1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc điểm lâm sàng và một số yếu tố liên quan giai đoạn khởi phát của rối loạn loạn thần cấp và nhất thời ở bệnh nhân điều trị nội trú tại viện sức khỏe tâm thần

95 352 7

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 326,23 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo nhiều nghiên cứu cho thấy có khoảng hơn 50% bệnh nhân rốiloạn loạn thần cấp và nhất thời tiến triển thành các rối loạn tâm thần mạn tínhnhư tâm thần phân liệt, rối loạn phân liệt cả

Trang 1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Rối loạn loạn thần cấp và nhất thời là một nhóm rối loạn không đồngnhất, khởi phát cấp tính và phát triển đầy đủ dưới 2 tuần, với triệu chứng loạnthần rõ rệt như hoang tưởng, ảo giác và các rối loạn hành vi tác phong [1].Đây là một rối loạn tâm thần hay gặp Theo hệ thống chẩn đoán và phân loạicác rối loạn tâm thần của Mỹ lần thứ 5 (DSM – V), tỷ lệ rối loạn loạn thầncấp chiếm 9% trong các rối loạn loạn thần đầu tiên [2]

Theo nhiều nghiên cứu cho thấy có khoảng hơn 50% bệnh nhân rốiloạn loạn thần cấp và nhất thời tiến triển thành các rối loạn tâm thần mạn tínhnhư tâm thần phân liệt, rối loạn phân liệt cảm xúc, rối loạn hoang tưởng daidẳng, rối loạn cảm xúc lưỡng cực Và có một tỷ lệ sẽ tái phát đợt loạn thầncấp tương tự [3], [4], [5] Bên cạnh đó, rối loạn này ảnh hưởng nhiều đếnchất lượng cuộc sống của người bệnh

Theo Primer A (2002) [6], rối loạn loạn thần cấp và nhất thời điển hìnhdiễn biến qua ba giai đoạn bao gồm giai đoạn khởi phát, giai đoạn toàn phát

và giai đoạn hồi phục Trong giai đoạn khởi phát, người bệnh phải trải quacác thay đổi về cảm xúc, tư duy, nhận thức và hành vi Các triệu chứng nàyrất phong phú và đa dạng nhưng mơ hồ dễ nhâm lẫn với các rối loạn khác nhưrối loạn lo âu,…

Như vậy việc phát hiện các triệu chứng ở giai đoạn khởi phát của rốiloạn loạn thần cấp và nhất thời sẽ giúp các thầy thuốc lâm sàng phát hiện sớm

để có các can thiệp phù hợp

Trong khi đó, ở Việt Nam chưa có công trình nào nghiên cứu về đặcđiểm khởi phát của RLLT cấp và nhất thời, cũng như các yếu tố liên quan đếnkhởi phát bệnh để giúp cho các thầy thuốc chẩn đoán đúng, sớm hơn, nângcao hiệu quả điều trị và tiên lượng bệnh Chính vì những lý do trên, chúng tôi

Trang 2

thực hiện đề tài: “Đặc điểm lâm sàng và một số yếu tố liên quan giai đoạn khởi phát của rối loạn loạn thần cấp và nhất thời ở bệnh nhân điều trị nội trú tại Viện Sức khỏe Tâm thần” Với mục tiêu sau:

1 Mô tả đặc điểm lâm sàng giai đoạn khởi phát của rối loạn loạn thần cấp

và nhất thời ở bệnh nhân điều trị nội trú tại Viện Sức khỏe Tâm thần.

2 Nhận xét một số yếu tố liên quan đến khởi phát của rối loạn loạn thần cấp và nhất thời.

2

Trang 3

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Đại cương về rối loạn loạn thần cấp và nhất thời

1.1.1 Khái niệm

Rối loạn loạn thần cấp và nhất thời được đề cập từ cuối thế kỷ thứ XIX,

có nhiều quan điểm phân loại khác nhau

Ngày nay, “rối loạn loạn thần cấp và nhất thời” là một nhóm rối loạnkhông đồng nhất, thường xuất hiện trong mối quan hệ chặt chẽ với hoàn cảnhhay sự kiện gây sang chấn Bệnh cảnh khởi đầu cấp tính, phát triển đầy đủdưới 2 tuần, các triệu chứng loạn thần rõ rệt như hoang tưởng, ảo giác, hành

vi tác phong bị rối loạn nặng Các triệu chứng loạn thần phong phú, luôn biếnđổi và đa dạng [1]

Bệnh cảnh lâm sàng rối loạn loạn thần cấp và nhất thời có đặc điểm:

- Khởi đầu cấp, trong vòng hai tuần, là nét định nghĩa cho toàn nhóm

- Có những hội chứng điển hình;

- và có thể có sang chấn tâm lý kết hợp

Khởi đầu cấp được định nghĩa như là một sự biến đổi từ một trạng tháikhông có những nét loạn thần sang một trạng thái loạn thần rõ rệt trong vònghai tuần hay ngắn hơn

Các hội chứng điển hình là trạng thái biến đổi nhanh chóng và phong phú

ở đây gọi là "đa dạng" được xem là nổi bật trong các trạng thái loạn thần cấp

Sang chấn tâm lý có thể kết hợp với loạn thần cấp Tuy nhiên, nhiềunghiên cứu cho thấy tỷ lệ kết hợp với sang chấn tâm lý thấp [7], [8]

Rối loạn loạn thần cấp và nhất thời bao gồm ba giai đoạn: giai đoạnkhởi phát, giai đoạn toàn phát và giai đoạn hồi phục Trong giai đoạn khởi

Trang 4

phát, người bệnh xuất hiện các triệu chứng về cảm xúc, tư duy, nhận thức vàhành vi trước khi xuất hiện các triệu chứng loạn thần rõ ràng như hoangtưởng, ảo giác và các rối loạn hành vi [6].

1.1.2 Lịch sử các quan niệm về rối loạn loạn thần cấp và nhất thời

Các rối loạn loạn thần cấp và nhất thời được biết từ lâu trong các bảngphân loại khác nhau trên thế giới

Vào thế kỷ thứ XIX, các nhà tâm thần học Đức đã miêu tả thuật ngữ

“akute primiare Veruckheit”, gọi là paranoia acuta (paranoid cấp) do KarlWestphal Vào năm 1876 (công bố năm 1878), Westphal sử dụng thuật ngữnày để mô tả dạng cấp tính của paranoia với sự bùng nổ của ảo giác, hoangtưởng Năm 1890, Meynert nhắc lại mô tả lâm sàng này với tên là amentia (sựngu si) Năm 1911, Bleuler phân tách ra thuật ngữ tâm thần phân liệt cấp từthuật ngữ tâm thần phân liệt Năm 1916, dựa theo bệnh học tâm thần của KarlJaspers, nhà tâm thần học Đan Mạch Wimmer miêu tả rối loạn tâm thần docăn nguyên tâm lý như là loạn thần phản ứng phát sinh sau sang chấn tâmthần Năm 1933, Kasamin đã miêu tả “loạn thần phân liệt cảm xúc cấp”, đãgia tăng câu hỏi mối liên quan giữa tâm thần phân liệt và các bệnh lý cảmxúc Sau khoảng 5 năm, Langfeld đã phân biệt tâm thần phân liệt và ông gọitên loạn thần dạng phân liệt, các nghiên cứu khác xuất hiện thuật ngữ ở DSM-

IV 295.40 – rối loạn dạng phân liệt hoặc rối loạn loạn thần cấp giống phân liệt

ở ICD-10 (F23.2) Năm 1961, Leonhard miêu tả thuật ngữ “loạn thần chu kỳ”như là loạn thần nội sinh chia từ loạn thần phân liệt và từ hưng cảm và loạnthần trầm cảm Loạn thần chu kỳ có xu hướng lành tính và từng giai đoạn

Tại Pháp, quan điểm của Bouffée délirance đưa tới một phân loại đặctrưng của loạn thần cấp:

Năm 1895, Magnan và Legrain miêu tả Bouffée délirance hoặc délired’emblée (cơn hoang tưởng cấp) với các hoang tưởng đa dạng mạn tính Năm

4

Trang 5

1954, Ey đã phát triển quan điểm Bouffée délirance và loạn thần cấp với cáchoang tưởng của Magnan thành chuyên đề ở hội nghị tâm thần học thế giớilần thứ nhất [9].

