1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

THỰC TRẠNG THIẾU máu DINH DƯỠNG ở PHỤ nữ 20 35 TUỔI tại 3 xã của HUYỆN yên MINH, hà GIANG năm 2018 và một số yếu tố LIÊN QUAN

77 159 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 343,94 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

HÀ NỘI - 2018DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂUBảng 1: Một số thông tin đặc trưng của ĐTNC Bảng 2: Tuổi TB của đối tượng nghiên cứu Bảng 3: Tình trạng dinh dưỡng của ĐTNC Bang 4: Tình trạng thiếu m

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG

-VŨ THỊ THANH THỦY

THỰC TRẠNG THIẾU MÁU DINH DƯỠNG

Ở PHỤ NỮ 20-35 TUỔI TẠI 3 XÃ CỦA

HUYỆN YÊN MINH, HÀ GIANG NĂM 2018

VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN

LUẬN VĂN THẠC SỸ Y TẾ CÔNG CỘNG

Trang 2

THỰC TRẠNG THIẾU MÁU DINH DƯỠNG

Ở PHỤ NỮ 20-35 TUỔI TẠI 3 XÃ CỦA

HUYỆN YÊN MINH, HÀ GIANG NĂM 2018

VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN

Mã số: 60720301

LUẬN VĂN THẠC SỸ Y TẾ CÔNG CỘNG

Người hướng dẫn PGS.TS Phạm Duy Tường

Trang 3

HÀ NỘI - 2018DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU

Bảng 1: Một số thông tin đặc trưng của ĐTNC

Bảng 2: Tuổi TB của đối tượng nghiên cứu

Bảng 3: Tình trạng dinh dưỡng của ĐTNC

Bang 4: Tình trạng thiếu máu của ĐTNC

Trang 4

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

KST Ký sinh trùng

LTTP Lương thực thực phẩm

PNTSĐ Phụ nữ tuổi sinh đẻ

YNSKCĐ Ý nghĩa sức khỏe cộng đồng

BMI Chỉ số khối cơ thể CED Chronic Energy Deficiency ( Thiếu

năng lượng trường diễn)

Hb Hemoglobin

KAP Knowledge Attiude Practice (Kiến

thức, thái độ, thực hành)KPC Knowledge Practice Coverage ( Kiến

thức, thực hành và độ bao phủ)UNICEF United Nations Children's Fund

WHO World Health Organization

Trang 5

MỤC LỤC

ĐẶT VẤN ĐỀ 2

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 4

1.1 Thiếu máu dinh dưỡng ở phụ nữ tuổi sinh đẻ 4

1.1.1 Khái niệm và phương pháp đánh giá tình trạng thiếu máu dinh dưỡng 4

1.1.2 Nguyên nhân và hậu quả của thiếu máu dinh dưỡng 5

1.2 Tình hình thiếu máu dinh dưỡng của PNTSĐ trên thế giới và Việt Nam 7

1.2.1 Tình hình thiếu máu dinh dưỡng của PNTSĐ trên thế giới 7

1.2.2 Tình hình thiếu máu dinh dưỡng của PNTSĐ ở Việt Nam 10

1.3 Các yếu tố liên quan đến tình trạng thiếu máu ở phụ nữ tuổi sinh đẻ 13

1.4 Vai trò và chuyển hoá sắt trong cơ thể 15

1.4.1 Vai trò của sắt trong cơ thể 15

1.4.2 Chuyển hoá sắt trong cơ thể 16

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19

2.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu 19

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 19

2.1.2 Địa điểm nghiên cứu 19

2.2 Phương pháp nghiên cứu 19

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu 19

2.2.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu: 19

2.2.3 Kỹ thuật áp dụng và chỉ tiêu đánh giá 20

2.3 Biến số và chỉ số nghiên cứu 22

2.4 Xử lý và phân tích số liệu 23

2.5 Các biện pháp khống chế sai số 24

2.6 Vấn đề đạo đức nghiên cứu 24

Trang 6

2.7 Hạn chế của đề tài 24

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ 25

3.1 Một số thông tin chung 25

3.2 Tình trạng dinh dưỡng và thiếu máu của phụ nữ tuổi sinh đẻ 28

3.3 Kiến thức, thực hành về phòng chống thiếu máu dinh dưỡng của phụ nữ tuổi sinh đẻ 31

3.4 Các yếu tố liên quan đến thiêu máu ở đối tượng nghiên cứu 36

CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 39

4.1 Mô tả thực trạng thiếu máu dinh dưỡng ở phụ nữ 20-35 tuổi tại 3 xã, huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang năm 2018 39

4.2 Phân tích một số yếu tố liên quan đến thiếu máu dinh dưỡng ở phụ nữ 20-35 tuổi tại 3 xã, huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang năm 2018 41

KẾT LUẬN 47 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Phân bố sắt trong cơ thể người trưởng thành 15

Bảng 3.1: Số lượng đối tượng nghiên cứu theo từng xã 24

Bảng 3.2: Dân tộc của đối tượng nghiên cứu 25

Bảng 3.3: Trình độ học vấn của đối tượng nghiên cứu 25

Bảng 3.4: Nghề nghiệp của đối tượng nghiên cứu 26

Bảng 3.5: Phân loại kinh tế hộ gia đình của đối tượng nghiên cứu 26

Bảng 3.6: Tình trạng dinh dưỡng và mức Hb trung bìnhcủa phụ nữ 20-35 tuổi27 Bảng 3.7: Mức tiêu thụ lương thực thực phẩm của đối tượng nghiên cứu tại thời điểm T0 28

Bảng 3.8: Cân đối khẩu phần của đối tượng nghiên cứu 29

Bảng 3.9: Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu biết về nguyên nhân gây thiếu máu 30

Bảng 3.10: Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu biết về đối tượng có nguy cơ thiếu máu cao 31

Bảng 3.11: Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu biết về hậu quả của thiếu máu 31

Bảng 3.12: Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu biết về cách phòng chống thiếu máu 32

Bảng 3.13: Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu biết về thực phẩm giàu sắt 32

Bảng 3.14: Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu biết về thực phẩm làm giảm hấp thu sắt 33

Bảng 3.15: Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu biết về thực phẩm tăng cường hấp thu sắt 33

Bảng 3.16: Thực hành phòng chống thiếu máu dinh dưỡng của đối tượng nghiên cứu 34 Bảng 3.17: Điểm trung bình kiến thức, thực hành và kiến thức, thực hành tốt về phòng chống TMDD của đối tượng nghiên cứu 34

Bảng 3.18: Mối liên quan giữa học vấn với tình trạng thiếu máu của đối tượng nghiên cứu 35

Bảng 3.19: Mối liên quan giữa thực hành phòng chống thiếu máu với tình trạng thiếu máu của đối tượng nghiên cứu 35

Bảng 3.20: Mối liên quan giữa tình trạng dinh dưỡng với tình trạng thiếu máu của đối tượng nghiên cứu 36

Bảng 3.21: Mối liên quan giữa đáp ứng nhu cầu năng lượng khẩu phần với tình trạng thiếu máu của đối tượng nghiên cứu 36

Bảng 3.22: Mối liên quan giữa đáp ứng nhu cầu sắt khẩu phần với tình trạng thiếu máu của đối tượng nghiên cứu 37

Bảng 3.23: Mối liên quan giữa đáp ứng nhu cầu Preotein với tình trạng thiếu máu của đối tượng nghiên cứu 37

Trang 8

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 3.1: Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu theo nhóm tuỏi 24Biểu đồ 3.2: Tỷ lệ thiếu máu của đối tượng nghiên cứu 27Biểu đồ 3.3: tỷ lệ thiêu máu của phụ nữ tuổi sinh đẻ theo dân tộc 28

Trang 9

ĐẶT VẤN ĐỀ

Thiếu máu thiếu sắt là một vấn đề có ý nghĩa sức khoẻ cộng đồng trênthế giới [70] Theo ước tính của WHO năm 2014, tỷ lệ thiếu máu giảmkhoảng 12% từ năm 1995 đến năm 2011 ( 33% xuống 29%) ở phụ nữ tuổisinh đẻ và từ 43% xuống 38% ở phụ nữ mang thai [43] Thiếu máu ảnh hưởngđến 1/3 dân số thế giới và hơn 80 triệu trẻ em và phụ nữ Thiếu máu gây hậuquả đối với sức khỏe cũng như phát triển kinh tế xã hội ở các nước có thunhập thấp và trung bình [42], [62]

