Vấn đề 1; Những vấn đề cơ bản về chủ nghĩa duy vật lịch sử.Vấn đề 2: Những vấn đề kinh tế chính trị của thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội.Vấn đề 3: Chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hộiVấn đề 4: Tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hộiVấn đề 5: Đảng cộng sản cầm quyền và phương thức lãnh đạo của Đảng trong điều kiện Đảng cầm quyềnVấn đề 6: Đảng lãnh đạo công cuộc đổi mới đất nước (1986 đến nay)
Trang 1ĐỀ CƯƠNG ÔN THI TỐT NGHIỆP LỚP TRUNG CẤP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH.
Nội dung ôn tập theo vấn đề
Bài thi thứ nhất
Vấn đề 1; Những vấn đề cơ bản về chủ nghĩa duy vật lịch sử
Vấn đề 2: Những vấn đề kinh tế chính trị của thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Vấn đề 3: Chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội
Vấn đề 4: Tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội
Vấn đề 5: Đảng cộng sản cầm quyền và phương thức lãnh đạo của Đảng trong điều kiện Đảng cầmquyền
Vấn đề 6: Đảng lãnh đạo công cuộc đổi mới đất nước (1986 đến nay)
Trang 2Vấn đề 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ
BẢN CỦA CHỦ NGHĨA
DUY VẬT LỊCH SỬ Câu1 : Trình bày nội dung quy luật QHSX
phù hợp với trình độ phát triển của LLSX?
Liên hệ với quá trình phát triển theo định
hướng XH ở Việt Nam?
Phương thức sx là cách thức con người
thực hiện quá trình sản xuất vật chất trong
từng giai đoạn lịch sử nhất định Ở 1 giai đoạn
LS, một hình thái KTXH nhất định có 1
phương thức sản xuất riêng PTSX bao gồm 2
mặt có quan hệ mật thiết với nhau: LLSX và
QHSX
LLSX: là sự thống nhất hữu cơ giữa người
LĐ vói TLSX, trước hết là công cụ LĐ
LLSX bao gồm người LĐ kết hợp vói
TLSX
TLSX là sự kết hợp của cơ cấu LĐ, đối
tượng LĐ và các phương tiện sản xuất khác
Trong các yếu tố của TLSX thì cơ cấu
LĐ là yếu tố quyết định nhất trong quá trình
sản xuất vật chất Cơ cấu LĐ là khí quan vật
chất “nối dài” nhân lên sức mạnh của con
người trong quá trình biến đổi tự nhiên Cơ
cấu LĐ là thước đo năng lực thực tiễn của con
người Trình độ của cơ cấu LĐ thể hiện trình
độ chinh phục tự nhiên của con người và là
yếu tố quyết định năng suất LĐ Là yếu tố
động nhất trong LLSX
Ngày nay, khoa học kỹ thuật đã trở thành
LLSX trực tiếp, nó thâm nhập vào các yếu tố
cau thành cửa LLSX tạo ra lượng hàng hóa phi
vật thể so với lao động thủ công
Trong LLSX, chủ nghĩa duy vật lịch sử
đánh giá cao vai trò của người LĐ và cơ cấu
LĐ Con người với tư cách là chủ thể của sản
xuất vật chất, luôn sáng tạo ra công cụ tác
động vào đối tượng LĐ để tạo ra của cải vật
chất Với ý nghĩa đó, người lao động là nhân
tố hàng đầu của LLSX
QHSX: Là quan hệ giữa người với
người trong sản xuất vật chất
QHSX được cấu thành từ các quan hệ
sở hữu về tư liệu SX, quan hệ tổ chức quản lý
và trao đổi hoạt động với nhau, quan hệ phân
phối sản phấm LĐ, trong đó quan hệ về sở
hữu tư liệu sản xuất giữ vai trò quyết định
QHSX được hình thành một cách khách quan
trên cơ sở một trình độ phát triển của LLSX
Trong các yếu tố cấu thành LLSX,quan hệ sở hữu đóng vai trò quyết định đối vớiquan hệ quản lý, quan hệ phân phối Ngượclại, quan hệ quản lý, quan hệ phân phối cũngtác động trở lại to lớn đến quan hệ sở hữu
Quy luật về sự phù hợp của QHSX vớitrình độ phát triển của LLSX:
Đây là một quy luật cơ bản của sự vậnđộng và phát triển của XH loài ngườỉ Nộidung của quy luật được thể hiện trên 3 điểmchủ yếu sau:
Một là: Biện chứng của LLSX vàQHSX là khách quan, vốn có của mọi quátrình sản xuất vật chất
Hai là: Trong mối quan hệ giữa LLSX vàQHSX thì LLSX giữ vai trò quyết định
Khuynh hướng của sản xuất hàng hóa
là không ngừng biến đổi theo chiều tiến bộ Sựbiến đổi đó xét cho đến cùng bao giờ cũng bắtđầu từ sự biến đổi và phát triển của LLSX,trước hết là cơ cấu lao động
QHSX phải phù hợp với trình độ pháttriển của LLSX Đây là sự phù hợp biệnchứng, sự phù hợp bao hàm mâu thuẫn Đây là
sự phù hợp giữa một yếu tố động (LLSX luônbiến đổi) với một yếu tố ổn định mang tínhtương đối (QHSX ổn định hơn, ít biến đổihơn) Khi LLSX phát triển, biến đổi thi QHSXtrở thành cái không phù hợp, kìm hãm LLSXphát trien, tạo ra mâu thuẫn trong quá trình đó,
là khách quan, phổ biến của mọi quá trình sx
Giải quyết mâu thuẫn giữa LLSX vàQHSX: Biện pháp thường xuyên là đổi mới, cảicách, điều chỉnh QHSX trước mỗi sự phát triểncủa LLSX Khi mâu thuẫn giữa LLSX vàQHSX trở lên gay gắt, không thể giải quyếtđược thông qua biện pháp cải cách, điều chỉnhđược nữa thì tất yếu phải xóa bỏ QHSX cũ, thiếtlập QHSX mới cho phù hợp với sự phát triểncủa LLSX
Mâu thuẫn giữa LLSX và QHSX biểuhiện trên phương diện XH là mâu thuẫn giaicấp và đấu tranh giai cấp Đấu tranh giai cấpđến đỉnh cao sẽ diễn ra một cuộc cách mạng
XH nhằm thay đổi chế độ xã hội
Ba là: Sự tác động trở lại của quan hệsản xuất với lực lượng sản xuất
QHSX được xây dựng trên cơ sở trình độphát triển của LLSX, do LLSX quyết định.Nhưng sau khi được xác lập, nó có sự tác độngtrở lại sự phát triển của LLSX
Trang 3QHSX quy định mục đích của sx, quy
định tổ chức, quản lý sản xuất và tác động trực
tiếp vào lợi ích các bên tham gia sx, từ đó hình
thành một hệ thống các yếu tố thúc đẩy hoặc
Trong xã hội có giai cấp đối kháng mâu
thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản
xuất biểu hiện thành mâu thuẫn giai cấp và chỉ
thông qua đấu tranh giai cấp mới giải quyết
được mâu thuẫn đó để đưa xã hội tiến lên
Quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản
xuất với tính chất và trình độ của lực lượng
sản xuất biểu hiện sự vận động nội tại của
phương thức sản xuất và biểu hiện tính tất yếu
của sự thay thế phương thức sản xuất này
bằng phương thức sản xuất khác cao hơn Quy
luật này là quy luật phổ biến tác động trong
mọi xã hội, làm cho xã hội loài người phát
triển từ thấp đến cao
- Sự vận dụng quy luật về sự phù hợp
của quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ
củạ lực lượng sản xuất ở nước ta
Trước thời kỳ đổi mới, trong nhận thức
và vận dụng quy luật này ở nước ta đã mắc
phải những lệch lạc sai lầm
Chủ trương xây dựng sớm một nền
kinh tế XHCN thuần nhất với 2 hình thức sở
hữu là sở hữu tư nhân và sở hữu tập thể trong
khi trình độ LLSX còn thấp kém và phát triển
không đồng đều là một chủ trương nóng vội,
chủ quan, duy ý chí Đó không phải là sự vận
dụng một cách sáng tạo quy luật như có thời
kỳ ta vẫn lầm tưởng mà là vi phạm quy luật,
làm trái quy luật khách quan
Từ những sai lầm về nhận thức đã dẫn
tới những sai lầm trong chỉ đạo thực tiễn đó là:
Xóa bỏ chế độ sở hữu tư nhân về TLSX một
cách ồ ạt trong khi chế độ đó đang tạo địa bàn
cho sự phát triển sản xuất Xây dựng chế độ
công hữu về TLSX một cách tràn lan trong khi
quản lý và cách thức phân phối chưa được giải
quyết một cách đúng đắn Sự tồn tại trong mộtthời gian khá dài QHSX thiếu đồng bộ đồcũng là hạn chế cần khắc phục
Những sai lầm chủ quan đã đẩy nềnkinh tế nước ta rơi vào tỉnh trạng trì trệ, khủnghoảng Ý thức được điều đó, thời kỳ đổi mớiĐảng ta đã chủ trương chuyển từ một nền kinh
tế thuần nhất XHXN sang nền kinh tế nhiềuthành phàn theo định hướng XHCN
Chủ trương phát triển kinh tế nhiều thànhphần ở nước ta là sự vận dụng một cách đúngđắn và sáng tạo quy luật QHSX phù hợp vớitrình độ phát triển LLSX Chủ trương đó trướchết bắt nguồn từ thực trạng trình độ phát triểnLLSX còn thấp kém và phát triển không đồngđều Để khai thác, phát huy được mọi năng lực,LLSX phải tạo lập nhiều loại hình QHSX thìmới phù hợp
Sự vận dụng đúng đắn, sáng tạo quyluật về sự phù hợp giữa QHSX với trình độphát triển của LLSX trong thời kỳ đổi mới đãlàm cho nền KT nước ta có những bước pháttriển vượt bậc Nen KT thoát khỏi tỉnh trạngkhủng hoảng, tạo đà cho sự phát triển, tốc độtăng trưởng cao
Quy luật QHSX phù hợp với trình độphát triển của LLSX là quy luật cơ bản của mọinền kinh tế Việc nhận thức đúng và vận dụngmột cách sáng tạo quy luật này có ý nghĩa đặcbiệt quan trọng đối với các nước đi lên CNXH
bỏ qua chế độ TBCN
Câu 2 Trình bày mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng (CSHT) và kiến trúc thượng tầng (KTTT)? Liên hệ với việc xây dựng CSHT và KTTT ở Việt Nam hiện nay?
CSHT là kết cấu kinh tế đa thành phầntrong đó có thành phần kinh tế quốc doanh,tập thể và nhiều thành kinh tế khác nhau Đây
là một kết cấu kinh tế năng động, phong phúđược phản chiếu trên nền KTTT và đặt ra đòihỏi khách quan là nền KTTT cũng phải đổimới để đáp ứng đòi hỏi của cơ sở kinh tế Do
đó, trong quá trình phát triển nền kinh tế nhiềuthành phần theo định hướng XH ở nước ta,cần vận dụng và quán triệt quan hệ biện chứnggiữa CSHT và KTTT Theo chủ nghĩa Mác-
Lê nin, “CSHT và KTTT có quan hệ biệnchứng không tách rời nhau, trong đó có CSHTgiữ vai trò quyết định KTTT Còn KTTT là
Trang 4phản ánh CSHT, nhưng nó có vai trò tác động
trở lại to lớn đối với CSHT đã sinh ra nó.”
CSHT: Là toàn bộ những quan hệ sản
xuất hợp thành cơ cấu kinh tế của một XH
nhất định CSHT của một xã hội bao gồm
quan hệ sản xuất thống trị, quan hệ sản xuất
tàn dư và quan hệ sản xuất mầm mống của xã
hội tương lai; trong đó quan hệ sản xuất thống
trị chiếm vị trí chủ đạo, chi phối các quan hệ
sản xuất khác, nó quy định xu hướng chung
của đời sống kinh tế - xã hội Như vậy, nó đã
phản ánh chức năng xã hội của các quan hệ
sản suất đúng tư cách là cơ sở kinh tế của các
hiện tượng xã hội Đồng thời, quan hệ sản
xuất là hình thức phát triển của lực lượng sản
xuất và hơp thành cơ sở kinh tế của xã hội, tức
là cơ sở hiện thực, trên đó hình thành nên
KTTT tương ứng
KTTT: Là toàn bộ những quan điểm:
chính trị, pháp quyền, đạo đức, triết học, tôn
giáo, nghệ thuật cùng với những thiết chế
XH tương ứng như nhà nước, đảng phái, giáo
hội, các đoàn thể xã hội được hình thành
trên một CSHT nhất định
Bởi vậy, KTTT là những hiện tượng xã
hội, biểu hiện tập trung đời sống tinh thần của
XH, là bộ mặt tinh thần tư tưởng của hình thái
kinh tế -xã hội Nó đóng vai trò quan trọng cùng
các bộ phận khác trong xã hội hợp thành cơ cấu
hoàn chỉnh của hình thái kinh tế - xã hội
Mối quan hệ biện chứng giữa CSHT
và KTTT XH
CSHT và KTTT là hai mặt thống nhất
biện chứng trong một hình thái KTXH
- Trong sự tác động biện chứng giữa
CSHT và KTTT thì CSHT quyết định của KTTT:
+ Trước hết, vai trò quyết định của
CSHT được thể hiện là ở chỗ: Mỗi CSHT sẽ
hình thành nên một KTTT tương ứng với nó
CSHT nào sinh ra KTTT ấy, và KTTT bao giờ
cũng phản ánh một CSHT nhất định
+ Trong XH có giai cấp, giai cấp nào
thống trị về kinh tế thì cũng chiếm địa vị
thống trị về mặt chính trị vả đời sống tinh thần
của XH
+ Vai trò quyết định của CSHT đối với
KTTT còn thể hiện ở chỗ những biến đổi căn
bản trong CSHT dẫn đến sự biến đổi căn bản
trong KTTT Mác viết: "Cơ sở kinh tế thay đổi
thì tất cả tất cả các KTTT đồ sộ cũng bị thay
đổi ít nhiều nhanh chóng”.Sự biến đổi của
KTTT diễn ra rõ rệt khi CSHT này thay thếCSHT khác Đó, xét cho cùng là sự phát triểncủa lực lượng sản xuất trong một XH có đốikháng giai cấp với đỉnh cao là cách mạng xãhội Trong sự biến đổi của CSHT và KTTT,không phải cứ CSHT mới xuất hiện thì KTTTmới mất đi ngay mà có bộ phận thay đổi dầndần chậm chạp Mặt khác cũng có những yếu
tố, những hình thức không cơ bản nào đó củaCSHT và KTTT cũ được giai cấp mới giữ lại,cải tạo để phục vụ cho yêu cầu phát triển củaCSHT và KTTT mới
- Vai trò tác động trở lại của KTTT đối
với CSHT:
+ Là một bộ phận cấu thành hình thànhkinh tế xã hội, được sinh ra và phát triển trênmột CSHT nhất định, cho nên sự tác động tíchcực của KTTT đối với CSHT được thể hiện ởchức năng xã hội của KTTT là luôn luôn bảo vệduy trì, củng cố và hoàn thiện CSHT sinh ra nó,đấu tranh xoá bỏ CSHT và KTTT đã lỗi thời lạchậu Nếu giai cấp thống trị không xác lập được
sự thống trị về chính trị và tư tưởng, cơ sở kinh
tế của nó không thể đứng vững được Vì vậy,KTTT thực sự trở thành công cụ, phương tiện
để duy trì, bảo vệ địa vị thống trị về kinh tế củagiai cấp thống trị của xã hội
+ Khi KTTT phù hợp với CSHT thìnhững tư tưởng chính trị phản ánh đúng tínhtất yếu kinh tế, thúc đẩy kinh tế phát triển,CSHT phát triển
+ Khi KTTT không phù hợp với CSHT,
sự tác động không phù hợp với các quy luậtkinh tế khách quan sẽ kìm hãm sự phát triểnnền kinh tế (thậm trí thúc đẩy nền KT rơi vàotình trạng khủng hoảng)
Nói tóm lại, mối quan hệ biện chứng
giữa CSHT và KTTT thực chất là mối quan hệgiữa kinh tế và chính trị, trong đó kinh tếquyết định chính trị và chính trị tác động trởlại đối với kinh tế
- Sự vận dụng mối quan hệ biện chứng giữa CSHT và KTTT ở nước ta
Việc xây dựng CSHT và KTTT trongthời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta phải đượctiến hành từng bước với những hình thức,bước đi thích hợp
QH giữa CSHT và KTTT thực chất làmối quan hệ giữa kinh tế và chính trị và trongmối quan hệ này thì kinh tế quyết định chínhtrị và chính trị là biểu hiện tập trung của kinh
Trang 5tế Chính vì vậy khi vận dụng quan điểm biện
chứng này phải xuất phát từ kinh tế, từ những
quy luật kinh tế khách quan, đồng thời phải
coi trọng vai trò của chính trị, tính năng động
sáng tạo của chính trị trong việc vạn dụng các
quy luật kinh tế khách quan Tuyệt đối hóa
mặt nào đó đều dẫn đến sai lầm
Trong đổi mới, nước ta vận dụng một
cách sáng tạo mối quan hệ biện chứng giữa
CSHT và KTTT, đổi mới một cách đồng bộ
với những bước đi thích hợp giữa kinh tế và
chính trị đã giành được nhiều thành tựu to lớn:
CNXH được giữ vững, kinh tế phát triển, tiến
bộ XH được biểu hiện một cách rõ rệt
Cơ sở hạ tầng ở nước ta bao gồm các
thành phần kinh tế như: kinh tế nhà nước, kinh
tế họp tác, kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế cá
thể, kinh tế tư bản tư nhân, cùng các kiếu quan
hệ sản xuất gắn liền với hình thức sở hữu khác
nhau, thậm chí đối lập nhau cùng tồn tại trong
một cơ cấu kinh tế quốc dân thống nhất Đó là
nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo
định hướng xã hội chủ nghĩa
Các thành phần đó vừa khác nhau về
vai trò, chức năng, tính chất, lại vừa thống
nhất với nhau trong một cơ cấu kinh tế quốc
dân thống nhất, chúng vừa cạnh tranh nhau,
vừa liên kết với nhau, bổ xung với nhau
Để định hướng xã hội chủ nghĩa đối với
các thành phần kinh tế này, nhà nước phải sử
dụng tổng thể các biện pháp kinh tế hành
chính và giáo dục Trong đó biện pháp kinh tế
có vai trò; quan trọng nhất nhằm từng bước xã
hội hoá nền sản xuất với hình thức và bước đi
thích hợp theo hướng: kinh tế quốc doanh
được củng cố và phát triển vươn lên giữ vai
trò chủ đạo, kinh tế tập thể dưới hình thức thu
hút phần lớn những người sản xuất nhỏ trong
các ngành nghề, các hình thức xí nghiệp , công
ty cổ phần phát triển mạnh, kinh tế tư nhân và
gia đình phát huy được mọi tiềm năng để phát
triển lực lượng sản xuất, xây dựng cơ sở kinh
tế hợp lý
Trong văn kiện Hội nghị đại biểu Đảng
giữa nhiệm kỳ khoá VII, Đảng ghi rõ “phải tập
chung nguồn vốn đầu tư nhà nước cho việc
xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội và một
số công trình công nghiệp then chốt đã được
chuẩn bị vốn và công nghệ Nâng cấp và xây
dựng mới hệ thống giao thông, sân bay, bến
cảng, thông tin liên lạc, giáo dục và đào tạo, y
tế ” Đồng thời văn kiện Đảng cũng ghi rõ: Từnay tới cuối thập kỷ, phải quan tâm tới côngnghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và kinh
tế nông thôn, phát triển toàn diện nông, lâm,ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biếnnông lâm thuỷ sản, công nghiệp sản xuất hàngtiêu dùng và hàng xuất khẩu”
Về kiến trúc thượng tầng, Đảng takhẳng định: Lấy chủ nghĩa Mác-Lê nin và tưtưởng Hồ Chí Minh làm kim chỉ nam cho mọihành động của toàn Đảng, toàn dân ta Nộidung cốt lõi của chủ nghĩa Mác-Lênin và tưtưởng Hồ Chí Minh là tư tưởng về sự giảiphóng con người khỏi chế độ bóc lột thoátkhỏi nỗi nhục của mình là đi làm thuê bị đánhđập, lương ít
Bởi vậy, trong sự nghiệp xây dựng chủnghĩa xã hội của nhân dân ta, việc giáo dụctruyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin tư tưởng HồChí Minh trở thành tư tưởng chủ đạo trong đờisống tinh thần của xã hội là việc làm thườngxuyên, liên tục của cuộc cách mạng xã hội chủnghĩa trên lĩnh vực kiến trúc thượng tầng
Xây dựng hệ thống chính trị, xã hội chủnghĩa mang bản chất giai cấp công nhân, doĐảng cộng sản lãnh đạo đảm bảo cho nhândân là người chủ thực sự của xã hội Toàn bộquyền lực của xã hội thuộc về nhân dân thựchiện dân chủ xã hội chủ nghĩa đảm bảo pháthuy mọi khả năng sáng tạo, tích cực chủ độngcủa mọi cá nhân
Trong cương lĩnh xây dựng đất nướcthời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Đảng ghi
rõ : ”xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa, nhànước của dân, do dân và vì dân, liên minh giaicấp công nhân với giai cấp nông dân và tầnglớp trí thức làm nền tảng, do Đảng cộng sảnlãnh đạo Như vậy, tất cả các tổ chức, bộ máytạo thành hệ thống chính trị - xã hội không tồntại như một mục đích tư nhân mà vì phục vụcon người, thực hiện cho được lợi ích vàquyền lợi thuộc về nhân dân lao động
Hướng tới mục tiêu dân giàu nướcmạnh, xã hội công bằng văn minh, nắm vữngphép biện chứng giữa CSHT và KTTT, giữađổi mới kinh tế và chính trị, vận dụng sáng tạonhững chủ chương, đường lối của Đảng thìcho dù con đường trước mắt có đầy trông gainhưng nhất định chúng ta sẽ giành thắng lợitrong công cuộc đổi mới của đất nước
Trang 6Câu 3: Vì sao sự phát triển của các hình thái
kinh tế - xã hội là một quá trình lịch sử tự
nhiên? Liên hệ với quá trình phát triễn theo
định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
Khái niệm hình thái kinh tế - xã hội: Hình
thái kinh tế - xã hội là một phạm trù của chủ
nghĩa duy vật lịch sử dùng để chỉ xã hội ở từng
giai đoạn phát triển lịch sử nhất định, với những
quan hệ sản xuất của nó (cơ sở hạ tầng) thích
ứng với lực lượng sản xuất ở một trình độ nhất
định và với một kiến trúc thượng tầng được xây
dựng trên những quan hệ sản xuất đó
Hình thái kinh tế - xã hội là một hệ
thống, một chỉnh thể toàn vẹn có cơ cấu phức
tạp, trong đó có những mặt cơ bản nhất là lực
lượng sản xuất, quan hệ sản xuất và kiến trúc
thượng tầng
Lực lượng sản xuất - là quan hệ giữa
người với tự nhiên trong quá trình sản xuất - là
nền tảng vật chất - kỹ thuật của mỗi hình thái
kinh tế-xã hội Xét đến cùng, lực lượng sản
xuất quyết định sự hình thành và phát triển của
mỗi hình thái kinh tế - xã hội Bản thân các
lực lượng sản xuất không phải là sản phẩm
riêng của một thời đại nào mà là sản phẩm của
cả một quá trình phát triển liên tục từ thấp lên
cao qua các thời đại là sự tiếp biến không
ngừng của lịch sử
Quan hệ sản xuất - quan hệ giữa người
và người trong quá trình sản xuất - là những
quan hệ cơ bản, ban đầu và quyết định tất cả các
quan hệ xã hội khác, không có những mối quan
hệ đó thì không thành xã hội và không có quy
luật xã hội Quan hệ sản xuất là tiêu chuẩn
khách quan để phân biệt xã hội cụ thể này với
xã hội cụ thể khác
Những quan hệ sản xuất là bộ xương của
cơ thể xã hội hợp thành cơ sở hạ tầng và trên đó
dựng lên một kiến trúc thượng tầng tương ứng
mà chức năng xã hội của nó là bảo vệ, duy trì và
phát triển cơ sở hạ tầng sinh ra nó
Ngoài các quan hệ cơ bản: lực lượng sản
xuất, quan hệ sản xuất, kiến trúc thượng tầng,
trong mỗi hình thái kinh tế-xã hội còn có những
quan hệ dân tộc, gia đình,
Quá trình lịch sử - tự nhiên của sự
phát triển các hình thái kinh tế - xã hội.
