1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá hiệu quả giảm đau của phác đồ phối hợp drotaverin và ketorolac đường tiêm trong điều trị cấp cứu cơn đau quặn thận do sỏi niệu quản

73 125 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 553,36 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Drotaverin là một thuốc có tác dụng chống co thắt cơ trơn, được dùngkhá phổ biến tại các phòng cấp cứu, có tác dụng giảm đau tốt trong các trườnghợp đau co thắt do sỏi niệu quản.. Theo m

Trang 1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Sỏi niệu quản là 1 bệnh lý thường gặp trong cộng đồng cũng như ở cácKhoa cấp cứu, bệnh nhân thường vào viện trong bệnh cảnh cơn đau quặnvùng hông lưng cấp Việc chẩn đoán bệnh và điều trị cơn đau quặn thậncần nhanh chóng và có hiệu quả là một ưu tiên hàng đầu trong điều trịcơnđau quặn thận cấp, song song với việc chẩn đoán và điều trị là đánh giá cácbiến chứng có thể xảy ra[1]

Tại Mỹ, ngày nay tỉ lệ mắc sỏi tiết niệu ngày một tăng, trong suốt cuộcđời thì tỉ lệ mắc ở nam giới là 12% và nữ giới là 7%, nếu một thành viên tronggia đình có tiền sử sỏi tiết niệu thì tỉ lệ này sẽ tăng gấp đôi Hàng năm cókhoảng hai triệu người dân Mỹ phải điều trị ngoại trú bệnh sỏi tiết niệu,con sốnày đã tăng 40% so với năm 1994.Tỉ lệ tái phát sỏi ở những người đã canthiệp lần đầu tiên lần lượt là 14%, 35% và 52% ở các mốc thời gian là sau 1năm, 5 năm và 10 năm[1]

Drotaverin là một thuốc có tác dụng chống co thắt cơ trơn, được dùngkhá phổ biến tại các phòng cấp cứu, có tác dụng giảm đau tốt trong các trườnghợp đau co thắt do sỏi niệu quản Theo một nghiên cứu vào năm 2003 tạiHungary, drotaverin tiêm tĩnh mạch giảm đau hiệu quả trên 80% số bệnhnhân điều trị cơn đau quặn thận cấp do sỏi niệu quản, và không có tác dụngphụ nguy hiểm nào xảy ra[2]

Tháng 11 năm 1989 ketorolac được FDA (hiệp hội thuốc và thực phẩmHoa Kỳ) chấp nhận là một thuốc giảm đau chống viêm có nhiều ưu điểmtrong điều trị cơn đau quặn thận cấp do sỏi niệu quản, thuốc có tác dụng giảmđau tương đương morphin, thuốc có tác dụng rất tốt đặc biệt là dùng đườngtiêm tĩnh mạch, với tác dụng giảm đau nhanh, phù hợp với bệnh nhân khókhăn đường uống[3], [4]

Trang 2

Tại Việt Nam, ketorolac mới được dùng một vài năm trở lại đây, vàngày càng được áp dụng phổ biến tại các bệnh viện cũng như ở khoa cấpcứu Tuy nhiên chưa có nghiên cứu nào về phối hợp drotaverin và ketorolactrong điều trị cơn đau quặn thận cấp do sỏi niệu quản Chính vì vậy, chúng

tôi tiến hành nghiên cứu: "Đánh giá hiệu quả giảm đau của phác đồ phối hợp drotaverin và ketorolac đường tiêm trong điều trị cấp cứu cơn đau quặn thận do sỏi niệu quản" tại Khoa Cấp cứu –Hồi sức tích cực Bệnh viện

Đại học Y Hà Nội với hai mục tiêu sau:

1 Đánh giá hiệu quả giảm đau của phác đồ phối hợp drotaverin và ketorolac đường tiêm thông qua thang điểm VAS trong điều trị cơn đau quặn thận cấp do sỏi niệu quản.

2 Đánh giá tác dụng không mong muốn của các thuốcđã sử dụng trong phác đồ trên.

Trang 3

Chương 1 TỔNG QUAN

1.1 Niệu Quản

1.1.1 Giải phẫu

Niệu quản (ureter) là một ống dẫn nước tiểu từ bể thận xuống bàngquang, niệu quản nằm sau phúc mạc, dọc 2 bên cột sống thắt lưng và áp sátvào thành bụng sau Đường kính khi căng khoảng 5mm, đều từ trên xuốngdưới trừ 3 chỗ hẹp: một ở chỗ nối niệu quản - bể thận, một ở nơi niệu quảnbắt chéo bó mạch chậu (nơi niệu quản đi ngang qua eo trên) và một ở trongthành bàng quang Do những chỗ hẹp này mà trong các trường hợp có sỏithận hay sỏi bể thận khi rơi xuống niệu quản có thể bị kẹt ở đó và gây nên cơnđau quặn thận Trên lâm sàng khi khám có thể thấy các điểm đau niệu quảntrên, giữa và dưới ứng với các chỗ hẹp này [5], [6]

Chiều dài của niệu quản thay đổi theo chiều cao cơ thể, giới tính, vị trícủa thận và bàng quang Trung bình niệu quản dài 25- 28 cm, tiếp theo từ bểthận đi chếch xuống dưới, vào trong và ra trước để tới đổ vào mặt sau dướicủa bàng quang Như vậy, ở trên 2 niệu quản cách xa nhau (khoảng 5- 7cm),

ở dưới 2 niệu quản gần nhau (cách 2- 3cm)[5], [6]

Trang 4

Hình 1.1 Các đoạn niệu quản, vị trí hẹp và dừng lại của sỏi

1.1.2 Phân đoạn và liên quan

Niệu quản đi từ bể thận, qua chậu hông để tới bàng quang nên có thểchia ra 2 đoạn liên quan, mỗi đoạn dài 12,5- 14 cm, niệu quản trái dài hơnniệu quản phải, niệu quản của nam dài hơn nữ, và có thể thấy được trên phimchụp x quang chụp bể thận - niệu quản có bơm thuốc cản quang[5], [6]

1.1.2.1 Đoạn bụng

Đi từ bể thận tới cung xương chậu (mào eo trên), niệu quản đoạn này đichếch xuống dưới, vào trong và có liên quan ở phía sau với cơ thắt lưng, mỏmngang của 3 đốt sống thắt lưng cuối Niệu quản còn bắt chéo trước thần kinhsinh dục đùi và ở dưới bắt chéo trước với động mạch chậu ngoài (bên phải)hay động mạch chậu chung (bên trái) Chỗ niệu quản bắt chéo các động mạchchậu ở cách đường giữa khoảng 4- 5 cm, đối chiếu lên thành bụng điểm đauniệu quản giữa (do sỏi kẹt lại ở chỗ bắt chéo này) nằm ở chỗ nối các đoạn 1/3ngoài và 1/3 giữa của đường nối 2 gai chậu trước trên[5], [6]

Trang 5

Ở phía trước niệu quản có phúc mạc phủ, có động mạch sinh dục bắtchéo trước [5].