Các đối tượng có nhiều nguy cơ thiếu máu do thiếu sắt được xếp thứ tự:phụ nữ có thai, trẻ em trước tuổi đi học, trẻ có cân nặng sơ sinh thấp, phụ nữtuổi sinh đẻ, người cao tuổi, trẻ em tuổi học đường và nam trưởng thành [70] Các nguyên nhân chính của thiếu máu thiếu sắt là: 1-Nguồn cung cấp sắtthấp, chủ yếu có từ bữa ăn chủ yếu là ngũ cốc (80-85%), đây là nguồn cungcấp sắt có giá trị sinh học thấp 2- Không đáp ứng đủ nhu cầu sắt do nhu cầusắt tăng lên (nhất là những giai đoạn phát triển nhanh như thời kỳ có thai, trẻ

em dưới 2 tuổi) 3- Mất sắt do nhiễm ký sinh trùng và nhiễm trùng, đặc biệt lànhiễm giun móc

Hậu quả của thiếu máu dinh dưỡng do thiếu sắt khá trầm trọng Thiếumáu ở trẻ em dễ dẫn tới nguy cơ chậm phát triển về nhận thức, ảnh hưởng đếnkết quả học tập, tăng nhạy cảm với các bệnh nhiễm trùng Ở phụ nữ tuổi sinh

đẻ, thiếu máu dẫn tới mệt mỏi, giảm khả năng lao động và nhất là trong thời

kỳ có thai dễ xảy ra các tai biến như sảy thai, đẻ non, đẻ con thấp cân, bănghuyết, dễ dẫn đến tử vong cả mẹ và con [44] Mẹ bị thiếu máu trong khi mangthai cũng làm giảm dự trữ sắt của thai nhi và của trẻ trong năm đầu tiên saukhi được sinh ra [50]

Nhằm thanh toán bệnh thiếu máu do thiếu sắt, một số biện pháp sau đây

đã được khuyến nghị [11]:

Trang 10

- Đa dạng hoá bữa ăn góp phần cung cấp các vi chất khác nhau cho cơ thể.

- Tăng cường sắt vào thực phẩm

- Bổ sung sắt cho các đối tượng có nguy cơ thiếu máu cao (phụ nữ cóthai, phụ nữ tuổi sinh đẻ)

- Các giải pháp y tế cộng đồng

Thiếu máu dinh dưỡng là vấn đề sức khỏe cộng đồng quan trọng hàngđầu tại Việt Nam hiện nay Thiếu máu gây giảm phát triển thể lực, giảm khảnăng đáp ứng miễn dịch, làm tăng tỷ lệ mắc các bệnh nhiễm trùng, làm tăng

tỷ lệ sảy thai, cũng như giảm khả năng lao động trên người trưởng thành.Trong chiến lược Quốc gia về dinh dưỡng giai đoạn 2011-2020 đã đưa ragiải pháp chiến lược về phòng chống thiếu vi chất dinh dưỡng trong đó cóphòng chống thiếu máu thiếu sắt là: Mở rộng bổ sung sắt/acid folic theohướng dự phòng cho phụ nữ 15-35 tuổi , phụ nữ có thai và cho con bú Hướngdẫn và giáo dục cộng đồng chủ động tiếp cận các nguồn viên sắt/acid folickhác nhau trên thị trường Mục tiêu là Tỷ lệ thiếu máu ở phụ nữ có thai giảmcòn 28% vào năm 2015 và 23% năm 2020 [16]

Mục tiêu nghiên cứu:

1 Mô tả thực trạng thiếu máu dinh dưỡng ở phụ nữ 20-35 tuổi tại 3 xã, huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang năm 2018.

2 Phân tích một số yếu tố liên quan đến thiếu máu dinh dưỡng ở phụ nữ 20-35 tuổi tại 3 xã, huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang năm 2018.

Trang 11

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN

1.1 Thiếu máu dinh dưỡng ở phụ nữ tuổi sinh đẻ

1.1.1 Khái niệm và phương pháp đánh giá tình trạng thiếu máu dinh dưỡng

1.1.1.1 Một số khái niệm về thiếu máu dinh dưỡng

số lượng hồng cầu trong máu ngoại vi dẫn đến thiếu oxy cung cấp cho các mô

tế bào trong cơ thể, trong đó giảm huyết sắc tố có ý nghĩa quan trọng nhất.WHO đã định nghĩa thiếu máu xẩy ra khi mức độ huyết sắc tố lưu hành củamột người nào đó thấp hơn mức độ của một người khoẻ mạnh cùng giới, cùngtuổi, cùng một môi trường sống Bởi vậy, thực chất thiếu máu là sự thiếu hụtlượng huyết sắc tố trong máu lưu hành

lượng Hemoglobin (Hb) trong máu xuống thấp hơn bình thường do thiếu mộthay nhiều chất dinh dưỡng cần thiết cho quá trình tạo máu, bất kể do nguyên

nhân gì [25]

trạng sắt được dự trữ đầy đủ để đạt được nhu cầu kể cả khi nhu cầu sắt tăngcao như khi có thai [32]

- Tình trạng sắt cạn kiệt: Tình trạng sắt cạn kiệt xảy ra khi sắt dự

trữ trong cơ thể không còn được biểu hiện bằng nồng độ Ferritin huyết thanhthấp hơn 15µg/L đối với phụ nữ tuổi sinh đẻ [32]

- Tình trạng thiếu sắt: Là tình trạng thiếu hụt dự trữ sắt trong cơ

thể, có thể biểu hiện thiếu máu hoặc chưa có biểu hiện thiếu máu Thiếu sắtthường là kết quả của thiếu sắt có giá trị sinh học cao từ khẩu phần, tăng nhucầu sắt trong những giai đoạn cơ thể phát triển nhanh (có thai, trẻ em),

Trang 12

và/hoặc tăng mất máu như bị chảy máu đường tiêu hóa do giun móc hayđường tiết niệu do nhiễm sán máng [25]

- Thiếu máu do thiếu sắt: Thiếu máu do thiếu sắt là tình trạng xảy

ra khi hồng cầu bị giảm cả về số lượng và chất lượng do thiếu sắt [38]

- Tình trạng quá tải sắt: Tình trạng quá tải sắt là khi dự trữ sắt

cao gấp nhiều lần so với bình thường và sắt lắng đọng quá nhiều đã dẫn đếnphá hủy các nhu mô [31] Ở phụ nữ tuổi sinh đẻ, tình trạng quá tải sắt xảy rakhi nồng độ Ferritin huyết thanh ≥ 150µg/L

1.1.1.2 Phương pháp đánh giá tình trạng thiếu máu dinh dưỡng

WHO cũng đã đưa ra mức phân loại thiếu máu để nhận định ý nghĩa sứckhoẻ cộng đồng dựa trên tỷ lệ lệ thiếu máu được xác định từ mức hemoglobinnhư sau [69] :

 Bình thường Tỷ lệ thiếu máu < 5%

 Thiếu máu nhẹ Tỷ lệ thiếu máu từ 5-19,9%

 Thiếu máu trung bình Tỷ lệ thiếu máu từ 20-39,9%

 Thiếu máu nặng Tỷ lệ thiếu máu ≥ 40%

1.1.2 Nguyên nhân và hậu quả của thiếu máu dinh dưỡng

1.1.2.1 Nguyên nhân của thiếu máu dinh dưỡng

Chế độ ăn không đủ sắt

Trang 13

Nguyên nhân thường gặp nhất là do lượng sắt cung cấp từ bữa ăn không

đủ nhu cầu hàng ngày

Lượng sắt trong bữa ăn thực tế hiện nay của người Việt Nam chỉ đạt 50% nhu cầu, nhất là ở các vùng nông thôn Bên cạnh đó, lượng sắt từ khẩuphần chỉ được hấp thu từ 1-10% do chế độ ăn ít thức ăn động vật, nhiều chấtcản trở hấp thu sắt Chính vì vậy để có được 2,5mg sắt/người/ngày thì cầnphải có 24 mg sắt/người/ngày từ khẩu phần hàng ngày