XH phát triển trải qua nhiều giai đoạn kế
tiếp nhau, ứng với một giai đoạn của sự phát
triển là một hình thái kinh tế xã hội Đứng trên
lập trường duy vật lịch sử, CN Mác - lenin
khẳng đinh “sự phát triển của những hình tháiKTXH là một quá trình lịch suwe- tự nhiên.Khẳng định đó dựa trên những căn cứ sau:
Một là, sản xuất vật chất là cơ sở, nền
tảng của sự tồn tại, vận động và phát triển cáchình thái kinh tế - xã hội
Con người làm ra lịch sử của mình, tạo
ra các quan hệ xã hội của mình, nhưng khôngphải một cách chủ quan tùy tiện mà trên nềntảng sản xuất vật chất trong nước và trên thếgiới Hay nói cách khác, con người không được
tự do lựa chọn hình thái kinh tế xã hội của mình.Con người được lựa chọn hình thái này hay hìnhthái khác nhưng trên cơ sở nền tảng sản xuất vậtchất trong nước và trên thế giới
VD: VN muốn xây dựng XHCN nhưngsản xuất vật chất hiện nay của chứng ta chưacho phép mà còn phải quá độ một thời gianlâu dài nữa
Hai là, sự vận động, phát triển của các
hình thái kinh tế xã hội, sự chuyển biến từhình thái này sang hình thái khác bị chi phốibởi các quy luật khách quan
Con người không thể sáng tạo ra quyluật, cũng không thể xóa bỏ quy luật một khiquy luật còn tồn tại Vai trò của con người lànhận thức và vận dụng quy luật khách quan
Sự vận động, phát triển các hình tháikinh tế - xã hội chịu sự chi phối của các quyluật xã hội Trong đó, quy luật về sự phù hợpcủa quan hệ sản xuất với trình độ phát triểncủa lực lượng sản xuất, biện chứng giữa cơ sở
hạ tầng và kiến trúc thượng tầng là những quyluật cơ bản nhất
Loài người đã trải qua năm hĩnh tháikinh tế - xã hội theo trật tự từ thấp đến cao Đó
là quá trình phát triển tuần tự của sự phát triểnlịch sử Song đối vói mỗi nước cụ thể do điềukiện lịch sử khách quan có thể “bỏ qua” mộthoặc vài hình thái kinh tế - xã hội Nhân loại
đã chứng kiến nhiều nước do điều kiện lịch sửcủa mình đã bỏ qua một, hai hình thái kinh tế -
xã hội nào đó tiến lên giai đoạn lịch sử caohơn dưới hình thức này hay hĩnh thức khác Ví
dụ Mỹ, Bờraxin tiến thẳng từ chế độ chiếmhữu nô lệ lên TBCN không qua phong kiến
Ý nghĩa thời đại của học thuyết hình thái kinh tế - xã hội
Học thuyết hình thái kinh tế - xã hộikhông những chỉ ra được các nấc thang của sựphát triển lịch sử xã hội với những chế độ xã
Trang 7hội tồn tại như một chỉnh thể, như một cơ thể
sống, mà còn vạch ra những quy luật chi phối
sự tồn tại vận động của các hình thái kinh tế
xã hội Do vậy, học thuyết mang tính khoa học
và có ý nghĩa thực tiễn to lớn mà chưa có một
học thuyết nào có thế vượt qua
Vài thập kỷ gần đây xuất hiện một cách
tiếp cận mới của Anvin Tôplơ (Sự đụng độ
của các nền văn minh) - cách tiếp cận thông
qua các nền văn minh, cách tiếp cận này có ý
nghĩa nhất định, nhưng vẫn không thể thay thế
được cách tiếp cận thông qua các hình thái
kinh tế - xã hội
Liên hệ với quá trình phát triển theo
định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
Lý luận của chủ nghĩa Mác đã khẳng
định: các quốc gia dân tộc có thể phát triển
tuần tự theo các hình thái kinh tế - xã hội nối
tiếp nhau từ cộng sản nguyên thủy đến cộng
sản chủ nghĩa, song căn cứ vào điều kiện lịch
sử cụ thế mà các quốc gia có thể bỏ qua một
hay một vài hình thái kinh tế - xã hội
Theo Lê nin, có hai hình thức quá độ:
quá độ trực tiếp và quá độ gián tiếp Lê nin
cho rằng, những nước mà củ nghĩa tư bản đã
phát triển thì có thể đi lên CNXH bằng quá độ
trực tiếp Ngược lại, những nước lạc hậu có
thể đi lên CNXH bằng quá độ gián tiếp Thực
chất, đó là sự bỏ qua TBCN tiến thẳng lên con
đường XHCN
Việc lựa chọn con đường tiến lên
CNXH bỏ qua chế độ TBCN ở nước ta là một
tất yếu lịch sử Đảng ta khẳng định con đường
phát triển của nước ta như vậy dựa trên căn cứ
như sau:
Một là, chỉ có CNXH mới giải phóng
được nhân dân lao động thoát khỏi áp bức, bóc
lột, bất công đem lại cuộc sống ấm no, hạnh
phúc cho nhân dân
Hai là, thắng lợi của Cách mạng tháng
Mười Nga năm 1917 đã mở ra một thời đại
mới, tạo khả năng thực hiện cho các dân tộc
lạc hậu tiến lên con đường XHCN
Sự lựa chọn con đường phát triển của
nước ta không mâu thuẫn với quá trình phát
triển tự nhiên của CNXH, không mâu thuẫn
với hình thái kinh tế - xã hội của chủ nghĩa
Mác - Lê nin Trong điều kiện cụ thể, sự lựa
chọn ấy chính là sự lựa chọn con đường rút
ngắn bỏ qua chế độ TBCN
Nước ta quá độ lên CNXH trong điềukiện hết sức khó khăn, thử thách Dân số TRên80% sống bằng nông nghiệp, cơ sở vật chất -
kĩ thuật của CNXH hầu như không có Vậndụng chủ nghĩa Mác - Lê nin vào hoàn cảnh
cụ thể của nước ta, Đảng ta khẳng định độclập dân tộc phải gắn liền với CNXH ViệcĐảng ta luôn kiên định con đường tiến lênCNXH là phù hợp với quy luật tiến hóa củalịch sử, xu hướng của thời đại và điều kiện cụthể của đất nước
Xã hội mà nhân dân ta xây dựng là một
xã hội của dân, do dân và vì dân, có một nềnkinh tế phát triển dựa trên lực lượng sản xuấttiến bộ và chế độ công hữu về tư liệu sản xuất,
có nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc, conngười được giải phóng, hưởng cuộc sống hanhphúc, phát triển về mọi mặt, các dân tộc anh
em chung sống hòa bình, đoàn kết và hơp tác,hữu nghị với nhân dân các nước trên thế giới
Bỏ qua chế độ TBCN là bỏ qua quan hệ sảnxuất và kiến trúc thượng tầng của TBCNnhưng tiếp ứiu những thành tựu đạt được dướichế độ TBCN, nhất là khoa học - công nghệ
để phát triển nhanh lực lượng sản xuất và nềnkinh tế hiện đại
Hiện nay, nước ta vẫn đang trong giaiđoạn quá độ lên XHCN Do vậy, điều kiện vàhoàn cảnh đó đã đặt ra cho nước ta nhữngnhiệm vụ hết sức khó khăn
Nước ta tiến lên CNXH từ một nền kinh
tế phổ biến là sản xuất nhỏ, lao động thủ công làphổ biến Muốn thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậunhanh chóng đạt tới một nước phát triển, tất yếuphải đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiệnđại hóa như là một cuộc cách mạng toàn diện vàsâu sắc Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước
ta nhằm xây dựng và thiết lập cơ sở vật chất - kĩthuật cho CNXH Đó là nhiệm vụ trọng tâmtrong suốt thời kì quá độ tiến lên CNXH ở nước
ta Có thể nói, những lý luận cơ bản trong họcthuyết của Mác về hình thái kinh tế - xã hộichính là cơ sở lý luận cho phép chúng ta khẳngđịnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ởnước ta hiện nay là phù hợp với quy luật kháchquan trong quá trình phát trien của dân tộc, củathời đại
Đại hội VIII của Đảng đã khẳng định:Xây dựng nước ta thành một nước côngnghiệp có cơ sở vật chất - kĩ thuật hiện đại, có
cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ
Trang 8phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng
sản xuất Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
của Đảng ta đã ghi rõ: Con đường công nghiệp
hóa, hiện đại hóa của nước ta cần và có thể rút
ngắn thời gian, vừa có tuần tự vừa có nhảy
vọt Phát huy những lợi thế của đất nước, tận
dụng mọi khả năng để đạt được trình độ tiên
tiến, từng bước phát triển kinh tế tri thức Phát
huy nguồn lực trí tuệ và sức mạnh tinh thần
của người Việt Nam, coi phát triển giáo dục và
đào tạo, khoa học và công nghệ là nền tảng và
động lực của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện
đại hóa
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
tạo nên lực lượng sản xuất cần thiết cho chế
độ mới thì chúng ta phải chú trọng xây dựng
quan hệ sản xuất mới cho phù hợp với tính
chất và trình độ phát triển của lực lượng sản
xuất Muốn vậy, chúng ta phải chú trọng xây
dựng và phát triển nền kinh tế thị trường theo
định hướng XHCN Xây dựng và phát ừiển
nền kinh tế thị trường định hướng XHCN vừa
phù hợp với xu thế phát triển chung của nhân
loại, vừa phù hợp với yêu cầu phát triển của
nước ta, với yêu cầu của quá trình xây dựng
nền kinh tế độc lập, tự chủ kết hợp với chủ
động hội nhập kinh tế thế giới Điều này đã
được Đảng ta khẳng định: “Mục đích của nền
kinh tế thị trường định hướng XHCN là phát
triển lực lượng sản xuất, phát triển kinh tế để
xây dựng cơ sở vật chất - kĩ thuật của CNXH,
nâng cao đời sống nhân dân”
Câu 4: Phân tích định nghĩa giai cấp của
Lênin? Nguồn gốc của sự xuất hiện giai cấp?
Trong tác phẩm “Sáng kiến vĩ đại”
Lênin đã định nghĩa về giai cấp như sau:
“Người ta gọi là giai cấp, những tập đoàn to
lớn gồm những người khác nhau về địa vị của
họ trong một hệ thống sản xuất xã hội nhất
định trong lịch sử; khác nhau về quan hệ của
họ (thường thường những quan hệ này được
pháp luật quy định và thừa nhận) đối với
những tư liệu sản xuất; về vai trò của họ trong
tổ chức lao động xã hội và như vậy là khác
nhau về cách thức hưởng thụ và về phần của
cải xã hội ít hoặc nhiều mà họ được hưởng
Giai cấp là những tập đoàn người mà tập đoàn
này thì có thể chiếm đoạt lao động của tập
đoàn khác do chỗ các tập đoàn đó có địa vị
khác nhau trong một chế độ kinh tế, xã hộinhất định”
Từ định nghĩa của Lênin, ta có thể rút
ra những đặc trưng cơ bản về giai cấp sau đây:
- Giai cấp là những tập đoàn người to lớn có địa vị khác nhau trong một hệ thống sản xuất xã hội nhất định.
Điều này có nghĩa là sự phân chia giaicấp gắn liền vói hệ thống sản xuất xã hội nhấtđịnh Trong xã hội, có những hệ thống sảnxuất chứa đựng trong lòng nó những yếu tốlàm nảy sinh giai cấp như hệ thống sản xuất xãhội nô lệ, hệ thống sản xuất xã hội phong kiến,
hệ thống sản xuất tư bản chủ nghĩa Ngược lại,
có những hệ thống sản xuất xã hội không chứađựng trong lòng nó những yếu tố phân chiagiai cấp như hệ thống sản xuất xã hội cộng sảnnguvên thủy, hệ thống sản xuất của xã hộicộng sản chủ nghĩa mà giai đoạn đầu gọi làchủ nghĩa xã hội
Hệ thống sản xuất xã hội quy định địa
vị của các giai cấp, có giai cấp giữ địa vịthống trị, có giai cấp giữ địa vị bị thống trị.Trong các xã hội như nô lệ, phong kiến, tư bảnchủ nghĩa thỉ có giai cấp thống trị và giai cấp
bị thống trị Ngược lại, trong các hệ thống sảnxuất xã hội như cộng sản nguyên thủy, cộngsản chủ nghĩa thì mọi người bình đẳng, không
có giai cấp nên không có cái gọi là giai cấpthống tri và giai cấp bị thống trị Những giaicấp có địa vị thống trị hay không có địa vịthống trị nền sản xuất xã hội là do các giai cấpchiếm đoạt được, hay không chiếm đoạt đượcnhững tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội.Nghĩa là chế độ sỡ hữu về tư liệu sản xuất quyđịnh địa vị của các giai cấp trong nền sản xuất
đó, còn các giai cấp khác không có quyền sởhữu đó thì quan hệ giữa các giai cấp là hoàntoàn bất bình đẳng Nghĩa là giai cấp nàochiếm đoạt được những tư liệu sản xuất chủyếu của xã hội thì giai cấp ấy sẽ giữ quyềnthống trị nền sản xuất xã hội, giữ quyền tổchức quản lý sản xuất và cùng giữ quyền phânphối sản phẩm do xã hội tạo ra Đây chính làvấn đề đã được nêu ra là: giai cấp xuất hiện do
Trang 9nguyên nhân kinh tế mà trực tiếp là do chế độ
sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất quy định
Đây là đặc trưng không chỉ vạch ra nguồn gốc
ra đời của giai cấp mà còn là đặc trưng chi
phối các đặc trưng khác
- Các giai cấp có vai trò khác nhau
trong việc tổ chức lao động xã hội
Đặc trưng này cũng do đặc trưng thứ
hai nói trên quy đinh Nghĩa là trong xã hội,
giai cấp nào chiếm đoạt những tư liệu sản xuất
chủ yếu của xã hội thì giai cấp ấy sẽ giữ lây
quyền tổ chức, quản lý nền sản xuất xã hội,
còn những giai cấp không có tư liệu sản xuất
thì chỉ là những giai cấp làm thuê bán sức lao
động mà thôi
- Các giai cấp có những phương thức
và qui mô thực tiễn nhập khác nhau về của
cải của XH.
Đặc trưng này cũng do đặc trưng thứ
hai quy định Nghĩa là trong xã hội, giai cấp
nào chiếm đoạt những tư liệu sản xuất chủ yếu
của xã hội thì giai cấp ấy không những giữ địa
vị thống trị hệ thống sản xuất xã hội, giữ lấy
quyền tổ chức, quản lý sản xuất, mà còn giữ
quyền phân phối sản phẩm
Bốn đặc trưng cơ bản nêu trên có quan
hệ biện chứng với nhau, trong đó đặc trưng
thứ hai là cơ bản nhất Thiếu một trong bốn
đặc trưng, nhất là đặc trưng hai thì không thể
giải thích đúng về giai cấp
Có thể liên hệ thực tiễn ở Viêt nam
Ở nước ta hiện nay đang thực hiện sự
quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư
bản chủ nghĩa Quá trình đó nhất thiết phải
phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành
phần với nhiều hình thức sở hữu về tư liệu sản
xuất khác nhau, trong đó có thành phần kinh tế
tư bản tư nhân mà theo cách nói của Lênin là
sử dụng chủ nghĩa tư bản Nhà nước làm khâu
trung gian để đưa nền sản xuất nhỏ đi lên xã
hội chủ nghĩa Song cần thấy rằng sở hữu toàn
dân và sở hữu tập thể vẫn là sở hữu cơ bản
chiếm ưu thế so với hình thức sở hữu khác
Tất cả các thành phần kinh tế quốc doanh,
kinh tế hợp tác, cá thể và tư bản tư nhân,., đều
tồn tại bình đẳng và hoạt động ừong khuôn
khổ chính sách, pháp luật của Nhà nước, theo
định hướng xã hội chủ nghĩa
Trong xã hội nguyên thuỷ, khi lực lượngsản xuất còn thấp kém, công cụ sản xuất thô sơnhư cành cây, hòn đá, cung tên con người chỉsản xuất đủ để tồn tại, duy trì nòi giống, chưa cósản phẩm dư thừa tương đối thì chưa xuất hiệnkhả năng chiếm đoạt, xã hội chưa có giai cấp.Con người thời kỳ này phải nương tựa vào nhautheo bầy đàn, quan hệ bình đẳng : cùng hợp tácsản xuất, cùng hưởng thụ
Khi công cụ sản xuất phát triển lên mộtbước mới - công cụ sản xuất bằng kim loạixuất hiện làm cho sản xuất phát triển, năngsuất lao động tăng lên Ngoài việc con ngườisản xuất ra một lượng của cải vật chất đủ dùng(tối thiểu) còn một số dự trữ (gọi là của dưtương đối), làm xuất hiện khả năng chiếm đoạtcủa dư đó, tức là xuất hiện khả năng ngườinày chiếm đoạt lao động của người khác Việcxuất hiện công cụ sản xuất mới cho phép sảnxuất cá thể ở từng gia đình có hiệu quả hơn sovới sản xuất tập trung tập thể nguyên thủy.Lực lượng sản xuất phát triển dẫn đến sự phâncông lao động xã hội thủ công nghiệp táchkhỏi nông nghiệp Trao đổi sản phẩm diễn rathường xuyên hơn Quan hệ sản xuất cộngđồng nguyên thủy không còn phù hợp vớitrình độ phát triến của lực lượng sản xuất.Trong xã hội xuất hiện càng nhiều gia đình cótài sản riêng, xuất hiện sự chênh lệch về tàisản Chế độ công hữu nguyên thủy về tư liệusản xuất dần bị thay thế bằng chế độ tư hữu về
tư liệu sản xuất
Trong điều kiện ấy, những người cóquyền lợi trong thị tộc, bộ lạc chiếm đoạt tàisản của công xã thành của riêng, nắm quyềnphân công lao động và phân phối sản phẩm,trở thành giai cấp thống trị đầu tiên : giai cấpchủ nô
Do của cải dư thừa, tù binh bắt đượctrong các cuộc chiến tranh không bị giết nhưtrước Họ được sử dụng phục vụ những ngườigiàu có và có địa vị trong xã hội Chế độ cógiai cấp chính thức ra đời từ đó Lực lượng nô
lệ được bổ sung bằng những người làm ăn
Trang 10thua lỗ, nợ không trả được và họ trở thành giai
cấp bị tri đầu tiên trong lịch sử Xã hội chiếm
hữu nô lệ là xã hội có giai cấp đầu tiên trong
lịch sử Chủ nô và nô lệ là hai giai cấp đối
kháng trong xã hội này
Như vậy, sự xuất hiện giai cấp gắn liền
với nguồn gốc kinh tế của dư tương đối là khả
năng khách quan, chế độ tư hữu tư liệu sản
xuất là cơ sở trực tiếp của xuất hiện giai cấp
Sự tồn tại các giai cấp đối kháng gắn liền với
chế độ chiếm hữu nô lệ, chế độ phong kiến và
ché độ tư bản chủ nghĩa Chế độ tư hữu tồn tại
hàng ngàn năm trong điều kiện cơ bản: lực
lượng sản xuât phát triên cao, đã tạo ra sản
phâm thặng dư nhưng chưa đạt tới mức thoả
mãn nhu cầu vật chất của con người Sự phát
triển rất cao của lực lượng sản xuất sẽ làm cho
mất đi của giai cấp mang tính tất yếu nhưng
lực lượng sản xuất không là điều kiện duy
nhất cho sự mất đi của giai cấp mà còn phải có
sự phát triển cao và toàn diện của con người
Câu 5: Thực chất của đấu tranh giai cấp?
vấn đề đấu tranh giai cấp trong thời kì quá
độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay?
