DI CHÚC CHUNG CỦA VỢ CHỒNG THEO PHÁP LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH Pháp luật Việt Nam hiện hành quy định có hai hình thức thừa kế là thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật. Hình thức chia thừa kế theo di chúc là hình thức chia thừa kế trong đó ý chí của người để lại di sản được Nhà nước tôn trọng và bảo vệ thông qua các quy phạm pháp luật. Bên cạnh di chúc cá nhân pháp luật Việt Nam còn quy định về di chúc chung của vợ, chồng. Quy định này làm phức tạp thêm việc giải quyết các tranh chấp về thừa kế. Vì tính đa dạng, phong phú của khối tài sản chung và tài sản riêng của vợ, chồng nên vợ, chồng định đoạt tài sản theo di chúc chung chỉ là ý chí chủ quan của họ, nguyện vọng của họ, và sau khi họ qua đời, việc giải quyết các tranh chấp liên quan đến di chúc chung không phải bao giờ cũng thấu tình đạt lý. Việc pháp luật thừa nhận và có những quy định riêng về di chúc chung của vợ, chồng bên cạnh việc củng cố nguyên tắc đoàn kết, thương yêu giữa hai vợ, chồng nó còn nhiều vấn đề chưa thật sự phù hợp với xã hội hiện đại ngày nay. Vì vậy các nhà làm luật cần dựa trên thực tiễn hành nghề để có những sự bổ sung, sửa đổi các điều luật liên quan đến vấn đề này ngày càng chặt chẽ hơn, góp phần củng cố, hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam.
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN HỒNG HẠNH
DI CHÚC CHUNG CỦA VỢ CHỒNG THEO PHÁP LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội - 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN HỒNG HẠNH
DI CHÚC CHUNG CỦA VỢ CHỒNG THEO PHÁP LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH
Chuyên ngành: Luật Dân sự và tố tụng Dân sự
Mã số: 60 38 01 03
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS Phùng Trung Tập
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các tài liệu trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia
Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Người cam đoan
Nguyễn Hồng Hạnh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Luận văn là kết quả quá trình học tập, nghiên cứu ở nhà trường, kết hợpvới kinh nghiệm trong quá trình thực tiễn công tác, với sự cố gắng nỗ lực củabản thân
Lời đầu tiên tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành, sâu sắc tới PGS TS Phùng Trung Tập là người trực tiếp hướng dẫn khoa học, đã tận tình hướng
dẫn cho tôi cả chuyên môn và phương pháp nghiên cứu và chỉ bảo cho tôinhiều kinh nghiệm trong thời gian thực hiện đề tài
Tôi xin chân thành cám ơn các thầy, cô giáo trong Khoa Luật trựcthuộc Đại học Quốc gia Hà Nội và bạn bè đã giúp đỡ tôi trong quá trình họctập cũng như trong quá trình hoàn thành luận văn này
Sau cùng, tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến gia đình đã luôn tạo điềukiện tốt nhất cho tôi trong suốt quá trình học cũng như thực hiện luận văn
Mặc dù với sự nỗ lực cố gắng của bản thân, luận văn không tránh khỏinhững thiếu sót Tôi mong nhận được sự góp ý chân thành của các Thầy Cô,đồng nghiệp và bạn bè để luận văn được hoàn thiện hơn
Hà nội, ngày 25 tháng 9 năm 2015
Tác giả Luận văn
Nguyễn Hồng Hạnh
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỪA KẾ, THỪA KẾ THEO DI CHÚC VÀ DI CHÚC CHUNG CỦA VỢ, CHỒNG 6
1.1 Khái niệm về thừa kế, quyền thừa kế 6
1.1.1 Quyền thừa kế theo nghĩa khách quan 6
1.1.2 Quyền thừa kế theo nghĩa chủ quan 6
1.2 Khái niệm về di chúc, thừa kế theo di chúc 7
1.2.1 Khái niệm về di chúc 7
1.2.2 Khái niệm thừa kế theo di chúc 9
1.3 Khái niệm, đặc điểm, hình thức di chúc chung của vợ, chồng 12
1.3.1 Khái niệm 12
1.3.2 Đặc điểm di chúc chung của vợ, chồng 13
1.3.3 Cơ sở thiết lập di chúc chung của vợ, chồng 17
1.3.4 Hiệu lực di chúc chung của vợ, chồng 19
1.3 Quá trình hình thành và phát triển về di chúc chung của vợ, chồng; sơ lược lịch sử vấn đề qua các thời kỳ 20
1.3.1 Quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về di chúc chung của vợ chồng trên thế giới 21
1.3.2 Quá trình hình thành và phát triển của chế định di chúc chung của vợ, chồng tại Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử 22
Kết luận chương 1 27
CHƯƠNG 2: DI CHÚC CHUNG CỦA VỢ, CHỒNG THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH 29
2.1 Lý luận về di chúc chung của vợ, chồng 29
Trang 62.1.1 Quyền lập di chúc chung của vợ, chồng 29
2.1.2 Tài sản chung của vợ, chồng 29
2.2 Điều kiện có hiệu lực của di chúc chung của vợ, chồng 32
2.2.1 Điều kiện về chủ thể 32
2.2.2 Điều kiện về nội dung và mục đích 34
2.2.3 Điều kiện về ý chí 38
2.2.4 Điều kiện về hình thức 42
2.2.5 Sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ di chúc chung của vợ, chồng 47
2.2.6 Hiệu lực di chúc chung của vợ, chồng 51
2.2.7 Những hạn chế về quyền tự định đoạt trong di chúc chung của vợ, chồng 55
Kết luận chương 2 57
CHƯƠNG 3: ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ QUY ĐỊNH DI CHÚC CHUNG CỦA VỢ, CHỒNG MỘT SỐ KIẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT 59
3.1 Ưu điểm 59
3.2 Bất cập 59
3.2.1 Bất cập về quyền lập di chúc chung của vợ, chồng và nguyên tắc tự nguyện cá nhân trong việc lập di chúc 59
3.2.2 Bất cập về nội dung và mục đích của di chúc chung của vợ, chồng 61
3.2.3 Bất cập về hình thức của di chúc chung của vợ, chồng 62
3.2.4 Bất cập về quyền sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc chung .64 3.2.5 Bất cập về thời điểm có hiệu lực của di chúc chung 66
3.2.6 Bất cập về vấn đề chấm dứt sự tồn tại của di chúc chung 71
3.2.7 Bất cập về hoa lợi, lợi tức phát sinh khi di sản chung chưa chia 71
3.3 Dự thảo sửa đổi Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định như thế nào về di chúc chung của vợ, chồng? 72
Trang 73.4 Những giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về di chúc chung của
vợ, chồng 74
3.4.1 Có nên tiếp tục thừa nhận di chúc chung của vợ, chồng? 74
3.5.2 Giữ quy định về di chúc chung của vợ chồng 75
Kết luận chương 3 84
KẾT LUẬN CHUNG 85
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 86
Trang 8LỜI MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
1.1 Tính cấp thiết của đề tài:
Thừa kế là một chế định quan trọng trong hệ thống pháp luật Dân sựViệt Nam Ở chế độ xã hội có giai cấp nào, vấn đề thừa kế cũng có vị trí quantrọng trong các chế định pháp luật, là hình thức pháp lý chủ yếu để bảo vệ cácquyền của công dân, nó gắn liền với đời sống của mỗi cá nhân trong việc tựđịnh đoạt di sản của mình trước khi chết; quyền và nghĩa vụ của người sốngđối với khối di sản thừa kế đó như thế nào
Ở Việt Nam, ngay những ngày đầu mới dựng nước, các Triều đại Lý,Trần, Lê đã có sự quan tâm đến ban hành pháp luật về thừa kế Trải qua quátrình đấu tranh cách mạng, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta, các quy định
về thừa kế đã được ghi nhận, mở rộng, phát triển và được thực hiện trên thực
tế thể hiện qua các Hiến pháp 1959, 1980, 1992 và đặc biệt là sự ra đời của
Bộ luật dân sự 1995, sau đó Bộ luật dân sự 2005 đã đánh dấu một bước pháttriển của pháp luật Việt Nam nói chung và pháp luật thừa kế nói riêng Bộluật dân sự 2005 được xem là kết quả cao của quá trình pháp điển hóa nhữngquy định của pháp luật về thừa kế Nó kế thừa và phát triển những quy địnhphù hợp với thực tiễn, không ngừng hoàn thiện để bảo vệ quyền lợi của ngườithừa kế một cách có hiệu quả nhất
Tuy nhiên về thực tiễn, do sự phát triển mạnh mẽ của đời sống kinh tế