30-Có hai loại sắt trong thực phẩm là sắt hem và sắt không hem Hai loại sắtnày có cơ chế hấp thu khác nhau Sắt không hem chứa chủ yếu là muối sắt cónhiều trong thực phẩm nguồn gốc thực vật, sản phẩm của sữa, thực phẩm bổsung sắt không hem và chiếm phần lớn lượng sắt khẩu phần, thường trên85% Sắt hem có chủ yếu từ hemoglobin và myoglobin có trong thực phẩmnguồn gốc động vật như thịt các loại, đặc biệt là thịt có màu đỏ thẫm Mặc dùsắt hem chiếm tỷ lệ thấp trong khẩu phần nhưng tỷ lệ hấp thu lại cao hơn sắtkhông hem từ 2-3 lần và hấp thu sắt hem ít bị ảnh hưởng bởi các yếu tố ứcchế hay cạnh tranh trong khẩu phần [46]

Cơ thể kém hấp thu các chất dinh dưỡng

Bản thân cơ thể kém hấp thu các chất dinh dưỡng trong đó có chất sắtnhư khi bị rối loạn tiêu hóa, mắc các bệnh về đường ruột Sử dụng các thựcphẩm gây hạn chế hấp thu sắt như chè xanh (có nhiều chất tanin), ổi xanh,hồng xiêm xanh, cafe cũng ảnh hưởng đến hấp thu sắt

Nhu cầu sắt của cơ thể tăng cao

Trong những giai đoạn phát triển đặc biệt như trẻ em trong thời kỳ tăngtrưởng, phụ nữ mang thai có nhu cầu rất lớn về sắt nên dù có chế độ ăn uốngtốt cũng không thể cung cấp đủ chất sắt so với nhu cầu Bên cạnh đó, phụ nữtuổi sinh đẻ bị mất sắt hàng tháng do kinh nguyệt cũng cần bổ sung sắt

Mắc các bệnh nhiễm khuẩn, nhiễm ký sinh trùng

Trang 14

Khi bị mắc bệnh nhiễm khuẩn thường gây kém hấp thu Nhiễm giun đặcbiệt là nhiễm giun móc thường gây mất máu nên dễ bị thiếu máu thiếu sắt [57].

1.1.2.2 Hậu quả của thiếu máu dinh dưỡng

Ảnh hưởng tới khả năng lao động

Thiếu máu gây nên tình trạng thiếu ô xy ở các tổ chức, đặc biệt ở não, ởtim và ảnh hưởng đến hoạt động của các cơ do đó làm giảm khả năng laođộng ở những người bị thiếu máu Khi tình trạng thiếu máu được cải thiện thìnăng suất lao động cũng tăng theo [9]

Ảnh hưởng tới năng lực trí tuệ

Người bị thiếu máu thường dễ bị mất ngủ, mệt mỏi, kém tập trung, dễ bịkích thích, khi già dễ bị mắc bệnh mất trí nhớ

Ảnh hưởng tới thai sản

Phụ nữ bị thiếu máu khi có thai dễ bị đẻ non, tăng tỷ lệ mắc bệnh và tửvong của mẹ và con khi sinh nở, dễ bị chảy máu và bị mắc các bệnh nhiễmtrùng ở thời kỳ hậu sản Vì vậy người ta coi thiếu máu dinh dưỡng trong thời

kỳ mang thai là một đe dọa sản khoa [5], [67]

Giảm sức đề kháng của cơ thể

Phụ nữ bị thiếu máu dinh dưỡng dễ bị ốm, dễ bị mắc các bệnh nhiễm trùng

1.2 Tình hình thiếu máu dinh dưỡng của PNTSĐ trên thế giới và Việt Nam

1.2.1 Tình hình thiếu máu dinh dưỡng của PNTSĐ trên thế giới

Theo báo cáo của WHO dựa trên số liệu của các cuộc điều tra quốc giahoặc hai cuộc điều tra đại diện cho quốc gia từ năm 1993 đến năm 2005 chothấy, tỷ lệ thiếu máu của phụ nữ có thai là 41,8% và tỷ lệ thiếu máu ở phụ nữtuổi sinh đẻ là 30,2% (ảnh hưởng đến 468,4 triệu người) Trên thế giới có 818triệu phụ nữ và trẻ em bị thiếu máu và hơn một nửa (520 triệu người) sống ởchâu Á Tỷ lệ thiếu máu cao nhất là ở châu Phi Tỷ lệ này ở phụ nữ có thai là56,1% và phụ nữ tuổi sinh đẻ là 68,0% Nhưng châu Á là nơi có nhiều người

Trang 15

bị thiếu máu nhất (182 triệu người) Các quốc gia có vấn đề sức khỏe cộngđồng về thiếu máu tập trung ở châu Phi, châu Á, châu Mỹ La Tinh và Caribe.Châu Phi và châu Á là nơi bị ảnh hưởng nhiều nhất vì đây là khu vực nghèonhất nên có thể có mối liên quan giữa thiếu máu và phát triển kinh tế xã hội.

Tỷ lệ thiếu máu ở châu Âu cao gấp 3 lần Bắc Mỹ Điều này có thể là do sốliệu của châu Âu mang tính đại diện thấp hơn Bắc Mỹ hoặc do ở bắc Mỹ thựcphẩm được bổ sung sắt được sử dụng nhiều hơn so với ở châu Âu [53] Meda

N và cộng sự nghiên cứu trên 251 phụ nữ tuổi sinh đẻ ở Burkina Faso năm

1996 cho thấy tỷ lệ thiếu máu là 58,6% Trong đó, tỷ lệ này ở phụ nữ có thai

do dinh dưỡng (nhiễm trùng) và thường xảy ra đồng thời Một trong những yếu

tố đóng góp chính vào tình trạng thiếu máu là do thiếu sắt và thiếu máu thiếusắt là một trong 10 bệnh đóng góp vào gánh nặng bệnh tật trên thế giới [40] Cũng theo báo cáo của WHO về tình trạng thiếu máu trên toàn cầu chothấy, tỷ lệ thiếu máu cao nhất ở khu vực Đông Nam Á (41,5%) ảnh hưởngđến 190,6 triệu người, tiếp đến là khu vực châu Phi và Đông Địa Trung Hải(37,8 và 37,7%) và ảnh hưởng đến 69,9 và 52,2 triệu người Khu vực Châu

Trang 16

ở mức không có ý nghĩa sức khỏe cộng đồng Có nghĩa là tỷ lệ thiếu máu củanhóm đối tượng này thấp hơn 5% theo phân loại của WHO Ở phụ nữ tuổisinh đẻ, thiếu máu nặng và vừa về ý nghĩa sức khoẻ cộng đồng ảnh hưởng đến69% quốc gia Tỷ lệ thiếu máu ở các nước Đông Nam Á đều ở mức nặng về ýnghĩa sức khỏe cộng đồng trừ Đông Ti Mo là ở mức trung bình về ý nghĩa sứckhỏe cộng đồng (31,5%) [72]

Văn phòng khu vực Đông Nam Á của WHO thống kê tỷ lệ thiếu máunăm 2007 cho thấy tình trạng thiếu máu ở phụ nữ các nước Nam Á cao hơn sovới các khu vực khác Ở Ấn Độ, tỷ lệ thiếu máu ở phụ nữ có thai là 88% [70] Một nghiên cứu khác Joel Monárrez và cộng sự thực hiện trên 481 phụ

nữ 12-49 tuổi ở miền Bắc Mexico cho thấy tỷ lệ thiếu máu ở phụ nữ có thai là25,7% và tỷ lệ này ở phụ nữ tuổi sinh đẻ là 16,1% Trong khi đó điều tra toànquốc của nước này năm 1999 trên 17.194 phụ nữ cho thấy tỷ lệ thiếu máu ởphụ nữ có thai và phụ nữ tuổi sinh đẻ đều cao hơn so với kết quả nghiên cứucủa Joel Monárrez (27,8% và 20,8%) [47]

Asia Taha và Saira Azhar đã thực hiện nghiên cứu trên phụ nữ 19-33tuổi tại Saudi Arabia Kết quả nghiên cứu cho thấy, 54,8% đối tượng có nồng