Ở phía trong: niệu quản phải liên quan với tĩnh mạch chủ dưới, niệu quảntrái liên quan với động mạch chủ bụng.Ở phía ngoài: niệu quản phải liên quanvới đại tràng lên, niệu quản trái liên quan với đại tràng xuống [5], [6]

1.1.2.2 Đoạn chậu hông

Tiếp theo đoạn chậu từ eo trên tới bàng quang, niệu quản đoạn này đicạnh động mạch chậu trong rồi chạy chếch ra ngoài và ra sau, dọc theo thànhbên chậu hông Khi tới nền chậu hông, chỗ gai ngồi niệu quản vòng ra trước

và vào trong để tới bàng quang [5], [6]

Khi 2 niệu quản tới cắm vào bàng quang, chúng cách nhau 5 cm (khibàng quang rỗng), sau đó nó chạy chếch xuống dưới, ra trước và vào trongnên đoạn nội thành này dài khoảng 2cm và 2 lỗ niệu quản cách nhau 2,5 cmkhi bàng quang rỗng và 5 cm khi đầy [5], [6]

Nước tiểu chảy vào bàng quang không thành dòng liên tục mà thànhnhững dòng ngắn, thời gian kéo dài từ 1 đến 30 giây do tác động của sóngnhu động từ bể thận đi xuống Khi nước tiểu chảy vào bàng quang, lỗ niệuquản sẽ mở ra trong 2- 3 giây rồi khép lại cho đến khi có làn sòng nhu động

kế tiếp [5], [6]

Lỗ niệu quản không có van nhưng do đoạn niệu quản nội thành dài,chếch và kết hợp với sự co thắt của cơ bàng quang nên nước tiểu không thểtrào ngược từ bàng quang lên niệu quản được [5], [6]

1.2 Cơ chế hình thành sỏi tiết niệu

Theo các nghiên cứu trên thế giới người ta thấy rằng sỏi tiết niệu là hậuquả của những rối loạn thành phần các chất vô cơ trong nước tiểu từ đó thúcđẩy quá trình bão hòa nước tiểu Đầu tiên là sự hình thành nhân sỏi, tiếp theo

Trang 6

là quá trình bồi đắp dần vào nhân sỏi làm viên sỏi lớn dần lên, các yếu tốtham gia vào quá trình bồi đắp rất khác với các yếu tố tạo nên nhân sỏi [7].

1.2.1 Nguyên nhân sinh bệnh của sỏi

Sỏi hình thành khi có các hiện tượng:

- Tăng hàm lượng canxi, oxalat hay axit uric trong nước tiểu

- Thiếu citrat hoặc thiếu nước trong thận để hòa tan các chất thải

- Thận có nhiệm vụ duy trì lượng nước cho cơ thể và loại chất thải Nếuthiếu nước, các chất như canxi, oxalat, axit uric không được hòa tan hoàn toàndẫn đến sự hình thành các tinh thể

Nước tiểu chứa các chất hóa học như citrat, magie, pyrophosphat chốnglại quá trình tạo tinh thể, nếu hàm lượng những chất này trong nước tiểu thấp

sẽ tạo điều kiện cho sỏi hình thành, trong những chất này, citrat đóng vai tròquan trọng nhất trong quá trình tạo tinh thể [7], [8], [9]

1.2.2 Các loại sỏi tiết niệu

Thành phần hóa học của sỏi phụ thuộc vào sự mất cân bằng hóa họccủa nước tiểu, có 4 dạng sỏi hay gặp là: sỏi canxi, sỏi axit uric, sỏi struvite vàsỏi cystine [7]

1.2.2.1 Sỏi canxi

Khoảng 85% thành phần của loại sỏi này là canxi, nguyên nhân hay gặpnhất là do hàm lượng canxi trong nước tiểu quá cao (hypercalciuria), lượngcanxi vượt quá mức thường được thải qua nước tiểu Canxi kết hợp với cácchất thải khác hình thành sỏi, nếu hàm lượng citrat thấp cùng với hàm lượngoxalat, acid uric cao và lượng nước tiểu giảm sẽ là những điều kiện thuận lợi

để sỏi canxi hình thành [7]

Canxi có thể kết hợp với oxalat tạo canxi oxalat hoặc kết hợp phosphathình thành canxi phosphat (calcium phosphate), trong đó canxi oxalat hay gặp

Trang 7

hơn Sỏi canxi phosphat thường gặp ở những bệnh nhân rối loạn tiêu hóa hay rốiloạn hormon do bệnh cường cận giáp và hiện tượng nhiễm toan ống thận [7].Hiện tượng tăng hấp thu canxi ở đường tiêu hóa, tăng hàm lượng hormontuyến cận giáp và rối loạn lọc trong thận dẫn đến làm tăng canxi trong nướctiểu Hiện tượng tăng độ axit trong ống thận (thường do di truyền làm thậnkhông có khả năng bài tiết các axit) làm giảm citrat nước tiểu và độ axit tổng

số dẫn đến hình thành sỏi (thường là sỏi canxi phosphat)[7], [8], [9]

1.2.2.2 Sỏi acid Uric (chiếm 10 % các loại sỏi)

Nếu hàm lượng acid uric trong nước tiểu cao dẫn đến không được hòatan hoàn toàn-> hình thành sỏi, dạng sỏi này hay gặp ở nam giới[7], [10]

1.2.2.3 Sỏi struvite (sỏi truyền nhiễm)

Được hình thành khi đường tiết niệu bị viêm nhiễm (Ví dụ: viêm bàngquang) dẫn đến làm mất cân bằng các thành phần trong nước tiểu, vi khuẩntrong đường tiết niệu giải phóng các chất hóa học trung hòa bớt acid trongnước tiểu tạo điều kiện cho vi khuẩn phát triển nhanh hơn và là điều kiện chosỏi hình thành [7][10]

Phụ nữ thường bị loại sỏi này hơn nam giới do hay bị viêm nhiễm đườngtiết niệu hơn, loại sỏi này thường có hình dạng lởm chởm, sắc cạnh và códạng "sừng nai" và phát triển rất nhanh [7], [10]

1.2.2.4 Sỏi Cystin

Cystin là 1 acid amin khó hòa tan, do di truyền nên một số người cóhàm lượng cystin cao trong nước tiểu dẫn đến hiện tượng hình thành sỏi, loạisỏi này khó điều trị và cần thời gian điều trị dài[10]

