1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

THỰC TRẠNGCHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG của BỆNH NHÂN SAU CHẤN THƯƠNG tủy SỐNG và NHU cầu CHĂM sóc tại BỆNH VIỆN BẠCH MAI năm 2017

101 174 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 313,71 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các phương pháp đáng giá chất lượng cuộc sống trong bệnh chấn thương tủy sống Có nhiều phương pháp để đánh giá chất lượng cuộc sống của bệnhnhân như bệnh nhân tự đánh giá, đánh giá thay

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG

NGUYỄN PHƯƠNG TÂM

THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG CỦA BỆNH NHÂN SAU CHẤN THƯƠNG TỦY SỐNG VÀ NHU CẦU CHĂM SÓC

TẠI BỆNH VIỆN BẠCH MAI NĂM 2017

LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG

HÀ NỘI - 2017

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG

NGUYỄN PHƯƠNG TÂM – C00477

THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG CỦA BỆNH NHÂN SAU CHẤN THƯƠNG TỦY SỐNG VÀ NHU CẦU CHĂM SÓC

TẠI BỆNH VIỆN BẠCH MAI NĂM 2017

Chuyên ngành: Y tế công cộng

Mã số: 60720301

LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG

Người hướng dẫn khoa học: TS Đỗ Đào Vũ

HÀ NỘI-2017

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, tôi xin trân trọng cảm ơn

Ban giám hiệu, Phòng Đào tạo sau đại học, Bộ môn Y Tế Công CộngTrường Đại Học Thăng Long

Với tất cả tấm lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới

TS Đỗ Đào Vũ , người thầy mẫu mực đã hướng dẫn, truyền đạt kiếnthức cho tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này

Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới

Các Thầy, Cô Bộ môn Y tế Công cộng đã tạo mọi điều kiện, dạy bảo,truyền đạt kiến thức cũng như góp ý kiến quý báu giúp tôi hoàn thành luậnvăn này

Tôi xin chân thành cảm ơn

Trung tâm phục hồi chức năng Bệnh viện Bạch Mai, các Bác sỹ, điềudưỡng Trung tâm phục hồi chức năng Bệnh viện Bạch Mai đã tạo điều kiệngiúp đỡ tôi học tập và hoàn thành luận văn

Xin gửi lời cảm ơn

Các anh chị, bạn bè, đồng nghiệp đã luôn giúp đỡ động viên tôi trongsuốt quá trình học tập và nghiên cứu

Và tôi xin dành tất cả tình cảm yêu quý và biết ơn sâu sắc tới

Gia đình thân yêu luôn bên tôi, động viên tôi hoàn thành tốt công việccủa mình

Hà Nội, ngày 30 tháng 10 năm 2017

Nguyễn Phương Tâm

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi là Nguyễn Phương Tâm, học viên cao học khóa IV – Trường Đại họcThăng Long, chuyên nghành Y tế công cộng, xin cam đoan:

1 Đây là luận văn do bản thân tôi trực tiếp thực hiện dưới sự hướng dẫncủa TS Đỗ Đào Vũ

2 Công trình này không trùng lặp với bất kỳ nghiên cứu nào khác đãcông bố tại Việt Nam

3 Các số liệu và thông tin trong nghiên cứu là hoàn toàn chính xác, trungthực và khách quan, đã được xác nhận và chấp thuận của cơ sở nơinghiên cứu

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật về những cam kếtnày

Hà Nội, ngày 30 tháng 10 năm 2017

Người viết cam đoan

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

ASIA American Spinal Cord Injury Association

CLCS Chất lượng cuộc sống

CTTS Chấn thương tủy sống

Trang 6

MỤC LỤC

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1 3

TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Định nghĩa tổn thương tủy sống 3

1.2 Tình hình chấn thương tủy sống 3

1.3 Chất lượng cuộc sống của bệnh nhân chấn thương tủy sống và các phương pháp đánh giá 4

1.3.1 Khái niệm chất lượng cuộc sống 4

1.3.2 Đánh giá chất lượng cuộc sống 4

1.3.3 Các phương pháp đáng giá chất lượng cuộc sống trong bệnh chấn thương tủy sống 5

1.3.4 Các bộ công cụ đánh giá chất lượng cuộc sống ở bệnh nhân chấn thương tủy sống 6

1.4 Giới thiệu về bộ công cụ đánh giá chất lượng sống của bệnh nhân sau chấn thương tủy sống 8

1.5 Các phương pháp và dịch vụ điều trị, chăm sóc và phục hồi chức năng cho bệnh nhân tổn thương tủy sống 9

1.5.1 Điều trị loét do đè ép 9

1.5.2 Chăm sóc đường hô hấp 9

1.5.3 Chăm sóc đường tiết niệu 9

1.5.4 Chăm sóc đường ruột 10

1.5.5 Điều trị cơn rối loạn phản xạ thực vật[30] 10

1.5.6 Điều trị đau thần kinh bằng các thuốc:giảm đau thần kinh, kích thích điện và tâm lý trị liệu 10

1.5.7 Phòng ngừa và điều trị huyết khối tĩnh mạch sâu:Bằng cách tập vận động sớm, sử dụng các dụng cụ tạo áp lực và các thuốc chống đông dự phòng cho những bệnh nhân có nguy cơ cao Khi có huyết khối tĩnh mạch sâu cần điều trị theo bác sỹ chuyên khoa tim mạch[29] 11

1.5.8 Điều trị co cứng bằng các thuốc giãn cơ và tiêm phong bế điểm vận động bằng phenol hoặc Botulinum toxin nhóm A[14],[30] 11 1.5.9 Tập mạnh cơ, di chuyển bằng dụng cụ trợ giúp và hoạt động trị liệu: nạng nẹp,

Trang 7

thanh song song, khung tập đi, xe lăn địa hìnhgiúp bệnh nhân độc lập trong sinh hoạt như ăn uống, mặc quần áo, vệ sinh cá nhân như đánh răng, rửa mặt,

tắm rửa…[1],[6],[27] 11

1.5.10 Điều trị rối loạn chức năng tình dục[14],[301] 11

1.5.11 Tái hội nhập vào cộng đồng và xã hội: 11

1.6 Các nghiên cứu liên quan 11

1.6.1 Một số nghiên cứu trên thế giới 11

1.6.1.1 Một số nghiên cứu liên quan đến thực trạng chất lượng sống của bệnh nhân sau chấn thương cột sống 11

1.6.1.3 Xác định nhu cầu chăm sóc, phục hồi chức năng của bệnh nhân sau chấn thương tủy sống 15

* Chăm sóc cơ bản và chăm sóc người bệnh toàn diện 15

Các thành phần chăm sóc cơ bản 15

Chăm sóc người bệnh toàn diện 17

1.6.2 Một số nghiên cứu về bệnh nhân chấn thương tủy sống ở Việt Nam 17

Chương 2 20

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20

2.1 Đối tượng nghiên cứu 20

2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng nghiên cứu 20

2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ 20

2.2 Phương pháp nghiên cứu 20

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu 20

2.2.2 Cách chọn mẫu 20

2.2.3 Thời gian nghiên cứu 20

2.2.4 Địa điểm nghiên cứu 20

2.2.5 Phương pháp thu thập thông tin 20

2.3 Các tiêu chuẩn đánh giá 23

2.3.3 Chuẩn nghèo, hộ cận nghèo[12] 24

2.4.3 Các biến số về mức độ đau theo thang điểm nhìn VAS 25

2.5 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 26

2.6 Hạn chế của nghiên cứu và cách khắc phục 26

2.6.1 Hạn chế của nghiên cứu 26

Trang 8

2.6.2 Biện pháp khắc phục 27

Bảng 3.13 Mối liên quan giữa giới và chất lượng sống của bệnh nhân 34

4.3 Một số yếu tố liên quan đến chất lượng cuộc sống của BN sau CTTS 9

7 Nguyễn Thị Sinh (2012) Nghiên cứu hiệu quả phục hồi chức năng hô hấp cho bệnh nhân chấn thương cột sống có liệt tuỷ bằng phương pháp tập thở tự điều khiển; Luận văn tốt nghiệp tiến sỹ y khoa, Đại học Y Hà Nội 23 Phụ lục 6 Biến số nghiên cứu về khả năng độc lập của bệnh nhân chấn thương tủy

sống (SCIM) 49 Phụ lục 7 Các biến số và chỉ số đánh giá chất lượng cuộc sống của bệnh nhân thông

qua mức độ đau (thước VAS) 51

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

DANH MỤC BẢNG

2.3.3 Chuẩn nghèo, hộ cận nghèo[12] 24 2.4.3 Các biến số về mức độ đau theo thang điểm nhìn VAS 25

Bảng 3.13 Mối liên quan giữa giới và chất lượng sống của bệnh nhân 34

4.3 Một số yếu tố liên quan đến chất lượng cuộc sống của BN sau CTTS 9

7 Nguyễn Thị Sinh (2012) Nghiên cứu hiệu quả phục hồi chức năng hô hấp cho bệnh nhân chấn thương cột sống có liệt tuỷ bằng phương pháp tập thở tự điều khiển; Luận văn tốt nghiệp tiến sỹ y khoa, Đại học Y Hà Nội 23

Trang 9

4

Trang 10

ĐẶT VẤN ĐỀ

Tổn thương tủy sống tác động đến hàng nghìn người mỗi năm, gây ảnhhưởng tới sức khỏe, mất chức năng vận động, rối loạn cảm giác và các cơquan khác như bàng quang, đường ruột, hô hấp, tim mạch và loét do tỳ đè dẫnđến giảm chất lượng sống[24] Nghiêm trọng hơn, tổn thương tủy sống làmngười bệnh mất cơ hội việc làm, mất khả năng độc lập trong cuộc sống vàthay đổi tâm lý sức khỏe nặng nề[39] Chất lương cuộc sống của bệnh nhânsau tổn thương tủy sống phụ thuộc nhiều vào việc chăm sóc, phục hồi chứcnăng, định hướng nghề nghiệp và tái hội nhập cộng đồng Ngày nay, có nhiềutrung tâm phục hồi chức năng tổn thương tủy sống ra đời ở các nước pháttriển Điều này giúp cho người bệnh có nhiều cơ hội được phục hồi chứcnăng, giảm các thương tật thứ cấp, độc lập trong sinh hoạt và hội nhập xã hội,từng bước cải thiện chất lượng sống

