Ngày nay xã hội đang ngày càng phát triển cùng với những tiến bộ vượt bậc trong lĩnh vực khoa học kĩ thuật, những bước tiến lớn trong các công nghệ và sự phát triển kinh tế mạnh mẽ đã góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân. Vào những thập kỉ trước khi cuộc sống còn khó khăn thì nhu cầu của người dân chỉ cần xoay quanh chi tiêu hằng ngày trong gia đình không đòi hỏi cao về nhu cầu giải trí, thông tin.... Hiện nay khi thu nhập cũng như nhu cầu của người dân về thông tin, giải trí hay hưởng thụ cuộc sống không ngừng gia tăng, để đáp ứng những nhu cầu đó thì những vật dụng gia đình thiết yếu sẽ không còn dừng lại ở những chiếc quạt, bàn là hay đài cátsét nữa. Thay vào đó sẽ là những chiếc điện thoại di động, smart phone, TV màn hình lớn, máy giặt, điều hòa hay một chiếc máy tính cá nhân. Tiện ích mà những vật dụng kể trên mang lại không ai có thể phủ nhận; nhưng ít người quan tâm tới giai đoạn khi chúng hết khả năng sử dụng và trở thành chất thải điện tử, chúng sẽ đi đến đâu, làm gì. Với thành phần phức tạp, chứa nhiều chất độc hại, chất thải điện tử là tác nhân đe dọa đến sức khỏe con người và môi trường sống khi chúng bị chôn lấp hay được xử lý không đúng quy cách. Mặt khác, trong bản thân loại rác thải này còn chứa một lượng đáng kể các kim loại quý cũng như các nguyên liệu có khả thu hồi và tái chế đem lại nguồn lợi về kinh tế. Tái chế rác thải điện tử từ lâu đã trở thành nghề mưu sinh của một số khu vực dân cư. Hoạt động thu gom và tái chế rác thải điện tử tại đây chưa nhận được sự quản lý và giám sát chặt chẽ từ phía các cơ quan chức năng. Trong những năm qua, tại địa bàn Thị xã Sơn Tây việc quản lý chất thải điện tử cũng không được chú trọng. Chất thải điện tử không được coi là một loại chất thải nguy hại và không được xử lý đúng cách. Cùng với chất thải sinh hoạt, một phần chất thải rắn điện tử được xử lý chung theo phương pháp chôn lấp gây ảnh hưởng tới môi trường. Hầu hết các chất thải chỉ được thu mua tới các cơ sở mua bán phế liệu rồi bán cho các cơ sở chế biến thành nguyên liệu để phục vụ sản xuất, tuy nhiên sau khi phân loại thì một lượng lớn chất thải điện tử không đủ điều kiện tái chế sẽ được đưa tới các bãi rác để tiến hành xử lý, chủ yếu bằng phương pháp chôn lấp hoặc đốt.Để góp phần nâng cao hiệu quả của hoạt động quản lý chất thải điện tử tại Thị xã Sơn Tây nói riêng và Việt Nam nói chung. Trong đồ án này, tôi tiến hành “Đánh giá hiện trạng chất thải rắn điện tử và đề xuất giải pháp quản lý thích hợp tại Thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội”.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
KHOA MÔI TRƯỜNG
NGUYỄN CHIẾN THẮNG
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG CHẤT THẢI RẮN ĐIỆN TỬ
VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP QUẢN LÝ THÍCH HỢP TẠI THỊ XÃ SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
HÀ NỘI, 2016
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
KHOA MÔI TRƯỜNG
NGUYỄN CHIẾN THẮNG
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG CHẤT THẢI RẮN ĐIỆN TỬ
VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP QUẢN LÝ THÍCH HỢP TẠI THỊ XÃ SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Ngành : Quản lý Tài nguyên và Môi trường
Mã ngành : D850101
NGƯỜI HƯỚNG DẪN: TS PHẠM THỊ MAI THẢO
HÀ NỘI, 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi: Nguyễn Chiến Thắng xin cam đoan:
- Đồ án tốt nghiệp là thành quả từ sự nghiên cứu hoàn toàn thực tế trên cơ sở
các số liệu thực tế và được thực hiện theo hướng dẫn của giáo viên hướng dẫn
- Đồ án được thực hiện hoàn toàn mới, là thành quả của riêng tôi, không sao
chép theo bất cứ đồ án tương tự nào
- Mọi sự tham khảo sử dụng trong đồ án đều được trích dẫn các nguồn tài liệu
trong báo cáo và danh mục tài liệu tham khảo
- Mọi sao chép không hợp lệ, vi phạm quy chế của nhà trường, tôi xin hoàn
toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, ngày 30 tháng 5 năm 2016
Sinh viên
Nguyễn Chiến Thắng
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian thực tập và hoàn thành đồ án tốt nghiệp này, bên cạnh sự cố gắng nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được sự động viên kịp thời và giúp đỡ rất lớn của nhiều cá nhân và tập thể
Đầu tiên tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của các thầy cô trong khoa Môi trường, trường Đại học Tài Nguyên và Môi trường Hà Nội đã tạo điều kiện cho tôi thực hiện và hoàn thành báo cáo này
Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới T.S Phạm Thị Mai Thảo – giảng viên khoa Môi trường, trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội đã quan tâm, chỉ bảo, hướng dẫn rất tận tình trong suốt quá trình tôi thực hiện đồ án tốt nghiệp
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của các cán bộ tại công ty Cổ phần Môi trường và Công trình đô thị Sơn Tây đã tạo điều kiện cho tôi thực hiện và hoàn thành bản đồ án này
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của các bạn trong nhóm sinh viên thực hiện đồ án tốt nghiệp đã nhiệt tình giúp tôi trong quá trình viết báo cáo
Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình và bạn bè đã động viên, giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình thực hiện đồ án
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 30 tháng 5 năm 2016
Sinh viên
Nguyễn Chiến Thắng
Trang 5MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG iii
DANH MỤC HÌNH ẢNH iv
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT v
MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đề 1
2 Mục tiêu 2
3 Nội dung nghiên cứu 2
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1 Giới thiệu chung về chất thải điện tử 3
1.1.1 Định nghĩa về chất thải điện tử (E-Waste hay CTĐT) 3
1.1.2 Phân loại đối với chất thải điện tử 3
1.1.3 Đặc điểm của chất thải điện tử 4
1.2 Tác động của chất thải điện tử tới môi trường và sức khỏe 4
1.3 Thực trạng quản lý và tái chế chất thải điện tử [2] 7
1.3.1 Thực trạng quản lý và tái chế chất thải điện tử tại một số nước trên thế giới 7
1.3.2 Thực trạng quản lý và tái chế chất thải điện tử tại Việt Nam 9
1.4 Quy trình xử lý chất thải đang được áp dụng 9
1.4.1 Quy trình trên thế giới 9
1.4.2 Quy trình tại Việt Nam 14
1.5 Cơ sở pháp lý 15
1.6 Tổng quan chung về vị trí nghiên cứu [8] 16
1.6.1 Điều kiện tự nhiên 16
1.6.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 19
1.7 Công tác quản lý chất thải điện tử tại Thị xã Sơn Tây 21
1.7.1 Quản lý nhà nước 22
CHƯƠNG II: ĐỐI TƯỢNG, THỜI GIAN, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
2.1 Đối tượng nghiên cứu 25
2.2 Phạm vi nghiên cứu 25
2.3 Thời gian thực hiện 25
Trang 62.4.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp 25
2.4.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp (phỏng vấn, phiếu điều tra) 26
2.4.3 Phương pháp khảo sát thực địa 30
2.4.4 Phương pháp tổng hợp, phân tích và xử lý số liệu 30
2.4.5 Phương pháp chuyên gia 31
CHƯƠNG III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 32
3.1 Tình hình phát sinh chất thải điện tử tại Thị xã Sơn Tây 32
3.1.1 Các nguồn thải phát sinh chất thải điện tử 32
3.1.2 Lượng chất thải điện tử phát sinh tại Thị xã năm 2015 32
3.1.3 Lượng chất thải điện tử phát sinh trong tương lai 36
3.2 Hiện trạng công tác thu gom và xử lý rác thải điện tử 37
3.3 Công tác quản lý chất thải điện tử tại Thị xã 40
3.3.1 Công tác quản lý chất thải điện tử của cơ quan quản lý 40
3.3.1.1 Công tác quản lý chỉ đạo 40
3.3.1.2 Công tác quản lý trực tiếp 41
3.3.2 Công tác quản lý chất thải điện tử của cơ sở thu mua phế liệu 43
3.3.3 Nhận thức của cộng đồng về chất thải điện tử 46
3.4 Đánh giá hiệu quả quản lý chất thải điện tử 49
3.4.1 Những điểm mạnh trong công tác quản lý chất thải điện tử 49
3.4.2 Những điểm yếu trong công tác quản lý chất thải điện tử 49
3.5 Đề xuất biện pháp quản lý 50
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 54
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 55
PHỤ LỤC 56
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Các chất nguy hại có thể có trong các thành phần của chất thải thiết bị
điện, điện tử gia dụng 5
Bảng 1.2: Các thiết bị trong giai đoạn xử lý cấp 2 13
Bảng 1.3: Hệ thống văn bản liên quan đến chất thải điện tử 15
Bảng 2.1: Những dữ liệu, thông tin cần thu thập 25
Bảng 2.2: Đối tượng, hình thức điều tra cần thực hiện 26
Bảng 3.1: Tỉ lệ giữa các thiết bị bị thải bỏ và thiết bị đang lưu thông 32
Bảng 3.2: Tuổi thọ trung bình thực tế của một số thiết bị 33
Bảng 3.3: Lượng chất thải điện tử phát sinh tại Thị xã Sơn Tây năm 2015 35
Bảng 3.4: Dự báo chất thải điện tử năm 2030 37
Bảng 3.5: Câu trả lời của người dân về hình thức xử lý chất thải điện tử 48
Trang 8DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 1.1: Quy trình xử lý chất thải điện tử trên Thế giới 11
Hình 1.2: Sơ đồ xử lý cấp 2 12
Hình 1.3: Sơ đồ dòng lưu chuyển các thiết bị điện tử 14
Hình 1.4: Bản đồ hành chính Thị xã Sơn Tây 17
Hình 1.5: Sơ đồ quản lý nhà nước về chất thải điện tử 22
Hình 1.6: Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý công ty CPMT & CTĐT Sơn Tây 23
Hình 2.1: Phỏng vấn nhân viên công ty CPMT và CTĐT Sơn Tây 28
Hình 2.2: Phỏng vấn các hộ gia đình 29
Hình 3.1: Ý kiến người dân về mức độ dễ bị hư hỏng của 1 số thiết bị 34
Hình 3.2: Sơ đồ dòng lưu chuyển chung của thiết bị điện – điện tử tại Thị xã Sơn Tây 38
Hình 3.3: Sơ đồ dòng lưu chuyển bóng đèn 40
Hình 3.4: Ý kiến người dân về tình hình tuyên truyền về chất thải điện tử 41
Hình 3.5: Ý kiến người dân về tình hình thu gom chất thải điện tử 42
Hình 3.6: Sơ đồ quy trình quản lý chất thải điện tử tại các cơ sở thu mua phế liệu 43
Hình 3.7: Thu mua CTĐT tại gia đình bà Điều tại xã Kim Sơn 45
Hình 3.8: CTĐT chất thành đống hỗn hợp tại cơ sở của bà Thưởng tại xã Kim Sơn 46
Hình 3.9: Hiểu biết của người dân về chất thải điện tử 46
Hình 3.10: Tỉ lệ người dân biết về CTĐT tại xã, phường tiến hành điều tra 47
Hình 3.11: Hiểu biết người dân về ảnh hưởng của chất thải điện tử 47
Hình 3.12: Hiểu biết người dân về nơi xử lý chất thải điện tử 48
Hình 3.13: Sơ đồ quy trình công nghệ áp dụng các phương pháp thuỷ luyện để tái chế CTĐT 53
Trang 9DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CPMT & CTĐT : Cổ phần môi trường và Công trình đô thị