độ hemoglobin thấp hơn bình thường [28]

Ashish Bansal, Anil Kumar Sharma và cộng sự (2016) tiến hành nghiêncứu trên phụ nữ tuối sinh đẻ 20-25 tuổi đến khám ở bệnh viên chăm sóc banngày tại Ấn Độ cho thấy 43% phụ nữ bị thiếu máu mức độ vừa Trong số đó,72% bị thiếu máu nhược sắc hồng cầu nhỏ do thiếu sắt Nồng đọ Ferritintrung bình là 8 U/L [27] Theo Muhammad Atif Habib, tỷ lệ thiếu máu dinhdưỡng ở phụ nữ tuổi sinh đẻ từ 15-49 tuổi tại Pakistan là ở mức trung bình về

ý nghĩa sức khỏe cộng đồng Các yếu tố nguy cơ dẫn đến thiếu máu dinhdưỡng là do không bổ sung sắt folic, đẻ nhiều và đẻ dày và sống ở những khuvực không đảm bảo an ninh lương thực [52]

Nghiên cứu của Katarzyna Kordas và cộng sự tại Columbia trên 3571phụ nữ tuổi sinh đẻ cho thấy, tỷ lệ thiếu máu của phụ nữ tuổi sinh đẻ là 20%

Trang 17

và 50% trong số này bị thiếu máu do thiếu sắt Yếu tố nguy cơ chính dẫn đếnthiếu máu ở đối tượng này là do yếu tố địa lý khó khan và mất an ninh lươngthực [48].

Gebreegziabher T và cộng sự thực hiện nghiên cứu trên 202 phụ nữ tuổisinh đẻ tại Ethiopia cho thấy tỷ lệ thiếu máu là 21,3% trong đó chỉ có 5% làthiếu máu do thiếu sắt [45]

Tỷ lệ thiếu máu ở phụ nữ tuổi sinh đẻ tại Mexico là 22% (Moor MA vàcộng sự) Trong đó 80% thiếu máu liên quan đến thiếu sắt; 11,5% thiếu máu

do thiếu vitamin B12 và 7,7% thiếu máu do thiếu sắt và thiếu vitamin B12.Phụ nữ trong gia đình nghèo và tham gia chương trình hỗ trợ của Chính phủ

có nguy cơ thiếu máu cao hơn nhóm khác 3,48 lần Phụ nữ trong nhóm không

bị thiếu máu có tỷ lệ bổ sung vitamin tổng hợp cao hơn nhóm bị thiếu máu.Một nguyên nhân khác dẫn đến thiếu máu ở phụ nữ tuổi sinh đẻ là do mứctiêu thụ thực phẩm giàu sắt và hỗ trợ hấp thu sắt thấp [53]

Nghiên cứu tại Tây Kenya do Leenstra và cộng sự thực hiện trên 648phụ nữ tuổi sinh đẻ cho thấy tỷ lệ thiếu máu là 21,1% Tỷ lệ thiếu máu thiếusắt là 19,8% trong đó 30,4% phụ nữ thiếu máu bị thiếu máu do thiếu sắt [58] Châu Á là khu vực có tỷ lệ thiếu máu dinh dưỡng cao nhất trên thế giới.Khoảng 1/2 phụ nữ bị thiếu máu dinh dưỡng sống ở khu vực Nam Á (53,4%)

và Đông Nam Á (42,5%) và 88% trong số đó bị thiếu máu khi mang thai.Tình trạng này ở châu Á trong nhiều năm trở lại đây vẫn chưa được cải thiện.Tiếp đó là 36% phụ nữ tuổi sinh đẻ khu vực châu Phi và 33,6% ở khu vựcThái Bình Dương bị thiếu máu dinh dưỡng [64]

1.2.2 Tình hình thiếu máu dinh dưỡng của PNTSĐ ở Việt Nam

Một số kết quả nghiên cứu gần đây cho thấy thiếu máu dinh dưỡng vẫnđang là vấn đề sức khỏe cộng đồng quan trọng hàng đầu tại Việt nam hiệnnay

Thiếu máu thường gặp nhiều nhất ở phụ nữ có thai, phụ nữ tuổi sinh đẻ

Trang 18

và trẻ em đặc biệt là trẻ em dưới 5 tuổi Ở nước ta, theo số liệu điều tra vềthiếu máu toàn quốc năm 1995 [19] cho thấy thiếu máu ở phụ nữ có thai là52,7%; ở phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ là 40,2% và ở trẻ em là 45,3% Tỷ lệthiếu máu năm 2000 đã giảm một cách đáng kể so với điều tra năm 1995 ở tất

cả các nhóm đối tượng, thiếu máu ở phụ nữ tuổi sinh đẻ giảm xuống còn24,3% [21] và vẫn ở mức trung bình có ý nghĩa sức khỏe cộng đồng theophân loại của WHO [69]

Theo kết quả tổng điều tra vi chất dinh dưỡng năm 2014-2015 do ViệnDinh dưỡng thực hiện cho thấy, tỷ lệ thiếu máu của phụ nữ tuổi sinh đẻ là25,5% Tỷ lệ thiếu máu cao nhất ở khu vực miền núi (27,9%) tiếp đến là khuvực nông thôn (26,3%) và thấp nhất là khu vực thành phố (20,8%) [3]

Kết quả điều tra tại 6 tỉnh thành đại diện của Việt Nam (Hà Nội, Huế,Bắc Kạn, Bắc Ninh, An Giang, Đak Lak) do Nguyễn Xuân Ninh và cộng sựtiến hành tháng 3 năm 2006 cho thấy tỷ lệ thiếu máu ở phụ nữ tuổi sinh đẻ là26,7% và ở mức trung bình có ý nghĩa sức khỏe cộng đồng theo phân loại củaWHO Tỷ lệ thiếu máu cao nhất ở Bắc Kạn là 63,4% [17]

Để tìm hiểu thực trạng thiếu máu dinh dưỡng, kiến thức và thực hànhphòng chống thiếu máu của phụ nữ tuổi sinh đẻ tại Nghệ An, Nguyễn Anh Vũ

và cộng sự đã thực hiện nghiên cứu vào năm 2006 Kết quả cho thấy tỷ lệthiếu máu của phụ nữ tuổi sinh đẻ là 15,2% [23]

Một điều tra khác do Bộ môn dinh dưỡng trường Đai học Y Thái Bìnhtiến hành trong năm 2006 tại 5 tỉnh (Bắc Giang, Nam Định, Quảng trị, KiênGiang, Đăk Lăk) trên phụ nữ 20-35 tuổi cũng cho thấy tỷ lệ thiếu máu tươngđối cao (34,2%) Trong đó, tỷ lệ thiếu máu cao nhất là tại Bắc Giang (44,8%)tiếp đến, Quảng Trị là 40,6% và Kiên Giang là 36,4% Tại tỉnh Nam Định vàĐắc Lắc thì tỷ lệ này có thấp hơn (25,4% và 27,5%)

Theo dõi diễn biến về tình trạng thiếu máu tại một số vùng nông thôncho thấy tỷ lệ này có xu hướng giảm, tuy nhiên tốc độ giảm chậm và hiện vẫn

Trang 19

ở mức cao về YNSKCĐ Vùng nội thành có xu hướng thấp hơn vùng ngoạithành [25].