-xã hội, phát luật về thừa kế hiện hành vẫn chưa trù liệu hết những trường hợp,tình huống xảy ra trên thực tế; các quy định còn mang tính chất chung chung,không rõ ràng, không có văn bản hướng dẫn thi hành cho từng vấn đề cụ thể,dẫn đến tình trạng không nhất quán trong cách hiểu cũng như cách giải quyết.Hàng năm Tòa án nhân dân các cấp thụ lý và giải quyết hàng ngàn vụ án thừa
kế, trong đó có những vụ án qua nhiều cấp xét xử hoặc cùng một cấp nhưng
Trang 9xét xử lại qua nhiều lần, mỗi lần có quyết định khác nhau, thậm chí trái ngượcnhau dẫn đến tính thuyết phục không cao, chưa thấu tình đạt lý Do đó nhucầu nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung pháp luật về thừa kế cho phù hợp với tìnhhình đất nước đang ngày càng tiến lên là một nhu cầu cấp thiết
Pháp luật Việt Nam hiện hành quy định có hai hình thức thừa kế là thừa
kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật Hình thức chia thừa kế theo di chúc
là hình thức chia thừa kế trong đó ý chí của người để lại di sản được Nhànước tôn trọng và bảo vệ thông qua các quy phạm pháp luật Bên cạnh di chúc
cá nhân, pháp luật Việt Nam còn quy định về di chúc chung của vợ, chồng.Quy định này làm phức tạp thêm việc giải quyết các tranh chấp về thừa kế Vìtính đa dạng, phong phú của khối tài sản chung, tài sản riêng của vợ và chồngnên vợ chồng định đoạt tài sản theo di chúc chung chỉ là ý chí chủ quan của
họ, nguyện vọng của họ và sau khi họ qua đời, việc giải quyết các tranh chấpliên quan đến di chúc chung không phải lúc nào cũng thấu tình đạt lý
Với những lý do trên, tôi đã mạnh dạn chọn đề tài “Di chúc chung của
vợ chồng theo pháp luật Dân sự Việt Nam hiện hành” làm đề tài Luận văn
thạc sĩ Luật học Đây là một đề tài có ý nghĩa quan trọng và cấp bách cả vềphương diện lý luận cũng như thực tiễn
1.2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Hiện nay các công trình khoa học, các công trình nghiên cứu về vấn đề
di chúc chung của vợ chồng cũng như tính hiệu lực pháp luật của nó khôngphổ biến Có một số công trình nghiên cứu như:
- Thừa kế của công dân Việt Nam từ 1945 đến nay, NXB Tư Pháp
2004, sách chuyên khảo của PGS, TS Phùng Trung Tập
- Thừa kế theo di chúc theo pháp luật Việt Nam của Tiến sỹ Vũ VănMẫu;
- Một số suy nghĩ về thừa kế trong luật Dân sự Việt Nam của Tiến sỹNguyễn Ngọc Điện;
Trang 10- Luật thừa kế Việt Nam của PGS.TS Phùng Trung Tập cùng một sốbài viết trên tạp chí Luật học, tạp chí Dân chủ và pháp luật
Tuy nhiên các công trình nói trên chỉ giải quyết quan hệ thừa kế theo dichúc và theo pháp luật nói chung hoặc giải quyết những vấn đề cụ thể trongquan hệ thừa kế di sản mà chưa có một công trình nào nghiên cứu về di chúcchung của vợ, chồng theo pháp luật Dân sự Việt Nam
1.3 Tính mới và những đóng góp của đề tài:
- Đây là một vấn đề mới, có ý nghĩa quan trọng trên phương diện lý
luận cũng như thực tiễn Luận văn đi sâu làm sáng rõ những điều bất cập màpháp luật đã quy định
- Luận văn đưa ra khái niệm di chúc chung của vợ chồng, đưa ra nhữngđiều kiện để di chúc của vợ chồng có hiệu lực pháp luật
- Luận văn so sánh di chúc chung của vợ chồng theo pháp luật ViệtNam với pháp luật các quốc gia trên thế giới từ đó làm sáng tỏ những điểmđặc thù về di chúc chung của vợ chồng, từ đó đưa ra những kiến nghị hoànthiện pháp luật Việt Nam
Tóm lại, các công trình nghiên cứu nói trên đã nêu ra nhiều vấn đề cơbản về lý luận và thực tiễn áp dụng pháp luật thừa kế trên nhiều góc độ, tuynhiên các công trình dưới góc độ lý luận hoàn thiện pháp luật về thừa kế còn
ít, chưa đầy đủ Các quy định về thừa kế tuy còn nhiều điểm phải hoàn thiệnnhưng được đánh giá là một trong những chế định hoàn thiện nhất của Bộ luậtDân sự Tuy nhiên, cũng như việc hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam,các quy định về thừa kế cũng phải hoàn thiện để không một quan hệ thừa kếnào nằm ngoài sự điều chỉnh của pháp luật Luận văn sẽ nghiên cứu chuyênsâu về vấn đề này, đây là đề tài hoàn toàn độc lập, không có sự trùng lặp vớibất kỳ công trình nào khác
Trang 112 Nội dung, địa điểm và phương pháp nghiên cứu
2.1 Nội dung nghiên cứu: Nghiên cứu Di chúc chung của vợ chồng
theo pháp luật dân sự Việt Nam hiện hành và nêu ra các giải pháp nhằm hoànthiện pháp luật về di chúc chung của vợ chồng
2.2 Phương pháp nghiên cứu: Việc nghiên cứu đề tài dựa trên cơ sở
lý luận chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm chủtrương, đường lối của Đảng và nhà nước về pháp luật Đặc biệt là các quanđiểm của Đảng và Nhà nước về sở hữu tư nhân, về thừa kế trong thời kỳ đổimới, mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế, đòi hỏi có sự khởi sắc về mọi mặt Dựatrên phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩaMác - Lê nin Bên cạnh đó, còn sử dụng một số phương pháp khoa họcchuyên ngành khác: phương pháp logic, phân tích, so sánh, tổng hợp, lịch sử,nêu vấn đề…
2.3 Mục đích nghiên cứu:
- Di chúc chung của vợ chồng là một loại di chúc đặc biệt thể hiện về
chủ thể, nội dung, ý nghĩa, hình thức Do đó để tìm hiểu và làm rõ các quyđịnh của pháp luật hiện hành về di chúc chung của vợ chồng nói chung vàhiệu lực pháp luật di chúc chung của vợ chồng nói riêng
Trong khuôn khổ luận văn, học viên sẽ tập trung làm sáng tỏ các vấn đềsau đây:
- Pháp luật về thừa kế đã hình thành và tồn tại rất lâu, qua quá trình tồntại và phát triển pháp luật về thừa kế có nhiều sự sửa đổi, bổ sung trên cơ sở
kế thừa các quy định trước và các chuẩn mực đạo đức Trong mỗi giai đoạnlịch sử khác nhau pháp luật về thừa kế có sự thay đổi cho phù hợp với tìnhhình xã hội Tuy nhiên mọi sự thay đổi đều tôn trọng con người, tôn trọngquyền sở hữu đối với tài sản của công dân, đảm bảo quyền tự do, thể hiện ýchí, tự định đoạt của công dân; bảo vệ trật tự xã hội, quyền lợi của Nhà nước,quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể
Trang 12- Thừa kế là sự chuyển giao tài sản từ người đã chết cho người cònsống Có hai hình thức thừa kế: thừa kế theo di chúc và thừa kế theo phápluật Mỗi hình thức thừa kế đều có đặc điểm riêng Đặc biệt là thừa kế theo dichúc, với đặc thù là sự thể hiện ý chí của cá nhân sở hữu tài sản, pháp luật tôntrọng và bảo vệ sự tự do đó Tuy nhiên đây cũng chính là nguyên nhân gây ranhiều tranh chấp về thừa kế cần giải quyết.
- Di chúc chung của vợ, chồng có đặc điểm và quá trình hình thànhphát triển riêng của nó Có những thời điểm di chúc chung không được côngnhận hoặc nếu được công nhận thì chỉ được công nhận một cách gián tiếp.Nhưng do tất yếu xã hội việc cụ thể hóa các vấn đề liên quan đến di chúcchung là điều không thể thực hiện
- Qua phân tích các vấn đề: bản chất, nội dung, hình thức, hiệu lực…của di chúc chung giúp chúng ta có cái nhìn bao quát về di chúc chung của
vợ, chồng Từ đó hiểu được bản chất của di chúc chung của vợ, chồng Trên
cơ sở tìm hiểu và phân tích đó có thể tìm ra những điểm tiến bộ cũng nhưđiểm còn hạn chế trong quy định của pháp luật về thừa kế hiện hành để cónhững giải pháp áp dụng tốt hơn trong thực tiễn
Từ đó đưa ra một số kiến nghị về mặt lý luận và kiến nghị cụ thể vềviệc sửa đổi, bổ sung các quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2005 nhằm hoànthiện hơn pháp luật về thừa kế
3 Cơ cấu của luận văn
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về thừa kế, thừa kế theo di chúc và di
chúc chung của vợ, chồng
Chương 2: Lý luận về di chúc chung của vợ, chồng theo pháp luật Việt
Nam hiện hành
Chương 3: Đánh giá chung về quy định di chúc chung của vợ chồng.
