1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tình trạng dinh dưỡng và thiếu vitamin d ở trẻem từ 6 – 11 tuổi tại phòng khám dinh dưỡng, bệnh viện nhi trung ương

108 135 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 739,39 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cùng với tỷ lệ suy dinh dưỡng còn khá cao thì tình trạng thừa cân, béophì trong số trẻ em tại các thành phố lớn của Việt Nam đang gia tăng mộtcách nhanh chóng và đã ở ngưỡng đáng báo độn

Trang 1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Dinh dưỡng cho trẻ em không chỉ quan trọng ở những năm đầu đời màliên tục cả những năm tuổi học đường đặc biệt là giai đoạn 6 – 11 tuổi Đây làgiai đoạn trẻ tích lũy chất dinh dưỡng cần thiết chuẩn bị cho giai đoạn nhảyvọt thứ hai trong cuộc đời – tuổi dậy thì Nếu trẻ bị suy dinh dưỡng, thừa cân– béo phì hoặc thiếu hụt vi chất dinh dưỡng trong giai đoạn này sẽ ảnh hưởngnghiêm trọng đến khả năng học tập, tăng trưởng chiều cao, nguy cơ mắc bệnhmạn tính khi trưởng thành và gây tổn thất lớn cho gia đình và xã hội [1]

Trong thập kỷ qua, SDD thể nhẹ cân của trẻ em Việt Nam đã giảmnhanh (từ 22,9% trẻ dưới 5 tuổi năm 2005 xuống 17,5% năm 2010), tuy nhiênSDD thấp còi vẫn tồn tại ở mức cao, như một thách thức Tỷ lệ thấp còi ở trẻdưới 5 tuổi là 33,5% năm 2005, đến năm 2010 là 29,3% Theo báo cáo năm

2010 của Viện Dinh dưỡng, ở trẻ 5 – 19 tuổi, tỷ lệ SDD nhẹ cân là 24,2%,thấp còi là 23,4%, gầy còm là 16,8% [2]

Cùng với tỷ lệ suy dinh dưỡng còn khá cao thì tình trạng thừa cân, béophì trong số trẻ em tại các thành phố lớn của Việt Nam đang gia tăng mộtcách nhanh chóng và đã ở ngưỡng đáng báo động, đặc biệt là ở nhóm tuổimẫu giáo và tiểu học Đây chính là “gánh nặng kép” về dinh dưỡng mà ViệtNam cũng như nhiều nước trên thế giới đang phải đối mặt [3]

Bên cạnh đó, vi chất dinh dưỡng có vai trò hết sức quan trọng đối với sựphát triển toàn diện về thể lực, trí tuệ và hệ miễn dịch của trẻ tuổi tiểu học Trong

số các vi chất dinh dưỡng cần thiết cho giai đoạn này thì vitamin D có ý nghĩaquan trọng đối với hệ xương, chuẩn bị cho sự tăng trưởng về chiều cao nhảy vọtkhi dậy thì và giảm nguy cơ các bệnh mạn tính khi trưởng thành [4] Tuy nhiên,hiện nay thiếu vitamin D vẫn là một vấn đề có ý nghĩa sức khỏe cộng đồng phổbiến trên thế giới, không chỉ xuất hiện ở các nước Châu Âu ít nắng, mà ngay tại

Trang 2

các nước Châu Á, Châu Phi nhiều nắng thì tỷ lệ thiếu vitamin D của người dâncũng rất cao Ở Việt Nam, theo số liệu thống kê năm 2010 có 21% trẻ từ 6 thángđến 6 tuổi thiếu vitamin D nặng và 37% trẻ có thiếu vitamin D mức độ nhẹ [5].Vấn đề dinh dưỡng và vitamin D ở trẻ em đang được quan tâm nghiêncứu tại Việt Nam cũng như trên thế giới Hiện nay, chiến lược quốc gia vềdinh dưỡng giai đoạn 2011 – 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 đã đưa ra mụctiêu cải thiện tình trạng vi chất dinh dưỡng và dinh dưỡng học đường [6] Tuynhiên ở Việt Nam chưa có nhiều dữ liệu đối với lứa tuổi tiểu học đặc biệt là

về thiếu vitamin D Để tìm hiểu thêm về vấn đề này, chúng tôi tiến hành

nghiên cứu “Tình trạng dinh dưỡng và thiếu vitamin D ở trẻ em từ 6 – 11 tuổi tại phòng khám Dinh dưỡng, Bệnh viện Nhi Trung Ương” với hai mục

Trang 3

Chương 1 TỔNG QUAN1.1 Khái quát về đặc điểm sinh học cơ bản của trẻ 6 – 11 tuổi

1.1.1 Các giai đoạn phát triển và tăng trưởng của trẻ em

Trẻ em là một cơ thể đang lớn và phát triển Quá trình này không phải làmột quá trình thuần tiến mà có những bước nhảy vọt, có sự khác về chất chứkhông đơn thuần về số lượng Vì thế khi nói đến trẻ em, không thể nói chung

mà mỗi lứa tuổi có những đặc điểm sinh học riêng, chi phối đến sự phát triểnbình thường cũng như quá trình bệnh lý của trẻ Theo Tổ chức Y tế thế giới(WHO), trẻ em từ khi sinh ra đến khi trưởng thành (15 – 20 tuổi) phải trải qua

5 giai đoạn phát triển:

Giai đoạn sơ sinh (newborn): từ lúc sinh đến 1 tháng

Giai đoạn nhũ nhi (infant): 1 – 23 tháng

Giai đoạn răng sữa (preschool child): 2 – 5 tuổi

Giai đoạn học đường: 6 – 12 tuổi

Giai đoạn vị thành niên (adolescent): 13 – 18 tuổi

Trong đó lứa tuổi từ 6 – 11 tuổi là lứa tuổi trẻ theo học tiểu học nên lứatuổi này còn được gọi là lứa tuổi tiểu học Các giai đoạn có đặc điểm pháttriển và nhu cầu dinh dưỡng khác nhau

1.1.2 Đặc điểm sinh học cơ bản và nhu cầu dinh dưỡng của trẻ 6 – 11 tuổi

Về mặt tâm lý, giai đoạn này trẻ thể hiện mạnh tính cách tự chủ, bắt đầuxâm nhập vào cuộc sống xã hội dưới nhiều hình thức khác nhau Đặc biệt, cha

mẹ (người gần gũi với trẻ nhất) cũng xem con cái mình trưởng thành hơn nên

ít kiểm soát trẻ chặt chẽ như khi trẻ dưới 5 tuổi, do vậy, trẻ thường tự lập hơntrong sinh hoạt nói chung và trong chế độ ăn uống nói riêng Về mặt thể chất,giai đoạn này là thời gian để cơ thể trẻ tích lũy các chất dinh dưỡng cần thiếtchuẩn bị cho giai đoạn phát triển nhảy vọt ở tuổi dậy thì

Trang 4

Giai đoạn này trẻ có nhu cầu dinh dưỡng rất cao để phục vụ cho quátrình tăng trưởng, vận động và học tập Dinh dưỡng giai đoạn này rất quantrọng cho tiềm năng sức khỏe, thúc đẩy sự tăng trưởng – phát triển tối ưu khitrưởng thành, phát triển trí tuệ, ảnh hưởng đến tiềm năng học tập, đồng thờingăn ngừa bệnh lý gây ra bởi dinh dưỡng không hợp lý như thiếu máu thiếusắt, béo phì, SDD, rối loạn ăn uống và sâu răng Đặc biệt, dinh dưỡng hợp lý

ở giai đoạn này có thể ngăn ngừa các vấn đề về sức khoẻ lâu dài, chẳng hạnnhư bệnh mạch vành, ung thư, đột quị, chứng loãng xương

Giai đoạn tiểu học là những năm quan trọng trong quá trình phát triểncủa trẻ, nên việc lựa chọn thực phẩm cũng như thói quen ăn uống sẽ ảnhhưởng rất lớn đến sức khỏe của trẻ trong tương lai Nhiều thói quen ăn uống,thích và không thích được thiết lập trong thời gian này bởi ảnh hưởng từ môitrường sống như gia đình, bạn bè, và các phương tiện truyền thông (đặc biệt làtruyền hình) đã tác động đến sự lựa chọn thực phẩm và chế độ dinh dưỡngcủa trẻ

Bởi vậy một số nước như Mỹ và Việt Nam đã rất coi trọng vấn đề dinhdưỡng học đường, coi giáo dục dinh dưỡng là một phần học trong nhà trường

và là một trong các chương trình can thiệp dinh dưỡng của quốc gia Cáckhuyến nghị của Viện Dinh Dưỡng Quốc Gia đưa ra về nhu cầu các dưỡngchất cơ bản cần cho lứa tuổi này là [7]:

+ Năng lượng: nhu cầu năng lượng của mỗi cá thể phụ thuộc vào tuổi,

giới và mức độ hoạt động Nhìn chung, trẻ gái cần từ 1600 – 2100 kcal còn trẻtrai cần từ 1600 – 2200 kcal

+ Protein: rất quan trọng cho sự phát triển, sự khỏe mạnh của hệ cơ

xương của trẻ em tuổi tiểu học Nhu cầu protein cho lứa tuổi này là 55 – 74g /ngày, trong đó protein có nguồn gốc đông vật chiếm 35 – 40% Năng lượng

do protein cung cấp chiếm 15%

Trang 5

+ Lipid: Năng lượng được cung cấp từ chất béo nên chiếm 25 – 35% tổng

năng lượng trong khẩu phần ăn, ưu tiên chất béo không no đa nối đôi và omega3rất cần cho sự phát triển nhận thức của trẻ giai đoạn tiểu học, Lipid giúp hấp thucác vitamin tan trong dầu trong đó có vitamin D

