HCCH không phải là một khái niệm mới, nó có liên quan mật thiếtđến ĐTĐ, rối loạn lipid máu và các bệnh lý tim mạch vì vậy trong những nămgần đây, ngày càng có nhiều các nghiên cứu tìm hi
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo Liên đoàn đái tháo đường thế giới IDF, hội chứng chuyển hóa(HCCH) là một nhóm các yếu tố nguy cơ tim mạch bao gồm: đái tháo đường,tăng glucose máu, béo bụng, rối loạn cholesterol huyết thanh và tăng huyếtáp[1] Cơ chế bệnh sinh của HCCH được nhắc đến bao gồm béo bụng và sự
đề kháng insulin, ngoài ra có những cơ chế khác ảnh hưởng gồm quá trìnhviêm mạn tính, yếu tố nội tiết, yếu tố di truyền
HCCH là một hội chứng phổ biến, tỉ lệ chung ở người trưởng thành từ20-30% [2] Tại Mỹ, năm 2002 tỉ lệ HCCH ở người trưởng thành là 23,7%[3],đến năm 2011-2012 là 34,7%[4] Tại các nước châu Á tỉ lệ này dao động từ18-22% và có xu hướng ngày càng gia tăng [5] Tại Việt Nam, nghiên cứu củaTrần Văn Huy năm 2004 trên người trưởng thành tại Khánh Hòa tỉ lệ mắcHCCH là 10,8%[6], Trần Quang Bình năm 2011 tại Hà Nam tỉ lệ mắc HCCH
là 16,3% [7]
Trong những năm gần đây do sự phát triển của kinh tế - xã hội, chế độvận động, thói quen ăn uống có nhiều thay đổi vì vậy các bệnh lý rối loạnchuyển hóa ngày càng tăng lên; trong đó HCCH đang gây nhiều ảnh hưởngkhông chỉ ở các nước phát triển mà ngày càng phổ biến ở các nước đang pháttriển, có các nước trong khu vực Đông Nam Á[8] Chính vì vậy có nhiều tiêuchuẩn chẩn đoán HCCH khác nhau được đưa ra để phù hợp với đặc điểm mỗichủng tộc, mỗi quốc gia; tuy nhiên tiêu chuẩn chẩn đoán của Liên đoàn đáitháo đường thế giới IDF 2006 có nhiều điểm phù hợp với người châu Á
Người có HCCH có nguy cơ mắc ĐTĐ típ 2 tăng gấp 5 lần và nguy cơmắc bệnh mạch vành tăng gấp 3,2 lần [9], ngoài ra còn liên quan đến nhiềucác biến chứng khác gây ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống như: hội chứngngừng thở khi ngủ, ung thư, bệnh gan thoái hóa mỡ không do rượu Vì vậy
Trang 2phát hiện sớm HCCH để có những biện pháp dự phòng và điều trị kịp thời làhết sức cần thiết Hiện nay, ở Việt Nam đã có nhiều nghiên cứu về HCCHđược tiến hành tại cộng đồng, nhưng trên đối tượng đi khám sức khỏe lại chưa
có nhiều nghiên cứu
Vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu này với 2 mục tiêu sau:
1 Đánh giá tỉ lệ HCCH ở người đến khám sức khỏe tại khoa Khám Bệnh Theo Yêu Cầu bệnh viện Bạch Mai.
2 Nhận xét một số yếu tố liên quan đến HCCH ở nhóm đối tượng nghiên cứu.
Trang 3CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Hội chứng chuyển hóa.
1.1.1 Lịch sử hội chứng chuyển hóa.
Sự phát triển của kinh tế - xã hội đã gây ra nhiều thay đổi trong lối sống:
ít hoạt động thể lực; chế độ ăn nhiều năng lượng, giàu chất béo, đồ ăn nhanh; cácthiết bị công nghệ, internet Những sự thay đổi này đã ảnh hưởng không nhỏ đếnsức khỏe con người, trong đó tình trạng thừa cân béo phì ngày càng gia tăng,cùng với đó là sự phát triển của các bệnh lý không lây nhiễm, ĐTĐ và các bệnh
lý tim mạch HCCH không phải là một khái niệm mới, nó có liên quan mật thiếtđến ĐTĐ, rối loạn lipid máu và các bệnh lý tim mạch vì vậy trong những nămgần đây, ngày càng có nhiều các nghiên cứu tìm hiểu các vấn đề xoay quanh hộichứng này
Cách đây 250 năm, JB Morgagni đã mô tả mối liên quan giữa béo phì thểtrung tâm, THA, tăng acid uric máu, xơ vữa mạch và hội chứng ngừng thở khingủ[10]
Từ những năm 1920, Nicolae Paulescu nói về mối liên quan giữa ĐTĐ
và béo phì, người béo phì có tỷ lệ cao chuyển thành ĐTĐ và đây vừa là biểuhiện và cũng là kết quả nằm trong cùng một bệnh lý Năm 1927, Maranon đã
mô tả mối liên quan giữa THA và trạng thái tiền ĐTĐ cũng tương tự như béophì Đến năm 1947, Vague, một bác sĩ người Pháp đã xác định béo bụng làyếu tố kết hợp nhiều nhất với ĐTĐ và bệnh tim mạch Nhiều nghiên cứu độclập đã đã chỉ ra mối liên quan giữa ĐTĐ và THA[11]
Đến những năm 1960, lần đầu tiên một nhóm các yếu tố gồm béo phì,ĐTĐ, THA và rối loạn lipid máu được đề cập với cái tên chung là hội chứng
“Plurimetabolical”
Trang 4Đến cuối những năm 80, một tập hợp gồm rối loạn glucose, insulin, béophì, THA và rối loạn lipid máu được gọi với cái tên “hội chứng X” Năm
1988, Raeven G một bác sĩ nội tiết đã bước đầu đưa ra giải thích mối liên quangiữa ĐTĐ, THA, rối loạn lipid máu và kháng insulin Ferranini đã gọi tên hộichứng X là hội chứng kháng insulin Sau đó nhiều nghiên cứu đã tìm ra mốiliên hệ rộng hơn của HCCH
Năm 1988, lần đầu tiên nhóm nghiên cứu về ĐTĐ của Tổ chức y tế thế giớiWHO đã đưa ra một định nghĩa về HCCH và sau 1 năm, tiêu chuẩn chẩn đoánđược đưa ra; bao gồm ĐTĐ hoặc rối loạn dung nạp glucose máu kết hợp với 2trong 4 tiêu chuẩn: THA, rối loạn lipid máu, béo phì, microalbumin niệu
Trong 10 năm tiếp theo, hội chứng X và các thuật ngữ khác đã được sửdụng để mô tả tập hợp các yếu tố nguy cơ tim mạch và chuyển hóa bao gồm:
“deadly quartet” và “ hội chứng kháng insulin” Thuật ngữ “hội chứngchuyển hóa” chính thức được sử dụng từ năm 2001 bởi NCEP: AT III[12] vàphổ biến đến ngày nay
Năm 2006, Liên đoàn đái tháo đường thế giới IDF đưa ra định nghĩaHCCH là một nhóm các yếu tố nguy cơ tim mạch bao gồm: ĐTĐ, tăngglucose máu, béo bụng, tăng cholesterol và THA[1]
Trang 5chuyển hoá và trao đổi chất Do đó, bất cứ rối loạn, bất thường nào trên chuỗiphản ứng trên đều có thể dẫn đến tình trạng kháng insulin.
Insulin là hormone đóng vai trò quan trọng nhất trong chuyển hoácarbonhydrate, với cơ chất chính là glucose Vì thế, khi có bất thường trên tácdụng của insulin sẽ đưa đến bệnh lý lâm sàng liên quan đến chuyển hóa glucose.Các đặc điểm của cơ thể nhạy cảm insulin bao gồm chỉ số khối cở thểbình thường[13], không có béo bụng[14], hoạt động thể lực trung bình Nhìnchung đặc điểm của kiểu hình đề kháng insulin bao gồm thừa cân, béo phì, lốisống tĩnh tại và chế độ ăn nhiều chất béo
Hình 1.1: Cơ chế bệnh sinh HCCH[15].
1.1.2.2 Sinh lý bệnh của HCCH.
Trong cơ chế bệnh sinh của HCCH các tác giả đều đồng ý với ý kiếnkháng insulin đóng vai trò trung tâm trong cơ chế sinh lý bệnh
Trang 6Tình trạng thừa cân, béo phì.