Tỷ lệ thiếu máu hiện nay đã giảm đi một cách đáng kể so với những năm

90 Giai đoạn từ 1995-2006, tỷ lệ thiếu máu của phụ nữ tuổi sinh đẻ ở ViệtNam đã giảm từ mức nặng xuống mức trung bình về ý nghĩa sức khoẻ cộngđồng Tỷ lệ thiếu máu ở phụ nữ có thai có xu hướng giảm dần qua các năm từ40,2% năm 1995 xuống 32,2% năm 2000 và còn 26,7% năm 2006 Tuynhiên, so với các nước trong khu vực và trên thế giới thì thiếu máu ở ViệtNam vẫn còn ở mức cao [26], [17], [19], [21]

Nghiên cứu của Đinh Thị Phương Hoa trên 650 phụ nữ 20-35 tuổi chothấy, tỷ lệ thiếu máu ở phụ nữ nhóm tuổi này là có ý nghĩa sức khỏe cộngđồng (16,2%), nhưng phần lớn đối tượng bị thiếu máu nhẹ (13,9%), 2,3% làthiếu máu vừa và không có đối tượng bị thiếu máu nặng [6]

Theo kết quả nghiên cứu của Hồ Thu Mai tại Hòa Bình thì tỷ lệ thiếumáu ở phụ nữ tuổi sinh đẻ từ 20-35 tuổi là 26,7% Hầu hết các đối tượng bịthiếu máu ở mức độ nhẹ (23,8%) [14]

Nguyễn Văn Điệp và cộng sự thực hiện nghiên cứu tình trạng thiếu máu

ở phụ nữ tuổi sinh đẻ người Dao tại tỉnh Cao Bằng cho thấy, tỷ lệ thiếu máu

là 31,3% và có xu hướng giảm dần theo nhóm tuổi Tỷ lệ thiếu sắt ở nhóm

15-24 tuổi là 9,4%, nhóm 25-34 tuổi là 5,9% và nhóm 35-49 tuổi là 8,3% Tỷ lệthiếu máu thiếu sắt chung là 4,2%; trong đó cao nhất ở nhóm 15-24 tuổi:6,3% Tỷ lệ thiếu máu nhưng không thiếu sắt là 27,1% Trên phụ nữ tuổi sinh

đẻ người Dao, thiếu máu chiếm tỷ lệ cao Thiếu sắt chỉ là một trong sốnguyên nhân gây thiếu máu, cần tìm hiểu nguyên nhân dinh dưỡng khác gâythiếu máu [4]

Thiếu máu dinh dưỡng có thể gây ra bởi thiếu một hay nhiều chất dinhdưỡng cần thiết cho quá trình tạo máu như sắt, acid folic (vitamin B9),vitamin B12, vitamin B6, Vitamin B2 (Riboflavin) v v, nhưng quan trọng và

Trang 20

phổ biến nhất ở các nước đang phát triển là thiếu máu do thiếu sắt [26], [31].Nghiên cứu của Phạm Vân Thúy và cộng sự cho thấy rằng 70% phụ nữ (17-

49 tuổi) thiếu máu có thiếu sắt [61] Nguyên nhân quan trọng nhất gây nêntình trạng thiếu máu do thiếu sắt là do khẩu phần ăn còn thiếu các thực phẩmgiàu chất sắt, đặc biệt là nguồn sắt có giá trị sinh học cao từ các thực phẩm cónguồn gốc động vật [17] Bên cạnh đó, nhiễm trùng và KST cũng là yếu tốquan trọng gây nên tình trạng thiếu máu đặc biệt là nhiễm giun móc màthường gặp ở các vùng nông thôn

Theo kết quả tổng điều tra thiếu máu toàn quốc năm 2008 cho thấy, tỷ lệthiếu máu của phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ trên toàn quốc là 28,8% và ở mứctrung bình ý nghĩa sức khoẻ cộng đồng Vùng núi Tây Bắc là nơi có tỷ lệthiếu máu cao nhất trong cả nước (56,7%) và ở mức nặng về ý nghĩa sức khoẻcộng đồng, sau đó là vùng Nam miền Trung (36,3%) và vùng núi Đông Bắc(31,9%) Ngoài vùng núi Tây Bắc thì tỷ lệ thiếu máu ở sáu vùng còn lại đều ởmức trung bình về ý nghĩa sức khoẻ cộng đồng [26]

Các kết qủa nghiên cứu cho thấy hiệu quả tích cực của các can thiệp dinhdưỡng, y tế và cải thiện tình trạng kinh tế xã hội trong những năm gần đây đãgóp phần giảm đáng kể tình trạng thiếu máu của các nhóm đối tượng có nguy

cơ cao, trong đó có phụ nữ tuổi sinh đẻ Tuy nhiên, thiếu máu dinh dưỡng vẫncòn ở mức cao và vẫn đang là vấn đề có ý nghĩa sức khoẻ cộng đồng đángđược quan tâm Đặc biệt là ở vùng núi phía Bắc, khu vực miền Trung và đồngbằng sông Cửu Long

1.3 Các yếu tố liên quan đến tình trạng thiếu máu ở phụ nữ tuổi sinh đẻ

Nguyễn Văn Hòa và cộng sự đã thực hiện nghiên cứu phỏng vấn 281phụ nữ đang mang thai và cho con bú tại phường Hương Long, Thành phốHuế, tỉnh Thừa thiên Huế nhằm tìm hiểu kiến thức và các yếu tố liên quanđến kiến thức về phòng chống thiếu máu Kết quả có 95% các bà mẹ có nghenói về thiếu máu Kiến thức tốt về thiếu máu của các bà mẹ là 72,6% Kiến

Trang 21

thức về phòng chống thiếu máu là uống viên sắt 80,4%, ăn uống đầy đủ chấtdinh dưỡng 77,9%, ăn thức giàu sắt 25,3% Kiến thức về nguyên nhân thiếumáu gồm thiếu ăn 56,9%, thiếu sắt 52,7% Kiến thức về dấu hiệu của thiếumáu là nhức đầu, chóng mặt, xâm xoàng 77,9%, mệt mỏi 43,1%, da xanh xao36,7% Kiến thức về tác hại của thiếu máu là giảm khả năng lao động 61,2%,sẩy thai, sinh non, băng huyết 49,1%, giảm trí nhớ 17,1% Kiến thức tốt cóliên quan đến trình độ học vấn, nghề nghiệp [7].

Kết quả nghiên cứu của Hồ Thu Mai tại Hòa Bình cho thấy thực trạngthiếu máu ở đây thuộc mức trung bình về ý nghĩa sức khỏe cộng đồng Kếtquả này cũng phù hợp với nhận định của nhiều tác giả về tình trạng thiếu máu

ở các tỉnh miền núi phía Bắc và Tây Bắc Hòa Bình là tỉnh miền núi, nơi cótrên 90% dân tộc Mường sinh sống, trình độ học vấn thấp, thu nhập của ngườidân chủ yếu là từ sản xuất nông nghiệp dẫn đến điều kiện kinh tế khó khăn

Đó là nguyên nhân chính dẫn đến tỷ lệ CED và thiếu máu ở đây còn cao Kiếnthức của phụ nữ tuổi sinh đẻ về phòng chống thiếu máu còn kém Tỷ lệ đốitượng biết ≥ 2 nguyên nhân thiếu máu còn rất thấp, chỉ chiếm 1,7% Tỷ lệ phụ

nữ tuổi sinh đẻ biết từ 2 chất ức chế hấp thu sắt trở lên chiếm 10,6% Tỷ lệphụ nữ biết về nguồn thực phẩm giàu sắt và đối tượng có nguy cơ thiếu máucao là cao nhất (43,9% và 34,4%) Một số thực hành phòng chống thiếu máudinh dưỡng của phụ nữ tuổi sinh đẻ khá tốt Hầu hết đối tượng nghiên cứu chỉsinh 1 đến 2 con, chiếm tỷ lệ 88,9% Các gia đình đều tự chăn nuôi và trồngtrọt để tạo nguồn thực phẩm tại chỗ Khoảng 60% gia đình của đối tượngnghiên cứu có trồng từ 3 loại rau trở lên và 46,1% hộ gia đình nuôi từ 3 loạigia súc, gia cầm hoặc thủy sản trở lên Một số thực hành chưa được các đốitượng làm tốt như rửa tay đúng thời điểm (4,4%) và chỉ có 8,3% đối tượnguống nước chè xa bữa ăn Điểm kiến thức về phòng chống thiếu máu của phụ

nữ tuổi sinh đẻ tại địa bàn nghiên cứu còn ở mức thấp Điểm trung bình kiếnthức chỉ đạt 7,3±4,3 điểm trên tổng số 52 điểm Không có đối tượng nào có

Trang 22

kiến thức tốt về phòng chống thiếu máu dinh dưỡng Điểm trung bình thựchành về phòng chống thiếu máu dinh dưỡng của phụ nữ tuổi sinh đẻ tại địa bànnghiên cứu chỉ đạt 5,0 ± 1,1 điểm trên tổng số 11 điểm Tỷ lệ đối tượng nghiêncứu có thực hành tốt về phòng chống thiếu máu dinh dưỡng là 28,9% [14]Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Hoàng Hưng tại Huế thì yếu tốliên quan có ý nghĩa tới tình trạng thiếu máu của phụ nữ đó là kiến thức, thái