* Đấu tranh giai cấp:
Trong xã hội có giai cấp, giai cấp thống
tri tiến hành chiếm đoạt lao động của các giai
cấp và tầng lóp bị trị, chiếm đoạt của cải xã
hội vào tay giai cấp mình Ngược lại, các giai
cấp và tầng lớp bị trị không những bị chiếm
đoạt lao động mà còn bị áp bức về chính tri xã
hội và tinh thần Sự bất bình đẳng giữa giai
cấp thống trị và giai cấp bị trị phát triển cao
Sự bất bình đẳng đó tất yếu dẫn đến đấu tranh
giai cap V.I Lênin đã định nghĩa đấu tranh
giai cấp: “là cuộc đấu tranh của một bộ phận
nhân dân này chống lại một bộ phận nhân dân
khác, cuộc đấu tranh của quần chúng bị tước
hết quyền bị áp bức và lao động chống lại bọn
có đặc quyền, đặc lợi, bọn áp bức và bọn ăn
bám, cuộc đấu tranh của những người công
nhân làm thuê hay những người vô sản chống
những người hữu sản hay giai cấp tư sản”
Thực chất của đấu tranh giai cấp: Là
cuộc đấu tranh để giải quyết mâu thuẫn về mặt
lợi ích giữa quần chúng bị áp bức, vô sản làm
thuê chống lại giai cấp thống trị, bóc lột đế
giải phóng lao động, làm cho SX phát triển
Vai trò của đấu tranh giai cấp: Đấu
tranh giai cấp là một trong những động lực
phát triển của XH có giai cấp Đấu tranh giaicấp có tác dụng cải tạo XH, xóa bỏ các lựclượng XH phản động, kìm hãm XH phát triển
và cải tạo bản thân giai cấp cách mạng TheoMác- Angghen, cuộc đấu tranh giữa giai cấp
vô sản và tư sản là đòn bẩy vĩ đại của cuộcCMXH hiện đại
* Đấu tranh giai cấp trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam hiện nay
Ở Việt Nam, đấu tranh giai cấp tronggiai đoạn quá độ hiện nay cũng là tất yếu
Thực chất đấu tranh giai cấp ở VN hiệnnay là đấu tranh chống khuynh hướng tự phátTBCN và các thế lực thù địch với ĐLDT vàCNXH
Đấu tranh giai cấp ở Việt Nam diễn ratrong điều kiện mới: cơ cấu giai cấp, vị trí giaicấp thay đổi dẫn đến quan hệ giữa các giai cấpcũng có sự thay đổi Mục tiêu của đấu tranhgiai cấp ở Việt Nam: độc lập dân tộc gắn liềnvói chủ nghĩa xã hội, dân giàu, nước mạnh, xãhội công bằng, dân chủ, văn minh Vì vậy, đấutranh giai cấp ở Việt Nam diễn ra với nhiềuhình thức nhưng nổi bật lên là đấu tranh giảiquyết mâu thuẫn giữa một bên là quần chúngnhân dân lao động, các lực lượng xã hội đitheo con đường dẫn tới mục tiêu: dân giàu,nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, vănminh, đoàn kết trong mặt trận thống nhất doĐảng cộng sản lãnh đạo với một bên là các thếlực, các tổ chức, các phần tử chống độc lậpdân tộc và chủ nghĩa xã hội Gác thế lực phảnđộng trong nước cấu kết với các thế lực phảnđộng quốc tế sử dụng “Âm mưu diễn biến hoàbình” hòng thủ tiêu sự lãnh đạo của Đảngcộng sản đối với xã hội đi đến chỗ lật đổ chế
độ xã hội
Đấu tranh giai cấp ở nước ta còn thểhiện ở “cuộc đấu tranh giữa hai con đường xãhội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa" Đó làcuộc đấu tranh giữa các nhân tố thúc đẩy đấtnước đi theo con đường xã hội chủ nghĩachống lại các nhân tố thúc đẩy đất nướcchuyển dịch theo hướng tư bản chủ nghĩa
Cuộc đấu tranh giai cấp hiện nay ở ViệtNam gắn liền với cuộc đấu tranh bảo vệ độclập dân tộc, chống áp bức bất công, chốngnghèo nàn, lạc hậu Cuộc đấu tranh đó diễn rahàng ngày, hàng giờ, diễn ra trên các tất cả cáclĩnh vực của đời sống xã hội, trước hết là lĩnhvực kinh tế và lĩnh vực ứật tự xã hội Trong cơ
Trang 11cấu giai cấp - xã hội ở Việt Nam hiện nay,
ngoài giai cấp công nhân, nông dân và tầng
lớp trí thức và các tầng lớp nhân dân ỉao động
khác, còn có bộ phận tư sản, do đó, sẽ có mâu
thuẫn giữa người lao động làm thuê với tầng
lớp tư sản, còn có mâu thuẫn giữa sự phát
triển theo đinh hướng xã hội chủ nghĩa với
khuynh hướng tự phát lên chủ nghĩa tư bản
của tư bản tư nhân
Mâu thuẫn giữa giai cấp công nhân, nhân
dân lao động với tầng lớp tư sản tuy mang tính
chất là mâu thuẫn đối kháng giữa lao động và
bóc lột, nhưng trong thòi kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay lại là mâu thuẫn
nội bộ nhân dân Khẳng định điều đó vì: kinh tế
tư bản tư nhân là một thành phần kinh tế trong
nền kinh tế nhiều thành phần, tầng lớp tư sản có
vai trò quan trọng thúc đấy kinh tế phát triển
Họ có khả năng tham gia tích cực vào sự nghiệp
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Hiện
nay, lợi ích hợp pháp của nhà tư sản thống nhất
với lợi ích của cộng đồng xã hội Trong quan hệ
giữa giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và
tầng lớp tư sản là vừa thống nhất, vừa đấu tranh
vói nhau
Như vậy, nội dung đấu tranh giai cấp
hiện nay là thực hiện thắng lợi sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo định
hướng xã hội chủ nghĩa, khắc phục tình trạng
nước nghèo, kém phát triển, thực hiện công
bằng xã hội, chống áp bức, bất công, đấu tranh
ngăn chặn, khắc phục những tư tưởng và hành
động tiêu cực, sai trái, đấu tranh làm thất bại
mọi âm mưu, và hành động chống phá của các
thế lực thù địch, bảo vệ độc lập dân tộc, xây
dựng nước ta thành một nước xã hội chủ nghĩa
phồn vinh, nhân dân hạnh phúc
Động lực chủ yếu để phát triển đất
nước là đại đoàn kết toàn dân trên cơ sở liên
minh giữa công nhân - nông dân và trí thức
dưới sự lãnh đạo của Đảng
Sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc
xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ nặng nề và phức
tạp, lâu dài, do vậy, phải nắm vững quan điểm
của chủ nghĩa Mác Lênin về quan điểm giai
cấp Tuyệt đối hoá đấu tranh giai cấp, cường
điệu đấu tranh giai cấp, né tránh, mơ hồ đấu
tranh giai cấp đều đi ngược lại quan điểm của
chủ nghĩa Mác - Lênin, sẽ gây tổn hại đến
thành quả của cách mạng
Câu 6: Trình bày nguồn gốc, bản chất của nhà nước? Đặc điểm của nhà nước vô sản? vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay?
* Nguồn gốc của nhà nước:
Khái niệm nhà nước: là bộ máy để duytrì sự thống trị của giai cấp này đối với giaicấp khác, là cơ quan quyền lực của một giaicấp đối với toàn xã hội, là công cụ chuyênchính của một giai cấp
Theo quan điểm của Mácxit, xã hộikhông phải lúc nào cũng có nhà nước Nhà nước
ra đời và tồn tại khi xã hội xuất hiện những mâuthuẫn giai cấp phát triển đến mức không điềuhòa được Xã hội cộng sản nguyên thủy không
có giai cấp, nhà nước chưa xuất hiện Khi xã hộiphân chia thành giai cấp, mâu thuẫn nhà nướccàng gay gắt không thể điều hòa được thì nhànước xuất hiện như một tất khống chế đối khángyếu khách quan, xoa dịu xung đội giai cấp duytrì sự ổn định của kinh tế xã hội và bắt đầu là xãhội chiếm hữu nô lệ,
Lê nin khẳng định: “Nhà nước là sảnphẩm và biểu hiện của những mâu thuẫn giaicấp không thể điều hòa được”
Các giai cấp thống trị sử dụng bộ máynhà nước để đàn áp, cưỡng bức các giai cấpkhác trong khuôn khổ lợi ích của giai cấpthống trị
Nhà nước là công cụ thống trị giai cấp,nhưng trong thực tế, nó lại tồn tại như mộtcông quyền, một quyền lực công cộng Vì vậynhà nước không chỉ mang tính giai cấp mà cònmang tính xã hội; không chỉ có chức năngthống trị giai cấp mà còn có chức năng xã hội.hơn nữa chức năng xã hội là cơ sở cho sựthống trị
Vì vậy, sẽ là mơ hồ nếu không thấyđược tính chính trị, tính giai cấp của chủtrương, chính sách và sự tác động cam thiệpcủa nhà nước vào các lĩnh vực kinh tế, vănhóa, giáo dục Nhưng ngược lại nếu quy cácchức năng đa dạng của nhà nước về chức năng
Trang 12giai cấp hoặc tuyệt đối hóa tính giai cấp mà
không thấy được tính xã hội, vai trò tích cực
sáng tạo của chức năng XH của nhà nước
trong sự phat triển đất nước thì sẽ là cực đoan,
phiến diện
Khi NN nằm trong tay giai cấp đại biểu
cho toàn thể xã hội trong thời đại của mình,
nghĩa là trong tay giai cấp đang đóng vai trò
tiến bộ và cách mạng thì tính tích cực của
chức năng xã hội của nó biểu hiện càng rõ rệt
Trong lịch sử xã hội có đối kháng giai
cấp đã xuất hiện 3 kiểu nhà nước: nhà nước
chủ nô, nhà nước phong kiến và nhà nước tư
bản Dù tồn tại dưới hình thức nào thì về bản
nghĩa là thời kỳ cải biến cách mạng xã hội từ
xã hội nọ sang xã hội kia thích ứng với thời
kỳ ấy là một thơi kỳ quá độ chính trị và nhà
nước của thời kỳ ấy không thể là cái gì khác
hơn là nền chuyên chính cách mạng của giai
cấp vô sản
Sau cách mạng thành công, giai cấp
công nhân và nhân dân lao động vẫn cần có
nhà nước của mình vì 3 lý do sau:
Thứ nhất: Trong xã hội vẫn còn những
giai cấp khác nhau, đấu tranh giai cấp vẫn tiếp
diễn và vẫn còn âm mưu xâm lược của các thế
lực đế quốc, do vậy cần nhà nước chuyên
chính của giai cấp công nhân để trấn áp các
lực lượng phản cách mạng và bảo vệ XHCN
Thứ hai: xã hội trong thời kỳ quá độ
vừa thoát thai từ XH cũ còn mang rất nhiều
dấu vết của XH cũ Để quản lý một XH như
vậy cần phải có sự cưỡng chế của nhà nước
Thứ ba: Xây dựng CNXH là sự nghiệp
vĩ đại, khó khăn, phức tạp Nó đòi hỏi phải có
một nhà nước do những người lao động dưới
sự lãnh đạo của ĐCS lập ra để tổ chức và quản
lý, xây dựng xã hội mới
Nhà nước vô sản có những đặc trưng riêng
khác với nhà nước của giai cấp bóc lôt
Một là: lần đầu tiên xuất hiện nhà nước
do dân và vì dân Nó không còn là nhà nước
thiếu số thống trị đa số như trước đây, mà là
nhà nước đa số thống trị thiểu số những kẻ
chống lại lợi ích của nhân dân lao động Cơ sở
xã hội và nòng cốt nhà nước vô sản là liênminh công - nông - trí thức Trong nhà nước
Vô sản, mọi quyền lực thuộc về nhân dân.Tính chất của dân, do dân và vì dân thể hiệnthông qua nguyên tắc tổ chức, cơ chế hoạtđộng và pháp luật nhà nước
Hai là: lần đầu tiên trong lịch sử, đã rađòi một nhà nước mà chức năng chủ yếu nhấtcủa nó không phải là bạo lực trấn áp mà là tốchức xã hội cao hơn so với chủ nghĩa tư bản
* Vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay:
Nhà nước trong thời kỳ quá độ lênCNXH ở VN là “Nhà nước pháp quyềnXHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhândân Tất cả quyền lực đều thuộc về nhân dân
mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp côngnhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức,
do ĐCS lãnh đạo Quyền lực nhân dân làthống nhất; có sự phân công, phối hợp vàkiểm soát giữa các cơ qun trong việc thực hiệncác quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp.Nhà nước ban hành pháp luật; tổ chức, quản lý
xã hội bằng pháp luật và không ngừng tăngcường pháp chế XHCN”
Việc xây dựng nhà nước XHCN trongTKQĐ ở VN là một tất yếu khách quan Tínhtất yếu đó không chỉ xuất phát từ những đặcđiểm của thời đại ngày nay, thời đại quá độ từchủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội mà cònxuất phát từ đòi hỏi của thực tiễn cách mạngViệt Nam, “muốn cứu nước và giải phóng dântộc không còn con đường nào khác con đườngcách mạng Vô sản”
Xây dựng nhà nước XHCN ở nước ta làmột quá trình lâu dài, gắn liền với quá trìnhphát triển kinh tế - xã hội theo định hướngXHCN
Chủ trương từng bước Xây dựng nhànước theo mô hình nhà nước pháp quyềnXHCN đánh dấu mốc quan trọng trong quá trìnhđổi mới và Xây dựng nhà nước XHCN ở VN
Bước vào thời kỳ đổi mới, nhận thứccủa Đảng ta vể NN pháp quyền ngày càng đầy
đủ hơn, rõ ràng, cụ thể hơn và quyết tâm Xâydựng nhà nước XHCN dưới hình thức nhànước pháp quyền ngày càng cao hơn
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
VI, trong chủ trương đổi mới NN đã manh nhamột số nội dung về NN pháp quyền Đến Đạihội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, chủ trương
Trang 13Xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN ở
nước ta mới chính thức được khẳng định
Thuật ngữ nhà nước pháp quyền lần đầu tiên
được chính thức sử dụng trong văn kiện quan
trọng của Đảng
Xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN
trong điều kiện chuyển đổi nền KT đối với nước ta
là điều mới mẻ, hiểu biết và kinh nghiệm của chúng
ta còn ít Vì vậy cần thận trọng trong QĐ cũng như
trong tiến hành Trong văn kiện Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ VIII, Đảng coi Xây dựng nhà
nước pháp quyền như một trong 5 quan điểm cần
quán triệt trong việc tiếp tục cải cách bộ máy nhà
nước, xây dựng và hoàn thiện nhà nước XHCN
-VN Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thư IX,
Đảng coi Xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN
dưới sự lãnh đạo của Đảng là nhiệm vụ có tính
chiến lược và xuyên suốt trong cải cách tổ chức và
hoạt động của nhà nước, phát huy dân chủ, tăng
cường pháp chế Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ XI, ĐCSVN tiếp tục khẳng định: “Đẩy mạnh
Xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN tập trung
vào 3 nội dung lớn là tiếp tục đổi mới tổ chức, hoạt
động của bộ máy nhà nước; xây dựng đội ngũ cán
bộ công chức trong sạch, có năng lực đáp ứng yêu
cầu của tĩnh hình mới; tích cực phòng ngừa và kiên
quyết đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí,
thực hành tiết kiệm
Câu 7: Trình bày bản chất, nguyên nhân,
vai trò của cách mạng xã hội? Điều kiện
khách quan và nhân tố chủ quan của cách
mạng xã hội?
* Khái niệm cách mạng xã hội
Cách mạng xã hội là sự biến đổi có tính
chất bước ngoặt và căn bản về chất trong mọi
lĩnh vực đời sống xã hội, là phương thức
chuyển biến từ một hình thái kinh tế xã hội lỗi
thời bằng hình thái kinh tế - xã hội cao hơn,
tiến bộ hơn
Trong thực tế, cách mạng xã hội được
hiểu theo hai nghĩa rộng và hẹp khác nhau:
Theo nghĩa rộng: cách mạng xã hội là
cả một thời kỳ lịch sử bắt đầu bằng cuộc cách
mạng giành chính quyền và kết thúc khi hình
thái kinh tế xã hội mới đã hoàn toàn chiến
thắng hình thái kinh tế xã hội cũ
Theo nghĩa hẹp, cách mạng xã hội là
việc lật đổ một chế độ chính trị đã lỗi thời,
thiết lập một chế độ chính trị tiến bộ hơn
Dù theo nghĩa rộng hay nghĩa hẹp,giành chính quyên vẫn là vấn đề cơ bản của
mọi cuộc cách mạng xã hội Bởi vì, chỉ khi
nào giành được chính quyền, giai cấp cáchmạng mới xác lập được nền chuyên chính củamình, tiến tới bảo đảm được quyền lực củamình trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội
Để nắm vững khái niệm cách mạng xãhội, cần phân biệt cách mạng xã hội vớinhững biến đổi xã hội khác: tiến hóa xã hội ,cải cách xã hội , đảo chính
Tiến hóa xã hội cũng là hình thức pháttriển của xã hội Nhưng khác với cách mạng
xã hội, nó là quá trĩnh phát triển diễn ra mộtcách tuần tự, dần dần với những biến đổi cục
bộ trong một hình thái kinh tế - xã hội nhấtđịnh Song tiến hóa xã hội và cách mạng xãhội thống nhất biện chứng với nhau: cáchmạng xã hội chỉ ữở thành tất yếu lịch sử khinhững tiền đề của nó được tạo ra nhờ tiến hóa
xã hội Ngược lại, cách mạng xã hội mởđường cho tiến hóa như là những quá trình kếtiếp nhau không ngừng trong sự phát triển của
xã hội
Cải cách xã hội cũng tạo nên sự thayđổi về chất nhất định trong đời sống xã hội,nhưng khác về nguyên tắc với cách mạng xãhội ở chỗ: cải cách xã hội chỉ tạo nên nhữngbiến đổi riêng lẻ, bộ phận trong khuôn khổ chế
độ xã hội đang tồn tại; những cải cách xã hội
có ý nghĩa thúc đẩy quá trình tiến hóa tạo tiền
đề dẫn tới cách mạng xã hội Kinh nghiệm lịch
sử cho thấy, trong các chế độ xã hội có đốikháng giai cấp, phần lớn những cải cách xãhội là kết quả của phong trào đấu tranh của lựclượng tiến bộ, và trong những hoàn cảnh nhấtđịnh, chúng trở thành những bộ phận hợpthành của cách mạng xã hội
Đảo chính là thủ đoạn giành quyền lựcnhà nước bởi một cá nhân hoặc một nhómngười nhằm xác lập một chế độ xã hội có cùngbản chất Đảo chính không động đến chế độ xãhội và không phải là phong trào cách mạng
của quần chúng, cho nên đảo chính khác hoàn toàn với cách mạng xã hội.
* Nguyên nhân của cách mạng xã hội:
Nguyên nhân sâu xa của cách mạng xãhội là mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất vàquan hệ sản xuất Lực lượng sản xuất pháttriển đến một mức độ nhất định thi quan hệsản xuất cũ trở nên lỗi thời, kìm hãm sự phát
Trang 14triển của các lực lượng sản xuất “Từ chỗ là
những hình thức phát triển của các lực lượng
sản xuất, những quan hệ ấy trở thành những
xiềng xích của các lực lượng sản xuất Khi đó
bắt đầu thòi đại một cuộc cách mạng xã hội”
Nguyên nhân sâu xa này biểu hiện về
mặt xã hội thành nguyên nhân xã hội trực tiếp
Đó là mâu thuẫn giữa 1 bên là giai cấp cách
mạng và quần chúng lao động đại biểu cho sự
phát triển LLSX mới với 1 bên là giai cấp thống
trị nhưng đã lỗi thời, phản động đại biểu cho
QHSX cũ đang cản trở sự phát triển LLSX
Các cuộc cách mạng xã hội đều bắt
nguồn từ những nguyên nhân khách quan đó
* Vai trò của cách mạng xã hội trong
sự phát triến XH
Thực chất của cách mạng xã hội là
nhằm giải quyết mâu thuẫn kinh tế (mâu thuẫn
giữa LLSX và QHSX) và mâu thuẫn xã hội
(mâu thuẫn giữa giai cấp cách mạng và giai
cấp thống trị đã lỗi thời, phản động) Giải
quyết những mâu thuẫn đó trước hết được
thực hiện thông qua cuộc đấu tranh giai cấp và
đỉnh cao của cuộc đấu tranh giai cấp nay là
cách mạng xã hội
Trong cách mạng xã hội, giai cấp cách
mạng phải lật đổ sự thống trị của giai cấp
thống trị, giành lấy chính quyền nhà nước và
sử dụng chính quyền nhà nước để xóa bỏ
QHSX cũ, lạc hậu, xây dựng QHSX mới thúc
đẩy LLSX, kinh tế phát triển, cải biến xã hội
phát triển theo hướng tiến bộ
Như vậy cách mạng xã hội có vai trò to
lớn Không có cách mạng xã hội, không thể
chuyển được hình thái kinh tế - xã hội cũ, lỗi
thời lên một hình thái kinh tế - xã hội mới cao
hơn, mở đường cho sự tiến bộ xã hội
Lịch sử nhân loại đã chứng minh đầy đủ
và rõ nét vai trò của cách mạng xã hội qua bốn
cuộc cách mạng xã hội đưa nhân loại trải qua 5
hình thái KT-XH nối tiếp nhau là: từ cộng đồng
người nguyên thuỷ lên chế độ chiếm hữu nô lệ;
từ chế độ chiếm hữu nô lệ lên chế độ phong
kiến; từ chế độ phong kiến lên chế độ tư bản chủ
nghĩa; từ chủ nghĩa tư bản lên chế độ XHCN và
tiến lên cộng sản chủ nghĩa
Cuộc cách mạng vô sản là một kiểu
cách mạng xã hội mới về chất Nếu tất cả các
cuộc cách mạng xã hội trước chỉ là sự thay thế
hình thức của chế độ chiếm hữu tư nhân, thay
thế hình thức người bóc lột người, thì cách
mạng vô sản nhằm xây dựng xã hội mớikhông có giai cấp đế giải phóng triệt để conngười Đó là sự chuyến biến sâu sắc nhất ữonglịch sử nhân loại
* Điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan của cách mạng :
Muốn cho cách mạng nổ ra và thắng lợiphải có những điều kiện khách quan và chủquan nhất định
Điều kiện khách quan chín muồi chocách mạng nổ ra gọi là tình thế cách mạng Tìnhthế cách mạng là một cuộc khủng hoảng toànquốc lay chuyển cả giai cấp thống trị và giai cấp
bị trị Sự xuất hiện hay qua đi của tĩnh thế cáchmạng là khách quan, không phụ thuộc vào ý chícủa giai cấp hay chính đảng nào
Nhân tố chủ quan đó là giai cấp cáchmạng có khả năng phát động, lãnh đạo quầnchúng đứng lên lật đổ chế độ cũ và tính tíchcực cách mạng của quần chúng nhân dân đượcnâng lên đến một mức độ nhất định
Câu 8: Tính độc lập tương đối của ý thức
xã hội đối với tồn tại xã hội Ý nghĩa đối vói việc xây dựng thức xã hội mới ở Việt Nam hiện nay.
