Định nghĩa hen phế quản Theo quyết định về việc ban hành “Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị hentrẻ em dưới 5 tuổi” của Bộ Y tế năm 2016, HPQ được chẩn đoán như sau: Hen là tình trạng viêm
Trang 1số người tử vong do căn bệnh này cũng tăng lên một cách rõ rệt Số liệu thống
kê mới nhất chỉ ra rằng: mỗi năm trên toàn thế giới có khoảng 250.000 ngườichết vì bệnh HPQ Tuy nhiên theo đánh giá của các nhà nghiên cứu thì 85%trường hợp tử vong do HPQ có thể phòng được [2] Nguyên nhân tử vong dohen chủ yếu là chưa đánh giá đúng và xử lý kịp thời mức độ nặng của cơn hencấp Yếu tố gây khởi phát cơn hen cấp rất đa dạng: khói thuốc, bụi, thức ăn,gắng sức, nhiễm khuẩn Gần đây vai trò nhiễm trùng đường hô hấp tronghen phế quản đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu quan tâm, vi khuẩn
không điển hình như Mycoplasma pneumoniae và Chlamydia pneumoniae [3], [4], [5].
M pneumoniae là vi khuẩn không đặc hiệu, có duy nhất một màng bào
tương bao quanh, không có vách tế bào nên chúng có tính đề kháng với khángsinh tác động lên vách tế bào như nhóm ß lactam Nhóm kháng sinh được lựa
chọn trong điều trị M pneumoniae là macrolid Chẩn đoán nhiễm M pneumoniae dựa vào nuôi cấy vi khuẩn, kỹ thuật PCR và xét nghiệm huyết
thanh học
Trang 2Nhiều nghiên cứu cho thấy nhiễm M pneumoniae chiếm một tỷ lệ khá
cao trong các bệnh viêm đường hô hấp cộng đồng, đặc biệt ở trẻ em, tỷ lệ nàydao động từ 14% đến 65% [6], [7], [8] [9]
Tuy nhiên, còn nhiều câu hỏi được đặt ra liên quan đến việc nhiễm
khuẩn M pneumoniae, nó là nguyên nhân khởi phát hen hay là một đồng yếu
tố gây khởi phát hen Tỷ lệ nhiễm M pneumoniae và mối liên quan giữa nhiễm M pneumoniae với mức độ nặng bệnh HPQ chưa được nghiên cứu nhiều ở trẻ em Nếu đánh giá đúng vai trò của M pneumoniae trong hen sẽ
giúp cho điều trị cơn hen cấp hiệu quả hơn bằng việc kết hợp với kháng sinhđặc hiệu, góp phần kiểm soát cơn hen cũng như bệnh hen được tốt hơn
Trên thế giới và Việt Nam đã có nhiều nghiên cứu về hen HPQ trên cáclĩnh vực khác nhau Tuy nhiên nghiên cứu về Mycoplasma pneumoniae với
HPQ chưa nhiều Vì vậy chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm
lâm sàng, cận lâm sàng của cơn hen cấp có nhiễm Mycoplasma pneumoniae ở trẻ em” với 2 mục tiêu:
1 Xác định tỷ lệ nhiễm Mycoplasma pneumoniae trong cơn hen cấp ở trẻ em tại Bệnh viện Nhi Trung ương.
2 Tìm hiểu sự khác biệt về đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của cơn hen cấp có nhiễm và không nhiễm Mycoplasma pneumoniae.
Trang 3Chương 1 TỔNG QUAN
1.1 ĐẠI CƯƠNG VỀ HEN PHẾ QUẢN
1.1.1 Định nghĩa hen phế quản
Theo quyết định về việc ban hành “Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị hentrẻ em dưới 5 tuổi” của Bộ Y tế năm 2016, HPQ được chẩn đoán như sau:
Hen là tình trạng viêm mạn tính đường thở, với sư tham gia của nhiều tế bào
và thành phần tế bào làm tăng tính đáp ứng đường thở (co thắt, phù nề, tăng tiết đờm) gây tắc nghẽn hạn chế luồng khí đường thở, làm xuất hiện các triệu chứng khò khè, khó thở, nặng ngực và ho tái diễn nhiều lần, thường xảy ra vào ban đêm và sáng sớm có thể hồi phục tự nhiên hoặc do dung thuốc [10] Theo GINA 2016: Hen là một bênh lý đa dạng đặc trưng bởi viêm mạn tính đường dẫn khí Hen được định nghĩa bởi sự hiện diện các triệu chứng hô hấp như khò khè, khó thở nặng ngực và ho, các triệu chứng này thay đổi theo thời gian và về cường độ, và giới hạn luồng khí thở ra.
Định nghĩa này được xác lập bởi sự đồng thuận, dựa trên xem xét cácđặc điểm chính của hen và khác biệt với các triệu chứng hô hấp khác [11]
1.1.2 Dịch tễ học HPQ
Trang 41.1.2.1 Tỷ lệ mắc bệnh
Hiện nay trên thế giới ước tính có khoảng 300 triệu người mắc hen Theocác nghiên cứu quốc tế về hen và dị ứng ở trẻ em (ISAAC), tần suất hen ở trẻgiao động từ 3% đến 20% ở các nước khác nhau [12] Các nước vùng cậnnhiệt đới có tỷ lệ trẻ mắc hen cao nhất Ngược lại ở các nước đang phát triển
và các nước thuộc vùng nhiệt đới, tỷ lệ trẻ mắc hen thấp hơn [13]
Tại Việt Nam, tỷ lệ trẻ em mắc bệnh hen khá cao và có chiều hướngngày càng gia tăng Theo công bố của Bộ Y tế, tỷ lệ hen năm 2000 từ 8-9%,đến năm 2004 là 10% Đặc biệt, tại thành phố Hồ Chí Minh, theo nghiên cứucủa tổ chức quốc tế về hen và dị ứng trẻ em năm 2004, có đến 29,1% trẻ emtừng bị khò khè, con số thuộc loại cao nhất châu Á [14]
Một nghiên cứu tại Hà Nội năm 2003 trên trẻ em từ 5-11 tuổi chỉ ra rằng
tỷ lệ trẻ đã từng bị khò khè là 24,9%, khò khè trong vòng 12 tháng qua là14,9%, từng bị HPQ là 12,1%, HPQ được chẩn đoán bởi bác sĩ là 13,9% [15] Nghiên cứu của Nguyễn Văn Đoàn và Trần Thuý Hạnh năm 2011 trên 7vùng miền khác nhau của Việt Nam cho thấy tỷ lệ mắc hen chung là 3,9%,trong đó tỷ lệ mắc hen ở trẻ em là 3,2% [16]
1.1.2.2 Tỷ lệ tử vong
Tỷ lệ tử vong do hen cũng tăng lên rõ rệt, hàng năm có khoảng 20-25nghìn người tử vong do hen Theo GINA năm 2010, số bệnh nhân tử vong dohen là 250.000 nguời Trung bình cứ 250 người tử vong có 1 người tử vongliên quan đến hen Không có mối liên quan giữa tỷ lệ mắc và tỷ lệ tử vong dohen [17]
Ở Việt Nam hiện chưa có con số thống kê đầy đủ, tuy nhiên với khoảng
4 triệu người mắc hen thì chắc chắn tỷ lệ tử vong không phải là thấp Tỷ lệ tửvong phụ thuộc độ lưu hành hen tăng, chẩn đoán và điều trị hen không đúng,chủ quan trong việc quản lý, kiểm soát hen
1.1.2.2 Hậu quả của hen phế quản
Trang 5Đối với người bệnh ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, học tập và chất lượng cuộcsống, có thể dẫn tới tử vong, tàn phế nêu ko đc chẩn đoán và điều trị kịp thời.Đối với gia đình: HPQ tác động đến tâm lý gia đình coi người bệnh nhưmột gánh nặng.
Đối với xã hội: thiệt hại do HPQ gây ra bao gồm các chi phí trực tiếpcho khám chữa bệnh, xét nghiệm, tiền thuốc, chi phí gián tiếp cho ngày nghỉhọc, bố mẹ nghỉ làm việc cho con đi khám chữa bệnh Theo thông báo củaWHO năm 1998 cho thấy chi phí cho bệnh HPQ lớn hơn 2 bệnh hiểm nghèo
là HIV và Lao cộng lại Theo GINA, chi phí trực tiếp cho phòng chống henchiếm khoảng 1-3% tổng chi phí cho y tế từ hầu hết các quốc gia
1.1.3 Nguyên nhân và yếu tố nguy cơ
1.1.3.1 Nguyên nhân
Nguyên nhân gây HPQ rất đa dạng và phức tạp, do nhiều yếu tố phốihợp tác động lẫn nhau Sự tương tác giữa các yếu tố nguyên nhân với tínhnhạy cảm của cơ thể không chỉ đơn thuần theo một cơ chế nhất định mà là sựphối hợp giữa các cơ chế Có thể chia các căn nguyên của HPQ bao gồm:
Di truyền: 60% HPQ có yếu tố di truyền từ cha mẹ Các hệ HLA liênquan đến di truyền của HPQ là HLA DRB1, DRB3, DRB5 và DP1
Các yếu tố môi trường: không khí lạnh, hóa chất, bụi, khói … [18]
Các dị nguyên: phấn hoa, cây cỏ, lông súc vật, bụi nhà, trong đó có vai
trò của con bọ nhà (Dermatophagoides pteronyssinus hoặc Dermatophag oides farinae), dị nguyên thức ăn (sữa bò, tôm, cua, cá, lạc) [2] [19].