Sự gia tăng tỉ lệ thừa cân, béo phì trên toàn thế giới trong vài thập kỉ gầnđây có thể là nguyên nhân gây ra sự gia tăng tỉ lệ kháng insulin và HCCH,cũng như bệnh mạch vành và ĐTĐ típ 2 Tỉ lệ thừa cân béo phì đang tăngnhanh trên thế giới, tại Mỹ tỷ lệ này tăng từ 34,3% vào những năm 2005-2006
và tăng lên 37,7% trong khoảng năm 2013-2014[16] Theo nghiên cứu củaviện Dinh Dưỡng Quốc Gia, ở nước ta tỉ lệ thừa cân béo phì trong độ tuổi từ25-64 là 16,3% Đa số những người thừa cân và béo phì đều có tình trạngkháng insulin[17] Đặc biệt, sự kết hợp giữa tình trạng béo phì, lối sống tĩnhtại và chế độ ăn thừa năng lượng càng làm gia tăng tình trạng kháng insulin.Một nghiên cứu tại vùng Amazon nguy cơ mắc HCCH tăng lên 1,93 lần ởnhững người thừa cân và 3,94 lần ở những người béo phì[18] Một nghiêncứu tại Trung Quốc của tác giả Yaling Zhao nguy cơ mắc HCCH tăng lên 5,94lần ở những người thừa cân và ở những người béo phì là 26,8 lần [19]
Chỉ số khối cơ thể (BMI) là một trong những chỉ số thường được sửdụng nhất để đánh giá thừa cân, béo phì và dự đoán các nguy cơ của ĐTĐ vàbệnh lý tim mạch Thừa cân béo phì đã được chứng minh là yếu tố nguy cơcủa ĐTĐ[20], THA[21], rối loạn lipid máu[22], tăng nguy cơ nhồi máu cơtim[23] Nghiên cứu của Reeder và cộng sự tại Canada cho thấy chỉ số khối
cơ thể BMI cao đã gây ra những ảnh hưởng có hại đến các yếu tố nguy cơ timmạch, làm tăng huyết áp, tăng đường máu, rối loạn lipid máu và tăng khánginsulin[24] Nghiên cứu của Satish Kenchaiah trên 5881 người cũng cho thấytăng tỉ lệ suy tim ở những người có chỉ số khối cơ thể cao[25]
Béo bụng có liên quan mật thiết đến HCCH, các tác giả đều thống nhất ýkiến béo bụng là tiêu chuẩn chính của HCCH Béo bụng đồng nghĩa với tỉ lệ
mỡ tạng cao Năm 1983, một nghiên cứu đánh giá tình trạng phân bố mỡ của
cơ thể được tiến hành thông qua phương pháp chụp cắt lớp vi tính củaTokunaga [26] Theo kết quả của nghiên cứu này, sự phân bố mỡ dưới da và
mỡ trong ổ bụng là khác nhau giữa các cá thể Các nghiên cứu sau này cũng
Trang 7cho thấy sự tích tụ mỡ tạng cũng là yếu tố liên quan chặt chẽ đến rối loạnglucose, lipid và THA[27] Có nhiều yếu tố được chứng minh có liên quanđến quá trình tích lũy mỡ tạng: sự hoạt động của testosteron ở nữ và sự suygiảm testosteron ở nam giới, sự lão hóa, hoạt động thể lực, di truyền Béobụng làm tăng dòng chảy acid béo tự do (FFA) và glycerol từ mô mỡ tạng đếngan thông qua tĩnh mạch cửa, kháng insulin có thể làm gia tăng quá trình này.Khi acid béo tự do đi vào trong gan chúng sẽ kích thích hình thành lipoprotein
và làm rối loạn lipid máu Nghiên cứu của Kathryn trên 44702 phụ nữ đã chothấy, ở những người béo bụng có gia tăng đáng kể tỉ lệ xuất hiện các biến cốtim mạch, kể cả trên những đối tượng có chỉ số khối cơ thể bình thường[28].Liên quan đến rối loạn phân bố mỡ; chỉ số eo-hông cũng được quan tâm
và chứng minh trong nhiều nghiên cứu Mối liên quan giữa chỉ số eo-hông vàlượng mỡ tạng được chỉ ra trong nghiên cứu của Pouliot trên 81 nam và 70nữ[25] và một vài nghiên cứu của các tác giả khác[29, 30] Nghiên cứu củaDalton trên 11247 người ≥ 25 tuổi, tại Úc cho thấy chỉ số eo-hông cao cónguy cơ mắc ĐTĐ, THA và rối loạn mỡ máu cao hơn tăng chỉ số BMI và số
đo vòng eo[31]
Mô mỡ cũng là một mô nội tiết[32], chúng tiết ra một nhóm chất đượcgọi chung là adipocytokines (hay adipokine) trong đó có các cytokin vàprotein liên quan đến cytokin (leptin, yếu tố hoại tử u (TNFα), interleukin-6(IL-6)), protein liên quan đến miễn dịch (MCP-1), chất ức chế hoạt hóaplasminogen 1 (PAI1), liên quan đến chuyển hóa lipid (lipoprotein lipase,aplipoprotein E), resistin, visfatin[32] Người ta cũng tìm thấy các ảnh hưởngcủa adipokine lên nhiều thụ thể của hệ nội tiết trong đó có thụ thể của insulin,
GH, TSH, glucagon, GLP-1, angiotesin II, androgen, progesteron, estrogen.Mối liên quan giữa các adipokine, trong đó có leptin, adiponectin, resistin đãđược chứng minh có vai trò quan trọng liên quan đến chuyển hóa glucose,ĐTĐ típ 2 và HCCH[33]
Trang 8Kháng insulin ở mô mỡ
Kháng insulin ở mô mỡ là yếu tố quan trọng trong sinh lý bệnh của HCCH.Khi khối lượng mô mỡ lớn hơn thường dẫn đến tăng lượng acid béo tự do(FFAs)[34] Trong quá trình hình thành kháng insulin và tăng triglyceride máu, quátrình huy động acid béo tự do (lipolysis) từ mô mỡ được thúc đẩy Bìnhthường, insulin ức chế quá trình phân giải mô mỡ, trong kháng insulin khôngthể ức chế quá trình này, kết quả acid béo tự do được giải phóng vào huyếttương Có nhiều nghiên cứu cho thấy quá trình này thông qua trung gian lipasenhạy cảm hormone(HSL) Trong những người béo phì, kháng insulin và tănginsulin máu có liên quan mật thiết đến giảm hoạt tính HSL, mRNA, HSL vàprotein sản phẩm Cũng có bằng chứng ủng hộ cho kháng insulin và ĐTĐ típ 2
có liên quan đến gen HSL Không chỉ kháng insulin gây ra tăng acid béo tự do
mà tăng acid béo tự do cũng có vẻ như gây ra kháng insulin
Một yếu tố khác trong sinh lý bệnh của HCCH là thông qua việc phóngthích các cytokine gây viêm Nguồn gốc các cytokin này trong mô mỡ cònnhiều tranh cãi Từ nghiên cứu của Ferrante và các đồng nghiệp chứng tỏ khi
có rối loạn phân bố mỡ, mô mỡ sản xuất ra nhiều cytokine hơn[35] Cáccytokine này có thể làm thay đổi hoạt tính của insulin tại chỗ
Kháng insulin ở gan.
Gan đóng một vai trò quan trọng trong quá trình chuyển hóa Tăng nồng
độ acid béo tự do làm giảm hoạt tính insulin ở gan Điều này đã làm tăng tântạo glucose ở gan, tăng tổng hợp các cytokine tiền viêm và những thay đổitrong quá trình chuyển hóa lipoprotein Trong gan nồng độ acid béo tự dotăng lên phải được oxy hóa hoặc dự trữ Dưới điều kiện sinh lý bình thường,insulin làm tăng biểu hiện của một số gen quy định các enzyme đóng vai tròtrung tâm trong quá trình sinh tổng hợp triglycerid và giảm sản xuất VLDL,triglycerid và apolipoprotein (apo) B Phần lớn các nghiên cứu cho thấy rốiloạn lipid máu liên quan đến kháng insulin là hậu quả trực tiếp của việc tăng
Trang 9VLDL ở gan[36] Ngoài việc tăng quá nhiều VLDL ở gan, sự thay đổilipoprotein lipase (LPL) cũng kết hợp với HCCH Nhiều nghiên cứu mối liênkết gen quy định lipoprotein lipase với HCCH đã được công bố.
Tăng triglyceride máu thường liên qua chặt chẽ với việc giảm nồng độHDL-C huyết thanh Điều này liên quan đến việc chuyển cholesteryl ester từlõi lipoprotein giàu acid béo trung tính sang HDL-C huyết thanh một quátrình xúc tác bởi cholesteryl ester transfer protein(CETP)
Mô mỡ ở gan không chỉ liên quan đến kháng insulin mà còn liên quanđến HCCH Điều này bao gồm việc lắng đọng các acid béo trong gan tiếntriển tổn thương gan trong bệnh gan thoái hóa mỡ không do rượu Cácnghiên cứu gần đây nhấn mạnh vai trò của kháng insulin, stress oxy hóa,peroxidation, và các cytokine trong tiến triển của bệnh gan nhiễm mỡ không
do rượu
Kháng insulin ở cơ.