+ Carbonhydrat: là nguồn cung cấp năng lượng chính cho trẻ em tuổi

tiểu học Nhu cầu carbonhydrat chiếm 60 – 65% tổng nhu cầu năng lượng,nên chọn carbonhydrat tự nhiên có nhiều chất xơ Hạn chế các loại nước cógas, nước ngọt, các loại đồ uống có nhiều đường vì các loại nước này cónhiều đường, giàu năng lượng, nghèo dinh dưỡng, làm tăng nguy cơ béo phì ởtrẻ em

+ Vitamin và chất khoáng: ở giai đoạn này do nhu cầu một số chất dinh

dưỡng cao nên phải đặc biệt chú ý đến cung cấp canxi, sắt, vitamin D bêncạnh các vitamin và chất khoáng thông thường Trẻ em và vị thành niênkhông thường xuyên tiếp xúc với ánh nắng mặt trời nên sử dụng khoảng 500

ml sữa có bổ sung vitamin D hoặc nên bổ sung vitamin D 400 IU/ngày

Hình 1.1 Sơ đồ Tháp Dinh Dưỡng dành cho trẻ 6 – 11 tuổi [7]

Trang 6

1.2 Tình trạng dinh dưỡng của trẻ tuổi tiểu học

1.2.1 Khái niệm và tầm quan trọng của tình trạng dinh dưỡng

Tình trạng dinh dưỡng (TTDD) là tập hợp các đặc điểm về cấu trúc,chức phận và hóa sinh, phản ánh mức đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của cơthể Như vậy, TTDD của cá thể là kết quả của sự ăn uống và sử dụng các chấtdinh dưỡng của cơ thể TTDD tốt phản ánh sự cân bằng giữa thức ăn ăn vào

và tình trạng sức khỏe

Tình trạng dinh dưỡng và sức khỏe học đường là một bộ phận quan trọngtrong cộng đồng, số lượng trẻ học học đường chiếm một tỷ lệ không nhỏtrong tháp dân số, 24% dân số ở các nước đang phát triển và 16% dân số ởcác nước phát triển Tại các nước đang phát triển, với tốc độ ra tăng dân sốcao như hiện nay (1,4%/năm) thì số lượng học sinh tiểu học còn có xu hướngtăng cao hơn nữa Ở nước ta, chương trình dinh dưỡng học đường là mộttrong số bảy chương trình dinh dưỡng chiến lược quốc gia giai đoạn 2011 –

2020 [6]

Tình trạng dinh dưỡng là một chỉ số quan trọng đánh giá chất lượng cuộcsống, sức khỏe TTDD của trẻ có ý nghĩa lớn với sự phát triển tốt hơn của trẻtrong tương lai Tuổi tiểu học là giai đoạn phát triển tích cực của thời thơ ấu

là nền tảng của sự phát triển thể chất và tinh thần của trẻ Các nghiên cứu chỉ

ra rằng các vấn đề về sức khoẻ do tình trạng dinh dưỡng kém của trẻ tuổi tiểuhọc là những nguyên nhân phổ biến nhất của việc kết quả học tập không tốt,

tỷ lệ đỗ trong các trường trung học và tiếp đến đại học thấp, dẫn đến hiệu quảcông việc cũng như thành công trong cuộc sống sau này thấp Có mối tươngquan giữa chế độ dinh dưỡng và nhận thức cũng như hành vi tâm lý xã hội;mối quan hệ này đã được chứng minh

Trang 7

Kar B năm 2008 đã chứng minh ảnh hưởng của thấp còi ở trẻ từ 5 – 10tuổi tới suy giảm nhận thức và tốc độ phát triển nhận thức Nghiên cứu nàythấy trẻ bị SDD sẽ dẫn đến suy giảm tập trung và làm chậm tốc độ chung củatất cả các quá trình nhận thức, dẫn truyền thần kinh và những ảnh hưởng xấuđến quá trình nhận thức [8].

Li (2008) nghiên cứu trên 2519 trẻ từ 8 – 16 tuổi thấy có mối liên quangiữa BMI với khả năng nhận thức và kết quả học tập của trẻ Kết quả học tậpgiảm đi khi trẻ béo phì càng có BMI tăng hay trẻ SDD có BMI giảm cũng cóliên quan đến kết quả học tập kém [9]

Shore (2008) điều tra trên 566 trẻ, đã thấy sự khác biệt rõ giữa thành tíchhọc tập của nhóm trẻ béo phì với nhóm trẻ bình thường Điểm trung bình củatrẻ bình thường cao hơn 11% so với trẻ béo phì và số ngày nghỉ ít hơn là 25%

so với 39% của nhóm béo phì Ngoài ra, có 75% trẻ bình thường tham gia vàocác hoạt động thể thao dưới hình thức nhóm, trong khi nhóm thừa cân có 61%tham gia và béo phì chỉ có 33% tham gia hoạt động nhóm Như vậy, trẻ cóTTDD tốt thì có thành tích học tập cao hơn, kỹ năng và hoạt động xã hội cũngnhư hoạt động tập thể tốt hơn [10]

Do vậy, TTDD của trẻ em tuổi tiểu học đóng vai trò quan trọng trongviệc chuẩn bị và duy trì tiềm năng học tập và góp phần đem lại lợi ích cao cho

xã hội

1.2.2 Tình trạng dinh dưỡng của trẻ em trên thế giới và ở Việt Nam

1.2.2.1 Tình trạng dinh dưỡng của trẻ em trên thế giới

TTDD của trẻ em lứa tuổi tiểu học tác động rất lớn đến sức khỏe, nhậnthức và thành tích học tập Tuy nhiên, đối tượng được tập trung nhiều nhấttrong các cuộc điều tra đánh giá TTDD trên thế giới là trẻ em <5 tuổi và phụ

nữ có thai Trẻ em tuổi tiểu học thường không có trong các cuộc điều tra vềsức khoẻ và dinh dưỡng nên số liệu về tình trạng dinh dưỡng của nhóm này

Trang 8

trên thế giới cũng không có sẵn Tuy nhiên, dựa trên một số số liệu nghiêncứu ở một số quốc gia ở lứa tuổi này cho thấy SDD vẫn là mối lo ngại ở cácquốc gia đang phát triển trong đó có Việt Nam.

Tại Ấn Độ năm 2007 theo số liệu điều tra sức khỏe gia đình quốc giathấy tỷ lệ SDD nhẹ cân ở lứa tuổi này là 47% [11]

Tại Ethiopia năm 2009, Herrador nghiên cứu trên trẻ 4 – 15 tuổi thấy có42,7% trẻ SDD thấp còi ở nông thôn và 29,2% ở thành phố Tỷ lệ SDD gàycòm tương ứng là 21,6% và 20,8% [12]

Tại Bangladesh năm 2010, Hasan MM nghiên cứu trên học sinh tiểu họcthấy SDD gày còm (15,1%), thấp còi (22,1%) và 2,3% trẻ vừa thấp còi vừagày còm [13]

Cũng tại Ấn Độ (2012), chiều cao của trẻ trai và trẻ gái tuổi 5 – 13 tuổi

đều thấp hơn so với chuẩn CDC 2000 (Centers for Disease Control and

Prevention) trong đó SDD thể nhẹ cân và thấp còi gặp với tỷ lệ cao nhất ở lứa

tuổi 11 – 13 tuổi với 18,5% SDD thấp còi và 33,3% thể nhẹ cân [14]

Tại Nigeria năm 2016, Eze JN nghiên cứu trên 2616 trẻ 6 – 12 tuổi thấy

có một gánh nặng kép thiếu và thừa dinh dưỡng ở nhóm tuổi này, trong đóSDD gày còm (9,3%), thấp còi (0,4%), nhẹ cân (0,9%), thừa cân – béo phì(10,7%) [15]

Bên cạnh tình trạng thiếu hụt dinh dưỡng thì thừa cân và béo phì hiệnnay là tình trạng phổ biến ở các nước phát triển Ở Mỹ (1991) tỷ lệ thừa cânbéo phì ở trẻ 6 – 11 tuổi là 22,3% trẻ nam và 22,7% trẻ nữ nhưng năm 2004,

tỷ lệ thừa cân, béo phì ở học sinh từ 6 – 17 tuổi rất cao, tới 35,1% ở nam và36% ở nữ [16]

Dựa trên 369 nghiên cứu từ 76 quốc gia khác nhau, Best C (2010) đãtổng kết cho thấy TTDD của trẻ em tuổi tiểu học thường gặp là thiếu hụt dinhdưỡng SDD thể nhẹ cân và thấp còi là đặc trưng nổi bật nhất ở các nước

Trang 9

Đông Nam Á và Châu Phi, trong khi các quốc gia tại châu Mỹ La-tinh thì tỷ

lệ SDD hai thể trên thấp <10% nhưng tỷ lệ thừa cân – béo phì lại cao 25 –30% Tỷ lệ thiếu máu ở mức độ vừa (> 20%), nặng (> 40%) Thiếu hụt vi chấtdinh dưỡng như sắt, i-ốt, kẽm, vitamin A chiến từ 20% đến 30% Ở Châu Phi,Châu Á, và Địa Trung Hải, tỷ lệ thừa cân <15% [17]