Yếu tố viêm nhiễm: đặc biệt nhiễm trùng đường hô hấp và nhiễm kýsinh trùng là yếu tố thường gặp ở trẻ em Các vi rút thường gây nhiễm trùng ở
trẻ em là hợp bào hô hấp, vi rút cúm, á cúm, Rhinovirus, Coronavirus, Adenovirus Hoặc các loại nấm như Penicillium, Candida [2]
Thuốc và hóa chất: Aspirin, sulfamid, penicillin
Trang 61.1.3.2 Những yếu tố nguy cơ
Yếu tố cơ địa dị ứng
Dị ứng là sự sản suất số lượng bất thường IgE trong đáp ứng khi tiếp xúcvới các yếu tố dị nguyên môi trường Yếu tố dị ứng là yếu tố nguy cơ cao nhấttrong hen phế quản Những người có cơ địa dị ứng có khả năng mắc HPQ caogấp 2-5 lần người bình thường, người ta cho rằng 50 – 60% các trường hợpHPQ là do dị ứng Như vậy có mối liên quan giữa HPQ và cơ địa dị ứng,những trẻ có cơ địa dị ứng hoặc có những bệnh dị ứng khác như (chàm thểtạng, viêm mũi dị ứng, mày đay, viêm xoang dị ứng ) dễ bị HPQ hơn nhữngtrẻ không có cơ địa dị ứng hoặc bệnh dị ứng [2]
Giới
Hen phế quản xảy ra ở cả hai giới, tuy nhiên theo lứa tuổi thì tỷ lệ mắcHPQ ở hai giới có khác nhau Trước tuổi dậy thì HPQ gặp nhiều ở trẻ trai hơntrẻ gái, đến tuổi thanh niên và trưởng thành tỷ lệ HPQ là ngang nhau ở 2 giới [21],[17]
HPQ ở trẻ em tỷ lệ nam/nữ dao động từ 1,3 đến 1,9 [21] [19] [23],
Yếu tố thần kinh, nội tiết
Trang 7Những trẻ bị xúc động mạnh, tình trạng lo lắng, sợ hãi, suy nhược, tăngcảm giác thường dễ gây khởi phát cơn hen [21].
Địa dư
Tùy theo hoàn cảnh địa lý, khí hậu môi trường mà tỷ lệ hen có khác nhau
ở mỗi nước, mỗi vùng [21]
Các yếu tố khác
Trẻ tiền sử đẻ non, loạn sản phổi, bệnh hô hấp tái diễn nhiều lần trước 2tuổi, tình trạng gắng sức, thay đổi thời tiết, tình trạng béo phì là những yếu tố
nguy cơ gây HPQ [21]
1.1.4 Cơ chế hen phế quản [24]
Cơ chế bệnh sinh của HPQ rất phức tạp do sự tác động của nhiều yếu tốkhác nhau như sự tham gia của nhiều tế bào viêm và các mediators viêm.Viêm mạn tính là kết quả tương tác giữa cơ địa dị ứng bản thân và các yếu tốmôi trường như phấn hoa, bọ nhà, nấm mốc, hóa chất bay hơi v.v……Tìnhtrạng viêm mạn tính đường hô hấp kết hợp với tăng phản ứng phế quản dẫnđến co thắt phế quản là ba quá trình sinh lý bệnh cơ bản trong HPQ
Phế quản của người bình thường Phế quản của bệnh
nhân hen phế quản
Trang 8Hình 1.1 Hình ảnh phế quản của bệnh nhân HPQ
- Viêm đường thở: đây là cơ chế quan trọng nhất và được nhiều tác giảcông nhận
- Co thắt phế quản → tắc nghẽn phế quản, tăng tiết niêm dịch phế quảnlàm phù nề phế quản → ran rít, ngáy, khò khè
- Gia tăng tính phản ứng đường thở
Sơ đồ 1.1 Ba quá trình bệnh lý trong hen phế quản
1.1.5 Chẩn đoán hen phế quản
Yếu tố nguy cơ(Làm phát sinh bệnh HPQ)
Viêm mạn tính đường thở
(Gây cơn HPQ cấp)
Trang 9Biểu hiện lâm sàng của HPQ có thể cấp tính hoặc từ từ, thay đổi theotừng cá nhân, từng thời điểm và xuất hiện ở mọi lứa tuổi Giai đoạn cấp tínhthường xuất hiện khi có tiếp xúc với các yếu tố kích thích như dị ứng, các hóachất, khói thuốc lá, bụi nhà, không khí lạnh, nhiễm trùng, gắng sức, thay đổicảm xúc
1.1.5.1 Triệu chứng lâm sàng HPQ
Biểu hiện lâm sàng của HPQ tùy thuộc vào diễn biến của bệnh: Ở thời
kỳ HPQ được kiểm soát hoàn toàn hay HPQ không được kiểm soát
Triệu chứng lâm sàng đợt bùng phát của HPQ
Các triệu chứng lâm sàng của HPQ trong đợt bùng phát rất đa dạng,phong phú và thay đổi theo từng cá thể và từng thời điểm Lâm sàng của đợtbùng phát bao gồm các biểu hiện sau:
Triệu chứng cơ năng:
- Ho: Lúc đầu có thể ho khan, sau xuất tiết nhiều đờm dãi (đờm trắng,quánh, dính, khó khạc, soi kính hiển vi thấy nhiều bạch cầu ái toan), ho daidẳng không có giờ giấc nhất định, thường ho nhiều về đêm nhất là khi thayđổi thời tiết [21]
- Khó thở: Đây là triệu chứng cơ bản và gặp chủ yếu trong đợt bùng phát
của HPQ Khó thở chủ yếu thì thở ra và khó thở kéo dài Trường hợp nhẹ khóthở chỉ xuất hiện khi gắng sức, khi ho, khi khóc, khi cười Trường hợp điểnhình khó thở biểu hiện thường xuyên kiểu khó thở ra, có tiếng khò khè, cò cử,thường nặng về đêm và gần sáng Trước khi xuất hiện cơn hen trẻ thường cómột số dấu hiệu báo trước như hắt hơi, ngứa mũi, chảy nước mũi hoặc chán
ăn, nặng ngực Trong cơn hen nặng trẻ rất khó thở, tím tái, ra nhiều mồ hôi,khò khè, ho nhiều, nói từng từ và không ăn uống được Trong trường hợp cơn
Trang 10hen ác tính có thể có các biến chứng như: Tràn khí màng phổi, tràn khí trungthất, rối loạn nhịp thở, ngừng thở , [21]
- Tức ngực: Bệnh nhân có cảm giác tức nghẹt lồng ngực hoặc thắt chặtngực Triệu chứng này chủ yếu ở trẻ lớn, ở trẻ nhỏ hiếm khi khai thác đượctriệu chứng này [21]
Triệu chứng thực thể
Nhìn: Lồng ngực căng, có hiện tượng co kéo cơ hô hấp phụ, co kéo hõm
ức, hố trên đòn Những trường hợp HPQ kéo dài lồng ngực có thể bị biếndạng như lồng ngực hình “ức gà”, cơ thể chậm phát triển, [21]
Gõ phổi: Có thể thấy vang hơn bình thường, vùng đục trước tim giảm [21].Nghe: Có ran rít, ran ngáy và tiếng thở khò khè Trường hợp nặng rì ràophế nang giảm, có thể mất (phổi câm) trong tắc nghẽn đường thở rất nặng.Trong cơn khó thở nặng, có các dấu hiệu khác như: Mạch đảo, tím tái, vã mồhôi, nói khó khăn, rối loạn ý thức (lo lắng, kích thích, li bì) [21]
Các bệnh khác thường kèm theo: Eczema, mày đay, viêm mũi dị ứng,luồng trào ngược dạ dày thực quản
Các triệu chứng lâm sàng HPQ phản ánh mức độ tắc nghẽn phế quản làm thay đổi thông khí, có thể chia làm ba giai đoạn sau:
Giai đoạn đầu: Co thắt phù nề phế quản biểu hiện bằng các triệu chứng
ho kịch phát, ứ trệ chất nhầy, dính không
bài tiết ra được Do đó kích thích niêm mạc phế quản gây ho [21]
Giai đoạn 2: Các chất xuất tiết nhiều, ho dữ dội có đờm và bọt trongdính Nếu trẻ khạc ra được sẽ cảm thấy dễ chịu Sau đó khó thở lại tăng lên,trẻ thở khò khè, nói ngắt quãng Trẻ phải ngồi tựa vào thành giường để thở,mặt xanh xám, môi lúc đầu đỏ sau tím, rút lõm lồng ngực, nhịp thở tăng vàngày càng thở nông, tím tái, ho liên tục, tình trạng vật vã kích thích rất khóchịu [21]
Trang 11Giai đoạn 3: Giai đoạn tắc và co thắt phế quản nặng, sự trao đổi khí
kém, thở khò khè nhiều nên nghe ran không rõ hoặc giảm nhiều khiến chúng
ta dễ nhầm tưởng là cơn hen đã giảm, nhưng thực chất do thông khí phế nangquá giảm, trẻ rất mệt, thở yếu và rất dễ bị ngạt thở [21]
1.1.5.2 Một số xét nghiệm cận lâm sàng trong HPQ
Thăm dò chức năng hô hấp trong hen
Đo thông khí phổi có vai trò rất quan trọng trong chẩn đoán cũng nhưtheo dõi và đánh giá hiệu quả của điều trị dự phòng HPQ Qua việc đo chứcnăng hô hấp (bằng máy hô hấp kế) giúp chúng ta chẩn đoán xác định, đánhgiá mức độ nặng của hen, mức độ tắc nghẽn hô hấp, mức độ rối loạn thôngkhí trong hen
Các chỉ tiêu đánh giá chức năng thông khí phổi bao gồm:
- Các thể tích và các dung tích: VC, FVC, TLC, RV
- Các lưu lượng: FEV1, PEF, FEF25-75%, MEF25-75%
- Các tỷ lệ: Chỉ số Tiffeneau (FEV1/VC), chỉ số Gaensler (FEV1/FVC),
tỷ lệ RV/TLC, RV/FRC …
Test phục hồi phế quản: Test dương tính khi FEV1 hoặc PEF tăng ítnhất 12% sau khi phun thuốc cường 2 tác dụng nhanh 10-20 phút Tuy nhiêntest này có thể âm tính trong các trường hợp hen nặng kéo dài, test này âmtính do mất khả năng phục hồi đường thở [21] [26]
Test kích thích phế quản không đặc hiệu bằng histamine, methacholine,acetylcholine, hoặc test vận động Đây là test xác định “tăng đáp ứng phếquản”, test dương tính khi giảm FEV1 > 20% so với giá trị lý thuyết, tiếnhành khi chẩn đoán hen còn nghi ngờ, các thông số thăm dò bằng phế dung kếbình thường hoặc gần bình thường [27] Tuy nhiên, việc áp dụng các test nàytrong nhi khoa còn hạn chế
Trang 12 Đo lưu lượng đỉnh (PEF): Nghĩ đến HPQ khi giá trị đo buổi sáng giảmhơn 20% so với giá trị đo buổi chiều hôm trước Phương pháp này giúp chẩnđoán và tiên lượng hen, nếu được điều trị tốt thì PEF tăng lên [21].