Ở cơ, tăng acid béo tự do làm gián đoạn chu trình glucose – acid béo Sựthiếu hụt tác dụng của insulin ở cơ thông qua sự gia tăng acid béo tự do tronghuyết thanh ảnh hưởng đến quá trình vận chuyển glucose vào tế bào quainsulin Cũng có nhiều giả thiết cho rằng kháng insulin có liên quan đến tăngtriglycerid trong cơ Tuy nhiên khi cải thiện kháng insulin thông qua việc tậpthể dục và giảm cân thì hàm lượng triglycerid trong cơ giảm ít
Tăng huyết áp và kháng insulin
Mối liên quan giữa tăng huyết áp và kháng insulin đã được xác định và
có liên quan đến nhiều cơ chế bệnh sinh Thứ nhất là insulin làm giãn mạchkhi dùng đường tĩnh mạch và có tác dụng lên sự tái hấp thu natri tại thận.Trong kháng insulin, hiệu quả giãn mạch của insulin bị mất đi nhưng tác độnglên giữ natri vẫn còn
1.1.3 Tiêu chuẩn chẩn đoán
Mặc dù có nhiều ý kiến khác nhau, nhưng hầu hết các ý kiến đều đồng ýrằng các tiêu chuẩn chính của HCCH bao gồm béo bụng, tình trạng kháng
Trang 10insulin và rối loạn gucose máu lúc đói (IGT) hoặc ĐTĐ típ 2 Ngoài ra 2trong số các yếu tố sau đây cũng có thể có bao gồm: rối loạn lipid máu (giảmnồng độ HDL-C huyết thanh và tăng triglycerid huyết thanh), THA, proteinniệu (Bảng 1,1).
Bảng 1.1: Một số tiêu chuẩn chẩn đoán HCCH.
Insulin máu lúc đói tăng > 25% và 2/4tiêu chuẩn sau:
- Béo bụng (vòng eo > 94 cm với nam, > 80 cm với nữ)
- Triglycerid ≥ 2,0 mmol/L hoặc HDL-C < 1,0 mmol/l hoặc đang điều trị thuốc hạ lipid máu.
- HA ≥140/90 mmHg hoặc đang dung thuốc hạ huyết áp
- Glucose máu lúc đói ≥ 6,1 mmol/l.
NCEP:
ATPIII
2001
[39]
≥ 3 tiêu chuẩn sau:
- Béo bụng(vòng eo > 102 cm với nam, > 88 cm với nữ).
- Triglyceride ≥ 1,7 mmol/l.
- HDL-C < 1,03 mmol/l với nam, < 1,3 mmo/l với nữ.
- Glucose máu lúc đói ≥ 5,6 mmol/l
- HA ≥130/85 mm Hg hoặc đang điều trị thuốc hạ HA.
- Glucose máu lúc đói ≥ 5,6 mmol/l hoặc đang điều trị thuốc ĐTĐ
*IGF: Rối loạn đường máu lúc đói, IGT: Rối loạn dung nạp glucose máu, HA: huyết áp, WC: vòng bụng.
Trang 11Bảng 1.2: Trị số vòng bụng đánh giá béo phì kiểu trung tâm theo chủng
Trong đa số các nghiên cứu đều cho thấy tỉ lệ HCCH tăng theo tuổi Tỷ
lệ hiện mắc năm 2002 ở bệnh nhân trưởng thành người Mỹ là 23,7% trong đó6,7 % ở nhóm tuổi 20-29 và 43,5% ở nhóm tuổi 60-69, 42% ở sau 70 tuổi[3].Một nghiên cứu của Nord-Trondelag Health 1995-1997 đã cho kết quả : namgiới trong độ tuổi 20-29 tỷ lệ mắc HCCH là 11,0%, trong độ 80-89 tỷ lệ mắc
là 47,2%; với nữ giới tương ứng với hai nhóm tuổi trên là 9,2% và 64,4%.Tại châu Á, nghiên cứu của Yaling Zhao tỉ lệ mắc HCCH với nhóm tuổi tươngứng là 25-30: 4,2%, 45-50:17,8%, 55-60:20,5%[19] Nghiên cứu của TrầnQuang Bình tại cộng đồng Hà Nam năm 2011 với tỷ lệ HCCH theo nhóm tuổilần lượt là: 40-44: 7,9%, 55-59: 26,9%[42]
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến nguy cơ mắc HCCH tăng theo tuổi: thayđổi nội tiết tố ở cả nam và nữ theo lứa tuổi, rối loạn phân bố mỡ ở người caotuổi, giảm hoạt đông thể lực do tuổi và các bệnh lý kèm theo
Trang 12Hình 1.2 Tỷ lệ HCCH theo nhóm tuổi ở một số quốc gia[43]
nữ giới lại cho thấy có sự tăng nhanh kích thước tế bào mô mỡ từ giai đoạnnày [45]
Trang 13Hình 1.3 Thay đổi kích thước tế bào mô mỡ ở nam và nữ theo tuổi[45].
Nhiều nghiên cứu ở các nước phát triển tỷ lệ mắc bệnh ở nam và nữkhông có sự khác biệt lớn; một nghiên cứu được tiến hành năm 2017 tại Hoa
Kỳ cho thấy tỉ lệ mắc bệnh của nam cao hơn không đáng kể so với nữ (24%
và 23,4%) [46] Một phân tích khác được tiến hành tại Hoa Kỳ, năm 2005trên 3601 người tham gia từ 20 tuổi, tiêu chuẩn chẩn đoán dựa trên định nghĩacủa IDF, tỷ lệ mắc HCCH chung là 39,0±1,1%, trong đó tỷ lệ nam giới là39,9±1,1 %, nữ giới là 38,1±1,2%[47] Tuy nhiên hầu hết các nghiên cứu ởchâu Á đều cho thấy tỉ lệ mắc bệnh ở nữ cao hơn so với nam giới Theonghiên cứu của tác giả Yhaling Zhao tại Trung Quốc tỉ lệ mắc bệnh ở nam so
nữ là 12,8% so với 17,1% [19], cũng theo một nghiên cứu tại Trung Quốc củaLao XQ tỉ lệ mắc bệnh của nam so với nữ là 16,3% so với 30,9%[48] Hầu hếtcác nghiên cứu tại các quốc gia Đông Nam Á cũng cho kết quả tương tự.Nghiên cứu tại Phlippin năm 2009, trên nhóm người từ 20-50 tuổi, theo tiêuchuẩn IDF, tỷ lệ mắc HCCH là 19,7% trong đó tỉ lệ nam là 16,1% so với 22%nữ[49] Theo nghiên cứu của Tần Văn Huy tại Khánh Hòa tỉ lệ mắc bệnh củanam so với nữ là 8,0% với 11,7%[50], một nghiên cứu khác tại Hà Nội, trên
312 người, tỉ lệ nam chiếm 46,8%, nữ chiếm 53,2%[51] Mặc dù có sự khácbiệt giữa tỷ lệ HCCH ở phụ nữ và nam giới ở từng quốc gia, sự khác biệt này
có thể do việc sử dụng các tiêu chuẩn khác nhau trong nghiên cứu , chủng tộc,văn hóa và tôn giáo
Trang 141.1.4.3 Chủng tộc/ dân tộc
Đa số các nghiên cứu đều cho kết quả, lệ mắc HCCH của người châu Áthấp hơn so với người da trắng Tỷ lệ hiện mắc năm 2002 ở người trưởngthành người Mỹ là 23,7% [3] Theo một phân tích năm 2005, tỷ lệ hiện mắccủa Đài Loan, Hồng Kông, Thái Lan dao động từ 10-15%; tuy nhiên ở miềnNam Trung Quốc tỷ lệ này thấp hơn(5%) Trong khi đó tỉ lệ hiện mắc củangười Ấn Độ cao hơn hẳn so với các nước châu Á khác gần bằng tỉ lệ hiệnmắc của người Mỹ [5]
Tuy nhiên một vài nghiên cứu đã cho thấy tỉ lệ HCCH ở người châu Ácao hơn so với người da trắng khi so sánh cùng khu vực địa lí Năm 2010 mộtnghiên cứu được tiến hành trên 43507 người đã cho kết quả: tỷ lệ HCCH củaphụ nữ da trắng là 12%, trong khi đó ở người Mỹ gốc châu Á là 30%, tương tựđối với nam giới là 22% và 43 %[52]
Hình 1.4: Tỷ lệ hiện mắc HCCH ở một số quốc gia[5].
Trang 151.1.4.4 Trình độ học vấn.