Như vậy, suy dinh dưỡng vẫn là vấn đề sức khoẻ cộng đồng ở trẻ em 6 – 11tuổi ở các nước đang phát triển và các nước đang trong quá trình chuyển đổi.Tuy nhiên, số liệu còn hạn chế nhưng những phát hiện này nhấn mạnh nhu cầucan thiệp dinh dưỡng ở trẻ em trong độ tuổi đi học và cần có các nghiên cứu chấtlượng cao hơn để đánh giá tình trạng dinh dưỡng ở nhóm tuổi này

1.2.2.2 Tình trạng dinh dưỡng của trẻ em ở Việt Nam

Tại Việt Nam trong những năm qua, đã có nhiều cuộc điều tra dinhdưỡng được tiến hành và cho thấy mô hình dinh dưỡng của nước ta đã cónhiều biến đổi Tỷ lệ suy dinh dưỡng nhẹ cân và thấp còi ở trẻ dưới 5 tuổi đãgiảm dần qua các năm Mặc dù đạt được những thành tựu trên, Việt Nam vẫn

là một trong 36 quốc gia có tỷ lệ SDD thấp còi cao nhất trên thế giới [6] ViệtNam cũng như nhiều quốc gia khác trên thế giới thì số liệu về dinh dưỡng củatrẻ lứa tuổi tiểu học còn hạn chế rất nhiều so với số liệu về dinh dưỡng của trẻ

<5 tuổi Tuy nhiên, qua một số ít các nghiên cứu cũng đã thấy được suy dinhdưỡng ở lứa tuổi tiểu học cũng cần được quan tâm hơn nữa

Tại thành phố Huế năm 2009, nghiên cứu trên 4534 học sinh tiểu học,thấy tỷ lệ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân là 13,29%, thấp còi là 12,57%, gầy còm

là 7,72% Tỷ lệ thừa cân tương đối cao (7.07%) [18]

Theo cuộc tổng điều tra dinh dưỡng năm 2010 của Viện Dinh dưỡng, ởtrẻ 5 – 10 tuổi, tỷ lệ SDD thể nhẹ cân là 24,2%; ở trẻ 5 – 19 tuổi tỷ lệ SDD thểthấp còi là 23,4%, tỷ lệ SDD thể gầy còm là 16,8% Trong đó, tỷ lệ SDD ởkhu vực nông thôn (28,2%) cao hơn thành thị (19,7%) [2]

Trang 10

Theo điều tra SEANUTS tại 6 tỉnh thành của Việt Nam năm 2011, tỷ lệsuy dinh dưỡng của trẻ 6 – 11 tuổi ở nông thôn cao hơn thành phố: thấp còichung là 15,6%, trong đó nông thôn (17,7%), thành phố (8,9%) Tỷ lệ suydinh dưỡng nhẹ cân ở tuổi này là 22,2%, nông thôn (25%), thành phố(13,8%) Tỷ lệ suy dinh dưỡng gày còm là 13,7% ở nông thôn và 9,6% ởthành phố Bên cạnh SDD thì tỷ lệ thừa cân, béo phì của trẻ 6 – 11 tuổi tăng

và có sự chênh lệch lớn ở thành phố và nông thôn: 33,7% ở thành phố và6,5% ở nông thôn [3]

Nghiên cứu của Hoàng Thị Lam Huyền (2013) ở học sinh tiểu học tạiBắc Ninh, kết quả thấy SDD nhẹ cân (39,4%), thấp còi (22,9%), gày còm(25,5%) [19]

Theo điều tra dinh dưỡng của học sinh tại 6 trường tiểu học của huyệnNghĩa Đàn (Nghệ An) năm 2013 cho thấy tỷ lệ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân là21,5% và thấp còi là 17,8% [20]

Trong khi tỷ lệ suy dinh dưỡng thấp còi của trẻ em vẫn còn ở mức caothì tình trạng thừa cân - béo phì đang có xu hướng gia tăng nhanh và ởngưỡng báo động Trong “Chiến lược dinh dưỡng giai đoạn 2011-2020 vàtầm nhìn đến 2030”, vấn đề này được nhận định là gánh nặng kép về dinhdưỡng Theo kết quả của tổng điều tra dinh dưỡng năm 2010, tỷ lệ thừa cân,béo phì của trẻ 5 – 19 tuổi trên toàn quốc là 11,0%, trong đó thành phố là10,0%, trẻ em nông thôn là 7% và ở các thành phố trực thuộc trung ương là27% [2] Gần đây, nhiều nghiên cho thấy tình hình thừa cân, béo phì của họcsinh tiểu học ở một số thành phố lớn như Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minhtăng nhanh và ở mức cao Năm 2011, nghiên cứu tại 15 trường tiểu học củacác quận nội thành Hà Nội cho thấy tỷ lệ thừa cân, béo phì của trẻ 6 – 11 tuổi

là 40,7% [21] Kết quả điều tra về tình hình béo phì và rối loạn chuyến hóalipid máu của trẻ 4 – 9 tuổi tại quận Hoàn Kiếm năm 2013 cho thấy tỷ lệ thừacân, béo phì là 39,9% [22]

Trang 11

Tại TPHCM năm 2008 – 2009, tỷ lệ thừa cân, béo phì là 28,5% [23],nhưng đến năm 2012 đã thấy tỷ lệ thừa cân 54,4% và béo phì 31,2% của haitrường tiểu học Hồ Thị Kỷ và trường tiểu học Phú Hòa Đông [24].

1.2.3 Các phương pháp đánh giá tình trạng dinh dưỡng

Tình trạng dinh dưỡng của cá thể có thể được đánh giá thông qua cácbiểu hiện lâm sàng đặc hiệu, các chỉ số sinh hóa và các số đo nhân trắc dinhdưỡng Cho đến nay số đo nhân trắc dinh dưỡng được xem là nhạy, kháchquan và có ý nghĩa ứng dụng rộng rãi trong việc đánh giá tình trạng dinhdưỡng của một cá thể hay của cộng đồng

Có thể chia ra nhóm kích thước nhân trắc sau đây:

- Khối lượng cơ thể, biểu hiện bằng cân nặng

- Các kích thước về độ dài, đặc hiệu là chiều cao

- Cấu trúc cơ thể và các dự trữ về năng lượng và protein, thông qua các

mô mềm bề mặt: khối nạc, tỷ trọng mỡ, bề dày lớp mỡ dưới da… [25]

Năm 2007, WHO đã công bố chuẩn tăng trưởng dành cho trẻ học đường

và vị thành niên (từ 5 – 19 tuổi) Theo đó, để nhận định tình trạng dinh dưỡng

ở trẻ trong độ tuổi đi học và tuổi vị thành niên (5 – 19 tuổi), các chỉ số nhântrắc thường được sử dụng là cân nặng theo tuổi (WAZ), chiều cao theo tuổi(HAZ) và BMI theo tuổi (BAZ) Chỉ số chiều cao theo tuổi và BMI theo tuổi

áp dụng cho trẻ 5 – 19 tuổi Riêng chỉ số cân nặng theo tuổi chỉ áp dụng chotrẻ dưới 10 tuổi [26]

Trang 12

- Cân nặng theo tuổi: Đây là tiêu chí phổ biến nhất đối với trẻ nhỏ Tuy

nhiên với trẻ lớn từ 10 tuổi trở lên cơ thể trẻ phát triển nhanh, chỉ dựa vào cânnặng/tuổi thì không phân biệt được trẻ tăng cân do phát triển chiều cao haycân nặng Vì thế chỉ tiêu cân nặng theo tuổi chỉ áp dụng với trẻ từ 5 – 9 tuổi,còn trẻ từ 10 – 19 tuổi đánh giá thừa cân/suy dinh dưỡng dựa vào chỉ tiêuBMI theo tuổi [26]

Phân loại TTDD bằng chỉ tiêu cân nặng theo tuổi có nhược điểm làkhông phân biệt được suy dinh dưỡng cấp hay mạn tính

Bảng 1.1: Đánh giá chỉ số Z-score cân nặng theo tuổi

- Chiều cao theo tuổi: chỉ tiêu này phản ánh tình trạng thiếu dinh dưỡng

kéo dài hoặc SDD trong quá khứ làm đứa trẻ bị thấp còi (thấp hơn chiều caocủa đứa trẻ cùng tuổi, giới)

Bảng 1.2: Đánh giá chỉ số Z-score chiều cao theo tuổi

Trang 13

Do lứa tuổi này cơ thể đang phát triển, chiều cao chưa ổn định nênkhông thể dùng một ngưỡng BMI như người lớn mà phải tính theo tuổi vàgiới của trẻ

Bảng 1.3: Đánh giá chỉ số Z-score BMI theo tuổi:

- Điều tra khẩu phần và tập quán ăn uống

- Các thăm khám thực thể/dấu hiệu lâm sàng, đặc biệt chú ý tới các triệuchứng thiếu dinh dưỡng kín đáo hoặc rõ ràng

- Các xét nghiệm cận lâm sàng: xét nghiệm máu, phân, dịch tiêu hóa…

- Kiểm nghiệm chức phận để xác định các rối loạn chức phận do thiếuhụt dinh dưỡng

- Đánh giá các yếu tố sinh thái liên quan đến tình hình bệnh tật sức khỏe.Tùy theo các nghiên cứu mà có thể dùng phương pháp nhân trắc đơnthuần hoặc kết hợp phương pháp nhân trắc với một hay nhiều phương phápkhác để đánh giá TTDD cho cộng đồng hay cá thể

1.3 Tình trạng thiếu vitamin D

1.3.1 Vai trò của vitamin D trong cơ thể

Trong những năm gần đây, rất nhiều nghiên cứu tập trung tìm hiểu vềtình trạng và vai trò của vitamin D đối với sức khỏe con người Vitamin D cóvai trò rất quan trọng đối với sức khoẻ của hệ xương, do đó, thiếu hụt vitamin

