Từ cuối thế kỷ XX có nhiều phươngpháp can thiệp sỏi tiết niệu quản ít sang chấn ra đời như: tán sỏi ngoài cơ thể , mổ nội soi lấy sỏi ngoài phúc mạc, tán sỏi niệu quản nội soi ngược tuy
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
Sỏi tiết niệu là một bệnh phổ biến, thường gặp, chiếm tỷ lệ 2-3% dân số.Trong đó sỏi thận chiếm 62%- 81% trong các bệnh sỏi tiết niệu Việt Nam làmột nước có nhiều bệnh nhân bị sỏi tiết niệu [1]
Trước đây điều trị sỏi thận có hai phương pháp, điều trị nội khoa nộikhoa nếu sỏi nhỏ, tiên lượng có thể ra theo đường tự nhiên Điều trị ngoạikhoa mổ mở lấy sỏi thận khi điều trị nội khoa thất bại hoặc sỏi to hay sỏi thận
có biến chứng Nhược điểm của phương pháp mổ mở này là bệnh nhân đau đểlại sẹo và thời gian nằm viện kéo dài Từ cuối thế kỷ XX có nhiều phươngpháp can thiệp sỏi tiết niệu quản ít sang chấn ra đời như: tán sỏi ngoài cơ thể ,
mổ nội soi lấy sỏi ngoài phúc mạc, tán sỏi niệu quản nội soi ngược tuy nhiênphương pháp điều trị ngoại khoa cho sỏi thận còn hạn chế Với sự ra đời củaphương pháp lấy soi thận qua da đã mở ra một hướng mới và hiệu quả trongđiều trị sỏi thận [2]
Phẫu thuật lấy sỏi thận qua da là một trong số các phương pháp điều trị ítxâm hại, ngày càng được áp dụng rộng rãi trong điều trị sỏi đường tiết niệutrên và mở rộng sang một số bệnh lý tắc nghẽn đường tiết không phải sỏi nhưhẹp khúc nối bể thận-niệu quản Đặc biệt là những trường hợp sỏi san hôtrước đây chỉ mổ mở thì nay có thể áp dụng tán sỏi qua da, sỏi ở thận ghép, dịdạng hệ tiết niệu như thận móng ngựa, thận lạc chỗ Phương pháp này đượcđặt nền tảng từ năm 1955, khi Goodwin và Casey lần đầu tiên đặt trocar trựctiếp vào đài bể thận qua da Tuy nhiên, mãi đến năm 1976 kỹ thuật lấy sỏithận qua da lần đầu tiên mới được Fernstrom và Johanson thực hiện
Tại Việt Nam, PCNL tiêu chuẩn được thực hiện từ năm 2004 và cho tớinay đã được triển khai tại nhiều bệnh viện Tuy nhiên, PCNL tiêu chuẩnđường hầm lớn với định vị sỏi, tạo đường hầm qua da dưới hướng dẫn
Trang 2Xquang có nhiều hạn chế và tác dụng không mong muốn Mặt khác, PCNL mới được thực hiện tại một số ít bệnh viện trong nước đặc biệt cácbệnh viện tuyến tỉnh Tại bệnh viện đa khoa tỉnh thanh hóa tán sỏi thận qua
Mini-da, tạo đường hầm dưới hường dẫn của siêu âm được thục hiện thường quy từnăm 2016 và đã thu được những kết quả rất khả quan
Xuất phát từ thực tế trên chúng tôi muốn tiến hành thực đề tài "Đánh Giá kết quả phẫu thuật nội soi tấn sỏi qua da bằng đường hần nhỏ dưới hường dẫn của siêu âm taaij bệnh viên đa khoa tỉnh thanh hóa từ tháng 7/
2017 đến 7/ 2018" với 2 mục tiêu nghiên cứu:
1 Nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật tán sỏi Thận qua da bằng đường hầm nhỏ.
2 Đánh giá hiệu quả phương pháp tán sỏi Thận qua da bằng đường hầm nhỏ.