Rối loạn loạn thần ngắn (Brief psychotic disorder) là một thuật ngữđược sử dụng ở Hoa Kỳ từ DSM – IV (1952) Ngày nay, DSM – V (2013)cũng để chỉ trạng thái rối loạn tâm thần cấp tính, diễn biến nhanh từ một ngàyđến một tháng Rối loạn này có đặc điểm [2]:

- Khởi phát cấp tính kéo dài có thể một ngày nhưng dưới một tháng

- Lâm sàng biểu hiện các triệu chứng loạn thần như hoang tưởng, ảogiác, các rối loạn hình thức tư duy (tư duy không liên quan, rờirạc…) và các rối loạn hành vi hoặc căng trương lực

- Rối loạn này không thỏa mãn tiêu chuẩn chẩn đoán các chẩn đoánnhư rối loạn trầm cảm, rối loạn cảm xúc lưỡng cực, tâm thần phânliệt,… Và không phải do tác dụng bệnh sinh của chất gây nghiện vàthuốc

1.1.3 Chẩn đoán và phân loại

1.1.3.1 Chẩn đoán

Theo tiêu chuẩn chẩn đoán của bảng phân loại các rối loạn tâm thần vàhành vi thế giới lần thứ 10 với tiêu chuẩn chẩn đoán dành cho nghiên cứu(1992) [7]:

G1 Có sự khởi phát cấp tính của hoang tưởng, ảo giác, ngôn ngữkhông thể hiểu được và không mạch lạc, hoặc bất cứ sự kết hợp nào của cáctriệu chứng này Khoảng thời gian giữa lần xuất hiện lần đầu tiên của bất cứcác triệu chứng loạn thần nào và lúc biểu hiện đầy đủ toàn bộ rối loạn khôngđược vượt quá 2 tuần

G2 Nếu có tình trạng nhất thời về sự nhận nhầm, bàng quang hoặc rốiloạn sự tập trung và chú ý thì chúng không đáp ứng đủ các tiêu chuẩn đối với

Trang 6

một tình trạng ý thức u ám do nguyên nhân thực tổn như đã được biệt địnhtrong mục F05-, tiêu chuẩn A.

G3 Rối loạn này không đáp ứng các tiêu chuẩn triệu chứng đối với mộtgiai đoạn hưng cảm(F30-), một giai đoạn trầm cảm (F32-) hoặc rối loạn trầmcảm tái diễn (F33-)

G4 Không có đủ bằng chứng về việc sử dụng một chất tác động tâmthần gần đây để đáp ứng đủ tiêu chuẩn đối với nhiễm độc cấp (F1x.0), sửdụng gây hại (F1x.1), nghiện (F1x.2), hoặc các trạng thái cai (F1x.3 vàF1x.4) Sự sử dụng rượu hoặc ma túy liên tục ở liều lượng trung bình và hầunhư không đổi về khối lượng hoặc tần suất sử dụng ở mức làm bệnh nhânquen với rượu hoặc ma túy thì không nhất thiết loại bỏ việc sử dụng mục F23

G5 Các tiêu chuẩn loại trừ thường được sử dụng nhất, phải không córối loạn tâm thần thực tổn (F00-F09) hoặc các rối loạn chuyển hóa trầm trọngảnh hưởng đến hệ thần kinh trung ương

1.1.3.2 Phân loại

Trong phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 (1992), Rối loạn loạn thần cấp

và nhất thời được xếp vào mục F23 Trong đó lại phân chia thành các thể từF23.0 đến F23.9 [7], [8]:

 F23.0: rối loạn loạn thần cấp đa dạng không có triệu chứng của bệnhtâm thần phân liệt, với đặc điểm:

- Khởi đầu phải cấp, từ trạng thái không loạn thần sang trạng thái loạnthần rõ rệt trong vòng 2 tuần hay ngắn hơn

- Phải có nhiều loại ảo giác hay hoang tưởng, thay đổi cả thể loại lẫncường độ, từ ngày này sang ngày khác hoặc trong cùng một ngày

- Phải có một trạng thái cảm xúc thay đổi tương tự

- Mặc dù có nhiều triệu chứng khác nhau, không một triệu chứng nàoxuất hiện đủ để trở thành tiêu chuẩn chẩn đoán của bệnh tâm thần phân liệt(F20.-) hoặc giai đoạn hưng cảm (F30.-) hay trầm cảm (F32.-)

6

Trang 7

Như vậy, nét đặc trưng của thể này là bệnh cảnh biến đổi đa dạng vàkhông ổn định.

 F23.1 rối loạn loạn thần cấp đa dạng có triệu chứng của bệnh tâm thầnphân liệt, với đặc điểm:

- Khởi bệnh cấp trong vòng 2 tuần lễ hoặc ngắn hơn

- Các triệu chứng đáp ứng tiêu chuẩn của rối loạn loạn thần cấp đa dạngkhông có triệu chứng của bệnh tâm thần phân liệt (F23.0) Thêm vào đó, đápứng các tiêu chuẩn của Tâm thần phân liệt (F20) phải xuất hiện đa số thờigian từ khi hình thành một bệnh cảnh loạn thần rõ rệt

- Nếu các triệu chứng phân liệt kéo dài hơn 1 tháng thì phải đổi mã chẩnđoán tâm thần phân liệt (F20)

 Rối loạn loạn thần cấp giống phân liệt (F23.2): thể loại bao gồm “tâmthần phân liệt cấp không biệt định”, “rối loạn dạng phân liệt ngắn” “phản ứngphân liệt” Với đặc điểm:

- Khởi bệnh cấp trong vòng 2 tuần lễ hoặc ngắn hơn

- Các triệu chứng đáp ứng tiêu chuẩn chẩn đoán của bệnh tâm thần phânliệt (F20) phải xuất hiện đa số thời gian từ khi hình thành một bệnh cảnh loạnthần rõ rệt

- Không có đầy đủ tiêu chuẩn chẩn đoán các rối loạn loạn thần cấp đadạng

Nếu các triệu chứng tâm thần phân liệt tồn tại hơn 1 tháng thì phải đổisang chẩn đoán tâm thần phân liệt (F20)

 Rối loạn loạn thần cấp khác với hoang tưởng chiếm ưu thế (F23.3): thểnày bao gồm “Phản ứng Paranoid”, “loạn thần Paranoid tâm sinh”

- Khởi bệnh cấp trong vòng 2 tuần lễ hoặc ngắn hơn

- Trong cơn rối loạn tâm thần, các triệu chứng chủ yếu là hoang tưởnghay ảo giác tương đối ổn định, nhưng không đáp ứng tiêu chuẩn chẩn đoán

Trang 8

của bệnh tâm thần phân liệt (F20) Phổ biến là hoang tưởng bị hại, hoangtưởng liên hệ và các ảo giác thường là ảo thanh Các hoang tưởng, ảo giácxuất hiện trong đa số thời gian kể từ khi hình thành một trạng thái loạn thần

 Rối loạn loạn thần cấp và nhất thời khác (F23.8): các rối loạn loạnthần cấp không xếp vào bất cứ thể bệnh nào kể trên thì ghi ở mục này

 Rối loạn loạn thần cấp và nhất thời, không biệt định (F23.9): thể nàybao gồm cả loạn thần phản ứng ngắn không biệt định khác

1.1.4 Dịch tễ của rối loạn loạn thần cấp và nhất thời

1.1.4.1 Tỷ lệ mắc

Tại Hoa kỳ, rối loạn loạn thần ngắn chiếm tỷ lệ 9% các trường hợp rốiloạn loạn thần lần đầu tiên [2]

Theo Castagnini A và Foldager L (2013) nghiên cứu về sự biến động tỷ

lệ mắc và tuổi khởi phát của rối loạn loạn thần cấp và nhất thời thực hiện ở tất

cả các bệnh nhân nội trú từ năm 1969 và bệnh nhân ngoại trú từ năm 1995đến năm 2008 ở Đan Mạch cho thấy tỷ lệ rối loạn loạn thần cấp và nhất thời

là 6,7/100000 dân trên năm [11]