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin tồn tại xã hội là đời sống vật chất cùngtoàn bộ những điều kiện sinh hoạt vật chất,quan hệ vật chất của xã hội, còn ý thức xã hội
-là mặt tinh thần của đời sống xã hội, nảy sinh
từ tồn tại xã hôị và phản ánh tồn tại xã hộitrong những giai đoạn phát triển nhất định.Tuy nhiên ý thức xã hội không phụ thuộc vàotồn tại xã hội một cách thụ động, ý thức xã hộivẫn có tính độc lập tương đối so với tồn tại xãhội, thông qua hoạt động thực tiễn của conngười, ý thức xã hội có thể tác động trở lại tồntại xã hội Đối với Việt Nam chứng ta quá độ
đi lên từ một nước nông nghiệp lạc hậu, xâydựng chủ nghĩa xã hội là cả một quá trình lâudài, gian khổ khó khăn Đặc biệt là trong khi
xã hội chúng ta xuất phát từ một nền tảng tồntại xã hội rất thấp, trong xã hội còn tồn tại đanxen nhiều hình thái ý thức xã hội khác nhau,
có những hình thái ý thức đã lỗi thời lạc hậu,
có những hình thái ý thức xã hội mang tínhvượt trước Việc vận dụng tính độc lập tươngđối của hình thái ý thức xã hội đối với tồn tại
xã hội để xây dựng ý thức xã hội mới ở ViệtNam hiện nay là cần thiết hom bao giờ hết
Trang 15Tính độc lập tương đối của ý thửc xã
hội thể hiện:
* Thứ nhất, ý thức xã hội thường lạc
hậu hơn so với tồn tại xã hội
Ý thức xã hội là cái phản ánh của tồn
tại xã hội, còn tồn tại xã hội là cái được phản
ánh bởi ý thức xã hội Do vậy, ý thức xã hội
vói tư cách là cái phản ánh bao giờ cũng biến
đổi chậm hơn so với tồn tại xã hội - cái được
phản ánh Điều này thể hiện rất rõ, khi ý thức
xã hội không phản ánh kịp sự biến đổi, phát
triển của tồn tại xã hội Sự lạc hậu của ý thức
xã hội so với tồn tại xã hội có nhiều nguyên
nhân khác nhau:
Một là: do sức ỳ của tâm lý xã hội, nhất
là thói quen, phong tục tập quán truyền thống
Hai là: trong hình thái ý thức xã hội có
những yếu tố bảo thủ, chẳng hạn như ý thức tôn
giáo phản ánh không đúng và không kịp sự vận
động, biến đổi của tồn tại xã hội
Ba là: trong xã hội có giai cấp, ý thức
xã hội luôn gắng với lợi ích của những nhóm
xã hội, tập đoàn xã hội, giai cấp xã hội khác
nhau, vậy nên những quan điểm, tư tưởng tâm
lý cũ thường được các lực lượng xã hội, giai
cấp xã hội bảo thủ phản tiến bộ lưu giữ và
truyền bá nhằm chống lại những lực lượng
tiến bộ Chính vì vậy, những quan điểm, tư
tưởng, tâm lý cũ không tự động mất đi khi tồn
tại xã hội cũ mà trên đó chúng tồn tại nảy sinh
không còn nữa, mà phải thông qua cuộc đấu
tranh cải tạo triệt để xã hội cũ, tồn tại xã hội
cũ và xây dựng xã hội mới
Ở Việt Nam chúng ta, sau một tiến
trình gần 40 năm xây dựng xây dựng chủ
nghĩa xã hội trên phạm vi cả nước, mặc dù tồn
tại xã hội đã có những đổi thay to lớn, nước ta
tò một nước nông nghiệp lạc hậu đã tiến rất
gần với định hướng đến 2020 Việt Nam cơ
bản trở thành một nước công nghiệp hiện đại,
có lực lượng sản xuất phát triển cao, tiên tiến
Tuy nhiên, sự biến đổi của tồn tại xã hội như
vậy không hẳn là khiến toàn bộ các hình thái ý
thức xã hội sẽ biến đổi theo, tại Việt Nam
chúng ta vẫn còn tồn tại nhiều hình thái ý thức
xã hội cũ, mang tính bảo thủ lạc hậu Biểu
hiện cụ thể của các hình thái ý thức đó như:
tâm lý trọng nam khinh nữ, tảo hôn, mê tín dị
đoan, các tục lệ, hủ tục khác Chẳng hạn:
tâm lý trọng nam khinh nữ, nó bị ảnh hưởng
học thuyết chính trị của nho gia, nhưng nó
cũng chính xuất phát từ tồn tại xã hội nôngnghiệp thuần lúa nước, rất cần lao động trongnông nghiệp, đặc biệt là lao động nam thíchứng với các công việc đồng áng nặng nhọc.Ngày nay, tồn tại xã hội nông nghiệp thuần lúanước đã không còn nữa, các công việc đồngáng nặng nhọc đã được thay thế bằng máymóc, thiết bị nông nghiệp Tuy nhiên, dướisức ỳ của tâm lý xã hội, phong tục, thóiquen… Tâm lý trọng nam khinh nữ vẫn còntồn tại, tâm lý này ngày càng gây nên nhiềutác hại trong xã hội như mất cân bằng tự nhiêngiới tính, buôn bán phụ nữ và trẻ em Vậynên trong tiến trình xây dựng chủ nghĩa xãhội, việc loại bỏ những yếu tố tiêu cực trong ýthức xã hội là điều cần thiết hơn bao giờ hết
* Thứ hai, ý thức xã hội có thể vượt trước tồn tại xã hội
Ý thức xã hội nếu phản ánh đúng quyluật vận động của tồn tại xã hội thì nó có thểphản ánh vượt trước tồn tại xã hội Triết họcMác - Lênin chỉ rõ, trong điều kịện hoàn cảnhnhất định, ý thức của con người nếu phản ánhđúng quy luật vận động, phát triển của tồn tại
xã hội, thì có thể chỉ ra khuynh hướng vậnđộng, phát triển của tồn tại xã hội trên cơ sở
đó có thể dự báo tương lai, góp phần chỉ đạo
tổ chức thực tiễn đạt hiệu quả cao nhất Phảnánh vượt trước của ý thức xã hội có thể có cơ
sở và phản ánh vượt trước không có cơ sở Sựphản ánh của ý thức xã hội đối với tồn tại xãhội được coi là sáng tạo khi nó phản ánh đúngđược mối liên hệ bản chất, tất nhiên, mangtính quy luật của tồn tại xã hội Khi ấy, sựphản ánh vượt trước của ý thức xã hội đối vớitồn tại xã hội sẽ có cơ sở
Nêu ý thức xã hội phản ánh khôngđúng quy luật khách quan của sự vận độngphát trien của xã hội Hơn nữa nó lại bị chiphối bởi mong muốn chủ quan, duy ý chí thìkhi ấy sự phản ánh vượt trước của ý thức xãhội sẽ là sự vượt trước không có cơ sở, dễ rơivào ảo tưởng
Chủ nghĩa Mác - Lênin ra đời vàonhững năm 40 của thế kỷ XIX từ trong lòngcủa chủ nghĩa tư bản, sau được Lênin bổ xung
và phát triển trong điều kiện chủ nghĩa tư bảnchuyển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩanhưng do phản ánh đúng quy luật khách quancủa sự vận động phát triển của xã hội, vì vậy
đã chỉ ra khuynh hướng vận động tất yếu của
Trang 16xã hội loài người từ chủ nghĩa xã hội lên chủ
nghĩa cộng sản Sự chỉ ra này mang tính phản
ánh vượt trước của ý thức xã hội đối với tồn
tại xã hội Do vậy trong thòi đại ngày nay
Đảng và nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam vẫn kiên đinh với học thuyết Mác
-Lênin và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội
* Thứ ba, ý thức xã hội có tính kế
thừa trong sự phát triển của mình
Do có sự kế thừa trong sự phát triển
của nó mà không thể giải thích ý thức xã hội
đơn thuần từ tồn tại xã hội Lịch sử loài người
đã cho thấy, có những giai đoạn hưng thịnh
của triết học, nghệ thuật hoàn toàn không
phù hợp với sự hưng thịnh của đời sống vật
chất xã hội Ngoài ra, trong xã hội có giai cấp,
tính chất kế thừa của ý thức xã hội gắn với
tính chất giai cấp của nó Những giai cấp khác
nhau kế thừa những nội dung ý thức khác
nhau của các thời đại trước Các giai cấp tiên
tiến tiếp nhận những di sản tư tưởng tiến bộ
của xã hội cũ để lại Giai cấp lỗi thời thì tiếp
thu khôi phục những tư tưởng phản tiến bộ
của thời kỳ lịch sử trước
Quan điểm về tính kế thừa của ý thức
xã hội có ý nghĩa to lớn đối với sự nghiệp xây
dựng nền văn hoá tinh thần xã hội XHCN Đối
với Việt Nam chúng ta cần thấy rằng; trước
hết cải tạo các hình thái ý thức xã hội cũ là
một quá trình lâu dài, khó khăn bởi giữ các
hình thái ý thức xã hội có sự kế thừa trong sự
phát triển của mình, chúng ta cần phải dần dần
loại bỏ nó trong quá trình cải tạo xây dựng xã
hội mới Đồng thời chúng ta cũng phải biết
giữ gìn, phát huy những nét đẹp truyền thống
đáng quý trong quá trình phát triển trong lịch
sử dân tộc, đây là hoạt động hợp quy luật với
tính chất kế thừa trong quá trình phát triển của
ý thức xã hội
* Thứ tư, Sự tác động qua lại giữa các
hình thái ý thức xã hội ừong sự phát triển
của chúng
Ý thức xã hội là một hiện tượng phức
tạp, tùy theo cách xét mà có thể phân loại khác
nhau Theo nội dưng và lĩnh vực phản ánh đời
sống xã hội thì ý thức xã hội bao gồm: ý thức
chính trị, ý thức pháp quyền, ý thức đạo đức, ý
thức tôn giáo, ý thức thẩm mỹ Theo trình độ
phản ánh người ta chia thành ý thức xã hội
thông thường và ý thức lý luận Tuy nhiên, sự
tác động qua lại giữa các hình thái ý thức xã
hội làm cho mỗi hình thái ý thức xã hội cónhững mặt, những tính chất không thể giảithích được một cách trực tiếp bằng tồn tại xãhội hay bằng những điều kiện vật chất
Ở mỗi thời đại, tuỳ theo hoàn cảnh lịch
sử cụ thể có những hình thái ý thức xã hội nào
đó nổi lên hàng đầu và tầc động mạnh đến cáchình thái ý thức xã hội khác tạo nên sự pháttriển không đồng nhất với tồn tại xã hội.Chẳng hạn ở Hi Lạp cổ đại triết học nổi lênhàng đầu, thậm chí đóng vai frò là ”khoa họccủa các khoa học”; Ớ Tây Âu thòi kỳ trung cổ,tôn giáo đóng vai trò chi phối đời sống tinhthần xã hội
Trong sự tác động lẫn nhau giữa cáchình thái ý thức xã hội, ý thức chính trị có vaitrò đặc biệt quan trọng, ý thức chính trị củagiai cấp cách mạng định hướng cho sự pháttriển theo chiều hướng tiến bộ của các hìnhthái ý thức xã hội khác, ở nước ta hiện nay,hoạt động triết học, văn hoá, nghệ thuật khôngtách ròi đường lối chính tri của Đảng
* Thứ năm, ý thức xã hội tác động trở lại tồn tại xã hội
Sự tác động trở lại của ý thức xã hội đốivới tồn tại xã hội là một biểu hiện quan trọngcủa tính độc lập tương đối của ý thức xã hội Sựtác động đó có thể theo hai khuynh hướng đốilập nhau: tác động tích cực của ý thức xã hội đốivới tồn tại xã hội và tác động tiêu cực của ý thức
xã hội đối với tồn tại xã hội
Nêu ý thức xã hội phản ánh đúng quyluật vận động phát triển của tồn tại xã hội thìthông qua hoạt động thực tiễn của con người
nó có thể tác động tích cực tới tồn tại xã hội.Biếu hiện của sự tác động tích cực của ý thức
xã hội đối với tồn tại xã hội là nó thúc đấyphương thức sản xuất phát triển Góp phần cảibiến tự nhiên, hoàn cảnh địa lý theo hướng cólợi cho con người và sản xuất vật chất
Nêu ý thức xã hội lạc hậu, phản ánhkhông đúng quy luật vận động, phát triển củatồn tại xã hội; hoạc ý thức xã hội phản tiến bộ,nhất là ý thức chính trị, hoạc là ý thức xã hộiphản ánh vượt trước tồn tại xã hội nhưng vượttrước ảo tưởng, duy ý trí, w thì sẽ tác độngtiêu cực đến tồn tại xã hội Biểu hiện của sựtác động tiêu cực đó là nó cản trở tồn tại xãhội phát triển
Mức độ tác động luật của ý thức xã hộiđối vói tồn tại xã hội phụ thuộc vào nhiều yếu
Trang 17tố như: Tính chất tiến bộ, cách mạng hay lạc
hậu phản động của chủ thể mang ý thức xã
hội, tính khoa học hay không của ý thức xã
hội, mức độ thâm nhập của ý thức xã hội vào
quảng đại quần chúng nhân dân
Ý nghĩa đối với việc xây dựng ý thức
xã hội mới ở Việt Nam hiện nay:
Một là: ta cần phải nhận thấy rõ ràng
rằng ý thức xã hội không hình thành một cách
tự phát mà hình thành một cách tự giác, lâu
dài dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản với
sự tham gia tích cực của quảng đại quần
chứng nhân dân Vì ý thức xã hội có tính độc
lập tương đối so với tồn tại xã hội, thường lạc
hậu hơn so với tồn tại xã hội, lại chịu sự tác
động của nhiều yếu tố khác nhau nên một nền
ý thức xã hội mới ở Việt Nam chúng ta ngày
nay sẽ không thể tự nhiên mà có Ý thức xã
hội mới tại Việt Nam chỉ được hình thành khi
có công tác giáo dục dưới sự lãnh đạo của
Đảng cộng sản và sự rèn luyện tích cực của
quần chúng nhân dân
Hai là: ý thức xã hội mới là kết quả của
sự kế thừa toàn bộ những tinh hoa trong lịch
sử tư tưởng dân tộc và nhân loại, đồng thời
đấu tranh không khoan nhượng với những ý
thức lạc hậu phản tiến bộ Bởi lẽ ý thức xã hội
có sự kế thừa ừong sự phát triển của mình, cho
nên cả những yếu tố tiêu cực, lạc hậu và yếu
tố tích cực, tiến bộ sẽ đều cùng được kế thừa
và lưu truyền, vấn đề đối với Việt Nam của
chúng ta hiện nay đó là phải biết tiếp nhận
những tinh hoa trong lịch sử tư tưởng dân tộc
và nhân loại, đồng thời đấu tranh khắc phục
những tư tưởng, phong tục thói quen lạc hậu,
phản tiến bộ, làm thất bại mọi cuộc tiến công
về tư tưởng của mọi lực lượng phản cách
mạng Đây cũng là cuộc đấu tranh bảo vệ sự
trong sáng của sự trong sáng của chủ nghĩa
Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ
trương đường lối của Đảng, chính sách pháp
luật của nhà nước Chỉ khi làm được như vậy
chúng ta mới có thể xây dựng thành công ý
thức xã hội mới ở nước ta hiện nay
Ba là: hình thành ý thức xã hội mới
phải gắn liền với phát triển kinh tế, củng cố
quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, phát huy
quyền làm chủ của nhân dân lao động Điều
này xuất phát từ chính mối quan hệ giữa tồn
tại xã hội và ý thức xã hội, tồn tại xã hội quyết
định ý thức xã hội, mặc dù ý thức xã hội có
tính độc lập riêng của mình nhưng sự độc lậpcủa ý thức xã hội chỉ là tương đối Ý thức xãhội vẫn phải được nảy sinh và tồn tại trênnhững cơ sở tồn tại xã hội nhất định Ở ViệtNam chúng ta, việc xây dựng ý thức xã hộimới không thể thực hiện chỉ bằng thuần túycon đường giáo dục, thuyết phục, cải tạo trênlĩnh vực tinh thần tư tưởng, mà chứng ta phảixét trên cả lĩnh vực tồn tại xã hội, cái cơ sở mà
ý thức xã hội mới của chúng ta sẽ hình thành
và nảy sinh từ trên ấy
Quan niệm duy vật lịch sử về ý thức xãhội chỉ rõ rằng, muốn hình thành ý thức xã hộimới, về lâu dài, cơ bản phải hình thành đượctồn tại xã hội chủ nghĩa Muốn vậy phải pháttriển được kinh tế theo định hướng xã hội chủnghĩa, phải không ngừng củng cố quan hệ sảnxuất xã hội chủ nghĩa Cùng với đó chúng taphải phát huy được quyền làm chủ của nhândân lao động, có như vậy chúng ta mới lôicuốn được đông đảo quần chúng nhân dântham gia cải tạo những tư tưởng lạc hậu, đấutranh hiệu quả vói tư tưởng sai trái phản tiến
bộ, tham gia quản lý xây dựng phát triển kinh
tế xã hội,văn hóa, giáo dục, khoa học Đây làđiều kiện quan trọng cho việc hình thành vàphát triển ý thức xã hội mới
Tóm lại: Quan điểm của chủ nghĩa duy
vật lịch sử về tính độc lập tương đối của ýthức xã hội chỉ ra bức tranh phức tạp của lịch
sử phát triển ý thức xã hội và của đời sốngtinh thần xã hội nói chung Nó bác bỏ mọiquan điểm sai lầm về mối quan hệ giữa tồn tại
xã hội và ý thức xã hội, đồng thời qua đó,chúng ta cũng rút ra nhiều luận điểm ý nghĩacho việc cải tạo xã hội cũ và xây dựng ý thức
xã hội mới sau này
Vấn đề 2: NHỮNG VẤN ĐỀ KINH TẾ CHÍNH TRỊ CỦA THỜI KỲ
ĐI LÊN CNXH Câu 1: Trình bày những nội dung cơ bản của vấn đề sở hữu trong thời kỳ quá độ lên CNXH? Liên hệ thực tiễn Việt Nam
Sở hữu là hình thức nhất định đượchình thành trong lịch sử về chiếm hữu của cảivật chất xã hội Quan hệ sở hữu là quan hệgiữa người với người đối với việc chiếm hữucủa cải vật chất, trước hết là đối với những tưliệu sản xuất chủ yếu Quan hệ sở hữu được
Trang 18thể hiện dưới những hình thức nhất định có
tính chất pháp lý được gọi là chế độ sở hữu
Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là
thời kỳ chuyển biến từ sở hữu tư nhân thành
sở hữu công cộng về tư liệu sản xuất Sự
chuyển biến đó mang tính khách quan tùy
thuộc vào trình độ phát triển của lực lượng
sản xuất Sở hữu công cộng về tư liệu sản xuất
vừa là phương tiện, vừa là mục tiêu trong công
cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội vấn đề quan
trọng và cũng là mục đích của việc thiết lập sở
hữu công cộng về tư liệu sản xuất là làm cho
nó có ưu thế hơn so với sở hữu tư nhân về
năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế
Sở hữu công cộng về tư liệu sản xuất
vừa là phương tiện vừa là mục tiêu cần thực
hiện trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã
hội Do đó, xây dựng sở hữu công cộng về tư
liệu sản xuất là tất yếu trong thời kỳ quá độ
lên chủ nghĩa xã hội Hơn nữa sở hữu công
cộng về tư liệu sản xuất còn là công cụ quan
trọng định hướng nền kinh tế lên chủ nghĩa xã
hội Tuy nhiên, việc xây dựng sở hữu công
cộng về tư liệu sản xuất phải trải qua một thời
kỳ lâu dài, từ thấp đến cao và luôn phải đặt
trong mối liên hệ với trình độ phát triển của
lực lượng sản xuất Chế độ sở hữu công cộng
(công hữu) về tư liệu sản xuất chủ yếu từng
bước được xác lập và chiếm ưu thế tuyệt đối
khi chủ nghĩa xã hội được xây dựng xong về
cơ bản Quá trình xây dựng sở hữu công cộng
về tư liệu sản xuất chính là quá trình xây dựng
và phát triển, củng cố và hoàn thiện sở hữu
toàn dân và sở hữu tập thể về tư liệu sản xuất
trên cơ sở phát triển của lực lượng sản xuất
Vấn đề sở hữu ở Việt Nam: Có sự
thay đổi trong nhận thức của Đảng và Nhà
nước trước và trong thời kỳ đối mới
Trước đổi mới (1945 - 1986)
Giai đoạn 1945 - 1959: Cách mạng
tháng tám thành công ngày 2/9/1945 nước
Việt Nam dân chủ cộng hoà, một nhà nước
công - nông đầu tiên ở khu vực Đông Nam Á
ra đời với mục tiêu xây dựng mét chế độ xã
hội mới theo con đường phát triển của chủ
nghĩa cộng sản Hiến pháp 1946 đã tạo cơ sở
pháp lý và từ đây quyền sở hữu tài sản riêng
của công dân trở thành quyền hiến định
Nhiệm vụ cấp bách của cách mạng Việt Nam
lúc đó phải xoá bỏ quyền sở hữu đối với tư
liệu sản xuất quan trọng của thực dân Pháp,
của các đế quốc khác, các thế lực phản độngthù địch, của giai cấp địa chủ phong kiến.Pháp luật giai đoạn 1945 - 1959 đã tạo ranhững tiền đề quan trọng trong việc xác lậpquan hệ sở hữu mới dưới chính quyền dân chủnhân dân Từ đó xây dựng cơ sở vật chất bảođảm cho sự tồn tại và phát triển của chế độmới Trong giai đoạn này ta đã dùng chínhquyền vô sản làm công cụ cải tạo xã hội, thiếtlập quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, chúng
ta coi công hữu là mục tiêu
Giai đoạn 1959 - 1980: Miền Bắc tiến
lên CNXH, còn miền Nam tiếp tục tiên hànhcuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dântrong điều kiện mói để đi đến cuộc tống tiếncông và nổi dậy ngày 30/4/1975 giải phónghoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước và
cả nước cùng tiến lên CNXH
Miền Bắc về cơ bản hoàn thành cải tạoXHCN đối với các thành phần kinh tế phi xãhội chủ nghĩa Nhiệm vụ chủ yếu thời kỳ này
là xác lập và hoàn thiện chế độ sở hữu xã hộichủ nghĩa ở miền Bắc Điều 12, hiến pháp
1959 khẳng định: “Kinh tế quốc doanh thuộc
sở hữu toàn dân giữ vai trò lãnh đạo nền kinh
tế quốc dân Trong đó tồn tại các hình thức sởhữu là : Sở hữu nhà nước, sở hữu của các nhà
tư sản dân tộc, sở hữu của tiểu thương, thợ thủcông, hộ nông dân cá thể, sở hữu tập thể củacác HTX, được quy định tại điều 11 Hiếnpháp 1959 thực hiện các Nghi quyết Đại hộiĐảng lần thứ nt, IV, là vừa xây dựng vừa cảitạo, trong cải tạo có xây dựng sở hữu thời kỳnày tạo tiền đề quan trọng có ý nghĩa to lớncho thời kỳ tiếp theo
Giai đoạn 1980 - 1986: Hiến pháp
1980 thay thế hiến pháp 1959 đã ghi nhậnphạm vi và bản chất của sở hữu toàn dân.Trong đó tại các điều 18, 19, 23, 24, 27 củahiến pháp 1980 đã quy định các hình thức sởhữu cơ bản sau: Sở hữu toàn dân đối vói đấtđai, rừng núi sông hồ (Điều 19); Sở hữu tậpthể; sở hữu của công dân Trong đó ưu tiên sởhữu nhà nước và sở hữu tập thể Tại điều 18hiến pháp 1980 quy định: “Thiết lập và củng
cố chệ độ sở hữu xã hội chủ nghĩa về TLSXnhằm thựchiện một nền kinh tế quốc dân chủyếu có hai thành phần : Thành phần kinh tếquốc doanh thuộc sở hữu toàn dân và thànhphần kinh tế HTX thuộc sở hữu tập thể củanông dân lao động”
Trang 19Từ đổi mới đến nay: Nhận thức của
đảng và Nhà nước về tính tất yếu phải tồn tại
nhiều hình thức sở hữu trong thời kỳ quá độ ở
nước ta :
Trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã
hội ở nước ta trước đây, cơ cấu sở hữu được
thiết lập chỉ với hai hình thức cơ bản sở hữu
toàn dân và sở hữu tập thể Những hình thức
sở hữu Êy không phản ánh thực chất tính chất
và trình độ hiện thời của lực lượng sản xuất
Từ đó dẫn tới vi phạm lợi ích của người lao
động đã làm cho nền kinh tế mất đi động lực
Vì vậy đã đẩy nền kinh tế nhiều năm rơi vao
tình trạng khủng hoảng, trì trệ
Tại Đại hội VI của Đảng đã nghiêm túc
kiểm điểm lại quá trình xây dựng CNXH ở
nước ta tõ trước đó và rút ra kết luận: “Lực
lượng sản xuất bị kìm hãm không chỉ trong
trường hợp quan hệ sản xuất lạc hậu, mà cả
khi quan hệ sản xuất phát triển không đồng bộ
có nhữngười yếu tố đi quá xa so với trình độ
phát triển của lực lượng sản xuất” Cùng với
việc phát hiện ra các sai lầm đó, Đảng ta còng
đã kiên quyết khắc phục, sửa chữa thông qua
đổi mới và việc thừa nhận vai trò và sự tồn tại
của hình thức tư hữu trong tính đa dạng của
các hình thức sở hữu Đây là một bước ngoặt
lớn mang tầm vóc chiến lược mới, thể hiện sự
đổi mới của Đảng ta
Hiện nay Đảng và Nhà nước ta đang
chủ trương phát triển nền kinh tế hàng hóa
nhiều thành phần với nhiều hình thức sở hữu
khác nhau, vận hành theo cơ chế thị trường, có
sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã
hội chủ nghĩa
Đặc điểm to lớn nhất của thời kỳ quá
độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là điểm xuất
phát rất thấp, sản xuất nhỏ là phổ biến, bỏ qua
chế độ tư bản chủ nghĩa Điều đó có nghĩa là
trình độ của lực lượng sản xuất ở nước ta còn
rất thấp kém và do đó sở hữu tư nhân về tư
liệu sản xuất vẫn còn phù hợp vói trình độ của
lực lượng sản xuất, là nhân tố thúc đẩy sự phát
triển của lực lượng sản xuất Bởi vậy, trong
thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt
Nam, sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất chẳng
những không cần phải xoá bỏ mà còn cần
được tạo mọi điều kiện để phát triển Nó là
một hình thức sở hữu cơ bản trong thời kỳ quá
độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta
Như vậy, trong thời kỳ quá độ lên chủnghĩa xã hội ờ nước ta tồn tại ba hình thức sởhữu cơ bản về tư liệu sản xuất, đó chính là bachế độ sở hữu: toàn dân, tập thể và tư nhân.Trên cơ sở của ba chế độ sở hữu đó hình thànhnhiều hình thức sở hữu ở những mức độ chínmuồi khác nhau: sở hữu toàn dân (sở hữu nhànước), sở hữu tập thể, sở hữu cá thể, sở hữu tưbản tư nhân, sở hữu hỗn họp giữa nhà nước và
tư nhân Các hình thức sở hữu tư liệu sảnxuất tồn tại khách quan, lâu dài, không biệt lập
mà đan xen nhau và tác động lẫn nhau Sở hữunhà nước được xác lập trước hết đối với cáccông trình thuộc kết cấu hạ tầng, các nguồn tàinguyên, các tài sản quốc gia Sở hữu nhànước còn được thiết lập trong các lĩnh vựcthen chốt của nền kinh tế như: ngân hàng, bảohiểm, bưu điện, đường sắt, hàng không, sảnxuất điện, khai thác mỏ Đồng thời, do hoàncảnh lịch sử, sở hữu nhà nước còn đựợc thiếtlập ở các doanh nghiệp cung ứng hàng hoá,dịch vụ thông thường Với sự thiết lập sở hữunhà nước, Nhà nước trở thành chủ thể kinh tếthực sự, thiết lập quan hệ kinh tế và tác độngđến các chủ thể kinh tế khác
Ngày nay, dưới tác động của các cuộccách mạng khoa học kỹ thuật - công nghệ hiệnđại, kinh tế thị trường , kinh tế trí thức, toancầu hoá và hôi nhập quốc tế đã làm cho bêncạnh sở hữu về tư liệu sản xuất - sở hữu cơbản và chủ yếu- đã xuất hiện thêm một số đốitượng sở hữu mới, đó là:
Một là, sở hữu giá trị - sở hữu tồn tạidưới hình thái tiền tệ, hình thái vốn (vốn tự có,vốn vay, vốn cổ phần) và lấy hiệu quả tínhbằng giá trị, chứ không phải tính bằng hiện vậtlàm thước đo hiệu quả sản xuất kinh doanh,bảo tồn và phát triển vốn
Hai là, sở hữu fri tuệ Đối tượng sở hữunày được chia làm 2 loại: sở hữu cộng nghiệp
và sở hữu bản quyền tác giả tác phẩm
Sự xuất hiện các đối tượng sở hữu mớinày cho thấy: Quốc gia, địa phương và doanhnghiệp nào nhận thức và vận dụng nhanh và tốtcác đối tượng sở hữu mới bên cạnh sở hữu hiệnvật(tư liệu sản xuất) thì quốc gia, địa phương,ngành và doanh nghiệp đó sớm tạo ra năng lựccạnh tranh cao, tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh
và phát triển kinh tế xã hội bền vững
Trang 20* Vị trí ý nghĩa của vấn đề sở hữu:
Vị trí: Là căn cứ để giải quyết các vấn
đề về lợi ích kinh tế trong nền kinh tế nhiều
thành phần Là căn cứ chủ yếu để xác định và
phân loại các thành phần kinh tế Là cơ sở để
xác lập chế độ kinh tế xã hội và phân biệt các
hình thái kinh tế-xã hội trong lịch sử Riêng
đối với Việt nam, mọi cách giải quyết vấn đề
sở hữu đều có liên quan đến tăng trưởng kinh
tế, phát triển kinh tế theo định hướng XHCN
Ý nghĩa: Phải xuất phát từ lực lượng
sản xuất để xử lý mọi sự biến đổi của các hình
thức sở hữu tư liệu sản xuất và quan hệ sản
xuất Thước đo về sự phù hợp của việc thiết
lập hĩnh thức sở hữu và quan hệ sản xuất là sự
thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, cải
thiện đời sống, công bằng xã hội Chống nóng
vội, chủ quan, duy ý chí
Câu 2: Trình bày những nội dung cơ bản về
vấn đề các thành phần kinh tế trong thời kỳ
quá độ lên CNXH? Liên hệ với VN?