Trang 3Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU1.1 Áp dụng giải phẫu trong phẫu thuật
1.1.1 Vị trí và hình thể ngoài
- Mỗi người có 2 thận, hình hạt đậu, màu nâu đỏ, nằm ở phần sau ổbụng, hai bên cột sống, sau phúc mạc, trước cơ thắt lưng Đầu trên ngang mứcđốt sống ngực XII, đầu dưới ngang mức đốt sống thắt lưng III Thận P thườngthấp hơn thận T khoãng
Hình 1.1 Vị trí, hình thể ngoài thận
Nguồn: Frank H Netter
- Mỗi thận dài khoãng 11cm, rộng 6cm, dày 3cm nặng khoãng 150g ởnam, 136g ở nữ
- Có 2 mặt là mặt trước lồi và mặt sau phẳng, hai đầu cực trên và dưới,cực trên ở ngang mức xương sườn 12 Bờ ngoài lồi, bờ trong lõm
- Nhu mô thận rất dễ vỡ nhưng được bọc quanh bởi bao thận mỏngnhưng chắc, dễ bóc [3]
Trang 41.1.2 Liên quan thận
Thận nằm trong khoang mỡ sau phúc mạc, được cố định bởi cân Gerota,lớp mỡ quanh thận và cuống thận tương đối di dộng Thận có thể di dộng theonhịp thở do cử động của cơ hoành hoặc khi thay đổi tư thế, rốn thận trái ngangmức gai ngang đốt sống thắt lưng I ở tư thế đứng, rốn thận phải nằm thấp hơn,thận hạ thấp hơn ở tư thế nằm khoảng 2 - 3cm [4]
Phía trước
Hai thận liên quan khá khác nhau với phía sau các cơ quan cả trong vàngoài phúc mạc
Thận phải: Nằm phần lớn phía trên rễ mạch mạc treo đại tràng ngang.
liên quan với tuyến thượng thận góc đại tràng phải và ruột non với đoạn II tátràng và tĩnh mạch chủ dưới
Thận trái: Một phần nằm trên và một phần nằm dưới rễ mạc treo đại
tràng ngang ở trên rễ mạc treo đại tràng ngang, thận trái liên quan với thântuỵ, đuôi tuỵ và các mạch lách, tuyến thượng thận trái, sau dạ dày Phần dưới
rễ mạc treo đại tràng ngang liên quan với góc đại tràng trái (ở ngoài) và ruộtnon (ở trong)
Hình 1.2 Liên quan mặt trước của thận
Nguồn: Frank H Netter
Trang 5Phía sau:
Mặt sau là mặt phẫu thuật của thận Màng phổi ở phía sau bắt chéo trướcxương sườn XI cách cột sống 11cm và bắt chéo trước xương sườn XII cáchcột sống 6cm Xương sườn XII chắn ngang phía sau thận ngang mức phạm vidưới của cơ hoành và chia mặt sau thận thành 2 tầng liên quan: tầng ngực ởtrên liên quan với các xương sườn XI, XII, góc sườn hoành màng phổi và cơhoành che phủ 1/3 trên của 2 thận; tầng thắt lưng liên quan với các cơ ngangbụng, cơ vuông thắt lưng và cơ thắt lưng
Hình 1.3 Liên quan phía sau của thận
Nguồn: Frank H Netter
Tuy nhiên mặt sau thận, ở cực trên thận được che lấp bởi xương sườn 11,
12 và màng phổi Do vậy, khi chọc dò vào thận qua đài trên dễ gây thủng cơ
hoành vào khoang màng phổi, phổi.