độ và thực hành của các phụ nữ về các sản phẩm giàu sắt cũng như các biệnpháp phòng chống thiếu máu Thực hành đa dạng nhóm thức ăn) cũng như đadạng loại thực phẩm cũng có sự khác biệt ở hai nhóm Khẩu phần 24 giờ ởnhóm phụ nữ thiếu máu cho thấy hàm lượng vitamin C và sắt trong khẩu phần

ăn thấp hơn có ý nghĩa so với nhóm phụ nữ không thiếu máu Phân tích cácyếu tố xã hội liên quan tới tình trạng thiếu máu ở phụ nữ cho thấy: Chỉ sốkhối BMI phụ nữ < 18,5 khác nhau có ý nghĩa thống kê giữa hai nhóm phụ nữthiếu máu và không thiếu máu Còn các yếu tố khác như trình độ văn hoá củaphụ nữ, số con trong gia đình, số nhân khẩu trong gia đình, mức thu nhậpbình quân trong gia đình cũng có sự khác nhau giữa hai nhóm phụ nữ thiếumáu và không thiếu máu [8]

1.4 Vai trò và chuyển hoá sắt trong cơ thể

1.4.1 Vai trò của sắt trong cơ thể

Trong cơ thể sắt có vai trò quan trọng trong trao đổi điện tử, vận chuyển

và dự trữ ôxy, chuyển hoá ôxy, quá trình nhân lên của tế bào và nhiều quátrình sinh lý khác [49], [61] Sắt là một thành phần quan trọng trong tổng hợphemoglobin (chất vận chuyển ôxy cho các tế bào trong cơ thể) và myoglobin(chất dự trữ ôxy cho cơ thể) Ngoài ra sắt còn tham gia vào thành phần một sốenzyme ôxy hoá khử như catalase, peroxydase và các cytochrome là nhữngchất xúc tác sinh học quan trọng trong cơ thể Sắt đóng vai trò quan trọngtrong việc sản xuất ra năng lượng oxy hoá, vận chuyển ôxy, hô hấp của ty lạpthể và bất hoạt các gốc ôxy có hại [35]

Trang 23

Do đó thiếu sắt sẽ gây ra tình trạng thiếu máu thiếu sắt và ảnh hưởng đếnhoạt động chuyển hoá của tế bào do thiếu hụt các men chứa sắt Ngược lạiquá tải sắt trong cơ thể cũng gây ra ứ đọng sắt tại các mô như tim, gan, tuyếnnội tiết dẫn đến rối loạn trầm trọng chức năng của các cơ quan này.

1.4.2 Chuyển hoá sắt trong cơ thể

1.4.2.1 Thành phần và phân bố sắt trong cơ thể

Tổng lượng sắt có trong cơ thể của nam là 4 gam và của nữ là 2,5 gam.Các hợp chất chứa sắt trong cơ thể được chia thành 2 nhóm

- Chức năng tham gia chức năng chuyển hoá và enzym

1.4.2.2 Hấp thu sắt và một số yếu tố ảnh hưởng

Hấp thu sắt bị ảnh hưởng bởi

- Thành phần sắt khẩu phần

- Giá trị sinh học của sắt khẩu phần

- Khối lượng sắt dự trữ

- Tỷ lệ hồng cầu được sản xuất [54]

Sắt hem và sắt không hem đều được hấp thu từ sắt khẩu phần nhưng với

cơ chế khác nhau Tỷ lệ hấp thu sắt không hem chỉ từ 2-15% tổng lượng sắtkhẩu phần Sự hấp thu của sắt không hem phụ thuộc vào những chất tăngcường và ức chế sự hoà tan sắt được ăn vào trong cùng một bữa ăn Mặc dùsắt hem chiếm số lượng nhỏ hơn trong khẩu phần so với sắt không hem nhưng

Trang 24

tỷ lệ hấp thu lại cao hơn sắt không hem 2-3 lần và ít bị ảnh hưởng bởi cácthành phần khác có trong thức ăn bao gồm cả cá yếu tố ức chế hấp thu sắt

Có 3 yếu tố chính ảnh hưởng đến cân bằng và chuyển hoá sắt đó là chế

độ ăn, sắt dự trữ và sắt bị mất 2 yếu tố quyết định của sắt khẩu phẩn là chấtlượng (giá trị sinh học) của sắt và khả năng hấp thu sắt [29]

Chất tăng cường hấp thu sắt được biết đến nhiều nhất là vitamin C [54].Protein trong thức ăn động vật như thịt, cá làm tăng cường hấp thu sắt khônghem Ngũ cốc nguyên hạt và đậu đỗ ức chế hấp thu sắt không hem [34]

1.4.2.3 Vận chuyển sắt

Vận chuyển sắt được thực hiện bởi transferrin và protein vận chuyểntrong huyết thanh [49] Vì nồng độ thụ thể transferrin trong huyết thanh là cânđối trên bề mặt tế bào do đó nồng độ thụ thể transferrin là một chỉ tiêu sinhhoá có thể dùng để đánh giá tình trạng thiếu sắt [55]

1.4.2.4 Dự trữ sắt

Các thành phần chứa sắt (ferritin và hemosiderin) dự trữ ở gan, lưới nội

mô và tuỷ xương [37] Tổng lượng sắt dự trữ thay đổi khi chức năng của cơthể bị suy yếu Dự trữ sắt có thể cạn kiệt hoàn toàn trước khi xuất hiện thiếumáu và dự trữ sắt có thể tăng cao hơn mức trung bình 20 lần trước khi có dấuhiệu phá huỷ tế bào Sắt được dự trữ như là kho dự trữ để cung cấp sắt cho tếbào khi cần thiết, chủ yếu cho sản xuất hemoglobin Những đứa trẻ được sinh

ra có dự trữ sắt tốt sẽ có cân nặng sơ sinh cao hơn Nhìn chung, dự trữ sắt củađứa trẻ sinh đủ tháng có thể đáp ứng đủ nhu cầu sắt trong thời gian 6 thángđầu đời [36]

1.4.2.5 Sự luân chuyển và mất sắt

Sự phá huỷ và sản xuất hồng cầu có nhiệm vụ trong việc luân chuyển sắtcủa cơ thể Một ngày cơ thể mất khoảng 0,6 mg sắt chủ yếu qua mật, phân,nước tiểu, da, mồ hôi, sự bong tế bào nhày của ruột và một lượng nhỏ quamáu (kinh nguyệt, chảy máu kéo dài) Một nguyên nhân mất máu quan trọng

Trang 25

nhất ở trẻ nhỏ là dị ứng với protein của sữa bò Điều này gây ra mất máu dầndần trong đường tiêu hoá [75] Ở các nước nhiệt đới, nhiễm giun móc lànguyên nhân chính của mất màu từ đường tiêu hoá do đó góp phần vào thiếumáu thiếu sắt ở trẻ em và người lớn [56] Nhiều bằng chứng cho thấy viêm dạdày mạn tính do Helicobacter Pylori cũng làm tăng mất máu đường tiêu hoá

và thiếu máu thiếu sắt [72] Ở các nước phát triển, mất máu qua đường ruột ởngười trưởng thành thường liên quan đến sử dụng thuốc kéo dài như Asprinhoặc do loét hay u gây chảy máu kéo dài [60]

1.4.2.6 Nhu cầu sắt cho sự phát triển

Nhu cầu sắt cho sự phát triển ở trẻ nhỏ và tuổi dậy thì là lớn nhất Cóthai là một giai đoạn khác khi nhu cầu sắt tăng là cần cho sự phát triển đặcbiệt cho phát triển tổ chức của thai nhi và bà mẹ Khi còn nhỏ, cần khoảng 40

mg sắt/1kg cân nặng cho sản xuất những thành phần chứa sắt cần thiết nhưhemoglobin, myoglobin và enzym chứa sắt Để đảm bảo lượng sắt dự trữ là300mg thì mỗi kilogam của cơ thể tăng lên cần thêm 5 mg sắt để đạt đượctổng số là 45 mg/kg thể trọng [36]