1.3 Cơ chế đau do sỏi niệu quản

Do căng dãn, co thắt niệu quản ở phía trên đoạn tắc nghẽn do sỏi, hoặccăng dãn bao thận 1 cách đột ngột

Do kích thích trực tiếp các receptor ở niêm mạc niệu quản của thần kinhgiao cảm, xuất phát từ đoạn tủy sống D11- L2

Do phản ứng viêm tại chỗ ở vị trí sỏi với niệu quản [7], [11], [12]

Trang 8

1.4 Sinh lý và giải phẫu bệnh sỏi niệu quản

Sỏi niệu quản cản trở đường dẫn lưu nước tiểu, dù tắc hoàn toàn haykhông vẫn có hiện tượng ứ đọng nước tiểu trên sỏi

Hinmann 1934 theo dõi thí nghiệm thấy:

+ Nếu gây tắc niệu quản bằng cách buộc niệu quản 1 bên, sau 2 tuần cắtthận bên đối diện, tháo gỡ niệu quản buộc thì thận phục hồi, vật thí nghiệmvẫn sống

+ Gây tắc niệu quản, 3 tuần sau cắt thận bên đối diện, tháo gỡ niệu quảnbuộc, chức năng thận phục hồi 50%

+ Gây tắc niệu quản, 4 tuần sau cắt bỏ thận bên đối diện, tháo gỡ niệuquản buộc thì thận không phục hồi, vật thí nghiệm không sống sót

+ Những thương tổn giải phẫu bệnh tắc niệu quản xuất hiện rất sớm:

* 7 ngày: ứ nước tại thận, giãn các ống góp, có chỗ hoại tử

*14 ngày: các ống lượn xa, lượn gần đều có phản ứng tăng xơ collagenlàm rối loạn nhu động bể thận - niệu quản

*28 ngày: 50% vùng tủy thận bị thoái hóa, cầu thận bị quá sản, kẽ tủythận chứa các fibroblast, tế bào đơn nhân, đại thực bào Các mao mạch vùngtủy thì co thắt, đồng thời các mao mạch cầu thận bị xẹp lại

*8 tuần: nhu mô thận bị dãn mỏng 1 cm

Thương tổn đến lớp cơ sẽ gây chít hẹp niệu quản

Các biến chứng chính của sỏi niệu quản:

+ Viêm nhiễm: viêm đài bể thận, viêm thận kẽ

+ Ứ đọng nước tiểu- nhiễm khuẩn: thận ứ nước, ứ mủ

+ Thiểu niệu, vô niệu[7][8] [9] [10]

Trang 9

1.5 Cơn đau quặn thận cấp

1.5.1 Định nghĩa

Cơn đau quặn thận cấp là một cơn đau xuất hiện đột ngột, xuất phát ởvùng hố thận, cường độ dữ dội, không có tư thế giảm đau Đau lan xuyên raphía trước, lan xuống vùng bẹn - sinh dục cùng bên Kèm theo có thể tiểumáu, buồn nôn,trướng bụng[9], [13]

1.5.2 Triệu chứng

1.5.2.1 Lâm sàng

Đau bụng: thường là đau 1 bên, đau cơn dữ dội, đau lan xuống bộ phậnsinh dục ngoài nếu sỏi vùng thấp, nguyên nhân là do sỏi di chuyển đi xuống

và bị kẹt tại những vị trí hẹp của niệu quản Cơn đau cấp tính xảy ra do tăng

áp lực trên chỗ tắc gây căng giãn niệu quản, co thắt cơ niệu quản, căng baothận, sự tăng áp lực trong niệu quản,các kích thích trực tiếp ở niêm mạc đượccảm nhận bởi các receptor của thần kinh giao cảm từ tủy sống ngực 11 đếnthắt lưng 1 -2 Vùng đau nhất thường ở quanh viên sỏi, sỏi di chuyển gây lênnhiều cơn đau liên tiếp, vị trí đau xuống thấp dần,thời gian mỗi cơn đauthường từ vài phút đến vài giờ[13]

- Đái máu: đại thể (hiếm gặp), vi thể (thường gặp), có thể không có, dosỏi di chuyển gây tổn thương niêm mạc niệu quản

- Đái khó, đái dắt: hay gặp sỏi đoạn thấp gây kích thích bàng quang

- Buồn nôn và nôn

- Bí trung đại tiện[9][13][14]

1.5.2.2 Triệu chứng cận lâm sàng

- Chẩn đoán hình ảnh

+ Chụp x quang hệ tiết niệu không chuẩn bị: có thể thấy hình ảnh sỏi cảnquang trên đường đi của niệu quản, đa số sỏi là cản quang (90%), trừ 1 vàiloại sỏi như: sỏi uric, cystin, xanthin ít cản quang hoặc không cản quang[8][13]

Trang 10

+ Siêu âm hệ tiết niệu: là thủ thuật không xâm lấn, an toàn và thuận tiện,siêu âm chẩn đoán tắc cấp đường dẫn niệu dựa trên dấu hiệu giãn đài bểthận,niệu quản hoặc phát hiện thấy sỏi Kỹ thuật này có thể áp dụng rộng rãitại các cơ sở y tế[8][13].

+ Chụp cắt lớp vi tính không tiêm thuốc cản quang: chẩn đoán sỏi rấthiệu quả, độ nhạy và độ đặc hiệu cao, là lựa chọn hàng đầu để xác định vị trí

và kích thước của sỏi có thể tiêm thuốc cản quang để đánh giá độ ngấm thuốccủa thận, đánh giá chức năng thận[8][13]

Dựa vào triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng

1.5.3.2 Chẩn đoán phân biệt

- Viêm ruột thừa cấp tính

- Cơn đau quặn gan

- Cơn đau dạ dày-tá tràng cấp tính

Trang 11

- Hội chẩn chuyên khoa ngoại tiết niệu nếu:

+ Sỏi niệu quản 2 bên hoặc thận đơn độc

+ Biến chứng do sỏi: sốt, suy thận, vô niệu, viêm thận- bể thận, thận ứnước ứ mủ, thận chậm tiết, thận câm

+ Sỏi ≥ 7mm, cơn đau không khống chế được bằng thuốc[8][13]

Trang 12

- Hấp thu hoàn toàn qua đường uống, tương đương với đường tiêm.drotaverin có tỷ lệ gắn kết cao với protein (95- 98%), đặc biệt với albumin,gama và beta- globulin Drotaverin có thể qua được hàng rào nhau thai.