Phía ngoài
Phía ngoài thận phải là bờ dưới của gan Phía ngoài thận trái là bờ dướicủa lách
Trang 6Phía trong
Từ sau ra trước mỗi thận liên quan với:
Cơ thắt lưng và phần bụng của thân thần kinh giao cảm
Bó mạch tuyến thượng thận, bó mạch thận, bể thận và đầu trên niệuquản, bó mạch sinh dục Thận phải liên quan với tĩnh mạch chủ dưới và thậntrái liên quan với động mạch chủ bụng
Cực dưới thận nằm xa đường giữa hơn cực trên, do vậy cực trên thậnnghiêng vào đường giữa và gập góc nhẹ Thận cũng không nằm trong mặt phẳngđứng ngang đơn thuần, cực dưới thận bị đẩy nhẹ ra trước hơn cực trên và hướngthận được xoay ra trước trên trục đài theo một góc khoảng 300 so với mặt phẳngđứng ngang Rốn thận ở giữa theo hướng ra trước một cách tương đối
1.2 Áp dụng giải phẫu trong phẫu thuật tán sỏi thận qua da
Xác định đường chọc dò vào thận:
Cũng như mổ mở lấy sỏi, mặt sau là vùng tạo đường hầm trong quá trìnhnội soi để tán sỏi thận qua da Mặt trước và 2 bờ của cả hai thận liên quan vớiđại tràng, nhất là trường hợp đại tràng ở vị trí sau bên sát với thận nên khi chọc
dò tìm đường vào thận, nếu chọc lệch hoặc sai dễ tổn thương đại tràng [5]
Đường chọc dò vào thận được thích hợp nhất là đường ít tổn hại mạchmáu nhất, đó là đường vuông góc mặt sau, đi vào diện vô mạch mạch Brodel
và đúng nhú thận, bắt đầu đâm kim ở dưới xương sườn để tránh đi vào phổi
Vị trí thường vào từ điểm ngay bên dưới và gần đầu xương sườn 12 mộtvài cm Không nên chọc sát xương sườn 12 có thể gây tổn thương mạch và
thần kinh gian sườn
Trang 7Hình 1.4 Liên quan của thận với các tạng trong ổ bụng
Nguồn: Frank H Netter
Tán sỏi thận qua da thường sử dụng đường vào đài bể thận qua đài dưới,đài giữa và ở các nhóm đài sau, gần đây đã có một số tác giả sử dụng đườngvào ở nhóm đài sau trên đi qua bờ trên xương sườn 12 thậm chí 11
Bao thận có chứa các mô đàn hồi và các dây thần kinh ly tâm ở bề mặtthận có thể bị kéo dãn ra trong suốt quá trình chọc dò và làm căng đau đáng
kể, nếu bệnh nhân không được tiêm thuốc tê
Hình 1.5 Liên quan với màng phổi và đại tràng
Nguồn: Frank H Netter
Trang 8Để áp dụng lâm sàng và giải phẫu vào trong phẫu thuật tán sỏi qua da,cần nắm chắc về kích thước các chiều của thận, vị trí tương ứng với các mốcxương sườn, cột sống trên phim chụp, tốt nhất là MSCT.
Hình 1.6 Diện vô mạch giữa nhánh trước và nhánh sau động mạch thận
“Nguồn: Skandalakis' Surgical Anatomy 2004” [6]
Hình 1.7 Chọc nhú đài thận là nơi vô mạch[6]
Hình 1.8 Hướng các đài thận[6]
Trang 9Hình 1.9 Hướng đài thận theo mặt phẳng đứng và nằm ngang[6]
Hình 1.10 Hướng chọc vào đài thận mặt sau - vùng vô mạch[6]
Phẫu thuật tán sỏi thận qua da cần phải nghiên cứu kỹ chi tiết giải phẫuđài bể thận trên phim chụp Bể thận có thể ở trong xoang hay ngoài xoang.Khi bị tắc nghẽn, bể thận có thể lớn hơn mức 1015ml so với bình thường.Những bể thận lớn nếu ở ngoài xoang thận có thể vô tình chọc phải, gây ramột vết rách bể thận gây tràn máu, nước tiểu ra ngoài