*Quan điểm của chủ nghĩa Mác
-Lênin về thời kỳ quá độ lên CNXH
Lý luận về hình thái kinh tế - xã hội của
C.Mác cho thấy sự biến đổi của các xã hội là
quá trình lịch sử tự nhiên Vận dụng lý luận đó
vào phân tích xã hội tư bản, tìm ra các quy
luật vận động của nó, C.Mác và Ph.Ăngghen
đều cho rằng, phương thức sản xuất tư bản chủ
nghĩa có tính chất lịch sử và xã hội tư bản tất
yếu bị thay thế bằng xã hội mới - xã hội cộng
sản chủ nghĩa
Đồng thời C.Mác và Ph.Ăngghen cũng
dự báo trên những nét lớn về những đặc trưng
cơ bản của xã hội mới, đó là: có lực lượng sản
xuất xã hội phát triển cao; chế độ sở hữu xã
hội về tư liệu sản xuất được xác lập, chế độ
người bóc lột người bị thủ tiêu; sản xuất nhằm
thoả mãn nhu cầu của mọi thành viên trong xã
hội; nền sản xuất được tiến hành theo một kế
hoạch thống nhất trên phạm vi toàn xã hội; sự
phân phối sản phẩm bình đẳng; sự đối lập giữa
thành thị và nông thôn, giữa lao động trí óc và
chân tay bị xoá bỏ
Để xây dựng xã hội mới có những đặc
trưng như trên cần phải qua hai giai đoạn: giai
đoạn thấp hay giai đoạn đầu và giai đoạn sau
hay giai đoạn cao Sau này V.LLênin gọi giai
đoạn đầu là chủ nghĩa xã hội và giai đoạn sau là
chủ nghĩa cộng sản
Vận dụng học thuyết C.Mác vào côngcuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xôtrước đây, V.I.Lênin đã phát triển lý luận vềthời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Nội dung cơ bản của lý luận đó là:Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội làtất yếu khách quan, bất cứ quốc gia nào đi lênchủ nghĩa xã hội đều phải trải qua, kể cả cácnước có nền kinh tế rất phát triển
Tính tất yếu của thời kỳ quá độ lên chủnghĩa xã hội được quy định bởi đặc điểm củacách mạng vô sản và những đặc trưng kinh tế,
xã hội của chủ nghĩa xã hội
Đặc điểm kinh tế cơ bản nhất của thòi
kỳ quá độ là sự tồn tại nền kinh tế nhiều thànhphần và tương ứng với nó có nhiều giai cấp,tầng lớp xã hội khác nhau nhưng vị trí, cơ câu
và tính chât của các giai câp trong xã hội đãthay đôi một cách sâu sắc
Sự tồn tại của cơ cấu kinh tế nhiềuthành phần là khách quan và lâu dài, có lợicho sự phát triển lực lượng sản xuất, tăngtrưởng kinh tế Phân tích thực trạng nền kinh
tế của nước Nga Xôviết lúc đó, V.I Lênin rút
ra có năm thành phần kinh tế là: thành phầnkinh tế nông dân gia trưởng; thành phần kinh
tế sản xuất hàng hoá nhỏ của nông dân, tiểuthủ công cá thể và tiểu thương; thành phânkinh tê tư bản tư nhân; thành phần kinh tế tưbản nhà nước; thành phần kinh tế xã hội chủnghĩa Tương ứng với nền kinh tế quá độ gồmnhiều thành phần, trong xã hội cũng tồn tạinhiều giai cấp, trong đó có ba giai cấp cơ bản
là giai cấp tiểu tư sản, giai cấp tư sản và giaicấp công nhân, người lao động tập thể TheoLênin, mâu thuẫn cơ bản của thời kỳ quá độlên chủ nghĩa xã hội là mâu thuẫn giữa chủnghĩa xã hội đã giành thắng lợi nhưng còn nonyếu với chủ nghĩa tư bản đã bị đánh bại nhưngvẫn còn khả năng khôi phục Vì vậy, thời kỳquá độ là thời kỳ diễn ra cuộc đấu tránh "aithắng ai" giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa
tư bản quyết liệt, quanh co, khúc khuỷu vàphức tạp
*Nền kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
- Tính tất yếu khách quan và vai trò của nền kinh tế nhiều thành phần
Thành phần kinh tế là khu vực kinh tế,kiểu quan hệ kinh tế dựa trên một hình thức sở
Trang 21hữu nhất định về tư liệu sản xuất Thành phần
kinh tế tồn tại ở những hình thức tổ chức kinh
tế nhất định, trong đó căn cứ vào quan hệ sản
xuất (mà hạt nhân là quan hệ sở hữu) nào
thống trị để xác định từng thành phần kinh tế
Sự tồn tại nền kinh té nhiều thành phần
không chỉ là một tất yếu khách quan, mà còn
có vai trò to lớn vì:
Một là, sự tồn tại nhiều thành phần kinh
tế, tức là tồn tại nhiều hình thức tổ chức kinh
tế, nhiều phương thức quản lý phù hợp với
trình độ khác nhau của lực lượng sản xuất
Chính sự phù hợp này đến lượt nó, có tác dụng
thúc đẩy tăng năng suất lao động, tăng trưởng
kinh tế, nâng cao hiệu quả kinh tế trong các
thành phần kinh tế và trong toàn bộ nền kinh
tế quốc dân
Hai là, nền kinh tế nhiều thành phần
làm phong phú và đa dạng các chủ thể kinh tế,
từ đó thúc đẩy phát triển kinh tế hàng hoá, tạo
tiền đề đẩy mạnh cạnh tranh, khắc phục tình
ừạng độc quyền Điều đó góp phần quan trọng
vào việc nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh
của nền kinh tế của nước ta trong quá ừình hội
nhập kinh tế quốc tế, thúc đẩy tăng trưởng
kinh tế nhanh và bền vững cải thiện và nâng
cao đời sống của nhân dân, phát triển các mặt
của đời sống kinh tế xã hội
Ba là, tạo điều kiện thực hiện và mở
rộng các hình thức kinh tế quá độ, trong đó có
hình thức kinh tế tư bản nhà nước Đó là
những "cầu nối", trạm "trung gian" cần thiết
để đưa nước ta từ sản xuất nhỏ lên chủ nghĩa
xã hội, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa
Bốn là, phát triển mạnh các thành phần
kinh tế và cùng với nó là các hình thức tổ chức
sản xuất kinh doanh là một nội dung cơ bản
của việc hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta
Năm là, sự tồn tại nhiều thành phần
kinh tế đáp ứng được lợi ích kinh tế của các
giai cấp, tầng lớp xã hội, có tác dụng khai
thác, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, các
tiềm năng của đất nước, như sức lao động,
vốn, tài nguyên thiên nhiên, kinh nghiệm quản
lý để tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững
Đồng thời cho phép khai thác kinh nghiệm tổ
chức quản lý và khoa học, công nghệ mới trên
thế giới
Cơ cấu các thành phần kinh tế trong
thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt
Nam
Trên cơ sở nguyên lý ba thành phầnkinh tế chủ yếu mà V.I.Lênin đã chỉ ra trongthời kỳ quá độ (kinh tế xã hội chủ nghĩa, kinh
tế của những người sản xuất hàng hóa nhỏ,kinh tế tư bản tư nhân), tuỳ hoàn cảnh cụ thể
mà xác định cơ cấu thành phần của từng giaiđoạn cho phù hợp
Qua thực tiễn của 20 năm đổi mới, tạiĐại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Đảng ta
đã xác định nền kinh tế nước ta có năm thànhphần Đó là: Kinh tế nhà nước - Kinh tế tậpthể - Kinh tế tư nhân (cá thể, tiểu chủ, tư bản
tư nhân) - Kinh tế tư bản nhà nước - Kinh tế
có vốn đầu tư nước ngoài
Theo Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X Nxb Chính tri quốc gia, Hà
Nội, 2006 gồm: Kinh tế cá thể, tiểu chủ; Kinh
tế tư bản tư nhân; Kinh tế tư bản nhà nước;Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
Xã hội hóa sản xuất theo định hướng xãhội chủ nghĩa chính là làm cho nền kinh tếnhiều thành phần phát triển theo định hướng
xã hội chủ nghĩa ở nước ta Để đinh hướng xãhội chủ nghĩa nền kinh tế nhiều thành phầnchúng ta cần phải:
Làm cho kinh tế nhà nước giữ vai trò chủđạo và nó cùng với kinh tế tập thể dần dần trởthành nền tảng vũng chắc của nền kinh tế Khuyến khích và tạo điều kiện để cácthành phàn kinh tế khai thác tối đa các nguồnlực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nângcao hiệu quả kinh tế và xã hội, cải thiện vànâng cao đời sống nhân dân
Thực hiện nhiều hình thức phân phối, lấyphân phối theo lao động và hiệu quả kinh tế làchủ yếu; thừa nhận thuê mướn lao động nhưngkhông để nó trở thành quan hệ thống trị;
Tăng cường hiệu lực quản lý vĩ mô củaNhà nước; phát huy mặt tích cực và hạn chếmặt tiêu cực của cơ chế thị trường; khuyếnkhích làm giàu hợp pháp đi đôi với xoá đóigiảm nghèo, tránh sự phân hóa xã hội thànhhai cực đối lập, không để chênh lệch quá lớn
về mức sống và trình độ phát triển giữa cácvùng, các tầng lớp dân cư; kết hợp tăng trưởngkinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội ngaytrong từng bước và từng chính sách phát triển
Trang 22Câu 3: Trình bày những nội dung cơ bản về
vấn đề kinh tế chính trị trong thời kỳ quá
độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam?
- Về tính tất yếu khách quan của sự
lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội
bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa.
Kế thừa quan điểm của chủ nghĩa Mác
- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta trong
suốt quá trình cách mạng Việt Nam luôn
khẳng định con đường đi lên của đất nước là
quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ tư
bản chủ nghĩa
Trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã
hội ở nước ta trước những năm đổi mới đã
xuất hiện không ít khó khăn, thách thức như
đất nước rơi vào tình trạng trì trệ, khủng
hoảng ừầm trọng, Liên Xô và các nước xã hội
chủ nghĩa ở Đông Âu sụp đổ, Đảng và dân tộc
ta vẫn kiên trì con đường đi lên chủ nghĩa xã
hội Đổi mới không phải thay đổi lựa chọn con
đường đi lên chủ nghĩa xã hội bằng con đường
khác, mà là thay đổi cách thức, bước đi trong
quá trình đi lên chủ nghĩa xã hội phù hợp với
xu thế mới của thế giới và hoàn cảnh đặc thù
của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới
Đại hội đại biểu lần thứ VI của Đảng ta
khẳng định: Ngày nay đã có những điều kiện
để hiểu biết đầy đủ hơn về con đường tiến lên
chủ nghĩa xã hội ở nước ta Từ chủ nghĩa tư
bản lên chủ nghĩa xã hội phải trải qua thời kỳ
quá độ là một tất yếu khách quan, và độ dài
của thời kỳ đó phụ thuộc vào điều kiện chính
trị, kinh tế, xã hội của mỗi nước Thời kỳ quá
độ ở nước ta, do tiến thẳng lên chủ nghĩa xã
hội từ một nền sản xuất nhỏ, bỏ qua giai đoạn
phát triển tư bản chủ nghĩa, đương nhiên phải
lâu dài và rất khó khăn Đó là một thòi kỳ cải
biến cách mạng sâu sắc, toàn diện, triệt để
nhằm xây dựng từ đầu một chế độ xã hội mới
cả về lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất và
kiến trúc thượng tầng Đó là một thời kỳ đấu
tranh giai cấp phức tạp, đấu tranh giữa hai con
đường xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa
trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội
nhằm giải quyết vấn đề “ai thắng ai”, v.v
Đảng ta đã nhiều lần chỉ rõ nhiệm vụ
chủ yếu của chặng đường đầu tiên là xây dựng
những tiền đề chính trị, kinh tế, xã hội cần
thiết để triển khai công nghiệp hóa xã hội chủ
nghĩa trên quy mô lớn
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ vncủa Đảng tiếp tục khẳng định: Đi lên chủnghĩa xã hội là con đường tất yếu của nước ta.Chúng ta phê phán những khuyết điểm, sailầm ừong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội,nhưng không quan niệm những lệch lạc đó làkhuyết tật của bản thân chế độ, coi khuyếtđiểm là tất cả, phủ định thành tựu, từ đó daođộng về mục tiêu và con đường đi lên chủnghĩa xã hội, bằng những hình thức, bước đi
và biện pháp thích hợp
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IXcủa Đảng nêu rõ: Con đường đi lên của nước
ta là sự phát triển quá độ lên chủ nghĩa xã hội
bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, tức là bỏ quaviệc xác lập vị trí thống trị của quan hệ sảnxuất và kiến truc thượng tầng tư bản chủnghĩa, nhưng tiếp thụ, kế thừa những thànhtựu mà nhân loại đã đạt được dưới chế độ tưbản chủ nghĩa, đặc biệt về khoa học và côngnghệ, để phát triển nhanh lực lượng sản xuất,xây dựng nền kinh tế hiện đại
Trong cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ
sung, phát triển năm 2011), Đảng ta khẳngđịnh: Tiếp tục đưa đất nước từng bước quá độlên chủ nghĩa xã hội với nhận thức và tư duymới đúng đăn, phù họp thực tiễn Việt Nam.Mặc dù hiện tại, chủ nghĩa tư bản còn tiềmnăng phát triển, nhưng về bản chất vẫn là mộtchế độ áp bức bóc lột và bất công Những mâuthuẫn cơ bản vốn có của chủ nghĩa tư bản,nhất là mâu thuẫn giữa tính chất xã hội hóangày càng cao của lực lượng sản xuất với chế
độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa, chẳngnhững không giải quyết được mà ngày càngtrở nên sâu sắc Khủng hoảng kinh tế, chínhtri, xã hội vẫn tiếp tục xảy ra “Chính sự vậnđộng của những mâu thuẫn nội tại đó và cuộcđấu tranh của nhân dân lao động sẽ quyết định
vận mệnh của chủ nghĩa tư bản ( ) Theo quy luật tiến hóa của lịch sử, loài người nhất định
sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội”.
- Về đặc điểm và thực chất của thời kỳ quá
độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Đặc điểm cơ bản của thời kỳ quá độ lênchủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là có điểm xuấtphát từ trình độ thấp song bỏ qua chế độ tưbản chủ nghĩa, do đó trong qúa trình xây dựngchủ nghĩa xã hội cần phải vận dụng sáng tạoquan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
Trang 23tưởng Hồ Chí Minh phù hợp vói hoàn cảnh
lịch sử của dân tộc
Trong quá trình đổi mới, đặc điểm và
thực chất của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã
hội ở Việt Nam từng bước được xác đỊnh rõ
hơn Từ chỗ hiểu bỏ qua chế độ tư bản chủ
nghĩa là bỏ qua toàn bộ những gì chủ nghĩa tư
bản đã làm, đến nhận thức về tính tất yếu
khách quan của việc khôi phục và phát triển
nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo
định hướng xã hội chủ nghĩa
Đại hội đại biểu lần thứ IX của Đảng
chỉ rõ: Con đường đi lên của nước ta là sự
phát triển quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua
chế độ tư bản chủ nghĩa, tức là bỏ qua việc
xác lập vị trí thống trị của quan hệ sản xuất và
kiến truc thượng tầng tư bản chủ nghĩa, nhưng
tiếp thu, kế thừa những thành tựu mà nhân loại
đã đạt được dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, đặc
biệt về khoa học và công nghệ, để phát triển
nhanh lực lượng sản xuất, xây dựng nền kinh
tế hiện đại
- Về những nhiệm vụ kinh tế cơ bản
của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở
Việt Nam.
Từ mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội
là “một xã hội: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ,
công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có
nền kinh tế phát triển cao dựa trên nền sản
xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù
họp; có nền văn hóa tiến tiến, đậm đà bản sắc
dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do,
hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện;
các dân tộc trong cộng đồng Việt nam bình
đẳng, đoàn kết, tôn ừọng và giúp đỡ nhau
cùng phát triển; có quan hệ hữu nghị và hợp
tác với các nước trên thế giới”, Đảng ta đã xác
định những nhiệm vụ kinh tế cơ bản ừong thời
kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
bao gồm:
Thứ nhất, phát triển lực lượng sản xuất
thông qua công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền
kinh tế quốc dân Phát triển kinh tế là nhiệm
vụ trung tâm; thực hiện công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước gắn liền với phát triển kinh tế
tri thức và bảo vệ tài nguyên môi trường; xây
dựng cơ cấu kinh tế hợp lý, hiện đại, có hiệu
quả và bền vững, gắn kết chặt chẽ công
nghiệp, nông nghiệp dịch vụ Coi trọng phát
triển các ngành công nghiệp nặng, công
nghiệp chế tạo có tính nền tảng và các ngành
công nghiệp có lợi thế; phát triển nông, lâm,ngư nghiệp ngày càng đạt trình độ công nghệcao, chất lượng cao gắn với công nghiệp chếbiến và xây dựng nông thôn mới Bảo đảmphát triển hài hòa giữa các vùng kinh tế trọngđiểm, đồng thời tạo điều kiện phát triển cácvùng có nhiều khó khăn Xây dụng nền kinh tếđộc lập, tự chủ, đồng thời chủ động, tích cựchội nhập kinh tế quốc tế
Thứ hai, xây dựng quan hệ sản xuất
mới thông qua phát triển nền kinh tế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa Phát triểnnền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thànhphần kinh tế, hình thức tổ chức kinh doanh vàhình ứiức phần phối Các thành phần kinh tếhoạt động theo pháp luật đều là bộ phận hợpthành quan trọng của nền kinh tế, bình đẳngtrước pháp luật, cùng phát triển lâu dai, hợptác và cạnh tranh lành mạnh Kinh tế nhà nướcgiữ vai trò chủ đạo Kinh tế tập thể khôngngừng được củng cố và phát triển Kinh tế nhànước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trởthành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốcdân Kinh tế tư nhân là một ừong những độnglực của nền kinh tế Kinh tế có vốn đầu tưnước ngoài được khuyến khích phát triển Cáchình thức sở hữu hỗn họp và đan kết với nhauhình thành các tổ chức kinh tế đa dạng ngàycàng phát triển Quan hệ phân phối bảo đảmcông bằng và tạo động lực cho phát ừiển; cácnguồn lực được phân bổ theo chiến lược, quyhoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội;thực hiện chế độ phân phối chủ yếu theo kếtquả lao động, hiệu quả kinh tế, đồng thòi theomức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác
và phân phối thông qua hệ thống an ninh xãhội, phúc lợi xã hội Nhà nước quản lý nềnkinh tế, định hướng, điều tiết, thúc đay sự pháttriên kinh tế - xã hội bằng pháp luật, chiếnlược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách và lựclượng vật chất
Thứ ba, mở rộng và nâng cao hiệu quả
kinh tế đối ngoại Thực hiện nhất quán đườnglối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác
và phát triên; đa phương hóa, đa dạng hóaquan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốctế; nâng cao vị thế của đất nước; vì lợi íchquốc gia, dân tộc, vì một nước Việt Nam xãhội chủ nghĩa giàu mạnh; là bạn, đối tác tincậy và thành viên cố trách nhiệm trong cộng
Trang 24đồng quốc tế, góp phần vào sự nghiệp hòa
bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã
hội trên thế giới
Câu 4 : Tính tất yếu và lợi ích của việc tồn tại
nhiều thành phần kinh tế từ ong TKQĐ lên
CNXH ở nước ta hiện nay ? Quan điểm của
Đảng ta về các thành phần kinh tế qua các kỳ
Đại hội? Liên hệ sự hoạt động của các thành
phần kinh tế ở địa phương đồng chí?
