghĩa hư từ là tính chất ngữ pháp, là phương tiện biểu đạt mối quan hệ giữa các khái niệm trong tư duy theo cách thức phản ánh bằng ngôn ngữ của người bản ngữ” [24, 43]

Có rất nhiều quan niệm khác nhau của các tác giả về hư từ tiếng Việt Dựatrên quan điểm của các nhà nghiên cứu, chúng tôi xin đưa ra khái niệm về hư từ như

sau: Hư từ là những từ không có khả năng định danh, không có khả năng tồn tại một mình để tạo thành câu mà chỉ có tác dụng biểu thị các quan hệ ngữ nghĩa -

cú pháp khác nhau giữa các thực từ.

1.2.2.2 Đặc điểm của hư từ

Căn cứ vào ba tiêu chí phân định từ loại như đã trình bày ở trên, ta có thể rút

ra những đặc điểm của hư từ như sau:

- Hư từ là những từ không có khả năng định danh sự vật, hiện tượng trongcuộc sống mà nó chỉ có khả năng thể hiện ý nghĩa theo kiểu đi kèm

- Hư từ không thể đảm nhận vai trò trung tâm của cụm từ, của câu Nó chỉ cóvai trò làm thành tố phụ để đi kèm với thực từ, bổ sung ý nghĩa nào đó cho thực từ

(ví dụ: đang ngủ, quá đắt, ) hay nó dùng để biểu thị quan hệ giữa các từ, các cụm

từ, các câu ( ví dụ: tôi đi chợ cùng với cô ấy) hoặc có thể dùng làm dấu hiệu cho các

ý nghĩa tình thái (ví dụ: Chúng mình cùng đi nhé!) Mặt khác, sự có mặt của hư từ

Trang 33

trong cụm từ, trong câu là do sự chi phối của yếu tố trung tâm quy định.

- Hư từ không có khả năng độc lập để đảm nhận chức vụ cú pháp nào đó trongcụm từ, trong câu Nó chỉ có nhiệm vụ bổ sung ý nghĩa cho thành tố chính mà thôi

- Số lượng hư từ thường ít hơn thực từ nhưng hư từ lại có tần số sử dụng cao

Vì thế, có thể khẳng định, hư từ tiếng Việt có vai trò vô cùng quan trọng đốivới hoạt động ngôn ngữ Hơn nữa, khi đi vào hoạt động hành chức, nội dung ngữnghĩa mà hư từ thể hiện lại rộng và phong phú hơn rất nhiều phần ý nghĩa ngữ phápvốn có của nó

Tiểu kết chương 1

Như vậy, trong chương 1, chúng tôi đã khái quát những vấn đề lí thuyết cơbản liên quan đến luận văn

Thứ nhất, chúng tôi đã đi vào tìm hiểu lí thuyết ba bình diện (kết học, nghĩa

học và dụng học) theo quan điểm của ngữ pháp chức năng Ở mỗi bình diện, chúngtôi đã cố gắng cung cấp những tri thức có liên quan đến luận văn Những vấn đề líthuyết về bình diện kết học, về từ loại sẽ giúp chúng tôi có cơ sở để tiến hànhchương 2 còn những vấn đề lí thuyết về bình diện nghĩa học và dụng học sẽ giúpchúng tôi tiến hành nghiên cứu chương 3

Thứ hai, chúng tôi đã giúp người đọc có cái nhìn khái quát nhất về hệ thống

từ loại tiếng Việt (khái niệm từ loại, tiêu chí phân định từ loại…) cũng như nhữngnội dung liên quan đến hư từ, đặc điểm của hư từ tiếng Việt để từ đó làm nền tảnggiúp tìm hiểu những vấn đề cần nghiên cứu ở các chương tiếp theo

Chương 2: BÌNH DIỆN KẾT HỌC CỦA HƯ TỪ VÀ, VỚI, CÙNG

Bình diện kết học là bình diện nghiên cứu mối quan hệ giữa các đơn vị ngữpháp trong câu Cụ thể ở đây chúng ta sẽ đi vào nghiên cứu ý nghĩa ngữ pháp và