Kiến nghị và các giải pháp hoàn thiện quy định của pháp luật Việt Nam hiệnhành về hiệu lực di chúc chung của vợ chồng
Trang 13CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỪA KẾ, THỪA KẾ
THEO DI CHÚC VÀ DI CHÚC CHUNG CỦA VỢ, CHỒNG
1.1. Khái niệm về thừa kế, quyền thừa kế
Theo cách hiểu thông thường thừa kế là việc dịch chuyển tài sản củangười chết sang cho người sống nhằm chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản.Thừa kế là việc người sống thay thế người chết thực hiện các quyền của chủ
sở hữu đối với các tài sản thuộc quyền sở hữu của người chết theo sự chỉ địnhcủa người chết hoặc có thể theo pháp luật Cùng với thừa kế, quyền thừa kếcũng được hiểu theo nhiều cách khác nhau
1.1.1 Quyền thừa kế theo nghĩa khách quan
Quyền thừa kế theo nghĩa khách quan là một chế định pháp luật dân sự,
là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh việc dịch chuyển tài sản củangười chết cho người khác theo di chúc hoặc theo một trình tự nhất định,phạm vi quyền, nghĩa vụ và phương thức bảo vệ các quyền và nghĩa vụ củangười thừa kế
Chế định thừa kế quy định có hai cách để định đoạt phần di sản củangười chết cho người khác còn sống: người có tài sản lập di chúc để định đoạttài sản hoặc theo một trình tự nhất định của pháp luật Tương ứng với hai cách
đó có hai hình thức thừa kế là thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật
Các quy định về thừa kế được quy định tại Phần thứ IV của Bộ luậtDân sự năm 2005, từ điều 631 đến điều 687 Theo sự phát triển của pháp luậtViệt Nam, các quy phạm pháp luật dân sự đã có nhiều thay đổi theo các giaiđoạn lịch sử, theo đó các chế định về quyền thừa kế cũng thay đổi theo
1.1.2 Quyền thừa kế theo nghĩa chủ quan
Quyền thừa kế theo nghĩa chủ quan là quyền của người để lại di sản
và quyền của người nhận di sản Quyền thừa kế của chủ thể là khả năng xử
Trang 14sự của các chủ thể quan hệ pháp luật thừa kế được quy phạm pháp luật vềthừa kế quy định và được Nhà nước bảo đảm thực hiện Quyền chủ quan nàyphải phù hợp với các quy định của pháp luật nói chung và pháp luật về thừa
kế nói riêng
Những người được thừa kế theo quy định của pháp luật không phụthuộc vào mức độ năng lực hành vi Cho dù người đó có hay không có nănglực hành vi hay năng lực hành vi không đầy đủ đều có quyền thừa kế Trongtrường hợp như vậy thì cần có người giám hộ, người giám hộ sẽ thực hiệngiúp những người này các quyền và nghĩa vụ trong phạm vi tài sản của họ
1.2. Khái niệm về di chúc, thừa kế theo di chúc
Dưới góc độ pháp lý, điều 649 Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 1995,
điều 646 Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 2005 định nghĩa di chúc như sau: “Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết”.
Như vậy, di chúc là phương tiện phản ánh ý chí tự nguyện cuối cùngcủa cá nhân trước khi chết về việc định đoạt tài sản của họ cho người khácphù hợp với quy định của pháp luật Sự bày tỏ ý chí của một người nhằm địnhđoạt tài sản thuộc quyền sở hữu của mình sẽ được chuyển giao cho một hoặcnhiều người sau khi người lập di chúc chết là một trong những quyền dân sựquan trọng của mỗi con người
Trang 15Di chúc có các đặc điểm sau:
- Di chúc là ý chí đơn phương của cá nhân:
Di chúc được hình thành bằng ý chí của người để lại thừa kế Theo đó
họ quyết định chuyển giao một phần hoặc toàn bộ tài sản của mình cho người
đã được họ xác định trong di chúc mà không cần biết người đó có nhận di sản
do mình để lại hay không Như vậy, nếu hợp đồng được hình thành bởi sựthỏa thuận giữa hai hay nhiều bên chủ thể thì di chúc chỉ là sự quyết định đơnphương của người lập ra nó mà không cần có sự đồng ý của người nhận di sảnthừa kế
- Di chúc được lập nhằm chuyển dịch di sản của người chết cho người khác đã được xác định trong di chúc:
Đây là căn cứ để chuyển dịch tài sản của người chết cho những ngườikhác Di chúc đem lại ý nghĩa về mặt vật chất cho những người thừa kế theo
di chúc đồng thời chứa đựng nội dung chuyển dịch tài sản cho người khác saukhi chết Thông qua thừa kế, quyền sở hữu của một người đối với thành quảlao động của họ được dịch chuyển từ đời này sang đời khác, tạo tiền đề chothế hệ sau phát triển Việc ghi nhận và tôn trọng quyền định đoạt tài sản củangười lập di chúc chính là việc pháp luật tôn trọng và bảo đảm quyền tự địnhđoạt của chủ sở hữu đối với tài sản của họ
- Di chúc là loại giao dịch dân sự chỉ có hiệu lực khi chính xác người lập ra nó đã chết:
Nếu hợp đồng dân sự có hiệu lực từ thời điểm giao kết thì thời điểm bắtđầu có hiệu lực của di chúc phụ thuộc vào thời điểm người lập di chúc chết
Khoản 1, điều 670 quy định: “Di chúc có hiệu lực pháp luật từ thời điểm mở thừa kế” Mặt khác, di chúc chỉ là ý chí đơn phương của người lập ra nó nên
người lập di chúc luôn luôn có quyền tự mình thay đổi nội dung đã định đoạttrong di chúc hoặc hủy bỏ di chúc đã lập mà không cần đợi sự đồng ý của
Trang 16những người được hưởng di sản - đây cũng là một điểm khác so với hợp đồngbởi hợp đồng được lập trên cơ sở thỏa thuận, bàn bạc của các bên chủ thể nênkhi một bên có nhu cầu sửa đổi, bổ sung một số nội dung vào hợp đồng thìcũng cần có sự bàn bạc và thống nhất ý chí của bên còn lại Tính chất này chochúng ta thấy rằng, dù di chúc đã được lập nhưng người lập di chúc vẫn cònsống thì người thừa kế theo di chúc không có bất kỳ một quyền nào đối với tàisản của người lập di chúc và họ cũng chưa chắc đã được hưởng di sản đó Họchỉ được hưởng di sản thừa kế khi người lập di chúc chết, bởi khi người lập dichúc còn sống họ vẫn có toàn quyền quyết định đối với khối di sản mà khôngphải khi họ lập di chúc thì khối tài sản đó đã thuộc về những người đượchưởng thừa kế có tên trong di chúc Pháp luật tôn trọng quyền lập di chúc của
cá nhân một mặt nhằm bảo đảm quyền định đoạt của chủ sở hữu, mặt khácnhằm đảm bảo cho cá nhân thông qua việc định đoạt tài sản của mình để thểhiện tình cảm, trách nhiệm của mình đối với người khác Vì vậy, nếu sự địnhđoạt đó không còn phù hợp thì người lập di chúc có quyền sửa đổi, bổ sunghoặc hủy bỏ di chúc đã lập
Tóm lại, di chúc là phương tiện pháp lý thể hiện ý chí của cá nhân vềviệc định đoạt tài sản của họ sau khi chết, tuy nhiên một bản di chúc chỉ cóhiệu lực pháp luật khi nó tuân theo các điều kiện mà pháp luật quy định
1.2.2 Khái niệm thừa kế theo di chúc
Thừa kế nói chung là quá trình dịch chuyển di sản từ người đã chết chongười còn sống Nếu quá trình dịch chuyển này được thực hiện dựa trên ý chícủa người chết thể hiện trong di chúc mà họ để lại thì được gọi là thừa kế theo
di chúc Ngược lại, nếu sự dịch chuyển trên được thực hiện theo hàng thừa kế,điều kiện và trình tự thừa kế do pháp luật quy định thì được gọi là thừa kếtheo pháp luật
Trang 17Thừa kế theo di chúc có thể được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau.Theo nghĩa khách quan, thừa kế theo di chúc là sự quy định của pháp luật đểđiều chỉnh quá trình dịch chuyển di sản của một người đã chết cho nhữngngười khác theo ý chí đã được thể hiện trong di chúc mà người đó để lại.Theo nghĩa chủ quan, thừa kế theo di chúc là sự dịch chuyển di sản của người
đã chết cho những người khác theo ý chí mà người để lại di sản đã xác địnhtrong di chúc Tuy nhiên ta có thể đi tới cách hiểu thống nhất về thừa kế theo
di chúc như sau: “Thừa kế theo di chúc trước hết là tổng hợp các quy định của pháp luật nhằm xác định khi nào thì việc chuyển dịch di sản của một người đã chết cho những người còn sống được thực hiện theo di chúc Sau nữa, việc thực hiện thừa kế theo di chúc phải tuân theo ý chí của người để lại
di sản nếu ý chí đó phù hợp với các quy định của pháp luật.” [13, tr27]
Thừa kế theo di chúc là một trong hai hình thức nhằm bảo đảm cho cánhân trước khi chết được định đoạt tài sản của mình theo ý muốn Thừa kếtheo di chúc và thừa kế theo pháp luật đều là các phương thức chuyển dịch tàisản mà pháp luật quy định, cả hai sự chuyển dịch đó đều phải tuân thủ cácquy định của pháp luật Pháp luật dân sự Việt Nam luôn ưu tiên phương thứcdịch chuyển theo di chúc với nguyên tắc di sản của người chết luôn đượcphân chia cho những người thừa kế theo di chúc mà người có tài sản để lại,chỉ chia theo pháp luật nếu có di sản không để lại di chúc hoặc di chúc không