EPR : Cơ chế mở rộng hay tăng cường trách nhiệm của nhà sản xuất
(Extended Producer Responsibility)
PC : Máy tính cá nhân (persanal computer)
StEP : Giải quyết các vấn đề chất thải điện tử (Solving the E-waste
Problem)
UNEP : Chương trình môi trường Liên Hợp Quốc
URENCO : Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên môi trường đô thị
Hà Nội
WEEE : Chất thải từ các thiết bị điện, điện tử (Waste from electronic
and electrical equipment)
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Ngày nay xã hội đang ngày càng phát triển cùng với những tiến bộ vượt bậc trong lĩnh vực khoa học kĩ thuật, những bước tiến lớn trong các công nghệ và sự phát triển kinh tế mạnh mẽ đã góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân Vào những thập kỉ trước khi cuộc sống còn khó khăn thì nhu cầu của người dân chỉ cần xoay quanh chi tiêu hằng ngày trong gia đình không đòi hỏi cao về nhu cầu giải trí, thông tin Hiện nay khi thu nhập cũng như nhu cầu của người dân về thông tin, giải trí hay hưởng thụ cuộc sống không ngừng gia tăng, để đáp ứng những nhu cầu đó thì những vật dụng gia đình thiết yếu sẽ không còn dừng lại
ở những chiếc quạt, bàn là hay đài cát-sét nữa Thay vào đó sẽ là những chiếc điện thoại di động, smart phone, TV màn hình lớn, máy giặt, điều hòa hay một chiếc máy tính cá nhân Tiện ích mà những vật dụng kể trên mang lại không ai có thể phủ nhận; nhưng ít người quan tâm tới giai đoạn khi chúng hết khả năng sử dụng
và trở thành chất thải điện tử, chúng sẽ đi đến đâu, làm gì Với thành phần phức tạp, chứa nhiều chất độc hại, chất thải điện tử là tác nhân đe dọa đến sức khỏe con người và môi trường sống khi chúng bị chôn lấp hay được xử lý không đúng quy cách Mặt khác, trong bản thân loại rác thải này còn chứa một lượng đáng kể các kim loại quý cũng như các nguyên liệu có khả thu hồi và tái chế đem lại nguồn lợi
về kinh tế Tái chế rác thải điện tử từ lâu đã trở thành nghề mưu sinh của một số khu vực dân cư Hoạt động thu gom và tái chế rác thải điện tử tại đây chưa nhận được sự quản lý và giám sát chặt chẽ từ phía các cơ quan chức năng
Trong những năm qua, tại địa bàn Thị xã Sơn Tây việc quản lý chất thải điện
tử cũng không được chú trọng Chất thải điện tử không được coi là một loại chất thải nguy hại và không được xử lý đúng cách Cùng với chất thải sinh hoạt, một phần chất thải rắn điện tử được xử lý chung theo phương pháp chôn lấp gây ảnh hưởng tới môi trường Hầu hết các chất thải chỉ được thu mua tới các cơ sở mua bán phế liệu rồi bán cho các cơ sở chế biến thành nguyên liệu để phục vụ sản xuất, tuy nhiên sau khi phân loại thì một lượng lớn chất thải điện tử không đủ điều kiện tái chế sẽ được đưa tới các bãi rác để tiến hành xử lý, chủ yếu bằng phương pháp chôn lấp hoặc đốt
Để góp phần nâng cao hiệu quả của hoạt động quản lý chất thải điện tử tại Thị xã Sơn Tây nói riêng và Việt Nam nói chung Trong đồ án này, tôi tiến hành
“Đánh giá hiện trạng chất thải rắn điện tử và đề xuất giải pháp quản lý thích
hợp tại Thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội”
Trang 112 Mục tiêu
- Đánh giá hiện trạng quản lý chất thải điện tử trên địa bàn Thị xã Sơn Tây
- Đề xuất các giải pháp quản lý thích hợp
3 Nội dung nghiên cứu
3.1 Điều tra hiện trạng phát sinh chất thải điện tử tại Thị xã Sơn Tây
- Nguồn phát sinh chất thải rắn điện tử
- Lượng chất thải rắn điện tử phát sinh tại Thị xã
3.2 Điều tra công tác quản lý chất thải tại địa phương
Tìm hiểu công tác thu gom, vận chuyển, lưu giữ và xử lý chất thải rắn điện tử
3.3 Đánh giá hiểu biết của cộng đồng về quản lý chất thải điện tử
- Nhận thức của người dân
- Nhận thức của các cơ sở thu gom
3.4 Đề xuất các giải pháp quản lý thích hợp
Trang 12CHƯƠNG I: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Giới thiệu chung về chất thải điện tử
1.1.1 Định nghĩa về chất thải điện tử (E-Waste hay CTĐT)
Cho đến nay vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất và hoàn chỉnh về CTĐT Mỗi một tổ chức hay một quốc gia thường có một cách định nghĩa khác nhau
Chương trình StEP 2005 đề cập: "CTĐT là các sản phẩm không còn mong muốn sử dụng của một người tiêu dùng đưa ra và chuyển nhượng cho người tiêu dùng khác, tái chế, hay xử lý" [1]
Theo OECD (tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế) thì tất cả các thiết bị sử dụng năng lượng điện để vận hành khi đã hết khả năng sử dụng đều được coi là chất thải điện tử (e-waste) [2]
Theo liên minh châu Âu (2002) định nghĩa: “Chất thải thiết bị điện, điện tử bao gồm tất cả các thành phần, chi tiết là một phần của thiết bị điện, điện tử hay toàn bộ thiết bị điện, điện tử tại thời điểm bị thải bỏ” [1]
Từ những định nghĩa trên có thể định nghĩa một cách tổng quát về chất thải điện tử như sau: Chất thải điện tử (CTĐT) bao gồm toàn bộ các thiết bị, dụng cụ, máy móc điện, điện tử cũ, hỏng, lỗi thời không được sử dụng nữa cũng như các phế liệu, phế phẩm thải ra trong quá trình sản xuất, lắp ráp và tiêu thụ
1.1.2 Phân loại đối với chất thải điện tử