1.1.4.2 Tỷ lệ theo tuổi và giới

Theo một số tác giả trên thế giới rối loạn loạn thần cấp và nhất thời thườnggặp ở tuổi trẻ từ hay gặp ở nữ, lứa tuổi thường gặp ở 20-30 tuổi [12], [13]

8

Trang 9

1.1.4.3.Tỷ lệ tử vong và tự sát

Theo Augusto C Castagnini & cs (2013) nghiên cứu đánh giá tử vongcủa rối loạn loạn thần cấp và nhất thời, so sánh với rối loạn cảm xúc lưỡngcực và tâm thần phân liệt cho kết quả theo dõi từ 1995-2008, tỷ lệ tử vong củabệnh nhân mắc rối loạn loạn thần cấp và nhất thời là khoảng 5,6%, rối loạncảm xúc lưỡng cực và tâm thần phân liệt là 5,4% và 5,1% [14], [15] Như vậy

tỷ lệ tử vong của bệnh nhân rối loạn loạn thần cấp và nhất thời, rối loạn cảmxúc lưỡng cực và tâm thần phân liệt tương đương nhau Có nhiều nguyênnhân tử vong ở bệnh nhân rối loạn loạn thần cấp và nhất thời, trong đó tự sát

là nguyên nhân chính gây tử vong

Các con đường của dopamin quan trọng trong não:

- Con đường nhân đen thể vân liên quan đến kiểm soát vận động, các tácdụng phụ ngoại tháp của thuốc an thần kinh

- Con đường trung não hệ viền liên quan đến nhiều hành vi : cảm giáchài lòng, hưng phấn mạnh mẽ khi lạm dụng chất (amphetamine, cocain),hoang tưởng, ảo giác

- Con đường trung não vỏ não liên quan đến nhận thức và cảm xúc

- Con đường dưới đồi – tuyến yên liên quan đến nội tiết, sự tiết prolactin

Rối loạn dẫn truyền dopamin:

Trang 10

Hoạt động quá mức con đường trung não hồi viền gây ra các triệu chứngdương tính như hoang tưởng, ảo giác ở bất kỳ bệnh loạn thần nào Với triệuchứng kích động hay thù địch do hệ serotonergic điều khiển sai lệch hệ [16].Theo Mary V Seeman & cs (2013) và Heike Tost (2009) khẳng định họcthuyết sự tăng nhạy cảm của hệ dopaminergic: hoạt động quá mức hệdopamin và tăng ái lực của thụ thể D2 có thể khởi động quá trình hình thànhhoang tưởng [19], [20].

o Serotonin

- Lịch sử nghiên cứu phát hiện thấy chất LSD (lysergic Diethylamideaxit) gây ra ảo giác như là 1 chất chủ vận với serotonin [21]

- Ở thể vân: serotonin phóng chiếu synap trực tiếp tới neuron dopamin

và gián tiếp qua neuron GABA Tại neuron GABA: serotonin gắn với thụ thể5HT2A làm giải phóng GABA và giảm giải phóng dopamin Tương tự, khiserotonin gắn với thụ thể 5HT2A trực tiếp tại neuron dopamin dẫn đến giảmgiải phóng dopamin Ở cuống não: serotonin giải phóng tại nhân raphe gắnvới thụ thể 5HT2A tại neuron GABA dẫn đến tăng giải phóng GABA ở nhânđen làm ức chế giải phóng dopamin đến thể vân Kích thích 5HT2C: cơ chếchống loạn thần mới do ức chế giải phóng Dopamin ở trung não hệ viền vàkhông gây hội chứng ngoại tháp [16]

o Glutamate [16]:

Bình thường đường phóng chiếu glutamate của con đường thân não vỏ não

có mối liên hệ với con đường trung não hồi viền của dopamin ở vùng mái bụng(VTA) để điều hòa giải phóng dopamin ở nhân bèo Nếu thụ thể glutamateNMDA với neuron trung gian GABA giảm hoạt động dẫn tới con đường vỏ nãotrung não tới vùng VTA tăng hoạt động, dẫn đến giải phóng quá mức glutamate

ở VTA Và tăng hoạt động con đường dopamin trung não hồi viền ở nhân bèo vàgây nên các triệu chứng dương tính

10

Trang 11

Vai trò của hệ trục dưới đồi – tuyến yên – tuyến thượng thận (HPA)Trục HPA là một trong những hệ thống cơ bản làm giảm phản ứng sinh

lý đối với các căng thẳng tâm lý và sinh lý ở động vật có vú Hệ trục HPA cómối quan hệ mật thiết với hệ dopaminrgic, khi gặp stress cấp tính làm kíchhoạt hệ trục HPA làm tăng tỷ lệ tổng hợp và phóng thích dopamin ở nhân bèo,não giữa và vỏ não trước trán khi tăng kéo dài gây tổn thương cấu trúc não, đặcbiệt hồi hải mã gây các rối loạn loạn thần Theo các báo cáo cho thấy ở bệnh nhântâm thần phân liệt có tăng cao bất thường cortisol trong máu [22], [23]

Vai trò bất thường cấu trúc não

Theo 2 nhóm tác giả Jaya L P (2015) và Lynn M và cộng sự (2015)nghiên cứu có đối chứng về bất thường cấu trúc não trong bệnh nhân có giai đoạnloạn thần đầu tiên, cho thấy bề dày của vỏ não trước trán trái ở mắt và vỏ não đaitrước trái mỏng rõ rệt ở bệnh nhân có giai đoạn loạn thần đầu tiên sau 1 năm theodõi Và có tương quan nghịch giữa các triệu chứng dương tính với khối lượng chấtxám và độ dày của vỏ não vùng trán và thái dương [24], [25]

Theo nghiên cứu của Vita A và cộng sự (2006) phân tích gộp về hìnhthái não ở giai đoạn loạn thần đầu tiên của bệnh tâm thần phân liệt, dựa trên

22 bài nghiên cứu đưa ra kết luận tăng quá mức kích cỡ rõ rệt đã được chứngminh cho tăng thể tích não thất ba và giảm thể tích toàn não và hồi hải mã cóliên quan đến giai đoạn đầu của tâm thần phân liệt [26]

Vai trò của yếu tố nuôi dưỡng thần kinh (BDNF)

Yếu tố nuôi dưỡng thần kinh có nguồn gốc từ não (BDNF) là mộtneurotrophin phân bố rộng rãi ở hệ thống thần kinh trung ương và nồng độ rấtcao trong vùng hippocampus và vỏ não trán trước (các vùng liên quan đến cáctriệu chứng tâm thần phân liệt) BDNF có một vai trò quan trọng trong quátrình phát triển não vì nó liên quan đến nhiều các chức năng thiết yếu, baogồm sinh tế bào thần kinh, biệt hóa tế bào thần kinh, sự sống còn và trưởng

Trang 12

thành bình thường của hệ thần kinh BDNF cũng có một vai trò quan trọngtrong não người trưởng thành, điều chỉnh tính toàn vẹn nơ-ron, thúc đẩy sựdẻo dai synap thần kinh, điều tiết tổng hợp, trao đổi chất và phóng thích cácchất dẫn truyền thần kinh (dopamin, axit γ aminobutyric, serotonin vàglutamate), và kiểm soát các quá trình mềm dẻo thần kinh Theo Alba Toll vàcộng sự (2014) nghiên cứu tổng quan có hệ thống về mức độ của BDNF tronggiai đoạn loạn thần đầu tiên với 147 bài báo đưa ra kết luận nói chung có sựgiảm nồng độ BDNF ngoại vi ở bệnh nhân rối loạn loạn thần giai đoạn đầutiên [27], [28].