- Nồng độ đỉnh trong huyết tương đạt được trong khoảng từ 45- 60 phútsau khi uống và sau lần chuyển hóa đầu tiên thì 65% liều uống vào được tìmthấy dưới dạng không đổi trong hệ tuần hoàn

- Sau tiêm khởi phát giảm đau sau 2- 4 phút, tối đa sau 30 phút

- Drotaverin được chuyển hóa ở gan, thời gian bán hủy sinh học là

16-22 giờ

- Trên thực tế thuốc biến mất hoàn toàn khỏi cơ thể sau 72 giờ, hơn 50%thuốc được bài tiết qua nước tiểu và khoảng 30% qua phân Thuốc được bàitiết chủ yếu dưới dạng chuyển hóa chính, không tìm thấy dạng không thay đổitrong nước tiểu [4]

1.7.3 Dược lực học

Chống co thắt cơ trơn không thuộc nhóm kháng choline[4]

1.7.4 Chỉ định

- Co thắt dạ dày- ruột, hội chứng ruột kích thích

- Cơn đau quặn mật, các co thắt đường mật, sỏi đường mật và túi mật,viêm đường mật

- Cơn đau quặn thận và các co thắt đường niệu- sinh dục, sỏi thận, sỏiniệu quản, viêm bể thận, viêm bàng quang

- Các co thắt cơ tử cung: đau bụng kinh [4]

1.7.5 Chống chỉ định

- Quá mẫn với bất kì thành phần nào của thuốc

- Suy gan, suy tim, suy thận nặng

- Sốc tim, Block A- V cấp 2,3

- Tụt huyết áp

Trang 13

- Trẻ em dưới 12 tuổi [4].

1.7.6 Thận trọng

Phụ nữ mang thai: chưa có bằng chứng gây quái thai và gây độc chophôi thai từ các nghiên cứu trên động vật và nghiên cứu hồi cứu trên ngườitrong giai đoạn mang thai dùng thuốcđường uống, tuy nhiên cần thận trọngkhi chỉ định cho phụ nữ mang thai

Phụ nữ thời kì cho con bú: do chưa có kết quả khảo sát đầy đủ, thuốckhông được khuyên dùng trong thời kì nuôi con bằng sữa mẹ [4]

1.7.7 Tương tác thuốc

Không có tương tác thuốc với ketorolac tromethamin

1.7.8 Tác dụng phụ

- Có thể buồn nôn, nôn, đau đầu, chóng mặt, đánh trống ngực

- Huyết áp có thể tụt nếu tiêm tĩnh mạch nhanh

- Drotaverin và diclofenac đều được đánh giá có hiệu quả giảm đau đáng kểtrong cơn đau quặn thận cấp, cụ thể: nhóm drotaverine 45/50 bệnh nhân (chiếm90%), nhóm diclofenac 44/50 bệnh nhân (chiếm 88%) điều trị có hiệu quả (điểmVAS pain ở thời điểm 60 phút sau tiêm giảm≥ 50% so với điểm VAS pain banđầu và trong suốt 2 giờ sau đó VAS pain không tăng lên) Hiệu quả giảm đau ởcác thời điểm 30, 60 phút sau tiêm của 2 thuốc là tương đương nhau, không có sựkhác biệt có ý nghĩa thống kê

Trang 14

- Thuốc cứu trợ: ở thời điểm 60 phút sau tiêm ở 2 nhóm drotaverin vàdiclofenac lần lượt là 5 và 6 bệnh nhân (thuốc cứu trợ là tramadol 100mg tiêm bắpkhi điểm VAS giảm < 50% so với VAS ban đầu).

- Số bệnh nhân gặp tác dụng phụ không mong muốn ở 2 nhóm drotaverin

và diclofenac lần lượt là 8 và 11 bệnh nhân, cụ thể: drotaverin ( chóng mặt 4,đau đầu 3, tụt huyết áp 1), diclofenac (buồn nôn hoặc nôn 6, chóng mặt 3, đauthượng vị 2) [15]

* Theo I Romics và các cộng sự (2003), đánh giá hiệu quả của drotaverintrong cơn đau quặn thận cấp gây ra bởi sỏi niệu quản

- Nghiên cứu được tiến hành tại 11 trung tâm, ở 4 quốc gia, ngẫu nhiên, mùđôi, kiểm soát có giả dược

- 102 bệnh nhân được hoàn thành nghiên cứu, 48 nhóm drotaverin và 54nhóm giả dược

-Điểm VAS pain được đánh giá mỗi 30 phút sau tiêm, trong thời gian

1.8 Dược lý ketorolac:ketorolac tromethamine là một thuốc chống viêm

non- steroid thuộc nhóm ức chế không chọn lọc men COX (enzymcyclooxygenase) [4]

1.8.1 Cấu trúc hóa học, tính chất vật lý

Ketorolac là dẫn xuất của Pyrrolizine carboxylic acid thuộc nhóm acidacetic,dưới dạng muối tromethamine.Tên hóa học của Ketorolactromethamine là: - 5 - benzoyl - 2,3- dihydro - 1H - pyrrolizine -1 - carboxylicacid, tạo phức với 2 - amino - 2 - hydroxymethyl - 1,3 - propanediol

Trang 15

Cấu trúc hóa học:

Ketorolac là tinh thể không màu hoặc có màu trắng, tan trong nước,

có hệ số phân ly là pka là 3,54; tỉ lệ tan trong lipid là 0,26; trọng lượngphân tử là 376[4]

1.8.2 Dược động học

1.8.2.1 Hấp thu

Sau tiêm tĩnh mạch nồng độ cao nhất trong huyết tương đạt được là 30phút, sau tiêm bắp hoặc uống là từ 30 đến 60 phút, chế độ ăn nhiều mỡ làmgiảm tốc độ hấp thu nhưng không làm giảm mức độ hấp thu, acid không ảnhhưởng đến hấp thu thuốc

Trang 16

Thuốc qua được hàng rào rau thai (tỷ lệ nồng độ thuốc trong máu dâyrốn /nồng độ thuốc trong máu mẹ = 0,116), thuốc được tìm thấy trong sữa mẹvới nồng độ rất thấp[4].

1.8.2.3 Chuyển hóa

Thuốc được chuyển hóa hầu hết ở gan theo con đường liên hợp với acidglucoronic, 1 phần nhỏ được hydroxyl hóa, các chất chuyển hóa không cóhoạt tính giảm đau đáng kể, phần rất ít còn lại không được chuyển hóa sẽ thảitrừ nguyên vẹn qua nước tiểu[13]

Dược động học của ketorolac tiêm bắp và tiêm tĩnh mạch là như nhau[4]

1.8.3 Dược động học của ketorolac ở 1 số nhóm bệnh lý

Một lượng nhỏ thuốc phân bố vào sữa mẹ

Ở người già (≥ 65 tuổi): sự hấp thu thuốc và tỉ lệ gắn protein huyết tươngkhông bị ảnh hưởng, thời gian bán thải tăng nhẹ (5 - 7 giờ)

Bệnh nhân suy thận: độ thanh thải huyết tương giảm, làm kéo dài thờigian bán hủy (T/2 = 6- 19h), phụ thuộc vào mức độ suy thận

Bệnh nhân xơ gan rượu: thời gian đạt nồng độ cao nhất trong huyếttương và thời gian bán hủy cũng tăng nhẹ[4]

Trang 17

opioid, tuy thời gian khởi phát chậm hơn nhưng thời gian tác dụng lại kéo dàihơn.