ThËn ph¶i Tôy §M chñ bông ThËn tr¸i
Trang 10Đài thận: Các đài của cực thận thường hướng về một trong ba bề mặt:mặt trước, mặt sau và mặt thẳng đứng Vì vậy, cần xác định chính xác vị trísỏi dựa vào siêu âm, UIV, UPR hoặc chụp CTscan trước khi tiến hành chọc
dò thận qua da để tránh đâm vào đài nằm song song với đài có chứa sỏi Cácđài trên và giữa thường ở trên xương sườn 12 liên quan với màng phổi khiếncho chọc dò khó hơn và nguy cơ tràn máu, khí màng phổi Trong khi các đàidưới hầu hết ở dưới xương sườn 12 và màng phổi Xoang thận có thể tíchnhỏ, phức tạp, nên khó có thể thực hiện nội soi một cách cứng nhắc Cácmạch đoạn tiếp xúc trực tiếp với ống góp trong xoang thận là các động mạchtận ở nhú thận do các nhánh nhỏ của các mạch này cung cấp Nếu mũi kimchọc dò đâm vuông góc vào nhú thận tạo ra một đường qua da vào thận ítchạm vào mạch nhất
1.3 Chẩn đoán sỏi thận
1.3.1 Triệu chứng lâm sàng
Triệu chứng lâm sàng rất đa dạng, có khi diễn biến âm thầm nhưng phầnlớn có biểu hiện lâm sàng rõ rệt Điển hình nhất là cơn đau quặn thận, đau dữdội xuất phát từ vùng thắt lưng rồi theo niệu quản lan xuống vùng bẹn và sinh
dục, kèm theo đái rắt, đái buốt, đái ra máu, đau gây chướng bụng, nôn [7]
1.3.2 Cận lâm sàng
- Chụp phim hệ tiết niệu không chuẩn bị chụp thẳng để phát hiện sỏi
cản quang, đánh giá hình thái kích thước, vị trí viên sỏi, chụp nghiêng khi cầnthiết để loại trừ sỏi mật, sỏi tuỵ, hạch vôi hoá
- Chụp niệu đồ tĩnh mạch (NĐTM) cho thấy chức năng thận bị ảnh
hưởng, hình thể thận đài bể thận do sỏi gây tắc 1 phần hay toàn phần gây ứnước thận với các mức độ khác nhau , và có thể phát hiện các dị dạng bẩmsinh kèm theo
Trang 11+ Chụp cắt lớp vi tÝnh (CLVT): Trong các trường hợp sỏi san hô hay sỏi
đài bể thận nhiều viên¸ chụp CLVT theo lớp cắt ngang và dựng lại theo phươngthẳng đứng dọc hay ngang để nghiên cứu vị trí sỏi tương ứng với các đài trướcsau và phân biệt được sỏi chồng lên nhau vì X quang quy ước chỉ thấy được trênmột mặt phẳng, chi tiết này cần thiết cho tiến trình tán sỏi
+ Chụp niệu quản ngược dòng (UPR) vừa để chẩn đoán sỏi, các dị
dạng, sự tắc nghẽn đài bể thận
+ Siêu âm vùng bụng và thận cho phép xác định sỏi cản quang, đánh giá
mức độ giãn đài bể thận, độ dày còn lại của nhu mô thận, kích thước của sỏi
1.4 Các phương pháp điều trị sỏi thận
1.4.1 Nội khoa
Mục đích của điều trị nội khoa là phòng bệnh, tránh bệnh tái phát, làmtan hay đái ra những viên sỏi nhỏ Các loại sỏi có thành phần hóa học khácnhau, cơ chế hình thành đối lập nhau do đó việc điều trị có thể đối lập nhaunếu không cận thận thì không những làm sỏi nhỏ đi mà còn làm sỏi to lên [vu
le chuyen(95) điều trị và phòng ngừa bệnh sỏi thận]
- Bệnh nhân cần uống nhiều nước >1,5 lít/ngày Điều trị nhiễm khuẫn tiết
niệu đặc biệt ở những người có dị tật tiết niệu Để tránh tái phát sỏi thận, bệnh nhân cần điều chỉnh chế độ ăn uống và sử dụng một số thuốc riêng biệt [56].