D dẫn đến còi xương ở trẻ em và chứng loãng xương ở người lớn Tuy nhiên,

Trang 14

còi xương có thể được coi chỉ là đỉnh của tảng băng trôi thiếu vitamin D docác thụ thể của vitamin D có mặt trong ruột non, đại tràng, các tế bào xương,các tế bào lympho T và B hoạt hóa, các tế bào đơn nhân và hầu hết các cơquan trong cơ thể bao gồm não, tim, da, tuyến sinh dục, tuyến tiền liệt và vú.Nhiều nghiên cứu trong 2 thập kỷ qua đã cho thấy vai trò quan trọng củavitamin D trong việc làm giảm nguy cơ bị bệnh mạn tính, bao gồm ung thư,bệnh tự miễn dịch, các bệnh truyền nhiễm và bệnh tim mạch Thiếu hụtvitamin D đã được chứng minh trong một số nghiên cứu gây tăng nguy cơmắc một số bệnh lý ở người trưởng thành như suy giảm nhận thức, bệnh tựmiễn, ung thư, tim mạch và tăng nguy cơ bệnh tật và tử vong [4], [27]

Ở trẻ em, vitamin D đã được chứng minh có vai trò rất quan trọng đốivới sự trưởng thành của hệ miễn dịch, và có mối liên quan giữa nồng độ caohơn của vitamin D và tỷ lệ thấp hơn của hen phế quản và giảm nguy cơ nhiễmtrùng đường hô hấp [28]

Sự phát triển của trẻ được đặc trưng bởi sự có mặt của các giai đoạn tăngtrưởng vượt bậc để tiến tới đỉnh cao của sự phát triển là cuối tuổi dậy thì Để

có được sự tăng trưởng vượt bậc thì cơ thể cần phải tích lũy đủ Canxi vàvitamin D cho quá trình khoáng hóa ở xương và sự tăng tạo tế bào xương.Lứa tuổi 6 – 11 tuổi là giai đoạn quan trọng cho sự phát triển của trẻ, tích lũycác chất chuẩn bị cho quá trình dậy thì, đặc biệt là tăng trưởng về chiều cao

và sự khoáng hóa xương Vì vậy dinh dưỡng giai đoạn này rất quan trọng, đặcbiệt vitamin D, canxi [4]

Thiếu vitamin D giai đoạn này làm cho trẻ chậm phát triển, biến dạngxương và tăng nguy cơ loãng xương và gãy xương sau này Zhu K và cộng sựnghiên cứu bổ sung sữa kết hợp vitamin D cho trẻ em Trung Quốc 10 – 12 tuổi,kết quả cho thấy sau can thiệp chiều cao của trẻ tăng hơn 0,6% so với nhómchứng Hiệu quả rõ nhất ở những trẻ có khẩu phần canxi và nồng độ vitamin Dhuyết thanh thấp trước khi can thiệp [29]

Trang 15

Thiếu vitamin D có tương quan tỷ lệ thuận với giảm mật độ xương cũng

đã được nhiều nghiên cứu thừa nhận [30], [31] Nghiên cứu của Kremer R vàcộng sự năm 2009 cho thấy, hệ số tương quan giữa vitamin D huyết thanh vớichiều cao cơ thể là r = 0,26 nghĩa là nồng độ vitamin D huyết thanh tăng liênquan đến tăng chiều cao của đối tượng nghiên cứu và ngược lại [32]

Một nghiên cứu khác được tiến hành trên 113 trẻ từ 12 – 15 tuổi, với bổsung vitamin D liều 800 IU/ngày trong 6 tháng và một nghiên cứu thứ hai chotrẻ 235 trẻ từ 9 – 11 tuổi được dùng 710 ml sữa/ngày với hàm lượng vitamin

D trong sữa 300 IU/ngày trong thời gian 7 tuần thấy nồng độ vitamin D huyếtthanh tăng rõ rệt ở nhóm trẻ bổ sung vitamin D so với nhóm chứng Ở nhómtrẻ bổ sung vitamin D 6 tháng có chiều cao cao hơn 0,9cm so với nhóm chứng

và nhóm bổ sung vitamin D trong 7 tuần có chiều cao cao hơn 0,2cm so vớinhóm chứng Nghiên cứu đã đưa ra khuyến nghị, với trẻ tuổi học đường khi

có thiếu hụt vitamin D thì phải bổ sung vitamin D với liều điều trị800IU/ngày và thời gian kéo dài 6 tháng có ảnh hưởng rõ rệt đến sự tăngtrưởng của trẻ, còn nếu tăng cường vitamin D trong khẩu phần ăn với liều nhỏ

và thời gian ngắn thì ít đem lại hiệu quả [33]

Sự gia tăng tỷ lệ thiếu hụt vitamin D, kết hợp với các báo cáo về ảnhhưởng của vitamin D đối với sức khỏe đã làm cho tình trạng vitamin D trong

cơ thể là mối quan tâm lớn của ngành y tế và có ý nghĩa sức khỏe cộng đồng.Trẻ em, là đối tượng có nguy cơ cao bị thiếu hụt vitamin D và ảnh hưởng của

nó rất lớn đến sức khỏe, tăng trưởng của trẻ không những tại thời điểm đó màcòn ảnh hưởng dài hạn về sau

1.3.2 Thực trạng thiếu vitamin D ở trẻ em trên thế giới và ở Việt Nam

1.3.2.1 Thực trạng thiếu vitamin D ở trẻ em trên thế giới

Thiếu vitamin D được định nghĩa khi nồng độ 25 (OH)D <50nmol/l [4].Thiếu vitamin D được xem như là thiếu hụt vitamin hay gặp nhất trong số cácvitamin nhưng cũng là loại thiếu hụt vitamin dễ bỏ sót nhất trong y học Trênthế giới có khoảng 1 tỷ người thiếu vitamin D và thiếu vitamin D thấy hầu hết

Trang 16

ở các nhóm tuổi Ở Mỹ, trẻ 6 – 11 tuổi có tỷ lệ thiếu vitamin D cao (73%) sovới trẻ 1 – 5 tuổi (63%) và gặp nhiều ở trẻ gái (71%) so với trẻ trai (67%) vàngười da đen (92%) và da trắng (59%) [34]

Tương tự, một nghiên cứu khác tiến hành ở Cree – Canada trẻ từ 8-14tuổi, thấy 43% trẻ có thiếu hụt vitamin D và 81% trẻ có nồng độ vitamin Dhuyết thanh thấp < 75nmol/l Có mối liên quan chặt chẽ giữa lượng vitamin Dtrong khẩu phần ăn và nồng độ vitamin D huyết thanh và thấy trẻ béo phì có

tỷ lệ thiếu hụt vitmin D nhiều hơn do vitamin D được lưu trữ ở trong các mô

mỡ nhiều hơn, nên làm giảm hoạt tính sinh học của vitamin D Có mối liênquan giữa mức độ tiêu thụ sữa và nồng độ vitmin D huyết thanh, trẻ ở lứa tuổinày sữa tiêu thụ ngày càng ít nên dẫn đến thiếu hụt vitamin D càng cao [35].Thiếu vitamin D không chỉ quan sát thấy ở các nước Châu Âu ít nắng,

mà ngay tại các nước Châu Á, Châu Phi nhiều nắng, tỷ lệ thiếu vitamin Dcũng rất phổ biến Tại Ấn Độ, thiếu hụt vitamin D gặp với một tỷ lệ cao ởngười dân mà bề ngoài có vẻ khỏe mạnh: ở thành thị là 62% ở nam giới và75% ở nữ giới, ở nông thôn tỷ lệ này là 44% ở nam và 70% ở nữ [36] Thiếu vàkhông đủ vitamin D cũng đã được chỉ ra ở phụ nữ ở Hồng Kông [37], Indonesia[38], và ở trẻ em Malaysia [39], mặc dù họ đang sống gần xích đạo Tại Ai Cậpnăm 2016, nồng độ vitamin D trong máu trẻ em 9 – 11 tuổi thấy có 11,5% trẻ cóthiếu vitamin D (<20ng/ml) và 15% trẻ có nồng độ vitamin D thấp (20 – 29,9ng/ml) [40]

Tại Iran năm 2008, Tirang R tiến hành điều tra 1111 trẻ tuổi từ 9 – 12vào mùa thu và mùa đông, thấy tỷ lệ thiếu vitamin D rất cao (86%), trong đóthiếu vitamin D nặng là 38,3% [41]

Tại Trung Quốc năm 2009, tỷ lệ trẻ 6 – 11 tuổi thiếu vitamin D là 57,8%[31] Zhu Z (2012), nghiên cứu cắt ngang trên 6,008 trẻ có độ tuổi từ 1 thángđến 16 tuổi thấy nồng độ vitamin D cao nhất ở lứa tuổi 0 – 1 tuổi (99 nmol/l)

và nồng độ vitamin D thấp nhất lại gặp ở lứa tuổi học đường 12 – 16 tuổi (52

Trang 17

nmol/l) Tỷ lệ trẻ có hàm lượng vitamin D thấp ở mức (50 – 75 nmol/l) chiếm

tỷ lệ thấp nhất ở nhóm trẻ <1 tuổi 33,6% và cao nhất là ở nhóm trẻ tuổi tiềndậy thì (46,4%) và dậy thì (89,6%) Như vậy, nghiên cứu này cho thấy trẻ em