có hiệu lực pháp luật; thậm chí nếu di chúc có phần hợp pháp và phần khônghợp pháp thì phần hợp pháp vẫn chia theo di chúc Nguyên tắc này thể hiệnpháp luật luôn tôn trọng quyền tự do cá nhân của người để lại di sản, tôntrọng tối đa ý chí của người để lại di sản, pháp luật trao cho người có tài sảnđược quyền tự do ý chí trong việc lựa chọn và chỉ định người thừa kế, phânchia di sản Tuy nhiên bên cạnh việc tôn trọng tự do ý chí của cá nhân, phápluật còn hướng tới việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể khác
Trang 18Trong lĩnh vực thừa kế, luật cho phép cá nhân tự do ý chí trong việc định đoạttài sản của mình cho người khác sau khi chết nhưng luật cũng có quy địnhnhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng của các thành viên khác trong gia đình của
họ, sự tự do đó “không được xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của người khác” [2, điều 10], phù hợp
đạo đức xã hội Điều này được thể hiện rõ trong quy định tại Điều 669 Bộluật Dân sự năm 2005 về những người thừa kế không phụ thuộc vào nộidung của di chúc Theo đó trong trường hợp người chết để lại di chúc mànhững người có quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng thuộc Điều 669
Bộ luật Dân sự mà không được hưởng hoặc hưởng ít hơn 2/3 một suất thừa
kế thì họ vẫn đương nhiên được hưởng một phần di sản bằng 2/3 một suấtthừa kế chia theo pháp luật
Giữa thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật cũng có nhiều điểmkhác biệt: thừa kế theo di chúc là sự chuyển dịch di sản theo ý chí đích thực,
tự nguyện của người để lại di sản được thể hiện rõ trong di chúc Vì thế,người thừa kế gồm những ai, hưởng bao nhiêu và khi nào được hưởng lànhững điều không thể xác định trước cho mọi trường hợp theo một khuônmẫu chung Ngược lại, thừa kế theo pháp luật lại là sự dịch chuyển theo quyđịnh của pháp luật trên cơ sở phỏng đoán mong muốn chung của những người
để lại di sản, phù hợp với chuẩn mực chung của xã hội Vì thế, người thừa kế
và kỷ phần di sản mà mỗi người được hưởng đã được xác định trước theo mộtkhuôn mẫu thống nhất cho mọi trường hợp
Vậy như thế nào là một di chúc hợp pháp? Điều 652 Bộ luật Dân sự
năm 2005 quy định rất cụ thể và rõ ràng về các điều kiện để xác định một dichúc có hợp pháp hay không Tuy nhiên di chúc được lập ra không phải ngaylập tức có hiệu lực, nó chỉ ghi nhận ý chí cá nhân tại thời điểm lập di chúc Dichúc chỉ phát sinh hiệu lực sau khi người lập di chúc chết Vì vậy khi cònsống người lập di chúc có quyền sửa đổi, bổ sung, thay thế hay hủy bỏ di
Trang 19chúc Và cũng chỉ duy nhất người lập di chúc mới có quyền này Không ai cóquyền vi phạm quyền tự do thể hiện ý chí của người lập di chúc Bất kỳ sự tácđộng nào tới việc sửa đổi, bổ sung, thay thế hay hủy bỏ di chúc mà khôngtheo ý chí của người lập di chúc đều bị coi là hành vi vi phạm pháp luật
Xem xét một cách tổng quát theo yêu cầu của pháp luật thì một di chúc
có hiệu lực pháp luật khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau đây:
- Người lập di chúc phải có năng lực hành vi dân sự
để định đoạt khối tài sản chung của vợ, chồng sau khi chết Như vậy, có thểhiểu, với tư cách là đồng sở hữu chung hợp nhất đối với tài sản, vợ và chồng
có quyền định đoạt tài sản chung bằng nhiều cách, trong đó có quyền địnhđoạt tài sản chung bằng cách lập di chúc
Di chúc chung của vợ, chồng thể hiện sự đồng thuận trong việc địnhđoạt tài sản chung Chủ thể lập di chúc chung không phải là cá nhân mà là haingười: vợ và chồng, trên cơ sở bàn bạc, thỏa thuận đi đến thống nhất lập di
Trang 20chúc để định đoạt khối tài sản chung Do đó, dựa vào những yếu tố trên, ta có
thể đưa ra khái niệm di chúc chung của vợ, chồng như sau: “Di chúc chung của vợ chồng là sự thể hiện ý chí đồng thuận, thống nhất của vợ và của chồng nhằm chuyển dịch tài sản chung của vợ, chồng cho người khác sau khi chết.”
1.3.2 Đặc điểm di chúc chung của vợ, chồng
Di chúc chung của vợ, chồng là một trường hợp đặc biệt của di chúcnên nó có đầy đủ đặc điểm của một di chúc thông thường: sự thể hiện ý chí tựnguyện của bên lập di chúc; nội dung di chúc là định đoạt tài sản của ngườilập di chúc; di chúc phát sinh hiệu lực pháp luật khi người để lại di chúc chết
Bên cạnh những điểm chung giống nhau, di chúc chung của vợ, chồngcòn có một số đặc điểm riêng sau:
Thứ nhất, di chúc chung của vợ, chồng được hình thành dựa trên quan hệ hôn nhân còn hiệu lực
Di chúc chung của vợ, chồng phải do người vợ và người chồng cùnglập, do đó giữa họ phải đang tồn tại quan hệ hôn nhân Khoản 13, Điều 3 Luật
Hôn nhân và gia đình năm 2014 xác định: “Thời kỳ hôn nhân là khoảng thời gian tồn tại quan hệ vợ, chồng được tính từ ngày đăng ký kết hôn đến ngày chấm dứt hôn nhân”.
Do nhiều nguyên nhân khác nhau mà một số trường hợp không đáp ứngđược các điều kiện về nội dung và hình thức kết hôn theo Luật Hôn nhân vàgia đình năm 2000 hay Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định nhưngviệc lập di chúc chung giữa họ vẫn được thừa nhận như: Trường hợp có nhiều
vợ hoặc nhiều chồng; trường hợp nam nữ sống chung với nhau như vợ, chồng(Thông tư số 60 - DS ngày 22/2/1978 của Tòa án nhân dân tối cao); Trườnghợp nam, nữ sống chung với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn(Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội về thi hành Luậthôn nhân và gia đình; Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT ngày 03/1/2001
Trang 21của TANDTC, VKSNDTC và BTP về thi hành Nghị quyết số35/2000/QH10) Cụ thể như sau: [8, tr2]
- Đối với những trường hợp quan hệ vợ chồng được xác lập từ trước ngày 03/01/1987 (ngày Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 có hiệu lực) mà không đăng ký kết hôn, thì khi Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 có hiệu
lực, những trường hợp này được khuyến khích đăng ký kết hôn, nghĩa là việcđăng ký kết hôn theo thủ tục Luật định sẽ không bị hạn chế thời gian
- Trường hợp nam, nữ sống chung với nhau như vợ, chồng từ ngày 03/01/1987 (ngày Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 có hiệu lực) đến ngày 01/01/2001 (ngày Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 có hiệu lực) mà
không đăng ký kết hôn, khi Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 có hiệu lực,nếu có đủ điều kiện kết hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quyđịnh thì có nghĩa vụ phải đăng ký kết hôn trong thời hạn hai năm Hết thờihạn trên mà không đăng ký kết hôn thì không được pháp luật công nhận là vợ,chồng
- Trường hợp nhiều vợ, nhiều chồng: quan hệ hôn nhân của vợ, chồng
được xác lập trước ngày 13/01/1960 tuy có vi phạm chế độ hôn nhân một vợ,một chồng nhưng vẫn được thừa nhận và không trái với pháp luật Theonguyên tắc chung, nguyên tắc hôn nhân một vợ, một chồng được thực hiện từngày LHN&GĐ năm 1959 có hiệu lực (từ ngày 13/01/1960)
Thứ hai, di chúc chung của vợ chồng là sự thể hiện ý chí chung, thống nhất của hai vợ, chồng
Đó là sự thể hiện ý chí thống nhất trong việc phân định tài sản chungcho ai, chỉ định người thừa kế di chúc, người quản lý di sản, người phân chia
di sản…mà nó không bị chi phối bởi ý kiến của bất kỳ ai, cũng không cần có
sự đồng ý, thỏa thuận của những người được hưởng di sản thừa kế
Trang 22Thứ ba, tài sản được định đoạt trong di chúc chung của vợ, chồng là tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất của vợ, chồng
Trong thời kỳ hôn nhân, vợ, chồng có thể có tài sản chung, có thể có tàisản riêng Tuy nhiên khi lập di chúc chung của vợ, chồng thì tài sản được địnhđoạt trong đó chỉ bao gồm tài sản chung Tài sản chung của vợ chồng baogồm:
“1 Tài sản chung của vợ, chồng bao gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ, chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và những tài sản khác mà vợ, chồng thỏa thuận là tài sản chung.
Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ, chồng Quyền sự dụng đất mà vợ, chồng có được trước khi kết hôn, được thừa kế riêng chỉ là tài sản chung khi vợ, chồng có sự thỏa thuận
3 Trong trường hợp không có chứng chứ chứng minh tài sản mà vợ chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó là tài sản chung.” [7, tr 22]
Thứ tư, thời điểm có hiệu lực của di chúc chung của vợ, chồng là thời điểm người sau cùng chết hoặc tại thời điểm vợ, chồng cùng chết
Điều 668 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định: “Di chúc chung của vợ, chồng có hiệu lực từ thời điểm người sau cùng chết hoặc tại thời điểm vợ, chồng cùng chết” Đây cũng là một đặc trưng của di chúc chung của vợ,
chồng làm nó có khác biệt so với di chúc do một cá nhân lập Bởi thời điểm dichúc do cá nhân lập theo quy định của pháp luật chỉ có hiệu lực khi cá nhân
đó chết, còn thời điểm có hiệu lực của di chúc chung của vợ, chồng được xácđịnh qua hai trường hợp
Trang 23Thông qua việc phân tích các đặc điểm của di chúc chung của vợ,chồng cho thấy di chúc chung của vợ chồng có một số điểm đặc thù, khác biệtvới di chúc thông thường như sau:
Tiêu chí Di chúc thông thường Di chúc chung của vợ, chồng
Mục đích
Dùng để định đoạt tài sản
riêng của người lập di chúc
và tài sản nằm trong khối
tài sản chung với người
khác
Chỉ dùng để định đoạt tài sảnchung của vợ chồng, không baogồm tài sản riêng của vợ hoặcchồng
Tài sản
Phải là tài sản của người
lập di chúc có quyền sở hữu
hợp pháp, bao gồm tài sản
riêng và phần tài sản trong
khối tài sản chung với
người khác
Là tài sản chung hợp nhất của vợ,chồng, không bao gồm tài sảnriêng; nếu vợ hoặc chồng địnhđoạt tài sản riêng trong di chúcchung thì cũng không được xem
là một phần di chúc chung của vợchồng
Hình
thức
Bằng văn bản hoặc bằng
miệng, đáp ứng các điều
kiện pháp luật quy định
Bằng văn bản hoặc bằng miệng,đáp ứng các điều kiện pháp luậtquy định
quyền tuyệt đối khi sửa đổi,
bổ sung, thay thế, hủy bỏ di
chúc, không phụ thuộc vào
người khác
Vợ chồng có quyền sửa đổi, bổsung, thay thế, hủy bỏ di chúc khi
cả hai người còn sống và đồngthuận với nhau
Người Không bao giờ là người lập Vợ hoặc chồng có thể lập di chúc
Trang 24Tiêu chí Di chúc thông thường Di chúc chung của vợ, chồng
Điều 667 Bộ luật Dân sự
năm 2005 quy định: “Di
Quản lý
di sản
Có thể được chỉ định trong
di chúc hoặc được những
người thừa kế thỏa thuận cử
ra Và người này chỉ có thể
bảo quản, tránh sự hao hụt
của di sản Nếu di sản phát
sinh hoa lợi, lợi tức thì
thuộc di sản thừa kế
Nếu một người chết trước, người
vợ hoặc chồng còn lại quản lý, sửdụng và phát triển khối tài sản của
vợ, chồng Sau thời điểm mộtngười chết, người còn lại pháttriển di sản và làm ra tài sản mớithì đó là tài sản riêng của người
đó, không nằm trong khối di sản
mà vợ, chồng đã định đoạt trong
di chúc chung
1.3.3 Cơ sở thiết lập di chúc chung của vợ, chồng
Khác với di chúc của cá nhân thể hiện ý chí cá nhân trong việc địnhđoạt tài sản thuộc sở hữu của mình, di chúc chung được thiết lập trên cơ sởquan hệ hôn nhân và quan hệ sở hữu chung hợp nhất đối với tài sản chung của
vợ, chồng Tại sao pháp luật lại quy định chủ thể có quyền lập di chúc chung
để định đoạt tài sản của mình sau khi chết chỉ có thể là vợ, chồng mà khôngtrao quyền này cho những người khác, bởi lẽ:
Thứ nhất, về mối quan hệ vợ, chồng: vợ, chồng là khái niệm chỉ hai cá
nhân nam nữ độc lập trong xã hội, gắn bó với nhau bởi quan hệ hôn nhân hợppháp Hôn nhân hợp pháp là hôn nhân có đăng ký tại cơ quan nhà nước có
Trang 25thẩm quyền Khi là vợ chồng phải “có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình” (7, điều 19) Xuất phát từ bản chất của hôn nhân,
vợ chồng cùng nhau xây dựng mái ấm gia đình, cùng chăm nom gia đình,giáo dục nuôi dưỡng các con
Thứ hai, về tài sản: Cuộc sống chung của vợ, chồng cùng với tính chất
của quan hệ hôn nhân đã xác lập đòi hỏi vợ chồng phải có khối tài sản chung
Và khối tài sản ấy sẽ là cơ sở kinh tế của gia đình, đáp ứng các nhu cầu thiếtyếu của gia đình để từ đó thực hiện tốt các chức năng xã hội
Thứ ba, về mối quan hệ của vợ, chồng với những người thừa kế: thông
thường vợ, chồng lập di chúc chung để dịch chuyển di sản thừa kế cho nhữngngười có quan hệ huyết thống (các con đẻ của vợ, chồng; cha, mẹ, anh, chị,
em ruột của một bên vợ hoặc chồng) hoặc quan hệ nuôi dưỡng như con nuôi.Người thừa kế cũng có thể là cá nhân, tổ chức khác không thuộc các quan hệtrên nhưng điều đó ít khi xảy ra khi vợ chồng lập di chúc chung Mặt khác dù
vợ chồng có định đoạt tài sản chung hay không cho những người trong giađình thì pháp luật cũng hạn chế sự định đoạt đó bằng điều 669 Bộ luật Dân sựnăm 2005
Thứ tư, trong thực tiễn: vấn đề di chúc chung của vợ, chồng đã có từ
lâu đời và ngày càng trở nên phổ biến trong cuộc sống hiện đại Nó thể hiệntruyền thống tốt đẹp của dân tộc ta, thể hiện đạo lý, tình nghĩa vợ chồng Đócũng là sự tất yếu để hình thành di chúc chung của vợ, chồng
Từ sự tất yếu trên có thể nhận thấy quy định hiệu lực pháp luật di chúcchung của vợ chồng có ý nghĩa rất quan trọng Hiệu lực pháp luật di chúcchung giúp chia thừa kế theo di chúc chung một lần, nhằm tránh chia di sảnnhiều lần vì điều luật quy định di chúc chung của vợ chồng chỉ có hiệu lực từhai thời điểm xác định là người sau cùng chết hoặc vợ chồng cùng chết Di
Trang 26chúc chung của vợ chồng đảm bảo quyền sở hữu và quyền sử dụng di sảnthừa kế của người sống, vì tài sản chung của vợ, chồng trong thời kỳ hônnhân là loại tài sản chung hợp nhất, khi nó được định đoạt bằng một di chúcchung thì phần nào đó các quyền của người thừa kế sẽ được đảm bảo mộtcách tuyệt đối hơn so với việc không có di chúc hoặc di chúc riêng Hơn nữaviệc quy định di chúc chung của vợ, chồng phần nào ngăn chặn những mâuthuẫn trong gia đình đặc biệt khi một người chết trước, người còn sống quản
lý di sản chưa chia, những người thừa kế theo di chúc chưa thể nhận di sản từ
di chúc chung của vợ, chồng mà người vợ hoặc chồng còn sống Di sản đangđược quản lý đó cần luôn được đảm bảo rõ ràng, minh bạch
1.3.4 Hiệu lực di chúc chung của vợ, chồng
Trước đây, Điều 671 Bộ luật Dân sự năm 1995 với tiêu đề “Hiệu lực
pháp luật của di chúc chung của vợ chồng” có quy định: “Trong trường hợp
vợ, chồng lập di chúc chung mà có một người chết trước thì chỉ phần di chúc liên quan đến phần di sản của người chết trong tài sản chung có hiệu lực pháp luật…”
Như vậy đối với Bộ luật Dân sự năm 1995 khi một người chết thì dichúc liên quan đến phần di sản của người chết có hiệu lực Pháp luật thừa kế
năm 1990 cũng theo hướng này: “Trong trường hợp di chúc do nhiều người lập chung mà có người chết trước thì chỉ phần di chúc có liên quan đến tài sản của người chết trước có hiệu lực” (khoản 1, Điều 23).