Trang 34

hoạt động ngữ pháp của từ loại đang xem xét trên phương diện của pháp cụm từ và

cú pháp câu Qua nghiên cứu, chúng ta thấy, mỗi hư từ trong vai trò từ loại khácnhau sẽ có cách thể hiện khác nhau

2.1 Bình diện kết học của hư từ và

Cũng giống như đa phần các từ loại khác của tiếng Việt, và cũng có bản chất

đa từ loại (danh từ, động từ, kết từ, trợ từ) Khi trong vai trò là hư từ thì và trong

từng trường hợp có thể mang bản chất của kết từ hoặc trợ từ Tùy từng ngữ cảnh sử

dụng khác nhau mà hư từ và có những hoạt động và thay đổi nhất định.

Khi nghiên cứu, các tác giả cũng đã đưa ra quan điểm của mình về vấn đề từloại của hư từ này Những ý kiến của các nhà nghiên cứu không hoàn toàn đồngnhất với nhau

Trong quan điểm mà các nhà nghiên cứu ngôn ngữ Hoàng Phê, TrươngChính, Hoàng Trọng Phiến, Diệp Quang Ban, Lê Biên… đưa ra về hư từ này, hầu

hết các tác giả đều thống nhất khi cho rằng và mang bản chất từ loại kết từ Đây

cũng là từ loại mà chúng ta có thể dễ dàng nhận ra khi tiếp xúc với hư từ này tronghoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ

Tuy nhiên, nếu chỉ xác định và mang đặc điểm của kết từ là chưa đủ và chưa

thỏa đáng Bởi vì, ngoài khả năng nối kết các đơn vị ngôn ngữ trong câu với nhau,

trong một số trường hợp, và còn nghiêng về khả năng nhấn mạnh vào ý nghĩa kết luận vừa được nêu ra Đối với trường hợp này, Hoàng Phê cho đó là trợ từ Nó “biểu thị ý nhấn mạnh vào ý nghĩa kết luận của điều vừa được nêu ra” [32, 1430] Chẳng hạn trong câu: Hắn bới ra từng tội một, và nhất định sẽ bới ra đến hết [2, 136] ta thấy hư từ và ngoài vai trò liên kết giữa hai vế câu còn có nhiệm vụ nhấn mạnh, giúp người đọc chú ý đến thái độ kiên quyết của chủ thể khi thực hiện hành động (nhất định bới ra đến hết) Nếu thiếu hư từ và ở vị trí này, ta thấy ý nghĩa nhấn mạnh của

câu bị giảm bớt đi rất nhiều

Phạm Hùng Việt cũng có cùng quan điểm khi cho rằng trợ từ và “thường dùng ở đầu câu hoặc đầu phần câu để biểu thị ý nhấn mạnh vào ý nghĩa kết luận của điều nêu ra” (Và rồi anh đồng ý chứ? Và thế là hết,…) [42, 220].

Trang 35

Cũng đang còn nhiều ý kiến tranh luận xung quanh vấn đề và - trợ từ Nhưng theo chúng tôi, thừa nhận và trong vai trò trợ từ là hoàn toàn có cơ sở Bởi nếu và đơn

tuần chỉ làm nhiệm vụ nối kết giữa các đơn vị ngôn ngữ trong câu với nhau thì nó sẽ

mang bản chất của kết từ Còn khi tham gia câu, ngoài khả năng nối kết, và còn dùng

để nhấn mạnh ý kết luận vừa được nêu ra và trong một số trường hợp, nó thường đi

kèm với tình thái từ ở đằng sau thì rõ ràng, lúc này và mang bản chất của trợ từ.

Căn cứ vào những phân tích trên đây, chúng tôi xác định hư từ và mang đặc điểm của hai loại từ loại đó là trợ từ và kết từ.