- Đối với sỏi canxi: Cần hạn chế thức ăn, nước uống có chứa nhiềucanxi, điều này làm tăng hấp thụ ở ruột như sữa, canh xương… dẫn đến tăngcanxi máu, nước tiểu làm tăng quá trình tạo sỏi Ngoài ra có thể sử dụng các
đồ uống làm toan hóa nước tiểu như sinh tố C, dấm, thuốc lợi niệu thiazid;không nên ăn mặn các chất chứa nhiều protein và oxalat
- Đối với sỏi magnesium ammonium phosphate cần điều chỉnh pH nướctiểu để tránh kiềm với các thuốc và đồ uống như trên, sử dụng các kháng sinhtác dụng đến trực khuẩn gram âm (nhóm quinolon, aminosid)
Trang 12- Đối với sỏi axit uric, cystin cần hạn chế thức ăn chứa protein, tăngcường các loại rau cũ quả Thuốc được dùng là Hallopurinol tăng bài tiết axituric qua nước tiểu, tăng pH nước tiểu trên 7 bằng các thuốc nhu citratte sodium
- Đối với sỏi cần tăng cường lợi tiểu (uống 2 - 3 lít mỗi ngày) điều chỉnh
pH xấp xỉ 7 Thuốc được dùng là D.penicillamin
1.4.2 Điều trị ngoại khoa
Điều trị ngoại khoa nhằm giải quyết những biến chứng sỏi thận gây ranhằm phục hồi chức năng thận và trong cấp cứu kết hợp nội ngoại khoa đểgiải quyết những trường hợp vô niệu, nhiễm khuẩn huyết Điều trị ngoại khoabao gồm các phẫu thuật kinh điển và các phương pháp ít xâm lấn
Các phẫu thuật kinh điển
Đã bị thu hẹp ở các nước tiên tiến nhưng vẫn còn vị trí quan trọng ở cácnước đang phát triển
- Lấy sỏi thận qua më bể thận
- Phương pháp më rộng bể thận và më rộng bể thận trong xoang (GilVernet) có thể lấy sỏi to trong thận
- Rạch nhu mô thận để lấy sỏi đài thận có khi cần thiết
- Rạch nhu mô thận mở rộng lấy sỏi san hô lớn và nhiều viên là mộtphẫu thuật lớn, cần được tiến hành dưới hạ thể nhiệt tại chỗ và cầm máu tỉ mỉ
- Cắt thận bán phần khi sỏi khu trú ở một cực và phần nhu mô còn lạikhông tác dụng, khi thận ứ mủ do sỏi, mất hết chức năng cần phải cắt bỏ thậntoàn bộ
Các phương pháp ít xâm lấn điều trị sỏi thận
Tán sỏi thể ngoài cơ thể TSNCT ( ESWL)
Tán sỏi nội soi ngược dòng bằng ống mềm
Tán sỏi qua da
Trang 13Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Tiêu chuẩn lựa chọn
Là những bệnh nhân được thực hiện TSTQD tại bệnh viện ĐKT ThanhHóa trong thời gian từ tháng 7 năm 2017 đến tháng 7 năm 2018
Hồ sơ bệnh án được nghi chép đầy đủ nội dung nghiên cứu
Bệnh nhân được tái khám lại và làm các thăm dò chẩn đoán đầy đủ
2.2.Thời gian và địa điểm nghiên cứu.
- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 07/ 2017 đến tháng 10/ 2018
- Địa điểm nghiên cứu: bệnh viện đa khoa Tỉnh Thanh Hóa
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu tiến cứu theo dõi dọc
2.3.2 Mẫu nghiên cứu
- Mẩu nghiên cứu: mẩu thuận tiện
- Cỡ mẩu: tất cả các BN áp dụng phương pháp mổ trên trong thời gian từ07-2018 đến 7-2018
2.3.3 Phương tiện nghiên cứu.
* Các thiết bị cho hình ảnh:
- Nguồn sáng: Nguồn sáng lạnh Xenon 300W
- Hệ thống camera: Karl Storz Telecam, hệ màu PAL độ phân giải trungtâm 450 dòng Chức năng zoom tiêu cự 25 đến 50mm
Monitor: hiệu Sony chuyên dùng cho phẫu thuật nội soi, hệ màu PAL NTSC độ phân giải cao đạt trên 600 dòng
Máy siêu âm
- Máy bơm nước
- Ống kính cứng củaKarl Storz cỡ 16 Fr
Trang 14* Dụng cụ phẫu thuật
- Bàn mổ: là loại bàn mổ đa năng thay đổi nhiều tư thế, tư thế sản khoa
để đặt ống thông niệu quản, tư thế nằm sấp có phối hợp với gấp góc bàn vùngthắt lưng
- Dụng cụ chọc dò và nong tạo đường hầm vào thận
+ Kim chọc dò: là kim chọc động mạch Dosantos 18G x 220mm
+ Dây dẫn loại Lunderquist Guidewire có đầu mềm, phần thân cứng đặtlọt nòng kim chọc dò
+ Dao mổ loại lưỡi nhọn và dài
+ Dụng cụ nong: Bộ nong nhựa Amplatz có kích thước từ nhỏ đến lớn(từ 8-18 fr)