Mặc dù có nhiều nghiên cứu dịch tễ học toàn cầu đánh giá tác động củakinh tế xã hội và trình độ học vấn với HCCH, nhưng có sự khác nhau kết quảgiữa các nghiên cứu
Nghiên cứu tại Thụy Điển cho thấy có sự liên quan nghịch giữa trình độhọc vấn và tỷ lệ HCCH[53], kết quả tương tự được nhận thấy ở phụ nữ vànam giới Phần Lan[54] Trong khi đó một nghiên cứu ở Anh lại thấy rằng tỉ lệHCCH tăng gấp 2-3 lần ở người có trình độ học vấn thấp[55] Ở Hàn Quốc,mối liên hệ này chỉ rõ ở phụ nữ Tỷ lệ HCCH cao hơn ở nhóm phụ nữ có kinh
tế và trình độ học vấn cao hơn[56] Sự khác biệt này do nhiều ảnh hưởng củaquan điểm sống, tôn giáo, điều kiện ở các quốc gia khác nhau
1.1.5 Một số yếu tố liên quan đến HCCH.
1.1.5.1 Thói quen ăn mặn và HCCH.
Thói quen ăn uống có ảnh hưởng nhiều đến HCCH, nhiều nghiên cứuđược tiến hành cho thấy chế độ ăn nhiều năng lượng đặc biệt là chất béo vàthói quen ăn mặn có ảnh hưởng đến HCCH Nghiên cứu của chúng tôi tậptrung vào thói quen ăn mặn lên HCCH là thói quen xuất hiện nhiều ở cácnước châu Á trong đó có Việt Nam Kết quả nghiên cứu của Hồ Thị KimThanh tiến hành trên người cao tuổi tại cộng đồng cho thấy ăn mặn làm tăngnguy cơ mắc HCCH (OR=1,7) Đã có nhiều nghiên cứu chứng minh mối liênquan giữa ăn mặn và THA, các nghiên cứu can thiệp giảm lượng muối ăncũng có hiệu quả trong việc giảm huyết áp và các nguy cơ tim mạch Nghiêncứu DASH tiến hành trên 412 người cho thấy giảm mức natri xuống dưới 50mmol/ngày làm giảm huyết áp tâm thu 11,5 mmHg ở những người đã đượcchẩn đoán tăng huyết áp và 7,1 mmHg ở những người không bi tăng huyết áp.Nghiên cứu của Hoffmann năm 2009 cũng cho thấy ăn mặn làm tăng huyết áp
và tăng cân, tuy nhiên không làm thay đổi glucose máu và lipid máu[57] Nhưvậy, ăn mặn làm tăng nguy cơ mắc HCCH thông qua cơ chế tăng huyết áp
Trang 161.1.5.2 Tình trạng sử dụng rượu bia và HCCH.
Mối liên quan giữa sử dụng rượu và HCCH rất phức tạp:
Liên quan giữa sử dụng rượu và chỉ số khối cơ thể, một nghiên cứu tạiNhật Bản trên 2227 người tham gia nghiên cứu không thấy có sự liên quangiữa lượng rượu sử dụng và chỉ số khối cơ thể cũng như chỉ số eo-hông[58].Tuy nhiên nhiều nghiên cứu sâu hơn đã cho thấy tỉ lệ hút thuốc lá cao ởnhững người uống rượu và hút thuốc lá làm giảm cân nặng, vì vậy đã gây ranhiều ảnh hưởng đến kết quả nghiên cứu[59] Nghiên cứu giữa những ngườiuống > 2 đơn vị rượu/ngày và những người uống ≤ 2 đơn vị rượu/ngày đã chothấy những người uống ≤ 2 đơn vị rượu/ngày không gây tăng cân và số đovòng bụng, tuy nhiên những người uống > 2 đơn vị rượu/ngày lại tăng cânđáng kể [60]
Một vài nghiên cứu cho thấy sử dụng rượu làm tăng nồng độ HDL-Chuyết thanh, tăng độ nhạy insulin tuy nhiên lại làm tăng huyết áp vàtriglycerid huyết thanh [61-63] Một phân tích gộp trên 42 nghiên cứu đã chothấy uống rượu với lượng vừa phải làm giảm nguy cơ mắc HCCH và các yếu
tố nguy cơ tim mạch [63]
Liên quan đến nồng độ triglycerid huyết thanh, đa số các nghiên cứu đềucho thấy sử dụng rượu làm tăng triglycerid Theo một phân tích gộp khi sửdụng mỗi gam rượu làm tăng triglycerid 0,19 mmol/dl [63] Theo một nghiêncứu tại Thượng Hải trên 448 đối tượng tham gia nghiên cứu cho thấy khilượng rượu sử dụng tăng dần làm tăng huyết áp, triglycerid huyết thanh,HDL-C huyết thanh, glucose máu đói; tuy nhiên LDL-C huyết thanh, số đovòng bụng và tỉ lệ mắc HCCH có xu hường giảm dần [64]
Nghiên cứu ảnh hưởng của sử dụng rượu và huyết áp, một phân tích gộptrên 824 bài viết đã cho thấy sử dụng rượu làm tăng HATT 2,7 mmHg vàHATTr 1,4 mmHg [65] Cũng theo một phân tích gộp khác trên 2234 người,
Trang 17khi giảm lượng rượu đang sử dụng có thể giảm HATT 3,31 mmHg, HATTr2,04 mmHg[66].
Nghiên cứu năm 2014 của tác giả Slagter vá cộng sự trên Plos One Staff(2014) trên 64046 người đã cho thấy sử dụng rượu < 1 đơn vị/ngày làm giảmnhẹ nồng độ triglycerid, tiêu thụ 2 đơn vị rượu/ngày cho số đo vòng eo nhỏhơn, tiêu thụ > 2 đơn vị rượu/ngày làm tăng huyết áp Nếu đồng thời sử dụngrượu và hút thuốc lá làm tăng nồng độ triglycerid máu đáng kể [67]
1.1.5.3 Hút thuốc lá và HCCH.
Tình trạng hút thuốc lá ở nước ta, theo nghiên cứu của Phạm Xuân Đại,
tỉ lệ hút thuốc lá ở nam giới nước ta là 37,5% Hút thuốc lá đã được chứngminh làm tăng nguy cơ tim mạch trong nhiều nghiên cứu Ba thành phần quantrọng trong khói thuốc lá được nhắc đến là nicotin, carbonmonoxide và cácgốc tự do Nicotin là một chất cường giao cảm làm tăng giải phóngcathecholamin trong máu gây nhịp tim nhanh, tăng huyết áp Carbonmonoxidtăng trong máu 5-10% ở những người hút thuốc, khi gắn với hemoglobin làmgiảm lượng oxy trong máu, giảm oxy cho các mô trong đó có cơ tim và giảmthời gian hoạt động thể lực của những người này Các gốc tự do làm giảmnồng độ của các chất chống oxy hóa và bảo vệ nội mạch, điển hình là nồng độHDL-C huyết thanh, như vậy làm tăng xơ vữa động mạch và tăng nguy cơbệnh tim mạch Nghiên cứu mối liên quan giữa thuốc lá và bệnh mạch vànhcho thấy hút thuốc lá làm tăng nguy cơ bệnh mạch vành dù hút ít hay nhiều,hút thuốc làm giảm chức năng vận mạch, gây xơ vữa mạch, tăng huyết áp vàhình thành huyết khối[68]
Nghiên cứu năm 2014 của một nhóm tác giả Slagter và cộng sự trên PlosOne Staff (2014) với 64046 nồng độ HDL-C huyết thanh ở người hút thuốc
lá thấp hơn so với người không hút thuốc lá[67] Nghiên cứu của Trần QuangBình cũng cho thấy những người hút thuôc lá có nguy cơ mắc HCCH thấp
Trang 18hơn 1.4 lần so với không hút Theo một nghiên cứu tại nông thôn Trung Quốccho thấy nguy cơ mắc HCCH của những người hút thuốc lá không thay đổiđáng kể (OR: 0,87-1,1)[69] Nghiên cứu của Sang Woo được tiến hành tạiHàn Quốc, hút thuốc lá làm tăng nguy cơ mắc HCCH đồng thời cũng ảnhhưởng tiêu cực đến tất cả các thành tố của HCCH, nguy cơ mắc HCCH tăng
từ 1,07-1,77 lần phụ thuộc vào số lượng thuốc lá được sử dụng hằng ngày củađối tượng[70]
1.1.5.4 Liên quan đến địa dư và HCCH.
Nông thôn và thành thị là 2 khu vực có điều kiện kiện kinh tế xã hộikhác nhau, ở nông thôn sản xuất vẫn dựa vào nông nghiệp, thời gian hoạtđộng thể lực nhiều hơn và chế độ ăn nhiều rau xanh ít chất béo Một nghiêncứu tại Trung Quốc, người thành phố có nguy có mắc bệnh tăng 1,51 lần [71].Tuy nhiên, trong những năm gần đây, việc ứng dụng khoa học kĩ thuật vàosản xuất làm giảm sức lao động chân tay và sự phát triển của đô thị hóa đãdần thu hẹp khoảng cách giữa nông thôn và thành thị
1.1.5.5 Cường độ, thời gian hoạt động thể lực và HCCH.
Hoạt động thể lực có ảnh hưởng không nhỏ đến HCCH, phụ thuộc vào
cả cường độ và thời gian hoạt động thể lực[72] Một phân tích gộp trên 21nghiên cứu về ảnh hưởng của hoạt động thể lực lên ĐTĐ típ 2 đã cho thấy cácbài tập làm giảm kháng insulin, giảm cân và giảm chỉ số HbA1c [73] Ảnh hưởng của hoạt động thể lực và giảm cân, nghiên cứu của tác giảRobert Ross cho thấy tập thể dục làm giảm cân nặng và vòng bụng kể cả khikhông có chế độ ăn kiêng, còn trên những đối tượng không giảm cân cũnglàm giảm số đo vòng bụng[74]
Ảnh hưởng của hoạt động thể lực và kháng insulin, các nghiên cứu vớithời gian theo dõi dưới 12 tuần không thấy sự thay đổi đáng kể nồng độglucose máu đói, insulin máu và chỉ số HbA1c[75, 76] Một phân tích lại chothấy khi theo dõi trên 12 tuần, các chỉ số glucose máu đói, HbA1c có giảm,
Trang 19điều này cho thấy có sự giảm kháng insulin ở những đối tượng này tuy nhiênkết quả này được cho là do tác dụng của giảm cân[73].