Kết quả khảo sát và tần số sử dụng của hư từ và:

Như trên đã trình bày, hư từ và mang đặc điểm từ loại của kết từ và trợ từ.

Căn cứ vào cách xác định này, chúng tôi tiến hành khảo sát hư từ này trên 13 ngữ

liệu là các tác phẩm văn học, chúng tôi thu được 1714 câu có sử dụng hư từ và trong

đó có 1595 câu sử dụng và với từ cách là kết từ (chiếm tỉ lệ 93,06 %)

Dựa trên kết quả số liệu thống kê trên đây, ta thấy tần số sử dụng hư từ và

trong tiếng Việt là khá cao, chúng được sử dụng thường xuyên nhất trong vai trò làkết từ

Là một hư từ thường xuyên được sử dụng nhưng tần số xuất hiện của hư từnày trong các ngữ ngữ liệu khảo sát là không giống nhau Các tác giả như Nam Cao,

Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Tuân thường xuyên sử dụng kết từ và trong các tác

phẩm của mình Nếu xét các tác phẩm xếp theo thứ tự như trên đã trình bày thì hư từ

và trong các tác phẩm (1), (2), (3), (4) được sử dụng rất nhiều Nhưng ở các tác phẩm

(10), (11), (12) thì tần số xuất hiện “thưa thớt” hơn bởi các tác giả này thể hiện tưtưởng nghệ thuật của mình bằng các phương tiện ngôn ngữ và cách diễn đạt khác Nócho thấy phong cách riêng của mỗi nhà văn khi thể hiện đứa con tinh thần của mình

Sau đây chúng tôi xin trình bày bình diện ngữ pháp của hư từ và trong vai trò

Trang 36

ngữ pháp của hư từ và trong vai trò là kết từ Tuy nhiên, phần lớn các tác giả mới

chỉ đề cập đến một hoặc một vài nét nghĩa của nó mà chưa có sự thống kê một cáchtoàn diện và đầy đủ Trong các tác giả nghiên cứu về hư từ này, chúng tôi nhất trí

với quan điểm của Hoàng Phê trong Từ điển tiếng Việt (2015) khi cho rằng kết từ và

có mang những nghĩa sau:

- Từ biểu thị quan hệ liên hợp giữa hai sự vật, hiện tượng, quá trình, tính chấtcùng loại, cùng phạm trù

(15) Danh và lợi, ông ta không màng [13, 31]

(16) Cả làng chăm chú nhìn và ngâm ngợi và ngẫm nghĩ [13, 65]

Ở những ví dụ trên đây, ta thấy hư từ và biểu thị quan hệ liên hợp giữa các đối tượng cùng loại, cụm phạm trù Tất cả những đối tượng mà hư từ và nối kết đều

“đồng cấp” với nhau về ý nghĩa ngữ pháp

- Từ biểu thị điều sắp nêu ra là điều nói thêm để nhấn mạnh, khẳng địnhthêm điều vừa nói đến

(17) Tất cả dân làng đều sợ hắn, và tránh mặt hắn mỗi lần hắn qua [2, 52] (18) Tôi hiểu anh muốn bảo: cái mặt tôi lạnh như nước đá và ngượng nghịu

và vô duyên, và lố bịch và đủ hết [2, 74]

Trong các ví dụ trên, kết từ và đều có tác dụng nhấn mạnh một nội dung nào

đó Ở ví dụ (41), với sự xuất hiện của hư từ và, tác giả muốn người đọc chú ý đến

thái độ của dân làng đối với Chí Phèo Còn ở (42), người đọc cũng không thể bỏ

qua những biểu hiện trên gương mặt “không chơi được” của nhân vật tôi Rõ ràng,

sự xuất hiện của hư từ và trong những câu trên cho ta thấy ý đồ của tác giả muốn

khẳng định, nhấn mạnh điều vừa nói đến

- Từ biểu thị điều sắp nêu ra là điều xảy ra, diễn ra tiếp theo hoặc là kết quả,hậu quả của điều vừa được nói đến