Tùy theo cách định nghĩa của từng tổ chức hay quốc gia mà CTĐT được phân loại theo các phương pháp khác nhau Một phương pháp phân loại được chấp nhận rộng rãi trên thế giới đó là của Liên minh Châu Âu (EU) Theo phương pháp
đó chất thải điện tử được chia làm 10 nhóm bao gồm [3]:
1 Nhóm thiết bị gia dụng cỡ lớn: tủ lạnh, máy giặt, máy sấy quần áo, máy rửa
bát, bếp điện, lò vi sóng, lò sưởi điện,…
2 Nhóm thiết bị gia dụng cỡ nhỏ: máy hút bụi, máy lau thảm, máy may vá, bàn
là quần áo, máy pha cà-phê, đồng hồ điện tử, máy massage, máy sấy tóc, máy cắt tóc,…
3 Nhóm thiết bị IT và viễn thông: PCs (CPU, chuột, monitor và bàn phím),
laptop, fax, máy tính, máy in, máy photo, điện thoại (gồm các loại bàn, không dây, di động),…
Trang 134 Nhóm thiết bị nghe nhìn: radio, TV, camera, máy quay phim, máy nghe nhạc,
bộ khuếch đại âm thanh,
5 Nhóm thiết bị chiếu sáng: đèn huỳnh quang, đèn compact, đèn cường độ sáng
cao/cao áp natri và kim loại, đèn natri hạ áp,
6 Nhóm khí cụ gia dụng: máy khoan, máy hàn, máy cưa, máy phay, máy mài,
thiết bị làm vườn,
7 Nhóm đồ chơi, giải trí và thể thao: tàu hỏa hoặc ô tô đua, video games, thiết
bị giải trí nhận tiền xu, một số loại dụng cụ thể dục,
8 Nhóm dụng cụ y tế: thiết bị xạ trị, máy điện tim, máy chạy thận, các máy xét
nghiệm,
9 Nhóm thiết bị quan trắc và kiểm soát: detector cảnh báo khói, bộ điều chỉnh
nhiệt, các thiết bị cân đo, căn chỉnh trong nhà và phòng thí nghiệm, các thiết bị quan trắc và kiểm soát trong công nghiệp,
10 Nhóm máy dịch vụ tự động: máy rút tiền tự động, máy bán nước tự động,
điện thoại công cộng,…
1.1.3 Đặc điểm của chất thải điện tử
Theo thống kê của Chương trình Môi trường Liên hợp quốc (UNEP), trong rác thải điện tử có chứa hơn 1.000 hợp chất khác nhau, chủ yếu là thành phần kim loại nặng, kim loại quý, các chất hữu cơ cao phân tử khác… Chính vì vậy, chất thải điện tử (CTĐT) nếu xử lý đúng thì đây thực sự là một “mỏ vàng” bởi nó chứa nhiều vật liệu quý có thể thu hồi như: Vàng, bạc, đồng, platin, niken Ước tính, trong 1 tấn điện thoại di động có đến 150g vàng, gấp 10 lần lượng vàng trong 1 tấn quặng vàng, chưa kể đến 100kg đồng, 3kg bạc và nhiều kim loại khác [4] Theo Trung tâm Quản lý chất thải và Nguồn tài nguyên Châu Âu, sắt và thép
là các nguyên liệu phổ biến nhất trong các thiết bị điện và điện tử và chiếm hơn 50% tổng lượng chất thải điện và điện tử Nhựa là thành phần nhiều thứ hai chiếm xấp xỉ 21%; kim loại khác bao gồm cả kim loại quý hiếm (Al, Zn, Cu, Pb, Sn, Cr,
Au, Ag, Pt, Pd …) chiếm xấp xỉ 13% tổng trọng lượng chất thải điện và điện tử Một chiếc máy tính chứa khoảng 1,8 - 3,6 kg Chì Màn hình thuỷ tinh chứa khoảng 20% Chì về khối lượng [2]
1.2 Tác động của chất thải điện tử tới môi trường và sức khỏe
Chất thải điện tử là một trong số các chất thải chứa nhiều thành phần gây ô nhiễm nghiêm trọng, cực kỳ nguy hại cho sức khỏe con người và môi trường như: Chì (Pb), cadmium (Cd), thủy ngân (Hg), các hợp chất của brom như: PBBs,
Trang 14PBDEs, asen (thạch tín), CFC, HCFC (có khả năng phá hủy tầng ozone)… ảnh hưởng đến sức khỏe con người bao gồm nguyên nhân gây ra mầm bệnh ung thư, đường hô hấp, tim mạch và thần kinh… [5]
Hiện nay chất thải điện tử chủ yếu được xử lý bằng cách tái sử dụng các linh kiện có thể dùng để sửa chữa và lắp ráp một số thiết bị khác, phần còn lại chủ yếu được đem đổ lẫn với rác thải hoặc đốt để tận thu kim loại Khi các loại chất thải điện tử được đem chôn lấp cùng các loại chất thải chung, các thành phần độc hại
có thể gây ô nhiễm môi trường đất, nước Khi tiến hành đốt để tận thu kim loại, các chất độc hại có trong chất thải sẽ khuếch tán vào môi trường ảnh hưởng tới chất lượng không khí
Bảng 1.1: Các chất nguy hại có thể có trong các thành phần của chất thải thiết
bị điện, điện tử gia dụng [6]
STT Chất nguy hại Ứng dụng Tác động đến môi
- Có tính tồn lưu và tích lũy sinh học
- Có thể gây tổn thương lâu dài đến sức khỏe
- Tạo thành chất độc khi đốt
3 CFC (chorofluorcarbon) Chất tải lạnh - Khi cháy phát xạ nhiều
độc chất
(polyvinyl chloride)
Dây cáp cách nhiệt
- Dây cáp cách nhiệt ở nhiệt độ cao có thể sinh ra chlorine, sau đó biến đổi thành dioxin và furan
Trang 15Kim loại
nhỏ trong LED
- Chất rất độc, gây tổn thương lâu dài tới sức khỏe
ướt
CRT, mực in, máy photocopy,
- Chất rất độc, gây tổn thương lâu dài tới sức khỏe
đĩa mềm
- Chất rất độc, gây tổn thương lâu dài tới sức khỏe, gây dị ứng
hệ tuần hoàn, thận và ảnh hưởng đến sự tiếp thu của trẻ nhỏ
ướt
quang, pin kiềm
- Chất rất độc, gây tổn thương lâu dài tới sức khỏe
hoặc NiMH, ống phóng điện
các nguyên tố đất hiếm trong
- Gây hại khi hít vào
Trang 16lớp huỳnh quang
Khác
máy in
- Gây hại khi hít vào
(Nguồn: URENCO, 2007 [6])
1.3 Thực trạng quản lý và tái chế chất thải điện tử [2]
1.3.1 Thực trạng quản lý và tái chế chất thải điện tử tại một số nước trên thế giới
a Các vấn đề chung
Tháng 10 /2002 các nước trong khu vực EU đã đạt được thoả thuận về các quy định đối với việc quản lý chất thải từ thiết bị điện, điện tử (WEEE) Quy định của EU về quản lý WEEE được xem như tài liệu tham khảo chính để xây dựng các văn bản pháp lý về chất thải điện tử tại hầu hết các quốc gia trên thế giới Chương trình này kêu gọi các nhà sản xuất cung cấp tài chính cho các hoạt động thu gom,