Bộ luật Dân sự năm 2005 đã có sự sửa đổi đối với thời điểm có hiệu lựccủa di chúc chung của vợ, chồng Theo điều 668 Bộ luật Dân sự năm 2005
quy định: “Di chúc chung của vợ, chồng có hiệu lực từ thời điểm người sau cùng chết hoặc tại thời điểm vợ, chồng cùng chết” Trước đây Bộ luật Dân sự
cũng quy định trường hợp di chúc chỉ có hiệu lực khi người sau cùng chết
Trang 27nhưng với điều kiện là việc này được vợ chồng thỏa thuận trong di chúc Cụ
thể Điều 671 Bộ luật Dân sự năm 1995 quy định: “nếu vợ, chồng có thỏa thuận trong di chúc về thời điểm có hiệu lực của di chúc là thời điểm người sau cùng chết thì di sản của vợ, chồng theo di chúc chung chỉ được phân chia
từ thời điểm đó” Như vậy, ngày nay không cần vợ chồng có thỏa thuận, di
chúc vẫn chỉ có hiệu lực khi người cuối cùng chết hoặc cả hai cùng chết
Với thực trạng trên khi vợ hay chồng chết, di chúc chưa có hiệu lực nênnhững người thừa kế theo di chúc chưa thể yêu cầu chia di sản Tuy nhiên,quy định theo Bộ luật Dân sự năm 2005 làm phát sinh vấn đề về thời hiệutrong lĩnh vực thừa kế Bởi lẽ, thời điểm bắt đầu thời hiệu trong lĩnh vực thừa
kế không bắt đầu từ thời điểm di chúc có hiệu lực mà từ thời điểm mở thừa
kế Điều đó có nghĩa là người thừa kế theo di chúc chỉ được yêu cầu chia thừa
kế theo di chúc khi người sau cùng chết trong khi đó thời hiệu đối với di sảncủa người chết trước đã bắt đầu từ thời điểm người này chết
Di chúc chung của vợ, chồng theo quy định của pháp luật Việt Namhiện hành chỉ phát sinh hiệu lực khi hai người cùng chết hoặc sau khi ngườisau cùng chết Theo đó, nếu một người vợ hoặc chồng chết thì di chúc chungchưa phát sinh hiệu lực Sau khi người vợ hoặc người chồng chết, người cònsống sẽ quản lý di sản Người thừa kế bắt buộc phải đợi thời điểm người saucùng chết mới được hưởng phần di sản của mình và hưởng các quyền khác cóliên quan Trường hợp đặc biệt cả hai người cùng chết thì thời điểm hai ngườicùng chết là thời điểm di chúc phát sinh hiệu lực
1.3 Quá trình hình thành và phát triển về di chúc chung của vợ, chồng; sơ lược lịch sử vấn đề qua các thời kỳ
1.3.1 Quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về di chúc chung của vợ chồng trên thế giới
Trang 28Trước khi tìm hiểu pháp luật của Việt Nam về quyền lập di chúc chungcủa vợ chồng, chúng ta đi xem xét pháp luật của những quốc gia trên thế giới.
Thứ nhất, Luật La Mã là một bộ luật cổ xưa nhất trong văn minh nhân
loại Nó có vai trò và vị trí vô cùng lớn đối với sự phát triển pháp luật của tất
cả các nước trên thế giới từ cổ chí kim Luật La Mã là một nguồn tài liệutham khảo quý giá cho các nhà nghiên cứu pháp luật và các nhà lập pháptrong thời hiện đại Luật La Mã quy định hai hình thức thừa kế là thừa kế theo
di chúc và thừa kế theo luật, ngoài ra còn có thừa kế theo lệnh của các quan.Tuy nhiên, Luật La Mã lại không đề cập đến vấn đề di chúc chung của vợchồng Cho đến nay các nhà làm luật vẫn không lý giải được tại sao pháp luật
La Mã lại không quy định vấn đề di chúc chung của vợ chồng trong hệ thốngpháp luật của mình
Thứ hai, pháp luật Cộng hòa Pháp là một hệ thống được xếp vào hàng
danh giá, có ý nghĩa và ảnh hưởng lớn với các nước trên thế giới Trong lĩnh
vực thừa kế dù pháp luật Pháp cho phép: “Mọi người đều có thể định đoạt bằng di chúc để lập thừa kế hoặc để di tặng hoặc được gọi bằng bất cứ tên nào khác để thể hiện ý chí của mình” Tuy nhiên, cũng như Luật La Mã, các
nhà làm luật Pháp không chấp nhận vấn đề di chúc chung của vợ, chồng điều
đó thể hiện tại Điều 968 Bộ luật Dân sự: “Hai hoặc nhiều người không thể làm chung một di chúc để lại tài sản cho người thứ ba hoặc để lại tài sản cho nhau” Điều đó có nghĩa mặc dù tôn trọng sự định đoạt tài sản của chủ
sở hữu nhưng pháp luật Pháp lại hạn chế một số trường hợp định đoạt tài sảnnày, thể hiện qua việc không cho phép vợ chồng lập di chúc chung màkhông phân biệt vợ chồng đó theo chế độ cộng đồng tài sản hay chế độ phânsản trong hôn nhân
Như vậy, hai hệ thống pháp luật tiêu biểu trên đều không quy định dichúc chung của vợ, chồng Như chúng ta đã biết việc xây dựng pháp luật của
Trang 29mỗi quốc gia phụ thuộc nhiều vào tình hình kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội,trình độ lập pháp của quốc gia đó Việc quốc gia này quy định một vấn đề nào
mà các quốc gia khác không quy định là điều dễ hiểu và đương nhiên Vậynên vẫn có những quốc gia khác quy định về di chúc chung của vợ chồng
Thứ nhất, Bộ luật Dân sự Đức năm 1896 được gọi là
“professorenrechi”, tức là luật của các giáo sư bởi sự thành công trong kỹnăng lập pháp cũng như trong các quan hệ xã hội mà nó điều chỉnh Pháp luậtcủa Đức quy định vợ chồng có thể lập di chúc chung
Thứ hai, Bộ luật Dân sự của Canada cũng công nhận di chúc chung
của vợ, chồng
Để tránh sự xung đột pháp luật trong việc giải quyết tranh chấp giữanhững quốc gia có công nhận và không công nhận di chúc chung của vợ,chồng; công ước Whasington 1984 hay còn gọi là Công ước về vấn đề di chúc
quốc tế đã quy định: “Di chúc có hiệu lực kể từ thời điểm nó tuân thủ các quy định về hình thức của di chúc của nước mà người lập di chúc có quốc tịch”.
Quy định này có ý nghĩa rất quan trọng, đặc biệt trong việc giải quyết cáctranh chấp liên quan đến vấn đề di chúc nói chung và di chúc chung của vợchồng nói riêng có tính chất nước ngoài
1.3.2.Quá trình hình thành và phát triển của chế định di chúc chung của vợ, chồng tại Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử.
Đây là phần tìm hiểu quá trình hình thành và phát triển của chế định dichúc chung của vợ, chồng qua các thời kỳ lịch sử trong pháp luật Việt Nambởi lẽ mỗi thời kỳ ở Việt Nam đều gắn với điều kiện chính trị, kinh tế - xãhội, phong tục tập quán nhất định Thời kỳ sau không hoàn toàn giống thời kỳtrước mà nó có sự biến đổi, kế thừa và phát triển cho phù hợp với tình hìnhthực tế
1.3.2.1 Trước năm 1990
Trang 30Do điều kiện lịch sử Việt Nam, trước năm 1990 là giai đoạn mà phápluật chưa thực sự hoàn thiện, các quy định về thừa kế nói chung là khôngnhiều và nằm rất rải rác trong các văn bản pháp luật khác nhau Các quy phạmcũng chưa thể dự liệu được hết các quan hệ xã hội nảy sinh Việc áp dungpháp luật nói chung, pháp luật về thừa kế nói riêng còn rất hạn chế và khókhăn Đây là thực trạng chung của pháp luật Việt Nam Pháp luật về thừa kếtrong thời gian này chủ yếu là quy định về một số vấn đề cơ bản.