1.2 Đặc điểm lâm sàng của giai đoạn khởi phát của rối loạn loạn thần cấp và nhất thời

Theo A Primer (2002) [6], rối loạn loạn thần cấp và nhất thời điển hìnhdiễn biến qua 3 giai đoạn: giai đoạn khởi phát, giai đoạn toàn phát và giaiđoạn hồi phục Trong giai đoạn khởi phát, bệnh nhân trải qua các triệu chứngbao gồm: các thay đổi về cảm xúc, tư duy, nhận thức và hành vi mặc dù chưabiểu hiện các triệu chứng loạn thần rõ ràng như hoang tưởng, ảo giác, các rốiloạn hành vi tác phong Các triệu chứng này xuất hiện không tương xứng vớihoàn cảnh

Giai đoạn khởi phát khác nhau giữa các cá thể, khoảng 80% bệnh nhân cóbiểu hiện các triệu chứng khởi phát, còn lại khoảng 20 % số còn lại không trảiqua giai đoạn khởi phát, thời gian của giai đoạn này cũng khá thay đổi [29], [6],[10] Giai đoạn này triệu chứng khá dao động, xuất hiện tăng dần và chuyển dịchtheo thời gian Các dấu hiệu và triệu chứng của giai đoạn này bao gồm:

1.2.1 Các thay đổi về cảm xúc

Các biểu hiện về thay đổi cảm xúc rất phong phú và đa dạng Nhưng lại

mơ hồ khó xác định Các thay đổi có thể là trầm cảm, lo âu, căng thẳng, sợhãi, dễ cáu giận, tức giận hoặc thay đổi tâm trạng, có khi lại hưng phấn vui

12

Trang 13

vẻ, có khi lại thờ ơ không giao tiếp nói chuyện với ai, không quan tâm đếnmọi việc xảy ra xung quanh.

Sợ hãi là phản ứng cảm xúc cho mối đe dọa sắp xảy ra thật hay nhậnthức về mối đe dọa sắp xảy ra Lo lắng là hiện tượng phản ứng tự nhiên (bìnhthường) của con người trước những khó khăn và các mối đe dọa của tự nhiên, xãhội dẫn đến các tín hiệu báo động, báo trước nguy hiểm sắp đến để sử dụng mọibiện pháp để đương đầu Ngoài ra, bệnh nhân có thể biểu hiện các cảm xúc đadạng từ buồn chán, hay nổi nóng, cáu giận, cảm xúc không ổn định, lúc khóc lúccười và có khi hưng phấn, vui vẻ, nói nhiều vấn đề) [17], [30]

1.2.2 Các thay đổi về tư duy, nhận thức

Các thay đổi về tư duy và nhận thức cũng rất đa dạng, phong phú Nó thểhiện những nét lạ lùng, khó hiểu trong những thay đổi tư duy của họ và làmbệnh nhân mê mải trong những suy nghĩ của chính mình Biểu hiện bằng sựkhó khăn trong tập trung và trí nhớ họ cảm thấy chậm lại hoặc tăng tốc,những ý tưởng kỳ quặc, nói mơ hồ Điều này dẫn đến bệnh nhân hay khó tậptrung trong học tập, làm việc dẫn đến kết quả học tập, cũng như lao độnggiảm sút Bệnh nhân hay quên hơn [6]

Theo Yung R A và cộng sự (1996), (2007) [13], [31] nghiên cứu về cáctriệu chứng ở giai đoạn khởi phát của bệnh tâm thần phân liệt cho thấy cácthay đổi bất thường trong nhận thức của bệnh nhân rối loạn sự chú ý với bấtthường chính là giảm các kích thích bên ngoài, giảm khả năng lựa chọn thôngtin dẫn tới quá tải các thông tin, sự kiện Tư duy bị gián đoạn, đầu óc trốngrỗng, khó suy nghĩ Thay đổi mối bận tâm xung quanh và mơ mộng, giảm khảnăng trừu tượng Thay đổi về cảm nhận bản thân, người và thế giới xungquanh: cảm giác nghi ngờ mơ hồ, cảm giác khác thường với những ngườikhác hoặc những thứ trong môi trường có thể có vẻ thay đổi Người bệnh cảm

Trang 14

nhận thấy có điều gì lạ trong người, lo lắng chờ đợi một điều gì đến sẽ thayđổi cuộc đời mình.

1.2.3 Thay đổi về cơ thể và tri giác

Theo nhiều tác giả cho thấy các triệu chứng tiền triệu hay gặp ở bệnhnhân có giai đoạn khởi phát của tâm thần phân liệt như các rối loạn giấc ngủ,thay đổi thèm ăn,phàn nàn về cơ thể, mất năng lượng hoặc giảm động lực làmviệc, tăng cảm giác và tri giác sai lệch

Rối loạn giấc ngủ là hiện tượng hay gặp trong bệnh tâm thần, là mộtyếu tố dự báo của các chức năng tâm thần bị suy yếu và triệu chứng loạn thần,cũng như mức độ nghiêm trọng của các triệu chứng loạn thần Theo một sốnghiên cứu có từ 17,9-57,3% việc rối loạn giấc ngủ tác động tiêu cực nên rốiloạn tâm thần Trong rối loạn giấc ngủ, có thể là khó đi vào giấc ngủ, tỉnh dậygiữa đêm, thức dậy sớm, ngủ hay mơ…Tỷ lệ mất ngủ thường xuyên và nhữngcơn ác mộng thường xuyên tương ứng là 19% và 9% Các rối loạn giấc ngủ

có thể gặp như khó khăn đi vào giấc, tỉnh giấc giữa đêm, thức dậy sớm và mấtngủ cả đêm Bệnh nhân thay đổi nhịp ngủ thức mất ngủ ban đêm nhưng ngủnhiều ban ngày [32], [33]

Bệnh nhân trong giai đoạn này thường biểu hiện rối loạn ăn uống, cóthể ăn kém thường do giảm ngon miệng, hoặc thay đổi thời gian ăn uống bệnhnhân hay xao nhãng việc ăn uống, ăn uống trở nên thất thường, hoặc có khibiểu hiện ăn nhiều

Bên cạnh đó, người bệnh thường biểu hiện các triệu chứng cơ thể nhưchóng mệt mỏi, khó chịu, đau đầu, mất ngủ, cảm giác khó khăn trong học tập

và công tác, khó khăn tiếp thu cái mới, đầu óc mù mờ như có màn sương chephủ, khó suy nghĩ, cảm xúc lạnh nhạt, khó thích ứng với ngoại cảnh, giảmdần các thích thú trước kia, bồn chồn lo lắng vô duyên vô cớ, dễ nổi khùng vàtiếp theo là cảm giác bị động, dường như đuối sức trước cuộc sống, không

14

Trang 15

theo kịp những thay đổi xung quanh Một số bệnh nhân lại cảm thấy có nhữngbiến đổi trong người thay đổi nét mặt hoặc màu da, cũng như bệnh nhân trởnên sau sưa đọc các loại sách triết học, lí luận viển vông không phù hợp thực

tế [17] Kèm theo đó bệnh nhân thoái hóa trong việc tự chăm sóc bản thân, xalánh bạn bè người thân [30]

Theo Yung R A và cộng sự (1996), (2007) [13], [31] nghiên cứu về cáctriệu chứng của giai đoạn khởi của bệnh tâm thần phân liệt mô tả về các triệuchứng cơ thể và rối loạn cảm giác, như sau các triệu chứng về căng thẳng tâmthần không đặc hiệu như bệnh nhân than phiền lo âu, bồn chồn bất an, căngthẳng và các triệu chứng cơ thể như than phiền cơ thể, kém ngon miệng, rốiloạn giấc ngủ và sút cân Bên cạnh đó có những triệu chứng lâm sàng củabệnh cảnh tâm thần phân liệt như sự nghi ngờ, cảm giác bàng hoàng, bối rối

và cảm giác môi trường bên ngoài lạ lùng, không thân thuộc Rối loạn tri giácnhư nhìn thấy vật thể thay đổi kích thước, màu sắc, độ sáng chuyển động (trigiác sai thực tại), thay đổi cảm nhận bản thân, người khác xung quanh, tăngcảm giác cá nhân (kích thích nhẹ mà bệnh nhân cho là quá mạnh, không chịuđựng được, VD: không chịu được ánh sáng phòng ngủ, nghe tiếng động nhỏthành tiếng bom nổ ) [34]

1.2.4 Thay đổi về hành vi, tác phong

Các thay đổi về hành vi tác phong bao gồm hành vi thay đổi, học tập vàlàm việc kém đi, trở nên ít hoạt động, cô lập hơn, giảm quan tâm đến xã hộixung quanh

Các rối loạn hành vi tác phong này không tương xứng với hoàn cảnh,bao gồm sững sờ, đờ đẫn hay kích động tâm thần vận động Hành vi tácphong tương ứng với hoang tưởng như thái độ say đắm, trốn chạy, đập phá,hành động mang tính chất kỳ cục, tấn công người khác hay tự sát có thể xảy

Trang 16

ra Đôi khi có căng trương lực [8] Tuy nhiên, các thay đổi này không đặctrưng.