Cơ chế tác dụng của ketorolac là do ức chế enzym cyclooxygenase, làmgiảm tổng hợp Prostaglandin, trong đó có PGF2 là chất dẫn truyền đau ngoại

vi, do đó làm giảm tính cảm thụ các ngọn dây cảm giác với các chất gây đaucủa phản ứng viêm như bradykinin, histamin, serotonin [4]

Đồng thời ketorolac còn tác động lên trung ương, cơ chế này chưa rõ, cóthể do gây giải phóng opioid nội sinh

Khác với morphin, ketorolac không có tác dụng với đau nội tạng, khônggây ngủ, không gây sảng khoái và không gây nghiện[4]

Đã có 1 số thử nghiệm lâm sàng chứng minh hiệu quả giảm đau mạnhcủa ketorolac, OHARA và cộng sự đã nghiên cứu trên 155 bệnh nhân để sosánh hiệu quả giảm đau và tính an toàn của ketorolac các liều 10 mg,30 mg,90

mg so với morphin 6 mg và 12 mg (dùng đường tiêm bắp) Kết quả cho thấy

ở thời điểm 3 giờ điểm đau VAS tương tự nhau giữa ketorolac 30 mg và 90mg,và thấp hơn nhóm dùng morphin 6mg và 12 mg, cũng ở thời điểm nàynhu cầu nhắc lại giảm đau với morphin là 33% với ketorolac là 10% Ở thờiđiểm 6 giờ nhắc lại giảm đau ở nhóm ketorolac là 50% (liều 30mg và 90mg),75% (ketorolac 10mg), 83% (morphin 6mg) và 80% (morphin 12mg).Trong các bệnh nhân nghiên cứu không bệnh nhân nào gặp tác dụng phụ nguyhiểm,chỉ 1 số ít (~ 1%) gặp tác dụng phụ không nguy hiểm như buồn nôn,nôn,vã mồ hôi

Và ông đưa ra kết luận ketorolac là thuốc giảm đau khá an toàn, hiệu quảgiảm đau tốt ngang với morphin 12 mg và có thời gian tác dụng kéo dài[16]

Trang 18

1.8.5 Ảnh hưởng của ketorolac lên các cơ quan

1.8.5.1 Tiêu hóa

- Ketorolac có thể gây các kích thích tiêu hóa: buồn nôn, nôn, khó tiêu,đầy bụng, ợ hơi, đau dạ dày ruột Đặc biệt biến chứng nặng có thể gây loét,thủng hay chảy máu đường tiêu hóa, nguy cơ cao ở người già khi dùng liềucao kéo dài Nguyên nhân do thuốc giảm tổng hợp PGF2 của niêm mạcđường tiêu hóa, làm suy yếu hàng rào bảo vệ [4]

- Theo tổng kết của Strom trên 10272 bệnh nhân ở Mỹ từ năm 1991 đến

1993 dùng ketorolac thì thấy tỉ lệ xuất huyết tiêu hóa gấp 1,3 lần Opioid, nguy

cơ này tăng lên ở bệnh nhân > 75 tuổi (1,66 lần), dùng > 5 ngày (2,2 lần), đặcbiệt khi dùng liều cao (7,34 lần)[17]

1.8.5.2 Thận

Do cơ chế tác dụng của ketorolac cũng như các NSAID là ức chế tổnghợp prostaglandin gây giảm thể tích tuần hoàn, mặt khác ketorolac có vai tròquan trọng duy trì tưới máu thận Ketorolac và các sản phẩm của nó được thảitrừ chủ yếu qua thận, có thể gây các thương tổn ở thận như viêm cầu thận,viêm thận kẽ, hoại tử ống thận, hội chứng thận hư, suy thận cấp và hội chứngtăng kali máu Suy thận cấp do NSAID hay gặp ở bệnh nhân suy tim, thiếukhối lượng tuần hoàn, xơ gan, người già, đặc biệt khi dùng liều cao kéo dài.Nguy cơ suy thận cấp khi dùng kéo dài ≥ 5 ngày gấp 2,08 lần[4][17]

Trang 19

Tác dụng ức chế kết tập tiểu cầu của ketorolac sẽ ngừng sau khi ngừngthuốc từ 24 - 48 giờ, và không ảnh hưởng đến thời gian PT và thời gianAPTT nhưng lại làm giảm số lượng tiểu cầu từ 303 (± 57) G/l xuống 277 (±56) G/l[7][4].

1.8.5.6 Phản ứng dị ứng

Các phản ứng có thể gặp từ các mức độ nhẹ đến nặng như nổi mày đay,phát ban, ngứa, co thắt phế quản, phù và co thắt thanh quản có thể xảy ra ởnhững người có hoặc không có tiền sử dị ứng với aspirin, các thuốc NSAIDhoặc ketorolac[4]

1.8.5.7 Phản ứng tại chỗ tiêm

Tiêm bắp ketorolac gây đau tại chỗ tiêm với tỉ lệ 2- 4% và ít hơn là cácphản ứng như bầm tím, tụ máu hoặc đau nhói thần kinh Tỷ lệ các phản ứng tạichỗ này sẽ giảm đi khi tiêm sâu vào trong cơ và tiêm chậm 15 - 30 giây[4]

1.8.6 Chỉ định, chống chỉ định

1.8.6.1 Chỉ định

Ketorolac được chỉ định cho trường hợp đau cấp từ mức độ trung bìnhđến nặng cần thuốc giảm đau tương đương morphin, thuốc thường dùngđường tiêm để hạn chế tác dụng không mong muốn trên đường tiêu hóa, chỉdùng đường uống khi cần tiếp tục điều trị, tuy nhiên tổng liều điều trị kéo dàikhông quá 5 ngày [4]