1.4.2.7 Nhu cầu sắt khuyến nghị

Nhu cầu sắt thay đổi theo tuổi, giới và tình trạng sinh lý như mang thai

và cho con bú Thuật ngữ “nhu cầu sinh lý” được dùng để chỉ lượng sắt cầnthiết nhằm thay thế cho lượng sắt bị mất đi và nhằm bảo đảm cho nhu cầuphát triển Nhu cầu sắt khuyến nghị dành cho người Việt Nam đối với phụ nữtuổi sinh đẻ là 5,8mg/người/ngày; 39,2mg/người/ngày và 29,4mg/người/ngàytùy vào khẩu phần có giá trị sinh học của sắt cao, trung bình hay thấp [62]

Trang 26

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu

Tiêu chuẩn lựa chọn: Phụ nữ 20-35 tuổi, không cho con bú, không bị

mắc các bệnh về máu, các bệnh mạn tính, không có thai trong thời giannghiên cứu và tình nguyện tham gia nghiên cứu

Tiêu chuẩn loại trừ: Phụ nữ ngoài độ tuổi 20-35, đang có thai, đang cho

con bú, không có khả năng giao tiếp bình thường và bị mắc các bệnh về máu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

Phụ nữ tuổi sinh đẻ từ 20-35 tuổi

2.1.2 Địa điểm nghiên cứu

3 xã Hữu Vinh, Na Khê, Lao Và Chải của huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang

2.1.3 Thời gian nghiên cứu

Từ tháng 01 đến tháng 09 năm 2018

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu cắt ngang mô tả có phân tích

2.2.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu:

Cỡ mẫu nghiên cứu

Cỡ mẫu để đánh giá các chỉ tiêu ở phụ nữ tuổi sinh đẻ được tính theocông thức [10]:

n=

Z2 1-/2 .p

[1-p]

d2

Trong đó :

n = Cỡ mẫu tối thiểu cần nghiên cứu

Z : Hệ số tin cậy, ứng với độ tin cậy 95% ( = 0,05) ứng với Z2

1-/2 =1,96 với

p: Tỷ lệ thiếu máu của phụ nữ tuổi sinh đẻ là 27.9% [3]

Trang 27

d: Sai số tuyệt đối, chọn d = 0,05

Dựa vào công thức trên ta có cỡ mẫu là 310 phụ nữ tuổi sinh đẻ tham gianghiên cứu, cộng 16 người bỏ cuộc ( tỷ lệ bỏ cuộc khoảng 5%)

Phương pháp chọn mẫu: Mẫu được chọn theo phương pháp ngẫu nhiên

hệ thống dựa vào nền mẫu là danh sách toàn bộ phụ nữ từ 20-35 tuổi của 3 xãđược chọn vào nghiên cứu

2.2.3 Kỹ thuật áp dụng và chỉ tiêu đánh giá

Hemoglobin bằng máy quang kế HemoCue Hb được đánh giá bằng phươngpháp Cyanmethemoglobin Đánh giá tình trạng thiếu máu theo phân loại củaWHO năm 2001 [50] Phụ nữ tuổi sinh đẻ được coi là thiếu máu khi nồng độHb<12 g/dl (hoặc 120g/l)

Cách đo: Không dùng bông cồn để lau máu, bỏ 2 giọt máu đầutiên bằng giấy thấm sạch Khi thấy giọt máu tiếp đủ làm đầy cóng,đưa đầu nhọn vào chính giữa giọt máu, máu sẽ tự chảy vào cóng Đặtcóng vào vị trí đo cho máy phân tịch Sau 30-50 giây, màn hình xuấthiện kết quả Hb Đọc kết quả và ghi vào phiếu

phương pháp phỏng vấn KPC dựa vào bảng câu hỏi đã được thiết kế sẵn

Phương pháp thu thập số liệu [39]

Kiến thức, thực hành về phòng chống thiếu máu thiếu sắt được xác địnhbằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp theo bộ câu hỏi được thiết kế sẵn

hậu quả của thiếu máu dinh dưỡng, đối tượng có nguy cơ thiếu máu cao, cáccách phòng chống thiếu máu, biểu hiện của thiếu máu, các thực phẩm giàu sắt

và các chất tăng cường, ức chế hấp thu sắt…

sinh cá nhân, tẩy giun, uống nước chè ngay sau bữa ăn, tạo nguồn thực phẩmtại hộ gia đình thông qua trồng trọt và chăn nuôi…

Trang 28

Cách tính điểm

* Điểm kiến thức

- Tổng điểm kiến thức: 51 điểm

- Điểm đạt kiến thức: tính theo điểm cắt đoạn từ 50% tổng số điểm kiến

Cân nặng: Sử dụng cân điện tử với độ chính xác 0,01kg Khi cân đối

tượng bỏ giầy/dép và mặc quần áo mỏng, đứng giữa bàn cân không cử động,trọng lượng đều cả 2 chân Trọng lượng cơ thể được ghi theo kg với 1 số lẻ

Chiều cao: Đo bằng thước gỗ 3 mảnh của UNICEF, kết quả được ghi

theo cm với một số lẻ Khi đối tượng đo chiều cao phải bỏ giầy dép, cặp tóchay thứ gì trên đầu làm ảnh hưởng đến việc đo chiều cao Đối tượng đứng dựalưng vào thước, bàn chân ở giữa thước, năm điểm trên cơ thể chạm vào thuốc(chẩm, vai, mông, bắp chân và gót chân), mắt nhìn thẳng phía trước và 2 tay

bỏ thõng hai bên mình

Đánh giá tình trạng dinh dưỡng bằng các chỉ số nhân trắc (cân nặng,

chiều cao) dựa vào chỉ số khối cơ thể (BMI) theo phân loại của phân loại của

Tổ chức Y tế thế giới năm 2000 [68] Chỉ số BMI được tính theo công thức:

BMI = cân nặng (kg)/chiều cao (m) 2

 Gầy độ III BMI<16

 Gầy độ II BMI từ 16 đến 16,9

 Gầy độ I BMI từ 17 đến 18,4

Trang 29

 Bình thường BMI từ 18,5 đến 24,9

 Tiền béo phì BMI từ 25 đến 29,9

 Béo phì độ I BMI từ 30 đến 34,9

 Béo phì độ II BMI từ 35 đến 39,9

 Béo phì độ III BMI ≥ 40

giờ qua Khẩu phần được đánh giá dựa vào bảng thành phần hoá học thức ănViệt Nam [1] và bảng nhu cầu dinh dưỡng khuyến nghị cho người Việt Nam[2] để xác định giá trị dinh dưỡng và tính cân đối của khẩu phần cũng nhưmức đáp ứng nhu cầu khuyến nghị về năng lượng và các chất dinh dưỡng để

từ đó đánh giá yếu tố liên quan tới tình trạng thiếu máu của đối tượng nghiêncứu

2.3 Biến số và chỉ số nghiên cứu

Biến số Chỉ tiêu Phương pháp Tài liệu tham khảo

1.1.1 Thông tin chung của đối tượng

Thông tin

chung

Tuổi trung bìnhNghề nghiệpTrình độ học vấnDân tộcKinh tế hộ gia đìnhTình trạng hônnhân, thai sản

Trang 30

Phỏng vấn, tínhđiểm Eric Sarriot (1999)

Hỏi ghi khẩu phần

24 giờ qua Hà Huy Khôi (1997)Cân đối khẩu phần Hỏi ghi khẩu phần24 giờ qua Hà Huy Khôi (1997)

1.1.3 Kết quả mục tiêu 2

Yếu tố liên

quan

Các yếu tố liênquan đến tình trạngthiếu máu

Phân tích đơn biến

- Các số liệu được chuyển và phân tích bằng phần mềm SPSS.Riêng số liệu khẩu phần được phân tích bằng phần mềm ACCESS

- Trước khi sử dụng các test thống kê, các biến số được kiểm định

về phân bố chuẩn

- Các biến số được phân tích

 Tính tỷ lệ phụ nữ tuổi sinh đẻ bị thiếu máu

 Tính tỷ lệ thiếu năng lượng trường diễn của phụ nữ tuổi sinh đẻ

 Tính giá trị trung bình mức tiêu thụ lương thực thực phẩm, giá trị dinh

Trang 31

dưỡng và cân đối các chất dinh dưỡng của khẩu phần

 Tính trung bình điểm kiến thức, thực hành về phòng chống thiếu máudinh dưỡng và tỷ lệ phụ nữ đạt, chưa đạt điểm trung bình kiến thức và thực hành