Thời kỳ pháp luật phong kiến
Di chúc chung chưa được quy định trong pháp luật thừa kế trong thời kỳnày Khi ban hành bộ Quốc triều hình luật hay còn gọi là bộ luật Hồng Đức,các vấn đề về thừa kế theo di chúc được quy định tại các Điều 354, Điều 388
Ở đây người con gái có quyền thừa kế ngang bằng người con trai và Bộ luật đãphân định nguồn gốc tài sản của vợ chồng là tài sản riêng của mỗi người và tàisản chung của vợ, chồng Đây là một điểm được đánh giá là rất tiến bộ, tuynhiên Bộ luật lại không có quy định về di chúc chung của vợ, chồng
Bộ Hoàng Triệu Luật Lệ tức Luật Gia Long có quy định về thừa kếtheo di chúc nhưng vấn đề di chúc chung không được đề cập
Tuy nhiên theo Giáo sư Vũ Văn Mẫu, thực tiễn tục lệ của Việt Namtrong các xã hội trước đây cho thấy, di chúc chung của vợ chồng là hình thức
di chúc thông dụng, việc lập di chúc chung của vợ, chồng lại được thừa nhận
từ lâu trong phong tục tập quán Quan niệm truyền thống của người Việt Namvốn rất coi trọng đạo nghĩa vợ, chồng và luôn muốn củng cố tình yêu thương,đoàn kết trong gia đình nên cũng khuyến khích việc vợ chồng cùng nhau lập
di chúc chung để định đoạt tài sản chung và coi đó như là một biểu hiện caođẹp của sự đoàn kết, yêu thương giữa vợ và chồng [13, tr2] Trong các xã hộitrước đây cho thấy di chúc chung của vợ, chồng là hình thức di chúc thông
Trang 31dụng và việc vợ, chồng cùng lập di chúc chung là hiện tượng phổ biến thờibấy giờ
Thời kỳ Pháp thuộc
Thời kỳ này chúng ta có ba Bộ Luật tiêu biểu: bộ Dân luật Trung kỳ(1936), bộ Dân luật Bắc kỳ (1931), bộ Dân luật Sài Gòn (1972) Luật quyđịnh trong gia đình, người vợ không có quyền định đoạt tài sản chung của vợchồng Điều 346 Dân luật Bắc kỳ và Điều 341 Dân luật Trung kỳ đều quyđịnh: Nếu người chồng chết trước thì người vợ chỉ được hưởng tài sản riêngcủa mình, còn tài sản chung thì không được hưởng Người vợ chỉ trở thànhchủ sở hữu di sản của người chồng khi không còn thừa kế nào về bên nội, bênngoại của người chồng Trong trường hợp người vợ chết trước, Điều 131 Dânluật Bắc kỳ và Điều 111 Dân luật trung kỳ đều quy định: Người chồng đươngnhiên trở thành chủ sở hữu duy nhất của tất cả tài sản chung của vợ, chồng,trong đó có cả tài sản riêng của vợ
Tuy nhiên tại Điều 321 Dân luật Bắc kỳ và Điều 313 Dân luật Trung kỳ
cũng đã ghi nhận quyền lập di chúc chung của vợ, chồng: “Người cha được lập chúc thư để xử trí tài sản chung của gia đình tùy theo ý mình, nhưng phải
có vợ chính đồng ý…Trừ tài sản của vợ chính ra thì người chồng được làm chúc thư để xử trí tài sản của gia đình tùy theo ý mình, không có vợ chính thuận tình cũng được.”
Thời kỳ 1954-1975
Dưới chính thể ngụy quyền Sài Gòn, các quy định về thừa kế đượccông nhận tại Điều 572 - bộ Dân luật Sài Gòn: “Chúc thư chỉ có thể do mộtngười lập ra; hai người không thể cùng chung một chúc thư lợi tha hay lưỡngtương đắc lợi Đặc biệt trong trường hợp chúc thư do hai vợ chồng cùng làm
để sử dụng tài sản chung, chúc thư được thi hành riêng về phần di sản của
Trang 32người chết trước, người sống vẫn có quyền hủy bãi hay thay đổi chúc thư vềphần mình”.
1.3.2.2 Từ thời kỳ 1990 đến nay
Điều 27, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 có quy định: “Vợ chồng
có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung” và “Tài sản chung của vợ, chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất”.
Kế thừa các quy định của Bộ luật Dân sự 1995, Bộ luật Dân sự 2005 cónhiều quy định mới Quy định về di chúc chung của vợ, chồng là một trong sốquy định mới đó Nếu Điều 671 Bộ luật Dân sự 1995 quy định về hiệu lực
pháp luật của di chúc chung của vợ chồng: “Trong trường hợp vợ, chồng lập
di chúc chung mà có một người chết trước thì chỉ phần di chúc liên quan đến phần di sản của người chết trong tài sản chung có hiệu lực pháp luật; nếu vợ, chồng có thỏa thuận trong di chúc về thời điểm có hiệu lực của di chúc là thời điểm người sau cùng chết, thì di sản của vợ, chồng theo di chúc chung chỉ được phân chia từ thời điểm đó” thì Bộ luật Dân sự 2005 lại chỉ quy định hiệu lực pháp luật của di chúc chung của vợ, chồng: “Di chúc chung của vợ, chồng có hiệu lực từ thời điểm người sau cùng chết hoặc tại thời điểm vợ, chồng cùng chết” mà không quy định cụ thể trong trường hợp một bên vợ
hoặc chồng chết trước thì giá trị di chúc chung sẽ như nào
Trang 33Kể từ thời điểm Bộ luật Dân sự năm 2005 có hiệu lực đến nay không
có thêm văn bản nào điều chỉnh về di chúc chung của vợ, chồng
Trang 34Kết luận chương 1
Là một chương lý luận với mục đích dẫn nhập để giải quyết các chươngtiếp theo nên trong chương này học viên đề cập tới một số khái niệm vớinhững quan điểm khác nhau để rút ra những kết luận đồng thời chỉ ra nhữngđặc điểm đặc trưng và hình thức của di chúc chung vợ chồng Cụ thể:
1 Di chúc được xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau Di chúc dướigóc độ là căn cứ để chuyển dịch di sản của người chết sang cho người cònsống khác với di chúc theo cách hiểu thông thường là những lời “dặn lại” củangười chết đối với những người còn sống
2 Thừa kế theo di chúc xét dưới nghĩa khách quan, là tổng hợp các quyđịnh của pháp luật nhằm xác định khi nào thì việc chuyển dịch di sản của mộtngười đã chết cho những người còn sống được thực hiện theo di chúc; xétdưới nghĩa chủ quan, việc thực hiện thừa kế theo di chúc phải tuân theo ý chícủa người để lại di sản nếu ý chí đó phù hợp các quy định của pháp luật
3 Di chúc chung của vợ, chồng là sự thể hiện ý chí chung thống nhấtcủa hai vợ, chồng nhằm dịch chuyển khối tài sản thuộc sở hữu chung hợpnhất của vợ, chồng cho người khác sau khi chết
4 Di chúc chung của vợ chồng là trường hợp đặc biệt của di chúc nên
nó có đầy đủ đặc điểm của một di chúc thông thường: sự thể hiện ý chí tựnguyện của bên lập di chúc; nội dung di chúc là định đoạt tài sản của ngườilập di chúc; di chúc phát sinh hiệu lực pháp luật khi người để lại di chúc chết
Bên cạnh những điểm chung giống nhau, di chúc chung của vợ, chồngcòn có một số đặc điểm riêng như sau:
- Di chúc chung của vợ, chồng được hình thành dựa trên quan hệ hônnhân đang còn hiệu lực
- Di chúc chung của vợ, chồng là sự thể hiện ý chí chung thống nhấtcủa hai vợ chồng
Trang 35- Tài sản được định đoạt trong di chúc chung của vợ, chồng là tài sảnthuộc sở hữu chung hợp nhất của vợ, chồng
- Thời điểm có hiệu lực của di chúc chung của vợ chồng là thời điểmngười sau cùng chết hoặc tại thời điểm vợ, chồng cùng chết
5 Việc phát triển di chúc chung của vợ, chồng qua các thời kỳ lịch sử,mỗi thời kỳ có sự nhận thức nhất định về di chúc chung của vợ, chồng Bộluật Dân sự năm 2005 đã quy định cụ thể về di chúc chung của vợ, chồng; tuychưa được hoàn thiện nhưng kể từ thời điểm Bộ luật Dân sự năm 2005 cóhiệu lực đến nay chưa có thêm văn bản nào điều chỉnh về di chúc chung của
vợ, chồng
Trang 36CHƯƠNG 2
DI CHÚC CHUNG CỦA VỢ, CHỒNG THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH 2.1 Lý luận về di chúc chung của vợ, chồng
2.1.1 Quyền lập di chúc chung của vợ, chồng
Theo quy định tại các Điều 663, Điều 664 và Điều 668 Bộ luật Dân sựnăm 2005 thì vợ, chồng có quyền lập di chúc chung để định đoạt tài sảnchung, quyền này được pháp luật bảo vệ và tôn trọng Quyền này được phátsinh từ thời điểm hai người được công nhận là vợ, chồng hợp pháp (có đăng
ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền) Kể từ thời điểm là vợ,chồng hợp pháp thì giữa vợ, chồng hình thành khối tài sản chung, tài sản của