(19) Nhưng cũng như lần trước, nó lại ọe ra, và khóc òa lên [2, 20]

Ta thấy rằng, với từ cách là kết từ, và là một hư từ quen thuộc, được sử dụng

với tần số cao trong hoạt động giao tiếp hàng ngày cũng như trong các tác phẩm vănchương Đây là một hư từ rất quen thuộc đối với người Việt

Trang 37

2.1.1.2 Hoạt động ngữ pháp

Khi nghiên cứu hoạt động ngữ pháp của kết từ và, chúng ta sẽ đi vào nghiên

cứu vai trò của kết từ này trong cụm từ, trong câu, đoạn văn… Hay nói cách khác,chúng ta sẽ đi vào nghiên cứu khả năng kết hợp của nó với các từ loại khác xem nó

có điểm khác biệt nào so với các kết từ cùng loại Bên cạnh đó, chúng ta cũng đixem xét vị trí xuất hiện của nó ở trong câu để từ đó rút ra đặc điểm của kết từ nàythể hiện ở bình diện kết học

Qua khảo sát, chúng tôi thấy rằng kết từ và hoạt động rộng rãi trong phạm vi

cụm từ, trong câu và trong văn bản Cụ thể:

Trong phạm vi cụm từ, kết từ và có khả năng nối kết các từ thuộc từ loại khác nhau để tạo thành cụm từ đẳng lập Những đơn vị trong cụm từ đẳng lập đó hầu hết là

cùng từ loại với nhau: cùng là danh từ, động từ hoặc tính từ, số từ … Ví dụ:

(20) Mái tóc dài quá lòa xòa xuống tai và cổ [2, 20]

(21) Hai người suốt cả buổi chỉ ngồi cắt và khâu những cái áo con con, đan

đôi tất xinh xinh và sửa soạn cái nôi mây [6, 103]

(22) Người khách đương luống cuống, sượng sùng, vì sự mình lầm con vú

già với mẹ ông chủ thì trông thấy một người đàn bà béo tốt và trẻ ở nhà trong đi ra

đến sân [5, 25]

Như vậy, trong cụm từ, và có khả năng liên kết các từ loại khác nhau để tạo

nên cụm từ đẳng lập Do biểu thị ý nghĩa tương đồng giữa các đối tượng nên kết từ

và không có khả năng nối kết để tạo nên những tổ hợp chính phụ và chủ vị như các

hư từ khác

Trong phạm vi câu, kết từ và có khả năng nối kết các vế câu với nhau Ví dụ:

(23) Giọng hắn lè nhè và tiếng đã gần như méo mó [2, 49]

(24) Hắn chửi trời và hắn chửi đời [2, 52]

(25) Bà mẹ thét lên và lũ em chửi những câu thô tục [2, 31]

Trong phạm vi đoạn văn, kết từ và được sử dụng để nối kết các câu trong

một đoạn văn với nhau Ví dụ:

(26) Thị cứ ngồi đây cho mát Và thị ngủ Thị ngủ ngon lành và say sưa [2, 59]

Trang 38

(27) Đụng đến của ông nhẹ nhất cũng là mười phân Và vay từ một đồng trở

lên, đều phải viết ruộng hay nhà, hoặc phải gửi vật gì khác bảo đảm [10, 41]

Ta thấy rằng, ở ví dụ (31), kết từ và có nhiệm vụ nối kết câu đi sau với câu đi trước theo quan hệ nhân quả (ngồi cho mát -> ngủ) Còn ở ví dụ (32), kết từ và lại

có nhiệm vụ nối kết những điều kiện mà Nghị Quế đặt ra đối với kẻ vay tiền mình

Nhờ có kết từ và mà ta thấy, các sự việc tuy ở những câu khác nhau nhưng vẫn được

liên kết một cách hợp lí về mặt nội dung và hình thức

Trong phạm vi văn bản, và - kết từ dùng để nối kết các đoạn trong một văn

bản với nhau để tạo nên tính thống nhất cho toàn hệ thống Ví dụ:

(33) Mộng Liên ngồi đánh được một phần ba bản Nam Bình.