xử lý, thu hồi và chôn lấp an toàn các chất thải điện tử, từ dân dụng đến toàn bộ các hoạt động khác
Một thực tế đáng buồn là ở một số quốc gia bao gồm cả Việt Nam hiện nay vẫn còn xem nhẹ cũng như chưa có khung luật riêng đối với chất thải điện tử Ngược lại các quốc gia phát triển trên thế giới đã nhận biết được tầm quan trọng trong việc quản lý loại chất thải đặc biệt này Tại các nước như Thụy Sỹ, Đức, Nhật, Hàn Quốc, và phần lớn các bang ở Mỹ đã có những quy định riêng cho CTĐT, cùng với đó rất nhiều quốc gia đang gấp rút xây dựng luật
b Thực hiện các quy định về quản lý chất thải điện tử ở Nhật Bản
Nhật Bản là một trong những quốc gia sản xuất và tiêu thụ các thiết bị điện điện tử lớn nhất thế giới đồng thời là một trong những nước đi tiên phong trong vấn đề quản lý chất thải điện tử Luật về tái chế chất thải điện, điện tử gia dụng tại Nhật Bản (EHAR) bắt đầu có hiệu lực từ tháng 4 năm 2001 Mục đích của luật này nhằm khuyến khích động viên việc tái chế các nguyên vật liệu từ các thiết bị điện, điện tử chôn lấp và giảm thiểu diện tích các bãi chôn lấp Luật tái chế chất thải điện, điện tử gia dụng cụ thể hóa các nguyên tắc “Trách nhiệm mở rộng của các nhà sản xuất” ví dụ như trong luật này bắt buộc các nhà sản xuất phải có trách
Trang 17nhiệm trong việc tái chế các sản phẩm của họ khi hết hạn sử dụng đối với lần đầu tiên Bốn sản phẩm đầu tiên được áp dụng là: TV, tủ lạnh, điều hòa và máy giặt Đây là bốn sản phẩm chính có số lượng tiêu thụ lớn Trước khi luật này ra đời, 4 sản phẩm này khi không còn khả năng sử dụng được thu gom và tập trung với lượng lớn tại khu tập kết các chất thải sinh hoạt đô thị hoặc trả về nơi người bán lẻ khi người sử dụng mua sản phẩm mới Khi áp dụng luật mới, các sản phẩm được thu gom lại bởi các nhà bán lẻ và chuyển đến các nơi lưu trữ địa phương Khi một thiết bị hết khả năng sử dụng người sở hữu phải trả phí thu gom và phí tái chế cho người bán lẻ Sau đó các sản phẩm đã được thu gom sẽ chuyển đến các cơ sở tái chế Tại các cơ sở này, các sản phẩm sẽ được tháo dỡ thủ công và phân loại, một phần sẽ được thu hồi tái sử dụng vào mục đích khác, phần còn lại được xử lý trong
lò đốt
c Quản lý chất thải điện tử tại Hàn quốc, Đài Loan và một số nước châu Á
Năm 2003, Hàn Quốc đã quy định TV, tủ lạnh, máy giặt, máy điều hoà nhiệt
độ và máy tính cá nhân là các thiết bị điện và điện tử phải được tái chế theo nguyên tắc “Trách nhiệm sau sản xuất” trong luật tái chế, sau đó vào năm 2005 họ
bổ sung các thiết bị nghe nhìn và điện thoại di động vào danh mục này Đài Loan cũng xác định các chất thải công nghệ thông tin như các loại máy tính, màn hình, máy in, fax và TV, điều hoà, máy giặt, tủ lạnh là những chất thải bắt buộc phải tái chế Khác với Nhật Bản, các nhà máy sản xuất ở Hàn Quốc và Đài Loan phải trả phí tái chế cho các cơ sở tái chế Do khách hàng không phải trực tiếp trả phí tái chế khi chôn lấp thiết bị điên, điện tử cho nên người dân thường tự giác đưa các thiết bị gia dụng điện, điện tử lỗi thời tới nơi thu gom Tuy nhiên do các điều luật còn lỏng lẻo nên các thiết bị điện tử đã bị loại bỏ có thể dễ dàng bị chuyển đến các
cơ sở tái chế tư nhân có chi phí tái chế thấp và quy trình tái chế không minh bạch Tại Philipin, luật về Quản lý chất thải rắn sinh thái đã được thông qua 01/2000 Theo luật này các thiết bị điện, điện tử dân dụng như lò sưởi, máy điều hoà tủ lạnh, được coi như các loại chất thải đặc biệt phải được phân tách khỏi các chất thải sinh hoạt và thương mại thông thường Mặc dù luật trên đã xác định các loại chất thải đặc biệt riêng rẽ nhưng không có một chỉ dẫn rõ ràng riêng biệt nào cho việc xử lý chúng Các nước khác như Campuchia, Ấn Độ, Malaysia và Việt Nam chưa có chính sách hay quy định riêng cho quản lý chất thải điện, điện tử trừ các loại pin và ắc quy Ở những nước này các thành phần không chuyên nghiệp (bao gồm cả người nhặt rác) đóng vai trò quan trọng trong việc thu gom và tái chế các phần có giá trị
Trang 181.3.2 Thực trạng quản lý và tái chế chất thải điện tử tại Việt Nam
Tại Việt Nam hiện nay, CTĐT đã được liệt vào danh sách những chất thải nguy hại nhưng chúng hoàn toàn chưa được phân loại tách riêng khỏi các loại chất thải rắn khác, công ty Môi trường đô thị chưa quản lý được nguồn phát sinh loại chất thải này cũng như chưa hề có thống kê chính xác lượng CTĐT phát sinh hằng năm Cách thức người dân chôn lấp CTĐT đi theo một truyền thống xấu, tức là không quan tâm chất thải sẽ đi đâu, sẽ được xử lý ra sao Một số thiết bị điện, điện
tử kích thước nhỏ và vừa (pin, bóng đèn, điện thoại…) sau khi hết khả năng sử dụng được chôn lấp chung với rác sinh hoạt Những thiết bị điện tử cũ hỏng kích thước lớn (TV, tủ lạnh, máy giặt…) thường được lưu trữ tại gia đình trong một thời gian nhất định trước khi bán lại cho người thu gom phế liệu Một số thiết bị được thu gom về các tiệm đồ cũ hoặc tiệm sửa chữa đồ gia dụng; sau đó được tháo rời và tận dụng linh kiện để thay thế vào các thiết bị hỏng khác Mặt khác, CTĐT còn âm thầm được chuyên chở về Việt Nam dưới danh nghĩa xuất nhập khẩu với mục đích tái chế Nhiều cá nhân núp bóng doanh nghiệp để nhập loại chất thải này