Ảnh hưởng của hoạt động thể lực và lipid máu, nghiên cứu của tác giảDurstine và cộng sự cho thấy luyện tập thể dục không làm thay đổi nồng độlipid máu, nó chỉ có ý nghĩa khi kết hợp với chế độ ăn ít chất béo tạo ra tácdụng giảm cân và giảm lượng mỡ cơ thể[77] Nghiên cứu của tác giảStensvold tại Na Uy cũng cho thấy các bài tập thể dục trong 12 tuần khônglàm thay đổi nồng độ triglycerid và HDL-C huyết thanh[75]
Tuy nhiên, khi so sánh giữa ảnh hưởng của cường độ và thời gian hoạtđộng thể lực đến HCCH còn có nhiều ý kiến khác nhau[72, 78] Nghiên cứucủa Ronald và cộng sự được thực hiện để đánh giá tác động của các bài tâphiếu khí (aerobic - thời gian hoạt động thể lực) và các bài tập yếm khí(anaerobic - cường độ hoạt động thể lực) lên HCCH kết quả cho thấy hiệu quảhơn khi kết hợp cả 2 bài tập có hiệu quả làm giảm cân nặng, vòng eo, giảm rốiloạn lipid máu, chỉ số HbA1c; nhưng khi so sánh độc lập giữa 2 bài tập,nghiên cứu cho thấy các bài tập hiếu khí có vẻ cho hiệu quả cao hơn[79]
Có nhiều ý kiến cho rằng ảnh hưởng của hoạt động thể lực lên HCCHliên quan đến mức năng lượng tiêu hao, vì vậy nhiều nghiên cứu được tiếnhành để đánh giá mức năng lượng tiêu hao và các rối loạn chuyển hóa Mộtđơn vị đã được đặt ra để đo lường mức tiêu hao năng lượng là MET-phút, mỗiMET-phút tương đương với 1 phút chuyển hóa cơ bản Như vậy, với khuyếncáo 150 phút mỗi tuần hoạt động thể lực với mức tiêu hao năng lượng được
đề xuất bằng 4 MET-phút là 600 MET-phút mỗi tuần Câu hỏi đặt ra là nếutăng mức tiêu hao năng lượng lên thì nguy cơ tim mạch có tiếp tục giảmxuống không Kết quả của một phân tích gộp năm 2016 trên 135 nghiên cứukhác nhau đã cho thấy khi tăng mức tiêu hao năng lượng lên từ 600 lên 4000MET-phút/tuần và 8000 MET-phút/tuần thì nguy cơ tim mạch tiếp tục giảm,còn khi tăng từ trên 8000 MET-phút/tuần thì nguy cơ tim mạch giảm
Trang 20chậm[80] Kết quả cũng tương tự nghiên cứu của trên 132 người cho thấy, vớicác mức năng lượng tiêu hao 600-3999, 4000-7999 và ≥ 8000 MET-phút thìnguy cơ mắc ĐTĐ thấp hơn 0,92, 0,83 và 0,76 lần; nguy cơ tim mạch cũngthấp hơn 0,86, 0,76 và 0,67 lần so với những người có mức tiêu hao nănglượng < 600 MET-phút/tuần Như vậy với mức 4000 MET-phút mỗi tuần sẽtương đương với 150 -180 phút hoạt động thể lực mức độ vừa và nhẹ[80].
1.1.5.6 Hoạt động giải trí ngoài giờ làm việc và HCCH.
Sự phát triển của công nghệ đã làm thay đổi các hoạt động giải trí ngoàigiờ làm việc của con người, xem các chương trình truyền hình và sử dụnginternet ngoài giờ làm việc ngày càng phổ biến ở cả người lớn và trẻ em Điềunày gây ra ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động thể lực và các yếu tố khác.Nghiên cứu được tiến hành năm 2005 tại Hàn Quốc cho thấy, tăng thời gianxem tivi hằng ngày làm tăng tỉ lệ mắc HCCH và tăng nguy cơ mắc HCCH2,23 lần[81] Nghiên cứu của tác giả Rebekah Steele trên 2560 người trưởngthành tại Úc cho thấy những người có thời gian xem tivi và sử dụng internet
từ 2,5-5 giờ/ngày làm tăng nguy cơ thừa cân lên 1,3 lần, béo phì 1,45 lần và >
5 giờ/ngày làm tăng nguy cơ thừa cân 1,46 lần, béo phì 2,55 lần[82] Giảmthời gian hoạt động thể lực và tăng nguy cơ thừa cân béo phì là nguyên nhângây ra những rối loạn của HCCH
1.2 Ảnh hưởng của hcch lên một số bệnh lý.
1.2.1 Bệnh lý tim mạch.
HCCH có liên quan chặt chẽ với các bệnh lý tim mạch Trong đó, bệnh
lý phổ biến và được nghiên cứu nhiều nhất liên quan đến HCCH là bệnh mạchvành và nhồi máu cơ tim
Phần lớn các nghiên cứu đã cho thấy có sự gia tăng bệnh mạch vành vàcác bệnh lý tim mạch khác ở người có HCCH Một phân tích gộp củaGamietal bao gồm 36 nghiên cứu khác nhau đã cho thấy tỉ lệ bệnh mạch vành
Trang 21và tử vong ở người có HCCH là 1,78%[83] Trên thực tế, người có HCCH cónguy cơ cao bị mắc bệnh mạch vành sớm hơn những người khác Năm2009,một phân tích gộp trên 87 nghiên cứu, bao gồm 951083 người, kết quảnguy cơ tương đối với bệnh mạch vành là 2,35, tử vong do bệnh tim mạch là2,4, nhồi máu cơ tim là 1,99 và đột quỵ là 2,27[84] Một nghiên cứu được tiếnhành tại Phần Lan trên những người không có bệnh mạch vành trước đó trong
11 năm đã cho thấy người có HCCH có tỉ lệ tử vong do bệnh tim mạch caogấp 3-4 lần, tử vong do bệnh mạch vành cao gấp 2,6-3 lần và cao gấp 2 lần sovới các nguyên nhân khác [85] Các nghiên cứu cũng cho thấy càng có nhiềuthành tố của HCCH thì nguy cơ bệnh lý tim mạch càng tăng[86, 87]
Phần lớn các nghiên cứu cho thấy bệnh nhân có HCCH có nhiều bệnh lýtim mạch và nguy cơ phát triển thành bệnh lý tim mạch cao hơn Một phântích gộp cho thấy nguy cơ tim mạch vẫn tăng ở các bệnh nhân có HCCH saukhi đã kiểm soát các yếu tố nguy cơ thành phần[83]
Khả năng dự đoán nguy cơ tim mạch có thể khác nhau tùy thuộc vào từngnghiên cứu, tùy thuộc vào tiêu chuẩn của HCCH tuy nhiên đa số các nghiên cứuđều cho thấy nguy cơ tim mạch tăng khoảng 2 lần ở bệnh nhân có HCCH
1.2.2 Đái tháo đường típ 2.
ĐTĐ là bệnh phức tạp được gây ra bởi yếu tố môi trường và di truyền.Hiện nay đái tháo đường típ 2 đang gia tăng một cách nhanh chóng trêntoàn thế giới kéo theo những hậu quả về sức khỏe, kinh tế và xã hội Bệnh tăngnhanh nhất ở các nước có tốc độ phát triển cao do nhiều yếu tố trong đó cónguyên nhân do sử dụng đồ ăn nhanh giàu năng lượng và lối sống tĩnh tại ỞViệt Nam tỉ lệ ĐTĐ cũng tăng theo xu hướng chung của thế giới
Mặc dù kháng insulin là điểm nổi bật trong cơ chế bệnh sinh của ĐTĐtíp 2 nhưng khiếm khuyết trong tiết insulin cũng là cơ chế sinh lý chính củaĐTĐ típ 2 Đa số bệnh nhân ĐTĐ típ 2 đều có kháng insulin và HCCH trước
Trang 22khi xuất hiện bệnh Kháng insulin, béo phì, rối loạn lipid máu tiến triển đếnĐTĐ típ 2 ở 75-85% bệnh nhân[88]
Tỉ lệ mắc ĐTĐ típ 2 rất cao trên bệnh nhân có HCCH, nhiều nghiên cứuđược tiến hành để đánh giá ảnh hưởng HCCH đến ĐTĐ típ 2 và thời giankhởi phát của bệnh Kết quả các nghiên cứu đã cho thấy tỉ lệ mắc ĐTĐ típ 2cao gấp 5 lần ở người có HCCH[89, 90] Nếu có sự xuất hiện đồng thời củaHCCH và hội chứng kháng insulin thì nguy cơ này tăng lên 6-7 lần[91] Theonghiên cứu của Hoorn cho thấy với những người không có HCCH 33% có rốiloạn đường huyết lúc đói, trong khi đó với những người có HCCH tỉ lệ này là64% và nó phát triển thành đái tháo đường típ 2 trong 5,8-6,5 năm[92] TheoHanson tăng insulin máu là yếu tố tiên lượng quan trọng nhất trong tiến triển củaĐTĐ típ 2
1.2.3 Bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu
Bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu (NAFLD) bao gồm một loạt tổnthương từ gan thoái hóa mỡ đến xơ gan Bệnh gan nhiễm mỡ không do rượuđược chẩn đoán bằng tăng men gan và hoặc hình ảnh gan nhiễm mỡ dựa trênchẩn đoán hình ảnh mà không tìm thấy nguyên nhân bệnh lý Tỷ lệ bệnh gannhiễm mỡ không do rượu từ 3 -36% tùy thuộc vào từng nghiên cứu[93, 94]
Có tới 95% người béo phì và 70% bệnh nhân đái tháo đường típ 2 có bệnhgan nhiễm mỡ không do rượu ở các mức độ khác nhau[93] Bệnh gan thoáihóa mỡ không do rượu có liên quan chặt chẽ với HCCH, tỉ lệ mắc bệnh tănglên 4 lần ở nam giới và 11 lần ở phụ nữ có HCCH[95]
Lắng đọng chất béo ở gan đã được chứng minh là do tăng các dòng acidbéo tự do vào gan, là kết quả của phân giải lipid mà liên quan trực tiếp đếnbéo phì, kháng insulin và tăng enzyme lipase ở gan[96] Mặc dù kháng insulindẫn đến sự tích tụ chất béo trong gan, nhưng ngược lại sự tích tụ chất béotrong gan cũng dẫn đến kháng insulin ở gan[97] Bệnh gan nhiễm mỡ không
Trang 23do rượu có thể là kết quả của kháng insulin cũng có thể là nguyên nhân khánginulin, nó cũng có thể là trung tâm sinh lý bệnh của HCCH.
1.2.4 Hội chứng ngừng thở khi ngủ.
Hội chứng ngừng thở khi ngủ (OSA) là hậu quả của béo phì và tăng chỉ
số khối cơ thể BMI Ngoài ra cũng có mối liên quan giữa kháng insulin và hộichứng ngừng thở khi ngủ Những người mắc hội chứng ngừng thở khi ngủ cónhiều biểu hiện của HCCH hơn[98] Nhiều tác giả đã đề xuất đưa hội chứngngừng thở khi ngủ vào tiêu chuẩn chẩn đoán của HCCH[99]
1.2.5 Suy giảm chức năng tình dục.
Có một mối liên quan giữ HCCH và rối loạn cương dương ở nam.Những bệnh nhân nam giới có HCCH cũng có tỉ lệ rối loạn cương dương caohơn[100, 101] Ngoài ra cac biểu hiện của HCCH cũng đáp ứng khi điều trịthay thế testosterone
1.2.6 Rối loạn phân bố mỡ.
Rối loạn phân bố mỡ là những thay đổi do di truyền hoặc mắc phải, đặctrưng bởi thay đổi có chọn lọc các kho dự trữ mỡ của cơ thể Sinh bệnh họccủa rối loạn phân bố mỡ phức tạp Ở những bệnh nhân này thường có hộichứng kháng insulin nặng và các biểu hiện của HCCH
1.2.7 Bệnh lý vi mạch
Mặc dù HCCH có liên quan chặt chẽ với bệnh lý tim mạch, tuy nhiênHCCH có liên quan đến biến chứng vi mạch vẫn còn nhiều ý kiến Khoảng 8-10% bệnh nhân có rối loạn dung nạp glucose máu hoặc rối loạn đường máulúc đói nhưng không có đái tháo đường, trong khi đó hầu hết bệnh nhân cóHCCH lại có tổn thương võng mạc[102] Cũng có mối liên quan giữa HCCH
và bệnh thận mạn và tăng nguy có phát triển microalbumin niệu[103]
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trang 242.1 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu.
Nghiên cứu được thực hiện trên 279 người đến khám sức khỏe tại khoaKhám Bệnh Theo Yêu Cầu Bệnh viện Bạch Mai từ 10/2017 đến 6/2018
2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn.
Các bệnh nhân được chọn theo tiêu chuẩn lựa chọn và tiêu chuẩn loại trừdưới đây:
Tiêu chuẩn lựa chọn:
1 Tuổi ≥ 18 tuổi và ≤60
2 Đồng ý tham gia nghiên cứu
2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ
1 Những người đang bị mắc các bệnh cấp tính hoặc ác tính (nhiễm trùngcấp tính, chấn thương, ung thư)
2 Đang dùng các thuốc ảnh hưởng đến các thành tố của HCCH:glucocorticoid, thuốc tránh thai, thuốc trầm cảm
3 Bệnh gan, thận nặng và các bệnh lý ảnh hưởng đến các thành tố củaHCCH: bệnh cushing, suy giáp, cường giáp
4 Không đồng ý tham gia nghiên cứu
2.2 Thiết kế nghiên cứu và cỡ mẫu.
Thiết kế nghiên cứu: mô tả cắt ngang
Cỡ mẫu được tính theo công thức:
Trong đó:
n là số đối tượng cần nghiên cứu
p là tỷ lệ HCCH theo tiêu chuẩn IDF 2006, chúng tôi nhận thấy nghiêncứu của Trần Quang Bình trên người trưởng thành tại các tỉnh vùngĐồng Bằng Sông Hồng năm 2011 cho tỉ lệ mắc HCCH 16,3%[7] Vìvậy chúng tôi lấy p=0,163
Δ là sai số chuẩn được lựa chọn là 5%
Trang 25 α là mức ý nghĩa thống kê, được lựa chọn là 0.05 với độ tin cậy là 95%Như vậy cỡ mẫu ước tính tối thiểu là: 220 người.
2.2.1 Quy trình nghiên cứu
Bước 1: Hỏi bệnh.