Thế rồi tiếng bạc mở.

Và cả làng đều ngã ngửa ra khi đọc rõ lá thơ thả kí là câu: “Mộ thượng,

mai khai, xuân hựu lão” Cả làng nhao nhao… [13, 66]

Đây là ba đoạn văn ngắn trong một văn bản Các đoạn văn được liên kết vớinhau không chỉ ở sự sắp xếp các sự việc theo logic khách quan mà bên cạnh đó kết

từ và ở đầu thứ ba có vai trò quan trọng, nó dùng để liên kết đoạn văn này với hai

đoạn văn trước đó Hơn nữa, nó còn có khả năng nhấn mạnh vào tính chất bất ngờcủa sự việc vừa diễn ra

Nhờ sự kết hợp đa dạng với các đơn vị ngôn ngữ, ta thấy kết từ và có vị trí

vô cùng linh hoạt ở trong câu Nó có thể nằm trong thành phần chủ ngữ, vị ngữ củacâu Rất nhiều trường hợp, ta còn bắt gặp nó xuất hiện trong thành phần đề ngữ,trạng ngữ, phụ chú… của câu

Có thể thấy, kết từ và có vai trò cô cùng quan trọng trong cụm từ, trong câu,

trong đoạn văn Nó có thể kết hợp được với hầu hết các từ loại để tạo nên tổ hợp lớnhơn Khi đó, nó có vị trí rất linh hoạt trong câu tùy theo vị trí của tổ hợp mà nótham gia nối kết

2.1.2 Và - trợ từ

Như trên chúng tôi đã trình bày, trong thực tế sử dụng ngôn ngữ, hư từ và

không những chỉ mang bản chất từ loại của kết từ mà trong nhiều trường hợp, nó

Trang 39

còn được xác định với vai trò là trợ từ Khi đóng vai trò là trợ từ, nó có những biểuhiện như thế nào, chúng ta cùng đi vào tìm hiểu.

2.1.2.1 Ý nghĩa ngữ pháp

Khi nghiên cứu về ý nghĩa ngữ pháp của hư từ và, phần lớn các tác giả chỉ

tập trung xem xét nó trong vai trò là kết từ mà ít khi “đả động” đến nó trong vai trò

là trợ từ Trong rất nhiều bài viết của các nhà nghiên cứu ngôn ngữ mà chúng tôi tìm

được thì chỉ có tác giả Hoàng Phê trong cuốn Từ điển tiếng Việt (2015) và tác giả Phạm Hùng Việt trong cuốn Trợ từ tiếng Việt hiện đại là đề cập đến vấn đề này.

Theo Từ điển tiếng Việt (2015) của Hoàng Phê, khi đảm nhiệm vai trò là trợ

từ thì và có ý nghĩa như sau: “Từ biểu thị ý nhấn mạnh vào ý nghĩa kết luận của điều vừa được nêu ra” [32, 1430] Ví dụ:

(34) Họ chia tay và thế là hết một cuộc tình.

(35) Hắn làm lành với thị và mọi chuyện lại đâu vào đấy.

Ta thấy, trong các ví dụ trên, điểm chung dễ nhận thấy của hư từ và trong các

trường hợp sử dụng là ngoài khả năng liên kết thì chúng đều dùng để nhấn mạnh, đểhướng sự chú ý của người đọc đến kết luận của điều vừa nêu ra Cụ thể: trong (34),

rõ ràng, người viết muốn nhấn mạnh đến vế thứ hai của câu với nội dung cuộc tình

đã kết thúc bởi nguyên nhân trước đó họ chia tay Hay như trong (35), ta thấy người viết muốn người đọc tập trung vào nội dung mọi chuyện lại đâu vào đấy, tức là muốn nhấn mạnh đến nội dung mọi chuyện đã được hắn giải quyết êm đẹp như mọi lần nhờ sự làm lành của hắn.