Trang 20

1.8.6.2 Chống chỉ định

- Dị ứng với ketorolac hoặc các thuốc giảm đau chống viêm khôngsteroid khác

- Tiền sử loét dạ dày,tá tràng, xuất huyết tiêu hóa, thủng đường tiêu hóa

- Rối loạn đông máu hoặc đang dùng thuốc chống đông

- Phẫu thuật tim mạch hoặc phẫu thuật có nguy cơ cao chảy máu

- Nghi ngờ hoặc đã bị xuất huyết não

- Suy thận các mức độ

- Suy tim nặng, thiếu khối lượng tuần hoàn

- Tiền hen phế quản, co thắt phế quản

- Phụ nữ mang thai, cho con bú

- Dùng đồng thời với các thuốc giảm đau chống viêm không steroid khác

- Chống chỉ định tiêm tủy sống, ngoài màng cứng vì dung dịch thuốcchứa cồn

- Không dùng trước và trong phẫu thuât do tăng nguy cơ chảy máu[4]

Tổng thời gian điều trị không quá 5 ngày

Đường dùng: tiêm bắp hoặc tiêm tĩnh mạch, nếu tiêm bắp cần tiêm sâutrong cơ, tiêm tĩnh mạch cần tiêm chậm không dưới 15 giây, tác dụng giảm

Trang 21

đau sau 30 phút với tiêm tĩnh mạch hoặc tiêm bắp, tác dụng tối đa sau 1 - 2giờ, thời gian tác dụng kéo dài 4 - 6 giờ[4].

- Liều lượng:

Liều < 65 tuổi ≥ 65 tuổi hoặc suy thận

hoặc < 50 kg

Liều tiếp theo 30 mg mỗi 6h, tối

đa 120 mg/ ngày

15 mg mỗi 6h, tối đa

60 mg/ ngày

1.9 Các nghiên cứu về ketorolac trên thế giới

*Nghiên cứu của Larkin và cộng sự (1999), khiso sánh hiệu quả giảmđau của ketorolac và meperidin(tiêm bắp) trong cơn đau quặn thận cấp ở khoacấp cứu, có kiểm soát, ngẫu nhiên và mù đôi,có 70 bệnh nhân hoàn thànhnghiên cứu, 33 bệnh nhân nhận ketorolac và 37 bệnh nhân nhận meperidine.+ Nghiên cứu được sự chấp thuận của bệnh viện William Beaumont ởvùng El paso, Texas Thời gian nghiên cứu 18 tháng, từ tháng 1 năm 1992đến tháng 5 năm 1993, bệnh nhân vào khoa cấp cứu được chẩn đoán lâm sàngcơn đau quặn thận cấp, chia 2 nhóm ngẫu nhiên, 1 nhóm nhận 60mg ketorolachoặc meperidine theo cân nặng (50- 90 kg nhận 100mg meperidine, >90kgnhận 150mg meperidine)

+ Điểm đau VAS được cải thiện tốt hơn đáng kể ở nhóm dùng ketorolac

so với meperidine ở các thời điểm 40, 60, 90 phút sau tiêm

+ Việc dùng thuốc giảm đau cứu trợ: 33% với nhóm ketorolac và 43%với nhóm meperidine

+ Sốbệnh nhân xuất viện không khác biệt đáng kể giữa 2 nhóm: 77% ởnhóm ketorolac và 76% nhóm meperidine

Trang 22

+ Thời gian xuất viện trung bình của nhóm ketorolac là sớm hơn so vớinhóm meperidine (3,46 giờ so với 4,33 giờ).

+ Kết quả: 60mg ketorolac dung nạp tốt, ít nhất có hiệu quả bằng 150mg meperidin trong giảm đau cơn đau quặn thận cấp, sự khác biệt điểmVAS có ý nghĩa thống kê ở các thời điểm 40, 60, 90 phút sau điều trị [18]

100-* Theo E Cohen và cộng sự, năm 1998 tiến hànhnghiên cứu: mù đôi,ngẫu nhiên trên 57 bệnh nhân vào khoa cấp cứu với chẩn đoán cơn đau quặnthận cấp, hoặc nhận 30mg ketorolac hoặc 75mg diclofenac (tiêm bắp), điểmđau VAS được đánh giá ở các thời điểm 0, 1h, 2h, 6h sau điều trị Thuốc cứutrợ là pethidine 75mg tiêm bắp, các tác dụng phụ không mong muốn được ghinhận như buồn ngủ, buồn nôn và nôn Kết quả: không có sự khác biệt nhiềugiữa ketorolac và diclofenac trong hiệu quả điều trị cơn đau quặn thậncấp,nghiên cứu này có tiêu chuẩn loại trừ: điểm VAS lúc vào < 4, trong vòng 4htrước đó không sử dụng bất kì 1 loại thuốc giảm đau nào, tiền sử loét dạ dày tátràng, hen suyễn, rối loạn đông máu, mẫn cảm với các loại NSAID, phụ nữ cóthai và cho con bú [19]

* Theo Nicolas Torralba JA và các cộng sự (năm 1999), tiến hànhnghiên cứu tại bệnh viện Virgen de la Arrixaca (Tây ban Nha) về so sánh hiệuquả giảm đau và độ an toàn giữa ketorolac tiêm bắp và tramadol tiêm dưới datrong điều trị ban đầu cơn đau quặn thận cấp ở khoa cấp cứu Nghiên cứu tiếnhành trên 48 bệnh nhân ngẫu nhiên phân vào hoặc 30 mg ketorolac tiêm bắphoặc tramadol 1mg/kg tiêm dưới da, cho kết quả: không có sự khác biệt đáng

kể về hiệu quả giảm đau hay tác dụng phụ của 2 loại thuốc, tuy nhiên có 1 sựkhác biệt được tìm thấy đó là ở thời điểm 15 phút đầu sau tiêm ketorolac chohiệu quả giảm đau tốt hơn và sớm hơn so với tramadol tiêm dưới da [20]

Trang 23

* Theo nghiên cứu của D.P.S.SANDHU và cộng sự, đăng trênBritish Journal

of Urology (1994) so sánh hiệu quả tiêm bắp của 30mg ketorolac và 100mgpethidine, 1 nghiên cứu mù đôi, ngẫu nhiên, 154 bệnh nhân được chọn (76nhóm ketorolac, 78 nhóm pethidine) Được đánh giá mức độ đau bằng thangđiểm VAS ở các thời điểm trước tiêm, mỗi 15 phút sau tiêm (ở giờ đầu tiên)

và mỗi 60 phút (trong 6h tiếp theo) cho kết quả 88% bệnh nhân ở cả 2 nhómđạt hiệu quả giảm đau thể hiện qua thang điểm VAS ở thời điểm 1 giờ đầusau tiêm, sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê Ngoài ra các kết quả còncho thấy ketorolac đem lại hiệu quả giảm đau kéo dài hơn so với pethidine (sốgiờ trung bình nhóm ketorolac phải nhận cứu trợ thuốc giảm đau là 17 giờ,tương tự nhóm pethidine là10giờ) Tỉ lệ bệnh nhân phải nhận thuốc cứu trợtrong 24h đầu tiên: với nhóm ketorolac là 56% còn pethidine là 74% Tácdụng không mong muốn gặp ở 28% với nhóm ketorolac và 51% với nhómpethidine[21]