Số liệu điều tra dịch tễ học cho thấy hàng năm trên thế giới tỷ lệ chấnthương tủy sống thay đổi theo vùng và có xu hướng gia tăng, đặc biệt ở cácnước có mật độ giao thông đông đúc, ngay cả ở các nước phát triển, với 80%nạn nhân là nam giới, đang trong độ tuổi lao động[46] Điều này cho thấychấn thương tủy sống ảnh hưởng lớn đến sự phát triển kinh tế, xã hội của mỗiquốc gia, là gánh nặng cho gia đình, xã hội và chất lượng sống của chínhngười bệnh

Việc nghiên cứu điều trị, chăm sóc điều dưỡng trong phục hồi chứcnăng sau chấn thương tủy sống đã được nhiều tác giả trong và ngoài nước nóiđến trong thập niên gần đây dựa trên sự ra đời của một số phương pháp, kỹthuật mới cũng như tiến bộ công nghệ Các tác giả Wyndael, Town, Đỗ Đào

Vũ, Cầm Bá Thức, Nguyễn Thị Sinh , đã tiến hành nghiên cứu hiệu quả phụchồi chức năng vận động, cảm giác, rối loạn chức năng bàng quang, rối loạnchức năng tim mạch và hô hấp …trong điều trị phục hồi chức năng [58],[50],[13],[8],[7] Tuy nhiên, việc đánh giá chất lượng cuộc sống của bệnh nhân sau

Trang 11

chấn thương tủy sống và nhu cầu chăm sóc điều dưỡng cho nhóm bệnh nhânnày chưa được đề cập, còn ít nghiên cứu được công bố Trong khi kết quảnghiên cứu vấn đề này sẽ cung cấp các thông tin thiết thực để các nhà chuyênmôn có biện pháp cải thiện, nâng cao chất lượng điều trị đặc biệt là công tácchăm sóc điều dưỡng cho người bệnh Đồng thời đưa ra được các bằng chứngkhoa học giúp cho các nhà hoạch định chính sách xã hội, xây dựng phát triểncác tài liệu đào tạo, hướng dẫn chuyên môn về chăm sóc điều dưỡng trongphục hồi chức năng cho bệnh nhân sau tổn thương tủy sống Chính vì vậy

chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Thực trạng chất lượng cuộc sống của bệnh nhân sau chấn thương tủy sống và nhu cầu chăm sóc của bệnh nhân tổn thương tủy sống tại bệnh viện Bạch Mai năm 2017” với hai mục tiêu:

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1 Đánh giá một số khía cạnh chất lượng cuộc sống của bệnh nhân sau chấn thương tủy sống tại bệnh viện Bạch Mai năm 2017

2 Xác định một số yếu tố liên quan đến chất lượng sống và nhu cầu chăm sóc của bệnh nhân chấn thương tủy sống tại bệnh viện Bạch Mai năm 2017

Trang 12

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Định nghĩa tổn thương tủy sống

Tổn thương tủy sống là tình trạng bệnh lý gây liệt hoặc giảm vận động

tứ chi hoặc hai chân kèm theo các rối loạn khác như: cảm giác, hô hấp, timmạch, bàng quang, đường ruột, loét do tì đè v.v do nguyên nhân chấnthương hoặc do các bệnh lý khác của tủy sống, thường để lại nhiều di chứngnặng nề và dẫn tới tàn tật nếu không được điều trị, chăm sóc và phục hồi chứcnăng tốt [20]

1.2 Tình hình chấn thương tủy sống

Trên thế giới cho thấy, năm 2004, Sinha D cho biết tỷ lệ chấn thương tủysống ở Ấn độ là 20.000 trường hợp/năm, trong đó 80% bệnh nhân trong độ tuổilao động [47] Theo Trung tâm thống kê chấn thương tủy sống quốc gia Hoa

Kỳ, số bệnh nhân chấn thương tủy sống ở Hoa Kỳ trung bình là 11.000 trườnghợp/năm hay khoảng 40 trường hợp mới/triệu dân không bao gồm nhữngngười chết tại chỗ do tai nạn Tuổi trung bình là 32,1; nam gấp 4 lần nữ, gần60% bệnh nhân tuổi từ 16 đến 59 đang có việc làm tại thời điểm bị chấnthương [21] Theo Gwynedd E và cộng sự, Canađa có tỷ lệ chấn thương tủysống là 42,4 người/triệu dân, tập trung từ độ tuổi 15 đến 64, tai nạn giao thôngchiếm 35% [31] Theo số liệu năm 2011, Schoenfeld và cộng sự cho biết tỷ lệchấn thương tủy sống trong quân đội Hoa Kỳ là 429 trường hợp/triệu quânnhân [46] Ở Bắc Mỹ, tỷ lệ chấn thương tủy sống khoảng 12.000 trường hợpmới/năm, ước chừng dao động từ 300.000 đến 1.275.000 trường hợp [33] ỞViệt Nam chưa có nghiên cứu thống kê đầy đủ và đại diện cho cả nước về tỷ

lệ tổn thương tủy sống do các nguyên nhân khác nhau Tuy nhiên, những nămgần đây, tỷ lệ này ngày một tăng, đặc biệt tại các trung tâm đô thị lớn như HàNội, thành phố Hồ Chí Minh, phần lớn do tai nạn giao thông và tai nạn laođộng Hậu quả làm gia tăng chi phí điều trị cho ngành y tế, người bệnh mất

Trang 13

việc làm, sức khỏe suy giảm, cuộc sống bị thay đổi và giảm chất lượng sống[9] Tại bệnh viện Bạch Mai, theo khảo sát của chúng tôi cho thấy năm 2008

có khoảng 200 bệnh nhân chấn thương tủy sống đến điều trị tại đơn vị tổnthương tủy sống Số lượng bệnh nhân tăng đều những năm sau đó và đến này

có đến hơn 1000 bệnh nhân đã được điều trị tại Trung tâm Phục hồi chứcnăng [7]

1.3 Chất lượng cuộc sống của bệnh nhân chấn thương tủy sống và các phương pháp đánh giá

1.3.1 Khái niệm chất lượng cuộc sống

Mặc dù khái niệm chất lượng cuộc sống đã được sử dụng nhiều, tuynhiên cho đến nay vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất toàn cầu cho kháiniệm này [45] Theo Nhóm nghiên cứu về chất lượng cuộc sống thuộc Tổchức Y tế Thế giới (WHOQOL-Group) năm 1995 thì Chất lượng cuộc sống lànhững cảm nhận của các cá nhân về cuộc sống của họ trong bối cảnh văn hóa,các hệ thống giá trị mà họ đang sống và liên quan đến các mục đích, nguyệnvọng, tiêu chuẩn và các mối quan tâm của họ [56]

1.3.2 Đánh giá chất lượng cuộc sống

Đánh giá chất lượng cuộc sống của bệnh nhân chấn thương tủy sống rấtcần thiết, phản ánh tác động của bệnh đến cuộc sống của bệnh nhân Đốichiếu với định nghĩa về sức khỏe của Tổ chức Y tế thế giới, chất lượng cuộcsống liên quan đến sức khỏe nói chung được coi là cấu trúc nhiều chiều baogồm sức khỏe thể lực, sức khỏe tâm trí, chức năng xã hội và toàn trạng nóichung Nhiều bộ công cụ khác nhau đã được xây dựng để đánh giá chất lượng

cuộc sống và được phân loại là đánh giá theo bệnh đặc thù (Disease specific QOL measures) hoặc đánh giá chung (Generic measures).

* Đánh giá chất lượng cuộc sống chung

Các bộ câu hỏi đánh giá chung có thể là những bộ công cụ mô tả về sứckhỏe hoặc là các đánh giá phụ trợ Các bộ công cụ mô tả về sức khỏe như bộĐánh giá kết quả đầu ra về sức khỏe rút gọn 36 câu hỏi (MOS Short Form–36/SF-36), Đánh giá kết quả đầu ra về sức khỏe rút gọn 12 câu hỏi (MOS Short

Trang 14

Form–12/SF-12) Những bộ công cụ này có thể sử dụng để đánh giá ở bệnhnhân chấn thương tủy sống giai đoạn tại cộng đồng Các đánh giá chung có thểgiúp ích trong việc đưa ra các quyết định định hướng về y tế Tuy nhiên, cácđánh giá chung thường không đi sâu vào ảnh hưởng của bệnh nên không thểhiện rõ sự thay đổi theo diễn biến của bệnh.