ở tuổi học đường có tình trạng thiếu hụt vitamin D cao nhất so với các nhómlứa tuổi khác, hay nói cách khác trẻ càng lớn thì có tình trạng thiếu hụtvitamin D tiền lâm sàng càng cao Nghiên cứu này cũng thấy nồng độ vitamin

D thay đổi theo mùa Mùa đông và xuân >50% trẻ tiểu học và trẻ vị thànhniên bị thiếu vitamin D (nồng độ 25(OH)D <50 nmol/l), 100% trẻ vị thànhniên có nồng độ 25(OH)D <75nmol/l và 93,7% trẻ tuổi tiểu học có nồng độ25(OH)D <75nmol/l Như vậy, tỷ lệ thiếu hụt vitamin D cao nhất ở trẻ em từ

6 – 16 tuổi (lứa tuổi ít được tập trung điều tra trong các nghiên cứu) Do vậy,việc bổ sung vitamin D rất cần thiết cho trẻ em tuổi học đường chứ khôngphải đơn thuần chỉ là cho trẻ <1 tuổi [42]

1.3.2.2 Thực trạng thiếu vitamin D ở trẻ em ở Việt Nam

Việt Nam tuy là một nước nhiệt đới nhưng tỷ lệ thiếu vitamin D ở trẻ emkhá cao so với các nước trong khu vực Nghiên cứu tại Bắc Ninh năm 2012 ởtrẻ lứa tuổi tiểu học cho thấy tỷ lệ trẻ thiếu vitamin D là 17%, còn tỷ lệ trẻ cóhàm lượng vitamin D thấp là 66,7% [19] Tỷ lệ này cao hơn so với nghiêncứu của Trần Quốc Cường tại thành phố Hồ Chí Minh năm 2014 với cùng độtuổi (37,5%) [43] Theo nghiên cứu của Vũ Thị Thu Hiền ở trẻ 9 tuổi tại HảiDương năm 2015, tỷ lệ thiếu vitamin D là 10,6%, tỷ lệ trẻ có hàm lượngvitamin D huyết thanh thấp là 70,5% [44]

Nghiên cứu đa quốc gia khảo sát tình trạng dinh dưỡng trẻ em từ 6 thángđến 12 tuổi tại 4 nước Đông Nam Á (Việt Nam, Thái Lan, Malaysia vàIndonesia) gọi tắt là SEANUTS, từ 2010 – 2012: được tiến hành trên 16744trẻ em đại diện cho 20 triệu trẻ em từ 6 tháng đến 12 tuổi tại 4 nước trên Kếtquả cho thấy tình trạng thiếu vitamin D ở trẻ em Thái Lan là 45,6% ở thànhphố và 27,7% ở nông thôn; Malaysia là 50,2% ở thành phố và 36,9% ở nông

Trang 18

thôn; Việt Nam là 52,2% ở thành phố và 46,1% ở nông thôn (trẻ 5 – 11 tuổi),

tỷ lệ chung đối với trẻ 5 – 11 tuổi là 48,1%, đối với 5 tuổi là 58% [45]

So với các nước khác trên thế giới, tỷ lệ trẻ em thiếu vitamin D ở ViệtNam tương đối cao, so với 23% ở trẻ em Mỹ từ 1 – 5 tuổi [46] và 57.8% ở trẻ

em Trung Quốc trong độ tuổi từ 6 – 11 tuổi [31] Kết quả điều tra vi chất ở 19tỉnh của Việt Nam năm 2010 cho thấy, khẩu phần vitamin D hàng ngày chỉcung cấp 8% nhu cầu khuyến nghị của phụ nữ và 10,6 % nhu cầu khuyến nghịcho trẻ em 1 – 3 tuổi Tỷ lệ thiếu vitamin D là 59,3% phụ nữ ở thành thị, 56,2 %phụ nữ nông thôn, 62,1% trẻ em ở thành thị và 53,7% trẻ em nông thôn [47].Mới đây nghiên cứu của Nguyễn Minh Phương tại Cần Thơ năm 2017,công bố tỷ lệ thiếu vitamin D ở trẻ 6 – 14 tuổi là 15,4% và tỷ lệ vitamin Dthấp là 15,2% [48] Cũng theo nghiên cứu này, trẻ ở thành thị có tỷ lệ thiếuvitamin D (32%) cao hơn trẻ ở nông thôn (4,4%)

1.3.3 Nguồn cung cấp vitamin D

- Nguồn vitamin D nội sinh:

Do các tiền vitamin D (7-Dehydrocholesterol) ở trong da, dưới tác dụngcủa tia cực tím trong ánh sáng mặt trời chuyển thành vitamin D3(cholecalciferol) Sự tổng hợp này phụ thuộc vào khí hậu, sự chiếu sáng, màu

da Đây là nguồn cung cấp vitamin D chính của cơ thể (chiếm 80% nhu cầuvitamin D của cơ thể) Tuy nhiên, không phải tất cả trẻ em đều nhận đủ ánhsáng mặt trời, ngoài ra, đặc điểm da của mỗi cá thể có thể ảnh hưởng đến tổnghợp vitamin D khác nhau Thời gian cần thiết tiếp xúc với ánh sáng mặt trời

đủ để cơ thể tổng hợp vitamin D phụ thuộc vào nhiều yếu tố như môi trường,thể chất và cá nhân nhưng thường thời gian này ngắn và ít hơn lượng thờigian cần thiết gây bỏng da hay ung thư da Tuy nhiên, cho đến nay vẫn cònnhiều điều không chắc chắn xung quanh mức độ "tối ưu" hoặc "đủ", bao

Trang 19

nhiêu ánh sáng mặt trời khác nhau cho mỗi người cần để đạt được một mức

độ nhất định của vitamin D [4]

- Nguồn vitamin D ngoại sinh: Từ thức ăn

Vitamin D nguồn gốc động vật (vitamin D3): có nhiều trong sữa, trứng,

và nồng độ thấp ở cá nước mặn

Vitamin D nguồn gốc thực vật (vitamin D2) có nhiều trong các loại nấm [4]

Bảng 1.4: Hàm lượng vitamin D trong các loại thực phẩm [49]

1.3.4 Nhu cầu vitamin D

Theo khuyến nghị của Viện Dinh Dưỡng 2016, nhu cầu Vitamin D ở cácđối tượng như sau:

Bảng 1.5: Nhu cầu dinh dưỡng khuyến nghị vitamin D [7].

Đối tượng Nhu cầu vitamin D (UI/ngày)

Trang 20

1.3.5 Chẩn đoán thiếu vitamin D ở trẻ 6 – 11 tuổi

1.3.5.1 Biểu hiện lâm sàng

Biểu hiện lâm sàng của thiếu vitamin D ở trẻ 6 – 11 tuổi rất khác so vớitrẻ nhỏ Các triệu chứng như ra mồ hôi trộm, khó ngủ là triệu chứng thườnggặp ở trẻ nhỏ nhưng rất ít gặp ở lứa tuổi học đường Trẻ thường không cótriệu chứng hoặc triệu chứng rất mơ hồ khó phát hiện Theo nghiên cứu củaTorun E (2013), đau chân (57%) và đau lưng (28%) là những triệu chứngchính ở nhóm trẻ 6 – 11 tuổi bị thiếu vitamin D, cũng như tỷ lệ béo phì cao(31%) ở nhóm trẻ này [50] Theo nghiên cứu của Soliman AT trên trẻ thiếuvitamin D nặng (<10ng/ml) có các biểu hiện: đau ở các khớp chịu trọnglượng, đau lưng, đau đùi, đau gối và/hoặc đau bắp chân (83,3%), đau đốixứng hai bên, không sưng nóng Trẻ thường khó đi bộ và/ hoặc leo cầu thang,khó chạy, khó đứng dậy sau khi ngồi xổm (22,2%) [51], [52] Biến dạngxương dài do sự khử khoáng của xương nên biến dạng xương có thể xảy ra ởđầu các xương dài Biến dạng xương thường gặp là đầu xương to bè, phì đạitạo thành vòng cổ tay, cổ chân Xương chi dưới bị cong tạo thành chữ X,O,

gù vẹo cột sống, hẹp xương chậu Các biểu hiện này có thể không được chú ýtrong một thời gian dài và có thể gây ra gãy ép cột sống và gãy xương dài đặcbiệt là gãy cành tươi [51], [52]

1.3.5.2 Biểu hiện cận lâm sàng

 Định lượng 25(OH)D trong máu

Chất 25(OH)D là dạng lưu hoàn chính của vitamin D với thời gian bánhủy là 2 – 3 tuần và nó cũng là chỉ số tốt nhất để đánh giá tình trạng vitamin

D trong cơ thể

Sau tập hợp rất nhiều nghiên cứu xem xét về ngưỡng nồng độ 25(OH)Dtrong huyết thanh liên quan đến mật độ khoáng hóa xương, chức năng các cơquan, sức khỏe răng, nguy cơ ngã và gãy xương, nguy cơ ung thư thì các

Trang 21

nghiên cứu đều thống nhất khi nồng độ 25(OH)D huyết thanh >75nmol/l (30ng/mL) là bắt đầu có lợi cho cơ thể và nồng độ tối ưu là 90 – 100 nmol/l [4].