vợ, chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất Vợ chồng có quyền bình đẳng đốivới việc sở hữu tài sản chung này nên vợ, chồng cũng bình đẳng với nhau vềviệc lập di chúc chung Ngoài tài sản chung vợ, chồng còn có thể có tài sảnriêng Đối với tài sản riêng, vợ chồng lập di chúc riêng để định đoạt theo ýchí của mình
2.1.2 Tài sản chung của vợ, chồng
Di sản thừa kế là tài sản chung của vợ, chồng khi còn sống Tài sảnchung của vợ, chồng gồm có:
- Tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất,kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ, chồng trong thời kỳ hônnhân
- Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ, chồng mà phápluật quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì trong giấy chứng nhận quyền sởhữu phải ghi tên của cả vợ, chồng
- Trong trường hợp không có chứng cứ chứng minh tài sản mà vợ,chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó là tài sảnchung
Trang 37Vợ chồng có các quyền sau để định đoạt tài sản chung của vợ, chồng:
Thứ nhất, Quyền chỉ định người thừa kế, truất quyền thừa kế của người
thuộc diện thừa kế:
Di chúc chung vợ, chồng dùng để định đoạt khối tài sản thuộc sở hữuchung hợp nhất của vợ, chồng Khi vợ chồng còn sống, quyền sở hữu chunghợp nhất đối với khối tài sản chung được pháp luật bảo đảm thông qua cácquyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt Việc lập di chúc để phân chia tài sản làmột trong các biểu hiện của quyền tự định đoạt đối với tài sản thuộc sở hữuchung Vợ chồng có quyền thỏa thuận để lại di chúc cho bất cứ người nào tức
là có quyền chỉ định người thừa kế và cũng có thể truất quyền thừa kế củangười thuộc diện thừa kế Người thừa kế theo di chúc chung của vợ, chồng cóthể là Nhà nước, tổ chức hoặc cá nhân bất kỳ theo sự chỉ định của người để lại
di chúc
Thứ hai, Quyền phân định tài sản cho người thừa kế:
Ngoài việc lựa chọn người được hưởng di sản thì việc phân định phần
di sản cho từng người thừa kế là một trong những vấn đề cần thỏa thuận Vấn
đề này cũng hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí của hai vợ chồng mà không căn cứvào mối quan hệ hôn nhân, nuôi dưỡng hay huyết thống Vợ chồng để lại toàn
bộ di sản được định đoạt trong di chúc cho một người hoặc để lại di sản chonhiều người, phần di sản mà mỗi người được hưởng theo di chúc có thể bằngnhau hoặc không bằng nhau
Thứ ba, Quyền dành một phần tài sản trong khối di sản để di tặng, thờ
cúng:
Di tặng là việc người lập di chúc dành một phần di sản để tặng chongười khác Phần tặng cho này chỉ có hiệu lực cùng với hiệu lực của di chúc.Việc vợ chồng định đoạt khối tài sản chung còn thể hiện trong việc vợ, chồng
có quyền dùng một phần di sản vào việc thờ cúng Theo phong tục, tập quán
Trang 38và văn hóa của người Việt, con cháu thờ cúng ông bà tổ tiên là một nét vănhóa, nó giúp thế hệ sau tưởng nhớ đến thế hệ trước
Thứ tư, Quyền giao nhiệm vụ cho người thừa kế:
Cùng với việc nhận được di sản người thừa kế có thể được giao thêmcác nghĩa vụ khác nhau Việc giao nghĩa vụ cho người thừa kế không phải làđặt điều kiện trong di chúc Những nghĩa vụ được giao cho người thừa kế lànhững nghĩa vụ mà khi còn sống vợ, chồng chưa thực hiện hoặc thực hiệnchưa xong Việc giao nghĩa vụ cho người thừa kế không phải là đặt điều kiệntrong di chúc Pháp luật về thừa kế hiện hành không cho phép người lập dichúc đặt điều kiện cho người hưởng thừa kế
Thứ năm, Quyền chỉ định người giữ di chúc, người quản lý di sản,
người chia di sản: Thông thường sau khi lập di chúc vợ, chồng sẽ cùng nhau
tự lưu giữ di chúc chung, cũng có thể yêu cầu cơ quan công chứng lưu giữhay gửi người khác Trong quá trình bảo quản, giữ di chúc của vợ, chồng cóthể cho những người khác biết về việc có bản di chúc chung hoặc để đếntrước khi chết mới công bố công khai sự tồn tại của di chúc chung đó để đếnkhi chết bản di chúc được biết đến
Thứ sáu, Quyền sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc:
Sửa đổi di chúc là việc người lập di chúc thay thế một phần quyết định
cũ của mình đối với các phần trong di chúc trước đó Vợ, chồng có thể sửađổi người được hưởng thừa kế; sửa đổi quyền và nghĩa vụ của người thừa kế
Bổ sung di chúc là vợ hoặc chồng có thể thêm vào nội dung của di chúcgồm: thêm người thừa kế, định đoạt thêm phần tài sản mà di chúc lập trước đóchưa đề cập…
Nếu người lập di chúc bổ sung, mà phần di chúc bổ sung vẫn hợp phápthì di chúc đã lập và phần di chúc bổ sung đều có hiệu lực pháp luật như
nhau Tuy nhiên, có những trường hợp “nếu một phần của di chúc đã lập và
Trang 39phần bổ sung mâu thuẫn nhau thì chỉ phần bổ sung có hiệu lực pháp luật” [2,
2.2 Điều kiện có hiệu lực của di chúc chung của vợ, chồng
Di chúc chung của vợ chồng cũng giống như di chúc thông thườngmuốn có hiệu lực trước hết phải được thừa nhận là hợp pháp Và một di chúchợp pháp thì phải đảm bảo những điều kiện của pháp luật về chủ thể, ý chí,hình thức, nội dung…
2.2.1 Điều kiện về chủ thể
Vợ và chồng là hai chủ thể độc lập nhưng lại cùng nhau lập di chúcchung, do vậy họ trở thành chủ thể của di chúc chung vợ chồng Di chúcchung của vợ chồng là sự thể hiện ý chí thống nhất của cả hai người, vì thế cả
vợ và chồng đều phải đáp ứng những yêu cầu về mặt chủ thể để di chúc chung
có hiệu lực Tại thời điểm lập di chúc chung thì cả vợ và chồng đều phải là
người có năng lực hành vi dân sự “Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa
vụ dân sự” [2, điều 17]
Điều 647 Bộ luật dân sự năm 2005 có quy định về người lập di chúc:
“1 Người đã thành niên có quyền lập di chúc, trừ trường hợp người đó
bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức và làm chủ được hành vi của mình.
2 Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi có thể lập di chúc, nếu được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý.”
Trang 40Quy định trên đã làm sáng tỏ một số điều kiện để xác định chủ thể lập
di chúc Điều kiện về độ tuổi và năng lực trí tuệ của cá nhân người lập di chúc
là điều kiện tiên quyết trong việc xác định di chúc có giá trị pháp lý haykhông có giá trị pháp lý Một trong những điều kiện đầu tiên mà người lập dichúc cần phải có đó là năng lực hành vi dân sự theo quy định tại khoản 1,
Điều 122 Bộ luật Dân sự năm 2005 có quy định: “Người tham gia giao dịch
có năng lực hành vi dân sự” Theo quy định trên, một người được coi là có
năng lực hành vi dân sự đầy đủ khi người đó đủ 18 tuổi mà không bị mắc cácbệnh không thể nhận thức và làm chủ được hành vi của mình Về nguyên tắcchỉ những người đủ 18 tuổi trở lên mới có quyền lập di chúc Còn đối vớinhững người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi; những ngườinày khi họ có tài sản nhất định thì vẫn có quyền lập di chúc để định đoạt tàisản của mình Tuy nhiên, ở độ tuổi này cá nhân mới chỉ đạt được sự nhậnthức nhất định, chưa thể coi là hoàn thiện, chưa thể kiểm soát được sự địnhđoạt của mình nên pháp luật quy định chỉ khi có sự cho phép của cha mẹ hoặcngười giám hộ
Tiếp đến, điều 663 Bộ luật Dân sự năm 2005 có quy định: “Vợ chồng
có thể lập di chúc chung để định đoạt tài sản chung”, vợ chồng cùng thỏa
thuận thống nhất lập di chúc chung Giữa vợ, chồng phải tồn tại tình trạng hônnhân Hai cá nhân đơn lẻ đương nhiên không có quyền lập di chúc chung Khinam nữ kết hôn trở thành vợ chồng, họ định đoạt tài sản của mình bằng cáchlập di chúc chung, pháp luật tôn trọng quyền này của họ Nhưng vì một lý donào đó, sau khi di chúc chung đã được lập, vợ chồng lại li dị, tài sản phânchia, đời sống hôn nhân không còn tồn tại, thì đương nhiên di chúc chung đãlập cũng không còn giá trị Do vậy phải đang là vợ chồng, đang trong tìnhtrạng hôn nhân hợp pháp thì di chúc chung của vợ chồng mới được pháp luậtcông nhận