Các triệu chứng khác như: lời nói bất thường, nói mơ hồ khó hiểu, thayđổi hành vi tác phong, suy giảm trong học tập, công việc hoặc vai trò nhiệm

vụ khác, cách ly xã hội hơn, hành vi kỳ dị, kích động, xung động, hành vi gâyrối, có thể có ý tưởng và hành vi tự sát

Theo Yung R A và cộng sự (1996), (2007) [13], [31] đã đưa ra danhsách 9 triệu chứng khởi phát gợi ý giai đoạn khởi phát của tâm thần phân liệt

là mất khả năng phân chia sự chú ý, tư duy gián đoạn, tư duy bị chèn ép, rốiloạn hình thức ngôn ngữ, rối loạn tư duy trừu tượng, ý tưởng liên hệ không ổnđịnh, sự chú ý quá chi tiết

1.3 Các yếu tố liên quan đến khởi phát rối loạn loạn thần cấp và nhất thời

1.3.1 Yếu tố gia đình

Một số nghiên cứu cho thấy một số bệnh nhân rối loạn loạn thần cấp vànhất thời có liên quan tiền sử gia đình có rối loạn cảm xúc, tâm thần phân liệt[2], [12]

Theo Salokangas R.K.R.và cộng sự (2008) về tổng quan phát hiện và canthiệp sớm rối loạn loạn thần cho thấy nguy cơ cao gấp 10 lần nếu người cóquan hệ họ hàng đời thứ nhất bị tâm thần phân liệt Và yếu tố di truyền củabệnh tâm thần phân liệt ảnh hưởng nhiều đến sự phát triển bệnh tật sau nàycủa cá nhân [35]

1.3.2 Vai trò của nhân cách

Một số nét nhân cách ở bệnh nhân rối loạn loạn thần cấp và nhất thờinhư [34], [37], [38]:

- Nhân cách dạng phân liệt: khép kín, không cởi mở, ít quan hệ, đanghi…

16

Trang 17

- Nhân cách phân ly: dễ xúc động, hay tưởng tượng, thích được quantâm, chiều chuộng…

- Nhân cách lo âu: hay lo lắng, suy nghĩ, chi ly, cầu toàn,…

- Nhân cách ranh giới: không rõ ràng hình ảnh bản thân, dễ bị liên hệ đếnmối quan hệ căng thẳng, không ổn định, các cơn khủng hoảng cảm xúc, cáchành động hủy hoại bản thân

Theo nghiên cứu của Patrick Keown & cs (2002) cho thấy có 52% bệnhnhân đủ tiêu chuẩn chẩn đoán một hoặc hai rối loạn nhân cách [37] Theonghiên cứu của Marija Rusaka & cs (2015), tỷ lệ rối loạn loạn thần cấp và nhấtthời đồng diễn với các rối loạn nhân cách khác nhau, như nhân cách nghi bệnh(13,5%), trầm cảm (17,5%), dạng phân liệt (18,9%) [39] Theo Jergensen P,Bennedsen & cs (1996) nhận định có 1 tỷ lệ cao (63%) rối loạn nhân cách đượcbộc lộ sau khi rối loạn loạn thần cấp và nhất thời ổn định [40]

1.3.3 Vai trò của sang chấn tâm lý

Theo ICD-10, có một tỷ lệ nhất định các rối loạn loạn thần cấp và nhấtthời kết hợp với sang chấn Các sự kiện gây sang chấn có thể là tang tóc, mấtmát tài sản lớn, sang chấn trong chiến đấu, bị khủng bố bị tra tấn, cũng như sựtan vỡ trong tình cảm lứa đôi, gia đình Các sự kiện hoặc hoàn cảnh gây sangchấn có thể thúc đẩy nên rối loạn loạn thần cấp Các dạng sang chấn tác độngvào một người có nhân cách bị tổn thương thì dễ gây nên các rối loạn tâmthần [34]

Các loại sang chấn tâm lý bao gồm [34]:

- Các sang chấn tâm thần rất mạnh gọi là choáng tâm thần, tức lànhững trường hợp đe dọa tính mạng, bản năng sinh tồn bị căngthẳng cao độ, sinh mạng chính trị bị tiêu tan, tình cảm bị đảo lộn,như: bị bắt giam, người yêu bị tai nạn, chia tay,

Trang 18

- Các sang chấn kéo dài: ít gặp, nhưng cũng nhưng cũng có gây raloạn thần phản ứng: quá chênh lệch giữa lý tưởng và hiện thực, luônchung sống với một người hoàn toàn không thích hợp và thườngxuyên mâu thuẫn,

Theo Berger G và cộng sự (2006), thực hiện nghiên cứu sang chấn tâm

lý, vùng dưới đồi, trục HPA liên quan đến sự phát triển của các rối loạn loạnthần, cho thấy vùng dưới đồi và rối loạn chức năng hệ trục HPA có liên quanđến sự khởi phát và duy trì của các rối loạn loạn thần Đánh giá theo chiềudọc các yếu tố này ở những người trẻ tuổi ở mức cao nguy cơ rối loạn tâmthần và các rối loạn tâm thần giai đoạn đầu [23] Theo nghiên cứu của Das S

K và cộng sự (2001) cho thấy có 32,5% bệnh nhân có sang chấn tâm lý trongvòng 2 tuần trước khi khởi phát rối loạn loạn thần cấp và nhất thời được ghinhận trên lâm sàng [41] Theo Nguyễn Hữu Chiến (2008) tỷ lệ kết hợp vớisang chấn tâm lý là 19,33% Các sang chấn hay gặp như: mâu thuẫn gia đình(24,14%), mất người thân (13,79%), mất tài sản (13,79%), trắc trở tình yêu(13,79%) và các loại khác (người thân đau ốm, …) [42]

18

Trang 19

- Nhận thức: Các nghiên cứu dựa trên dân số cho thấy rằng một tỷ lệ tríthông minh thấp (IQ) là một yếu tố nguy cơ cho tâm thần phân liệt vàcác rối loạn tâm thần khác.

1.4.Một số nghiên cứu trong và ngoài nước

1.4.1 Nghiên cứu trong nước

 Theo Nguyễn Hữu Chiến (2008) [42] nghiên cứu trên 150 bệnh nhânchẩn đoán rối loạn loạn thần cấp và nhất thời, cho thấy:

o Tuổi phát bệnh của rối loạn này là 30,9 ± 11,85, phần lớn gặp ở tuổi

từ 15 đến 34 (64%) Tiền sử gia đình bị rối loạn tâm thần chiếm 21,33%

o Thời gian khởi phát ngắn chỉ 6,7 ± 6,2 ngày, hầu hết khởi phát > 48h(62%)

 Theo Lê Thị Tố Uyên (2010) [43] nghiên cứu đặc điểm lâm sàng vàmột số yếu tố liên quan đến bệnh tâm thần phân liệt ở lứa tuổi thanh thiếuniên cho thấy có khoảng một nửa số trường hợp khởi phát từ từ với biểu hiệnnhư: rối loạn cảm xúc (26,7%), than phiền cơ thể như đau đầu, mệt mỏi, khóchịu (20%), giảm sút học tập, thu hẹp giao tiếp, ám ảnh,…

1.4.2 Nghiên cứu nước ngoài

Theo Yung R.A và cộng sự (1996) [13] nghiên cứu trên 21 bệnh nhângiai đoạn loạn thần đầu tiên, với kết quả

- Các triệu chứng tâm thần: lo âu(85,7%), lo sợ, kích thích (85,7%)và ámảnh nghi thức (19%)

- Triệu chứng cảm xúc: bồn chán (76,2%), bị tội (38,1%), hưng phấn(23,8%), cảm xúc không ổn đinh (42,9%)