Thiếu hụt vitamin D được định nghĩa bởi Hội nội tiết Hoa Kỳ khi nồng

độ 25(OH)D < 20 ng/ml và khi nồng độ này ở trong giới hạn 21- 29 ng/mlđược xem là dự trữ vitamin D giảm [53], là dấu hiệu sớm so với sự thay đổitrên lâm sàng và Xquang [51]

Bảng 1.6: Phân loại mức độ thiếu vitamin D theo nồng độ 25(OH) D [4]

Hệ số quy đổi: 1nmol/l = 0.4 ng/ml

Ở trẻ em, nồng độ tối ưu 25(OH)D có ý nghĩa sức khỏe nói chung vẫnchưa rõ vì có rất ít số liệu đánh giá mối liên quan giữa nồng độ 25(OH)Dhuyết thanh và đầu ra của sức khỏe Tuy nhiên, các bằng chứng đã thấy nồng

độ 25(OH)D huyết thanh tối thiểu phải tăng dần từ 50 – 75nmol/l bởi vì đã cóbằng chứng cho thấy di chứng thiếu hụt vitamin D có thể xuất hiện ở mức cắt

75 nmol/l Và mức độ 25(OH)D huyết thanh từ 50 – 75 nmol/l có thể đượccoi là thiếu tương đối của vitamin D ở trẻ em [4]

 Phosphatase kiềm – ALP

Trước đây người ta dùng chỉ số ALP để sàng lọc chẩn đoán thiếu hụtvitamin D cho cộng đồng hoặc các đối tượng có nguy cơ vì giá thành rẻ Tuynhiên các nghiên cứu gần đây lại thấy không có mối liên quan giữa nồng độALP với các tổn thương trên Xquang cũng như giá trị của định lượng ALPtrong phát hiện sớm thiếu vitamin D khá hạn chế [54] Do vậy, gần đây chỉ sốALP không còn được xem là chỉ số hữu hiệu trong sàng lọc cũng như trong

Trang 22

chẩn đoán thiếu vitamin D Định lượng Canxi, Phospho, ALP không đủ cơ sở đểchẩn đoán thiếu hụt vitamin D bởi vì chúng còn chịu sự chi phối của PTH [51].

 Định lượng Canxi, Phospho máu

Canxi và Phospho máu ít khi giảm vì có sự tăng tiết hormone PTH Theonghiên cứu của Soliman, có 11,1% số trẻ thiếu vitamin D nặng (<10ng/ml) cógiảm Canxi máu và 27,8% số trẻ này có giảm Phospho máu [51]

 Biến đổi xương trên Xquang

Biến đổi xương ở trẻ lớn thường ít gặp hơn trẻ nhỏ và thường xuất hiệnkhi giảm vitamin D nghiêm trọng Các biểu hiện được ghi nhận trên bệnhnhân thiếu vitamin D là bất thường các đầu xương, đầu xương to bè, đườngcốt hóa nham nhở, thân xương mất chất vôi, loãng xương nặng gây gãyxương, điểm cốt hóa xuất hiện muộn, xương lồng ngực hình “nút chai”Soliman AT nghiên cứu trên trẻ thiếu vitamin D nặng (<10ng/ml), thấy có 100%trẻ nhỏ có biến đổi xương trên Xquang trong khi ở trẻ lớn là 54,2% [51]

1.3.6 Một số yếu tố liên quan đến thiếu vitamin D ở trẻ 6 – 11 tuổi

Vitamin D có 2 nguồn: nội sinh và ngoại sinh, về mặt lý thuyết nguồnnội sinh đáp ứng được 80% nhu cầu vitamin D của trẻ, tuy nhiên chúng cònphụ thuộc vào nhiều yếu tố như sắc tố da, BMI, TTDD, thời gian và thời lượngtiếp xúc với ánh nắng mặt trời, quần áo, mùa, sử dụng kem chống nắng

Nhiều nghiên cứu cho thấy nồng độ vitamin D liên quan trực tiếp vớithời gian hoạt động ngoài trời Theo nghiên cứu của Tirang R năm 2008 tạiIran trên 1111 trẻ tuổi từ 9 – 12 thấy 25(OH)D có mối tương quan thuận với

thời gian phơi nắng (r = 0,115, KTC 95% 0,11 – 0,22; p <0,001) Trẻ gái có

thời gian phơi nắng trung bình (34,5±22,5 phút/ngày) thấp hơn trẻ trai(43±35,1) với p<0,001, điều này giải thích tỷ lệ thiếu vitamin D ở trẻ gái caohơn trẻ trai trong nghiên cứu này [41]

Tuy nhiên trẻ em ngày nay ít tham gia hoạt động thể chất ngoài trời.Theo nghiên cứu của Kostecka M (2016) trên trẻ độ tuổi 6 – 9 tuổi tại Ba Lan,hơn 20% trẻ em không muốn tham gia vào bất kỳ hình thức tập thể dục nào,

Trang 23

đó là một hiện tượng đáng lo ngại và có thể tăng lên theo tuổi, cùng với chế

độ ăn uống không cân bằng, góp phần gây ra béo phì và các bệnh mạn tínhtrong tương lai [55] Các kết quả tương tự được báo cáo bởi Marcysiak vàcộng sự, trong một nghiên cứu về học sinh ở quận Ciechanów, Ba Lan, có gần30% học sinh ở tất cả các nhóm tuổi có lối sống tĩnh tại và thích dành thờigian rảnh cho máy tính hoặc xem truyền hình [56]

Trẻ thừa cân, béo phì có xu hướng có lượng vitamin D thấp hơn so vớitrẻ bình thường [57] Một trong những lý do là phong cách sống ít vận động,cũng như do khả năng hòa tan trong lipid của vitamin D nên vitamin D bị lưutrong các tế bào mỡ và hoạt tính sinh học của vitamin D bị giảm đi Có nhiềunghiên cứu chứng minh thiếu vitamin D có liên quan đến thừa cân, béo phì.Tại Iran năm 2008, Tirang R tiến hành điều tra 1111 trẻ tuổi từ 9 – 12 thấy

25(OH)D có mối liên quan nghịch với chỉ số BMI r = −0,092, KTC 95% (−0,14;−0,04); p = 0,002) [41]

Chung IH nghiên cứu trên 2112 trẻ 4 – 15 tuổi tại Hàn Quốc năm 2013,thấy nồng độ 25(OH)D ở nhóm thừa cân, béo phì thấp hơn nhóm có cân nặng

bình thường (17,1±5,1 ng/ml so với 19,1±6,1 ng/ml, p<0.001) Trẻ thừa cân

có nguy cơ thiếu vitamin D hơn 2,21 lần so với trẻ có cân nặng bình thường[58] Thiếu vitamin D cũng được chứng minh cao hơn về mùa đông xuân sovới mùa hè thu Theo số liệu trên tại Hàn Quốc, tỷ lệ thiếu vitamin D vào mùa

hè thu là 43,1%, nhưng đã tăng lên 75,1% vào mùa đông xuân, p<0,001 Trẻ

có nguy cơ thiếu vitamin D vào mùa đông xuân gấp 4,46 lần so với mùa hèthu (OR: 4,46; KTC 95%: 3,45 – 5,77) [68] Tương tự, nghiên cứu của Weng

FL 2007 trên 382 trẻ 6 – 21 tuổi tại Hoa Kỳ, nguy cơ thiếu vitamin D vàomùa đông tăng lên 3,55 lần (KTC 95%: 2,29 – 5,5) [59]

Sữa và các sản phẩm chế biến từ sữa là nguồn cung cấp dồi dào canxi vàvitamin D Nhiều nghiên cứu trên thế giới cho thấy bổ sung sữa vào chế độ ăncủa trẻ giúp cải thiện chiều cao và tăng quá trình tạo xương Tác giả Zhu K và

Trang 24

cộng sự nghiên cứu bổ sung sữa kết hợp vitamin D cho trẻ em Trung Quốc 10– 12 tuổi, kết quả cho thấy sau can thiệp chiều cao của trẻ tăng hơn 0,6% sovới nhóm chứng [29] Ngoài ra, cũng theo nghiên cứu này, can thiệp cho trẻuống sữa bổ sung Canxi và vitamin D đã làm giảm hàm lượng phosphatasekiềm, hormone tuyến cận giáp (PTH) và yếu tố tăng trưởng giống insulin(IGF1) trong huyết thanh, điều đó phản ánh gián tiếp việc tăng chuyển hóaCanxi, vitamin D và quá trình tạo xương [29].

Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu trên thế giới cho thấy tỉ lệ tiêu thụ đủ sữa ởtrẻ em lứa tuổi này rất thấp Theo nghiên cứu của Kostecka M (2016) trên trẻ

6 – 9 tuổi tại Ba Lan, thấy chỉ có 9,1% trẻ em tiêu thụ đủ lượng canxi trongkhẩu phần ăn theo nhu cầu khuyến nghị hàng ngày [55] Szczepaniak (2015)cũng thấy chỉ có 14% học sinh trong số 787 học sinh trung học trong khu vựccủa Mrągowo, Sosnowiecvà Kępno tại Ba Lan có tiêu thụ sữa nguyên chất[60] Nghiên cứu tại Mỹ chỉ ra nguyên nhân tiêu thụ sữa thấp ở thanh thiếuniên và người trưởng thành là do thường xuyên tiêu thụ đồ uống có vị ngọt[61] Ngoài ra, 56,3% phụ huynh được khảo sát trong nghiên cứu củaKostecka M có quan tâm đến vai trò của Vitamin D và Canxi đối với sự tăngtrưởng và 25,7% phụ huynh không nhận ra tầm quan trọng của dinh dưỡng[55] Do vậy, cha mẹ và người chăm sóc trẻ đòi hỏi có hiểu biết về dinhdưỡng để có thể thay đổi một cách có hiệu quả thói quen ăn uống của cả giađình nhằm đảm bảo cung cấp đầy đủ và hợp lý chất dinh dưỡng đảm bảo cho

sự phát triển toàn diện của trẻ

Trang 25

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là các cặp trẻ em từ 6 – 11 tuổi và cha/mẹ của trẻđến khám tại phòng khám Dinh Dưỡng – Bệnh Viện Nhi Trung Ương