từ nhiều quốc gia trên thế giới Khi hàng cập cảng họ viện nhiều lý do để thoái thác nhận hàng; hoặc họ sẽ bán lượng CTĐT này cho các cơ sở tái chế tư nhân hay các làng nghề tái chế
Đứng trước mối lo ngại trên và để phát triển một nền công nghiệp điện tử an toàn, bền vững, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định 16/2015/QĐ-TTg về việc thu hồi và xử lý sản phẩm thải bỏ như: Ắc quy và pin, thiết bị điện tử, điện dân dụng và công nghiệp Các sản phẩm thải bỏ được thu hồi thông qua các hình thức như: Nhà sản xuất trực tiếp thực hiện hoặc phối hợp với nhau thực hiện thông qua điểm thu hồi hoặc hệ thống các điểm thu hồi; Nhà sản xuất phối hợp hoặc ủy quyền cho đơn vị vận chuyển, xử lý chất thải có chức năng phù hợp thực hiện; Đơn vị vận chuyển, xử lý chất thải có chức năng phù hợp trực tiếp thực hiện việc thu hồi theo quy định về quản lý chất thải mà không có sự phối hợp, ủy quyền của nhà sản xuất
1.4 Quy trình xử lý chất thải đang được áp dụng
1.4.1 Quy trình trên thế giới
Chất thải điện tử cũng là một trong những vấn đề nan giải chưa được giải quyết trên phạm vi toàn cầu Việc xử lý các thiết bị điện tử hỏng thường đòi hỏi chi phí khá cao, chính vì vậy ở các nước phát triển như Mỹ, Anh, Nhật thường chọn biện pháp xuất khẩu các loại chất thải này sang các nước kém phát triển hoặc đang
Trang 19phát triển trong đó có Việt Nam Đây là biện pháp tối ưu về kinh tế, tuy nhiên về mặt môi trường thì nó lại là biện pháp khá tiêu cực Khi các nước kém phát triển hoặc đang phát triển tiếp nhận các loại chất thải, một phần chúng được sử dụng để tái chế, tái sử dụng còn những phần không thể sử dụng không được xử lý đúng cách hay triệt để do các nước này không đủ trình độ, kĩ thuật và công nghệ để xử lý gây ảnh hưởng đến sức khỏe con người và sinh vật Tuy nhiên tại các nước phát triển họ cũng tiến hành xử lý chất thải điện tử trong nước, tuy tỉ lệ chất thải được xử lý còn thấp nhưng cũng phần nào làm giảm áp lực cho việc xử lý chất thải điện tử Quy trình xử lý chất thải điện tử trên thế giới (Hình 1.1)
Trang 20Hình 1.1: Quy trình xử lý chất thải điện tử trên Thế giới
(Nguồn: UNEP, 2007 [7])
Trang 21Kim loại đen Kim loại màu
Nhựa Phần có thể bán, chất độc, màn hình
Trang 22Bảng 1.2: Các thiết bị trong giai đoạn xử lý cấp 2
1 Máy cắt (Shredder)
Để giảm kích thước đạt kích thước
cho phép, phần lớn các chất liệu màu
được tách ra từ kim loại màu/phần
Để giảm kích thước của vật liệu trước
khi tách trong phân tách dòng xoáy 2
5 Tạo hạt nặng (Heavy Granulator)
Để giảm kích thước cuối cùng của vật
Trang 23 Xử lý cấp 3
Sau khi xử lý xong ở cấp 2 hầu như đã hoàn thành việc tách và xử lý các chất trong chất thải điện tử Xử lý cấp 3 là bước xử lý để tạo thành các sản phẩm mới
1.4.2 Quy trình tại Việt Nam
Quy trình xử lý chất thải điện tử được thể hiện theo sơ đồ Hình 1.3 như sau:
Hình 1.3: Sơ đồ dòng lưu chuyển các thiết bị điện tử
(Nguồn:Báo cáo URENCO, 2007 [6])
1 Thiết bị sở hữu bởi các hộ gia
4C Tái sử dụng (Cho, tặng ai dó)
5B Sửa chữa/tân trang
6 Tái chế
8 Đốt/thu hồi
năng lượng
7 Thải bỏ/chôn lấp
Trang 24Chất thải điện tử sau khi thải bỏ có thể thải bỏ trực tiếp, chuyển quyền sử dụng hoặc bán cho người thu mua, cơ sở thu mua
- Khi thải bỏ trực tiếp chủ yếu là thải chung cùng các chất thải sinh hoạt, phần lớn các chất thải này thường được đem xử lý cùng chất thải sinh hoạt bằng phương pháp chôn lấp hoặc đốt
- Chuyển quyền sử dụng được coi là một hình thức xử lý chất thải, khi các thiết
bị không còn được sử dụng do hỏng hóc hoặc không phù hợp với nhu cầu sử dụng
sẽ được đem cho, bán cho người sử dụng khác để sửa chữa, sử dụng tiếp
- Bán cho người thu mua, cơ sở thu mua là hình thức xử lý chủ yếu tại Việt Nam, người thải bỏ sẽ thu lại được mốt số tiền khi thải các thiết bị hỏng của mình Sau khi được các cơ sở thu mua chất thải điện tử sẽ được tiếp tục xử lý hoặc là đem sửa chữa, hoặc tháo dỡ để tái chế lại, đốt thu năng lượng, phần không sử dụng được
sẽ được thải bỏ hoặc đem đi chôn lấp
1.5 Cơ sở pháp lý
Bảng 1.3: Hệ thống văn bản liên quan đến chất thải điện tử
STT Số hiệu văn bản Tên văn bản Ngày ban
4 Nghị định
19/2015/NĐ-CP
Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Bảo
vệ môi trường
14/02/2015 01/04/2015
Trang 255 Nghị định
38/2015/NĐ-CP
Về quản lý chất thải và phế liệu 24/04/2015 15/06/2015
6 Quyết định
16/2015/QĐ-TTg
Quy định về thu hồi, xử lý sản phẩm thái bỏ
22/05/2015 15/07/2015
7 Công ước Basel
Về kiểm soát vận chuyển qua biên giới các phế thải nguy hiểm và việc tiêu hủy chúng
1989
1.6 Tổng quan chung về vị trí nghiên cứu [8]
1.6.1 Điều kiện tự nhiên
a Vị trí địa lý
Thị xã Sơn Tây nằm ở phía Tây thủ đô Hà Nội, cách Hà Nội 40 km theo Quốc
lộ 32, cách Hà Đông khoảng 40 km theo đường cao tốc Láng - Hòa Lạc Tổng diện tích tự nhiên của Thị xã Sơn Tây là 11.346,85 ha, nằm trên tọa độ từ 21o01’12” đến
21o10’20” vĩ độ Bắc và từ 105o24’52” đến 105o32’14” kinh độ Đông Ranh giới tiếp giáp với các vị trí như sau:
- Phía Đông: giáp với huyện Phúc Thọ