1.10.Đánh giá mức độ đau bằng thang điểm VAS

Thang điểm VAS pain (visual analoge scale, gọi tắt là VAS) là phươngpháp tự lượng giá được sử dụng nhiều nhất hiện nay, có thể áp dụng cho trẻ từ

5 tuổi trở lên Cường độ đau được lượng giá trên một đoạn thẳng dài 100 mm

có in hình, 1 đầu quy ước là không đau còn đầu kia là đau không thể chịu nổi,

có nhiều cách diễn tả tùy theo từ được lựa chọn đối với 2 cực và màu sắc.Thước được chia thành 10 vạch ứng với mỗi vạch là 1 mức đau [22]

Năm 1981, thang điểm đau VAS được giới thiệu bởi tác giả DonnaWong và Connie Morain Baker[22]

Điểm VAS được đánh giá bởi hai bác sĩ có kinh nghiệm tại các thời điểm

Trang 24

Hình 2.1: Thước đo độ đau bằng cách nhìn VAS

Hình tượng A (tương ứng 0 điểm): không đau

Hình tượng B (tương ứng 1-3 điểm): đau nhẹ

Hình tượng C (tương ứng 4-6 điểm): đau trung bình

Hình tượng D (tương ứng 7- 9 điểm): đau nặng

Hình tượng E (10 điểm): đau rất nặng, không chịu nổi

1.11 Đánh giá chức năng thận

Suy thận: là tình trạng giảm mức lọc cầu thận, kéo dài có thể vài giờ, vàingày, vài tháng hay vài năm, gây ứ đọng các sản phẩm chuyển hóa, rối loạnnước, điện giải, thăng bằng kiềm toan và giảm cung cấp một số chất cho cơthể[7]

Trong bệnh cảnh cơn đau quặn thận cấp do sỏi niệu quản thường gặp làsuy thận cấp hoặc đợt cấp của suy thận mạn[7]

Mức lọc cầu thận (GFR): lưu lượng máu lọc qua cầu thận trong một đơn

vị thời gian[7]

Được ước lượng dựa theo công thức Cockcroft - Gault:

MLCT(ml/p) = (140 - tuổi ) x cân nặng (kg)( x 0,85 nếu là nữ)

Creatinin máu (micromol/ L) x 0,815

Trang 25

Các giai đoạn của bệnh thận mạn tính:

5 MLCT giảm rất nặng < 15 (điều trị thay thế)

Ước lượng được MLCT để chỉ định dùng ketorolac, chống chỉ định khiMLCT < 90 ml/p[7]

1.12 Đánh giá hiệu quả giảm đau của thuốc trong phác đồ:

Với drotaverin: sau tiêm tĩnh mạch, đánh giá điểm VASở thời điểm sautiêm mỗi 30 phút đến mũi tiêm ketorolac, có thể nhắc lại liều tiêm thứ 2, vớitổng liều 80mg (nếu không đạt hiệu quả giảm đau ở các thời điểm đánh giá).Với ketorolac: đánh giá điểm VASở các thời điểm sau tiêm tĩnh mạch30,

60, 120, 180 và 300 phút

Tác dụng phụ các thuốc trong phác đồ: sốc phản vệ, dị ứng thuốc, chóngmặt, buồn nôn hoặc nôn, hạ huyết áp…

Trang 26

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Tất cả bệnh nhân vào khoa Cấp cứu - Bệnh viện Đại học Y Hà Nội đượcchẩn đoán xác định cơn đau quặn thận cấp do sỏi niệu quản

Tiêu chuẩn chẩn đoán xác định cơn đau quặn thận cấp do sỏi niệu quản:bệnh nhân vào khoa Cấp cứu trong bệnh cảnh lâm sàng cơn đau quặn thận cấp,được chẩn đoán xác định dựa trên hình ảnh cận lâm sàng, phát hiện sỏi trên siêu

âm và/hoặc X quang hệ tiết niệu, và/hoặc CT scanner hệ tiết niệu không tiêmthuốc cản quang

2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn

- Tuổi từ 16 đến75

- Điểmđau VAS lúc vào viện ≥ 6

- Tỉnh, hợp tác tốt

2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ

- Tiền sử dị ứng với ketorolac và/hoặc drotaverin, cơ địa dị ứng, hen phếquản, phù co thắt thanh quản

- Tiền sử viêm loét dạ dày - tá tràng hoặc xuất huyết, thủng dạ dày - ruột

- Tiền sử xuất huyết não hoặc nghi ngờ xuất huyết não

- Suy thận từ nhẹ đến nặng

- Suy tim sung huyết, thiếu khối lượng tuần hoàn

- Tiền sử bản thân hoặc gia đình có rối loạn đông máu hoặc đang dùngthuốc chống đông

Trang 27

- Đã dùng thuốc chống viêm giảm đau không steroid khác trong vòng 4giờ trước đó.

- Phụ nữ có thai, cho con bú

- Bệnh nhân nghiện rượu

- Không đồng ý tham gia nghiên cứu

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành tại khoa Cấp cứu- Hồi sức tích cực Bệnhviện Đại học Y Hà Nội

Thời gian nghiên cứu từ tháng 12 năm 2016 đến tháng 6 năm 2017

2.2.2Thiết kế nghiên cứu

Mô tả so sánh kết quả trước – sau điều trị

Cỡ mẫu của nghiên cứuthuận tiện

2.2.3.Các phương tiện nghiên cứu

Thuốc Nospa 40mg/2ml chứa 40mg drotaverine hydrochloride của nhàsản xuất Chinoin Pharmaceutical and Chemical Works PrivateCo.Ltd,Miskolc,CsanyiKvolgy, Hungary

Thuốc ketohealth 3% chứa 30mg ketorolac tromethamine, của nhà sảnxuất Standard Chem& PharmCoLtd, Đài loan

Monitor: đo huyết áp, tần số tim, tần số thở, SpO2 ở các thời điểm

Mẫu bệnh án nghiên cứu(theo phụ lục)

Trang 28

BN vào khoa cấp cứu

Khám, chẩn đoán LS: CĐQT cấp Đánh giá VAS pain ≥ 6

VAS ≥ 6

CLS (SÂ, XQ, CT, XN)

Sỏi NQ + không suy thận

duy nhất

VAS < 6

Thành công Loại khỏi NC

Drotaverin TMC 40mg lần 1

VAS ≥ 6

Drotaverin TMC 40 mg lần 2

VAS ≥ 6 hoặc hiệu quả giảm đau < 50%

Nhóm thất bại VAS < 6

2.2.4Qui trình nghiên cứu (sơ đồ):