* Đánh giá chất lượng cuộc sống theo bệnh đặc thù

Đánh giá chất lượng cuộc sống theo bệnh đặc thù tập trung chủ yếuvàocác mặt chính liên quan đến bệnh đặc thù vì thế có thể đánh giá chính xáchơntác động của bệnh tới chất lượng cuộc sống của bệnh nhân cũng như phảnánhrõ hơn hiệu quả can thiệp

Những người có khả năng trí tuệ bình thường có thể đưa ra những nhậnđịnh phức tạp mang tính chủ quan về cuộc sống của họ Tuy nhiên các triệuchứng hành vi hoặc tâm thần không thuộc về nhận thức như trầm cảm, kíchđộng có thể ảnh hưởng tới việc đánh giá chất lượng cuộc sống của bệnh nhân.Các tác giả đã xem xét điều gì là quan trọng đối với chất lượng cuộc sống củabệnh nhân chấn thương tủy sống để giúp thay đổi hoàn cảnh sống của bệnhnhân Điều quan trọng đối với chất lượng cuộc sống của bệnh nhân sau chấnthương tủy sống là sự an toàn và độc lập, không đau đớn có thể chiếm vị tríquan trọng nhất [55]

Mặc dù các thách thức này, đánh giá chất lượng cuộc sống ở bệnhnhânchấn thương tủy sống là cần thiết Thông qua việc đánh giá chất lượngcuộc sống, bệnh nhân được điều trị, can thiệp và hỗ trợ thay đổi môi trường

xã hội giúp tạo ra sự khác biệt quan trọng trong cuộc sống của bệnhnhân.Những đánh giá này giúp các nhà nghiên cứu đưa ra kết luận rõ ràng,những chính sách của nhà quản lý có thể tìm ra những biện pháp can thiệpmới giúp duy trì hoặc tăng cường chất lượng cuộc sống cho họ

1.3.3 Các phương pháp đáng giá chất lượng cuộc sống trong bệnh chấn thương tủy sống

Có nhiều phương pháp để đánh giá chất lượng cuộc sống của bệnhnhân như bệnh nhân tự đánh giá, đánh giá thay thế qua người thân chăm sóc

Trang 15

hay quan sát trực tiếp các hành vi và hoạt động liên quan đến chất lượng cuộcsống Với bệnh nhân chấn thương tủy sống sử dụng phương pháp bệnh nhân

tự đánh giá sẽ giúp bệnh nhân dễ dàng lựa chọn câu trả lời, ít bị ảnh hưởngbởi các mong muốn, hệ niềm tin của người khác hoặc không thể chắc chắnrằng các hành vi quan sát được có phải là điều bệnh nhân cho là quan trọngđối với chất lượng cuộc sống của họ hay không hay những sai lệch từ phíangười quan sát

Bệnh nhân tự đánh giá: phương pháp này yêu cầu bệnh nhân trực tiếpđánh giá chất lượng cuộc sống bằng những cảm nhận của mình trong bối cảnhcủa người được hưởng lợi từ việc điều trị hoặc bị mất nhiều nhất sau chấnthương Cần thiết kế các bộ công cụ đơn giản, dễ dàng để bệnh nhân có thểtham gia, xây dựng các hướng dẫn rõ ràng, đào tạo kỹ càng cho các điều traviên phỏng vấn trực tiếp và sử dụng gợi ý trực quan (ví dụ như thang đo mức

độ, thẻ màu) để giúp bệnh nhân dễ dàng lựa chọn câu trả lời Ngoài ra, điều traviên có thể đánh giá sự hiểu của bệnh nhân bằng cách hỏi các câu hỏi làm rõkhi câu trả lời không rõ ràng hoặc không tin cậy

1.3.4 Các bộ công cụ đánh giá chất lượng cuộc sống ở bệnh nhân chấn thương tủy sống

Các bộ công cụ đánh giá chất lượng cuộc sống ở bệnh nhân chấnthương tủy sống có thể rất khác nhau về các lĩnh vực đánh giá Smith và cộng

sự (2015) sử dụng công cụ đánh giá chất lượng cuộc sống (FIQL) để xác địnhmức độ ảnh hưởng của rò rỉ phân ngoài ý muốn đến chất lượng sống của bệnhnhân tổn thương tủy sống[44] Bochkezanian và cộng sự (2015) chất lượng sốngthông qua đánh giá mức độ độc lập của bệnh nhân[51] Daniel M và cộng sự(2015) đã đánh giá các khía cạnh trong chất lượng cuộc sống của bệnh nhân tổnthương tủy sống bao gồm hoạt động giải trí, quan hệ xã hội, hạnh phúc, côngviệc có ý nghĩa, đời sống tình dục và chất lượng sống nói chung [22] David S vàcộng sự (2015) đã sử dụng bộ công cụ SCI-QoL trong đánh giá tình trạng sứckhỏe, chất lượng sống của bệnh nhân chấn thương tủy sống [23]

Trang 16

Các tiêu chí của bộ công cụ đánh giá chất lượng cuộc sống cho bệnhnhân chấn thương tủy sống được lựa chọn để phản ánh các lĩnh vực làm ảnhhưởng đến chất lượng sống của bệnh nhân Có nhiều công cụ đánh giá kháchquan chất lượng cuộc sống, tuy nhiên với bệnh nhân tổn thương tủy sốngchưa có một bộ công cụ nào đánh giá đầy đủ các khía cạnh ảnh hưởng đếnchất lượng cuộc sống của bệnh nhân Đối với bệnh nhân đang điều trị tại bệnhviện, chúng tôi tập trung đánh giá hai khía cạnh chính làm ảnh hưởng nhiềunhất đến chất lượng sống của bệnh nhân là khả năng độc lập trong sinh hoạt

và mức độ đau Tương ứng với từng khía cạnh trên chúng tôi sử dụng các bộcông cụ phù hợp để thu thập thông tin bệnh nhân thông qua các thang điểmSCIM, VAS Các bộ công cụ này đã được hiệp hội tổn thương tủy sống thếgiới khuyến cáo sử dụng cho đánh giá trên bệnh nhân chấn thương tủy sốngtrên toàn thế giới Các thang điểm này đã được dịch sang nhiều thứ tiếng và

áp dụng rộng rãi ở các nước và là bộ công cụ được sử dụng phổ biến nhất trênthế giới để đánh giá khả năng độc lập của bệnh nhân chấn thương tủy sốngnhư Hy Lạp[16], Tây Ban Nha[40], Thụy Điển[15], Hoa Kỳ[37], Thổ Nhĩ Kỳ[32],được chứng minhcó độ tin cậy cao và đã được sử dụng trong rất nhiềunghiên cứu Ở Việt Nam, bộ công cụ SCIM đã được dịch ra phiên bản tiếngviệt, được thử nghiệm, chỉnh sửa để phù hợp với văn phong tiếng Việt cho dễhiểu hơn và đã được sử dụng thường quy để đánh giá khả năng độc lập củabệnh nhân sau chấn thương tủy sống tại Trung tâm Phục hồi chức năng, bệnhviện Bạch Mai từ năm 2008 và đưa vào quy trình kỹ thuật của chuyên ngành.Thang điểm đánh giá mức độ đau theo thang điểm nhìn VAS, đã được sửdụng phổ biến trong nhiều lĩnh vực chuyên khoa y học có độ tin cậy và cótính giá trị cao[2],[3],[19],[28],[35] Như vậy, thang công cụ SCIM và VASđáp ứng được những mục tiêu nghiên cứu của đề tài đánh giá những khía cạnhlớn làm ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân khi còn đangđiều trị tại viện Các thang điểm đánh giá khác sẽ phù hợp hơn cho việc đánhgiá đối với bệnh nhân tại cộng đồng, giai đoạn bệnh muộn khi đã về hòa nhậptại cộng đồng và gia đình

Trang 17

1.4 Giới thiệu về bộ công cụ đánh giá chất lượng sống của bệnh nhân sau chấn thương tủy sống

* Bộ công cụ đánh giá sự độc lập sau tổn thương tủy sống SCIM ( Spinal Cord Independence Measure)

Bệnh nhân sau chấn thương tủy sống và các chuyên gia về tủy sống đãcùngnhau xem xét các tiêu chínày để đảm bảo giá trị và tính chính xác Thangđiểm SCIM gồm 16 câu hỏi đánh giá các lĩnh vực: khả năng tự chăm sóc,chức năng hô hấp và kiểm soát cơ tròn, khả năng di chuyển trong phòng và

nhà vệ sinh, khả năng di chuyển ở trong nhà và bên ngoài (chi tiết bộ công cụ xin xem trong phần phụ lục).

Câu trả lời dựa trên 2 mức độ của thang điểm (1 = không tốt (0-60điểm), 2 = tốt, (61-100 điểm)) Tổng điểm SCIM nằm trong khoảng từ 0 đến

100 với điểm số caohơn tương ứng với chất lượng cuộc sốngtốt hơn

Thang điểm SCIM đánh giá bốn lĩnh vực từ khả năng tự chăm sóc đếnkhả năng di chuyển trong nhà vệ sinh, bồn tắm hay di chuyển ra khỏi nhà.Đây là bàng công cụ phản ánh khá toàn diện những yếu tố liên quan đến khảnăng độc lập của bệnh nhân sau tổn thương tủy sống Hơn nữa với cấu trúckhá đơn giản, dễ hiểu giúp cho việc sử dụng đánh giá chính xác hơn các chứcnăng của bệnh nhân Chính với những ưu điểm vậy, Hiệp hội tổn thương tủysống đã áp dụng và khuyến cáo sử dụng cho việc đánh giá sự độc lập củabệnh nhân sau tổn thương tủy sống Tuy nhiên thang điểm SCIM cũng cónhững mặt hạn chế đó là không phản ánh được một số khía cạnh khác củabệnh nhân sau tổn thương tủy sống như yếu tố tâm thần, khả năng tham giavào các hoạt động vui chơi, hòa nhập tại cộng đồng của bệnh nhân Với phạm

vi nghiên cứu của chúng tôi là những bệnh nhân được đánh giá tại bệnh việnvới hai khía cạnh rõ rằng là khả năng độc lập và mức độ đau ảnh hưởng đếnchất lượng sống của bệnh nhân Thang điểm SCIM hoàn toàn đáp ứng đượctính chính xác, khánh quan và đầy đủ thông tin của nhà nghiên cứu

Trang 18

* Bộ công cụ đánh giá mức độ đau theo thang điểm nhìn VAS (Visual Analogue Scale)

Bộ công cụ đánh giá mức độ đau theo thang điểm nhìn VAS là bộ công cụđược sử dụng phổ biến nhất trên thế giới để đo lường mức độ đau của ngườibệnh Bộ công cụ VAS được chứng minhcó độ tin cậy cao và đã được sử dụngtrong rất nhiều nghiên cứu cả trong và ngoài nước[2],[3],[19],[28],[35] Tươngứng với mức điểm càng cao thì chất lượng cuộc sống kém hơn

1.5 Các phương pháp và dịch vụ điều trị, chăm sóc và phục hồi chức năng cho bệnh nhân tổn thương tủy sống

Mục tiêu chính của phục hồi chức năng là làm cho người bị tổnthương tủy sống có thể độc lập tối đa trong các hoạt động sống hằng ngày, táihoà nhập gia đình và cộng đồng

1.5.1 Điều trị loét do đè ép

Việc đầu tiên của điều trị là phải loại bỏ lực đè ép lên vết loét, vết loét

sẽ không bao giờ liền nếu như lực ép chưa được loại bỏ Các yếu tố trong điềutrị bao gồm rửa vết thương, cắt bỏ tổ chức hoại tử, băng bó, phẫu thuật, dinhdưỡng và kiểm soát các vùng tỳ đè[4],[11]

Phòng loét được cho là công việc quan trọng nhất

Rửa vết thương

Loại bỏ tổ chức hoại tử

Phẫu thuật cắt lọc tổ chức hoại tử

1.5.2 Chăm sóc đường hô hấp

Rung kết hợp dẫn lưu tư thế, tập ho để giải phóng đờm dãi ra ngoài; tậpthở nhằm tăng cường khả năng hô hấp, trao đổi khí, phòng biến chứng viêmphổi, xẹp phổi và suy hô hấp[27],[36]

1.5.3 Chăm sóc đường tiết niệu

Mục tiêu của chăm sóc đường tiết niệu là đi tiểu chừng 3-4 giờ/lần, duytrì kiểm soát nước tiểu, khi đi ngủ nước tiểu không rò rỉ ra, tránh nhiễm trùngđường tiết niệu tái phát Tối thiểu phải đạt được là giảm sự ảnh hưởng đếnhoạt động xã hội, hướng nghiệp và học nghề của bệnh nhân[5],[10], [14]

Trang 19

Điều trị không bằng thuốc

Điều trị bằng thuốc

Điều trị bằng phẫu thuật

1.5.4 Chăm sóc đường ruột

Mục tiêu của chương trình huấn luyện đường ruột là thiết lập sự bài tiết

ở đường ruột thông qua phản xạ có điều kiện Chăm sóc đường ruột có thể đòihỏi phải sử dụng hai phương pháp kích thích trực tràng, kích thích cơ học vàkích thích hóa học Hai kích thích này có thể sử dụng riêng rẽ hoặc kết hợp cảhai phương pháp [4],[5]

Tập luyện đường ruột[11]

Kích thích cơ học

Điều trị bằng thuốc

Thụt tháo

1.5.5 Điều trị cơn rối loạn phản xạ thực vật [30]

Nhanh chóng hạ huyết áp bằng cách dựng bệnh nhân ngồi thả hai chânxuống giường, nếu huyết áp không hạ mới chuyển sang dùng thuốc hạ áp

- Tìm nguyên nhân gây cơn rối loạn phản xạ thực vật để loại bỏ

- Giáo dục bệnh nhân

- Đề phòng tái phát cơn rối loạn phản xạ thực vật

1.5.6 Điều trị đau thần kinh bằng các thuốc: giảm đau thần kinh, kích thích

điện và tâm lý trị liệu

Đau là một cảm giác khó chịu, xuất hiện cùng lúc với sự tổn thươngcủa các mô tế bào Đau là kinh nghiệm được lượng giá bởi nhận thức chủquan tùy theo từng người, từng cảm giác về mỗi loại đau, là dấu hiệu củabệnh tật và phải tìm ra nguyên nhân để chữa [49] Một số trường hợp đau xảy

ra trong bệnh cảnh di chứng tổn thương hay cắt đoạn thần kinh ngoại vi (nhưtrong hiện tượng chi ma, zona, đau dây V, cắt đoạn thần kinh, liệt hai chân )

Việc điều trị đúng tình trạng đau này còn phụ thuộc vào nhận thức thực

tế và sự tôn trọng phức hợp thể chất và tâm thần ảnh hưởng đến tác động củađau đối với cuộc sống cảu bệnh nhân [14]

Trang 20

1.5.7 Phòng ngừa và điều trị huyết khối tĩnh mạch sâu:Bằng cách tập vận

động sớm, sử dụng các dụng cụ tạo áp lực và các thuốc chống đông dự phòngcho những bệnh nhân có nguy cơ cao Khi có huyết khối tĩnh mạch sâu cầnđiều trị theo bác sỹ chuyên khoa tim mạch [29]

1.5.8 Điều trị co cứng bằng các thuốc giãn cơ và tiêm phong bế điểm vận động bằng phenol hoặc Botulinum toxin nhóm A [14],[30].

1.5.9 Tập mạnh cơ, di chuyển bằng dụng cụ trợ giúp và hoạt động trị liệu:

nạng nẹp, thanh song song, khung tập đi, xe lăn địa hìnhgiúp bệnh nhân độclập trong sinh hoạt như ăn uống, mặc quần áo, vệ sinh cá nhân như đánh răng,rửa mặt, tắm rửa…[1],[6],[27]

1.5.10 Điều trị rối loạn chức năng tình dục [14],[301]

1.5.11 Tái hội nhập vào cộng đồng và xã hội:

Đây là giai đoạn quan trọng giúp giải quyết được vấn đề tâm lý chongười bệnh, mặt khác làm giảm bớt sự phụ thuộc và gia đình, xã hội Hướngnghiệp cho người bệnh để khi về với gia đình và cộng đồng họ tìm được việclàm thích hợp để tự nuôi sống bản thân

1.6 Các nghiên cứu liên quan

1.6.1 Một số nghiên cứu trên thế giới

1.6.1.1 Một số nghiên cứu liên quan đến thực trạng chất lượng sống của bệnh nhân sau chấn thương cột sống

- PH Smith và RM Decter (2015) sử dụng công cụ đánh giá chất lượngcuộc sống (FIQL) để xác định mức độ ảnh hưởng của rò phân ngoài ý muốnđến chất lượng sống của bệnh nhân sau chấn thương tủy sống Điểm chấtlượng cuộc sống (FIQL) được thể hiện ở 4 lĩnh vực: cách sống, cách ứng phó,

sự buồn chán/tự nhận thức hay sự xấu hổ Bộ câu hỏi được phát trước và sauphẫu thuật Sử dụng T-test để so sánh trước và sau phẫu thuật Kết quả chothấy từ 2003-2010, nghiên cứu được thực hiện trên 17 bệnh nhân TTTS, baogồm 10 bệnh nhân liệt 2 chân và 7 BN liệt tứ chi có thời gian trung bình là 33năm sau phẫu thuật [44]

Trang 21

- V Bochkezanian, J Raymond, de Oliveira và cộng sự (2015) dùng kếthợp bài tập aerobic và những bài tập tăng sức mạnh theo vòng tròn đối vớibệnh nhân TTTS Chất lượng sống được đánh giá thông qua khả năng độc lậpvới việc sử dụng thang PEDro; nghiên cứu thực nghiệm bởi hai nhà nghiêncứu khác nhau Kết quả: Nghiên cứu phân tích 7981 bệnh nhân, trong đó 9thử nghiệm đạt tiêu chuẩn lựa chọn Từ 9 thử nghiệm trên, 7 cho kết quả củaviệc tập aerobic, và 2 trong số đó cho thấy sự cải thiện có ý nghĩa thống kê 5nghiên cứu cho kết quả tăng sức mạnh cơ, 4 trong số đó có kết quả có ý nghĩathống kê 2 nghiên cứu khác xem xét chất lượng cuộc sống và 1 trong 2nghiên cứu cho thấy sự khác nhau có ý nghĩa giữa các nhóm[51]

- D M Cushman, K Thomas, D Mukherjee (2015) đã sử dụng bảncâu hỏi điều tra của các bác sĩ PM&R và EM Người tham gia nghiên cứu làcác bác sĩ có chứng chỉ thuộc Hiệp hội Phục hồi chức năng Mỹ và giảng viêntại các trường đại học Y khoa của Mỹ và Canada Nghiên cứu nhằm đánh giácác khía cạnh trong chất lượng cuộc sống của bệnh nhân TTTS bao gồm hoạtđộng giải trí, quan hệ xã hội, hạnh phúc, công việc có ý nghĩa, đời sống tìnhdục và chất lượng sống nói chung Kết quả cho thấy trong tổng số 91 bác sĩcấp cứu và 89 bác sĩ phục hồi chức năng được hỏi, nhiều bác sĩ phục hồi chứcnăng hơn so với bác sĩ cấp cứu cho rằng bệnh nhân sẽ có chất lượng cuộcsống tốt hơn không kể đến mức độ chấn thương hay khía cạnh cuộc sống nàođược nói đến (P < 01) Bác sĩ nữ, không kể đến chuyên ngành, chọn mứcthấp hơn cho câu hỏi liệu bệnh nhân có muốn kết thúc cuộc sống nếu bị chấnthương cột sống không (P = 0.03) Cả hai nhóm bác sĩ đều có xu hướng khôngđồng ý với nhận định mức độ chấn thương thấp hơn thì cho chất lượng cuộcsống cao hơn[22]

- Kelly E Ravenek, Michael J.(2012) cho ra một nghiên cứu tổng hợp

sử dụng dữ liệu từ PubMed và CINAHL để đánh giá các nghiên cứu sử dụngcông cụ đo chất lượng cuộc sống và đánh giá hiệu quả của hoạt động thể chấthay sử dụng hoạt động thể chất để xác định mối liên hệ giữa hoạt động thể

Trang 22

chất và chất lượng cuộc sống Kết quả cho thấy 13 bài báo đáp ứng tiêu chuẩnlựa chọn Trong số đó, 9 công cụ đo chất lượng sống được sử dụng: 2 thước

đo khách quan là Shlort Form - 36[SF-36] và QWB) và 7 thước đo chủ quan(Tự đánh giá chất lượng sống[PQoL], Thang điểm thỏa mãn cuộc sống[SWLS], Chỉ số chất lượng cuộc sống của bệnh nhân TTTS - phiên bản III,Thang thỏa mãn cuộc sống[LISAT], Phản hồi chất lượng cuộc sống, Hồ sơchất lượng cuộc sống: Phiên bản cho người khuyết tật thể chất và giác quan[QOLP-PSD] và Chất lượng cuộc sống theo đánh giá chủ quan[SQOL]).Bảng tự đánh giá chất lượng cuộc sống (PQoL) là công cụ được dùng phổbiến nhất (trong 4 nghiên cứu) và được sử dụng ở 2 trong 3 thử nghiệm ngẫunhiên có đối chứng 12 trên 13 nghiên cứu đánh giá tích cực ảnh hưởng hoạtđộng thể chất với chất lượng cuộc sống[38]

- Nghiên cứu phân tích các công cụ cho thông tin về chất lượng cuộcsống liên quan đến sức khỏe (HRQoL), bao gồm Bản điều tra ngắn (Short-form 36 (SF-36)), Bản điều tra ngắn 36 dành cho cựu chiến binh (SF-36V),Bản điều tra ngắn 12(SF-12), Bản điều tra ngắn 6 dành cho người khuyết tật(SF-6D), Hồ sơ ảnh hưởng của bệnh thật (SIP-68), Bảng tự đánh giá chấtlượng cuộc sống (QWB-SA), Qualiveen và Công cụ bệnh nhân tự đánh giáảnh hưởng của co cứng (PRISM) Trong số 22 bài báo với 8 công cụ đánh giáchất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe của bệnh nhân TTTS cho thấybệnh nhân TTTS có chất lượng cuộc sống kém hơn nhiều so với dân số nóichung, đặc biệt là về thể chất[57]

1.6.1.2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng sống của bệnh nhân sau chấn thương tủy sống

- Y Akkoc, M Ersoz và N Yıldız (2013) nghiên cứu các BN CTTS ítnhất 6 tháng sau chấn thương (n = 195, 74.4% nam) Các bệnh nhân trên đượcchia vào 5 nhóm: tiểu tiện bình thường, tiểu tiện có hỗ trợ, bệnh nhân tự thôngtiểu ngắt quãng, thông tiểu ngắt quãng do người khác trợ giúp và thông tiểulưu Bảng điều tra câu hỏi King được sử dụng để đánh giá CLCS của bệnh

Trang 23

nhau về tuổi, thời gian sau chấn thương, trình độ học vấn, tình trạng hôn nhân

và nghề nghiệp Không có sự khác biệt nào về sức khỏe nói chung, mối quan

hệ cá nhân, điểm giấc ngủ/năng lượng Trong khi nhóm tiểu tiện bình thường

có điểm số thấp nhất (nghĩa là có CLCS cao nhất), nhóm có người giúp đặtthông tiểu có CLCS tồi nhất Vậy yếu tố BN khi có sự can thiệp để có thể tiệutiện và tiện cho việc chăm sóc và theo dõi có là yếu tố ảnh hưởng đến CLCScủa bệnh nhân sau CTTS [59]

- Trong nghiên cứu tổng hợp y văn của Van Leeuwen, S Kraaijeveld, ELindeman và cộng sự (2012), một số hệ thống dữ liệu trực tuyến đã thamkhảo PubMed, Embase và PsychInfo Tiêu chuẩn lựa chọn các bài báo là cácbài báo phải phân tích định lượng mối quan hệ giữa các biến độc lập liên quanđến chất lượng sống và các yếu tố tâm lý như các biến phụ thuộc Nghiên cứutổng hợp này chỉ xem xét các thử nghiệm lâm sàng bằng tiếng Anh Chấtlượng phương pháp nghiên cứu cũng được đánh giá Kết quả cho thấy có 48nghiên cứu đáp ứng đủ tiêu chuẩn lựa chọn Không có bằng chứng nào đượctìm thấy về mối liên quan giữa phương pháp giải quyết vấn đề và chất lượngsống Những tác động tiêu cực và nhận thức sau chấn thương liên quan đếnchất lượng sống thấp hơn Chất lượng cuộc sống của bệnh nhân sau CTTSđược cho là liên quan đến mức độ kiểm soát cuộc sống, nhận thức giá trị bảnthân, mục đích sống và hy vọng[17]

- E Ataoglu, T Tiftik, M Kara, và cộng sự (2013) nghiên cứu tổng cộng

140 BN CTTS (104 nam và 36 nữ) đã được điều trị nội trú PHCN Một bảngcâu hỏi gồm nhiều biến số về y tế đã được phát Điểm số tự chủ vận độngđược dùng để đánh giá hoạt động hàng ngày, Bảng hỏi kết quả y tế dạng ngắn

36 mục (SF-36) để đánh giá CLCS cảu bệnh nhân sau CTTS và Bảng liệt kêtình trạng buồn chán BDI (Beck Depression Inventory) BN sau đó được chiathành nhóm đau mãn tính (Nhóm 1) và nhóm không bị đau (Nhóm 2); hainhóm sẽ được so sánh dựa trên các biến về kinh tế xã hội và y tế Kết quả chothấy nguyên nhân phổ biến nhất ảnh hưởng đến CLCS của bệnh nhân sau CTTS

là ngã (35.0%) và tai nạn xe cộ (34.2%), 78% BN bị đau mãn tính Bệnh nhân có

Trang 24

việc làm trước khi bị thương và BN tổn thương hoàn toàn có điểm xếp hạng thấphơn (p< 0,05) Nhóm 1 có điểm đau thể chất và hoạt động xã hội thấp hơn nhóm2(P < 0,05) Bệnh nhânCTTS bị đau mãn tính có tỉ lệ buồn chán và điểm (BDI)cao hơn tương quan với một vài những lĩnh vực trong bảng SF-36[25].

- Trong nghiên cứu của N A Erosa1, J.W Berry, T.R Elliott (2014),một khung lý thuyết được kiểm tra về ảnh hưởng của khuyết tật chức năng, sựhài lòng trong cuộc sống gia đình và tình trạng đau khi tham gia hoạt động đốivới chất lượng sống Kết quả cho thấy khuyết tật chức năng lớn và tình trạng đaulàm giảm sự tham gia hoạt động, sự tham gia hoạt động có giá trị tiên đoán vớiCLCS đối với bệnh nhân sau CTTS vàyếu tố hài lòng trong cuộc sống gia đình

có ảnh hưởng gián tiếp tới CLCS của bệnh nhân sau CTTS[42]

- WB Mortenson, L Noreau và WC Miller (2010) nghiên cứu một nhómbệnh nhân CTTS Số liệu được thu thập thông qua chỉ số chất lượng sống QLI(Quality of Life Index) 197 BN được điều tra, nhưng do bỏ nghiên cứu haykhông tham gia đầy đủ, chỉ còn lại 93 trường hợp Chất lượng sống được điềutra tại thời điểm 3 và 15 tháng sau khi hết điều trị PHCN Kết quả là điểmtrung bình CLCS không khác nhau ở thời điểm 3 và 15 tháng (p< 0.85) Chỉ

số chính dự đoán CLCS ở thời điểm 3 tháng là tình trạng sức khỏe và trạngthái tâm lý Chỉ số chính dự đoán CLCS ở thời điểm 15 tháng là mức độ chấtlượng sống ở thời điểm 3 tháng, tình trạng sức khỏe và sự hỗ trợ của gia đình

Ở cả 2 thời điểm trên, những yếu tố cá nhân giải thích được gần hết đượcCLCS của bệnh nhân sau CTTS, trong khi đó sự tham gia hoạt động và yếu tốmôi trường có vai trò ít quan trọng[52]

1.6.1.3 Xác định nhu cầu chăm sóc, phục hồi chức năng của bệnh nhân sau chấn thương tủy sống

* Chăm sóc cơ bản và chăm sóc người bệnh toàn diện

Các thành phần chăm sóc cơ bản

Trong chăm sóc NB, điều dưỡng cần phải đánh giá và chẩn đoán nhữngnhu cầu của NB, trên cơ sở đó hỗ trợ NB đáp ứng được các nhu cầu cơ bản

Trang 25

của con người Theo Viginia Henderson, con người có 14 nhu cầu cơ bản giúpxác định khung nội dung về các thành phần chăm sóc cơ bản gồm[7].

- Đáp ứng nhu cầu về hô hấp: Điều dưỡng phải đánh giá sự thở bình

thường hay bất thường, tìm nguyên nhân để giải quyết và đáp ứng nhu cầungay cho NB (cho thở ôxy, hút cho thông thoáng đường hô hấp, đặt tư thếthích hợp, thông báo bác sĩ )

- Đáp ứng nhu cầu về ăn uống: Điều dưỡng cần giúp đỡ NB ăn đủ lượng

calo mỗi ngày và thực hiện chế độ ăn theo đúng bệnh, đảm bảo an toàn vệ sinhthực phẩm Nếu tình trạng bệnh không thể ăn được đường miệng thì cần thực hiệncác biện pháp đưa dinh dưỡng vào cơ thể để đảm bảo năng lượng cho NB

- Giúp đỡ NB trong sự bài tiết: Điều dưỡng cần phải theo dõi sát dịch tiết

của NB về số lượng, tính chất, màu sắc để đánh giá và can thiệp đáp ứng đúngnhu cầu khi có bất thường

- Giúp đỡ NB về tư thế, vận động và tập luyện: Điều dưỡng cần giúp NB

các tư thế mà họ yêu cầu, hướng dẫn và hỗ trợ NB vận động, luyện tập

- Đáp ứng nhu cầu ngủ và nghỉ

- Giúp NB mặc và thay quần áo

- Giúp NB duy trì thân nhiệt: Nếu thân nhiệt NB bất thường, cần phải tìm

rõ nguyên nhân để giải quyết hoặc báo ngay bác sĩ để cùng can thiệp

- Giúp NB vệ sinh cá nhân hằng ngày: Tùy theo tình trạng bệnh, điều

dưỡng cần thực hiện tắm, gội, thay quần áo, thay ga trải giường cho NB hằngngày tại giường

- Giúp NB tránh được các nguy hiểm trong khi nằm viện: Tránh để NB ngã,

bị các tai biến trong điều trị, các sự cố trong chăm sóc như: nhầm NB, nhầmthuốc, sót dụng cụ khi mổ, nhiễm khuẩn khi thực hiện kỹ thuật, lây chéo…

- Giúp NB trong giao tiếp: Điều dưỡng thường xuyên gần gũi, tiếp xúc

NB với thái độ niềm nở thân mật

- Giúp NB thoải mái về tinh thần, tự do tín ngưỡng.

- Giúp NB làm một việc gì đó để tránh mặc cảm là người vô dụng.

Trang 26

- Giúp NB trong những hoạt động vui chơi giải trí: Khi tình trạng bệnh

cho phép, ĐDV giúp đỡ họ thực hiện để đáp ứng nhu cầu

- Giúp NB có kiến thức về y học: Điều dưỡng cần cung cấp thông tin có

liên quan đến bệnh, hướng dẫn chế độ ăn, theo dõi thuốc điều trị và tai biếncủa thuốc, giáo dục sức khỏe giúp NB có những kiến thức về y tế, cách tựtheo dõi, chăm sóc bản thân sau khi ra viện[7], [48]

Chăm sóc người bệnh toàn diện

Theo Thông tư 07/2011/TT-BYT, chăm sóc người bệnh toàn diện(CSNBTD) là sự chăm sóc của người hành nghề và gia đình người bệnh lấyngười bệnh làm trung tâm, đáp ứng các nhu cầu điều trị, sinh hoạt hàng ngàynhằm bảo đảm an toàn, chất lượng và hài lòng của người bệnh[8],[48]

1.6.2 Một số nghiên cứu về bệnh nhân chấn thương tủy sống ở Việt Nam

- Đỗ Đào Vũ (2006) Tiến hành nghiên cứu đánh giá kết quả phục hồichức năng vận động cảm giác theo ASIA ở bệnh nhân chấn thương cột sống

cổ và một số yếu tố ảnh hưởng đến kết quả PHCN Phương pháp nghiên cứu:thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng; Kết quả cho thấy: có sự cảithiện bậc cơ theo ASIA sau 1 tháng, 3 tháng và 6 tháng lần lượt là 39%, 72%

và 72% Khả năng di chuyển tốt và khá là 16,67% và 44,44%, còn lại 38,89%

di chuyển kém so với nhóm chứng di chuyển kém là 50% Kết quả cũng chothấy nhóm BN trẻ tuổi phục hồi chức năng tốt hơn BN lớn tuổi, sơ cứu banđầu đúng tỷ lệ phục hồi chức năng tốt hơn sơ cứu sai, tổn thương tủy cổ caophục hồi kém hơn tổn thương tủy cổ thấp[13]

- Cầm Bá Thức (2008) Nghiên cứu thực trạng bệnh nhân liệt hai chidưới do chấn thương tủy sống tại cộng đồng và đề xuất một số giải pháp canthiệp Nghiên cứu 80 BN liệt 2 chi dưới do chấn thương tủy sống, sống tạicộng đồng Kết quả: liệt tủy hoàn toàn ASIA A là 52,5%; không hoàn toànASIA B là 5%; ASIA C là 27,5%; ASIA D là 15% Khuyết tật rất nặng 12,5%;nặng 72,5%; trung bình 15% 88,8% không làm được việc gì; 11,2% chỉ làmđược việc nhẹ; 77,5% thất nghiệp; 12,5% bỏ học; 7,5% phải nghỉ việc; 2,5%

Trang 27

đang hưởng lương hưu Trầm cảm 25%, lo sợ 35%; căng thẳng 37,5% Hiệuquả phục hồi chức năng: cải thiện mức độ khuyết tật theo thang điểm Rankin;cải thiện khả năng tự chăm sóc và di chuyển theo chỉ số Barthel; cải thiệnmức độ tham gia công việc gia đình và cộng đồng theo chỉ số Frenchay; cảithiện của các biến chứng và thương tật thứ cấp[8].

- Nguyễn Phương Sinh (2012) Nghiên cứu hiệu quả phục hồi chứcnăng hô hấp cho bệnh nhân chấn thương cột sống có liệt tuỷ bằng phươngpháp tập thở tự điều khiển, trên 61 bệnh nhân sau chấn thương tủy sống từmức D6 trở lên Phương pháp nghiên cứu cắt ngang mô tả và thử nghiệm lâmsàng so sánh trước sau Kết quả cho thấy có sự cải thiện đáng kể độ giãn nởlồng ngực, các thông số chức năng hô hấp sau 3 tháng, 6 tháng có ý nghĩathống kế (p<0,05)[7]

- Đỗ Đào Vũ (2014) Đánh giá kết quả phục hồi chức năng bàng quangthần kinh sau chấn thương tủy sống Phương pháp tiến cứu can thiệp ngẫunhiên có đối chứng trên 68 BN có bàng quang thần kinh tăng hoạt do chấnthương tủy sống Những bệnh nhân này được hỏi bệnh, khám lâm sàng, cận lâmsàng, thăm dò niệu động học để chẩn đoán xác định và điều trị bằng hai phươngpháp: nhóm nghiên cứu tiêm Botox 200 đơn vị vào thành bàng quang, nhómchứng uống Driptan 20mg/24 giờ Bệnh nhân được theo dõi sau 4 tuần, 12 tuần

và 24 tuần tại Trung tâm Phục hồi chức năng Bệnh viện Bạch Mai Kết quảnghiên cứu cho thấy Chất lượng sống, mức độ hài lòng của bệnh nhân có sựcải thiện tại các thời điểm tái khám so với trước điều trị (p<0,05) Nhómnghiên cứu cải thiện tốt hơn hẳn so với nhóm chứng (UDI-6 cải thiện 2-3điểm; IqoL cải thiện 20 điểm; VAS cải thiện 1-2 điểm) (p<0,05)[12]

Qua tìm hiểu các nghiên cứu trong nước và ngoài nước, chúng tôi nhậnthấy vấn đề chất lượng cuộc sống và nhu cầu phục hồi chức năng của bệnhnhân sau chấn thương tủy sống dần được quan tâm nhiều hơn Tuy nhiên, sốlượng các nghiên cứu còn hạn chế, đặc biệt các nghiên cứu trong nước trênđối tượng sau chấn thương tủy sống Hầu hết, các nghiên cứu chỉ mới đánh

Trang 28

giá hiệu quả phục hồi chức năng vận động, cảm giác, rối loạn chức năng bàngquang, hô hấp mà chưa tìm hiểu nhu cầu phục hồi chức năng của bệnh nhâncũng như thực trạng chất lượng cuộc sống của đối tượng bệnh nhân nhân nàynhư thế nào Đối tượng bệnh nhân sau chấn thương tủy sống có nhiều thay đổi

về chức năng vận động, cảm giác, khả năng hội nhập trở lại xã hội và côngviệc là khó khăn, các biến chứng rất đa dạng, nghiêm trọng đã tác động rấtlớn đến đời sống của họ sau khi bị bệnh Với mong muốn góp phần vào cácnghiên cứu về đối tượng bệnh nhân chấn thương tủy sống, chúng tôi thực hiệnnghiên cứu này để từ đó sử dụng kết quả thu được giúp tìm ra giải pháp tăngcường chất lượng cuộc sống của bệnh nhân sau chấn thương tủy sống, đánhgiá nhu cầu thực tế phục hồi chức năng của đối tượng này, cung cấp thêm thôngtin và góp phần mô tả bức tranh thực tế của bệnh nhân cũng như các nhà chuyênmôn để cải thiện chất lượng sống và đáp ứng nhu cầu phục hồi chức năng chonhóm đối tượng bệnh nhân chấn thương tủy sống ngày một gia tăng

Trang 29

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu

- Bệnh nhân chấn thương tủy sống đang điều trị tại trung tâm phục hồichức năng bệnh viện Bạch Mai trong vòng 2 tháng sau chấn thương

2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng nghiên cứu

- Bệnh nhân có thể hợp tác được với nhân viên y tế

2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ

- Bệnh nhân không đồng ý tham gia vào nghiên cứu

- Không mắc bệnh phối hợp khác: chấn thương sọ não, tai biến mạchmáu não, viêm tủy, u tủy …

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích

2.2.2 Cách chọn mẫu

Mẫu nghiên cứu được lựa theo phương pháp chọn mẫu thuận tiện:

n= 60 bệnh nhân

2.2.3 Thời gian nghiên cứu

- Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 03/2017 đến tháng 09/2017

2.2.4 Địa điểm nghiên cứu

- Bệnh viện Bạch Mai

2.2.5 Phương pháp thu thập thông tin

Công cụ thu thập số liệu

- Phiếu phỏng vấn dành cho người bệnh được thiết kế gồm 3 phần:

Trang 30

+ Phần I: Thông tin chung về người bệnh, gồm các thông tin: năm sinh,giới, dân tộc, nghề nghiệp, trình độ học vấn, nơi cư trú, ngày vào viện, ngàyphỏng vấn, khoa đang nằm điều trị, phân cấp chăm sóc (theo bệnh án), chẩnđoán của khoa (theo bệnh án), lần đột quỵ.

+ Phần II: Đánh giá mức độ nặng của tổn thương tủy sống ở người bệnhtại thời điểm nghiên cứu Sử dụng thang điểm đánh giá tổn thương tủy sốngcủa Hiệp hội tổn thương tủy sống của Hoa Kỳ (ASIA)

Phần III: Đánh giá nhu cầu cần chăm sóc điều dưỡng phục hồi chức năngcủa bệnh nhân theo 08 nhu cầu: chăm sóc da; chăm sóc ăn uống; chăm sócđường tiểu, bàng quang; chăm sóc hô hấp; chăm sóc phòng ngừa táo bón;chăm sóc phòng ngừa tắc mạch; chăm sóc tư thế đúng, chăm sóc luyện tập-vận động Nội dung phần này được thiết kế dựa trên các nhu cầu chăm sóc cơbản, nhiệm vụ chuyên môn của điều dưỡng và quy trình chăm sóc phục hồichức năng cho người bệnh tổn thương tủy sống và tham khảo bộ công cụtrong nghiên cứu của tác giả Hoàng Ngọc Thắm[5]

Công cụ thu thập số liệu SCIM

Sử dụng bộ câu hỏi đánh khả năng độc lập của bệnh nhân chấn thươngtủy sống (SCIM) đã được đưa vào quy trình của ngành và đang được sử dụngthường quy tại Trung tâm Phục hồi chức năng, bệnh viện Bạch Mai

Người điều tra là cán bộ y tế (học viên) được tập huấn sử dụng thànhthạo bộ công cụ SCIM

Cách tiến hành: Phỏng vấn người bệnh qua 16 câu hỏi liên quan đếnkhả năng độc lập Phỏng vấn người bệnh về các hoạt động sinh hoạt hàngngày củabệnh nhân theo 4 câu hỏi về các hoạt động tự chăm sóc: ăn uống (0-4điểm), vệ sinh tắm rửa thân trên và thân dưới (0-3 điểm), mặc quần - áo (0-3điểm),chăm sóc bản thân như vệ sinh vùng đầu mặt (0-4 điểm) Phỏng vấnbệnh nhân 4 câu hỏi liên quan đến rối loạn chức năng hô hấp, chức năng đạitiểu tiện: hô hấp chia 6 mức độ (0-10 điểm), rối loạn tiểu tiện chia làm 5 mức

độ (0-15 điểm), rối loạn chức năng đại tiên chia 3 mức (0-5-10 điểm), tự đi vệ

Trang 31

sinh được ngoài bồn cầu chia 6 mức (0-5 điểm) Phỏng vấn bệnh nhân về khảnăng di chuyển trong phòng và tại bồn cầu: khả năng di chuyển trên giường

để phòng ngừa loét do tỳ đè chia 7 mức độ từ (0-6 điểm), di chuyển từ giường

ra xe lăn và ngược lại chia 3 mức độ (0-2 điểm), di chuyển từ xe lăn ra bồncầu, bồn tắm và ngược lại chia làm 3 mức độ (0-2 điểm) Phỏng vấn bệnhnhân về khả năng di chuyển ở trong nhà và ngoài nhà: di chuyển trong nhàchia 9 mức độ từ (0-8 điểm), di chuyển với khoảng cách vừa phải 10-100 métđược chia làm 9 mức (0-8 điểm), di chuyển bên ngoài nhà (trên 100 mét)được chia làm 9 mức độ (từ 0-8 điểm), khả năng đi thang bộ chia làm 4 mức(0-3 điểm), di chuyển từ xe lăn vào ô tô (xe máy) và ngược lại được chia làm

4 mức độ (0-3 điểm).Điểm từ 0 đến 60 khả năng độc lập không tốt, điểm từ

61 đến 100 khả năng độc lập tốt

Phân loại mức độ độc lập của từng chức năng trong thang điểm SCIMChức năng sinh hoạt hàng ngày: 0-14 điểm là độc lập không tốt; 15-20điểm có khả năng độc lập tốt

Chức năng hô hấp và cơ trong: 0-25 điểm là kiểm soát chức năngkhông tốt, 26-40 điểm kiểm soát tốt

Chức năng di chuyển trong nhà và ra bồn cầu: 0-4 điểm là khả năng dichuyển độc lập kém, từ 5-10 điểm khả năng di chuyển độc lập tốt

Chức năng di chuyển trong nhà và di chuyển bên ngoài: 0-14 điểm làkhả năng di chuyển độc lập không tốt, từ 15-30 điểm di chuyển độc lập tốt

Tương ứng với mức độ độc lập càng thấp thì chất lượng sống của bệnh nhân càng kém

Công cụ thu thập số liệu mức độ đau VAS

Bộ công cụ đánh giá mức độ đau theo thang điểm nhìn VAS là bộ công cụđược sử dụng phổ biến nhất trên thế giới để đo lường mức độ đau của người bệnh

Bộ công cụ VAS được chứng minhcó độ tin cậy cao và đã được sử dụng trong rấtnhiều nghiên cứu cả trong và ngoài nước[2],[3],[19],[28],[35]

Trang 32

+ Cấu tạo thước VAS

Một mặt không số dành cho bệnh nhân biểuhiện tình trạng từ khôngđau đến đau tồi tệnhất Một mặt có số dành cho người nghiên cứuđọc gồm cácchữ số từ 0 đến 10 Thanh trượt có thể di chuyển để chọn mức độ đau

+ Cách đánh giá

Quay mặt không số của thước VAS về phíabệnh nhân; một đầu tươngứng với mức độkhông đau, một đầu tương ứng với mức độ đautồi tệ nhấtbệnh nhân có thể tưởng tượng được.BN sẽ so sánh mức độ đau của mình vàkéothanh trượt từ đầu không đau đến vị trí tương ứng với mức độ đau củamình trên băng trống.Điểm bệnh nhân đánh dấu sẽ tương ứng vớiđiểm đautrên mặt kia của thước do người đánhgiá đọc

Điểm đau VAS được phân loại mức độ theo Salley L Collens vàcộng sự [19]

+ VAS = 0 điểm: không đau

+ VAS ≤ 2 điểm: Đau nhẹ

+ VAS từ 3- 6 điểm:Đau trung bình

+ VAS ≥ 7 điểm: Đau nhiều

Tương ứng với mức độ đau càng nhiều thì chất lượng cuộc sống bị ảnh hưởng càng nhiều

2.3 Các tiêu chuẩn đánh giá

2.3.1 Chất lượng cuộc sống: là những cảm nhận của các cá nhân về cuộc

sống của họ trong bối cảnh văn hóa, các hệ thống giá trị mà họ đang sống vàliên quan đến các mục đích, nguyện vọng, tiêu chuẩn và các mối quan tâmcủa họ[56]

Trang 33

2.3.2 Thang điểm phân loại của Hiệp hội Tổn thương tủy sống Mỹ ( ASIA:

American Spinal Cord Injury Assocition) chia làm năm mức:

- ASIA A = hoàn toàn :không còn chức năng vận động, cảm giác tại vùngtủy cùng S4-S5

- ASIA B = Không hoàn toàn :Còn cảm giác nhưng mất chức năng vậnđộng dưới mức thần kinh tổn thương

- ASIA C = không hoàn toàn :còn chức năng vận động dưới mức thần kinhtổn thương và hơn một nửa số cơ chính dưới mức tổn thương có bậc cơ dưới 3

- ASIA D = không hoàn toàn: còn chức năng vận động dưới mức tổnthương thần kinh và ít nhất một nửa số cơ chính dưới mức tổn thương có bậc

cơ lớn hơn hoặc bằng 3

- ASIA E = Bình thường: Chức năng vận động, cảm giác bình thường.Tổn thương tủy hoàn toàn: ASIA A

Tổn thương tủy không hoàn toàn: ASIA B,C,D

Không có tổn thương tủy: ASIA E

2.3.3 Chuẩn nghèo, hộ cận nghèo [12]

- Hộ nghèo là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ chuẩnnghèo chính sách trở xuống; hoặc có thu nhập bình quân đầu người/tháng caohơn chuẩn nghèo chính sách nhưng thấp hơn chuẩn mức sống tối thiểu vàthiếu hụt từ 1/3 tổng số điểm thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trởlên Hộ cận nghèo là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng cao hơnchuẩn nghèo chính sách nhưng thấp hơn chuẩn mức sống tối thiểu và thiếuhụt dưới 1/3 tổng số điểm thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên.Khi đã xác định được nghèo/cận nghèo còn lại sẽ là khá giả/đủ ăn

+ Dựa vào quyết định số 09/2011/QĐ – TTg của Thủ tướng chính phủ vềchuẩn hộ nghèo, cận nghèo gồm:

+ Hộ nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000đồng/người/tháng (từ 4.800.000 đồng/người/năm) trở xuống

+ Hộ nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 500.000đồng/người/tháng (từ 6.000.000 đồng/người/năm) trở xuống

Trang 34

+ Hộ cận nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ401.000 đồng đến 520.000 đồng/người/tháng.

+ Hộ cận nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 501.000đồng đến 650.000 đồng/người/tháng

2.4 Xác định chỉ số, biến số nghiên cứu

2.4.1 Biến số về đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

- Bao gồm các biến số đó là: giới tính, tuổi, tình trạng hôn nhân, trình độ

học vấn, nghề nghiệp, điều kiện kinh tế, mức độ tổn thương theo ASIA, vị trí tổn

thương, nguyên nhân, thời gian bị bệnh.(chi tiết xin xem trong phần phụ lục 3)

2.4.2 Biến số về khả năng độc lập của bệnh nhân chấn thương tủy sống (SCIM)

- Bao gồm các biến số đó là: ăn, tắm, mặc quần áo, vệ sinh vùng đầumặt, hô hấp, cơ thắt bàng quang, cơ thắt hậu môn, đi vệ sinh, di chuyển trêngiường và hoạt động để tránh loét tì đè, dịch chuyển từ giường ra xe lăn vàngược lại, dịch chuyển từ xe lăn ra bồn cầu, bồn tắm, di chuyển trong nhà, dichuyển khoảng cách vừa phải, di chuyển bên ngoài (hơn 100m), đi thang bộ,

dịch chuyển từ xe lăn ra xe hơi/xe máy.(chi tiết xin xem trong phần phụ lục)

2.4.3 Các biến số về mức độ đau theo thang điểm nhìn VAS

- Bao gồm các biến số đó là: không đau, đau nhẹ, đau trung bình, đau

rất nhiều (chi tiết xin xem trong phần phụ lục)

2.4.4 Biến số về yếu tố ảnh hưởng giữa chất lượng cuộc sống với yếu tố cá nhân, xã hội và dịch vụ y tế

- Bao gồm các biến số đó là: mức tổn thương theo ASIA, vị trí tổnthương, điều kiện kinh tế, tình trạng hôn nhân, phương pháp điều trị, thời gianđiều trị, cơ sở vật chất của bệnh viện, trình độ học vấn, sự hài lòng với thái độ

của cán bộ y tế.(chi tiết xin xem trong phần phụ lục)