- Phía Tây: giáp với huyện Ba Vì
- Phía Nam: giáp với huyện Phúc Thọ và huyện Thạch Thất
- Phía Bắc: giáp với tỉnh Vĩnh Phúc qua sông Hồng
Thị xã Sơn Tây là trung tâm văn hóa, kinh tế khu vực phía tây của Thành phố
Hà Nội hiện có 15 đơn vị hành chính, bao gồm có 9 phường và 6 xã: Sơn Lộc, Phú Thịnh, Ngô Quyền, Trung Hưng, Viên Sơn, Trung Sơn Trầm, Xuân Khanh, Lê Lợi, Đường Lâm, Sơn Đông, Cổ Đông, Xuân Sơn, Kim Sơn, Thanh Mỹ, Quang Trung
Trang 27- Dạng bán sơn địa: gồm các xã, phường: Thanh Mỹ, Trung Sơn Trầm, Kim Sơn, Cổ Đông, Phường Xuân Khanh có diện tích khoảng 6.800 ha, chiếm 63% diện tích tự nhiên của Thị xã
- Dạng đồng bằng: gồm các xã, phường còn lại, chiếm 37% diện tích Thị xã, đồi núi thấp ở đây sẽ là điều kiện tốt cho việc phát triển cây công nghiệp ngắn và dài ngày, khai thác lâm nghiệp kết hợp với du lịch nghỉ dưỡng
Khu vực nội thành Thị xã Sơn Tây có thể chia ra 2 khu vực:
- Khu Sơn Tây cổ gồm 3 phường: Ngô Quyền, Quang Trung, Lê Lợi địa hình tương đối bằng phẳng có cao độ +8,5 đến +10,5 m Độ dốc trung bình thành cổ 1% dốc từ Bắc xuống Nam
- Khu Sơn Tây mới có các phường: Sơn Lộc, Xuân Khanh, Trung Sơn Trầm, Trung Hưng, Viên Sơn, Phú Thịnh và vùng ngoại thành có địa hình không bằng phẳng, gò đồi bán sơn địa, thấp dần từ Tây sang Đông Cao độ +10 đến +65 m, cao nhất 112 m (Xuân Sơn, Xuân Khanh) độ dốc 10% ÷30%
c Thuỷ văn
Thị xã Sơn Tây có 3 con sông chính chảy qua là: sông Hồng, sông Tích, sông Hang Các sông này là nguồn chủ yếu phục vụ cho cấp nước và thủy lợi của Thị xã Ngoài các sông trên, Sơn Tây còn có các hồ lớn như: hồ Xuân Khanh, hồ Đồng Mô, ngoài ra còn một số hồ nhỏ và đập dâng khác để tưới nước cho hàng trăm hecta đất nông nghiệp Các hồ này thường tạo với cảnh quan thiên nhiên tạo nên các khu du lịch sinh thái xung quanh Thị xã Sơn Tây
Vùng Sơn Tây có 2 dạng tồn tại nước dưới đất là nước lỗ hổng và khe nứt
e Đặc trưng khí hậu
Khí hậu của Sơn Tây nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, mưa và nóng vào mùa hè, khô và lạnh vào mùa đông Khí hậu Sơn Tây còn mang thêm khí hậu của vùng bán sơn địa, thuận tiện cho các cây ưa lạnh phát triển, thích hợp cho phát triển đa dạng sản xuất nông nghiệp và tạo ra các khu nghỉ dưỡng, du lịch khá tốt cho du khách
Nhiệt độ
Một đặc điểm rõ nét của khí hậu Sơn Tây là sự thay đổi và khác biệt của hai mùa nóng, lạnh Mùa nóng kéo dài từ tháng 5 tới tháng 9, kèm theo mưa nhiều, nhiệt độ trung bình 28,1 °C Từ tháng 11 tới tháng 3 năm sau là khí hậu của mùa
Trang 28đông với nhiệt độ trung bình 18,6 °C Cùng với hai thời kỳ chuyển tiếp vào tháng 4
và tháng 10 đã tạo ra đặc điểm khí hậu đặc trưng của Sơn Tây với 4 mùa: Xuân, Hạ, Thu và Đông
Độ ẩm và lượng mưa
Sơn Tây có độ ẩm và lượng mưa khá lớn, trung bình 139 ngày mưa một năm Mùa mưa diễn ra từ tháng 5 đến tháng 9, trong đó, lượng mưa trung bình lớn nhất là vào tháng 7 (lên đến 550.5 mm - năm 2009)
Chế độ gió
Sơn Tây có 2 hướng gió chủ đạo, đó là gió Đông Bắc (thổi vào mùa Đông) và gió Đông Nam (thổi vào mùa Hè) Bên cạnh đó, với 2 hướng gió chủ đạo nêu trên, nếu xảy ra vào đầu mùa Đông kèm theo hiện tượng nghịch nhiệt và hoạt động đốt rơm rạ của người dân khu vực ngoại thành thì sẽ là nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường không khí Thủ đô hết sức nghiêm trọng
Chế độ nắng
Khu vực Hà Nội nằm trong miền khí hậu nhiệt đới gió mùa, với lượng bức xạ tổng cộng trung bình năm khoảng 105 - 120 Kcal/cm2 và có số giờ nắng thuộc loại trung bình, đạt khoảng 1000 – 1.650 giờ/năm, trong đó tháng VI có số giờ nắng nhiều nhất đạt 200 - 220 giờ/tháng và tháng I, II có số giờ nắng ít nhất khoảng 25 -
45 giờ/ tháng Chế độ nắng cũng giống như chế độ nhiệt, nó ảnh hưởng đến tốc độ
và dạng phân huỷ các hợp chất hữu cơ và nồng độ ôxy hoà tan trong nước
1.6.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
a Dân số
Năm 2013, dân số trung bình của Thị xã là 134.928 người, năm 2014 ước khoảng 137.362 người, trong đó, phân theo khu vực : dân số khu vực thành thị chiếm khoảng 51,8%, khu vực nông thôn chiếm khoảng 48,2% Phân theo giới tính: Nam chiếm 51%, nữ 49% Tổng số hộ là 33.068 hộ, trong đó khu vực thành thị là 18.165 hộ – chiếm 54,9%, khu vực nông thôn là 14.903 hộ – chiếm 45,1% số hộ
Tỷ lệ tăng dân số trung bình năm 2013 là 2,05%, năm 2014 ước khoảng 2,02% Mật độ dân số trung bình năm 2014 là 1.210 người/km2
Tỷ lệ dân cư sống ở thành thị và nông thôn cũng không ngừng thay đổi Năm
2001 chỉ có 35,3% dân số Thị xã Sơn Tây sống ở thành thị, 64,7% còn lại sống ở
Trang 29nông thôn, nhưng đến năm 2015 tỉ lệ dân cư sống ở thành thị đã tăng lên 51,8%, còn tỉ lệ dân cư sống ở nông thôn chỉ còn 48,2%
Dân số tăng lên kèm theo tốc độ đô thị hoá, di dân và phát triển kinh tế - xã hội mạnh mẽ sẽ tạo ra sức ép lớn đối với môi trường
b Kinh tế
Nằm ở vị trí tương đối thuận lợi với hai tuyến đường chạy qua là Quốc lộ 21
và Quốc lộ 32 cùng hệ thống giao thông thủy và tiềm năng về phát triển du lịch – thương mại, mảnh đất Sơn Tây được đánh giá có nhiều lợi thế phát triển nền kinh tế