Tất cả các bệnh nhân đến khám sức khỏe tại khoa Khám Bệnh TheoYêu Cầu bệnh viện Bạch Mai, đồng ý tham gia nghiên cứu được hỏi cácthông tin hành chính : tên, tuổi, địa chỉ ; tiền sử : bệnh tật và các thuốc đangđiều trị ; thói quen sống : thói quen ăn mặn, hút thuốc, sử dụng rượu, hoạtđộng thể lực, thời gian xem tivi và lướt web ngoài thời gian làm việc
Hỏi tiền sử bệnh lý: Bệnh lý đã mắc và các thuốc đang sử dụng (ĐTĐ,tăng huyết áp, rối loạn lipid máu)
Tuổi: Tính tuổi theo ngày tháng năm sinh (Tuổi = năm nghiên cứu –năm sinh)
o Dựa vào tuổi của đối tượng nghiên cứu chúng tôi chia thành 4nhóm : 20-29 tuổi, 30-39 tuổi, 40-49 tuổi, 50-60 tuổi
Giới: Nam/ nữ
Nghề nghiệp:
Nghề nghiệp
Làm ruộng Công nhân, xây dựng Lao động tự do Văn phòng Giáo viên Nội trợ tại nhà Hưu trí Khác
Dựa vào cường độ hoạt động thể lực nghề nghiệp được chia thành 4 nhóm:
o Lao động nhẹ: văn phòng, giáo viên, hưu trí
o Lao động vừa: làm ruộng, công nhân, xây dựng
o Lao động nặng: bộ đội, nghề mỏ
o Lao động rất nặng: vận động viên thể thao, nghề rèn
Trình độ học vấn: là trình độ cao nhất mà đối tượng nghiên cứu đạt được
Trang 26Trình độ học vấn
Tiểu học và không đi học
Trung họcĐại học và sau đại học
Thời gian hoạt động thể lực là tổng thời gian thực hiện các hoạt độngthể lực trong ngày bao gồm cả thời gian lao động và tham gia các hoạt độngthể lực thể thao: chia thành 2 nhóm có thời gian hoạt động thể lực < 3 giờ/ngày và ≥ 3 giờ/ ngày
o 1 MET-phút = năng lượng cơ bản tiêu hao trong 1 phút
o Với mức cường độ hoạt động nhẹ và vừa, mức tiêu hao năng lượngtương ứng 3-4 MET-phút, như vậy 4000 MET-phút/tuần tương ứng với 140-
190 phút/ngày (khoảng 3 giờ)
Thời gian xem tivi, sử dụng internet ngoài giờ làm việc là tổng thờigian xem tivi, sử dụng internet hoặc giải trí thông qua máy vi tính, điện thoạihoặc các thiết bị di động khác ngoài giờ làm việc: < 2 giờ/ ngày, ≥ 2 giờ/ ngày
Ăn mặn là cảm giác chủ quan của đối tượng nghiên cứu so với ngườixung quanh: có/ không
Thói quen: hút thuốc, sử dụng rượu
Sử dụng rượu: chúng tôi chia đối tượng nghiên cứu thành 3 nhóm:không sử dụng hoặc không thường xuyên, sử dụng ≤ 2 đơn vị/ngày và > 2đơn vị/ ngày
- Đơn vị rượu/ cốc/ chén chuẩn là một đơn vị đo lường dùng để quy đổi cácloại rượu bia với nồng độ khác nhau Theo Tổ chức Y tế Thế giới thì một đơn vịrượu / cốc / chén chuẩn tương đương 10g etanol chứa trong dung dịch uống,tương đương với 1 lon bia 330 ml 5%, 1 cốc rượu vang 125 ml nồng độ 11%, 1
Trang 27- Người hút thuốc lá được định nghĩa là người đã hút hơn 100 điếu thuốccho đến thời điểm nghiên cứu.
- Hút thuốc lá đã bỏ là những người đã hút > 100 điếu thuốc nhưng khônghút trong 28 ngày trước thời điểm nghiên cứu
- Hút 4 điếu thuốc lào hoặc 2 gam thuốc lào tương đương với 1 điếu thuốc lá
Bước 3: Khám lâm sàng.
Đo chiều cao đứng:
Thước đo chiều cao với độ chính xác 0,1 cm
Cách đo: Đối tượng đo bỏ giầy, dép, đứng thẳng với tư thế thoải mái,hai chân chụm hình chữ V, gót chân sát mặt sau của cân, mắt nhìn thẳng vềphía trước, đảm bảo 3 điểm chạm thước đo (chẩm, mông và gót chân) Đọcchỉ số trên thước đo
Ghi số cm với số lẻ
Đo cân nặng:
Cân bằng cân điện tử với độ chính xác 0,1 kg
Đối tượng đo mặc quần áo mỏng, bỏ giầy dép, đứng cả 2 chân lên bàn cân
Ghi kết quả vào bệnh án nghiên cứu
Đo vòng bụng:
o Dụng cụ đo: Thước dây với độ chính xác 0,1 cm
Cách đo: Là vòng đo đi qua điểm nằm giữa mào chậu và xương sườncuối cùng, ở thì thở ra
Ghi kết quả vào mẫu bệnh án
Đo vòng hông: Đo bằng thước dây vòng quanh mông qua điểm nhônhất của hai bên mông, cạnh dưới của thước dây phải nằm trên mặt phẳngvuông góc với trục cơ thể
Đo huyết áp tại phòng khám (theo hướng dẫn đo huyết áp của AHA)
Trang 28Bệnh nhân không uống rượu, hút thuốc trước 15 phút, sử dụng cà phêtrước 01 giờ, không dùng các thuốc cường giao cảm trước khi tiến hành đohuyết áp.
Bệnh nhân được nghỉ ngơi tối thiểu 5 phút trước khi tiến hành đo
Tư thế bệnh nhân ngồi thoải mái trên ghế, lưng và tay có vị trí tựa, vị trí
đo huyết áp được bộc lộ, kéo tay áo lên trên cao hoặc cởi bỏ
Vị trí cánh tay đo huyết áp ngang với tâm nhĩ phải (điểm giữa xương ức)
Tiến hành đo:
Quấn băng đo huyết áp trên nếp gấp khuỷu 3 cm, ống nghe đặt ở độngmạch cánh tay
Bơm túi hơi vượt quá huyết áp tâm thu 20 mmHg
Xả nhanh với tốc độ 3 mmHg/giây
Tiếng mạch đầu tiên là huyết áp tâm thu (HATT), tiếng mạch cuối cùnghoặc khi thay đổi âm sắc là huyết áp tâm trương (HATTr)
Bệnh nhân được đo huyết áp 2 lần cách nhau ít nhất 5 phút, nếu kếtquả giữa 2 lần đo chênh lệch 10 mmHg phải đo lại
Ghi kết quả vào bệnh án nghiên cứu.
Đánh giá: theo tiêu chuẩn của Tổ chức đái tháo đường thế giới IDF 2006
đánh giá HCCH: HATT tăng khi HATT ≥ 130 mmHg, HATTr tăng khi HATTr
≥ 85 mmHg[1]
Bước 3: Làm xét nghiệm cận lâm sàng.
Xét nghiệm glucose máu lúc đói
Xét nghiệm được tiến hành tại khoa Hóa sinh Bệnh viện Bạch Mai
Phương pháp: dựa vào nguyên lý của phản ứng enzym so màu, sử dụng
kỹ thuật đo điểm cuối (End poind) ở bước sóng 505nm trên máy AU 2700
Ghi kết quả vào bệnh án nghiên cứu
Xét nghiệm: Cholesterol toàn phần, Trglycerid, LDL- C, HDL-C
Xét nghiệm được tiến hành tại khoa Hóa sinh Bệnh viện Bạch Mai
Phương pháp:
- Định lượng Cholesterol: phản ứng dựa trên nguyên lý của phản ứng
enzym so màu, sử dụng kỹ thuật đo điểm cuối (End poind) ở bước sóng505nm trên máy AU 2700
Trang 29- Định lượng Triglycerid: phản ứng dựa trên nguyên lý của phản ứng
enzym so màu, sử dụng kỹ thuật đo điểm cuối (End poind) ở bước sóng505nm trên máy AU 2700
- HDL-C: dựa trên nguyên lý của phản ứng enzym so màu trên máy AU
2700 •
- LDL-C: tính toán dựa vào Triglycerid, HDL-C, Cholesterol Nếu
Triglycerid >4,5mmol/L thì đo trực tiếp bằng phương pháp enzym so màutrên máy AU2700
Ghi kết quả vào bệnh án nghiên cứu
Đánh giá: Theo tiêu chuẩn IDF 2006 trên HCCH
Đánh giá nồng độ glucose máu: glucose máu đói tăng khi nồng độglucose máu đói ≥ 5,6 mmol/L
Đánh giá rối loạn lipid máu : giảm HDL- C khi nống độ HDL- C huyết tương ≤ 1,03 mmol/l với nam, ≤ 1,3 mmo/l với nữ, tăng triglycerid khi nồng độ trglycerid huyết thanh ≥1,7 mmol/l[1]
Bước 6: Phân tích và xử lý số liệu.
Bước 7: Đánh giá kết quả.
2.2.2 Các tiêu chuẩn đánh giá bệnh nhân.
Béo bụng thể trung tâm và chỉ số vòng eo-hông đối với người châu
Á (theo IDF 2006)[105]:
Chỉ số BMI: Chỉ số khối cơ thể (BMI = Body Mass Index) = Cân nặng
(kg)/(chiều cao)2 (m) được phân loại như sau[106]:
< 18,5 : Thiếu năng lượng trường diễn : (C.E.D)
18,5 – 24,9 : Bình thường
25 – 29,9 : Tiền béo phì
Trang 3030 – 34,9 : Béophìđộ I
35 – 39,9 : Béo phì độ II
≥ 40 : Béo phì độ III
Đánh giá chỉ số lipid máu
Bảng 2.1: Đánh giá chỉ số lipid máu theo NCEP/ATP III 2012[107].
Loại cholesterol Mức cholesterol
Bảng 2.2 Phân độ tăng huyết áp theo JNC -2003[108].
Phân loại tăng
Trang 31Bảng 2.3: Đánh giá chỉ số glucose máu theo ADA 2015[109].
Nồng độ glucose máu
Đái tháo đường
Hoặc 2h sau làm nghiệm pháp
Rối loan dung nạp glucose máu
hoặc 2h sau làm nghiệm pháp
dung nạp glucose máu ≥ 7,8 và < 11,1 ≥ 140 và < 200
Rối loạn glucose máu lúc đói:
Glucose máu lúc đói ≥ 5,6 và < 7,0 ≥ 100 và < 126
hoặc 2h sau làm nghiệm pháp
* Rối loạn glucose máu lúc đói và rối loạn dung nạp glucose máu được gọi chung là tiền đái tháo đường.