 Phân tích một số yếu tố liên quan đến thiếu máu ở phụ nữ tuổi sinh đẻ

- Các test thống kê dùng trong phân tích số liệu

 T-test: so sánh 2 giá trị trung bình

 Test : so sánh 2 tỷ lệ

2.5 Các biện pháp khống chế sai số

Sử dụng các công cụ chuẩn trong quá trình thu thập số liệu (máy đo Hb,cân, thước, bộ câu hỏi), sử dụng kỹ thuật chuẩn xác, thực hiện đúng theothường quy Lựa chọn điều tra viên đúng tiêu chuẩn qui định, tập huấn vàthống nhất cách ghi chép trước khi triển khai nghiên cứu

Số liệu được làm sạch trước khi nhập máy tính

2.6 Vấn đề đạo đức nghiên cứu

Trước khi triển khai nghiên cứu, tất cả các đối tượng đều được thông báotrước và giải thích rõ về mục đích của nghiên cứu và lợi ích của người thamgia, sau đó *làm giấy cam kết Tất cả những trường hợp trong quá trìnhnghiên cứu vì một lý do nào đó không muốn tiếp tục tham gia, sau khi đãthuyết phục mà vẫn từ chối thì sẽ loại khỏi nghiên cứu

Tất cả các trường hợp thiếu máu nặng (Hb<7g/l ) trong cuộc điều trasàng lọc hoặc đánh giá giữa kỳ đều được điều trị theo phác đồ của Bộ Y tếquy định trước khi loại khỏi nghiên cứu

Dụng cụ lấy máu cho các đối tượng xét nghiệm đều đảm bảo an toàntuyệt đối theo đúng quy định và chỉ sử dụng 1 lần Trong quá trình lấy máuxét nghiệm, nếu có các biến cố xảy ra với các đối tượng thì sẽ được cấp cứukịp thời với các phương tiện thích hợp

Các thông tin cần giữ kín đều được tôn trọng và giữ bí mật cho từng đốitượng Kết quả nhân trắc, xét nghiệm máu và tình trạng bệnh tật của đốitượng nghiên cứu sẽ được thông tin đến từng đối tượng

Được Hội đồng Đạo đức Trường Đại học Thăng Long thông qua

2.7 Hạn chế của đề tài

Trang 32

- Do nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu cắt ngang mô tả cóphân tích nên sẽ không xác định được yếu tố căn nguyên.

- Nghiên cứu thực hiện tại 3 xã của huyện Yên Minh, Hà Giang Đây là 3

xã vùng cao và xa nên sẽ có một số khó khăn trong việc đi lại và gặp gỡ đốitượng nghiên cứu trong quá trình thu thập số liệu

Trang 33

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ

3.1 Một số thông tin chung

Bảng 3.1: Số lượng đối tượng nghiên cứu theo từng xã

Tên xã Số lượng (n) Tỷ lệ (%)

Hữa Vimh 102 32,9Lao và Chải 105 33,9

Trong số 310 đối tượng là phụ nữ tuổi sinh đẻ từ 20-35 tuổi tham gianghiên cứu ở 3 xã có tỷ lệ tượng tự nhau Lần lượt các xã Hữu Vinh, Lao VàChải và Na Khê là 32,9%, 33,9% và 33,2% (bảng 1)

Kết quả ở hình 1 cho thấy tỷ lệ phụ nữ ở độ tuổi 30-35 tuổi chiếm tỷ lệ

cao nhất (38,3%) Phụ nữ từ 20-24 tuổi chiếm tỷ lệ thấp nhất (29,4%).

Biểu đồ 3.1: Tỷ lệ đối tượng nghiên

cứu theo nhóm tuỏi

Trang 34

Bảng 3.2: Dân tộc của đối tượng nghiên cứu Dân tộc Số lượng (n) Tỷ lệ (%)

Bảng 3.3: Trình độ học vấn của đối tượng nghiên cứu

Trang 35

Bảng 3.4: Nghề nghiệp của đối tượng nghiên cứu Nghề nghiệp Số lượng (n) Tỷ lệ (%)

Kết quả ở bảng 4 cho thấy 82,6% đối tượng nghiên cứu là nông dân Tỷ

lệ đối tượng làm nội trợ và cán bộ rất thấp (6,8% và 5,8%)

Bảng 3.5: Phân loại kinh tế hộ gia đình của đối tượng nghiên cứu

Kinh tế hộ gia đình Số lượng (n) Tỷ lệ (%)

Trung bình 206 66,5

Kết quả ở bảng 5 cho thấy hơn một nửa đối tượng nghiên cứu có kinh tế

hộ gia đình ở mức trung bình Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu có kinh tế hộ giađinh ở mức nghèo là 32,3% Chỉ có 1,2% đối tượng nghiên cứu có kinh tế hộgia đình ở mức khá

Trang 36

3.2 Tình trạng dinh dưỡng và thiếu máu của phụ nữ tuổi sinh đẻ

Bảng 3.6: Tình trạng dinh dưỡng và mức Hb trung bìnhcủa phụ nữ

Mức Hemoglobin trung bình của phụ nữ tuổi sinh đẻ là 125,1 ± 15,5 g/L.

Biểu đồ 3.2: Tỷ lệ thiếu máu của đối tượng nghiên cứu

Trang 37

16.5 9

Kết quả ở hình 3 cho thấy, trong số 29,1% phụ nữ tuổi sinh đẻ bị thiếumáu thì phụ nữ tuổi sinh đẻ là người dân tộc Dao chiếm tỷ lệ cao nhất (16,5

%), tiếp đến là phụ nữ tuổi sinh đẻ người dân tộc Mông (9%), còn lại là phụ

nữ tuổi sinh đẻ người các dân tộc khác

Bảng 3.7: Mức tiêu thụ lương thực thực phẩm của đối tượng nghiên cứu

tại thời điểm T 0 (gam/người/ngày) (n=310)

Biểu đồ 3.3: tỷ lệ thiêu máu của phụ nữ tuổi sinh đẻ theo dân tộc

Trang 38

Nguồn cung cấp Vitamin và khoáng chất cũng như chất xơ từ khẩu phầncủa đối tượng nghiên cứu là rau/củ/quả được các đối tượng ăn nhiều hơn sovới quả chín (157,5 ± 117,1 gam/người/ngày so với 117,2 ± 146,5 gam/người/ngày)

Nguồn cung cấp đạm động vật trong khẩu phần hàng ngày của đối tượngnghiên cứu là thịt, cá, trứng, sữa và hải sản Mức tiêu thụ thịt trung bình là47,7±85,0 gam/người/ngày Mức tiêu thụ cá và thủy hải sản là 35,1± 51,3gam/người/ngày) Sữa được trẻ ăn nhiều nhất là 170,6±139,3gam/người/ngày Trứng, sữa được các đối tượng tiêu thụ không nhiều(7,5±15,5 gam/người/ngày)

Bảng 3.8: Cân đối khẩu phần của đối tượng nghiên cứu

Năng lượng (KCalo) 2289,9 630

Protein

Tổng số (g) 75,1 25.6Protein ĐV/TS (%) 31,8

Lipid

Lipit (g) 32,7 18,3Lipid TV/TS (%) 40,1

Chất khoáng

Canxi (mg) 507,8 345,8Phospho (mg) 928,5 303,7Can xi/ Phospho 0,6

Vitamin

Vitamin A (mcg) 1108,5 1102,1Beta Carôten (mcg) 522,5 4144,6Vit C (mg) 162,3 115,1Vit B1 (mg) 1,09 0,49B1/ 1000 Kcal (mg) 0,5 1,1Cân đối P:L:G 13,1 : 12,9 : 74

Kết quả bảng 3.7 cho thấy mức cân đối khẩu phần của đối tượng nghiêncứu: Năng lượng trung bình khẩu phần của đối tượng nghiên cứu là2289,9±630 Kcal

Ngày đăng: 17/07/2019, 21:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w