Trong thực tế sử dụng ngôn ngữ, và trong vai trò là trợ từ tuy ít được sử dụng

hơn trong vai trò là kết từ nhưng đây là một ý nghĩa ngữ pháp không thể xem nhẹ

bởi với vai trò của mình, trợ từ và với vai trò của mình đã giúp người sử dụng ngôn

ngữ thể hiện được rõ ý đồ của mình trong hoạt động giao tiếp

Trong quá trình sử dụng, chúng ta cũng cần phân biệt một trong những

trường hợp dễ nhầm lẫn của và - trợ từ và trong vai trò của từ loại khác như sau:

Từ điển giải thích hư từ tiếng Việt của Hoàng Trọng Phiến (2003) đã đưa ra

Trang 40

ba ý nghĩa của hư từ và như sau: (1) Biểu hiện quan hệ đồng nhất liên hợp (Tôi và

nó đi chơi), (2) Nhấn mạnh ý nghĩa bao hàm, ý nghĩa gộp miêu tả (Thằng Minh đỗ

hai trường đại học và đỗ rất cao), (3) Đứng ở đầu câu, sau và có dấu phẩy (,) để

liên kết và nhấn mạnh kết luận điều vừa nói ở câu trước hoặc đoạn văn trước đó

(Đó là biện pháp duy nhất để giải quyết vấn đề chiến tranh ở Việt Nam Và, đó

cũng là câu trả lời của nhân dân ta và chính phủ ta cho đế quốc Mĩ).

Dễ dàng nhận thấy, trong ba nội dung ý nghĩa mà GS Hoàng Trọng Phiến đãchỉ ra thì nội dung (1) biểu thị mối quan hệ tương đồng, cùng phạm trù của các đối

tượng được nhắc đến Ở (2), tuy hư từ và cũng có tác dụng nhấn mạnh nhưng lại là

nhấn mạnh ý nghĩa bao hàm, ý nghĩa gộp khi miêu tả một đối tượng nào đấy trong

câu Đây là những nội dung ý nghĩa mà hư từ và thể hiện bản chất từ loại là kết từ Riêng ý (3) thì khó phân biệt hơn: sử dụng hư từ và nhằm mục đích liên kết nhằm nhấn mạnh nội dung nào đó Trường hợp này, tác giả Hoàng Trọng Phiến cho và là

kết từ nhưng tác giả Hoàng Phê cho là trợ từ Chúng tôi nghiêng về quan điểm củatác giả Hoàng Phê như đã phân tích ở trên

2.1.2.2 Hoạt động ngữ pháp

Khi là trợ từ, và có khả năng kết hợp hạn chế hơn một số từ loại khác vì trợ

từ này thường đứng ở vị trí đầu câu đơn hoặc giữa câu ghép để nhấn mạnh nội dungkết luận vừa được nêu ra Ở đây, nó tham gia vào câu nhằm mục đích biểu thị tình

cảm thái độ, cách đánh giá của người nói Trợ từ và trong trường hợp này có khả

năng nối kết các yếu tố trong câu với nhau nhưng vai trò này mờ nhạt Vai trò quantrọng nhất của nó lúc này là để nhấn mạnh vào ý kết luận vừa được nêu ra Đây

chính là điểm phân biệt giữa và - kết từ với và - trợ từ.

Ta thấy, chức năng chủ yếu của trợ từ và là dùng để biểu thị tình cảm, thái

độ, cách đánh giá của người nói (viết) đối với những vấn đề được đề cập trong câu

Tuy nhiên, khác với các trợ từ khác, phạm vi hoạt động của và - trợ từ rộng hơn Nó

được dùng để nối kết các yếu tố trong câu và ngoài câu với nhau Cụ thể:

Trong phạm vi câu, trợ từ và có thể nằm ở đầu các vế câu để nhấn mạnh vào kết luận cho sự việc vừa nói đến Khi đó, trợ từ và nằm trong thành phần vị ngữ của

Ngày đăng: 17/07/2019, 21:39

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w