Trang 322.4 Quản lý và phân tích số liệu
- Nhập dữ liệu: SPSS 20
- Phân tích số liệu: SPSS 20
- Test kiểm định: 2, T - test
2.5 Vấn đề về đạo đức trong nghiên cứu
Bệnh nhân đều được giải thích cụ thể về mục đích, nội dung nghiêncứu để học tự nguyện tham gia và hợp tác trong quá trình nghiên cứu, đốitượng có quyền từ chối tham gia và nếu từ chối họ sẽ không bị phân biệt đối
xử trong điều trị
Bệnh nhân có thể ngừng tham gia nghiên cứu vào bất cứ thời điểm nào
Các thông tin về bệnh và cá nhân đối tượng nghiên cứu được giữ bí mật
Trang 33Người đến khám sức khỏe đồng ý tham gia nghiên cứu
1 Đánh giá tiêu chuẩn lựa chọn:
- Hành chính
- Tiền sử bản thân
279 người đủ tiêu chuẩn lựa chọn
2 Đánh giá trình độ học vấn và thói quen sống:
- Nghề nghiệp, trình độ học vấn
- Thói quen ăn mặn, tình trạng uống rượu, hút thuốc
- Hoạt động thể lực, thời gian xem tivi lướt internet ngoài giờ làm việc
3 Khám lâm sàng:
- Đo chiều cao, cân nặng, đo vòng bụng, vòng hông
- Đo huyết áp
4 Xét nghiệm cận lâm sàng:
- Glucose máu lúc đói
- Cholesterol toàn phần, HDL-C huyết thanh,
LDL-C huyết thanh, triglicerid huyết thanh
Đánh giá mục tiêu 1 Đánh giá mục tiêu 2
Trang 34CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu tiến hành trên 279 người trong độ tuổi từ 20 đến 60 tuổi đến khám sức khỏe tại khoa Khám Bệnh Theo Yêu Cầu bệnh viện Bạch Mai từ tháng 10/2017 đến 6/2018, chúng tôi thu được một số kết quả như sau:
3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
3.1.1 Đặc điểm về tuổi, giới của đối tượng nghiên cứu
3.1.1.1 Đặc điểm về giới của đối tượng nghiên cứu
34.1
65.9
Nam Nữ
Biểu đồ 3.1 Đặc điểm về giới của đối tượng nghiên cứu.
Nhận xét:
- Trong nhóm người tham gia nghiên cứu có 95 nam chiếm 34,1% và
184 nữ chiếm 65,9%, tỉ lệ nam giới trong nghiên cứu thấp hơn đáng kể so với
nữ giới, khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05)
Trang 353.1.1.2 Đặc điểm về tuổi của đối tượng nghiên cứu.
Đặc điểm về tuổi theo giới tính.
Bảng 3.1 Đặc điểm về tuổi trung bình của nam và nữ.
Đặc điển theo nhóm tuổi.
Bảng 3.2 Đặc điểm về nhóm tuổi của nhóm đối tượng nghiên cứu Nhóm tuổi
Giới
20-29 (n,%)
30-39(n,%)
40-49(n,%)
50-60 (n,%)
Tổng(n)
(16,8%)
21(22,2%)
31(32,6%)
27 (28,4%)
95
Nữ (2,7%) 5 (22,3%)41 (28,8%)53 (46,2%) 85 184Chung (7,5%) 21 (22,2%)62 (30,2%)84 (40,1%) 112 279
Nhận xét:
- Phần lớn người tham gia nghiên cứu trong độ tuổi ≥ 40 tuổi: 70,3%
- Khi so sánh giữa nam và nữ, không có sự khác biệt đáng kể trong 2 nhómtuổi 30-39 tuổi và 40-49 tuổi (p > 0,05), tuy nhiên ở nữ có tỉ lệ người trong nhómtuổi 50-60 tuổi cao hơn so với nam: 46,2% so với 28,4% (p <0,05)
Trang 363.1.2 Đặc điểm về nơi sống, trình độ học vấn, nghề nghiệp và thời gian hoạt động thể lực.
3.1.2.1 Đặc điểm về nơi sống và trình độ học vấn của đối tượng nghiên cứu.
Tiểu học và không đi học (7,1%)20
Đại học và sau đại học (15,8%)44
Nhận xét:
- Đối tượng nghiên cứu của chúng tôi chủ yếu sống ở nông thôn (69,5%)
- Trình độ học vấn của đối tượng nghiên cứu chủ yếu là trình độ trung học77,1%; nhóm đối tượng có trình độ đại học và sau đại học chiểm tỉ lệ 15,8%
Trang 373.1.2.2 Đặc điểm nghề nghiệp và thời gian hoạt động thể lực của đối tượng nghiên cứu.
Bảng 3.4 Đặc điểm nghề nghiệp và thời gian hoạt động thể lực.
Nghề nghiệp
Lao động nhẹ (37,6%) 77Lao động vừa (72,4%) 202
- Nhóm nghề chiếm tỉ lệ cao nhất là nhóm nghề lao động vừa (làm ruộng
và công nhân), chiếm 72,4%
- Khi so sánh giữa 2 nhóm có thời gian hoạt động thể lực ≤ 3 giờ/ngày và
> 3 giờ/ngày chúng tôi nhận thấy không có sự khác biệt đáng kể về tỉ lệ giữa
2 nhóm, 44,8% so với 55,2%
Trang 383.1.3 Đặc điểm về thói quen sống của đối tượng nghiên cứu.
3.1.3.1 Đặc điểm thói quen ăn mặn của đối tượng nghiên cứu.
21.1
78.9
Có ăn mặn Không ăn mặn
Biểu đồ 3.2 Tỉ lệ người có thói quen ăn mặn ở đối tượng nghiên cứu.
Nhận xét:
Trong nghiên cứu của chúng tôi những người có thói quen ăn mặnchiếm 21,1%
3.1.3.2 Đặc điểm thói quen hút thuốc lá, sử dụng rượu ở nam giới.
Bảng 3.5 Đặc điểm thói quen hút thuốc và sử dụng rượu ở nam giới.
Đặc điểm
Sử dụng rượu
Tổng(n,%)
Không sử dụnghoặc khôngthường xuyên (n,
%)
≤ 2 đơnvị/ngày(n,%)
> 2 đơnvị/ ngày(n,%)Hút
thuốc
lá
Không (66,7%)34 (21,6%)11 (11,7%)6
51(53,7%)Có
Đã bỏ (16,7%)2 (25,0%) 3 (58,3%) 7
12(12,6%)Còn
hút
7 (21,9%)
8 (25,0%)
17 (53,1%)
32(33,7%
Trang 39- Tình trạng sử dụng rượu ở nam giới hút thuốc lá:
Những người không hút thuốc lá phần lớn không sử dụng rượu(66,7%)
Những người hút thuốc đã bỏ hoặc hiện còn hút thuốc lá có tỉ lệ sửdụng > 2 đơn vị rượu/ngày: 58,3% và 53,1%
3.1.4 Đặc điểm lâm sàng của đối tượng nghiên cứu.
Bảng 3.6 Đặc điểm lâm sàng của đối tượng nghiên cứu.
Đặc điểm (n=95)Nam (n=184)Nữ (n=279)Chung p (χ 2 ) Chiều cao (cm) 165±6,7 154,9±11,6 158,5±11,3
Trang 40- Chúng tôi không nhận thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê các chỉ số lâm sàng: chỉ số eo-hông, HATT và HATTr giữa nam và nữ (p > 0.05).
- Chỉ số khối cơ thể BMI ở nữ cao hơn ở nam: 24,1 so với 22,3, tuy nhiên sựkhác biệt không có ý nghĩa thống kê (p >0,05)
3.1.5 Tỉ lệ thừa cân, béo phì ở đối tương nghiên cứu.
Bảng 3.7 Tỉ lệ thừa cân béo phì ở đối tượng nghiên cứu
Giới
BMI(kg/m 2 )
Nam (n,%)
Nữ (n,%)
Chung (n,%) p (χ 2 )
< 18.5 (10,5%)10 (4,9%)9 (6,8%)19 0,07718.5 -24.9 (73,7%)70 (81,0%)149 (78,5%)219 0,1625-29.9 (14,7%)14 (11,4%)21 (12,5%)35 0,427
(1,1%)
5(2,7%)
6(2,2%)
- Có 14,7% đối tượng trong tình trạng thừa cân-béo phì
- Trong nhóm đối tượng thừa cân (BMI: 25 -29,9 kg/m2), tỉ lệ ở nam caohơn ở nữ: 14,7% so với 11,4%, khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p >0,05)
- Trong 95 đối tượng nam giới chỉ có 1 người có chỉ số BMI ≥ 30, trong
khi 184 nữ giới có 5 người có BMI ≥ 30.