2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn

- Trẻ từ 6 – 11 tuổi

- Trẻ không có các biểu hiện bệnh nặng phải chỉ định điều trị nội trú

- Trẻ và cha, mẹ/người chăm sóc trẻ đồng ý tham gia nghiên cứu

- Cha/mẹ trẻ là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ và phải làngười khỏe mạnh, hiểu nội dung câu hỏi phỏng vấn

2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ

- Trẻ mắc bệnh liên quan đến chuyển hóa xương, dị tật xương khớp bẩm sinh

- Trẻ đang sử dụng bất cứ loại thuốc nào có ảnh hưởng lên chuyển hóavitamin D (chế phẩm có bổ sung vitamin D, thuốc chống động kinh, thuốcglucocorticoid, thuốc làm giảm mỡ máu)

- Trẻ bị các bệnh lý bẩm sinh, bại não hay các di chứng thần kinh

- Đang trong giai đoạn mắc bệnh cấp tính nặng

- Trẻ đang hoặc đã bổ sung chế phẩm có vitamin D, Canxi trong vòng 2tháng tính đến thời điểm điều tra

- Gia đình không đồng ý tham gia nghiên cứu

2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

Trang 26

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu tiến cứu mô tả cắt ngang

2.3.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu

- Cỡ mẫu cho đánh giá tình trạng dinh dưỡng :

p: tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng, p=39,4% (tỷ lệ suy dinh dưỡng nhẹ cân) [19]Thay vào công thức trên, tính ra n=147

- Cỡ mẫu cho đánh giá tình trạng thiếu vitamin D :

p: tỷ lệ thiếu vitamin D, chọn p= 48,1% [3]

Thay vào công thức, tính ra n= 103

Chọn mẫu tổng hợp 2 chỉ số, lấy cỡ mẫu lớn nhất, vậy cỡ mẫu củanghiên cứu là 147 Trong thời gian tiến hành nghiên cứu, chúng tôi thu thậpđược 155 trẻ

2.3.2.2 Cách chọn mẫu

Trang 27

Chọn mẫu có chủ đích là các trẻ 6 – 11 tuổi và cha/mẹ trẻ đến khám tạiphòng khám Dinh Dưỡng – Bệnh viện Nhi Trung Ương.

2.3.3 Các biến số và chỉ số trong nghiên cứu

Bảng 2.1: Các biến số và chỉ số trong nghiên cứu

Nhóm

biến số Biến số

Định nghĩa biến Cách tính chỉ số

Phương pháp, công cụ thu thập

mẹ Cấp học cao nhất đã hoàn thành Phỏng vấn theo mẫu phiếu điều traNghề nghiệp của mẹ Phỏng vấn theo mẫu phiếu điều tra

Số con trong gia đình Tổng số con hiện tại Phỏng vấn theo mẫu phiếu điều traMục tiêu

Chiều cao Chiều cao của trẻ tínhbằng cm và độ chính

xác 0,1 cm

Đo chiều cao bằng thước gỗ 3 mảnh của UNICEFWAZ

HAZBAZ

Cân nặng theo tuổiChiều cao theo tuổiBMI theo tuổi

Tính trên phần mềm Anthroplus của WHO

Trang 28

Nhóm

biến số Biến số

Định nghĩa biến Cách tính chỉ số

Phương pháp, công cụ thu thập

số liệu

Triệu chứng lâm sàng của thiếu vitamin D:

Đau xương cẳng chân, đau lưng, chuột rút, co giật/tetany

Khám lâm sàng

Các xét nghiệm: Hb, 25(OH)D, Canxi toàn phần, Canxi ion, Phospho, ALP, Protein, Albumin, Sắt, Magne

Thu thập kết quả xét nghiệm theo mẫu

Mối liên quan với một

số yếu tố nhân khẩu học, nơi ở, số con, trình độ học vấn, nghề nghiệp

Phỏng vấn theo mẫu phiếu điều tra

Mối liên quan với một

số hoạt động của trẻ

Bao gồm thời gian hoạt động ngoài trời, thời gian xem tivi

Phỏng vấn theo mẫu phiếu điều tra

Mối liên quan với tần suất tiêu thụ thực phẩm

Bao gồm mối liên quan với tần suất tiêuthụ các nhóm thực phẩm đã được liệt kê theo danh mục (phụ lục)

Phỏng vấn theo mẫu phiếu điều tra

Mối liên quan với các chỉ số cận lâm sàng

Bao gồm: Hb, Canxi toàn phần và ion, phospho, ALP, protein, albumin, sắt, Magnesium

Thu thập kết quả xét nghiệm theo mẫu phiếu điều tra

Trang 29

2.3.4 Mô tả các bước tiến hành nghiên cứu

Bước 1: Sàng lọc và chọn lựa đối tượng

Tất cả trẻ em từ 6 – 11 tuổi đến khám tại phòng khám Dinh Dưỡng Bệnh Viện Nhi Trưng Ương sẽ được thăm khám ban đầu để: Đánh giá tìnhtrạng bệnh lý cấp, mạn, dị tật bẩm sinh khác đi kèm Chọn bệnh nhân đủ tiêuchuẩn vào nghiên cứu

-Bước 2: Điều tra, thu thập các thông tin cơ bản ban đầu

- Cân, đo chiều cao ngay lúc bắt đầu thăm khám để đánh giá tình trạngdinh dưỡng

- Phỏng vấn trẻ và cha mẹ/người chăm sóc theo bộ câu hỏi nghiên cứu

- Thăm khám phát hiện các triệu chứng thiếu vitamin D trên lâm sàng

- Lấy máu làm xét nghiệm công thức máu, sinh hóa máu

Bước 3: Thu thập số liệu và phân tích

Toàn bộ quá trình nghiên cứu được trình bày tóm tắt trong sơ đồ dưới đây

Trang 30

Sơ đồ 2.1: Sơ đồ thiết kế nghiên cứu

Mối liên quan của thiếu vitamin D với:

Tình trạng dinh dưỡngThời gian hoạt động ngoài trời, xem tivi

Tần suất tiêu thụ thực phẩmMột số yếu tố khác

155 trẻ 6 – 11 tuổi đủ tiêu chuẩn nghiên cứu

Đo cân nặng, chiều cao

Dấu hiệu thiếu vitamin D trên lâm sàng

Phỏng vấn: thông tin chung, tiêu thụ thực

phẩm, thời gian ngoài trời, xem tivi

Xét nghiệm: công thức, sinh hóa

Phân loại tình trạng

dinh dưỡng Thiếu vitamin D Không thiếu vitamin D

Trang 31

2.3.5 Phương pháp thu thập số liệu và tiêu chuẩn đánh giá

Các nhóm thông tin được thu thập bao gồm các thông tin về nhân khẩuhọc, tiền sử bệnh tật, tiền sử dùng vitamin D, thông tin về chỉ số nhân trắc,tình trạng và mức độ thiếu vitamin D trên lâm sàng và cận lâm sàng, một sốchỉ số về sinh hoá và thông tin về hoạt động của trẻ liên quan đến thiếuvitamin D được thu thập tại thời điểm nghiên cứu

2.3.5.1 Nhóm thông tin chung về nhân khẩu học, tiền sử bệnh tật, dùng thuốc

- Tuổi của trẻ: Tuổi của trẻ được tính bằng cách lấy ngày tháng năm điềutra trừ đi ngày tháng năm sinh của trẻ và phân loại theo WHO Ví dụ trẻ 6 tuổi

là được tính kể từ ngày trẻ tròn 6 năm cho tới lúc 6 năm 11 tháng 29 ngày [62]

- Giới tính của trẻ: nam – nữ

- Nơi ở của trẻ: nông thôn, thành phố

- Tổng số con trong gia đình, trẻ là con thứ mấy

- Thông tin chung về mẹ: trình độ học vấn, nghề nghiệp

- Tiền sử: bệnh bẩm sinh, bệnh mạn tính, dùng các chế phẩm vitamin D

2.3.5.2 Đánh giá tình trạng dinh dưỡng

Cân nặng: Cân trẻ bằng cân điện tử SECA với độ chính xác 0,1 kg Cân

được kiểm tra và chỉnh trước khi sử dụng Trẻ mặc quần áo mỏng, bỏ guốc dép

và đứng đúng trọng tâm của cân Ngay khi cân ổn định, đọc và ghi kết quả vớiđơn vị là kg và 1 số lẻ sau dấu phẩy, ví dụ: 20,3kg

Chiều cao: Sử dụng thước gỗ ba mảnh của UNICEF với độ chính xác0,1cm để đo chiều cao đứng Thước được đặt theo chiều thẳng đứng, vuônggóc với mặt đất nằm ngang Trẻ bỏ giày dép, đi chân không, đứng quay lưngvào thước đo Gót chân, mông, vai đầu theo một đường thẳng áp sát vàothước đo đứng, mắt nhìn thẳng, hai tay bỏ thõng Kéo chặn đầu thước từ trênxuống, khi áp sát đến đỉnh đầu và vuông góc với thước đo, nhìn vào thước vàđọc kết quả Kết quả được ghi với đơn vị là cm và 1 số lẻ sau dấu phẩy, ví dụ:chiều cao 105,3cm

Trang 32

Tiêu chuẩn đánh giá tình trạng dinh dưỡng: theo phân loại của Tổ

chức Y tế thế giới (WHO), dựa vào tiêu chí cân nặng theo tuổi, chiều cao theotuổi và BMI theo tuổi, giới [26]

Bảng 2.2: Đánh giá chỉ số Z-score cân nặng theo tuổi

2.3.5.3 Đánh giá tình trạng thiếu vitamin D trên lâm sàng:

- Rối loạn thần kinh thực vật: tê bì chân tay, mồ hôi trộm

- Đau xương dài, đau lưng

- Đau cơ, chuột rút

- Cơn co giật/tetany

2.3.5.4 Đánh giá tình trạng thiếu vitamin D trên cận lâm sàng

- Xét nghiệm máu: Trẻ nhịn ăn sáng, lấy máu tĩnh mạch buổi sáng, mỗitrẻ lấy 3ml máu (xét nghiệm công thức máu và sinh hóa máu) sau đó gửi đếnphòng xét nghiệm của Bệnh viện Nhi Trung Ương

Trang 33

- Định lượng nồng độ 25(OH)D trong huyết thanh bằng miễn dịch điệnhóa phát quan với thuốc thử là 25- hydroxyvitamin D- biotin trên hệ thốngmáy phân tích miễn dịch Cobas e 601 của hãng Roche Diagnostics Thụy Sỹtại khoa Hóa sinh bệnh viện Nhi Trung Ương.