Các thành phần KT không tồn tại biệt
lập mà có quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động
lẫn nhau tạo thành cơ cấu KT thống nhất bao
gồm nhiều thành phần KT
Cơ cấu KT nhiều thành phần trong thời
kỳ quá độ lên CNXH là cơ cấu KT trong đó
các thành phần KT cùng tồn tại và phát triển
như một tổng thể, giữa chúng có QH vừa hợp
tác, vừa cạnh tranh với nhau
Sự tồn tại cơ cấu KT nhiều thành phần
là đặc trưng trong thời kỳ quá độ lên CNXH
và là tất yếu khách quan:
Một số thành phần KT của phương
thức sx cũ (KT cá thể, tiểu chủ, KT tư bản tư
nhân ) để lại, chúng đang có tác dụng đối với
sự phát triển LLSX; một số thành phần KT
mới hỉnh thành trong quá trình cải tạo QHSX
cũ và XD QHSX mới (như KT nhà nước, KT
tập thể, KT tư bản nhà nước.) Các thành phần
KT cũ và các thành phần KT mới tồn tại
khách quan, có quan hệ với nhau cấu thành cơ
cấu KT trong thòi kỳ quá độ lên CNXH ở
nước ta
Nguyên nhân cơ bản của sự tồn tại
nhiều thành phần KT trong TKQĐ lên CNXH
suy cho cùng là do quy luật QHSX phải phù
hợp với tính chất và trình độ của LLSX quy
định TKQĐ của nước ta, do trình độ của
LLSX còn thấp, tồn tại ở nhiều thang bậc khác
nhau, lại phân bổ không đều giữa các ngành,
vùng nên tất yếu còn tồn tại nhiều hình thức
sở hữu TLSX, nhiều thành phần KT
Sự tồn tại nhiều thành phần KT còn do
nhu cầu giải quyết việc làm cho lao động lớn ở
nước ta; Giúp giải phóng sức LĐ
Lợi ích của sự tồn tại nền kinh tế nhiều thành phần trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam:
+ Mỗi LLSX có một QHSX phù hợp sẽtăng năng suất lao động, thúc đẩy tăng trưởngkinh tế, tạo điều kiện nâng cao hiệu quả kinh
tế của các thành phần kinh tế và toàn bộ nềnkinh tế ở nước ta
+ Tạo ra lượng hàng hóa ngày càngphong phú, đa dạng, cải thiện và nâng cao đờisống vật chất và tinh thần của nhân dân, pháttriển đời sống kinh tế xã hội, tạo lập thị trườngkinh tế đồng bộ
+ Cho phép khai thác có hiệu quả cácyếu tố đầu vào như vốn, sức lao động, lã thuật,kinh nghiệm quản lí để phát triển kinh tế
+ Tạo ra các hình thức kinh tế quá độtrong đó kinh tế tư bản nhà nước có ý nghĩa như
là “cầu nối”, “trạm trung gian” cần thiết để đưanước ta từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn xã hộichủ nghĩa, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa
+ Tạo tiền đề để khắc phục tình trạngđộc quyền, tạo ra quan hệ cạnh tranh, động lựcquan trọng để thúc đẩy cải tiến kĩ thuật, pháttriển lực lượng lượng sản xuất
Quan điểm của Đảng ta về các thành phần kinh tế qua các kỳ Đại hội
+ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ m (năm 1960) Đảng ta khẳng định 5 thành phần
kinh tế: Kinh tế quốc doanh, Kinh tế tập thể,Kinh Tế tư bản nhà nước, Kinh tế sản xuất hànghóa nhỏ và Kinh tế nông dân kiểu gia trưởng
+ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV
(năm 1976)
Miền Bắc: có 3 thành phần kinh tế:Kinh tế XHCN, Kinh tế sản xuất hàng hóa nhỏ
và Kinh tế nông dân gia trưởng,
Miền Nam có 5 thành phần kinh tế:
Cả 3 thành phần kinh tế của miền Bắc, Kinh tếTBCN và Kinh tế tư bản nhà nước
+ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V(năm 198 ) Đảng ta khẳng định 5 thành phầnkinh tế: Kinh tế XHCN (Khu vực kinh tế quốcdoanh và tập thể), Kinh tế tư nhân TBCN,Kinh tế tư bản nhà nước,Kinh tế tư nhân tựcấp, tự túc và Kinh tế sản xuất hàng hóa nhỏ
+ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI(năm 1986 Đảng ta khẳng định 5 thành phầnkinh tế: Kinh tế XHCN (Quốc doanh, tập thể,gia đình), Kinh té sản xuất hàng hóa nhỏ, Kinh
Trang 25tế tự túc, tự cấp, Kinh tế tư bản nhà nước và
kinh tế tư bản tư nhân
+ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ vn
(năm 1991) Đảng ta khẳng định 5 thành phần
kinh tế: Kinh tế quốc doanh, Kinh tế tập thể,
Kinh tế cá thể, Kinh tế tư nhân, và Kinh tế tư
bản nhà nước; do vậy NQ Đại hội Đảng toàn
quốc lần thứ vn chỉ rõ: “Từ các hình thức sở
hữu cơ bản sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể,
sở hữu tư nhân hình thành nhiều thành phần
kinh tế với những hình thức tô chức kinh
doanh đa dạng, đan xen, hỗn hợp
+ Đại hội VI (năm 1996) có 5 thành
phần kinh tế: Kinh tế nhà nước, Kinh tế hợp
tác xã, Kinh tế cá thể, tiểu chủ, Kinh tế tư bản
tư nhân và Kinh tế tư bản nhà nước, Đại hội
Đảng toàn quốc lần thứ IX nêu ra 6 thành
phần kinh tế cơ bản:
+ Tại Đại hội IX (năm 2001), gồm có 6
thành phần kinh tế: Thành phần kinh tế nhà
nước, Thành phần kinh tế hợp tác xã, Thành
phần kinh tế cá thể tiểu chủ, Thành phần kinh
tế tư bản tư nhân, Thành phần kinh tế tư bản
nhà nước, và Thành phần kinh tế có vốn đầu
tư nước ngoài; Kinh tế hỗn hợp (thuộc sở hữu
cổ phần)
+ Tại Đại hội X (năm 2006), gồm có 5
thành phần kinh tế: Thành phần kinh tế nhà
nước, Thành phần kinh tế tập thể, Thành phần
kinh tế tư nhân (bao gồm kinh tế cá thể, tiểu
chủ, tư bản tư bản tư nhân ), Thành phần kinh
tế tư bản nhà nước, và Thành phần kinh tế cóvốn đầu tư nước ngoài
Như vậy Đại hội X chỉ khác Đại hội IX
ở chỗ đã sát nhập hai thảnh phần kinh tế kinh
tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư bản tưnhân thành một thành phần đó là kinh tế tưnhân, là vì hai thành phần này có điểm chunggiống nhau là đều dựa trên chế độ sở hữu tưnhân về TLSX; mặt khác chúng ta xóa đi sựmặc cảm đối với kinh tế tư bản tư nhân và nó
sẽ thuận hơn khi nói đến đảng viên được làmkinh tế tư nhân
Tại Đại hội XI (năm 2011) Đảng ta
không xác định số lượng thành phần kinh tế baonhiêu mà chỉ nói nhiều thành phần KT, số lượngbao nhiêu tùy sự phát triển của từng địa phương
Văn kiện Đại hội XI của Đảng nhấnmạnh “Phát triển nền kinh tế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sởhữu, nhiều thành phần kinh tế, hình thức tổchức kinh doanh”, còn số lượng các hình thức
sử hữu, các thành phần kinh tế và theo đó làbao nhiêu loại hình doanh nghiệp là do nhucầu khách quan của sự phù họp giữa quan hệsản xuất và lực lượng sản xuất quyết định.Đây là một bước tiến nham tạo một khônggian mở cho quy luật về sự phù hợp giữa quan
hệ sản xuất và lực lượng sản xuất hoạt động,
để có thể tránh giáo điều chủ quan
Đại hội khẳng định kinh tế tư nhân làđộng lực thúc đẩy nền kinh tế phát triển
Trang 26Vấn đề 3: CHỦ NGHĨA XÃ HỘI VÀ CON ĐƯỜNG ĐI LÊN
CHỦ NGHĨA XÃ HỘI (Giáo trình từ trang 287-313)
Trang 27Vấn đề 4: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐỘC LẬP DÂN TỘC GẮN LIỀN
VỚI CHỦ NGHĨA XÃ HỘI(Giáo trình từ trang 354 - 372)
Trang 28Vấn đề 5 ĐẢNG CỘNG SẢN CẦM QUYỀN VÀ PHƯƠNG THỨC LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG
TRONG ĐIỀU KIỆN ĐẢNG CẦM QUYỀN (Giáo trình Những vấn đề cơ bản về Đảng cộng sản và lịch sử
Đảng cộng sản Việt Nam từ trang 55 - 76)
Trang 29Vấn đề 6 ĐẢNG LÃNH ĐẠO CÔNG
CUỘC ĐỔI MỚI ĐẤT NƯỚC
(1986 ĐẾN NAY) Câu 1 Phân tích nội dung cơ bản của
đường lối đổi mới được thông qua tại Đại
hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng
(12-1986)? Làm rõ cơ sở hình thành đường
lối đổi mới.
- Bối cảnh lịch sử Đại hội VI của Đảng.
Trước Đại hội VI, đất nước rơi vào tình
trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội:
Sản xuất đình trệ trong cả nông nghiệp và
công nghiệp Năng suất lao động và hiệu quả
kinh tế bị giảm sút, nhiều mặt bị mất cân đối
nghiêm trọng Phân phối lưu thong rối ren
Lạm phát tăng với 3 con số (1976: 128%;
1981:313%; 1986:774,7%) Đời sống nhân
dân vô cùng khó khăn, thiếu lương thực trầm
trọng, bình quân lương thực đầu người sụt
giảm từ 274kg năm 1976 xuống 268kg năm
1980 Niềm tin của nhân dân vào đường lối,
chính sách của Đảng và Nhà nước giảm sút
Quá trình đổi mới từng phần Đướng lối
đổi mới được hình thành từ những khởi động
đổi mới từng phần ở các địa phương, cơ sở từ
cuối những năm 70 và đầu những năm 80 của
thế kỷ XX
Đảng và Nhà nước đã kịp thời tổng kết thực
tiễn, điều chỉnh cơ chế, chính sách để thúc đẩy sản
xuất phát triển nhằm khắc phục những tác dụng
xấu của khủng hoảng kinh tế - xã hội Quá trình
đó bắt đầu từ Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu Ban
chấp hành Trung ương khóa IV (8-1979) làm cho
sản xuất bung ra, Chỉ thị 100 của Ban bí thư
(13-1-1981) về khoán sản phẩm trong hợp tác xã nông
nghiệp, Quyết định 25/CP và 26/CP của Chính
phủ (21-1-1981) về cải tiến cơ chế quản lý trong
kinh tế quốc doanh, quan điểm của Đại hội V của
Đảng (3-1982) đến Nghị quyết lần thứ tám Ban
Chấp hành Trung ương khóa V (6-1985) về giá –
lương – tiền, xóa bỏ cơ chế quản lý tập trung quan
lieu hành chính, bao cấp, những kết luận về các
quan điểm kính tế của Bộ chính trị (9-1986) để đi
đến hoàn tất các quan điểm cơ bản của đường lối
đổi mới tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI
của Đảng
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI
(12-1986) hoạch định đường lối đổi mới.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIĐảng Cộng sản Việt Nam họp từ ngày 15 đếnngày 18-12-1986 Thủ đô Hà Nội Dự Đại hội
có 1.129 đại biểu thay mặt cho gần 1.9 triệu
đảng viên Đại hội đã nghe và thảo luận Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương
Đảng khóa V do Tổng bí thư Trường Chinhtrình bày và nhiều văn kiện quan trọng khác.Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Trung ươngĐảng khóa VI gồm 124 ủy viên chính thức, 49
ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trungương đã bầu Bộ Chính trị gồm 13 ủy viênchính thức, 1 ủy viên dự khuyết; Ban Bí thưgồm 13 đồng chí Đồng chí Nguyễn Văn Linhđược bầu làm Tổng Bí thư Các đồng chíTrường Chinh, Phạm Văn Đồng, Lê Đức Thọ
là cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng
- Đại hội đề ra đường lối đổi mới toàn diện, gồm những nội dung cơ bản sau:
+ Đổi mới cơ cấu kinh tế
Có chính sách sử dụng và cải tạo đúngđắn các thành phần kinh tế khác ngoài kinh tế
xã hội chủ nghĩa theo quan điểm của Lênin:
“Coi nền kinh tế có cơ cấu nhiều thành phần
là một đặc trưng của thời kỳ quá độ” Các
thành phần đó là: kinh tế xã hội chủ nghĩa(quốc doanh, tập thể); kinh tế tiểu sản xuấthàng hóa; kinh tế tư bản tư nhân; kinh tế tưbản nhà nước; kinh tế tự nhiên tự túc tự cấp.Nhận thức và vận dụng đúng quy luật quan hệsản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độcủa lực lượng sản xuất
Bố trí lại cơ cấu sản xuất, điều chỉnh lại
cơ cấu đầu tư, tập trung thực hiện ba chươngtrình kinh tế lớn
+ Đổi mới cơ chế quản lý kinh tế
Kiên quyết xóa bỏ cơ chế quản lý tập trungquan lieu hành chính bao cấp, đổi mới kếhoạch hóa, kết hợp kế hoạch hóa với thịtrường, từng bước đưa nền kinh tế vận hànhtheo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhànước Phương hướng đổi mới cơ chế quản lýkinh tế là “ xóa bỏ tập trung quan liêu, baocấp, xây dựng cơ chế mới phù hợp với quyluật khách quan và với trình độ phát triển củanền kinh tế Trong cơ chế quản lý đó, tính kếhoạch là đặc trưng số một và sử dụng đúngđắn quan hệ hàng hóa – tiền tệ là đặc trưng thứhai Thực chất của cơ chế mới về quản lý kinh
Trang 30tế là cơ chế kế hoạch hóa theo phương thức
hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa, đúng
nguyên tắc tập trung dân chủ
+ Đổi mới và tang cường vai trò quản lý,
điều hành của Nhà nước về kinh tế
Tăng cường bộ máy nhà nước từ Trung ương
đến địa phương thành một thể thống nhất, có
sự phân biệt rành mạch nhiệm vụ, quyền hạn,
trách nhiệm tùy cấp theo nguyên tắc tập trung
dân chủ: “Phân biệt rõ chức năng quản lý hành
chính – kinh tế của các cơ quan nhà nước
Trung ương và địa phương với chức năng
quản lý sản xuất – kinh doanh của các đơn vị
cơ sở” Thực hiện chức năng quản lý nhà nước
về kinh tế - xã hội, thực hiện cơ chế “Quản lý
đất nước bằng pháp luật, chứ không chỉ bằng
đạo lý”
+ Đổi mới hoạt động kinh tế đối ngoại
Đổi mới hoạt động kinh tế đối ngoại trên
cơ sở mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế
đối ngoại Mở rộng hợp tác đầu tư với nước
ngoài thong qua việc công bố chính sách
khuyến khích đầu tư với nhiều hình thức, nhất
là những ngành đòi hỏi kỹ thuật cao và sản
xuất hàng hóa xuất khẩu Bên cạnh đó, tạo
điều kiện cho người nước ngoài và Việt kiều
về nước đầu tư, hợp tác kinh doanh
+ Đổi mới tư duy lý luận và phong cách
lãnh đạo của Đảng
Đổi mới sự lãnh đạo của Đảng trên cơ sở
nâng cao nhận thức lý luận, vận dụng đúng quy
luật khách quan, khắc phục bệnh chủ quan, duy
ý trí hoặc bảo thủ trì trệ Đổi mới bắt đầu từ đổi
mới tư duy, trước tiên là đổi mới tư duy kinh tế
trên cơ sở nắm vững bản chất cách mạng, khoa
học của chủ nghĩa Mác-Lênin, kế thừa tư tưởng
cách mạng của Chủ tich Hồ Chí Minh Đảng
phải quán triệt tư tưởng “lấy dân làm gốc", phải
nắm vững thực tiễn và không ngừng nâng cao
trình độ chí tuệ và đổi mới phong cách, phương
pháp làm việc
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI
của Đảng có ý nghĩa lịch sử trọng đại, đánh
dấu bước ngoặt trong sự nghiệp quá độ lên
chủ nghĩa xã hội ở nước ta Đại hội đã tìm lối
thoát cho cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội
bằng việc đề ra đường lối đổi mới, đặt nền
tảng cho việc tìm ra con đường lên chủ nghĩa
xã hội Đường lối đổi mới là sản phẩm của tư
duy khoa học của toàn Đảng, toàn dân, thể
hiện quyết râm đổi mới Đảng
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIđược hoach định trên cơ sở tư duy mới về lýluận, về chủ nghĩa xã hội và thời kỳ quá độ,khắc phục tư duy giáo điều, bảo thủ, cứng nhắcthiếu năng động, chủ quan, nóng vội; trên cơ sởtổng kết, khảo nghiệm thực tiễn từ những môhình cách thức quản lý năng động, sáng tạo, cóhiệu quả ở các địa phương cơ sở và cả nhữngkhuyết điểm, vấp váp; tổng kết từ sáng kiên, lợiích, nguyện vọng của nhân dân, đổi mới cũng vìdân; từ sự nghiên cứu kinh nghiệm tổ chức,quản lý của các nước trên thế giới
Điều hết sức quan trọng là Đảng Cộngsản Việt Nam khi quyết định đường lối đổimới đã nắm vững những chỉ dẫn của V.I.Lênin
về những đặc trưng của thời kỳ quá độ, nhất là
sự tồn tại khách quan của nhiều thành phầnkinh tế và tính lâu dài của thời kỳ quá độ lênchủ nghĩa xã hội “Trong trường hợp tốt nhấtthì bước quá độ ấy cũng mất nhiều năm Suốt
cả thời kỳ đó, trong chính sách của chúng ta,lại chia ra nhiều bước quá độ nhỏ hơn nữa Vàtất cả cái khó khan của nhiệm vụ chúng ta phảilàm, tất cả cái khó khan của chính sách và tất
cả sự khéo léo của chính sách là ở chỗ biếttính đến những nhiệm vụ đặc thù của từngbước quá độ đó” Đại hội đại biểu toàn quốclần thứ VI coi chặng đường đầu tiên của thời
kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Namnhư một bước quá độ nhỏ trong bước quá độlớn, “nhiệm vụ chủ yếu của chặng đường đầutiên là xây dựng những tiền đề chính trị, kinh
tế, xã hội, cần thiết để triển khai công nghiệphóa xã hội chủ nghĩa trên quy mô lớn”
- Quá trình Đảng bổ sung, phát triển đường lối mới và lãnh đạo công cuộc đổi mới.
Thực hiện đường lối Đại hội VI của Đảng
Sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
VI, năm 1987-1988, tình hình kinh tế - xã hộivẫn trong tình trạng khủng hoảng trầm trọng,giá cả leo thang, lạm phát vẫn ở mức cao, lươngthực và hàng tiêu dùng vẫn thiếu nghiêm trọng,đời sống nhân dân hết sức khó khan Đường lốiđổi mới của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
VI chưa thật sự đi vào cuộc sống
Để khắc phục tình trạng đó, vấn đề cấpbách đặt ra là phải thể chế hóa, cụ thể hóađường lối đổi mới thành lập pháp luật và cácchính sách, chủ trương, giải pháp cụ thể đểhiện thực hóa đường lối, quan điểm của Đảng.Ngày 14-11-1987, Hội đồng Bộ trưởng ra
Trang 31Quyết định số 217/HĐBT về quyền tự chủ
trong sản xuất, kinh doanh của các đơn vị kinh
tế quốc doanh Ngày 29-12-1987, Quốc hội
khóa VIII thong qua Luật Đầu tư nước ngoài
và Luật này có hiệu lực từ ngày 1-1-1988 Bộ
chính trị ra nghị Quyết số 10-NQ/TW ngày
5-4-1988 (khoản 10) về đổi mới kinh tế nông
nghiệp, giao quyền sử dụng đất lâu dài cho
nông dân và xác định vai trò kinh tế hộ nông
dân Quyết định 217/HĐBT và Nghị quyết 10
của Bộ Chính trị đã thúc đẩy kinh tế phát triển
nhanh, có hiệu quả, đặc biệt là nông nghiệp
Cuối năm 1988, thực hiện trên cả nước bù giá
vào lương, trả lương bằng tiền, xóa bỏ chế độ
phân phối bao cấp, định lượng bằng tem
phiếu Ngày 29-3-1989, Hội nghị lần thứ sáu
Ban Chấp Hành Trung Ương khóa VI đề ra 12
chủ trương chính sách lớn, cụ thể hóa những
quan điểm của Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ VI, giải quyết nhiều vấn đề bức bách về
kinh tế, xã hội thúc đẩy các thành phần kinh
tế phát triển, chống lạm phát, giải quyết vấn
đề tài chính, tiền tệ, tiền lương, lao động, việc
làm, đề ra những nguyên tắc chỉ đạo công
cuộc đổi mới, giữ vững con đường và mục
tiêu xã hội chủ nghĩa, giữ vững sự lãnh đạo
của Đảng và vai trò quản lý của Nhà nước,
chống đa nguyên chính trị và đa đảng đối lập,
thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa gắn với
pháp luật, kỷ luật
Nhờ những chính sách, giải pháp, nguyên tắc
đó mà công cuộc đổi mới phát triển đúng
hướng và từ năm 1989 có được những thành
tựu bước đầu Năm 1989, Việt Nam đã giải
quyết thành công vấn đề lương thực và trở
thành nước xuất khẩu gạo thứ ba thế giới
Năm 1990, hạ lạm phát xuống còn hai con số
(67%) Chính trị, xã hội ổn định, vượt qua
thách thức do tác động của khủng hoảng và
sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở các nước
Đông Âu
Câu 2 Sự phát triển nhận thức của Đảng từ
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời
kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội thông qua
tại Đại hội lần thứ VII (6-1991) đến Cương
lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011)?
- Thực hiện đường lối Đại hội VII của Đảng.