2.4.5 Biến số về nhu cầu về chăm sóc của người bệnh tổn thương tủy sống

- Bao gồm các biến số đó là: Mức độ nặng của tổn thương tủy sống theo

thang điểm ASIA, nhu cầu chăm sóc da, nhu cầu chăm sóc ăn uống, nhu cầu

Trang 35

chăm sóc đường tiểu, bàng quang, nhu cầu chăm sóc hô hấp, nhu cầu chămsóc phòng ngừa táo bón, nhu cầu chăm sóc phòng ngừa tắc mạch, nhu cầu

chăm sóc tư thế đúng, nhu cầu tập luyện phục hồi chức năng (chi tiết xin xem trong phân phụ lục)

2.5 Phân tích số liệu

2.5.1 Xử lý số liệu nghiên cứu định lượng

- Số liệu sau khi thu thập, được làm sạch, mã hóa, nhập vào máy tínhbằng phần mềm Excel 2007 và phân tích bằng phần mềm thống kê Stata 11.0

- Áp dụng các phương pháp phân tích mô tả: tính tỷ lệ phần trăm, giá trịtrung bình, độ lệch chuẩn

- Tính tỷ suất chênh OR để xác định mối liên quan giữa biến độc lập vàbiến phụ thuộc, có ý nghĩa thống kê khi 95%CI không chứa 1, giá trị P< 0,05,

2.5 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu

- Nội dung nghiên cứu phù hợp, được lãnh đạo Trung tâm quan tâm, ủng hộ

- Nghiên cứu được dựa trên ba nguyên tắc cơ bản của đạo đức đó là tôntrọng, không gây hại và tạo sự công bằng cho tất cả bệnh nhân Các bệnh nhânhoặc gia đình được giải thích rõ về mục đích, nắm được trách nhiệm và quyềnlợi của mình, tự nguyện ký vào bản chấp nhận tham gia nghiên cứu và có quyềnrút khỏi nghiên cứu bất cứ khi nào Bệnh nhân được theo dõi, tư vấn dự phòng

và điều trị chuyên khoa sau khi kết thúc nghiên cứu Các thông tin thu thập từbệnh nhân, từ bệnh án chỉ nhằm mục đích phục vụ nghiên cứu khoa học Cácthông tin về bệnh tật của bệnh nhân được cung cấp cho việc theo dõi, dự phòng

và điều trị lâu dài cho bản thân bệnh nhân

- Kết quả sẽ được phản hồi lại tới lãnh đạo Trung tâm cũng như các đốitượng tham gia nghiên cứu sau khi nghiên cứu kết thúc

2.6 Hạn chế của nghiên cứu và cách khắc phục

2.6.1 Hạn chế của nghiên cứu

Việc thu thập thông tin dựa trên bảng câu hỏi có sẵn và tự điền nên đốitượng tham gia nghiên cứu có thể gặp sai số do thái độ hợp tác của đối tượngnghiên cứu

Trang 37

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Thông tin chung của bệnh nhân

Bảng 3.1 Phân bố bệnh nhân theo nhóm tuổi.

(%)

Tuổi trung bình (năm)

Nghề nghiệp trước đây

Điều kiện kinh tế

Thời gian bị bệnh (tuần) Trung bình ± SD 8,2 ± 2,3

Trong bảng 3.1 và bảng 3.2 ta thấy tuổi trung bình của nhóm BNnghiên cứu là 40,3 ± 13,8tuổi, nhóm tuổi dưới 60 chiếm 93,3%, thời gian bịbệnh trung bình là 8,2± 2,3 tuần; nam giới cao gấp 2 lần nữ Hầu hết đối tượngđều đã có gia đình chiếm 95% Phần lớn đối tượng nghiên cứu có trình độ họcvấn từ trung học phổ thông trở xuống (55%) Nghề nghiệp trước khi bị bệnh cótới 56,8% đối tượng là lao động chân tay, nông dân và công nhân Tỷ lệ đốitượng có điều kiện kinh tế gia đình ở mức nghèo hoặc cận nghèo là 25%

Trang 38

3.2 Một số đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân

Bảng 3.3 Phân bố bệnh nhân theo mức độ tổn thương

(n=60)

Tỷ lệ

%

Liệt Liệt tủy không hoàn toàn (ASIA – B_D) 40 66,7

Liệt tủy hoàn toàn ASIA –A chiếm 1/3 (33,3%) số BN trong nhóm nghiên cứu

Bảng 3.4 Phân bố bệnh nhân theo vị trí tổn thương

Trong nhóm bệnh nhân nghiên cứu, liệt tứ chi (Từ D1 trở lên)do chấn thương tủy sống cao chiếm tỷ lệ không nhỏ 38,3%

Bảng 3.5 Phân bố bệnh nhân theo nguyên nhân chấn thương

Trong số các nguyên nhân gây CTTS, tai nạn giao thông luôn chiếm tỷ

lệ cao trên 50%, tiếp đến là tai nạn lao động và tai nạn sinh hoạt lần lượt23,4% và 18,4%

3.3 Chất lượng sống của bệnh nhân chấn thương tủy sống

3.3.1.Chất lượng sống của bệnh nhân chấn thương tủy sống theo bảng đánh giá mức độ độc lập SCIM

Bảng 3.6 Phân bố bệnh nhân theo khả năng tự chăm sóc bản thân

Trang 39

Chức năng chăm sóc bản thân Trung bình ± SD Điểm tối đa

Bảng 3.7 Phân bố bệnh nhân theo chức năng hô hấp và cơ tròn

Chức năng cơ thắt bàng quang (khả

Chức năng cơ thắt hậu môn (khả năng

Bảng 3.8 Phân bố bệnh nhân theo khả năng di chuyển trong phòng và ra

bồn cầu Khả năng di chuyển trong phòng,

Khả năng di chuyển trên giường và

các hoạt động để tránh loét tỳ đè 4,0 ± 1,2 6

Khả năng dịch chuyển từ giường ra

Trang 40

Khả năng di chuyển trong phòng,

Khả năng dịch chuyển từ xe lăn ra

Tổng điểm về khả năng di chuyển trong nhà và di chuyển vào bồn cầu

là 6,1 ± 2,8 điểm so với điểm tối đa là 10 điểm; khả năng di chuyển trêngiường và các hoạt động phòng chống loét là tốt nhất với 4,0 ± 1,2điểm vàkhả năng di chuyển vào bồn cầu, bồn tắm là kém nhất với 1,0 ± 0,3 điểm

Bảng 3.9 Phân bố bệnh nhân theo khả năng di chuyển trong nhà và bên

ngoài Khả năng di chuyển trong nhà

Khả năng dịch chuyển với khoảng

Khả năng dịch chuyển bên ngoài nhà

Khả năng dịch chuyển từ xe lăn –xe ô

Khả năng di chuyển bên ngoài của bệnh nhân trong nhóm nghiên cứu làchức năng yếu nhất trong thang điểm SCIM với chỉ 6,2 ± 4,4 điểm so vớiđiểm tối đa 30 điểm Các khả năng di chuyển phục vụ cho các hoạt động bênngoài của bệnh nhân là chưa tốt

3.3.2 Chất lượng sống của bệnh nhân chấn thương tủy sống theo bảng đánh giá mức độ đau VAS

Bảng 3.10 Phân bố mức độ đau của bệnh nhân theo thang điểm VAS

Ngày đăng: 17/07/2019, 21:14

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Cao Minh Châu (1995), Phục hồi chức năng cho bệnh nhân tổn thương tủy sống, Vật lý trị liệu phục hồi chức năng, Hội phục hồi chức năng Việt Nam, Chương V, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội. Tr. 407-435 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phục hồi chức năng cho bệnh nhân tổnthương tủy sống
Tác giả: Cao Minh Châu
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 1995
2. Nguyễn Văn Chương (2006), “Các hội chứng rối loạn cảm giác”, Thực hành lâm sàng thần kinh học Tập 2, NXBYH, tr: 196-204 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các hội chứng rối loạn cảm giác”,"Thực hành lâm sàng thần kinh học
Tác giả: Nguyễn Văn Chương
Nhà XB: NXBYH
Năm: 2006
3. Nguyễn Văn Chương (2006), “Đau thần kinh”, Thực hành lâm sàng thần kinh học Tập 2, NXBYH, tr: 223-230 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đau thần kinh”, "Thực hành lâm sàngthần kinh học
Tác giả: Nguyễn Văn Chương
Nhà XB: NXBYH
Năm: 2006
4. Guy Lazorthes (1981), Hệ thần kinh trung ương, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội.(người dịch: Nguyễn Chương) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thần kinh trung ương
Tác giả: Guy Lazorthes
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 1981
5. Hồ Nguyên Hải (2005), Nghiên cứu kết quả điều trị phẫu thuật cấp cứu chấn thương ngực – thắt lưng không và tổn thương thần kinh không hoàn toàn tại Bệnh viện Việt Đức, Luận văn tốt nghiệp Bác sĩ chuyên khoa II, Đại học Y Hà Nội. 86tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu kết quả điều trị phẫu thuật cấpcứu chấn thương ngực – thắt lưng không và tổn thương thần kinhkhông hoàn toàn tại Bệnh viện Việt Đức
Tác giả: Hồ Nguyên Hải
Năm: 2005
6. Lương Tuấn Khanh (1998), Đánh giá sự tiến triển ở bệnh nhân liệt hai chi dưới do chấn thương tủy sống kín Frankel, Luận văn tốt nghiệp Bác sĩ nội trú, Trường Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá sự tiến triển ở bệnh nhân liệthai chi dưới do chấn thương tủy sống kín Frankel
Tác giả: Lương Tuấn Khanh
Năm: 1998
7. Nguyễn Thị Sinh (2012) Nghiên cứu hiệu quả phục hồi chức năng hô hấp cho bệnh nhân chấn thương cột sống có liệt tuỷ bằng phương pháp tập thở tự điều khiển; Luận văn tốt nghiệp tiến sỹ y khoa, Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu hiệu quả phục hồi chức năng hôhấp cho bệnh nhân chấn thương cột sống có liệt tuỷ bằng phươngpháp tập thở tự điều khiển

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w