- Đánh giá tình trạng thiếu vitamin D

Bảng 2.5: Tiêu chuẩn chẩn đoán thiếu vitamin D [4]

2.3.5.5 Nhóm các chỉ số sinh hóa nhằm đánh giá chuyển hóa Canxi, phospho

và tình trạng thiếu hụt dinh dưỡng khác kèm theo

Xét nghiệm công thức máu, sinh hóa máu được làm tại khoa XétNghiệm, Bệnh viện Nhi Trung ương

- Hb: thiếu máu khi Hb<110g/l

- Canxi:

Canxi toàn phần: bình thường 2,1 – 2,6 mmol/L

Canxi ion máu: bình thường 1,0 – 1,3 mmol/L

- Phospho (P) máu: bình thường 1,29 – 2,26 mmol/L

- Magnesium (Mg) máu: bình thường: 0,75 – 1 mmol/L

- Alkaline phosphatase (ALP): bình thường 90 – 300 UI/L

- Albumin huyết thanh: bình thường 35 – 50g/l

- Protein toàn phần: bình thường: 60 – 80g/l

- Sắt huyết thanh: bình thường: 9 – 25µmol/l

Trang 34

2.3.5.6 Nhóm các chỉ số đánh giá các hoạt động của trẻ có liên quan với thiếu vitamin D

- Thời gian hoạt động ngoài trời: là tổng thời gian trẻ hoạt động ngoài

trời ban ngày, có tiếp xúc trực tiếp với ánh nắng mặt trời, tính bằng giờ/ngày

và 1 số sau dấu phảy

- Thời gian xem tivi/máy tính/điện thoại: tổng thời gian trẻ xem tivi, máy

tính, điện thoại trong một ngày, tính bằng giờ/ngày và 1 số sau dấu phảy

2.3.5.7 Nhóm các chỉ số đánh giá tiêu thụ thực phẩm của trẻ có liên quan với thiếu vitamin D

- Tần suất tiêu thụ các thực phẩm (theo bảng thành phần dinh dưỡng

thực phẩm của Việt Nam) theo mức độ hàng ngày khi ≥ 1 lần/ngày, hàng tuầnkhi trẻ tiêu thụ 1 – 6 lần/tuần; hàng tháng khi trẻ tiêu thụ 1 – 4 lần/tháng vàhiếm khi khi trẻ tiêu thụ <1 lần/tháng

- Số lượng sữa tiêu thụ trong ngày: đối với trẻ uống sữa hàng ngày, là

tổng lượng sữa và các sản phẩm của sữa dùng trong 1 ngày, tính bằng ml.Tiêu thụ sữa hàng ngày: là trẻ dùng sữa hàng ngày với tổng lượng sữa từ100ml trở lên

- Đánh giá mức độ đa dạng trong chế độ ăn của trẻ: dựa trên số nhóm

thực phẩm mà trẻ tiêu thụ Tám nhóm thực phẩm do FAO (FAO, 2008) vàViện dinh dưỡng Quốc gia khuyến cáo để đánh giá sự đa dạng trong khẩuphần ăn được sử dụng đó là:

Nhóm 1 Lương thực: Gạo, ngô, khoai, sắn là thức ăn cơ bản và cũng là

nguồn cung cấp năng lượng chủ yếu cho cơ thể

Nhóm 2 Nhóm hạt các loại: Đậu, đỗ, vừng, lạc

Nhóm 3 Nhóm sữa và các sản phẩm từ sữa

Nhóm 4 Nhóm thịt các loại, cá và hải sản

Trang 35

Nhóm 5 Nhóm trứng các loại và các sản phẩm của trứng

Các thực phẩm từ nhóm 2 đến nhóm 5 là nguồn cung cấp protein/ chất đạm

Nhóm 6 Nhóm củ quả màu vàng, da cam, màu đỏ như cà rốt, bí ngô,

gấc, cà chua hoặc rau tươi có màu xanh thẫm

Nhóm 7 Nhóm rau củ quả khác như su hào, củ cải

Các thực phẩm trong nhóm 6 và nhóm 7 là nguồn cung cấp vitamin, chấtkhoáng và chất xơ

Nhóm 8 Nhóm dầu ăn, mỡ các loại là nguồn cung cấp lipid/chất béo.

Ăn đa dạng: ít nhất có 5 trong 8 nhóm thực phẩm, trong đó nhóm chấtbéo là bắt buộc

Trang 36

2.3.8 Đạo đức nghiên cứu

- Nghiên cứu chỉ được tiến hành sau khi được trường Đại Học Y Hà Nộithông qua đề cương, được sự chấp thuận của lãnh đạo Bệnh viện Nhi TrungƯơng và các khoa phòng liên quan

- Trẻ và cha mẹ trẻ được giải thích rõ về mục đích nghiên cứu, tự nguyệntham gia nghiên cứu

- Cha mẹ và người chăm sóc trẻ được cung cấp đầy đủ các thông tin vàđược tư vấn về bệnh và các phương pháp phòng bệnh, điều trị cụ thể

- Mọi thông tin liên quan đến bệnh nhân đều được giữ bí mật

- Nghiên cứu này chỉ nhằm phục vụ cho việc nâng cao chất lượng khámchữa bệnh và phòng bệnh cho cộng đồng, ngoài ra không có mục đích nào khác

Trang 37

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu được thực hiện trên 155 trẻ từ 6 – 11 tuổi đủ tiêu chuẩn tạiphòng khám Dinh dưỡng, Bệnh viện Nhi Trung ương từ tháng 10/2017 đếntháng 3/2018, kết quả thu được như sau:

3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

3.1.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

54.2

45.8

Nam Nữ

Biểu đồ 3.1: Phân bố đối tượng nghiên cứu theo giới tính

Nhận xét:

Tỷ lệ trẻ trai tham gia nghiên cứu nhiều hơn trẻ gái (54,2% so với 45,8%)

Bảng 3.1: Phân bố đối tượng nghiên cứu theo tuổi Tuổi (năm) Số trẻ Tỷ lệ % TB ± SD (min – max)

7,56 ± 1,41(6 – 11)

Trang 38

Nhận xét:

Tỷ lệ trẻ tham gia nghiên cứu cao nhất ở nhóm trẻ 6 tuổi (29,7%), tỷ lệgiảm dần theo tuổi tương ứng 7 tuổi (24,5%), 8 tuổi (20,6%) và 11 tuổi chỉ có1,3% Tuổi trung bình của đối tượng nghiên cứu là 7,56 ± 1,41tuổi

Bảng 3.2: Phân bố đối tượng nghiên cứu theo địa dư

3.1.2 Đặc điểm chung của mẹ đối tượng trong nghiên cứu

Bảng 3.3: Đặc điểm nghề nghiệp và trình độ học vấn của mẹ trẻ

Trang 39

của bà mẹ hiếm tỷ lệ cao nhất là trình độ từ đại học trở lên (32,3%), trình độ

từ THCS trở xuống cũng chiếm tỷ lệ khá lớn (28,4%)

3.2 Tình trạng dinh dưỡng và thiếu vitamin D của trẻ 6-11 tuổi

3.2.1 Tình trạng dinh dưỡng của trẻ 6 – 11 tuổi

3.2.1.1 Tình trạng dinh dưỡng theo cân nặng/tuổi theo giới

Bảng 3.4: Phân loại tình trạng dinh dưỡng theo cân nặng/tuổi theo giới

3.2.1.2 Tình trạng dinh dưỡng theo chiều cao/tuổi theo giới

Bảng 3.5: Phân loại tình trạng dinh dưỡng theo chiều cao/tuổi theo giới

Trang 40

Tỷ lệ SDD thấp còi là 15,5% SDD thấp còi ở trẻ nam là 11,9% và ở trẻ

nữ là 19,7% và sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê với p>0,05

3.2.1.3 Tình trạng dinh dưỡng theo BMI/tuổi theo giới

Bảng 3.6: Phân loại tình trạng dinh dưỡng theo BMI/tuổi theo giới Tình trạng dinh

Tỷ lệ SDD gày còm là 16,1%, tỷ lệ thừa cân – béo phì là 3,2% Không

có sự khác biệt giữa trai và gái

3.2.1.4 Chỉ số WAZ, HAZ, BAZ trung bình theo giới

Bảng 3.7: Chỉ số WAZ, HAZ, BAZ trung bình theo giới

Ngày đăng: 17/07/2019, 21:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w