+ Ống nhựa Amplatz kích thước 20 fr có đầu tròn
+ Sonde NQ cỡ 6 fr Guidewire
+ Máy tán sỏi X Sphin 100 W
+Hệ thống nối với sonde NQ để bơm dịch rữa
+ Ngoài ra là bộ tiểu phẫu thuật, găng tay Các ống thông niệu quản,thông Foley
2.3.4 Các bước tiến hành.
* Giai đoạn 1: (chuẩn bị các điều kiện cho tán sỏi qua da)
- Đặt ống thông niệu quản ngược dòng từ bàng quang lên thận trong mổnhằm đánh giá một phần vị trí, hình dạng sỏi thận so với đài bể thận, hình tháicủa đài bể thận, có các dị dạng đường tiết niệu có hay không, bơm nước rữatrong quá trình chọc dò và tán
- Sau khi đặt sonde NQ thì đặt folay, buộc cố định sonde NQ với folay
để tránh tụt trong quá trình mổ Tiến hành nối đuôi sonde với dây bơm nước,dùng gạc che mắt Chuyển BN sang tư thế nằm nghiêng
Trang 15- Đặt màn hình máy NS, máy siêu âm thẳng hàng với phẫu trường và vịtrí phẫu thuật viên chính Phẫu thuật viên chính đứng bên thận mổ, 2 phẫu thuậtviên phụ một người đứng dưới và người còn lại đứng đối diện người mổ chính
* Giai đoạn 2 (thực hiện TSTQD).
- Giai đoạn chọc dò đài thận: Có thể nối đây là bước quan trong nhấtquyết định thành công của cuộc mổ Dưới hướng dẫn của siêu âm tiến hànhchoc dò vào bể thận có thể đựa vào dấu hiệu nước ra qua kim hoặc dấu hiệuchọc đụng vào sỏi Sau khi xác định kim đã vào bể thận tiến hành luần Guide-wide qua kim vào bể thận và tiến hành nong rộng đường hầm đến số 18 F.Sau đó đặt Amlast
- Giai đoạn đặt máy: nối dây dẫn nước từ máy với ống kính, đưa kínhqua ống Amplatz tiếp cận đài bể thận và sỏi nếu ống Amplatz chưa vào đượcđài bể thận thì đưa kính theo dây dẫn đến khi thấy có cấu trúc niêm mạc là đãvào đến đài bể thận
- Giai đoạn tán sỏi thận: Sau khi xác định được kích thước, hình thái, vịcủa sỏi thì xoay ống Amplatz vào sát viên sỏi, ống này được người phụ giữnguyên cho đến khi tán hết viên sỏi được tiếp cận thì có thể rút ra một chút đểđến viên khác Sau khi tán sỏi và lấy sỏi xong tiến hành siêu âm lại kiểm trasỏi TIến hành đặt sode JJ xuôi dòng và đặt Môn JJ vào bể thân
2.3.5 Thu thập số liệu và phân tích các mối liên quan.
* Thu thập từ hồ sơ bệnh án, phim chụp, khám, kết quả các xét nghiệmtrước khi mổ:
- Kích thước, số lượng, vị trí sỏi, trên SÂ, phim chụp hệ TN thường quy -Tên,tuổi, giới, mã bệnh án
- Tiền sử sỏi, các can thiệp trước
- Chỉ số BMI trước CLVT trước mổ
Trang 16- Mức độ giãn đài bể thận có thể chia làm 3 hay 4 độ tùy quan điểm.Chúng tôi phân chia theo Bùi Văn Lệnh và Trần Công Hoan chia 3 độ nhưsau [82].