Từ ngày 24 đến ngày 27-6-1991, Đại hội
đại biểu toàn quốc lần thứ VII họp tại Thủ đô
Hà Nội Dự đại hội có 1.176 đại biểu thay mặt
cho hơn 2 triệu đảng viên của toàn Đảng Đạihội đánh giá 5 năm nhiệm kỳ khóa VI, cũng là
5 năm thực hiện công cuộc đổi mới, nêu bậtnhững thành tự bước đầu nhưng rất quantrọng Nền kinh tế có những chuyển biến tíchcực: bước đầu hình thành nền kinh tế hàng hóanhiều thành phần vận động theo cơ chế thịtrường có sự quản lý của Nhà nước, nguồn lựcsản xuất của xã hội được huy động tốt hơn.Thực hiện ba chương trình kinh tế do Đại hộiđại biểu toàn quốc lần thứ VI đề ra có nhữngtiến bộ rõ rệt, tốc độ lạm phát được kiềm chế,đời sống nhân dân có phần được cải thiện, dânchủ trong xã hội được phát huy Nội dung vàphương thức hoạt động lãnh đạo của Đảng,Nhà nước và cả hệ thống chính trị có bước đổimới Quốc phòng được giữ vững, an ninhquốc gia được bảo đảm Từng bước phá thếbao vây cấm vận về kinh tế, chính trị, mở rộngquan hệ quốc tế
Đại hội VII của Đảng bầu Ban Chấphành Trung ương Đảng gồm 146 ủy viên BanChấp hành Trung ương bầu Bộ Chính trị gồm
13 ủy viên và Ban Bí thư gồm 9 đồng chí.Đồng chí Đỗ Mười được bầu làm Tổng Bí thư.Các đồng chí Nguyễn Văn Linh, Phạm VănĐồng, Võ Chí Công là cố vấn Ban Chấp hànhTrung ương Đảng Đại hội đại biểu toàn quốc
lần thứ VII đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội và Chiến lược ổn định, phát triển kinh
tế - xã hội đến năm 2000 Trong Cương lĩnh,
Đại hội đã nêu ra 6 đặc trưng của mô hình xãhội chủ nghĩa mà Đảng và nhân dân ta xâydựng Đó là xã hội:
- Do nhân dân lao động làm chủ
- Có nền kinh tế phát triển cao dựa trên
lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ cônghữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu
- Có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản
sắc dân tộc
- Con người được giải phóng khỏi áp
bức, bóc lột, bất công, làm theo năng lực,hưởng theo lao động, có cuộc sống ấm no, tự
do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàndiện cá nhân
- Các dân tộc trong nước bình đẳng,đoàn kết và giúp đỡ lần nhau cùng tiến bộ
- Có quan hệ hữu nghị và hợp tác với
nhân dân tất cả các nước trên thế giới”
Trang 32Nêu lên mô hình xã hội xã hội chủ nghĩa
và bước phát triển quan trọng trong tư duy và
nhận thức rõ hơn về chủ nghĩa xã hội ở Việt
Nam, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII
khẳng định tư tưởng Hồ Chí Minh cùng với
chủ nghĩa Mác-Lênin là nền tư tưởng và kim
chỉ nam cho hành động của Đảng và đề ra
nhiệm vụ nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh
sâu sắc, có hệ thống Đại hội nêu rõ chính sách
đối ngoại mở rộng: Việt Nam muốn là bạn với
tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn
đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển Xây
dựng hệ thống chính trị vững mạnh
Sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
VII, Việt Nam tiếp tục đẩy mạnh đổi mới,
củng cố nắm vững con đường, mục tiêu xã hội
chủ nghĩa mặc dù chế độ xã hội chủ nghĩa tan
rã ở các nước Liên Xô và Đông Âu Nền kinh
tế chuyển mạnh sang phát triển nhiều thành
phần, vận hành theo cơ chế thị trường, có sự
quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội
chủ nghĩa Từng bước điều chỉnh chiến lược
và củng cố vững chắc quốc phòng, an ninh,
chống “diễn biến hòa bình” Tăng cường đổi
mới, chỉnh đốn Đảng, nâng cao vai trò lãnh
đạo của Đảng Xây dựng Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân
dân, vì nhân dân Xây dựng hiến pháp mới –
Hiến pháp 1992 Đẩy mạnh phát triển nông
nghiệp gắn với chính sách xóa đói giảm
nghèo Thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước Tăng cường đại đoàn kết dân
tộc lấy mục tiêu chung làm điểm tương đồng,
vì dân giàu, nước mạnh Mở rộng quan hệ đối
ngoại với các nước Với sự lãnh đạo, chỉ đạo
đúng đắn đó, công cuộc đổi mới phát triển
đúng hướng, có nhiều thành tựu
Những năm 1991-1995, tổng sản phẩm
trong nước (GDP) tăng bình quân năm là
8,2%, sản xuất công nghiệp tăng 13,3%, nông
nghiệp tăng 4,5%, kim nghạch xuất khẩu tăng
20%, lạm phát giảm còn 12,7% năm 1995
(năm 1991 là 67,1%) Tạo được một số
chuyển biến tích cực về xã hội, số hộ giàu tăng
lên, số hộ nghèo giảm Phong trào xóa đói
giảm nghèo phát triển, chính sách “đền ơn đáp
nghĩa” được thực hiện thành nét đẹp mới trong
và các nước Đông Âu Tăng cường quan hệvới Lào và Campuchia
Cùng với những thành tựu quan trọng củađổi mới, Đảng cũng đã nhìn nhận những hạnchế, khuyết điểm Hội nghị đại biểu toàn quốcnhiệm kỳ khóa VII họp từ ngày 20 đến ngày25-1-1994 đã nêu rõ bốn nguy cơ đồng thờicoi đó là những thách thức lớn: nguy cơ tụthậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trongkhu vực và trên thế giới; nguy cơ chệch hướng
xã hội chủ nghĩa; nguy cơ về nạn tham nhũng
về tệ quan liêu; nguy cơ “diễn biến hòa bình”của các thế lực thù địch Bốn nguy cơ, tháchthức đó có quan hệ chặt chẽ với nhau, tácđộng lẫn nhau
- Thực hiện đường lối Đại hội VIII của Đảng.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIIIĐảng Cộng sản Việt Nam họp từ ngày 28-6đến ngày 1-7-1996 tại Thủ đô Hà Nội Dự Đạihội có 1198 đại biểu thay mặt cho 2130000đảng viên toàn Đảng Đại hội sửa đổi Điều lệĐảng, có sự thay đổi trong cơ cấu bộ máy tổchức ở Trung ương, lập ra Thường vụ BộChính trị thay cho Ban Bí thứ trước đây Đạihội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII đã bầu banchấp hành Trung ương khóa VIII gồm 170 ủyviên Ban chấp hành Trung ương đã bầu BộChính trị gồm 19 đồng chí, Thường vụ BộChính trị gồm 5 đồng chí Đồng chí Đỗ Mườiđược bầu lại làm Tổng bí thư Ban Chấp hànhTrung ương Đảng
Đánh giá tổng quát 10 năm đổi mới 1996), Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIIInhận định: Trong hoàn cảnh hết sức khó khan,phức tạp, nhân dân ta không những nắm vững
(1986-mà còn vươn lên, đạt được những thắng lợitrên nhiều mặt Tuy nhiên, nước ta đã ra khỏikhủng hoảng kinh tế xã hội, nhưng một số mặtcòn chưa vững chắc
Nhiệm vụ đề ra cho chặng đường đầu củathời kỳ quá độ là chuẩn bị tiền đề cho côngnghiệp hóa đã cơ bản hoàn thành cho phépchuyển sang thời kỳ mới đẩy mạnh côngnghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Trang 33Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở
nước ta ngày càng được xác định rõ hơn
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII cũng
thẳng thắn nêu rõ một số khuyết điểm, yếu
kém Nước ta còn nghèo và kém phát triển, lại
chưa thực hiện tốt càn kiệm trong sản xuất,
tiết kiệm trong tiêu dùng, dồn vốn cho đầu tư
phát triển Tình hình xã hội còn nhiều tiêu cực
và nhiều vấn đề phải giải quyết Nạn tham
nhũng, buôn lậu, lãng phí của công chưa được
ngăn chặn Tiêu cực kéo dài trong các bộ máy
cơ quan nhà nước, Đảng, đoàn thể, doanh
nghiệp Việc lãnh đạo xây dựng quan hệ sản
xuất vừa lung túng, vừa buông lỏng Quản lý
nhà nước về kinh tế, xã hội còn yếu Hệ thống
chính trị còn nhược điểm
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII đã
tổng kết 10 năm đổi mới và nhấn mạnh 6 bài
học chủ yếu:
1 Giữ vững mục tiêu độc lập dân tộc và chủ
nghĩa xã hội trong quá trình đổi mới; nắm
vững hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc, kiên trì chủ nghĩa Mác-Lê nin
và tư tưởng Hồ Chí Minh
2 Kết hợp chặt chẽ ngay từ đầu đổi mới kinh
tế với đổi mới chính trị, lấy đổi mới kinh tế
làm trọng tâm, đồng thời từng bước đổi mới
chính trị
3 Xây dựng nền kinh tế hang háo nhiều thành
phần, vận hành theo cơ chế thị trường, đi đôi
với tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước
theo định hướng xã hội chủ nghĩa Tăng cường
kinh tế gắn liền với tiến bộ và công bằng xã
hội, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân
tộc, bảo vệ môi trường sinh thái
4 Mở rộng và tăng cường khối đại đoàn kết
toàn dân phát huy sức mạnh của cả dân tộc
5 Mở rộng hợp tác quốc tế, tranh thủ sự đông
tình, ủng hộ và giúp đỡ của nhân dân thế giới,
kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh
của thời đại
6 Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, coi
xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
chủ trương đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện
đại háo đất nước Mục tiêu của công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước là xây dựng nước ta
thành một nước công nghiệp, có cơ sở vật chất
– kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý,
quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ
phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật
chất và tinh thần nâng cao, quốc phòng, anninh vững chắc, dân giàu, nước mạnh, xã hộicông bằng, văn minh
Những năm cuối của thế kỷ XX, côngcuộc đổi mới công nghiệp hóa, hiện đại hóađược đẩy mạnh Đảng đã đề ra những phươnghướng chủ yếu của chiến lược phát triển giáodục – đào tạo, chiến lược phát triển khoa học –công nghệ; tăng cường, hội nhập và hợp tácquốc tế; đẩy mạnh thực hiện các chính sách xãhội chăm lo đời sống nhân dân nâng cao hiệuquả xáo đối giảm nghèo; xây dựng nền vănhóa tiên tiến, đạm đà bản sắc dân tộc độngviên cả nước phát huy nội lực để vượt quanhững khó khăn, suy gaimr về kinh tế do tácđộng xấu của cuộc khủng hoảng tài chính –tiền tệ diễn ra ở Đông Nam Á từ tháng 7-1997
Về xây dựng Đảng, Hội nghị lần thứ baBan Chấp hành Trung ương khóa VIII (6-1997) đã ra Nghị quyết về chiến lược cán bộthời kỳ đẩy mạnh công nghiệp háo, hiện đạihóa đát nước chiến lược gắn với nội dungphát huy quyền làm chủ của nhân dân, tiếp tụcxây dựng Nhà nước Cộng hòa xã hội chủnghĩa Việt Nam trong sạch, vững mạnh Hộinghị lần thứ tư Ban chấp hành TW khóa VIII(12-1997) chủ trương tiếp tục đẩy mạnh côngcuộc đổi mới, phát huy nội lực, nâng cao hiệuquả hợp tác quốc tế Hội nghị quyết điịnh một
số vấn đề về nhân sự cấp cao của Đảng Banchấp hành Trung ương đã chấp nhận đề nghịcủa Tổng Bí thư Đỗ Mười về chuyển giaochức vụ Tổng bí thư và đã bầu Tổng bí thư LêKhả Phiêu làm Tổng bí thư Ban chấp hànhTrung ương Đảng hội nghị đánh giá cao cônglao của các đồng chí Nguyễn Văn Linh, PhạmVăn Đồng, Võ Chí Công và chấp nhận đề nghịcủa các đồng chí, đề các đồng chí kết thúcnhệm vụ cố vấn Ban chấp hành Trung ươngĐảng Hội nghị đánh giá công lao to lớn củađồng chí Đỗ Mười, Lê Đức Anh, Võ Văn Kiện
và chấp thuận để các đồng chí rút khỏi BộChính trị và Ban Chấp hành Trung ương, suytôn các đồng chí là Cố vấn Ban Chấp hànhTrung ương Đảng
Từ ngày 25-1 đến ngày 2-2-1999, đã diễn raHội nghị lần thứ sáu (lần 2) Ban Chấp hànhTrung ương khóa VIII đã ra Nghị quyết vềmột số vấn đề cơ bản và cấp bách trong côngtác xây dựng Đảng Phát động toàn Đảng tiếnhành cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn
Trang 34Đảng, thực hiện tự phê bình và phê bình nhân
kỷ niệm 30 năm thực hiện Di chúc của Chủ
tịch Hồ Chí Minh (2-9-1969 – 3-2-2000)
Công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng được
đẩy mạnh nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo và
sức chiến đấu của Đảng ở tất cả các cấp
Do tác động của cuộc khủng hoảng tài
chính tiền tệ của các nước trong khu vực nên
năm 1998, tình hình kinh tế - xã hội có những
khó khăn, thu nhập quốc dân tăng 4,8% Đảng
và Chính phủ đã đề ra nhiều giải pháp để chặn
đứng sự suy giảm kinh tế Từ năm 1999, tình
hình tăng trưởng kinh đã khá hơn và năm
2000 đã ngăn chặn được sự suy giảm, tiếp tục
khôi phục tốc độ tăng trưởng kinh tế, ổn định
tình hình kinh tế, tài chính, tiền tệ, giá cả và
đời sống nhân dân
Được sự lãnh đạo của Đảng và sự nỗ lực
của các cấp, các nghành và các địa phương
trong cả nước, 5 năm (1996-2000) tổng sản
phẩm trong nước (GDP) tăng bình quân hàng
năm là 7%; công nghiệp tăng 13,5%, kinh tế
tăng trưởng khá Văn hóa, xã hội có tiến bộ,
đời sống nhân dân tiếp tục được cải thiện,
chính trị - xã hội cơ bản ổn định, chú trọng
xây dựng Đảng, mở rộng hội nhập quốc tế
- Thực hiện đường lối Đại hội IX của Đảng.
Đầu thế kỷ XXI, Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ IX Đảng Cộng sản Việt Nam họp
tại Thủ đô Hà Nội từ ngày 19 đến ngày
22-4-2001 Đại hội có 1168 đại biểu thay mặt cho
2479719 đảng viên của toàn Đảng Chủ đề của
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX là “Phát
huy sức mạnh toàn dân tộc, tiếp tục đổi mới,
đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ
nghĩa”.Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Trung
ương Đảng khóa IX gôm 150 ủy viên Ban chấp
hành Trung ương đã bầu Bộ Chính trị gồm 15
đồng chí và Ban Bí thư gồm 9 đồng chí Đồng
chí Nông Đức Mạnh được bầu làm Tổng Bí thư
Ban Chấp hành Trung ương Đảng
Đại hội đã tổng kết và đánh giá Việt
Nam trong thể kỷ XX và triển vọng phát triển
thế kỷ XXI Đối với nước ta, thế kỷ XX là thế
kỷ của những biến đổi to lớn, thế kỷ đấu tranh
oanh liệt giành lại độc lập, tự do thống nhất Tổ
quốc và xây dựng chủ nghĩa xã hội, thế kỷ của
những chiến công và thắng lợi có ý nghĩa lịch
sử và thời đại “Sau các phong trào yêu nước
ba mươi năm đầu thế kỷ XX, năm 1930 Đảng
Cộng sản Việt Nam ra đời, đánh dấu bướcngoặt của cách mạng Việt Nam Đảng đã lãnhđạo nhân dân ta giành được những thắng lợi vĩđại”
Một là, thắng lợi của Cách mạng Thángtám năm 1945 và việc thành lập Nhà nướcViệt Nam Dân chủ Cộng hòa Đây là kết quảtổng hợp của các phong trào cách mạng lientục diễn ra trong 15 năm sau ngày thành lậpĐảng, từ cao trào Xô viết Nghệ - Tĩnh, cuộcvận động dân chủ 1936 – 1939 đến phong tràogiải phóng dân tộc 1939 – 1945, mặc dù cáchmạng có những lúc bị dìm trong máu lửa Chế
độ thuộc địa nửa phong kiến ở nước ta bị xóa
bỏ, một kỷ nguyên mới mở ra, kỷ nguyên độclập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội
Hai là, thắng lợi của các cuộc khángchiến oanh liệt để giải phóng dân tộc, bảo vệ
Tổ quốc, đánh thắng chủ nghĩa thực dân cũ vàmới, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủnhân dân, thực hiện thống nhất Tổ quốc, đưa
cả nước lên chủ nghĩa xã hội, góp phần quantrọng vào cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới
vì hào bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến
bộ xã hội
Ba là, thắng lợi của sự nghiệp đổi mới
và từng bước đưa đất nước quá độ lên chủnghĩa xã hội Đảng đã đề ra và lãnh đạo thựchiện đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội vàbảo vệ Tổ quốc phù hợp với thực tiễn ViệtNam và bối cảnh quốc tế mới
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX đãtổng kết những thành tựu, yếu kém và bài họccủa 15 năm đổi mới, làm rõ những vấn đề lýluận và thực tiễn của thời kỳ quá độ lên chủnghĩa xã hội ở Việt Nam, về xây dựng nền kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, dựbáo sự phát triển những năm đầu thế kỷ XXI, đề
ra phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế
-xã hội 5 năm 2001 – 2005, chiến lược phát triểnkinh tế - xã hội năm 2001 – 2010
Sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
IX, công cuộc đổi mới xây dựng đẩy mạnhtoàn diện, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đạihóa và hội nhập kinh tế quốc tế Đảng và Nhànước đã tập trung chỉ đạo phát triển kinh tếvới tốc độ nhanh và hiệu quả cao hơn như:Triển khai dự án thủy điện Sơn La; tiếp tụcsắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệuquả doanh nghiệp nhà nước; chỉ đạo sửa đổi
và bổ sung một số điều của Hiến pháp năm
Trang 351992; đẩy mạnh công cuộc vận động xây
dựng, chỉnh đốn Đảng theo tinh thần Nghị
quyết Hội nghị lần thứ sáu (lần 2) Ban Chấp
hành Trung ương khóa VIII
Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành
Trung ương khóa IX họp từ ngày 18-2 đến
ngày 2-3-2002 đã bàn và ra Nghị quyết về tiếp
tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả
kinh tế tập thể; Nghị quyết về tiếp tục đổi mới
cơ chế, chính sách, khuyến khích và tạo điều
kiện phát triển kinh tế tư nhân; Nghị quyết về
đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông
nghiệp, nông thôn thời kỳ 2001-2010; Nghị
quyết về đổi mới và nâng cao chất lượng hệ
thống chính trị ở cơ sở xã, phường, thị trấn;
Nghị quyết về nhiệm vụ chủ yếu của công tác
tư tưởng lý luận trong tình hình mới
Trung ương Đảng cũng và chủ trương
tiếp tục thực hiện có chất lượng, hiệu quả
phương hướng phát triển giáo dục – đào tạo,
khoa học và công nghệ; tiếp tục thực hiện chiến
lược cán bộ, làm tốt công tác tổ chức cán bộ;
kinh tế năm 2002 tăng trưởng khá, đạt 7%; triển
khai Dự án cụm khí điện – đạm Cà Mau
Chủ trương về phát huy sức mạnh đại
đoàn kết dân tộc vì dân giàu nước mạnh, xã
hội công bằng, dân chủ, văn minh; về công tác
dân tộc, công tác tôn giáo; tiếp tục đổi mới
chính sách, pháp luật về đất đai đã được Hội
nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương
khóa IX (1-2003) bàn và quyết định nhiều
quan điểm, chính sách cụ thể được chỉ đạo và
thực hiện tích cực Hội nghị lần thứ tám Ban
Chấp hành Trung ương khóa IX (7-2003) đã
quyêt định phương hướn chiến lược bảo vệ Tổ
quốc trong tình hình mới nhấn mạnh quy luật
tồn tại của dân tộc là dựng nước đi đôi với giữ
nước, nêu rõ mục tiêu, quan điểm chỉ đạo và 6
nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc
Hội nghị lần thứ 9 Ban Chấp hành
Trung ương khóa IX (1-2004) đánh giá nửa
nhiệm kỳ khóa IX Tình hình thế giới diễn
biến phức tạp, kinh tế khu vực, thế giới phục
hồi chậm, dịch bệnh SARS tác động tiêu cực
đến nước ta Tuy vậy, Việt Nam vẫn thực hiện
có hiệu quả chủ trương giữ vững độc lập dân
tộc, tự chủ kinh tế, chủ trương đẩy nhanh nhịp
độ tăng trưởng kinh tế năm 2004, 2005 đạt
trên 8% và sớm gia nhập Tổ chức Thương mại
thế giới (WTO), v.v… Việc xây dựng và phát
triển nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân
tộc theo Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm BanChấp hành Trung ương khóa IX (1-2005) đãthảo luận báo cáo tổng kết một số vấn đề lýluận và thực tiễn 20 năm đổi mới và các vănkiện chuẩn bị cho Đại hội đại biểu toàn quốclần thứ X của Đảng
- Thực hiện đường lối Đại hội X của Đảng.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XĐảng Cộng sản Việt Nam họp tại Thủ đô HàNội từ ngày 18-4 đến ngày 25-4-2006 Dự Đạihội X có 1176 đại biểu đại diện cho 3,1 triệuđảng viên toàn Đảng Đại hội đã bầu ra BanChấp hành Trung ương khóa X gồm 160 ủyviên chính thức và 21 ủy viên dự khuyết Banchấp hành Trung ương đã bầu Bộ Chính trịgồm 14 đồng chí và Ban Bí thư gồm 8 đồngchí Đồng chí Nông Đức Mạnh tiếp tục đượcbầu làm Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trungương Đảng
Đại hội X đã tổng kết 5 năm thực hiệnnghị quyết của Đại hội IX và tổng kết 20 nămđổi mới Đại hội khẳng định: Nhận thức vềchủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủnghĩa xã hội ngày càng sáng tỏ; hệ thống luậnđiểm về công cuộc đổi mới, về xã hội chủnghĩa va con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ởViệt Nam đã hình thành trên những nét cơbản “Hai mươi năm qua, với sự nỗ lực phấnđấu của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, côngcuộc đổi mới ở nước ta đã đạt được nhữngthành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử”
Đại hội tiếp tục khẳng định chủ trương:Phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnhtoàn diện công cuôc đổi mới
Đại hội nêu rõ, trong khi khẳng địnhnhững thành tựu nói trên, cần thấy rõ, cho đếnnay nước ta vẫn trong tình trạng kém pháttriển Kinh tế lạc hậu so với nhiều nước trongkhu vực và trên thế giới Các lĩnh vực văn hóa,
xã hội, xây dựng hệ thống chính trị còn nhiềuyếu kém Lý luận chưa giải đáp được một sốvấn đề thực tiễn đổi mới và xây dựng chủnghĩa xã hội ở nước ta, đặc biệt là trong cácmối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với thựchiện công bằng xã hội; giữa đổi mới kinh tếvới đổi mới chính trị; giữa đổi mới với ổn địnhphát triển; giữa độc lập tự chủ và tích cực hộinhập kinh tế quốc tế
Từ thực tiễn 20 năm đổi mới, Đại hộinêu ra một số bài học chủ yếu:
Trang 36Một là, trong quá trình đổi mới phải
kiên định muc tiêu độc lập dân tộc và chủ
nghĩa xã hội trên nền tảng chủ nghĩa Mac-Lê
nin và tư tưởng Hồ Chí Minh
Đổi mới không phải từ bỏ mục tiêu chủ
nghĩa xã hội mà chủ nghĩa xã hội được nhận
thức đúng đắn hơn và được xây dựng hiệu
quả Đổi mới không phải xa rời mà là nhận
thưc đúng, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ
nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lấy
nó làm nền tảng tư tưởng của Đảng và kim chỉ
nam cho hành động cách mạng
Hai là, đổi mới toàn diện, đồng bộ, có kế
thừa, có bước đi, hình thức và cách làm phù hợp
Phải đỏi mới từ nhận thức, tư duy đến
hoạt động thực tiễn; từ kinh tế, chính đối
ngoại đến tất cả các lĩnh vực của đời sống xã
hội; từ hoạt động lãnh đạo của Đảng, quản lý
của Nhà nước đến hoạt động cụ thể trong từng
bộ phận của hệ thống chính trị Đổi mới tất cả
các mặt của đời sỗng xã hội nhưng có trọng
tâm, trọng điểm, có những bước đi thích hợp;
bảo đảm sự gắn kết chặ chẽ và đồng bộ giữa
ba nhiệm vụ: phát triển kinh tế là trung tâm,
xây dựng Đảng là then chốt và phát triển văn
hóa – nền tảng tinh thần xã hội
Ba là, đổi mới phải vì lợi ích của nhân
dân, dựa vào dâ, phát huy vai trò chủ động,
sáng tạo của nhân dân, xuất phát từ thực tiễn,
nhạy bén với cái mới