- Thay đổi nhận thức: giảm tập trung chú ý vấn đề trí nhớ (71,4%), suynghĩ gián đoạn, ý tưởng tự sát

- Triệu chứng khác: mất điều khiển (66,7%), mệt mỏi giảm năng lượng(61,9%), tăng năng lượng (38,1%)

Trang 20

- Triệu chứng cơ thể: đau cơ thể (85,7%), sút cân kém ngon miêng(47.6%)…

- Triệu chứng về tri giác: thay đổi nhận cảm bản thân, người khác vàxung quanh (61,9%), hành vi kỳ dị, khó hiểu (9,5%) …

Theo Rajkumar R.P và cộng sự (2016) [44], kết quả cho thấy:

- Tuổi mắc trung bình = 25.19 ± 8.32 tuổi

- Tỷ lệ giới: nam/nữ=1/3

- Khởi phát giai đoạn đầu tiên chiếm 81,25%, tái phát lại 18,75%

- Sự có mặt của sang chấn tâm lý là 31,75%

- Rối loạn cảm xúc hay gặp nhất là cáu gắt (62,5%)

- Rối loạn hình thức tư duy hay gặp chiếm 50%

20

Trang 21

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG NGHIÊN CỨU

2.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

- Địa điểm: Viện Sức khỏe Tâm thần – Bệnh viện Bạch Mai

- Thời gian: từ tháng 10/2016 đến tháng 8/2017

2.2 Đối tượng nghiên cứu

2.2.1 Tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng nghiên cứu

Tất cả bệnh nhân được chẩn đoán xác định rối loạn loạn thần cấp vànhất thời (F23) theo ICD 10 – 1992 của Tổ chức Y tế Thế giới và điều trị nộitrú tại Viện Sức khỏe Tâm thần – Bệnh viện Bạch Mai

2.2.2 Tiêu chuẩn loại trừ

- Những bệnh nhân có bệnh tổn thương não: chấn thương sọ não, u não,

mê sảng, động kinh, mất trí, tai biến mạch máu não trong tiền sử và hiện tại

- Bệnh nhân đủ tiêu chuẩn nghiện chất và bệnh thực thể nặng kèm theo

mà không hợp tác được nghiên cứu

- Những bệnh nhân và người nhà không đồng ý tham gia hợp tác nghiêncứu

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Thiết kế nghiên cứu

Sử dụng phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang, có hồi cứu

2.3.2 Công thức tính cỡ mẫu nghiên cứu

- Cỡ mẫu đối tượng nghiên cứu được tính theo công thức tính cỡ mẫunghiên cứu đặc điểm lâm sàng

Trang 22

Cỡ mẫu được tính theo công thức “Ước tính một tỉ lệ trong quần thể”[46].

𝝴: mức sai lệch tương đối giữa tham số mẫu và tham số quần thể, lấygiá trị bằng 0,2 Thay vào công thức ta được :

0,625(1- 0,625)

n = 1,962

(0,625.0,2)2

- Cỡ mẫu nghiên cứu: tối thiểu n ≈ 58 bệnh nhân

- Nghiên cứu của chúng tôi thực hiện trên cỡ mẫu là 75 bệnh nhân

2.3.3 Cách tiến hành:

+ Bước 1: xây dựng công cụ và bệnh án nghiên cứu

+ Bước 2: phỏng vấn bệnh nhân và người thân, khám bệnh nhân để pháthiện triệu chứng khởi phát và yếu tố liên quan khởi phát rối loạn loạn thầncấp và nhất thời

2.4 Biến số nghiên cứu:

Đặc điểm chung : Tuổi, giới, nghề nghiệp, nơi ở, trình độ học vấn, tìnhtrạng hôn nhân, tình trạng kinh tế, hoàn cảnh gia đình, tỷ lệ mã bệnh rối loạnloạn thần cấp

22

Trang 23

Đặc điểm lâm sàng giai đoạn khởi phát rối loạn loạn thần cấp và nhấtthời:

oThời gian khởi phát

o Các triệu chứng rối loạn bản năng:

o Rối loạn giấc ngủ

o Rối loạn ăn uống

o Đặc điểm rối loạn cảm xúc: lo âu, buồn chán, hưng phấn, cáu gắt, cảmxúc không ổn định, thờ ơ

o Đặc điểm rối loạn hành vi: tăng hoạt động, giảm hoạt động, kíchđộng, không tiếp xúc, hành vi kỳ dị

o Đặc điểm rối loạn nhận thức, tư duy: giảm tập trung, chú ý, trí nhớ,giảm quan tâm xung quanh

o Đặc điểm triệu chứng cơ thể: than phiền cơ thể, sút cân, mệt mỏi,giảm năng lượng, triệu chứng thần kinh thực vật, bồn chồn bứt rứt

o Đặc điểm triệu chứng cảm giác tri giác

o Đặc điểm một số triệu chứng khác

 Một số yếu tố liên quan khởi phát: sang chấn tâm lý, yếu tố tiền sử giađình, nét tính cách

2.5 Phương pháp thu thập thông tin

2.5.1 Phỏng vấn theo bộ câu hỏi, bệnh án nghiên cứu sẵn có:

Tiếp xúc với bệnh nhân và người thân trong gia đình, bạn bè để khai tháccác thông tin về bệnh của bệnh nhân, tiền sử cá nhân, gia đình và các vấn đề

có liên quan

- Tiền sử gia đình: xem trong gia đình bệnh nhân có người nào có rốiloạn tâm thần: trầm cảm, hưng cảm, tâm thần phân liệt, loạn thần

- Tiền sử bản thân:

Trang 24

+ Tìm hiểu quá trình mang thai, sinh đẻ, phát triển thể chất và tâm thần

từ nhỏ của bệnh nhân, đặc điểm về nhân cách, các mối quan hệ trong gia đình,

xã hội,… nhằm thu thập các thông tin về đặc điểm cấu trúc nhân cách, đặcđiểm các yếu tố nguy cơ liên quan đến rối loạn loạn thần cấp, các biểu hiệntâm lý cảm xúc, hành vi gần đây

+ Tiền sử các bệnh lý về rối loạn tâm thần không?

+ Khai thác sang chấn tâm lý, những mâu thuẫn trong gia đình, xã hội,nghỉ hưu, thiệt hại kinh tế, mất người thân, …

+ Khai thác bệnh lý cơ thể đi kèm và tiền sử sử dụng chất kích thích

- Hỏi bệnh sử:

+ Cần khải thác tỉ mỉ từ lúc bệnh nhân xuất hiện các triệu chứng bấtthường về sức khỏe (rối loạn giấc ngủ, ăn uống không ngon miệng, …) chotới lúc nhập viện

+ Hoàn cảnh xuất hiện, diễn biến và mức độ biểu hiện các triệu chứng+ Bệnh nhân đã được khám và điều trị ở đâu trước khi đến chuyên khoatâm thần

+ Thời gian từ khi có triệu chứng đến lúc bệnh nhân vào Viện Sức khỏeTâm thần điều trị

- Khám lâm sàng:

o Quan sát bệnh nhân toàn diện từ nét mặt, giọng nói, cử chỉ, dáng điệu,trang phục, thái độ trong lúc giao tiếp với người xung quanh

o Khám tâm thần:

 Đặc biệt chú ý khai thác các rối loạn cảm xúc, tư duy, hanh vi

 Thăm khám bệnh nhân mỗi ngày để theo dõi diễ biến, sự thuyên giảmcác triệu chứng, khả năng đáp ứng với thuốc điều trị, tác dụng không mongmuốn

24

Trang 25

o Khám thực thể: phát hiện và đánh giá các bệnh lý cơ thể, bệnh lý thầnkinh.