Đo sức cản đường thở: Sức cản đường thở là thông số trực tiếp đánhgiá mức co hay giãn cây phế quản, xác định tình trạng rối loạn thông khí tắcnghẽn một cách khách quan, không phụ thuộc vào sự nỗ lực và cộng tác củađối tượng Vì vậy rất có ý nghĩa để chẩn đoán hen ở trẻ nhỏ [28]
XQ phổi: X-quang phổi trong cơn hen cấp cho thấy tình trạng phổi quá
sáng do ứ khí, lồng ngực căng, khoang liên sườn giãn rộng, vòm hoành hạthấp, nếu bị lâu có tình trạng khí phế thũng do giãn phế nang, tâm phế mãn
Đo khí máu động mạch: Trong cơn hen có giảm SpO2 và PaO2.Trường hợp khó thở nặng, kéo dài có biểu hiện tăng PaCO2, tình trạng rốiloạn cân bằng toan kiềm Ngoài cơn khí máu bình thường[21], [29]
Công thức máu: Tăng bạch cầu ái toan
Định lượng IgE toàn phần: Tăng so với lứa tuổi trong những trường
hợp hen dị ứng
Xét nghiệm đờm: Có nhiều bạch cầu ái toan, tinh thể Charcot –
Leyden và vòng xoắn Cushman, [21], [29]
Test lảy da: Đây là phương pháp chủ yếu để xác định IgE đặc hiệu trong
lâm sàng bởi test có độ nhạy cao, dễ thực hiện, giá thành rẻ, kết quả nhanh
1.1.5.3 Tiêu chuẩn chẩn đoán HPQ
* Tiêu chuẩn chẩn đoán HPQ ở trẻ trên 5 tuổi theo GINA 2016 [30] Tiền sử có các triệu chứng hô hấp.
Các triệu chứng điển hình là thở khò khè, khó thở, nặng ngực và ho
• Thông thường người bị hen có nhiều hơn một trong các triệu chứng này
• Các triệu chứng xảy ra thay đổi theo thời gian và cường độ
• Các triệu chứng thường xảy ra hay xấu hơn vào ban đêm hay lúc thức giấc
• Các triệu chứng thường khởi phát khi tập thể dục, cười lớn, tiếp xúc các
Trang 13dị nguyên hay không khí lạnh
• Các triệu chứng thường xảy ra hay trở nên xấu đi với nhiễm siêu vi
Bằng chứng giới hạn luồng khí thở ra.
- It nhất một lần trong quá trình chẩn đoán có FEV1 thấp, chứng cứ chothấy tỉ lệ FEV1/FVC bị giảm Tỉ lệ FEV1/FVC bình thường lớn hơn 0,75-0,80 đối với người lớn và hơn 0,90 đối với trẻ em
- Chứng cứ cho thấy có sự thay đổi chức năng hô hấp cao hơn ở ngườikhỏe mạnh Ví dụ:
+ FEV1 tăng hơn 12% và 200mL (ở trẻ em, >12% giá trị dự đoán) saukhi hít thuốc giãn phế quản Được gọi là “giãn phế quản hồi phục”
+ Trung bình hằng ngày PEF thay đổi >10% (ở trẻ em, >13%)
+ FEV1 tăng hơn 12% và 200mL so với giá trị ban đầu (ở trẻ em, >12% giátrị dự đoán) sau 4 tuần điều trị chống viêm (ngoài các đợt nhiễm trùng hô hấp)
- Sự thay đổi vượt mức càng lớn trong nhiều lần đánh giá thì việc chẩnđoán càng chắc chắn hơn
- Việc thăm dò nên được lặp lại trong khi xảy ra các triệu chứng, vàosáng sớm hay sau khi sử dụng các thuốc giãn phế quản
- Tính giãn phế quản hồi phục có thể không thấy trong cơn hen kịch phátnặng hay nhiễm siêu vi Nếu tính giãn phế quản hồi phục không có ở thăm dòlần đầu, thì bước tiếp theo phụ thuộc vào tính cấp bách lâm sàng và sự sẳn cócủa các thăm dò khác
- Các thăm dò khác để hỗ trợ chẩn đoán bao gồm thử nghiệm gây co thắtphế quản
Khám thực thể: người bị hen thường thì bình thường, nhưng dấu hiệu
thường thấy nhất là thở khò khè khi nghe phổi, đặc biệt khi thở ra gắng sức
*Tiêu chuẩn chẩn đoán HPQ ở trẻ dưới 5 tuổi: quyết định BYT của Bộ trưởng Bộ Y tế năm 2016 [10]
4888/QĐ-Thỏa mãn 5 tiêu chuẩn dưới đây
Trang 141 Khò khè ± ho tái đi tái lại
2 Hội chứng tắc nghẽn đường thở, lâm sàng có ran ngáy, ran rít (± daođộng xung ký - IOS)
3 Có đáp ứng với thuốc giãn phế quản và/hoặc điều trị thử( 4-8 tuần) xấu
đi khi ngừng thuốc
4 Có tiền sử bản than/gia đình có yếu tố khởi phát
5 Đã loại trừ các nguyên nhân khò khè khác
1.2 ĐẶC ĐIỂM CỦA MYCOPLASMA
tranh luận và nhiều người tin rằng Mycoplasma là một loại đơn bào Sự tranh
cãi đó vẫn tiếp tục tiếp diễn, cho đến những năm 1960, khi thí nghiệm lai
DNA-DNA đã chỉ ra rằng thực chất Mycoplasma là các dạng sống đơn bào
không có khả năng tổng hợp vách tế bào dưới bất kỳ điều kiện nào [31]
Eaton và cộng sự năm 1944 lần đầu tiên phân lập được Mycoplasma pneumoniae từ dịch họng của bệnh nhân và gọi là tác nhân Eaton Sau đó các
nghiên cứu được tiến hành ở những năm 1950 đã cung cấp những bằng chứng
rõ ràng Mycoplasma pneumoniae là tác nhân gây nhiễm khuẩn đường hô hấp
dưới ở người, nhưng nó được xem như là một vi rút, cho đến năm 1960 khidùng các loại kháng sinh và đã chứng minh là có hiệu quả đối với chúng.Năm 1961 Marmion và Goodburn chỉ ra tác nhân Eaton là vi sinh vật giống vikhuẩn dịch hạch và không phải là vi rút Chanock và cộng sự đã thành công
trong việc nuôi cấy tác nhân Eaton và đề xuất phân loại M pneumoniae vào
năm 1963 [4], [32]
Trang 15Trong số Mycoplasma ở người, M pneumoniae được biết đến nhiều nhất
và được nghiên cứu kỹ lưỡng nhất Nhiều thông tin đã được nghiên cứu trongnhiều năm qua về sinh học tế bào, đáp ứng miễn dịch sinh vật chủ, các kỹ
thuật xét nghiệm để phát hiện, dịch tễ học của bệnh và vai trò của M pneumoniae đối với nhiễm khuẩn đường hô hấp [4], [31].