Trang 29

2.2.5Biến số, chỉ số nghiên cứu

- Tiêu chuẩn giảm đau thành công: Điểm VAS giảm ≥ 50% so với

điểm VAS ban đầu và không tăng lên trong 2 giờ tiếp theo, VAS thời điểmcuối phác đồ ≤ 3

- Tiêu chuẩn giảm đau thất bại: Khi không đạt được tất cả các tiêu chí

của giảm đau thành công sau khi đã dùng tối đa 2 mũi drotaverin vàketorolac, VAS pain cuối phác đồ > 3

- Đặc điểm về chung: giới, tuổi, nghề nghiệp, lý do vào viện, kích thướcsỏi, vị trí sỏi, tiền sử sỏi

- Điểm VAS trung bình ở các thời điểm mỗi 30phút sau tiêm tĩnhmạchdrotaverin

- Các chỉ số về: mạch, huyết áp tối đa, huyết áp tối thiểu, huyết áptrung bình, tần số thở, SpO2 ở các thời điểm sau tiêm tĩnh mạch drotaverinmỗi 30 phút

- Điểm đau VAS trung bình ở các thời điểm 30, 60, 120, 180, 300 phútsau tiêm tĩnh mạch ketorolac

- Các chỉ số mạch, huyết áp, SpO2 ở các thời điểm 30, 60, 120, 180, 300phút sau tiêm tĩnh mạchketorolac

- Thời gian khởi phát giảm đau trung bình: là khoảng thời gian từ lúctiêm ketorolac (30mg) đến khi bệnh nhân có điểm đau VAS < 6

- Thời gian tác dụng giảm đau trung bình: là khoảng thời gian từ lúc khởiphát giảm đau đến khi tái phát lại cơn đau VAS ≥ 6

- Tỉ lệ % gặp tác dụng không mong muốn: sốc phản vệ, dị ứng,chóngmặt, buồn nôn, nôn, xuất huyết tiêu hóa, rối loạn đông máu, tăng men gan

Trang 30

2.2.6.Phát hiện và xử trí biến chứng

Đau thượng vị, loét dạ dày: dùng thuốc bọc niêm mạc dạ dày hoặc cácthuốc giảm tiết acid dạ dày

Xuất huyết tiêu hóa: truyền máu nếu HCT < 25%

Rối loạn đông máu: truyền huyết tương tươi đông lạnh, tiểu cầu khốihoặc Cryo

Suy thận: xử trí theo tình trạng bệnh

Nôn nhiều: khi bệnh nhân nôn nhiều > 1 lần/ giờ, điều trị thuốc chốngnôn Primperan 10 mg (tiêm tĩnh mạch)

Phản vệ: Dùng thuốc adrenalin tiêm bắp đùi 2 liều cách nhau 5 phút sau

đó có thể tiêm tĩnh mạch liều pha loãng, dimedrol tiêm bắp,methylprednisolon tiêm tĩnh mạchtheo phác đồ

Biểu diễn giá trị trung bình bằng X ± SD

Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê khi p<0,05

2.4 Đạo đức nghiên cứu

Không làm thay đổi phác đồ điều trị thường qui của khoa

Nhằm muc đích nghiên cứu khoa học

Trang 31

Nghiên cứu tuân thủ đầy đủ các quy định về đạo đức nghiên cứu y sinh học.Quá trình nghiên cứu làm giảm đau đớn cho bệnh nhân, giúp tăng cườnghồi phục.

Bệnh nhân được điều trị kịp thời, theo dõi sát tại khoa Cấp cứu nếu cóbiến chứng cấp

Các bệnh nhân có thể từ chối hoặc ngừng hợp tác bất kì lúc nào

Trang 32

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Trong nghiên cứu của chúng tôi thời gian từ tháng 12/ 2016 đến tháng 9/

2017, đã có 94 bệnh nhân được thu thập vào nghiên cứu, trong đó 12 bệnhnhân bị loại Còn lại 82 bệnh nhân được dùng thuốc theo phác đồ phối hợpdrotaverin và ketorolac

Biểu đồ 3.1Đặc điểm chung đối tượng nghiên cứu (n=82)

Trong tổng số 82 bệnh nhân, được chia làm 3 nhóm tuổi, trong đónhóm tuổi thường gặp nhất là từ 16 đến 45 tuổi, chiếm 62,2%; nam giớichiếm đa số trong nghiên cứu với tỉ lệ 74,4%; chúng tôi cũng phân loại theonghề nghiệp của bệnh nhân: lao động thể chất và lao động chân tay, với tỉ lệtương đương nhau

Trang 33

Biểu đồ 3.2Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng (n= 82)

Lý do vào viện chủ yếu là đau bụng mạn sườn 1 hoặc 2 bên, chiếm tỉ lệ59,8% Vị trí sỏi niệu quản thường gặp là 1/3 dưới, chiếm tỉ lệ 67,1%, về kíchthước sỏi từ 3 đến ≤ 7mm chiếm tỷ lệ 52,1%

Trang 34

Bảng 3.1 Kích thước sỏi trung bình theo một số đặc điểm (n=82)

3.2 Đánh giá hiệu quả giảm đau khi dùng drotaverin đơn thuần

Trang 35

89.40%

Hiệu quả Không hiệu quả

Biểu đồ 3.3.Tỷ lệ % hiệu quả giảm đau của drotaverin đơn thuần (n=82)

Nhận xét:Trong tổng số 82 bệnh nhân tham gia nghiên cứu, được dùngdrotaverine 40 – 80mg tiêm tĩnh mạch, có 10 bệnh nhân dung nạp thuốc tốt vàgiảm đau thành công, đạt tỉ lệ 12,2% Còn lại 72 bệnh nhân chiếm 87,8%không đạt hiệu quả giảm đau khi dùng drotaverine đơn độc, được dùng phốihợp với ketorolac theo phác đồ

Trang 36

3.3 Đánh giá hiệu quả giảm đau của phác đồ phối hợp drotaverin và ketorolac

77.80%

22.20%

Giảm đau thành công Giảm đau thất bại

Biểu đồ 3.4 Tỉ lệgiảm đau thành công của phác đồ phối hợp thuốc (n=72)

Nhận xét: Phác đồ phối hợp drotaverin và ketorolac đạt hiệu quả giảm đauthành công trên 56 bệnh nhân chiếm tỷ lệ 77,8%, còn lại 16 bệnh nhân giảmđau thất bại, chiếm 22,2%, cần thuốc cứu trợ

Ngày đăng: 17/07/2019, 21:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w