2.5.2 Các công cụ dùng trong nghiên cứu:

+ Bệnh án nghiên cứu: Bệnh án nghiên cứu được xây dựng theo mẫubệnh án nghiên cứu riêng với đầy đủ thông tin cần thiết cho mục tiêu nghiêncứu đặt ra Mẫu bệnh án chuyên biệt được thiết lâp phù hợp với mục tiêu vànội dung nghiên cứu Tất cả các bệnh nhân đều được làm hồ sơ theo mẫubệnh án nghiên cứu thống nhất

+ Tham khảo hồ sơ bệnh án điều trị để bổ sung thông tin thu thập từphỏng vấn và ghi nhận

+ Các xét nghiệm cơ bản: xét nghiệm sinh hóa, huyết học

2.6 Phương pháp xử lý số liệu:

- Nhập số liệu, xử lí số liệu theo phần mềm toán học SPSS 16.0

- Sử dụng test 2, Phi – Cramer’V, tỷ lệ %, chỉ số, tần suất

2.7 Đạo đức nghiên cứu

* Nghiên cứu chỉ là mô tả lâm sàng, không can thiệp nên không làm ảnh

hưởng đến kết quả điều trị bệnh nhân Các thông tin do đối tượng nghiên cứucung cấp được đảm bảo giữ bí mật

* Bệnh nhân và người nhà bệnh nhân được giải thích rõ mục tiêu và

phương pháp nghiên cứu, tự nguyện tham gia vào nghiên cứu và có quyền rút

khỏi nghiên cứu Nghiên cứu không làm ảnh hưởng đến uy tín của bệnh nhân

Trang 27

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

3.1.1 Phân bố theo giới

.000 5.3%

Nam Nữ

Biểu đồ 3.1 Phân bố theo giới (N=75).

Nhận xét:

Trong tổng số 75 bệnh nhân, có 40 bệnh nhân nữ (chiếm tỷ lệ 53,3%)

và 38 bệnh nhân nam (chiếm tỷ lệ 46,7%) Tỷ lệ mắc bệnh của nam và nữ làtương đương nhau (nam/nữ ≈ 1)

3.1.2 Đặc điểm về tuổi

Phân bố theo tuổi

Bảng 3.1 Phân bố theo tuổi (N=75)

Trang 28

Tuổi cao nhất 64

Nhận xét:

- Tuổi trung bình của nhóm nghiên cứu là 34,28 ±12,71 tuổi

- Tuổi thấp nhất mắc là 13 tuổi, tuổi cao nhất mắc là 64 tuổi

- Nhóm tuổi hay gặp nhất là nhóm 18-30 tuổi, chiếm 33,3 %

- Tỷ lệ mắc bệnh có xu hướng giảm theo tuổi

So sánh tuổi khởi phát bệnh giữa các thể rối loạn loạn thần cấp và nhất thời

Bảng 3.2 So sánh tuổi khởi phát bệnh giữa các thể rối loạn loạn thần cấp

Tuổi khởi phát bệnh ở thể bệnh rối loạn loạn thần cấp đa dạng không

có triệu chứng tâm thần phân liệt (F23.0) có vẻ như muộn hơn thể rối loạnloạn thần cấp đa dạng có các triệu chứng tâm thần phân liệt (F23.1) Tuynhiên theo kiểm định sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê, với F =1,62 tương ứng giá trị p =0,205

28

Trang 29

3.1.3 Phân bố theo trình độ học vấn, nghề nghiệp

Phổ

thôn

g tru

ng học

Sau

đại học

Trình độ học vấn ở các bệnh nhân là rất khác, nhưng có thể thấy:

- Bệnh nhân có trình độ học vấn phổ thông trung học chiếm cao nhất(45,3%)

- Các bệnh nhân có trình độ học vấn thấp (không biết chữ, tiểu học)hoặc trình độ học vấn cao (sau đại học) chiếm tỷ lệ thấp, tương ứngthấp (1,3%, 2,7%) và cao (2,7%)

Trang 30

Phân bố theo nghề nghiệp

lao đ

ộng c

hân y

công

nhâ

n viê

n chức

Học sin

Trang 31

3.1.4 Tỷ lệ các thể bệnh rối loạn loạn thần cấp và nhất thời

69.3

2.8

2.7

F23.0 F23.1 F23.3

Biểu đồ 3.4.Tỷ lệ các thể rối loạn loạn thần cấp và nhất thời (N=75)

Nhận xét:

Phân bố thể bệnh trong mẫu nghiên cứu, cho thấy thể rối loạn loạn thầncấp đa dạng không có triệu chứng tâm thần phân liệt (F23.0) chiếm tỷ lệ caonhất là 69,3% Chiếm tỷ lệ ít nhất là thể rối loạn loạn thần cấp chủ yếu hoangtưởng (F23.3) chiếm 2,7% Trong nghiên cứu của chúng tôi không có bệnhnhân nào được chẩn đoán các thể còn lại (F23.2, F23.8 và F23.9)

Trang 32

3.2 Đặc điểm lâm sàng giai đoạn khởi phát của rối loạn loạn thần cấp và nhất thời

3.2.1 Đặc điểm thời gian khởi phát của rối loạn loạn thần cấp và nhất thời

3.2.1.1 Thời gian khởi phát bệnh

Bảng 3.3 Thời gian khởi phát bệnh (N=75)

Thời gian khởi phát bệnh được tính từ khi bệnh nhân bắt đầu có biểuhiện bất thường về hoạt động tâm thần đến khi có biểu hiện

- Thời gian khởi phát trung bình khoảng 2,9 ± 2,05 ngày

- Nhóm khởi phát >48h có 48 trường hợp, chiếm 64,0% cao hơn nhómkhởi phát ≤ 48h có 27 trường hợp, chiếm 36,0%

Như vậy, phần lớn các trường hợp có thời gian khởi phát >48h, khácbiệt có biệt có ý nghĩa thống kê, với Q=5,88, giá trị p=0,015

Bảng 3.4 Thời gian điều trị bệnh giữa các nhóm khởi phát (N=75)

0,03Khởi phát >48h 19,17 ± 8,63

Nhận xét:

- Thời gian điều trị ở nhóm thời gian khởi phát ≤48h là 14,59 ± 8,52 ngày

- Thời gian điều trị ở nhóm thời gian khởi phát >48h là 19,17 ± 8,63 ngày

32

Trang 33

Như vậy, nhóm có thời gian khởi phát >48h, có thời gian điều trị kéodài hơn nhóm khởi phát ≤ 48h, sự khác biệt có ý nghĩa thống với p =0,03.

nói k

hông liên

quan

nói lẩm

hành

vi kỳ lạ

18.7 13.3

1.3 4

20

6.7 4

Trang 34

3.2.2 Đặc điểm các triệu chứng lâm sàng của giai đoạn khởi phát

3.2.2.1 Đặc điểm rối loạn giấc ngủ

Bảng 3.5 Đặc điểm rối loạn giấc ngủ (N=75)

Chỉ có 1 trường hợp không có rối loạn giấc ngủ, chiếm 1,3%

3.2.2.2 Nhận xét về rối loạn ăn uống

Bảng 3.6 Nhận xét về rối loạn ăn uống (N=75)

Trang 35

3.2.2.3 Nhận xét về các rối loạn cảm xúc ở giai đoạn khởi phát của rối loạn loạn thần cấp và nhất thời

Bảng 3.7 Nhận xét đặc điểm các rối loạn cảm xúc ở giai đoạn khởi phát

của rối loạn loạn thần cấp và nhất thời (N=75)

đề, chiếm 32,0% và 6 trường hợp lo về chủ đề sang chấn tâm lý (mất ngườithân, thiệt hại kinh tế,…) chiếm 8%

Các triệu chứng khác ít gặp hơn như: sợ hãi (30,7%), hưng phấn (17,3%),buồn chán (13,3%) và thờ ơ (8%)

3.2.2.4 Đặc điểm các triệu chứng nhận thức, tư duy ở giai đoạn khởi phát

Đặc điểm các triệu chứng nhận thức, tư duy

Trang 36

tập

trung

chú ý

Giảm

trí nhớ Tính

nghigờ

Các triệu chứng khác ít gặp hơn tính nghi ngờ (53,3%), tư duy gián đoạn(16,0%)

36

Trang 37

So sánh các triệu chứng nhận thức, tư duy ở các thể rối loạn loạn thần cấp và nhất thời

Bảng 3.8 So sánh các triệu chứng nhận thức, tư duy ở giai đoạn khởi phát

ở các thể rối loạn loạn thần cấp và nhất thời (N=73)