đa dạng Trong những năm qua, nhờ tận dụng và phát huy những lợi thế có được, kinh tế TX Sơn Tây có những bước chuyển mình rõ rệt Tốc độ tăng giá trị sản xuất bình quân/năm tăng 8,6% Cơ cấu kinh tế theo giá trị sản xuất đến hết tháng 6 năm
2015 là: Công nghiệp - xây dựng chiếm 45,9%; các ngành dịch vụ chiếm 40,5%; nông - lâm nghiệp, thuỷ sản chiếm 13,6% Thu nhập bình quân đầu người đến hết tháng 6 năm 2015 ước đạt 34 triệu đồng
Công nghiệp
- Tổng giá trị sản xuất công nghiệp - xây dựng từ năm 2011 đến hết tháng 6 năm 2015 ước thực hiện 13.781 tỷ đồng (theo giá so sánh), bình quân mỗi năm tăng 7,6%, đạt 77,8% so với kế hoạch 5 năm giai đoạn 2011-2015
- Về công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn: Triển khai thực hiện nhiều giải pháp để duy trì và thúc đẩy sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, đảm bảo cung ứng điện phục vụ sản xuất và tiêu dùng của nhân dân
- Về xây dựng đầu tư phát triển:Tổng vốn đầu tư phát triển xã hội từ năm 2011 đến hết tháng 6 năm 2015 trên địa bàn TX Sơn Tây ước khoảng 10.745,4 tỷ đồng, tăng gấp 2,8 lần so với giai đoạn trước (đạt 61% tổng nhu cầu vốn đầu tư giai đoạn 2011-2015 đặt ra)
Nông nghiệp
Tổng giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản từ năm 2011 đến hết tháng 6 năm 2015 ước thực hiện 3.865 tỷ đồng (theo giá so sánh), tăng bình quân 8,1%/năm, đạt 107,4% so với mục tiêu đặt ra
Giai đoạn 2011 – 2015 sản xuất nông nghiệp gặp nhiều khó khăn: Thời tiết, khí hậu biến đổi thất thường; diện tích đất nông nghiệp ngày càng giảm; trong chăn nuôi dịch bệnh luôn rình rập tái bùng phát; hệ thống công trình thủy lợi xuống cấp,
đê điều bị sạt lở ảnh hưởng đến an toàn công trình và đời sống nhân dân; tình hình
Trang 30suy giảm kinh tế cũng ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất nông nghiệp và đời sống nhân dân
Tổng diện tích gieo trồng vụ Xuân năm 2015 đạt 2.862,3 ha, bằng 100,6% so với năm 2014, trong đó: diện tích lúa 1.710 ha, năng suất lúa vụ xuân ước đạt 60tạ/ha
c Giao thông vận tải
Toàn bộ hệ thống đường bộ liên quan đến TX gồm có những đường chính sau:
- Quốc lộ 21A đi từ Xuân Mai Là trục đường có vị trí quan trong trong phát triển kinh tế - xã hội
- Quốc lộ 32 đi từ Trung Hà qua TX về Hà Nội Là tuyến đường lưu thông hàng hóa nông sản, tạo thuận lợi cho phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội
- Tỉnh lộ 87A đi từ TX lên Đá Chông
- Các tuyến đường xã, liên xã phường có tổng chiều dài 198,98 km; đến nay
đã được hoàn thiện với: 11,8 km đường bê tông nhựa; 42,81 km đường bê tông xi măng; 10,4 km đường gạch; 133,969 km đường đát, cấp phối
1.7 Công tác quản lý chất thải điện tử tại Thị xã Sơn Tây
Trong những năm qua, tại địa bàn TX Sơn Tây việc quản lý chất thải điện tử cũng không được chú trọng Một phần chất thải điện tử cùng với chất thải sinh hoạt được xử lý chung theo phương pháp chôn lấp gây ảnh hưởng tới môi trường Hầu hết các chất thải chỉ được thu mua tới các cơ sở mua bán phế liệu rồi bán cho các cơ sở tái chế làm nguyên liệu để phục vụ sản xuất, tuy nhiên sau khi phân loại thì một lượng lớn chất thải điện tử không đủ điều kiện tái chế sẽ được đưa tới các bãi rác để tiến hành xử lý, chủ yếu bằng phương pháp chôn lấp Chất thải điện tử thường được xử lý đơn giản chứ không có quy trình hay thiết bị chuyên dụng nào Một lượng chất thải điện tử được xử lý bằng phương pháp đốt gây mùi khó chịu, ảnh hưởng đến chất lượng không khí, việc chôn lấp chất thải không đúng quy trình
kĩ thuật cũng gây ra ô nhiễm môi trường đất, nước; ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khỏe người dân và sinh vật Trước những vấn đề đặt ra về tình hình phát sinh chất thải điện tử như vậy, nhưng thực tế tại TX chưa có một chính sách hay chỉ đạo chính thức nào trong quản lý loại chất thải nguy hại này Vì vậy các cơ quan quản quản lý cần vào cuộc để cải thiện tình hình quản lý chất thải điện tử như hiện nay để tránh những hậu quả khó lường có thể xảy ra trong tương lai
Trang 311.7.1 Quản lý nhà nước
Công tác quản lý nhà nước về chất thải điện tử được thể hiện trong sơ đồ Hình 1.5
Hình 1.5: Sơ đồ quản lý nhà nước về chất thải điện tử
(Nguồn: Đại học Bách Khoa, Quản lý chất thải nguy hại, 2011 [9])
1.7.2 Quản lý trực tiếp thu gom, vận chuyển, xử lý
Thực hiện các chương trình quản lý, thu gom, xử lý thuộc trách nhiệm công
ty CPMT và CTĐT Sơn Tây Mô hình quản lý như sau:
Bộ Công Thương
– Cơ quan xuất
nhập khẩu
Tổng cục Hải quan
Bộ Tài nguyên và Môi trường, Tổng cục Môi trường
Sở Tài nguyên và Môi trường
Cấp Quốc gia
Cấp Tỉnh, thành phố
Cấp huyện, Thị xã
Trang 32Hình 1.6: Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý công ty CPMT & CTĐT Sơn Tây
(Nguồn: Báo cáo thường niên công ty CPMT & CTĐT Sơn Tây, 2015 [10])
Tổ chức bộ máy của công ty đƣợc thực hiện theo Luật doanh nghiệp gồm: Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị, Ban giám đốc, Ban kiểm soát Ngoài ra, còn
có các phòng ban chức năng và đơn vị sản xuất trực thuộc gồm:
ĐẠI HỘI CỔ ĐÔNG
Đội chiếu sáng công cộng
Đội quản lý, duy trì công viên, cây
xanh Đội duy trì, quản lý và vận hành khu
xử lý rác
Đội VSMT Số 1
BAN KIỂM SOÁT
Đội quản lý xe - máy
Kinh doanh
Đội xây dựng, sửa chữa công trình