Mycoplasma giai đoạn đầu được xếp vào những nhân tố gây nhiễm trùng
trung gian giữa vi rút và vi khuẩn Hiện nay chúng được xếp chính thức vào
vi khuẩn, vì chúng không có vách tế bào nên dễ biến dạng và đi qua được các
lỗ lọc mà bình thường các vi khuẩn có vách bị giữ lại [4], [31]
1.2.2 Đặc điểm vi sinh học
Mycoplasma pneumoniae là 1 trong 16 loài vi khuẩn Mycoplasma gây
bệnh ở người Đó là một trong những vi khuẩn nhỏ bé nhất (khoảng 0,45µm)với cấu tạo đặc biệt: không có thành tế bào Lớp ngoài cùng của Mycoplasmapneumoniae chỉ là màng tế bào – được cấu tạo bởi thành phần sterol, gầngiống như các tế bào có nhân điển hình Bởi vậy, chúng có không có hìnhdạng cố định và cũng không thể chịu được áp lực thẩm thấu không ổn địnhcủa môi trường ngoài tế bào vật chủ Vì vậy, Mycoplasma pneumoniae phảisống kí sinh, sử dụng các chất dinh dưỡng: các axit amin, cholesterol, acidbéo, acid nucleic … từ các tế bào vật chủ
Bộ gen của chúng chỉ có 816 kbs, mã hóa 700 proteins Bản đồ của tất cả
các gen của M pneumoniae đã được xác định bởi các nhà nghiên cứu tại Đức
trong các phòng thí nghiệm của Richard Herrmanm
M pneumoniae có khả năng bám dính lên bề mặt của tế bào vật chủ nhờ
các protein bám dính, trong đó quan trọng nhất là: P1 và P30 [33] Chức năngnày rất quan trọng, giúp chúng xâm nhập vào lớp niêm mạc đường hô hấp vàgây nhiễm khuẩn Vì không có thành tế bào nên Mycoplasma pneumoniaetiếp xúc trực tiếp với các tế bào vật chủ, dễ dàng hòa màng tế bào Do sống kí
Trang 16sinh, chúng sử dụng chất dinh dưỡng của tế bào vật chủ để sống và tiếp tụcsinh sản Đồng thời sản xuất ra H2O2 và các gốc oxi hóa gây ra các phản ứnghóa học mạnh mẽ và làm tổn thương tế bào [34].
Màng bào tương
Riboxom Acid nucleic
Nhung mao (niêm mạc) Thụ thể bám dính mô P1
H 2 O 2 + O 2
-Niêm mạc phế quản
Hình 1.3: Sự bám dính của M pneumoniae trên niêm mạc phế quản Hình 1.2: Cấu trúc cơ quan bám dính của M pneumoniae
Trang 17xuân và mùa thu Khác với những bệnh lây truyền qua đường hô hấp khác
như cúm, sởi, Sự lây truyền M pneumoniae chậm và kín đáo, thường nguồn
lây ở trong gia đình hoặc các nhà trẻ, trại tập trung v.v… Giai đoạn ủ bệnhtrong 3 tuần và đường lây truyền qua đường hô hấp từ các giọt chất tiết đường
hô hấp bắn ra khi ho trong giai đoạn cấp của bệnh [34] [35]
Khoảng 3-10% người nhiễm M pneumoniae bị viêm phổi, trong số đó 5% số đó phải nhập viện Viêm phổi do M pneumoniae chiếm 5-10% tổng số
viêm phổi trong cộng đồng, ở những nhóm nguy cơ cao tỷ lệ này có thể caogấp 2-3 lần
Hơn 30 năm qua, đã có rất nhiều nghiên cứu cho thấy nhiễm M pneumoniae chiếm một tỉ lệ cao trong các bệnh viêm phổi mắc phải trong
cộng đồng, đặc biệt ở trẻ em từ 1 đến 4 tuổi hoặc từ 5 đến 14 tuổi Tùy thuộcvào từng nước và điều kiện xã hội cũng như hoàn cảnh, tỷ lệ thay đổi từ 14
đến 41% [36], [8] Ở trẻ em chiếm tỷ lệ cao hơn, nhiều trường hợp nhiễm M pneumoniae không có biểu hiện triệu chứng [35], [37]
1.2.3 Cơ chế gây bệnh của M pneumoniae
M pneumoniae xâm nhập bằng cách gắn thụ thể axid neuramic vào tế
bào biểu mô đường hô hấp gây tổn thương tại chỗ, đồng thời sản xuất chấthydrogen peroxide và nhiều chất superoxide anion gây tổn thương tế bào vật
chủ M pneumoniae xâm nhập vào niêm mạc phế quản, sẽ gây viêm ở bề mặt
niêm mạc, sau đó thâm nhiễm đại thực bào ở lớp dưới niêm mạc Ngoài ra
M pneumoniae còn kích hoạt tự kháng thể IgM làm ngưng kết hồng cầu ở 400
Trang 18C, gây thiếu máu và một số biến chứng khác Cơ chế bảo vệ tại chỗ thông qua
IgA tiết có vai trò quan trọng, không cho M pneumoniae gắn với biểu biểu
mô đường hô hấp Đáp ứng miễn dịch của cơ thể với các phức hợp miễn dịchlưu hành gây tổn thương phổi và các cơ quan khác [4] [32] [34]
1.2.4 Triệu chứng lâm sàng khi nhiễm M pneumoniae
Triệu chứng lâm sàng [4]. [32], [34]
Khởi bệnh từ từ là đặc điểm giúp phân biệt với những nhiễm trùng hô
hấp do các vi rút như cúm và adenovirus Thời gian ủ bệnh thường từ 2-3
tuần, bệnh khởi phát với các triệu chứng như nhức đầu, mệt mỏi, sổ mũi, sốt,
ho, khò khè
Ở trẻ em, sốt và ho thường là triệu chứng khởi phát, sốt thường khôngcao, dưới 39 0 C Triệu chứng ho là nổi bật nhất, ho liên tục, ban đầu ho khansau đó có đờm, hiếm khi gặp ho có dây máu, ho nặng dần trong 2 tuần lễ đầurồi giảm dần Có trường hợp ho kéo dài từ 3-4 tuần Triệu chứng ho rất quan
trọng vì giúp gợi ý ngay đến chẩn đoán nhiễm M pneumoniae thể phổi Ngoài
ra còn có thể gặp các triệu chứng khác như chảy mũi, viêm họng chiếmkhoảng 50% Ỏ trẻ lớn có thể gặp mệt mỏi, nhức đầu
Thể trạng bệnh nhân thường ít thay đổi, mặc dù bệnh thường diễn biếnkéo dài nhiều tuần
Khám phổi khoảng 70% bệnh nhân thấy triệu chứng viêm phổi (ran ẩm,ran rít, ran ngáy), hoặc có thể không phát hiện được triệu chứng gì
Các triệu chứng khác ngoài phổi (hiếm gặp) như:
- Tiêu hóa: Viêm dạ dày - ruột, viêm gan không vàng da, viêm tụy
- Cơ xương: Đau cơ khớp, viêm đa khớp
- Da: Ban sẩn nốt, hội chứng Stevens - Johnson
- Tim: Viêm màng ngoài tim, viêm cơ tim, rối loạn dẫn truyền
- Thần kinh: Viêm màng não, viêm não, bệnh thần kinh ngoại vi
Trang 19- Tan máu tự miễn, giảm tiểu cầu, đông máu rải rác trong lòng mạch.
- Hạch to, lách to, viêm thận kẽ, viêm cầu thận
Tiến triển và biến chứng:
- Bệnh tiến triển chậm: Sốt, đau đầu, mệt giảm hoặc hết sau 3-10 ngày,
ho và ran hết chậm hơn, có khi ho kéo dài hàng tháng
-Biến chứng ít gặp, có thể gặp thâm nhiễm nhiều thùy phổi, viêm màngphổi khô, tràn dịch màng phổi, suy hô hấp, bùng phát cơn hen phế quản, dàydính màng phổi
1.2.5 Cận lâm sàng
1.2.5.1 Các xét nghiệm thường quy [4],[34]
Các xét nghiệm thường quy hiếm khi được sử dụng để chẩn đoán nhiễm
khuẩn M pneumoniae.
Xét nghiệm công thức máu: 20% có bạch cầu tăng, tăng bạch cầu đanhân trung tính, lympho tăng, mono tăng, ít gặp trường hợp bạch cầu giảm Nhuộm Gram dịch họng có thể thấy tế bào mono Không có rối loạn
chức năng gan thận điển hình đối với nhiễm khuẩn M pneumoniae Triệu
chứng thiếu máu có thể gặp ở một số bệnh nhân
1.2.5.2 X-quang
Viêm phổi không điển hình tiên phát do M pneumoniae có thể thay đổi rất
lớn và có thể giống như hình ảnh của các bệnh phổi khác Đáp ứng viêm gợi ý
đến do M pneumoniae, gây thâm nhiễm mô kẽ hoặc thâm nhiễm dạng nốt chủ
yếu ở khu vực trung tâm hoặc các thùy dưới và thường chỉ tổn thương một bên(thường bên phải) Tổn thương 2 bên phổi có thể xảy ra ở khoảng 20% trườnghợp Triệu chứng X-quang mất đi sau 4-6 tuần, ít khi kéo dài hơn [4],[34]
1.2.5.3 Giải phẫu bệnh
Giải phẫu bệnh những trường hợp viêm phổi do M pneumoniae tử vong
cho thấy thương tổn biểu mô bề mặt niêm mạc, phá hoại tổ chức biểu mô của
Trang 20phế quản và tiểu phế quản Tổn thương thành phế quản và khí quản Có sựthâm nhập của đại thực bào, tế bào lympho, bạch cầu trung tính, huyết thanh
và fibrin Tổn thương phổi lan tỏa, áp xe phổi cũng có thể xảy ra Các nghiêncứu gần đây sử dụng các mẫu bệnh phẩm từ động vật để đánh giá vai trò tiềm
tàng của M pneumoniae ở các bệnh phổi mãn tính như hen phế quản cũng đã
cung cấp một cái nhìn thấu đáo hơn về khía cạnh giải phẫu bệnh của bệnh
phổi do M pneumoniae [4],[35]
1.2.5.4 Các xét nghiệm đặc hiệu để chuẩn đoán M pneumoniae
Việc thiếu các xét nghiệm chẩn đoán xác định nhanh để phát hiện nhiễm
khuẩn M pneumoniae đã ảnh hưởng đến sự hiểu biết về dịch tễ học, thiếu
hiểu biết về các biểu hiện lâm sàng tiềm tàng của mầm bệnh phổ biến này.Tuy nhiên vấn đề có cần thiết phải sử dụng thường quy các loại xét nghiệm để
xác định nhiễm khuẩn đường hô hấp cấp do M pneumoniae trong mọi hoàn cảnh hay không vẫn còn tranh cãi Trong trường hợp nghi ngờ nhiễm M pneumoniae và bệnh nặng cần phải nhập viện, đặc biệt nếu bệnh nhân có suy giảm miễn dịch cần phát hiện nhiễm khuẩn M pneumoniae để có phương
pháp điều trị đặc hiệu với loại vi khuẩn nội bào này [4] [34]
Phương pháp nuôi cấy
Phân lập M pneumoniae từ các mẫu bệnh phẩm khác nhau từ đường hô hấp
(đờm, dịch họng, dịch nội khí quản, dịch màng phổi), các dịch thể và mô khác
Nuôi cấy M pneumoniae từ đường hô hấp và các cơ quan khác rất khó khăn và tốn kém Thời gian nuôi cấy khoảng 10 - 14 ngày Khi cấy M pneumoniae mọc rất nhỏ, mặt khác chúng rất khó phân biệt với M pneumoniae không gây bệnh, sống cộng sinh trong dịch họng M pneumoniae gây bệnh phân biệt bằng các đặc điểm chuyển hóa của chúng
trong môi trường nuôi cấy Kết quả dương tính bằng phương pháp nuôi cấy có
ưu điểm cho độ đặc hiệu 100% [40],[32], [4].
Trang 21Thời gian tồn tại của M pneumoniae có thể khác nhau sau khi nhiễm
khuẩn cấp làm khó khăn trong việc đánh giá ý nghĩa của nuôi cấy dương tính,nếu không có các xét nghiệm khác khẳng định thêm như huyết thanh học Vìnhững lý do trên, nuôi cấy hiếm khi được sử dụng để chẩn đoán thường quy
và quản lý nhiễm khuẩn do M pneumoniae [4] [34]
Tóm lại: Với nhiều hạn chế của phương pháp nuôi cấy trong việc xác
định M pneumoniae, nên trong thực tế lâm sàng nuôi cấy không phải là
phương pháp lựa chọn để chẩn đoán
Xét nghiệm huyết thanh
Chẩn đoán huyết thanh học đối với nhiễm khuẩn đường hô hấp do M
pneumoniae đã được nghiên cứu từ rất lâu và được ứng dụng rộng rãi trong
lâm sàng vì nhanh và tiện dụng
Đo hàm lượng IgM đặc hiệu với M pneumoniae trong giai đoạn cấp là phương pháp có nhiều ưu thế vì có thể xác định được M pneumoniae nhanh
để có thể sử dụng kháng sinh ngay trong phác đồ điều trị IgM xác định bằngphương pháp miễn dịch gắn men trong lần lấy huyết thanh vào khoảng ngàythứ 7 đến ngày thứ 10 của bệnh rất có ý nghĩa để chẩn đoán Khi hàm lượng
IgM đặc hiệu với M pneumoniae trong huyết thanh cao (>1:40) có thể cân nhắc việc sử dụng kháng sinh đặc hiệu trong điều trị M pneumoniae [41] Ngoài ra chẩn đoán nhiễm M pneumoniae còn có thể sử dụng hiệu giá
kháng thể IgG tăng > 4 lần trong giai đoạn hồi phục (2 lần lấy huyết thanhvào tuần thứ nhất và tuần thứ 3-4 của bệnh) [41]
Tuy nhiên trong những trường hợp bệnh nhân bị suy giảm miễn dịch
không thể có khả năng đáp ứng miễn dịch và đôi khi không đáp ứng IgM ởngười lớn cho thấy những hạn chế của việc sử dụng xét nghiệm huyết thanh
học để chẩn đoán nhiễm M pneumoniae [4]
Do đó, phương pháp tốt nhất là kết hợp được cả xét nghiệm PCR và xét
Trang 22nghiệm huyết thanh xác định IgG và IgM để chẩn đoán chính xác nhiễm
khuẩn M pneumoniae [4] [34].
1.2.5.5 Kỹ thuật PCR
Gần đây kỹ thuật PCR phát triển, việc xác định các vi khuẩn, vi rút đãgiảm bớt tầm quan trọng của kỹ thuật nuôi cấy để phát hiện M pneumoniae Qua các thử nghiệm lâm sàng đưa ra kỹ thuật PCR để xác định M pneumoniae, được làm kết hợp với kỹ thuật huyết thanh học và/hoặc nuôi cấy.
Các mẫu bệnh phẩm lâm sàng tiến hành nuôi cấy có thể được xét nghiệmbằng PCR Sử dụng 2 kỹ thuật khác nhau sẽ làm tối đa hóa khả năng chẩnđoán căn nguyên [4] [34]
Quy trình xét nghiệm PCR chuẩn hiện nay được sử dụng ở Trung tâmKiểm soát Bệnh tật Hòa Kỳ (CDC) Sử dụng mẫu có nguồn gốc từ gen mã
hóa của M pneumoniae
Độ nhạy của kỹ thuật PCR cao hơn so với kỹ thuật nuôi cấy, do đó khikết quả PCR dương tính và kết quả nuôi cấy âm tính có thể được giải thíchmột cách dễ dàng Tuy nhiên trong trường hợp kỹ thuật PCR âm tính và nuôicấy (hoặc huyết thanh học) dương tính, sự có mặt của chất ức chế hoặc là vấn
đề về kỹ thuật đối với PCR cần được xem xét Reznikov và cộng sự đã chỉ rarằng sự hạn chế PCR rất nhiều khả năng xảy ra đối với trường hợp lấy bệnhphẩm không đúng kỹ thuật Dorigo-Zetsma và cộng sự thực hiện khám tổng
thể 18 bệnh nhân có nhiễm khuẩn M pneumoniae ở đường hô hấp được xác
định bởi PCRhoặc huyết thanh học và cho thấy đờm là bệnh phẩm phù hợpvới nhất với kỹ thuật PCR [4] [34]
PCR có thể âm tính sớm nhất là 24 giờ sau khi điều trị, nhưng kết quảhuyết thanh học vẫn dương tính [4]
1.2.5.6 Kỹ thuật phát hiện kháng nguyên [4] [34]
Xét nghiệm nhanh để phát hiện trực tiếp kháng nguyên M pneumoniae ở
Trang 23bệnh phẩm đường hô hấp bao gồm nhuộm huỳnh quang miễn dịch trực tiếp,.phản ứng điện di miễn dịch đối lưu, thẩm tách miễn dịch, và xét nghiệm miễndịch gắn màng kháng nguyên Việc sử dụng các kỹ thuật này đã bị giảm đi bởi
độ nhạy thấp và đã phát hiện có phản ứng chéo với các loại Mycoplasma khác
ở đường hô hấp Xét nghiệm phát hiện kháng nguyên không được nhân rộng
là do hạn chế về độ nhạy và không được kiến nghị để chẩn đoán
1.2.5.7 Kỹ thuật DNA
Kỹ thuật lai ghép DNA để chẩn đoán nhiễm khuẩn M pneumoniaeđãđược phát triển từ những năm đầu thập kỷ 1980 và kỹ thuật này có độ nhạytương đương với kỹ thuật phát hiện kháng nguyên Các phương pháp này đãđược xem xét lại bởi gen 16S rRNAđã được sử dụng rộng rãi nhằm mục đíchthăm dò rDNA và hiện nay với sự có mặt của các kỹ thuật xét nghiệm tiêntiến như PCR, huyết thanh học có độ nhạy lớn hơn DNA dẫn đến kỹ thuậtDNA không còn được sử dụng nữa [4]
1.2.6 Chẩn đoán [4] [34].
Có rất nhiều kỹ thuật xác định M pneumoniae
- Phân lập được M pneumoniae từ dịch tiết đường hô hấp là xét nghiệm
quyết định chẩn đoán
- Theo Matti E Waris và cộng sự cho rằng xét nghiệm huyết thanh học
IgM rất có giá trị trong chẩn đoán M pneumoniae cho trẻ em ở mọi lứa tuổi.
- Phản ứng chuỗi polymeraza - PCR: nhạy và đặc hiệu
- Ngưng kết tố lạnh: dương tính khi hiệu giá ≥ 1:64
- Điện di miễn dịch phát hiện kháng nguyên M pneumoniae.
1.2.7 Điều trị M pneumoniae
Kháng sinh
M pneumoniae nhạy cảm với kháng sinh họ macrolide như
erythromycin, clarithromycin, azythromycin, rocithromycin Ngoài ra có thểdùng tetracycline, chloramphenicol và một số aminoglycoside, quinolone
Trang 24Thời gian điều trị thường kéo dài từ 2-3 tuần, triệu chứng ho thường khỏi lâunhất Hình ảnh tổn thương trên X-quang mất chậm, có thể tồn tại kéo dàinhiều tuần sau khi bệnh nhân khỏi bệnh [4] [38].
Điều trị hỗ trợ và triệu chứng: Nghỉ ngơi, dinh dưỡng, hạ sốt, giảm ho.
Corticoid.
Chỉ định đối với những trường hợp có tổn thương ngoài phổi, thườngdùng prednisolon, thời gian dùng từ 7 - 10 ngày [42]
1.3 CÁC NGHIÊN CỨU GẦN ĐÂY VỀ VAI TRÒ CỦA M PNEU MO
NIAE TRONG HEN PHẾ QUẢN.
Các nghiên cứu về M pneumoniae trên Thế giới:
Năm 2004, Biscardis S và cộng sự tiến hành nghiên cứu trên bệnh nhân
HPQ cấp 119 bệnh nhân đã được chẩn đoán HPQ trước đó có tỷ lệ nhiễm M pneumoniae là 20%, Chlamydia pneumoniae là 3,4% Trong khi đó những trẻ
bị HPQ lần đầu chẩn đoán có tỷ lệ nhiễm M pneumoniae là 50% và nhiễm Chlamydia pneumoniae chiếm 8,3% Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,01 Nghiên cứu này chỉ ra rằng M pneumoniae có thể có vai trò trong việc
gây khởi phát hen ở trẻ em và có thể gây triệu chứng khò khè tái đi tái lại [43]
Nazima Nisar và cộng sự, (2007) cho rằng nhiễm khuẩn M pneumoniae có
thể gây khởi phát hen hoặc làm các triệu chứng hen trầm trọng hơn[43] Nhiễm
khuẩn M pneumoniae có thể khởi phát hen trong một số bệnh nhân mà trước đó không hề có triệu chứng Bệnh nhân nhiễm khuẩn M pneumoniae được điều trị kháng sinh đặc hiệu đối với M pneumoniae và theo dõi sự bùng phát cơn hen,
sự cải thiện chức năng của phổi, triệu chứng của HPQ [5]
Nghiên cứu của Ou Cy và cộng sự (2008), 316 bệnh nhân HPQ cấp, lứatuổi từ 2-14 tuổi và được phân làm 2 nhóm, và được làm xét nghiệm huyết
thanh học IgM, IgG với M pneumoniae Xác định nhiễm M pneumoniae khi
xét nghiệm huyết thanh dương tính với kháng thể globulin miễn dịch đặc hiệu
Trang 25(IgM) hoặc hiệu giá kháng thể IgG tăng ≥ 4 lần ở tuần thứ 3 Kết quả cho thấy
nhóm bệnh nhi đã được chẩn đoán HPQ từ trước có tỷ lệ nhiễm M pneumoniae là 23% (n=188 bệnh nhi HPQ cấp), nhóm bệnh nhi bị HPQ lần đầu tỷ lệ nhiễm M pneumoniae chiếm 45% (n= 128 bệnh nhi HPQ cấp).
Nhóm chứng là 151 trẻ HPQ ngoài cơn (không có cơn hen cấp trong vòng 6
tháng) có tỷ lệ nhiễm M pneumoniae là 7% Số bệnh nhân có triệu chứng sốt khi nhiễm M pneumoniae là 23 (54%), so với nhóm không nhiễm M pneumoniae là 18 (12%) Trong nghiên cứu này tác giả đã kết luận rằng M pneumoniae làm trầm trọng cơn hen, đặc biệt là hen lần đầu Số bệnh nhi bị nhiễm M pneumoniae có tỷ lệ sốt và bị suy hô hấp tăng lên và có ý nghĩa
thống kê với nhóm không nhiễm [44]
Wood PR và cs (2013) Nghiên cứu trên 143 bệnh nhi (53 bệnh nhân cơnhen cấp, 26 bệnh nhân hen ổn định, và 64 người khỏe mạnh; độ tuổi, 5-17tuổi) trong thời gian 20 tháng với 2-5 lần theo dõi Kếtquả, M pneumoniae được phát hiện ở 64% bệnh nhân bị hen cấp tính , 65%với hen ổn định và 56% đối chứng khỏe mạnh Kết quả cho thấy
M pneumoniae phát hiện là phổ biến ở trẻ em , M pneumoniae phát hiện cóliên quan đến xấu đi hen phế quản, và trẻ em với bị HPQ có thể có phản ứngmiễn dịch dịch thể thấp hơn với M pneumoniae [47]
Shuncui Gao và cs (2015) tiến hành nghiên cứu trên người lớn, có 149bệnh nhân được chẩn đoán hen phế quản Trong 78 trường hợp mắc hen giaiđoạn cấp tính, tỷ lệ nhiễm M.pneumoniae là 38 trường hợp (48,71%) và 71trường hợp hen ổn định, tỷ lệ nhiễm M.pneumoniae là 22 trường hợp(30,98%) Có sự khác biệt đáng kể về tỉ lệ nhiễm M.pneumoniae giữa hainhóm (p <0,05) Điểm số FEV1% Pred và ACT thấp hơn đáng kể trongtrường hợp nhiễm M.pneumonia so với những trường hợp không nhiễmM.pneumonia (p <0,05), trong khi số lượng bạch cầu ái toan và IgE tronghuyết thanh cao hơn đáng kể trong trường hợp nhiễm mycoplasma viêm phổi
Trang 26(p <0,05) Nhiễm M.pneumonia có thể đóng vai trò quan trọng hơn trong sựxuất hiện của hen cấp tính, và nó có thể dẫn đến giảm chức năng phổi, khókiểm soát hen suyễn và viêm đường hô hấp nghiêm trọng hơn [48]
Kassisse E và cộng sự (2018), 180 trẻ em được nghiên cứu, trong đó 130trẻ có cơn hen cấp và 50 trẻ thuộc nhóm chứng nhóm chứng Kết quả cho thấytrẻ mắc bệnh hen cấp tính có tỷ lệ hiện nhiễm M.pneumoniae cao (46%) và cómối liên hệ chặt chẽ giữa cơn hen nặng cấp tính và sự hiện diện của nhiễmM.pneumoniae Những phát hiện này có thể cần phải có những thay đổi điềutrị tập trung vào việc sử dụng kháng sinh đặc hiệu để chống lại sinh vật khôngđiển hình này [49]
Nghiên cứu về M.pneumoniae với HPQ tại Việt Nam:
Nghiên cứu của Tạ Thị Hiền và cộng sự (2009),tỷ lệ nhiễm M pneumoniae tính chung ở bệnh nhân HPQ là 41%, Có mối liên quan giữa nhiễm M.pneumoniae với mức độ nặng của cơn hen cấp [9]
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Bệnh nhân có cơn hen phế quản cấp từ 3 - 15 tuổi được điều trị tại bệnhviện Nhi Trung ương trong thời gian từ tháng 1/7/2017 đến tháng 30/6/2018
2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân
- Bệnh nhân từ 3 đến 15 tuổi
- Được chẩn đoán hen phế quản theo tiêu chuẩn chẩn đoán ở trẻ trên 5tuổi của GINA 2016 [11] và tiêu chuẩn chẩn đoán cơn HPQ ở trẻ dưới 5 tuổitheo quyết định 4888/QĐ-BYT của Bộ Y tế năm 2016 [53]
- Bệnh nhân đang có đợt bùng phát cơn hen cấp
2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ
Trang 27Bệnh nhân dưới 3 tuổi và trên 15 tuổi.
Bệnh nhân có các bệnh lý khác kèm theo như: các dị tật bẩm sinh, suytim, suy gan, suy thận, dị vật đường thở
Những bệnh nhân không đồng ý tham gia nghiên cứu
2.1.3 Tiêu chuẩn chẩn đoán HPQ
2.1.3.1 Tiêu chuẩn chẩn đoán HPQ ở trẻ trên 5 tuổi [55].
Tiền sử có các triệu chứng hô hấp.
Các triệu chứng điển hình là thở khò khè, khó thở, nặng ngực và ho
• Thông thường người bị hen có nhiều hơn một trong các triệu chứng này
• Các triệu chứng xảy ra thay đổi theo thời gian và cường độ
• Các triệu chứng thường xảy ra hay xấu hơn vào ban đêm hay lúc thức giấc
• Các triệu chứng thường khởi phát khi tập thể dục, cười lớn, tiếp xúccác dị nguyên hay không khí lạnh
• Các triệu chứng thường xảy ra hay trở nên xấu đi với nhiễm siêu vi
Bằng chứng giới hạn luồng khí thở ra.
- It nhất một lần trong quá trình chẩn đoán có FEV1 thấp, chứng cứ chothấy tỉ lệ FEV1/FVC bị giảm Tỉ lệ FEV1/FVC (bình thường lớn hơn 0,90 đốivới trẻ em)
- Chứng cứ cho thấy có sự thay đổi chức năng hô hấp cao hơn ở ngườikhỏe mạnh Ví dụ:
+ FEV1 tăng hơn >12% giá trị dự đoán sau khi hít thuốc giãn phế quản.Được gọi là “test phục hồi phế quản”
+ Trung bình hằng ngày PEF thay đổi >13%
+ FEV1 tăng hơn 12% giá trị dự đoán sau 4 tuần điều trị chống viêm(ngoài các đợt nhiễm trùng hô hấp)
- Sự thay đổi vượt mức càng lớn trong nhiều lần đánh giá thì việc chẩnđoán càng chắc chắn hơn
Trang 28- Việc thăm dò nên được lặp lại trong khi xảy ra các triệu chứng, vàosáng sớm hay sau khi sử dụng các thuốc giãn phế quản
- Các thăm dò khác để hỗ trợ chẩn đoán bao gồm thử nghiệm gây co thắtphế quản
Khám thực thể: người bị hen thường thì bình thường, nhưng dấu hiệu thường
thấy nhất là thở khò khè khi nghe phổi, đặc biệt khi thở ra gắng sức
2.1.3.2 Tiêu chuẩn chẩn đoán HPQ ở trẻ dưới 5 tuổi [53]
Thỏa mãn 5 tiêu chuẩn dưới đây
6 Khò khè ± ho tái đi tái lại
7 Hội chứng tắc nghẽn đường thở, lâm sàng có ran ngáy, ran rít (± daođộng xung ký - IOS)
8 Có đáp ứng với thuốc giãn phế quản và/hoặc điều trị thử( 4-8 tuần) xấu
đi khi ngừng thuốc
9 Có tiền sử bản than/gia đình có yếu tố khởi phát
10.Đã loại trừ các nguyên nhân khò khè khác
2.1.4 Tiêu chuẩn chẩn đoán cơn hen cấp [54]
* Triệu chứng lâm sàng cơn hen cấp: cơn hen cấp thường xuất hiện sau
khi tiếp xúc với các yếu tố gây khởi phát cơn hen như nhiễm virus đường hô hấp,
dị nguyên, hóa chất, khói thuốc lá, hơi sơn, bụi nhà, thay đổi thời tiết…
Triệu chứng cơ năng:
- Ho: Lúc đầu có thể ho khan, sau ho xuất tiết nhiều đờm dãi, ho dai dẳng,
ho xuất hiện nhiều vào nửa đêm và gần sáng
- Khạc đờm: Đờm màu trắng, dính, soi kính hiển vi có nhiều bạch cầu ưaacid
- Khó thở: Chủ yếu là khó thở thì thở ra Hen mức độ nhẹ khó thở chỉ xuấthiện khi gắng sức, khi ho, khi khóc, cười… trường hợp điển hình khó thởbiểu hiện liên tục, khó thở ra, có tiếng khò khè, cò cử thường gặp về đêm,gần sáng Khó thở nặng trẻ có thể tím tái, vã mồ hôi, nói từng từ, không ăn
Trang 29uống được Có thể có các biến chứng như: tràn khí màng phổi, tràn khítrung thất, rối loạn nhịp thở, ngừng thở
Triệu chứng thực thể:
- Nhìn: Lồng ngực như bị giãn ra, nếu hen mạn tính kéo dài, lồng ngực cóthể biến dạng nhô ra phía trước, vai nhô lên, các xương sườn nằm ngang,các khoang liên sườn giãn rộng, những trẻ này thường chậm lớn
- Sờ: rung thanh tăng
- Gõ: phổi gõ vang
- Nghe phổi: có tiếng rales rít, rales ngáy cả hai trường phổi chủ yếu thì thở ra
- Đo SpO2: có thể giảm khi bệnh nhân có suy hô hấp
* Cận lâm sàng
- Công thức máu: Số lượng bạch cầu trong giới hạn bình thường hoặc
tăng nhẹ Bạch cầu ưa acid có thể tăng
- Khí máu: Trong cơn hen cấp nặng có thể giảm SaO2 và PaO2, có thể có
toan hô hấp (pH giảm, PCO2 tăng, BE âm) Sau cơn hen cấp khí máu bình thường
- X-Quang tim phổi: Trong cơn hen lồng ngực giãn căng, phổi sáng do
ứ khí, nếu ho lâu ngày có thể thấy hình ảnh khí phế thũng do giãn phế nang,tâm phế mạn… có thể thấy hình ảnh xẹp phổi
2.1.5 Chẩn đoán mức độ nặng của cơn hen phế quản cấp.
Chẩn đoán mức độ nặng của cơn hen cấp theo thang điểm hen trẻ em củaHiệp Hội Nhi khoa Texas [55]
Bảng 2.1 Thang điểm đánh giá độ nặng cơn hen cấp PAS (Pediatric
asthma score) Điểm 1 ( nhẹ) 2 (trung bình) 3 (nặng)
≥ 40
≥ 36
≥ 31
≥ 28
Trang 30> 12 tuổi Bão
Nghe phổi Bình thường hoặc
khò khè cuối thìthở ra
Khò khè suốt thìthở ra
Giảm thông khíphổi, khó thở cảhai thì
Rút lõm lồng
ngực
Không hoặc cokéo cơ liên sườn
Rút lõm lồngngực, co kéo cơliên sườn
Rút lõm lồngngực, co kéo cơliên sườn, co kéo
hố thượng đònKhó thở Nói được câu dài Nói câu ngắn,
khóc ngắn
Nói từng từ, vàitừ
Độ nặng hen Nhẹ Trung bình Nặng
2.1.6 Chẩn đoán nhiễm M.pneumoniae
Nhiễm M.pneumoniae khi kháng thể IgM hoặc PCR đặc hiệu với M.pneumoniae dương tính.
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu: Tiến cứu, mô tả cắt ngang loạt ca bệnh
2.2.2 Cỡ mẫu
Chọn mẫu thuận tiện, tất cả những bệnh nhân đáp ứng với tiêu chuẩn lựachọn bệnh nhân vào nghiên cứu trong thời gian 1 năm từ tháng 01/7/2017 đếntháng 30/6/2018
2.2.3 Phương pháp thu thập số liệu
2.2.3.1 Công cụ thu thập số liệu
Mẫu bệnh án nghiên cứu được thiết kê với các thông số nhằm phục vụcho hai mục tiêu nghiên cứu
2.2.3.2 Kỹ thuật thu thập số liệu
Tất cả các bệnh nhân nghiên cứu được:
- Khám lâm sàng, khai thác tiền sử, ghi theo mẫu bệnh án thống nhất (phụ lục 1)
Trang 31- Đánh giá mức độ nặng của cơn hen cấp theo bảng 2.1
2.2.4 Các biến số trong nghiên cứu
2.2.4.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
- Tuổi: cách tính tuổi theo Tổ chức Y tế Thế giới 2011, tính tuổi theo ngày,
tháng, năm sinh, mỗi năm là một tuổi và được chia làm 3 nhóm:
+ Trẻ 3 tới 5 tuổi: 3 tuổi đến 4 tuổi 11 tháng 29 ngày
+ Trẻ 5 tới 10 tuổi: 5 tuổi đến 9 tuổi 11 tháng 29 ngày
+ Trẻ 10 tới 15 tuổi: 5 tuổi đến 14 tuổi 11 tháng 29 ngày
- Giới tính: nam và nữ.
- Tiền sử:
+ Tiền sử dị ứng của gia đình: trẻ có cha mẹ anh chị em ruột, ông bà có tiền
sử về các bệnh dị ứng như: HPQ, viêm da cơ địa, viêm mũi dị ứng, dị ứng thứcăn
+ Tiền sử dị ứng của trẻ:
Trẻ có tiền sử dị ứng là trẻ có mắc ít nhất một trong các bệnh dị ứng(viêm mũi xoang dị ứng, chàm, mày đay, viêm kết mạc dị ứng, dị ứng thuốc,
dị ứng thức ăn)
Trẻ không có tiền sử dị ứng là trẻ không bị mắc các bệnh kể trên
2.2.4.2 Triệu chứng lâm sàng, cận lâm sàng của HPQ
Lâm sàng:
Triệu chứng cơn hen cấp: ho, khò khè, khó thở, co kéo cơ hô hấp, ran rít,
ran ngáy tại thời điểm thăm khám.
Theo hướng dẫn của WHO về đánh giá các triêu chứng lâm sàng như sau:
- Sốt: được định nghĩa là khi thân nhiệt của trẻ ≥ 37,5 độ C khi cặp nhiệt
độ ở nách
- Ho, khò khè được xác định nhờ sự chứng kiến của thầy thuốc
- Khó thở: trẻ thở gắng sức, nhịp thở nhanh, phập phồng cánh mũi, co kéo
cơ hô hấp, rút lõm lồng ngực, tím tái, thở rên
Trang 32+ Thở nhanh: được xác định bằng số nhịp thở trong một phút, theo WHO
thở nhanh được xác định ở các lứa tuổi trong nhóm nghiên cứu như sau:
Nhịp thở ≥ 40 lần/phút với trẻ từ 3 tới 5 tuổi
Nhịp thở ≥ 30 lần/phút với trẻ trên 5 tuổi
+ Rút lõm lồng ngực: được xác định khi quan sát phần dưới lồng ngựcchỗ danh giới giữa ngực và bụng, thấy lõm vào khi thở ra
- Ran ngáy, ran rít: được đánh giá khi bác sỹ nghe phổi ở tất cả trường
phổi (phía trước, sau, trên dưới, rốn phổi cũng như vùng rìa phổi hai bên)
Cận lâm sàng:
- Đo chức năng hô hấp: Ở trẻ lớn dựa vào FEV1 chia làm 3 nhóm:
+ FEV1> 80% so với giá trị lý thuyết: nhẹ
+ FEV1: 60 - 80% so với giá trị lý thuyết: trung bình
+ FEV1< 60% so với giá trị lý thuyết: nặng
- Đo kháng trở đường thở (IOS): dựa vào R5 ( tổng kháng trở đường dẫn
- Công thức máu [57]: Được làm tại khoa huyết học của Bệnh viện Nhi
Trung Ương bằng máy đếm, định lượng tự động XT 2000i của hãng Sysmex + Số lượng bạch cầu:
Trang 33+ Bạch cầu ái toan: số lượng bạch cầu ưa acid tăng khi số lượng bạch cầu
ưa acid trong máu ngoại vi ≥0,04 x 109/L
- Đánh giá CRP: xác định bằng phương pháp đo độ đục tại khoa sinh hóa
bệnh viện, chia làm hai mức độ [58]
+ Bình thường: ≤ 6mg/dl
+ Tăng : > 6mg/dl
- Nồng độ IgE trong máu: Định lượng IgE trong máu bằng kỹ thuật hóa
phát quang trên máy Adivia Centaiux tại khoa xét nghiệm sinh hóa Bệnh việnNhi Trung ương Kết quả được tính ra đơn vị IU/ ml Đánh giá dựa vào giá trịIgE bình thường ở trẻ em:
+ Trẻ 2- 5 tuổi< 60IU/ ml
+ Trẻ 6- 9 tuổi< 90IU/ ml
+ Trẻ 10- 15 tuổi< 200IU/ ml
- Đánh giá X Quang tim, phổi: X-quang tim phổi được thực hiện tại
khoa Chẩn đoán hình ảnh Bệnh viện Nhi Trung Ương X – quang phổi đượcchụp khi bệnh nhân nhập viện X-quang thường được chụp bằng máyToshiba- Model DS- TA- 5A, máy tăng sáng truyền hình 2 bàn – 2 bóng Quitrình chụp và đọc kết quả được thực hiện bởi các bác sĩ chẩn đoán hình ảnh.Hình ảnh tổn thương phổi bao gồm:
+ Hình ảnh ứ khí
+ Dạng đám mờ đông đặc ở thùy, phân thùy
+ Hình ảnh bình thường
Trang 342.2.4.3 Chẩn đoán nhiễm M.pneumoniae.`
IgM Mycoplasma pneumoniae:
Lấy máu làm xét nghiệm huyết thanh xác định IgM đặc hiệu với
M.pneumoniae (lấy vào ngày thứ 5, thứ 6 kể từ khi có triệu chứng đầu tiên
khởi phát bệnh)
Xét nghiệm xác định M pneumoniae bằng kỹ thuật ELISA (bộ kít được
nhập từ Đức)
Xét nghiệm này có độ nhạy 95%, độ đặc hiệu 94,5%
Xét nghiệm huyết thanh IgM đặc hiệu với M pneumoniae được làm theo
quy trình của khoa sinh hóa Bệnh viện Nhi Trung ương
- Nguyên lý của xét nghiệm [59]
Bản chất của xét nghiệm này là xác định kháng thể IgM kháng M pneumoniae có trong huyết thanh của bệnh nhân bằng kỹ thuật ELISA.
Kháng nguyên của M pneumoniae được gắn vào các giếng sẽ kết hợp
với kháng thể tương ứng có trong bệnh phẩm
Rửa để loại bỏ các kháng nguyên và kháng thể không đặc hiệu Sau đóthêm kháng kháng thể đặc hiệu gắn enzym peroxidase vào để tạo thành phứchợp KN-KT Rửa để loại bỏ kháng kháng thể không được gắn Phức hợp KN–KT này sẽ được phát hiện khi thêm cơ chất tạo thành phức hợp có màu xanh.Ngừng phản ứng bằng dung dịch acid sulfuric tạo phức hợp màu vàng, được
đo mật độ quang học ở bước sóng =450 nm
- Các bước tiến hành xét nghiệm: được tiến hành theo quy trình xétnghiệm tại khoa Sinh hóa Bệnh viện Nhi Trung ương [59]
- Đánh giá kết quả: kết quả dương tính khi trị số tính được > 11 NTU(Nova Tec- Units) [59]
PCR Mycoplasma pneumoniae:
Trang 35- Bệnh nhân có cơn hen cấp nhập viện được chỉ định lấy mẫu dịch tỵ hầu
khi có sự đồng ý của bệnh nhân
- Phương pháp lấy bệnh phẩm là phương pháp vô trùng Bộ dụng cụ của
mỗi trẻ bao gồm: một sonde hút vô khuẩn, một bơm tiêm 5 ml, một chai nướcmuối 0,9% và một đôi găng vô khuẩn Nghiên cứu viên đã tiến hành đưasonde qua đường mũi của bệnh nhân, giữ cố định ở vị trí hầu họng và bơmmỗi lần từ 1-2 ml nước muối sinh lý qua sonde vô khuẩn và và hút trở lại bơmtiêm dung dịch trên Nếu dịch hút thu được không đạt kết quả, dịch quá trongthì sẽ lập lại qui trình trên để có được mẫu bệnh phẩm chất lượng tốt hơn,đảm bảo hút được dịch tiết thực sự nằm ở vùng hầu họng của trẻ Sau đó,bệnh phẩm được chuyển về khoa vi sinh, bảo quản lạnh ở 4oC và được tiếnhành xử lí trong vòng 24 -48 giờ
- Vật liệu nghiên cứu:
Đoạn mồi cho phản ứng PCR là hai đoạn gen P1 đặc trưng cho vikhuẩn Mycoplasma pneumoniae: ADH1F và ADH2F Đoạn mồi cũng như cáchóa chất cần thiết khác được cung cấp vởi hãng Invitrogen theo tiêu chuẩnquốc tế
Bộ kít tách chiết ADN là Quiagen mini ADN kit của công ty SankoParmaceutical, Tokyo, Nhật Bản
Máy PCR Biorad của Pháp đã được thử nghiệm và sử dụng thường quitại bệnh viện Nhi Trung Ương
- Qui trình xét nghiệm:
Bắt đầu quá trình xử lý, dung dịch bệnh phẩm sẽ được đưa vào máy lytâm Eppendorf quay với tốc độ 7000 vòng/phút trong vòng 15 phút, sau đóloại bỏ dịch nổi, lấy cặn Giai đoạn này sẽ đảm bảo cho số lượng vi khuẩn đưavào khuyếch đại gen là lớn nhất, từ đó tăng khả năng tìm thấy vi khuẩn trongmẫu bệnh thu được
Trang 36Bước tiếp theo, ADN sau khi được tách chiết sẽ đưa vào máy PCR chạychương trình theo các chu kì nhiệt chuẩn ADN của Mycoplasma pneumoniae sẽđược phát hiện nhờ phương pháp Nested PCR với 2 bộ mồi cho đoạn gen P1:ADH1F và ADH2F Nhờ qua hai lần sàng lọc như vậy nên khả năng phát hiện sự
có mặt của vi khuẩn đã tăng lên so với phương pháp PCR đơn mồi trước kia Kết thúc quá trình khuyếch đại gen, mỗi đoạn ADN đã nhân lên thành 30tới 40 bản giống hệt ADN ban đầu, giúp dễ dàng nhận thấy trên các băng điện
di Quá trình trên luôn được thực hiện song song với một chứng âm và mộtchứng dương, nhờ vậy có thể đảm bảo tính chính xác của kết quả thu được
Kỹ thuật này được các bác sĩ phòng sinh học phân tử thực hiện tuân thủtheo qui trình
Chẩn đoán nhiễm M.pneumoniae khi xét nghiệm huyết thanh kháng thể IgM đặc hiệu với M pneumoniae hoặc xét nghiêm PCR M.pneumoniae
Bệnh nhân đủ điều kiện
Trang 37- Dùng mẫu bệnh án rõ ràng, hợp lý để thu thập thông tin.
- Các thông tin về chẩn đoán và phân loại thống nhất rõ ràng
- Làm sạch số liệu trước khi xử lý
- Khi nhập số liệu và xử lý số liệu được tiến hành hai lần để đối chiếu kết quả
2.6 ĐẠO ĐỨC TRONG NGHIÊN CỨU
- Bệnh nhân và gia đình được giải thích trước và tự nguyện đồng ý thamgia nghiên cứu
- Đây là nghiên cứu mô tả tiến cứu, không phải là nghiên cứu can thiệpnên hoàn toàn không gây nguy hại cho bệnh nhân
Trang 38- Các xét nghiệm chẩn đoán HPQ và nhiễm M.pneumoniae đều theo quy
trình chẩn đoán của khoa Miễn dịch – Dị Ứng – Khớp và khoa Sinh hóa, bệnhviện Nhi Trung ương
- Mọi thông tin của bệnh nhi trong nghiên cứu đều được bảo mật và chỉphục vụ cho công tác nghiên cứu
- Người bệnh tham gia nghiên cưu sẽ được tư vấn về bệnh, hướng dẫncách dự phòng và chế độ ăn hợp lý
- Khách quan, trung thực trong đánh giá và xử lý số liệu
2.7 TÍNH KHẢ THI CỦA ĐỀ TÀI
- Khoa sinh hóa, huyết học, vi sinh, sinh học phân tử Bệnh Viện NhiTrung ương có đủ trang thiết bị máy móc phục vụ cho chẩn đoán và đã đượccông nhận chuẩn ISO
- Số lượng bệnh nhân HPQ vào bệnh viện với số lượng lớn đủ chonghiên cứu
- Kết quả xét nghiệm đảm bào độ tin cậy, chính xác
- Nhân viên khoa Miễn dịch – Dị ứng – Khớp được thường xuyên đàotạo và cập nhật chẩn đoán HPQ
- Có sự chấp thuận tham gia nghiên cứu của bố mẹ bệnh nhân và Hộiđồng y đức bệnh viện Nhi trung ương
Trang 39Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Trong thời gian nghiên cứu từ tháng 7/2017 đến tháng 7/2018, có 155 trẻtrong cơn hen cấp đủ tiêu chuẩn được mời tham gia nghiên cứu
3.1 Đặc điểm chung trẻ hen phế quản điều trị tại khoa Miễn dịch- dị ứng, bệnh viện Nhi Trung ương
3.1.1 Phân bố bệnh nhân theo tuổi.
Biểu đồ 3.1: Phân bố bệnh nhân theo tuổi Nhận xét:
Độ tuổi trung bình của các đối tượng nghiên cứu là 6,34 2.6 tuổi (bệnh
nhân nhỏ tuổi nhất là 3 tuổi, bệnh nhân lớn tuổi nhất là 15 tuổi)
Đa số trẻ hen phế quản đến khám và điều trị dưới 10 tuổi, nhóm từ 3 đến
5 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất (47,5%)
Trang 403.1.2 Phân bố bệnh nhân theo giới.
Biểu đồ 3.2: Phân bố bệnh nhân theo giới.
Theo kết quả cho ta thấy, trẻ nam chiếm đa số với tỷ lệ nam/nữ là 1,8/1
3.1.3 Tiền sử hen bố mẹ.
Bảng 3.1: Tiền sử hen của bố mẹ.
Tiền sử Bố hen Mẹ hen Cả bố và mẹ hen