3.2.2.5 Đặc điểm nhóm các triệu chứng cơ thể

Trang 38

Bảng 3.9 Đặc điểm nhóm các triệu chứng cơ thể (N=75)

3.2.2.6 Đặc điểm các triệu chứng về ngôn ngữ - giao tiếp

Bảng 3.10 Đặc điểm các triệu chứng về ngôn ngữ - giao tiếp (N=75)

Nhận xét:

Hầu hết các bệnh nhân có biểu hiện lời nói bất thường (86,7%) Trong

đó, nói mơ hồ không rõ nội dung chiếm tỷ lệ cao nhất là 64,0%, ít hơn là nóikhông liên quan hoàn cảnh và nói lặp lại (54,7% và 34,7%)

3.2.2.7 Đặc điểm các triệu chứng rối loạn hành vi

38

Trang 39

Bảng 3.11 Đặc điểm các triệu chứng rối loạn hành vi ở giai đoạn khởi phát

Trang 40

3.2.2.8 Đặc điểm triệu chứng về cảm giác tri giác

Bảng 3.12 Các triệu chứng về cảm giác, tri giác (N=75)

Thay đổi sinh hoạt

Khó khăn trong học tập tiếp thu cái mới 67 89,3

Nhận xét:

Tất cả bệnh nhân đều có biểu hiện thay đổi thời gian biểu trong ngày Đa

số có biểu hiện khó khăn trong học tập tiếp thu cái mới (89,3%), biểu hiêngiảm giao tiếp và ngồi một mình cũng có tỷ lệ gặp khá cao tương ứng 65,3% và

40

Ngày đăng: 17/07/2019, 20:32

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
29. Addington J. (2003). The prodromal stage of psychotic illness:Observation, detection or intervention?. J Psychiatry Neurosci, 28(2), 93 Sách, tạp chí
Tiêu đề: J Psychiatry Neurosci
Tác giả: Addington J
Năm: 2003
30. Patric M. G., John M. G. (2001), Tâm thần phân liệt và các rối loạn có liên quan, Cơ sở của lâm sàng tâm thần học. 2nd ed, Melbourne University, Australia, 310–311 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở của lâm sàng tâm thần học
Tác giả: Patric M. G., John M. G
Năm: 2001
31. Yung A.R., McGorry P.D. (2007). Prediction of psychosis: setting the stage. Br J Psychiatry, 191(51), s1–s8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Br J Psychiatry
Tác giả: Yung A.R., McGorry P.D
Năm: 2007
32. Soehner A.M., Kaplan K.A., Harvey A.G., et al. (2013). Insomnia Comorbid to Severe Psychiatric Illness. Sleep Med Clin, 8(3), 361–371 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sleep Med Clin
Tác giả: Soehner A.M., Kaplan K.A., Harvey A.G., et al
Năm: 2013
33. Li S.X., Lam S.P., Zhang J., et al. (2016). Sleep Disturbances and Suicide Risk in an 8-Year Longitudinal Study of Schizophrenia-Spectrum Disorders. Sleep, 39(6), 1275–1282 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sleep
Tác giả: Li S.X., Lam S.P., Zhang J., et al
Năm: 2016
34. Nguyễn Việt (1984), Tâm thần học 84, Bệnh loạn thần phản ứng, trường Đại học Y Hà Nội, Nhà xuất bản y học, Hà nội, 42 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh loạn thần phản ứng
Tác giả: Nguyễn Việt
Nhà XB: Nhà xuất bản y học
Năm: 1984
35. Salokangas K.R., McGlashan T.H. (2008). Early detection and intervention of psychosis. A review. Nord J Psychiatry, 62(2), 92–105 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nord J Psychiatry
Tác giả: Salokangas K.R., McGlashan T.H
Năm: 2008
36. Peter A., Nick A. (2002), Brief psychotic disorder., Mental Health Foundation of New Zealand, Auckland, N.Z., 3-9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Brief psychotic disorder
Tác giả: Peter A., Nick A
Năm: 2002
37. Keown P., Holloway F., Kuipers E. (2002). The prevalence of personality disorders, psychotic disorders and affective disorders amongst the patients seen by a community mental health team in London. Soc Psychiatry Psychiatr Epidemiol, 37(5), 225–229 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Soc PsychiatryPsychiatr Epidemiol
Tác giả: Keown P., Holloway F., Kuipers E
Năm: 2002
38. Rachel L. L., Rahel P., Sophia V., et al. (2011). Psychosis Risk Screening with the Prodromal Questionnaire. Schizophr Res, 129(1), 42–46 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Schizophr Res
Tác giả: Rachel L. L., Rahel P., Sophia V., et al
Năm: 2011
40. Jứrgensen P., Bennedsen B., Christensen J., et al. (1996). Acute and transient psychotic disorder: comorbidity with personality disorder. Acta Psychiatr Scand, 94(6), 460–464 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ActaPsychiatr Scand
Tác giả: Jứrgensen P., Bennedsen B., Christensen J., et al
Năm: 1996
41. Das S.K., Malhotra S., Basu D., et al. (2001). Testing the stress- vulnerability hypothesis in ICD-10-diagnosed acute and transient psychotic disorders. Acta Psychiatr Scand, 104(1), 56–58 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Acta Psychiatr Scand
Tác giả: Das S.K., Malhotra S., Basu D., et al
Năm: 2001
42. Nguyễn Hữu Chiến (2008), Đặc điểm lâm sàng, tiến triển rối loạn loạn thần cấp và nhất thời, Luận văn Tiến sĩ Y học, Trường đại học Y Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm lâm sàng, tiến triển rối loạn loạnthần cấp và nhất thời
Tác giả: Nguyễn Hữu Chiến
Năm: 2008
43. Lê Thị Tố Uyên (2010), Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và một số yếu tố liên quan đến bệnh tâm thần phân liệt ở lứa tuổi thanh thiếu niên, luận văn bác sĩ chuyên khoa cấp II, Trường đại học Y Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và một số yếu tốliên quan đến bệnh tâm thần phân liệt ở lứa tuổi thanh thiếu niên
Tác giả: Lê Thị Tố Uyên
Năm: 2010
44. Rajkumar R.P. (2016). Acute polymorphic psychotic disorder: Differences from other acute and transient psychoses: Letter to the Editor. Asia-Pac Psychiatry, 8(1), 102–103 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Asia-PacPsychiatry
Tác giả: Rajkumar R.P
Năm: 2016
45. Nguyễn Hữu Chiến (2000), Đặc điểm lâm sàng rối loạn loạn thần cấp đa dạng không có các triệu chứng của tâm thần phân liệt, Luận văn Thạc sĩ Y học, Trường đại học Y Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm lâm sàng rối loạn loạn thần cấp đadạng không có các triệu chứng của tâm thần phân liệt
Tác giả: Nguyễn Hữu Chiến
Năm: 2000
46. Gaebel W., Riesbeck M. (2007). Revisiting the relapse predictive validity of prodromal symptoms in schizophrenia. Schizophr Res, 95(1–3), 19–29 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Schizophr Res
Tác giả: Gaebel W., Riesbeck M
Năm: 2007
47. Marneros A., Pillmann F., Haring A., et al. (2005). Is the psychopathology of acute and transient psychotic disorder different from schizophrenic and schizoaffective disorders?. Eur Psychiatry, 20(4), 315–320 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Eur Psychiatry
Tác giả: Marneros A., Pillmann F., Haring A., et al
Năm: 2005
49. Schultze L. F., Steinmeyer E.M., Ruhrmann S., et al. (2008). The dimensional structure of self-reported ‘prodromal’disturbances in schizophrenia. Clin Neuropsychiatry, 5(3), 140–150 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Clin Neuropsychiatry
Tác giả: Schultze L. F., Steinmeyer E.M., Ruhrmann S., et al
Năm: 2008
50. Das S.K., Malhotra S., Basu D. (1999). Family study of acute and transient psychotic disorders: comparison with schizophrenia. Soc Psychiatry Psychiatr Epidemiol, 34(6), 328–332 Sách, tạp chí
Tiêu đề: SocPsychiatry Psychiatr Epidemiol
Tác giả: Das S.K., Malhotra S., Basu D
Năm: 1999

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w