+ Thận giãn độ 1: Cổ đài thận có ổ dịch rỗng âm, đỉnh các tháp thận vàmột phần xoang thận có vẻ hội tụ vào vùng trung tâm xoang thận.Bể thận cóđường kính trước sau >3cm, độ dày nhu mô thận ít đổi
+ Thận giãn độ 2: Đường kính trước sau bể thận vượt quá đường kínhtrước sau của thận,độ dày nhu mô thận giảm
+ Thận giãn độ 3: Xuất hiện hình ảnh nhiều ổ dịch chiếm một phần haytoàn bộ hố thắt lưng thận, không thấy rõ cấu trúc thận bình thường nữa Nhu
mô chỉ còn là một lớp mỏng
- Diện tích bề mặt sỏi Tính theo công thức gần đúng của Knud Thomsen
Trong đó p=1,6075 Sai số không vượt quá 1,061%
- Các kết quả HC, Hb, BC, ure, creatinin máu; HC, BC niệu
* Thông tin thu thập trong khi mổ:
- Tỉ lệ đặt được sonde NQ
- Tỉ lệ thận P/T được phẫu thuật
- Vị trí đài bể thận chọc dò vào
- Mức độ khó khi chọc dò: số lần phải chọc trên mỗi BN
- Chảy máu trong mổ ảnh hưởng đến quan sát trường mổ, huyết động; tụtống Amplatz; dây dẫn
Trang 17- Công thức máu(HC, BC, Hb, TC), sinh hóa( Na, K, ure, creatinin sau mổ)
- Lượng huyết sắc tố mất trong mổ(Hb trước mổ-Hb sau mổ)
- Ngộ độc nước, sốt, rỉ dịch qua vết mổ
- Tràn dịch màng phổi, rò tiêu hóa
- Số lượng, kích thước sỏi trên phim chụp sau mổ
- Thời gian rút sonde NQ, DL thận
- Thời gian nằm viện
* Thông tin thu thập sau ra viện 1 tháng qua khám hoặc gọi điện hoặc mail: số lượng sỏi, kích thước sỏi sót.
* Kết quả sau mổ
- Tốt:
+ Không còn sỏi hoặc sỏi có đường kính dưới < 4 mm(sạch sỏi)
+ Không có tai biến, biến chứng trong và sau phẫu thuật
+ Có tai biến, biến chứng trong và sau mổ nhưng nhẹ, không phải canthiệp ngoại khoa hoặc truyền máu
- Trung bình:
+ Còn sỏi có đường kính > 3mm
+ Tai biến nhẹ trong lúc phẫu thuật
+ Biến chứng nhẹ sau phẫu thuật cần truyền máu, thêm thuốc, làm thủthuật nhưng không phải mổ lại
- Xấu:
+ Những trường hợp chuyển mổ mở trong mổ
+ Những trường hợp tai biến nặng sau mổ phải mổ lại
+ Không lấy được sỏi
+ Tử vong
- Tỉ lệ mổ BN thực hiện được TSQD
- Tỉ lệ sạch sỏi( siêu âm và chụp phim sau mổ không còn sỏi hoặc sỏi ≤ 3mm)
Trang 18* Phân tích các yếu tố liên quan.
- Chỉ số BMI với thời gian mổ, kết quả mổ
- Thời gian phẫu thuật và diện tích sỏi
- Thời gian phẫu thuật với tiền sử phẫu thuật
- Lượng huyết sắc tố mất với mức độ giãn của thận
+ Tiền sử phẫu thuật ở thận được mổ lần này
2.4 Phương pháp thống kê và xử lý số liệu.
Số liệu thu thập theo các tiêu chí đã nêu gồm đặc điểm lâm sàng, cậnlâm sàng và kết quả phim CLVT theo mẫu bệnh án được xử lý bằng chươngtrình SPSS 16.0 theo các thuật toán thống kê
Chương 3
Trang 19KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Trong thời gian từ tháng 7/ 2017- 10/ 2018, tại bệnh viên đa khoa tỉnhThanh Hóa chúng tôi tiến hành nội soi tán sỏi qua da dưới hướng dẫn của siêu
âm được 180 bệnh nhân
3.1 Một số đặc điểm lâm sàng của nhóm nghiên cứu.
Bảng 3.3 Phân bố tuổi, giới.
Nhóm Không giãn Giãn độ 1 Giãn độ 2 Giãn độ 3 Tổng