Cách mạng là sự nghiệp của dân, vì
nhân dân và do nhân dân Những ý kiến,
nguyện vọng và sáng kiến của nhân dân có vai
trò quan trọng trong việc hình thành đường lối
đổi mới của Đảng Dựa vào dân, xuất phát từ
thực tiễn và thường xuyên tổng kết thực tiễn,
phát hiện nhân tố mới, từng bước tìm ra quy
luật phát triển, đó là chìa khóa của thành công
Bốn là, phát huy cao độ nội lực, đồng
thời ra sức tranh thủ ngoại lực, kết hợp sức
mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong điều
kiện mới
Phát huy nội lực, xem đó là nhân tố
quyết định đối với sự phát triển; đồng thời coi
trọng huy động các nguồn ngoại lực thông qua
hội nhập và hợp tác quốc tế, tranh thủ các
nguồn lực bên ngoài để phát huy nội lực mạnh
hơn, nhằm tạo ra sức mạnh tổng hợp để phát
triển đất nước nhanh và bền vững trên cơ sở
giữ vững độc lập dân tộc và định hướng xã hội
chủ nghĩa
Năm là, nâng cao năng lực lãnh đạo vàsức chiến đấu của Đảng, không ngừng đổi mới
hệ thống chính trị, xây dựng và từng bướchoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảmđảm quyền lực thuộc về nhân dân
Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh
là khâu then chốt, là nhân tố quyết định thắnglợi củ sự nghiệp đổi mới Xây dựng Nhà nướcpháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam củanhân dân, do nhân dân, vì nhân dân là yêu cầubức thiết của xã hội Nhà nước phải thể chế hóa
và tổ chức thực hiện có hiệu quả quyền côngdân, quyền con người Phát huy vai trò của mặttrận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân trongviệc tập hợp các tầng lớp nhân dân, phát huy sứcmạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc để thựchiện thành công sự nghiệp đổi mới
Sau Đại hội X, Ban Chấp hành Trungương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã tập trungchỉ đạo đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổimới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, cụ thểhóa, thể chế hóa nghị quyết của Đại hội
Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hànhTrung ương khóa X họp từ ngày 24 đến ngày29-7-2006 đã ra Nghị quyết về tăng cường sựlãnh đạo của Đảng đối với công tác phòngchống tham nhũng, chống lãng phí; thông quaquy định đảng viên làm kinh tế tư nhân Từngày 15 đến ngày 24-1-2007, Hội nghị lần thứ
tư Ban Chấp hành Trung ương khóa X đã họp
ra Nghị quyết về phương hướng bầu cử vàchuẩn bị nhân sự Quốc hội khóa XII; Nghịquyết về điều chỉnh thời gian tổ chức Đại hộiđảng toàn quốc, bầu cử Quốc hội và Hội đồngnhân dân các cấp; Nghị quyết về đổi mới, kiệntoàn bộ máy các cơ quan đảng, định hướng vềđổi mới tổ chức bộ máy nhà nước, Mặt trận Tổquốc và các đoàn thể chính trị - xã hội; Nghịquyết về một số chủ trương chính sách lớn đểnền kinh tế phát triển nhanh và bền vững khiViệt Nam là thành viên của Tổ chức Thươngmại thế giới (WTO); Nghị quyết về Chiếnlược biển Việt Nam đến năm 2020
Năm 2006 và 2007, công cuộ đổi mớitiếp tục phát triển với những thành quả toàn diện
cả về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốcphòng, an ninh và hội nhập quốc tế Kinh tế tiếptục tăng trưởng với tốc độ cao, GDP năm 2006tăng 8,17% năm 2007 tăng 8,48% Xuất khẩu vàvốn đầu tư nước ngoài đều tăng khá
Trang 37Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành
Trung ương khóa X họp từ ngày 5 đến ngày
14-7-2007 đề ra Nghị quyết về công tác tư tưởng,
lý luận và báo chí trước yêu cầu mới; Nghị
quyết về tăng cường công tác kiểm tra, giám sát
của Đảng; Nghị quyết về tiếp tục đổi mới
phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt
động của hệ thống chính trị; Nghị quyết về đẩy
mạnh cái cách hành chính, nâng cao hiệu quả,
hiệu quả quản lý của bộ máy Nhà nước
Quốc hội khóa VII và các cơ quan lãnh
đạo Nhà nước, Chính phủ từ năm 2007 đã thể
chế hóa Nghị quyết Đại hội X và cac Hội nghị
Ban Chấp hành Trung ương, chỉ đạo có hiệu
quả sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đẩy mạnh hội nhập quốc tế
Từ ngày 14 đến ngày 28-1-2008, Ban
Chấp hành Trung ương khóa X họp Hội nghị
lần thứ sáu Hội nghị đã ra Nghị quyết về tiếp
tục xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam
thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước; Nghị quyết về nâng cao năng
lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở
đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên;
Nghị quyết về tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh
té thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; Kết
luận của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành
Trung ương khóa X về cải cách chính sách
tiền lương, bảo hiểm xã hội và trợ cấp ưu đãi
người có công giai đoạn 2008-2012
Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành
Trung ương khóa X họp từ ngày 9 đến ngày
17-7-2008 ra Nghị quyết về tăng cường sự
lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên
thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại
hóa; Nghị quyết về xây dựng đội ngũ trí thức
trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước; Nghị quyết về nông nghiệp,
nông dân, nông thôn
Giữa lúc công cuộc đổi mới đang phát
triển thì từ cuối năm 2007, nhất là từ đầu năm
2008, thế giới lâm vào khủng hoảng tài chính
toàn cầu bắt đầu từ nước Mỹ Khủng hoảng tài
chính, kinh tế lần này rất nghiêm trọng có thể
so sánh với đại khủng hoảng những năm
1929-1933 Khủng hoảng đã tác động tiêu cực
tới các nền kinh tế của các nước trên thế giới
trong đó có Việt Nam Những tháng đầu năm
2008, ở Việt Nam lạm phát và giá cả tăng
nhanh ảnh hưởng xấu đến sản xuất, kinh
doanh và đời sống nhân dân Lạm phát có
tháng đã tới 26% Năm 2008, còn chứng kiếnthiên tai nặng nề: mưa lụt lớn do cơn bão số 6
ở các tỉnh miền núi phía Bắc từ ngày 8 đếnngày 10-8-2008 gây thiệt hại lớn về người vàcủa cải vật chất; mưa lụt lớn chưa từng có ở
Hà Nội từ ngày 31-10 đến ngày 3-11-2008làm thiệt hại lớn về vật chất trên 3000 tỷ đồng,làm 22 người chết
Từ đầu năm 2008, Bộ Chính trị đã họp
và có những kết luận chỉ đạo hoạt động củaChính phủ về những vấn đề kinh tế - xã hội.Căn cứ Kết luận số 22-KL/TW ngày 4-4-2008,Chính phủ đã kịp thời đề ra tám nhóm giảipháp để kiềm chế lạm phát, ổn định giá cả trên
cơ sở đẩy mạnh sản xuất và hệ thống cácchính sách tiền tệ phù hợp Hội nghị lần thứtám Ban Chấp hành Trung ương khóa X họp
từ ngày 2 đến ngày 4-10-2008 để thảo luận vètình hình kinh tế - xã hội, ngân sách nhà nướcnăm 2008, định hướng phát triển kinh tế - xãhội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2009.Trung ương Đảng chủ trương phát huy sứcmạnh tổng hợp của toàn dân tộc, nâng caohiệu quả kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ
mô, chăm lo an ninh xã hội, duy trì tăngtrưởng hợp lý và bền vững
Với sự lãnh đạo chặt chẽ của Đảng và
sự điều hành có hiệu quả của Chính phủ, với
sự phấn đấu đồng tâm hiệp lực của toàn dân,của hệ thống chính trị, các thành phần kinh tế,trên cơ sở phát huy tối đa nội lực, tình hìnhkinh tế - xã hội những tháng cuối năm 2008 đãđược cải thiện Lạm phát được kiềm chế dưới19%, giá cả giảm dần Tăng trưởng kinh tếnăm 2008: GDP đạt 6,23%, xuất khẩu vẫntăng, vốn đầu tư nước ngoài tăng gấp ba lầnnăm 2007 Tỷ lệ đói nghèo tiếp tục giảm từ14,8% năm 2007 xuống còn 13,5% năm 2008
Hội nghị lần thứ chin Ban Chấp hànhTrung ương khóa X họp từ ngày 5 đến ngày31-1-2009 để kiểm điểm, đánh giá nửa đầunhiệm kỳ khóa X (2006-2008) Đánh giá 10năm thực hiện chiến lược cán bộ theo Nghịquyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hànhTrung ương khóa VIII, hai năm thực hiệnNghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấphành Trung ương khóa X về phòng chốngtham nhũng, lãng phí Hội nghị đề ra nhiệm vụcho những năm tới tiếp tục phát huy tinh thầnyêu nước, thực hiện thắng lợi nghị quyết Đạihội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng
Trang 38Quá trình thực hiện đường lối Đại hội
đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng đã đạt
được những kết quả quan trọng
Đến năm 2010, Việt Nam chính thức
thoát khỏi tình trạng nước nghèo, kém phát
triển; thu nhập bình quân đầu người đạt
1.168USD Hình thành một số nghành kinh tế
mũi nhọn: dầu khí, dệt may, da giầy, thủy hải
sản, lương thực, cây công nghiệp, v.v Giải
quyết vững chắc vấn đề lương thực, Việt Nam
trở thành nước xuất khẩu gạo đứng thứ hai
trên thế giới
Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại
hóa được đẩy mạnh Phát triển mãnh mẽ các
khu công nghiệp và hình thức các vùng kinh tế
trọng điểm Cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch
tích cực theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại
hóa Tỷ trọng ngành công nghiệp – dịch vụ đạt
gần 80%, tỷ trọng ngành nông nghiệp giảm
xuống còn 20,6% năm 2010
Kinh tế Việt Nam hội nhập mạnh mẽ
với khu vực và thế giới Đến năm 2010, Việt
Nam có quan hệ thương mại với hơn 200 nước
và vùng lãnh thổ, ký 90 hiệp định thương mại
song phương
Công tác giải quyết việc làm và xóa
đói, giảm nghèo đạt được những kết quả quan
trọng Tỷ lệ nghèo đói giảm còn 20% năm
2008 (theo chuẩn quốc tế) Tỷ lệ người lao
động qua đào tạo đạt gần 40% Đến năm 2010,
Việt Nam đã hoàn thành trên 2/3 mục tiêu
thiên niên kỷ
Năm 2010, cả nước đạt chuẩn quốc gia
về xóa mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học
Tỷ lệ người lớn biết chữ đạt 90,39%, trong khi
các nước thu nhập thấp chỉ đạt 69%.Tuổi thọ
trung bình của người dân Việt Nam đạt 73 tuổi
năm 2010 Chỉ số phát triển con người của
Việt Nam tăng từ 109/171 nước năm 2001 lên
116/182 nước năm 2009
Trong quan hệ đối ngoại, Việt Nam đã
mở rộng quan hệ đối ngoại theo hướng đa
phương hóa, đa dạng hóa; giữ vững độc lập
chủ quyền quốc gia Đến năm 2010, Việt Nam
có quan hệ với hơn 200 nước và vùng lãnh
thổ Việt Nam đã thu hút hàng chục tỷ USD
vốn ODA, trên 150 tỷ USD đầu tư trực tiếp từ
nước ngoài
Giữ vững độc lập, chủ quyền và toàn
vẹn lãnh thổ, bảo đảm an ninh chính trị, trật tự
an toàn xã hội Thực hiện có hiệu quả nhiệm
vụ củng cố an ninh, quốc phòng với chống
“diễn biến hòa bình” Xây dựng được thế trậnquốc phòng toàn quốc gắn với thế trận an ninhnhân dân
Công tác xây dựng Đảng được tăngcường Trong tình hình thế giới có nhiều diễnbiến phức tạp, các thế lực thù địch tấn côngtoàn diện vào Đảng và chế độ nhưng Đảng vẫnvững vàng, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc
và chủ nghĩa xã hội Dân chủ trong Đảng ngàycàng tiến bộ
- Thực hiện đường lối Đại hội XI của Đảng.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIcủa Đảng họp từ ngày 11-1-2011 đến ngày 19-1-2011 tại Hà Nội Tham dự Đại hội có 1377đại biểu đại diện cho 3,6 triệu đảng viên trongtoàn Đảng
Tổng kết 25 năm đổi mới, Đại hộikhẳng định: Công cuộc đổi mới, công nghiệphóa, hiện đại hóa đất nước đã đạt được nhữngthành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử
Đại hội xác định mục tiêu tổng quát:Tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sứcchiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh toàndân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổimới, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta trởthành một nước công nghiệp hiện đại, theohướng hiện đại
Đại hội thảo luận và thông qua các văn
kiện: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020, Báo cáo Chính trị
và Điều lệ Đảng (sửa đổi).
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) đã bổ sung hai đặc trưng:
Đặc trưng về mục tiêu tổng quát: Dân giàu,nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; đặctrưng về nhà nước: Có Nhà nước pháp quyền xãhội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vìnhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo Bên cạnh
đó, Cương lĩnh còn điều chỉnh, bổ sung một sốđiểm của các đặc trưng về: kinh tế, dân tộc, conngười, quan hệ đối ngoại, v.v
Thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểutoàn quốc lần thứ XI, trong nhiệm kỳ khóa XI,Đảng chỉ đạo Quốc hội, Chính phủ tập trung
ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát vàđảm bảo an sinh xã hội; đồng thời, tiến hànhtái cấu trúc cơ cấu kinh tế Quán triệt chủ
Trang 39trương của Trung ương Đảng, ngày
24-2-2011, Chính phủ ban hành nghị quyết số
11/NQ-CP đề ra 6 giải pháp nhằm kiềm chế
lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và đảm bảo an
an sinh xã hội Tiếp đó, nhằm hỗ trợ sản xuất
trong nước trước tác động của suy thoài kinh
tế toàn cầu, ngày 10-5-2012, Chính phủ ban
chỉnh đốn Đảng Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp
hành Trung ương khoa XI ra Nghị quyết “Một
số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện
nay” với ba nội dung chủ yếu: Ngăn chặn, đẩy
lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị,
đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ
cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo,
quản lý các cấp Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh
đạo, quản lý, nhất là cấp Trung ương, đáp ứng
nhu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện
đại hóa và hội nhập quốc tế Xác định rõ thẩm
quyền, trách nhiệm cá nhân đứng đầu cấp ủy,
chính quyền trong mối quan hệ với tập thể cấp
ủy, chính quyền, cơ quan, đơn vị Ba nội dung
này có quan hệ mật thiết với nhau, trong đó
nội dung thứ nhất là trọng tâm, xuyên suốt và
cũng là vấn đề cấp bách nhất
Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành
Trung ương khóa XI họp từ ngày 7 đến ngày
15-5-2012 đã thảo luận, cho ý kiến về các vấn
đề: Tổng kết việc thi hành Hiến pháp năm
1992 và một số nội dung cơ bản cần sửa đổi,
bổ sung Hiến pháp năm 1992; tổng kết việc
thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 khóa IX;
sơ kết 5 năm thực hiện Nghị quyết Hội nghị
lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương khóa X
và quyết định một số vấn đề: về chính sách xã
hội giai đoạn 2012-2020, về tiền lương, bảo
hiểm xã hội, trợ cấp ưu đãi người có công và
định hướng cải cách đến năm 2020
Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành
Trung ương khóa XI hợp từ ngày 1 đên ngày
15-10-2012 đã thảo luận, cho ý kiến các báo
cáo, đề án về: Tình hình kinh tế - xã hội năm
2012, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và
dự toán ngân sách nhà nước năm 2013; tiếp
tục sắp xếp, đổi mới, nâng cao hiệu quả doanh
nghiệp nàh nước; đổi mới chính sách, pháp
luật về đất đai; đổi mới căn bản, toàn diện giáo
dục và đào tạo; phát triển khoa học và côngnghệ; quy hoạch Ban Chấp hành Trung ương,
Bộ Chính trị, Ban Bí thư và các chức danh chủchốt của Đảng và Nhà nước; báo cáo kết quảkiểm điểm tự phê bình và phê bình của tập thể
và cá nhân Bộ Chính trị, Ban Bí thư theo tinhthần Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI
Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hànhTrung ương khóa XI họp từ ngày 2 đến ngày11-5-2013 đã thảo luận, cho ý kiến chỉ đạo đốivới các vấn đề: Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện
hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở;Tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảngđối với công tác dân vận trong tình hình mới;
Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992; Sơ kếtmột năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 4
Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay; Quy hoạc Ban Chấp hành Trung
ương, Bộ Chính trị, Ban bí thứ và các chứcdanh lãnh đạo chủ chốt nhiệm kỳ 2016-2021
và các nhiệm kỳ tiếp theo; Chủ động ứng phóvới biến đổi khí hậu, tăng cường công tácquản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường vàmột số vấn đề quan trọng khác
Sau 3 năm thực hiện Nghị quyết Đại hộiđại biểu toàn quốc lần thứ XI, trước diễn biếnphức tạp của tình hình thế giới và trong nước,đặc biệt là sự suy giảm kinh tế toàn cầu, songdưới sự lãnh đạo của Đảng, sự chỉ đạo quyết liệtcủa Quốc hội, Chính phủ và các ban, bộ, nghànhcùng sự nỗi lực của các tầng lớp nhân dân, kinh
tế đất nước vẫn tăng trưởng bình quân hàng nămtrên 5% (năm 2012: 5,25%; năm 2013: 5,45%).Lạm phát giảm từ 18,13% năm 2011 xuống còn7% năm 2013 Tái cơ cấu nền kinh tế đạt kếtquả bước đầu Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyểndịch theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Tỷ trọng ngành công nghiệp chế biến, chế tạotăng từ 60,2% năm 2010 lên 78% năm 2013.Chương trình xây dựng nông thông mới đượctích cực triển khai và đạt được kết quả bướcđầu
Văn hóa – xã hội có tiến bộ, an ninh xãhội được bảo đảm, đời sống nhân dân được cảithiện một bước Thu nhập bình quân đầungười đạt khoảng 1800USD năm 2013 Tỷ lệ
hộ nghèo giảm từ 14,2% năm 2010 xuống còn7,8% năm 2013 Tỷ lệ lao động qua đào tạotăng từ 40% năm 2010 lên 49% năm 2013 Tỷ
lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị luôn dưới4% Tỷ lệ tham gia bảo hiểm y tế tăng từ 63%
Trang 40năm 2010 lên 71,25 năm 2013 Văn hóa, thể
thao được quan tâm phát triển Chú trọng xây
dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện,
giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc
Tiềm lực quốc phòng và thế trận quốc
phòng toàn dân được tăng cường An ninh
chính trị và trật tự an toàn xã hội được đảm
bảo Công tác đối ngoại được đẩy mạnh toàn
diện Nâng cấp quan hệ song phương với một
số quốc gia thành đối tác chiến lược, đối tác
toàn diện Vị thế của Việt Nam trên trường
quốc tế được nâng lên
Hệ thống chính trị được củng cố một
bước Vai trò của Quốc hội ngày càng được
khẳng định Sự điều hành của Chính phủ và
chính quyền các cáp kịp thời, góp phần giảm
thiểu những tác động tiêu cực của suy thoái
toàn cầu và những diễn biến phức tạp của
thiên tai Công tác phòng chống tham nhũng
tiếp tục được thực hiện gắn với việc triển khai
Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành
Trung ương khóa XI và việc học tập và làm
theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh
Bên cạnh những kết quả đạt được, nền
kinh tế đất nước và mội mặt đời sống xã hội
vẫn còn những hạn chế Kinh tế đã phục hồi,
lạm phát được kiềm chế một bước nhưng vẫn
chưa vững chắc Hiệu quả và sức cạnh tranh
của nền kinh tế thấp Sản xuất, kinh doanh còn
nhiều khó khan, nợ xấu ngân hàng còn cao
Tái cơ cấu kinh tế và chuyển đổi mô hình còn
chậm Chất lượng giáo dục – đào tạo và nguồn
nhân lực chưa đáp ứng nhu cầu Lĩnh vực văn
hóa – xã hội còn nhiều yếu kém An ninh
chính trị và trật tự an ninh toàn xã hội còn diễn
biến phức tạp, nhất là tình hình biển Đông Tệ
quan liêu tham nhũng vẫn còn hoành hành
Câu 3 Trình bày những thành tựu, hạn chế
và bài học chủ yếu cảu công cuộc đổi mới từ
năm 1986 đến nay?
- Thành tựu, hạn chế
Sau hơn 25 năm tiến hành sự nghiệp đổi
mới, nhận thức của Đảng về chủ nghĩa xã hội và
con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ngày càng
sáng tỏ hơn; hê thống luận điểm lý luận về công
cuộc đổi mới, về xã hội xã hội chủ nghĩa và con
đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam đã
hình thành trên những nét cơ bản
Những thành tựu đạt được chưa tương
xứng với tiềm năng của đất nước Kinh tế phát
triển chưa vững bền, sức cạnh tranh của nềnkinh tế còn thấp Những tiêu cực và tệ nạn xãhội ngày càng diễn biến phức tạp, phân hóagiàu nghèo ngày càng tăng An ninh chính trịcòn tiềm ẩn những yếu tố gây mất ổn địnhchính trị -xã hội, đe dọa chủ quyền quốc gia.Hiệu lực, hiệu quả quản lý, điều hành của Nhànước và chính quyền các cấp chưa cao, gâybức xúc trong nhân dân Tệ quan liêu, thamnhũng, lãng phí gây bất bình trong xã hội, làmsuy giảm long tin của nhân dân đối với Đảng
và Nhà nước
Về thực tiễn
+ Công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa,hiện đại hóa đã đạt được những thành tựu tolớn, có ý nghĩa lịch sử:
Tăng trưởng kinh tế khá cao và tươngđối ổn định: 7,5% những năm 1991-2000 và7,25% những năm 2001-2010 Phát triển nểnkinh tế hàng hóa nhiều thành phần, địnhhướng xã hội chủ nghĩa Từng bước hìnhthành các loại thị trường: thị trường dịch vụhàng hóa, thị trường sức lao động, thị trườngtài chính – tiền tệ, thị trường bất động sản, thịtrường khoa học – công nghệ Sự nghiệp côngnghiệp hóa được đẩy mạnh trên cơ sở hìnhthành các vùng kinh tế trọng điểm và các khucông nghiệp, khu chế xuất Sản xuất nôngnghiệp phát triển đã đưa Việt Nam nhiều nămliền trở thành nước xuất khẩu gạo đứng thứhai trên thế giới và nhiều mặt hàng nông sảnxuất khẩu đứng trong tốp đầu thế giới như: hạttiêu, cà phê, cao su
Văn hóa xã hội đạt được nhiều thànhtựu quan trọng Đời sống vật chất và tinh thầncủa nhân dân được cải thiện rõ rệt Đến năm
2013, thu nhập đầu người đạt khoảng1800USD Những giá trị văn hóa tốt đẹp củadân tộc được bảo tồn và phát huy Đến năm
2013, Việt Nam có 17 di sản văn hóa thế giới,hàng trục di sản văn hóa cấp quốc gia đặc biệt.Phong trào toàn dân xây dựng đời sống vănhóa được đẩy mạnh trong cả nước Thực hiệnhiệu quả các chính sách xã hội Việt Nam trởthành điểm sáng về xóa đói giảm nghèo và làmột trong những nước sớm hoàn thành mụctiêu thiên niên kỷ
Chính trị - xã hội ổn định Hệ thốngchính trị và khối đại đoàn kết dân tộc đượccủng cố và tăng cường Sự nghiệp xây dựngNhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa được