BIỆN PHÁP TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG HỌC THEO CHỦ ĐỀ NHẰM PHÁT TRIỂN TÍNH SÁNG TẠO CHO TRẺ 56 TUỔI Ở TRƯỜNG MẦM NON Đối với trẻ MN, phát triển tính sáng tạo đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong việc phát triển toàn diện nhân cách trẻ. Vì vậy, tổ chức HĐHTCĐ cho trẻ mẫu giáo là một việc làm cần thiết đòi hỏi phải xem đây như là một trong những nhiệm vụ trọng tâm để giúp trẻ có được nền tảng vững chắc bước vào cuộc sống tương lai. Kết quả điều tra thực trạng tại một số trường mầm non trên địa bàn thành phố Hà Nội cho thấy: phần lớn số giáo viên đều nhận thức được sự cần thiết phải phát triển tính sáng tạo cho trẻ 5 6 tuổi. Họ cũng cho rằng hoạt động học và chơi là hình thức giáo dục có hiệu quả để hình thành và phát triển tính sáng tạo cho trẻ 5 6 tuổi ở trường mầm non. Tuy nhiên, giáo viên vẫn chưa tận dụng hết được những ưu thế của tổ chức hoạt động học theo chủ đề nhằm phát triển tính sáng tạo cho trẻ. Việc tổ chức cho trẻ học tập xoay quanh chủ đề, kết hợp đan cài, tích hợp các nội dung học cũng như các hoạt động khác nhau theo chủ đề giúp cho giáo viên mầm non có thể linh hoạt xác định mục tiêu, nôi dung học tập phù hợp với giới hạn cao nhất mà trẻ có thể làm được sẽ góp phần khai thác tiềm năng sáng tạo của chúng. Học theo chủ đề mang lại nhiều thông tin cho trẻ hơn là kiểu dạy theo “tiết học” riêng lẻ trước đây.Tuy nhiên dạy học cho trẻ mẫu giáo theo chủ đề chỉ mang lại hiệu quả khi và chỉ khi nội dung chủ đề gắn với cuộc sống thực xung quanh trẻ và giáo viên biết cách tổ chức theo quan điểm “lấy trẻ làm trung tâm” còn họ giữ vai trò là “thang đỡ”, “điểm tựa” của trẻ , biết khai thác vốn kinh nghiệm sống của trẻ và hướng sự phát triển của trẻ đến “vùng phát triển gần nhất” . chính vì vậy giáo viên phải linh hoạt, sáng tạo các phương pháp dạy học tích hợp tích cực để tổ chức các hình thức tổ chức học tập phong phú hấp dẫn trẻ theo quan điểm sư phạm tích hợp tạo cơ hội cho trẻ được được học tích cực, sáng tạo: Giáo viên giáo nhiệm vụ cho trẻ suy nghĩ và giải quyết vấn đề, gợi mở sử dụng các câu hởi gợi ý bắt trẻ phải động não, học theo các nhóm nhỏ học cá nhân….theo nguyên tắc “lấy trẻ làm trung tâm”, “hướng sự phát triển của trẻ đến vùng phát triển gần nhất.” Giáo viên cần vận dụng linh hoạt, sáng tạo các phương pháp dạy học, thay đổi các hình thức dạy, phong phú sáng tạo theo quan niệm sư phạm tích hợp nhằm tạo cơ hội cho trẻ: nhận nhiệm vụ và tự giải quyết vấn đề, gợi mở sử dụng câu hỏi gợi ý bắt trẻ phải động não suy nghĩ…học theo nguyên tắc lấy trẻ làm trung tâm hướng trẻ tới “ vùng phát triển gần.” Thực tế giáo dục mầm non nước ta hiện nay có một số trường mầm non trong nước và trường mầm non quốc tế đã xây dựng chương trình học tập cho trẻ mẫu giáo trên quan điểm cho trẻ trải nghiệm trong hoạt động, trẻ được lĩnh hội kiến thức, kinh nghiệm theo nhiều cách khác nhau, chú trọng “ học như thế nào?” hơn là học cái gì? Khuyến khích giáo viên áp dụng các phương pháp day học khác nhau? Không tách rời giữa học và chơi…Tuy nhiên nhiều trường mầm no giáo vien còn lúng túng gặp khó khăn trong tổ chức hoạt động học tâp cho trẻ theo chủ đề cho. Nguyên nhân có thể là do phong cách giáo dục trong gia đình, do cách thức tổ chức và các biện pháp mà giáo viên sử dụng để giáo dục trẻ ở trường MN. Nhận thức được điều đó chúng tôi đã xây dựng bố 7 biện pháp TCHĐTCĐ nhằm phát triển tính sáng tạo cho trẻ ở trường MN bao gồm: Biện pháp 1: Hình thành và mở rộng biểu tượng về thế giới xung quanh thông qua việc tổ chức cho trẻ thăm quan, trải nghiệm, xem video, tranh ảnh, mô hình về liên quan đễn mỗi chủ đề học của trẻ. Biện pháp 2: Xây dựng và duy trì các góc học chơi tạo điều kiện về thời gian và không gian cùng những điều kiện phương tiện đồ dùng đồ chơi đa dạng, phong phú, luôn chú ý bổ xung, làm mới để tăng sự hấp dẫn cho trẻ cần thiết theo chủ đề nhằm kích thích sự tìm tòi, sáng tạo của trẻ Biện pháp 3: Khuyến khích giáo viên áp dụng các phương pháp dạy học khác một cách sáng. Tạo tình huống chơi và học bất ngờ, hấp dẫn, lôi cuốn trẻ vào các trò chơi, khích lệ trẻ tìm cách giải quyết tình huống hay, hợp lý, độc đáo. Biện pháp 4: Động viên, khuyến khích trẻ, kịp thời những biểu hiện tích cực, sáng tạo của trẻ trong suốt quá trình hoạt động học theo chủ đề của trẻ Bảy biện pháp có sự liên quan hỗ trợ lẫn nhau, chính vì vậy cần phải sử dụng linh hoạt thường xuyên trong tổ chức HĐHTCĐ cho trẻ ở trường MN. Tiến hành thử nghiệm các biện pháp giáo dục đã đề xuất, chúng tôi thu được những kết quả khả quan: biểu hiện tính sáng tạo của trẻ đã tăng lên đáng kể cả về lượng và chất. Điểm số của trẻ nhóm TN cao hơn hẳn so với trước TN và cao hơn so với nhóm ĐC, trong đó số trẻ đạt ở mức độ tốt, khá tăng lên, mức độ yếu giảm đi rõ rệt, độ lệch chuẩn giảm. Giáo viên đã áp dụng các biện pháp một cách dễ dàng và thuận tiện, còn trẻ thì thực sự chủ động, tích cực và tự tin khi tham gia vào hoạt động học theo chủ đề nên mức độ biểu hiện tính sáng tạo của trẻ đã tăng lên rõ rệt. Kết quả thực nghiệm khẳng định độ tin cậy, tính khả thi và hiệu quả của biện pháp tổ chức HĐHTCĐ nhằm phát triển tính sáng tạo cho trẻ 5 6 tuổi đã được xây dựng trong luận văn.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
***
-TRẦN THỊ YẾN
BIỆN PHÁP TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG HỌC
THEO CHỦ ĐỀ NHẰM PHÁT TRIỂN TÍNH SÁNG TẠO
CHO TRẺ 5-6 TUỔI Ở TRƯỜNG MẦM NON
LUẬN VĂN THẠC SỸ
Trang 2HÀ NỘI – 2015
Trang 3BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
***
-TRẦN THỊ YẾN
BIỆN PHÁP TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG HỌC THEO CHỦ ĐỀ NHẰM PHÁT TRIỂN TÍNH SÁNG
TẠO CHO TRẺ 5-6 TUỔI Ở TRƯỜNG MẦM NON
Chuyên ngành: Giáo dục học (Giáo dục Mầm non)
Mã số: 60.14 01.01
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thị Hòa
Trang 4HÀ NỘI – 2015
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Trước hết, tôi xin bày tỏ sự kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc tới
PGS.TS Nguyễn Thị Hòa, người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong
suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban chủ nhiệm khoa, các thầy, cô giáo trongkhoa Giáo dục mầm non, trường Đại học sư phạm Hà Nội đã giảng dạy, tạomọi điều kiện cho tôi học tập và nghiên cứu
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban giám hiệu các trường mầmnon Cầu Diễn, trường mầm non Mỹ Đình và các giáo viên đã cộng tác, giúp
đỡ tạo điều kiện tốt nhất trong quá trình tiến hành điểu tra thực trạng cũngnhư thực nghiệm thành công
Tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã quan tâm, động viêngiúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài
Hà Nội, tháng 6 năm 2015
Tác giả
Trang 6Trần Thị Yến
Trang 7DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT
Trang 8MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Ngày nay trong xu thế đổi mới và hòa nhập giáo dục mầm non vấn đề
tổ chức các hoạt động giáo dục tích hợp theo chủ đề cho trẻ nói chung và hoạtđộng theo chủ đề cho trẻ mẫu giáo là cần thiết.Có nhiều cách tích hợp tronggiáo dục mầm non và một trong cách tích hợp đó là tích hợp theo chủ đề.Dạng tích hợp này duy trì những mục tiêu riêng rẽ trong mỗi hoạt động đồngthời liên kết chúng một cách hài hòa trên cơ sở xây dựng các chủ đề cụ thể.Cách tiếp cận này xoay quanh một hoạt động “công cụ” hoạt động này có đặcđiểm chỉ là một phần nội dung là đặc thù nhưng có thể nhận những môn kháclàm nội dung của mình Việc tổ chức hoạt động học cho trẻ mẫu giáo theo chủ
đề gần gũi cuộc sống thực của trẻ tạo cho trẻ nhiều cơ hội phát huy khả năngsáng tạo của mình góp phần hình thành và phát triển tâm lý nhân cách trẻ và
là tiền đề cho trẻ học tập ở lớp học sau này
Để phát triển tính sáng tạo của trẻ, tổ chức hoạt động học theo chủ đề làhoạt động vô cùng quan trọng đối với trẻ mầm non Dạy học tích hợp theochủ đề cho trẻ mẫu giáo là cách tiếp cận lấy trẻ làm trung tâm Những chủ đề
mà trẻ được học rất cụ thể và gần gũi cuộc sống thực của trẻ cũng như vốnkinh nghiệm của cá nhân chung.Và quan trọng hơn nữa để phát triển tính sángtạo cho trẻ các chủ đề tạo cho trẻ cảm xúc, bắt trẻ phải động não suy nghĩtrong quá trình khám phá tìm kiếm cách thức giải quyết các nhiệm vụ đặt ratrong khi học theo chủ đề Trong xu thế đổi mới giáo dục mầm non hiện nayvấn đề dạy học theo chủ đề cho trẻ mẫu giáo là cần thiết và có ý nghĩa gópphần hình thành cho trẻ những năng lực thích nghi cuộc sống bậc học saunày.Vì thế nghiên cứu tổ chức hoạt động học theo chủ đề cho trẻ mẫu giáo ởtrường mầm non có ý nghĩa cả lý luận lẫn thực tiễn trong đổi mới giáo dụcmầm non hiện nay
Trang 9Lứa tuổi mầm non là giai đoạn quan trọng để hình thành và phát triểntính sáng tạo Trong đó giai đoạn 5-6 tuổi là giai đoạn mà tính sáng tạo đượcbộc lộ rõ nét hơn qua các hoạt động học theo chủ đề ở trường mầm non Đồngthời đây là giai đoạn quan trọng, giai đoạn chuyển tiếp từ mầm non lên tiểuhọc cần phát triển những năng lực quan trọng như nhận thức, giải quyết vấn
đề, tính sáng tạo….để chuẩn bị cho việc học tập ở tường phổ thông
Chính vì vậy, ngày nay vấn đề giáo dục cho trẻ mầm non được quantâm như một lĩnh vực khoa học và phát triển tính sáng tạo trong các hoạt độnghọc theo chủ đề là một vấn đề quan trọng ở tường mầm non Để tạo ra một thế
hệ con người trưởng thành có năng lực sáng tạo ngay lứa tuổi mầm non Trên thực tế, ở các trường mầm non khi tổ chức hoạt động học theo chủ
đề ở trường mầm non, các giáo viên mầm non đã bắt đầu quan tâm tới việchình thành tính sáng tạo cho trẻ trong các hoạt động trong đó có hoạt độnghọc Họ khuyến khích để trẻ tự làm và tôn trọng những quyết định của trẻ Vàcác giáo viên cũng đã bắt đầu học hỏi những kinh nghiệm để phát triển tínhsáng tạo cho trẻ Tuy nhiên do chưa hiểu rõ bản chất cũng như quá trình tổchức hoạt động học theo chủ đề ở trường mầm non, nên chưa được quan tâmđúng mức và còn bộc lộ nhiều hạn chế (về cách xây dựng môi trường hoạtđộng, cách tổ chức hoạt động, các phương pháp…) nên vẫn chưa phát triểnđược tính sáng tạo của trẻ
Xuất phát từ lý do trên chúng tôi chọn đề tài: “Biện pháp tổ chức hoạt
động học theo chủ đề nhằm phát triển tính sáng tạo cho trẻ 5-6 tuổi” làm
đề tài nghiên cứu của mình nhằm góp phần hoàn thiện thêm những lí luận vàthực tiễn về hoạt động học theo chủ đề nhằm phát triển tính sáng tạo cho trẻmẫu giáo ở trường mầm non
2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Xây dựng các biện pháp tổ chức hoạt động học theo chủ đề nhằm pháttriển tính sáng tạo cho trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non nhằm góp phần pháttriển nhân cách toàn diện của trẻ mầm non
3 KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Trang 103.1 Khách thể nghiên cứu
Quá trình tổ chức hoạt động học theo chủ đề cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi
ở trường MN
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp tổ chức hoạt động học theo chủ đề nhằm phát triển tính sángtạo cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi
4 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Biện pháp dạy học có mối quan hệ chặt chẽ với kết quả học của trẻ.Nếu đề xuất được một số biện pháp tổ chức hoạt động học theo chủ đề phùhợp trẻ 5-6 tuổi như: Tạo môi trường đa dạng hấp dẫn, tận dụng nguyên vậtliệu trong tự nhiên và các phế liệu, tạo bầu không khí học tập giữa cô và trẻ,tạo ra tình huống chơi học hấp dẫn, động viên khuyến khích trẻ đưa ra ýtưởng trong khi học thì sẽ phát triển tính sáng tạo của trẻ
5 NHIÊM VỤ NGHIÊN CỨU
1 Nghiên cứu cơ sở lý luận sử dụng biện pháp tổ chức hoạt động học theo chủ
đề nhằm phát triển tính sáng tạo cho trẻ 5-6 tuổi
2 Nghiên cứu thực trạng biện pháp tổ chức hoạt động học theo chủ đề nhằm
phát triển tính sáng tạo cho trẻ 5-6 tuổi” ở trường mầm non
3 Đề xuất một số biện pháp và thực nghiệm tổ chức hoạt động học theo chủ đề
nhằm phát triển tính sáng tạo cho trẻ 5-6 tuổi” ở một số trường mầm non
6 PHẠM VI NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
- Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu biện pháp tổ chức hoạt động học theochủ đề, trong các chủ đề là trẻ sẽ tự chọn chủ đề xuất phát từ nhu cầu chủ ýcủa trẻ
- Địa bàn: Hai trường mầm non Cầu Diễn và trường mầm non Mỹ Đìnhthuộc khu vực huyện Từ Liêm – Hà Nội
7 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
- Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi sử dụng các phương pháp:Phân tích - tổng hợp, so sánh, hệ thống hoá, khái quát hoá các vấn đề lý luận
có liên quan đến đề tài nhằm xây dựng cơ sở lý luận của đề tài
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Trang 117.2.2 Phương pháp quan sát
- Mục đích: Tìm hiểu biện pháp tổ chức hoạt động học theo chủ đềnhằm phát triển tính sáng tạo cho trẻ 5-6 tuổi, tìm hiểu khả năng thực tế củatrẻ mầm non hoạt động học theo chủ đề của trẻ, và tính sáng tạo của trẻ thôngqua hoạt động ở trường mầm non
- Nội dung nghiên cứu: Quy trình biện pháp tổ chức hoạt động học theochủ đề của giáo viên, hoạt động học của trẻ qua các chủ đề mức độ tính sángtạo của trẻ 5-6 tuổi
- Cách thức thực hiện: Quan sát và phân tích các giờ học của trẻ, ghichép thông tin thu thập được qua quan sát theo các cách, ghi chép tự do, ghichép có cấu trúc, ghi chép bán cấu trúc Đồng thời quay video và phân tíchbăng
- Cách thức thực hiện: Cần ghi chép tỉ mỉ, có hệ thống, giữa ngườinghiên cứu và đối tượng nghiên cứu 1 cách tế nhị, cuộc trò chuyên phải đượcdiễn ra tự nhiên cởi mở Cần phải phối hợp các phương pháp nghiên cứukhác nhất là phương pháp quan sát trắc nghiệm để có kết quả có tính thuyếtphục hơn
7.2.4 Phương pháp phân tích sản phẩm hoạt động của trẻ.
- Mục đích: Nghiên cứu sản phẩm của giáo viên để tìm hiểu thực trạng
sử dụng các biện pháp quy trình và biện pháp tổ chức chức hoạt động họctheo chủ đề của giáo viên mầm non hiện nay: Phân tích sản phẩm của trẻ đểđánh giá mức độ sáng tạo cho trẻ 5-6 tuổi thông qua các tiêu chí đánh giá
- Nội dung nghiên cứu: Kế hoạch giáo án, những ghi chép của giáoviên, sản phẩm hoạt động của trẻ
Trang 12- Cách thức thực hiện: Thu thập các mẫu sản phẩm của giáo viên (kếhoạch tổ chức trò chơi) sản phẩm của trẻ, phân tích chương trình và tài liệunghiệp vụ hướng dẫn tổ chức hoạt động học theo chủ đề nhằm phát triển tínhsáng tạo cho trẻ 5-6 tuổi.
7.2.1 Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi
- Mục đích: Khảo sát các giáo viên mầm non dạy các lớp 5-6 tuổi vềvấn đề tổ chức hoạt động học theo chủ đề nhằm phát triển tính sáng tạo củatrẻ 5-6 tuổi
- Nội dung nghiên cứu: Nhận thức và thái độ của giáo viên về tính sángtạo cho trẻ 5-6 tuổi.Quy trình tổ chức và biện pháp tổ chức hoạt động học theochủ đề nhằm phát triển tính sáng tạo của trẻ 5-6 tuổi của giáo viên mầm non.Những thuận lợi và khó khăn của giáo viên khi tổ chức hoạt động học theochủ đề nhằm phát triển tính sáng tạo cho trẻ 5-6 tuổi
- Cách tiến hành: Xây dựng phiếu hỏi và phiếu cho các giáo viên đangdạy lớp mẫu giáo 5-6 tuổi
7.2.6 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
- Mục đích: Nhằm kiểm chứng giả thuyết khoa học và kiểm tra tính khảthi và hiểu quả của quy trình và biện pháp tổ chức chức hoạt động học theochủ đề nhằm phát triển khả năng sáng tạo cho trẻ 5-6 tuổi đã đề xuất
- Nội dung nghiên cứu: Quy trình và biện pháp tổ chức chức hoạt độnghọc theo chủ đề đã đề xuất để xác định hiệu quả và tính khả thi của nhữngbiện pháp đó nhằm phát triển tính sáng tạo cho trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non
đã xây dựng.Trên cơ sở đó có những kiến nghị sư phạm hợp lý để nâng caohiệu quả hoạt động của trẻ trong hoạt động học nhằm phát triển tính sáng tạocủa trẻ ở trường mầm non
- Cách thức tiến hành: Áp dụng quy trình các biện pháp đề xuất nghiêncứu điển hình trong 1 năm học
7.2.5 Phương pháp tổng kết kinh nghiệm:
Trang 13Nghiên cứu và tổng kết kinh nghiệm của giáo viên và chuyên gia vềcách tổ chức hoạt động học theo chủ đề nhằm phát triển tính sáng tạo cho trẻmẫu giáo 5 - 6 tuổi để thu thập thông tin làm cơ sở cho việc triển khai đề tài.
7.3 Phương pháp xử lý số liệu
Chúng tôi sử dụng một số các công thức toán thống kê: tính giá trị trịtrung bình, tính phương sai, độ lệch chuẩn để xử lí kết quả nghiên cứu
- Phần mềm SPSS
8 DỰ KIÊN CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, tài liệu tham khảo, phục lục,luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận biện pháp tổ chức hoạt động học theo chủ đề
đề nhằm phát triển tính sáng tạo cho trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non
Chương 2: Thực trạng biện pháp tổ chức hoạt động học theo chủ đề đề
nhằm phát triển tính sáng tạo cho trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non
Chương 3: Đề xuất biện pháp tổ chức hoạt động học theo chủ đề đề
nhằm phát triển tính sáng tạo cho trẻ 5-6 tuổi và thực nghiệm
Kết luận và kiến nghị
Tài liệu tham khảo
Phục lục
Trang 141 Những nghiên cứu ở nước ngoài
Dạy học theo chủ đề xuất hiện từ những năm đầu của thế kỷ XX, mụctiêu của nó hướng tới việc chuẩn bị cho đứa trẻ bước vào cuộc sống – xã hội,giúp cho chúng có thể giải quyết được các tình huống, hoàn cảnh cụ thể có ýnghĩa trong cuộc sống hiện tại và tương lai Đại diện cho trường phái dạy họctheo chủ đề là nhà tâm lý giáo dục người Bỉ Ovide Decroly Theo ông, tựnhiên xã hội và những vấn đề đời sống thực tại, những tình huống thườngngày tạo nên những điểm xuất phát của nội dung học tập, đó chính là các chủ
đề cho trẻ quan sát, khám phá liên hệ với thực tiễn
Thứ nhất: Những nghiên cứu về hoạt động học theo chủ đề của các
nước trên thế giới
Dạy học theo chủ đề coi trọng hứng thú và sử dụng trò chơi dạy họctheo chủ đề là những quan điềm trong dạy trẻ của Ovide Decroly Ông đã
mở “Trường học theo cho cuộc sống và do cuộc sống” vào năm 1907 tạithành phố Hecmitagio và cho rằng “phải chuẩn bị cho đứa trẻ vào cuộcsống”
Một số nhà nghiên cứu lý luận và thực tiễn giáo dục mầm non trên thếgiới và các nước trong khu vực đang tìm tòi và xây dựng hướng đi đúng đắncho việc tổ chức hoạt động học tập tích hợp theo chủ đề ở trường mầm nonnhằm thực hiện mục tiêu giáo dục giúp nhanh chóng thích ứng, hòa nhậptích cực vào các hoạt động trong cuộc sống hiện tại và tương lai Giáo dụcmầm non (Early Chidhood Educatison) ở nhiều nước trên thế giới( Anh, Mỹ,
Úc, Pháp, Singapo, Hàn Quốc….) nhìn nhận đứa trẻ như một thực thể tíchhợp ( The Whole Child ), và bản thân trẻ trong cuộc sống, lĩnh hội nhữngkiến thức trong môi trường mà ở đó có tất cả các yếu tố tự nhiên, xã hội vàkhoa học đan quyện vào nhau tạo thành một môi trường sống phong phúxung quanh trẻ Một trong những mục tiêu giáo dục ở trường mầm non hiện
Trang 15nay là giáo dục trẻ cách sống và hòa nhập với môi trường một cách tích cực
có hiệu quả Hiện nay nhiều nước trên thế giới như Anh Pháp Thủy Điển,Nhật Bản quan tâm đến sự phát triển nhận thức của trẻ nhưng không nhấnmạnh vào kĩ năng đọc và viết, tính toán, quan tâm đến ý tưởng của trẻ, sựsuy nghĩ của chúng và sự chia sẻ những ý tưởng đó với cô giáo với bạn bè Chương trình giáo dục ở Úc và Zealand được xây dựng theo quan điểmcủa đứa trẻ là trung tâm Mục tiêu chương trình nhằm hình thành ở nhữngphẩm chất chung chứ không nhấn mạnh vào việc tiếp thu các kĩ năng, kiếnthức đơn lẻ Nội dung học theo chủ đề gần gũi cuộc sống thực của trẻ Giáodục mầm non ở Hàn Quốc, Singapo chuyển từ nền sư phạm sao chép sangmột nền giáo dục cho phép sự linh hoạt và hợp tác theo quan điểm hướngvào trẻ, dành cho trẻ chăm sóc và dạy dỗ tốt nhất, cho phép trẻ tự do lựachọn hoạt động, có nhiều cơ hội chơi, giáo tiếp bằng ngôn ngữ phù hợp với
sự phát triển cho phép trẻ là người học tích cực
Xu hướng tổ chức giáo dục mầm non ở các nước Phương Tây trong giai đoạn hiện nay: (Anh, Pháp, Thủy Điển, Mỹ,…): Một trong những xu
hướng của giáo dục phương Tây là “ Lấy trẻ làm trung tâm” của quá trìnhgiáo dục hay xu hướng giáo dục hướng vào đứa trẻ “vì lợi ích của chính bảnthân đứa trẻ.”
Khi tổ chức hoạt động giáo dục cho trẻ nhà giáo dục không áp đặt trẻtheo ý muốn chủ quan của họ mà luôn luôn cho trẻ tự do chọn các góc chơi,
tự do hoạt động theo nhu cầu, hứng thú của mình Tạo cơ hội tạo điều kiệncho trẻ được trải nghiệm, được thực hành được chia sẻ, được khám phá thếgiới muôn hình muôn vể xung quanh chúng Họ cùng trẻ chia sẻ những ýtưởng tăng cường sự hợp tác giữa giáo viên và trẻ
Nhà giáo dục với tư cách là thang đỡ điểm tựa của trẻ, trong quá trìnhgiáo dục trẻ, giáo viên quan tâm đến dòng suy nghĩ của trẻ hơn là những điềutrẻ hiểu biết.Họ quan tâm đến cách dạy trẻ học như thế nào hơn là cho trẻ họccái gì.Họ tạo điều kiện, cơ hội cho trẻ tích cực hoạt động
Các nhà giáo dục ở phương Tây rất quan tâm đến sự phát triển nhận thứccủa trẻ nhưng không nhấn mạnh vào các kĩ năng đọc, viết, tính toán và luôn
Trang 16tạo điều kiện kích thích trẻ tính tích cực và óc sáng tạo của trẻ trong hoạtđộng của chúng ở trường mầm non.
Các nhà giáo dục mầm non đều thống nhất quan điểm cho rằng, trẻ ởlứa tuổi mầm non học tốt nhất là học qua chơi và coi chơi là hoạt động chínhcủa trẻ mẫu giáo ở trường mầm non Vì thế các nước này, trẻ chơi là chủ yếu,trẻ học qua chơi Trẻ chơi và được học trong môi trường hoạt động đa dạngphong phú, và hấp dẫn dưới sự hướng dẫn của giáo viên
Xu hướng giáo dục mầm non ở Nga: Từ những năm 90 thế kỉ XX trở
lại đây, xu hướng giáo dục mầm non có một số thay đổi cách tiếp cận trong
tư tưởng và nội dung giáo dục trẻ, những quan điểm của một số nhà giáo dụcphương Tây như M.Moontessori được khôi phục và được ứng dụng rộng rãi
ở các trường mầm non của Nga
Coi trọng phát huy tính tích cực, tính sáng tạo của trẻ trong các hoạtđộng đặc biệt hoạt động vui chơi của trẻ mẫu giáo ở trường mầm non Quantâm đến đặc điểm cá nhân của từng trẻ nhiều hơn, tạo cơ hội cho nhóm trẻ vàtừng trẻ phát triển tốt nhất Giáo viên là người trợ giúp, điều khiển, tạo môitrường cho trẻ hoạt động
Xu thế xã hội hóa giáo dục ở nước Nga được thể hiện rõ giữa gia đình
và nhà trường mầm non và các lực lượng xã hội có sự phối hợp chặt chẽtrong công tác giáo dục mầm non
Xu hướng giáo dục mầm non ở một số nước trong khu vực Châu Á, Thái Bình Dương ( Nhật Bản, Hàn Quốc, Úc, Niu Dilan, Xingapo…):Giáo
dục mầm non một số nước trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương
( Nhật Bản, Hàn Quốc, Úc, Niu Dilan, Xingapo…) đi theo hướng giáo dụctích hợp theo chủ đề Tiếp cận tích hợp theo chủ đề chính là cách thức cungcấp theo định hướng mở cho giáo viên tổ chức các hoạt động cho trẻ xoayquanh chủ đề Giáo dục tích hợp theo chủ đề theo nguyên tắc giáo dục vàonhững đứa trẻ “hướng vào đứa trẻ” tổ chức hoạt động phải xuất phát từ nhucầu và hứng thú của chính trẻ
Với vai trò là người tổ chức hướng dẫn giáo viên cùng với trẻ đưa ra ýtưởng cho từng chủ đề và trong mỗi chủ đề giáo viên xác định rõ mục tiêucần giáo dục cho trẻ cả về sức khỏe, nhận thức, ngôn ngữ, tình cảm, đạo đức-
Trang 17xã hội tình cảm thẩm mĩ và mục tiêu giáo dục đặt ra phải dựa trên khả năngthực của trẻ.
Chương trình giáo dục được xây dựng trên quan điểm tích hợp theo chủ
đề gần gũi với cuộc sống thực của trẻ
Mục tiêu của chương trình giáo dục hướng đến hình thành cho trẻ nhữngnăng lực chung giúp trẻ có khả năng giải quyết những tình huống, hoàn cảnh
có ý nghĩa với trẻ trong cuộc sống chứ không nhằm hình thành những kiếnthức kĩ năng đơn lẻ
Chương trình được vận dụng mềm dẻo linh hoạt phù hợp từng đặc điểmcủa cá nhân, từng vùng miền …giúp trẻ tích cực hứng thú trong các hoạtđộng
Nhà giáo dục quan tâm xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, đadạng hấp dẫn, tạo điều kiện tạo cơ hội cơ may cho trẻ trong hiện tại và trongtương lai, hợp tác, giúp đỡ, cùng học, cùng chơi và chia sẻ với trẻ
Xu hướng giáo dục mầm non ở Nhật Bản thể hiện rõ quan điểm khôngdạy trẻ học chữ và làm toán Giáo dục trẻ thông qua hoạt động chơi, coi chơi
là hoạt động trung tâm của trẻ mẫu giáo.Trong quá trình giáo dục, lấy trẻ làmtrung tâm và đặt trẻ trong một môi trường sống và qua đó để giáo dục môitrường cho trẻ Phương pháp và hình thức giáo dục đa dạng phong phú, cáchlàm của các trường rất khác nhau( có trường chỉ chơi và có trường chơi vàhọc….)
Giáo dục mầm non Nhật không có sự khác biệt giữa các vùng miền,giáo dục mầm non bìn đẳng cho mọi trẻ Xu hướng xã hội hóa giáo dục mầmnon rất cao Giáo dục mầm non của Nhật được tự chủ không có chương trìnhchung do nhà nước quy định mà mỗi trường tự xây dựng cho chương trìnhthích hợp với sự phát triển trí tuệ của trẻ và thể chất cho trẻ nhỏ và phù hợphoàn cảnh của trường và cộng đồng địa phương noi đó cũng như phù hợp vớiluật giáo dục và chuẩn quốc gia về chương trình giáo dục mầm non theo 5mục tiêu và nội dung ( giáo dục sức khỏe, giáo dục quan hệ với quan hệ xungquanh , giáo dục ngôn ngữ, giáo dục môi môi trường và biểu đạt
Thứ hai: Những nghiên cứu tính sáng tạo của trẻ em
J.P Guilfd cho rằng, sáng tạo không giới hạn ở các thiên tài mà có ở tất
cả mọi người với những mức độ khác nhau Chính vì vậy, bên cạnh những
Trang 18nghiên cứu về tính sáng tạo của con nười nói chung, có nhiều nhà khoa họccòn đi sâu nghiên cứu tính sáng tạo của trẻ em Bởi muốn cho đứa trẻ trởthành nhà sáng chế trong tương lai thì nó phải được đào tạo từ khi ngồi trênghế nhà trường.
Người đầu tiên nghiên cứu về sự sáng tạo của trẻ em trước tuổi học trò
là E.K Srarakweartherova( Hunggari) Theo tác giả sử thể hiện đặc chưngcủa sáng tạo chính là sự tự do về tâm lý, trẻ tự do thể hiện cái tôi của mìnhtrong nhận thức, tìm hiểu và hành động với các sự vật, hiện tượng trong môitrường xung quanh
L.X Vưgotxki thì cho rằng: “ Mọi hoạt động của trí tưởng tượng baogiờ cũng có một lịch sử rất dài” [38.31] Do đó hoạt động sáng tạo giúp chotrẻ có cơ hội được bộc lộ và viết lên lịch sử tưởng tượng của mình Sự pháttriển của trí tưởng tương ấy sẽ là yếu tố quan trọng giúp trẻ trưởng thànhngười sáng tạo sau này
Đại diện cho những nghiên cứu về khả năng sáng tạo của trẻ em còn cóGetzels và Jackson, qua các thực nghiệm của các nhà khoa học đã chứngminh rằng, những học sinh có tính sáng tạo cao trong học tập thường ít gắn bónhững chủ đề mà thầy cô giáo nêu lên Chúng thường có các liên tưởng lạ,tách khỏi chủ đề đã nêu, chúng thường giữ bản sắc riêng cho mình Getzels vàJackson cũng đã cố gắng đo mối quan hệ giữa tư duy sáng tạo (Creativity) vàtrí thông minh (Intelligence) và cũng nhận thấy rằng tương quan giữa chúngkhông cao.Cùng chung với quan điểm này M.C Guires (1963) và Flesohers(1963) cho rằng, những trẻ có chỉ số IQ cao ( trí thông cao từ 115 hoặc 120trở lên) thường có kiểu tư duy không thích hợp với cách tư duy sáng tạo Tuy nhiên nhưng nghiên cứu sáng tạo của trẻ em còn chưa nhiều chủyếu quan tâm đến nghiên cứu mối tương quan giữa trí thông minh và sự sángtạo và để có sự sáng tạo thì trẻ cần phải có trí tưởng tượng phong phú, trítưởng tưởng là cơ sở cho hoạt động sáng tạo của trẻ em
Như vậy, mặc dù khoa học về sáng tạo đã có từ rất lâu, tuy vậy đếnmãi thế kỉ XX cho đến nay, khi mà mọi lĩnh vực khoa học khác có nhữngbước phát triển vượt bậc, khi mà sức sáng tạo của con người được thăng hoathành những thành tựu khoa học vĩ đại, khi mà sáng tạo phát huy được vai trò
Trang 19to lớn của nó đối với sự phát triển thế giới, thì khi đó con người ta mới đặtnhiều câu hỏi về và sáng tạo làm thế nào để phát huy tối đa sức sáng tạo củacon người Lúc này khoa học sáng tạo mới thực sự được quan tâm nghiên cứumột cách bài bản trên khắp thế giới
2 Những nghiên cứu ở Việt Nam
Trong bối cảnh chung của quá trình đổi mới ở nước ta, đổi mới giáodục được coi là quốc sách hàng đầu, được nhận thức như một đòn bẩy cho sựphát triển kinh tế - xã hội.Cuối những năm 90 của thế kỉ XX, vấn đề đổi mớigiáo dục mầm non càng cấp bách hơn bao giờ hết Chương trình cải cách bộc
lộ nhiều hạn chế, nó không còn phù hợp với trẻ Việt Nam ngày nay cũng như
nó không hòa nhập với xu thế giáo dục mầm non thế giới, trong khu vực vàngay cả trong nước
Thứ nhất: Những nghiên cứu tổ chức hoạt động học theo chủ đề ở Việt
Nam
Từ những năm 1998-2002 chương trình giáo dục mầm non đổi mớitheo hướng tích hợp theo chủ đề.Chủ đề được thử nghiệm với một số trẻ mẫugiáo lớn ở một số tỉnh thành Từ năm 2002 cho đến nay được triển khai rộngrãi ở độ tuổi mẫu giáo nhỡ và mẫu giáo bé trong phạm vi hầu hết các tỉnhthành trong cả nước
Giáo dục mầm non là giai đoạn đầu tiên của hệ thống giáo dục quốcdân, đặt nền móng đầu tiên cho sự hình thành và phát triển nhân cách conngười Việt Nam đầu thế kỉ XXI, đáp ứng yêu cầu đòi hỏi của sự công nghiệphóa hiện đại hóa đất nước như chủ động, thích ứng sáng tạo, linh hoạt, dễ hòanhập dễ chia sẻ, dễ hợp tác tạo điều kiện thuận lợi cho trẻ tham gia vào cuộcsống chuẩn bị tốt cho trẻ vào học lớp 1 và các bậc học sau này Cùng với sựphát triển của xã hội trong giai đoạn công nghiệp hóa và hiện đại hóa đấtnước Sự nghiệp giáo dục mầm non đòi hỏi hướng đi nhất định nhằm nângcao chất lượng giáo dục, thực hiện mục tiêu giáo dục mầm đã đề ra Mộttrong những nhân tố quyết định chất lượng giáo dục mầm non là tổ chức cáchoạt động giáo dục cho trẻ mầm non
Chương trình giáo dục mầm non xây dựng theo quan điểm “lấy trẻ làmtrung tâm”, còn giáo viên là người tổ chức, hướng dẫn, tạo điều kiện và tạo
Trang 20cơ hội cho trẻ tích cực, phát huy sáng tạo của trẻ cũng như tạo cơ hội chongười giáo viên mầm non chủ động, sáng tạo trong việc lên kế hoạch và tổchức các hoạt động giáo dục trẻ ở trường mầm non.
Chương trình giáo dục mầm non đổi mới theo hướng tích hợp trongnhững năm gần đây được kế thừa và tiếp thu nền giáo dục trẻ tiên tiến của cácnước trên thế giới và các nước trong khu vực và chương trình này phù hợpvới đặc điểm phát triển của trẻ mầm non Việt Nam ngày nay và hướng đếnmục tiêu xây dựng cơ sở ban đầu cho việc hình thành nhân cách toàn diện trẻ
Xu hướng đổi mới giáo dục mầm non ở nước ta hiện nay, nhận thứcđược sự cần thiết phải đổi mới để phù hợp xu hướng giáo dục mầm non chungtrên thế giới trong khu vực đồng thời đáp ứng yêu cầu của thực tiễn giáo dụcmầm non ở trong nước từ cuối năm 90 của thế kỉ XX bậc học của giáo dụcmầm non Việt Nam đã đổi mới giáo dục tích hợp theo chủ đề
Quan điểm tích hợp trong giáo dục mầm non nước ta đã được hiểu nhưcách tiếp cận, một phương cách hợp lý liên kết, xâm nhập đan xen những quátrình sư phạm tạo thành một hệ thống nhất, tác động đồng bộ đến đưa trẻ nhưmột chỉnh thể toàn vẹn nhờ đó hiểu quả được nhân lên
Việc tích hợp lồng ghép đan cài các hoạt động của trẻ vào nhau theocác chủ đề gần gũi quen thuộc trên cơ sở lấy hoạt động chủ đạo của trẻ mầmnon Theo quan điểm tích hợp thì việc xây dựng chương trình giáo dục mầmnon mới của nước ta hướng tới mục tiêu hình thành cho trẻ nhưng năng lựcchung góp phần phát triển nhân cách toàn diện cho trẻ đặt cơ sở nền tảng banđầu cho việc phát triển nhân cách ở các giai đoạn tiếp theo
Xu hướng giáo dục tích hợp theo chủ đề ở bậc học mầm non có nhữngnét chung giống như giáo dục mầm non của một số nước trên thê giới Trong
tổ chức các hoạt động học theo chủ đề, trẻ và giáo viên cùng tham gia khámphá, cùng học cùng chơi, cùng giải quyết vấn đề và cùng đi tới những kết luận
cụ thể Người giáo viên giữ vai trò tổ chức hướng dẫn, trợ giúp trẻ trong cáchoạt động của chúng nhằm phát huy tính tích cực của trẻ, tạo cơ hội thuận lờicho trẻ hoạt động theo nhu cầu hứng thú của chúng Khi tổ chức hoạt độnghọc theo chủ đề người giáo viên phải quan tâm đến tiềm năng của trẻ hơn làtạo những cơ hội tương ứng với mức độ phát triển của trẻ Giáo viên chủ động
Trang 21sáng tạo trong việc tổ chức hoạt động giáo dục cho trẻ ở trường mầm non( giáo viên tự lấp kế hoạch, thiết kế môi trường hoạt độngcho trẻ, lựa chọ vàvận dụng phương pháp, biện pháp, hình thức giáo dục…) Dạy học tích hợptheo chủ đề nhằm hướng trẻ đến: tăng cường cho trẻ khám phá thế giới xungquanh,bằng các giác quan, tư duy và óc tưởng tượng, quan tâm đặc điểm cánhân trẻ, các biệt hóa trong công tác giáo dục, tổ chức các hình thức hoạtđộng cá nhân nhóm, tạo điều kiện cho trẻ được trải nghiệm và được lĩnh hộinhiều cách khác nhau
Dạy học theo chủ đề giúp cho trẻ, tạo điều kiên cho trẻ rèn luyện, vậndụng những điều hiểu biết vào hoàn cảnh tình huống góp phần hình thành kĩnăng thói quen nhanh hơn đồng thời hình thành cho trẻ những thích ứngnhanh với môi tường và điều kiện mới.Đồng thời phát huy được cho trẻnhững tính độc lập, chủ động sáng tạo và tích cực trong các hoạt động thựctiễn
Bên cạnh đổi mới chương trình giáo dục mầm non theo hướng tíchhợp ngành học giáo dục mầm non còn tiến hành đa dạng hóa các loại hìnhgiáo dục mầm non Tăng cường công tác xã hội hóa giáo dục mầm non, đẩymạnh sự kết hợp chặt chẽ giữa gia đình và nhà trường và các lực lượng xã hộikhác trong công tác chăm sóc giáo dục Thực hiện bình đẳng, công bằng vớitrẻ, tạo điều kiện cho trẻ được phát triển
Thứ hai: Những nghiên cứu tính sáng tạo ở Việt Nam
Ở Việt Nam, những hoạt động liên quan đến khoa học về lĩnh vực sángtạo mới thật sự bắt đầu vào thập kỉ 70 của thế kỷ XX, trước đó những hoạtđộng này chưa có tổ chức cao Tuy vậy, những nghiên cứu về sáng tạo chođến nay vẫn còn khá ít.Những hoạt động ban đầu còn mang tính chất tự phátdựa trên nhiệt tình và sáng kiến của một số cá nhân, đoàn thể và cơ quan,chưa có tổ chức thống nhất như đối với môn khoa học khác
Trong lĩnh vực giáo dục mẫu giáo gần đây đã đề cập đến như: “Ảnh hưởngcủa tri giác tới tưởng tượng sáng tạo trong tạo hình của trẻ mẫu giáo”, “ Mốiquan hệ tính tích cực nhận thức và sự phát triển tính sáng tạo trong hoạt độngtạo hình của trẻ 5-6 tuổi”… của Lê Thanh Thủy Trong số đó, Những nghiêncứu của tác giả Lê Thanh Thủy đã đóng góp cơ sở lý luận quan trọng trong
Trang 22việc nghiên cứu về tính sáng tạo của trẻ mầm non Ngoài ra còn một số luậnvăn thạc sĩ: Nghiên cứu mức độ sáng tạo của trẻ 5-6 tuổi trong hoạt động tạohình” của Nguyễn Thị Yến; “Một số biện pháp phát huy khả năng sáng tạocủa trẻ 5-6 tuổi trong vận động theo nhạc ở trường mầm non” của Lê ThịHoàng Trang; “Tiềm năng sáng tạo và biểu hiện của nó trong vận động theonhạc của trẻ 5-6 tuổi” của Phạm Thu Hương; Phát huy tính sáng tạo của trẻ 5-
6 tuổi trong trò chơi lắp ghép xây dựng từ các nguyên vật liệu thiên nhiên vàphế liệu” của Vũ Thị Kiều Trang,Phạm Thu Hoa,Nguyễn Thị Huệ, Trần ThịNga nghiên cứu khả năng sáng tạo của trẻ mẫu giáo và học sinh thông quahoạt động học và hoạt động vui chơi của trẻ
Có thể kể ra một số nghiên cứu tiêu biểu như: “Rèn luyện khả năng sángtạo toán học ở nhà trường phổ thông” (Hoàng Chúng, 1964), “Làm thế nào đểsáng tạo” (Phan Dũng, 1992), “Khơi dậy tiềm năng sáng tạo” NguyễnCảnhToàn (chủ biên), 2004) Một số tác giả khác cũng rất quan tâm đến vấn
đề sáng tạo như Vũ Dương Thụy (2003), Trần Hiệp, Đỗ Long (1990), TônThân (1995) Ngoài ra còn một số tác giả có bài giảng về sáng tạo như: “Tâm
lý học sáng tạo” (Nguyễn Huy Tú, 1996), “Tâm lý học sáng tạo” (Đức Uy,1999),…
Trong những nghiên cứu trên, một số nghiên cứu tập trung trong lĩnhvực tâm lý học: Tác giả Đức Uy trong cuốn “Tâm lý học sáng tạo”[112] củamình, đã đề cập đến năm vấn đề Thứ nhất, ông cho rằng tâm lý học sáng tạochính là tâm lý học phát triển Thứ hai, cái chính yếu của sáng tạo là sự mới
mẻ của nó Cuối cùng, ông đã phân tích một số phẩm chất cơ bản của nhâncách sáng tạo và năng lực sáng tạo Tác giả không đi vào chi tiết cấu trúc, cácthành phần, yếu tố của ST mà hệ thống hóa các thành tựu về tâm lý học sángtạo, giúp bạn đọc hiểu thế nào là sáng tạo, vì sao con người vốn có bản tínhđổi mới, sáng tạo và làm gì để phát hiện và tăng cường năng lực sáng tạo của
cá nhân và cộng đồng
Trong cuốn “Tâm lý học sáng tạo”[100], tác giả Nguyễn Huy Tú chorằng: “Sáng tạo thể hiện khi con người đứng trước hoàn cảnh có vấn đề Quátrình này là tổ hợp các phẩm chất và năng lực mà nhờ đó con người trên cơ sởkinh nghiệm của mình và bằng tư duy độc lập tạo ra được ý tưởng mới, độc
Trang 23đáo, hợp lý trên bình diện cá nhân hay xã hội Ở đó người sáng tạo gạt bỏđược các giải pháp truyền thống để đưa ra những giải pháp mới độc đáo vàthích hợp cho vấn đề đặt ra”[100, tr5)] Cuốn sách cũng tập trung vào các vấn
đề chung của sáng tạo như: thế nào là sáng tạo, quá trình sáng tạo, sản phẩmsáng tạo
Một số khác tập trung trong lý luận dạy học: Tác giả Hoàng Chúngtrong cuốn “Rèn luyện khả năng sáng tạo toán học ở nhà trường phổthông”[6], đã tập trung nghiên cứu vấn đề rèn luyện cho HS phát triển cácphương pháp suy nghĩ cơ bản trong sáng tạo toán học như đặc biệt hóa, tổngquát hóa, tương tự hóa và cho rằng các phương pháp này có thể vận dụngtrong giải toán để mò mẫm, dự đoán kết quả, tìm ra phương hướng giải toán,
để mở rộng, đào sâu và hệ thống hóa kiến thức Nó giúp ta thấy được sợi dâyliên hệ giữa nhiều vấn đề khác nhau và giúp phát triển ST của chính chủ thể Tuy nhiên thực tế hiện nay, những nghiên cứu về biện pháp tổ chức hoạtđộng học theo chủ đề nhằm phát triển tính sáng tạo cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi
còn ít Với nhận thức như vậy chúng tôi đã chọn đề tài nghiên cứu về biện pháp tổ chức hoạt động học theo chủ đề nhằm phát triển tính sáng tạo cho trẻ mẫu giáo 5-6, qua đây làm phong phú thêm thông tin về lý luận và thực tiễn
của đề tài này
Tóm lại, đến nay, ở cả trong nước và ngoài nước, đã có nhiều công
trình nghiên cứu về vấn đề sáng tạo trẻ Tuy nhiên theo tác giả Nguyễn Huy
Tú (2006): “Nhìn chung, việc nghiên cứu về tính sáng tạo ở nước ta mới chỉ
là manh nha Điều này tất yếu gây những hạn chế nhất định đến chất lượnggiáo dục, đào tạo Do đó ở một chừng mực nhất định cũng chưa phát huyđược cao độ những tinh hoa sáng tạo của thế hệ trẻ Những thông tin về mức
độ tiềm năng của trẻ em rất cần thiết cho việc định ra chiến lược giáo dục ”[102] Để đào tạo ra những con người ấy, ngay từ lứa tuổi mầm non chúng taphải đặc biệt quan tâm phát triển tính sáng tạo cho trẻ, bởi giai đoạn này lànền móng.Vì vậy, cần có những công trình nghiên cứu tiếp tục về lĩnh vựcsáng tạo, nhằm đáp ứng những đòi hỏi cấp thiết của giáo dục: đào tạo thế hệtrẻ năng động sáng tạo.viết lại
2 Lý luận về sáng tạo
Trang 241 Khái niệm về sáng tạo
Có rất nhiều giải thích về khái niệm về sáng tạo, chẳng hạn như:
- Vugotxki L.X cho rằng: Hoạt động sáng tạo là bất cứ hoạt động nàocủa con người tạo ra được cái gì mới, không kể rằng cái được tạo ra ấy là mộtvật cụ thể hay là sản phẩm của trí tuệ hoặc tình cảm chỉ sống và biểu lộ trongbản thân con người [19, tr84]
- Theo Torrance P E: Sáng tạo là quá trình xác định các giả thuyết,nghiên cứu chúng và tìm ra kết quả Ông cho rằng sáng tạo “là quá trình trởnên nhạy cảm hay nhận biết nhiều vấn đề, sự thiếu hụt hay lỗ hổng trong kiếnthức, sự thiếu hụt các yếu tố hay sự thiếu hòa hợp,v.v cùng nhau đưa đến cácmối quan hệ mới với những thông tin hiện tại có giá trị từ đó dẫn đến tìm kiếmnhững phương án giải quyết, những phỏng đoán, công thức hóa về vấnđề”[140, tr102]
- Nguyễn Đức Uy cho rằng: “Sáng tạo là sự đột khởi thành hành độngcủa một sản phẩm liên hệ mới mẻ, nảy sinh từ sự độc đáo của một cá nhân vànhững tư liệu, biến cố, nhân sự, hay những hoàn cảnh của đời người ấy”[112,tr9] Quan điểm này cho rằng không có sự phân biệt về sáng tạo, nghĩa là sángtạo dù ít, dù nhiều đều là sáng tạo
- Nguyễn Huy Tú (1996), trong “Đề cương bài giảng Tâm lý học sángtạo”, định nghĩa sáng tạo như sau: “Sáng tạo thể hiện khi con người đứngtrước hoàn cảnh có vấn đề Quá trình này là tổ hợp các phẩm chất và năng lực
mà nhờ đó con người trên cơ sở kinh nghiệm của mình và bằng tư duy độc lậptạo ra được ý tưởng mới, độc đáo, hợp lý trên bình diện cá nhân hay xã hội Ở
đó người sáng tạo gạt bỏ được các giải pháp truyền thống để đưa ra những giảipháp mới độc đáo và thích hợp cho vấn đề đặt ra”[101, tr 5]
- Theo từ điển triết học, “Sáng tạo là quá trình hoạt động của con ngườitạo ra những giá trị vật chất, tinh thần, mới về chất Các loại hình sáng tạođược xác định bởi đặc trưng nghề nghiệp như khoa học, kĩ thuật, văn học,nghệ thuật, tổ chức, quân sự, Có thể nói sáng tạo có mặt trong mọi lĩnh vựccủa thế giới vật chất và tinh thần”[112, tr 27 - 28]
Từ các khái niệm về sáng tạo, chúng tôi nhận thấy mặc dù sáng tạođược giải thích ở các góc độ khác nhau nhưng các tác giả đều thống nhất chorằng: sáng tạo là một thuộc tính, một phẩm chất trí tuệ đặc biệt của con người;
Trang 25hoạt động sáng tạo diễn ra ở mọi nơi, mọi lúc, mọi lĩnh vực; bản chất của sángtạo là con người tìm ra cái mới, cái độc đáo và có giá trị xã hội Đây là mộtđiểm chung mà các tác giả đều nhấn mạnh nhưng được nhìn dưới nhiều góc độkhác nhau, có tác giả quan tâm đến cái mới của sản phẩm hoạt động, có tác giảlại quan tâm đến cách thức, đến quá trình tạo ra cái mới đó Song cái mới cũng
có nhiều mức độ, có cái mới đối với toàn xã hội, có cái mới chỉ đối với bảnthân người tạo ra nó Điểm chung nữa ở các tác giả là đều nhấn mạnh đến ýnghĩa xã hội của sản phẩm sáng tạo
Trong luận án này chúng tôi quan niệm: Sáng tạo là tư duy có khuynhhướng phát hiện và giải thích bản chất sự vật theo lối mới, hoặc tạo ra ý tưởngmới, cách giải quyết mới không theo tiền lệ đã có
1.2.2. Bản chất của sáng tạo
Khi tìm hiểu về hoạt động sáng tạo các nhà nghiên cứu đã xác định bảnchất của hoạt động này ở những vẫn đề sau:
*Thứ nhất hoạt động sáng tạo của con người mang bản chất xã hội
Trong bài báo “Chìa khóa thành công” Charler Brower đã viết “Nhu cầukích thích hoạt động sáng tạo là lòng ham hiểu biết cái mới và không bằnglòng cái hiện có Nó xuất phát từ lòng hiếu kì và sự bất toại”
Như vậy hoạt động sáng tạo xuất phát từ chính nhu cầu của bản thân mỗi
con người và nhu cầu của xã hội nhằm giải quyết các tình huống đã đặt ra Khi
xã hội phát triển các điều kiện thực tiễn không còn đáp ứng một cách phù hợpcho nhu cầu xã hội thì buộc con người phải tìm ra cách giải quyết mới, hướng
đi mới hoặc cải biến cái cũ để phục vụ nhu cầu ấy
Khả năng sáng tạo của con người không phải là trời phú, thiên bẩm.Nó
là sản phẩm của việc lĩnh hội và biến đổi những kinh nghiệm xã hội lịch sử doloài người tạo ra trước đó.Do đó bất kì một sản phẩm, một cách thức nàođược tạo ra cho dù là bởi cá nhân, cũng đều mang bản chất xã hội Nhà tâm lýL.X.Vưgôtxki khẳng định: “ Sáng tạo là một quá trình thừa kế lịch sử, trong
đó bất cứ hình thức kế tiếp nào cũng được quy định bởi những hình thứctrước đó” Ông chỉ rõ: “Bất cứ nhà phát minh nào, ngay cả thiên tài, bao giờcũng là cái cây mọc bên trong thời đại và trong môi trường của mình” [37 ;86]
Trang 26Như vậy, có thể khẳng định rằng hoạt động sáng tạo của con người
bao giờ cũng mang bản chất xã hội Sáng tạo xuất phát từ chính nhu cầu pháttriển của xã hội và phục vụ choc ho chính nhu cầu xã hội đó
*Thứ hai bản chất của quá trình sáng tạo là do các yếu tố tâm lý tham
gia.
Khi bàn về vấn đề này có nhiều quan điểm được đưa ra Tuy nhiên để
xác định được yếu tố tâm lý nào là mắt xích trung tâm của quá trình sáng tạothì còn nhiều ý kiến khác nhau
Một là những ý kiến cho rằng linh cảm, cảm hứng vô thức là mắt xích trung tâm của quá trình sáng tạo Đại diện cho quan điểm này là các nhà
nghiên cứu: B.M Kedrov,M.A Blok, V.N Puskin….Họ coi linh cảm là giácquan thứ sáu hay tri giác phi giác quan Theo họ đó là khả năng hành độngmột cách đứng đắn trước một tình huống quyết định, nguy cấp mà con ngườilại không biết tại sao mình lại làm được như vậy
Theo B.M.Kedrow thì trung tâm của sáng tạo gắn liền với cơ chế linh
cảm Ông cho linh cảm trong sáng tạo như một linh cảm ngẫu nhiên, như làhiệu quả của sự giao nhau giữa các sự kiện không liên quan tới nhau
Thực tế có những linh cảm, cảm hứng hay trực giác trong sáng tạochính là kết quả của sự lao động không mệt mỏi của bản thân mỗi con người,
Sự bừng sáng của tư duy ấy là kết quả của sự tích lỹ kiến thức của sự say mê,kiên trì suy nghĩ sáng tạo Phát minh không nằm ngoài tầm hoạt động kiên trìvới định hướng khoa học nghiêm túc Linh cảm, trực cảm không đến vớingười lười biếng, đó chỉ là yếu tố bổ xung tuyệt vời cho kinh nghiệm và hiểubiết
Hai là những ý kiến cho rằng tư duy, tưởng tượng mới là mắt xích của trung tâm sáng tạo Đại diện cho quan điểm này là các nghiên cứu như:
L.X Vưgôtxki, A.N Leônchiev, X.L Rubinstêin, M.Arnaudốp… Hầu hết
họ cho rằng hoạt động ý thức của con người có vai trò quan trọng trong hoạtđộng sáng tạo
Theo L.X Vugotxki:“Hoạt động sáng tạo dựa trên những năng lực phốihợp của bộ não chúng ta được khoa học tâm lý gọi là tưởng tượng” Chúng tathường quan niệm tưởng tượng là những gì không có thực, không thực tế
Trang 27nhưng ông đã khẳng định “ Trí tưởng tượng là cơ sở của bất cứ hoạt động sáng tạo nào, biểu hiện hoàn toàn như nhau trong mọi phương diện của đời sống văn hóa, nó làm cho mọi sáng tạo nghệ thuật, khoa học và kĩ thuật có khả năng thực hiện” [38; 39].
P.A Ruđich thì cho rằng: “ Tưởng tượng là hoạt động có ý thức trong quá trình tưởng tượng con người và xây dựng những biểu tượng mới mà trước đây chưa bao giờ có, bằng cách dựa vào những hình ảnh qua cuộc sống đã được giữ lại trong kí ức của người ta và được cải tạo biến đổi thành một biểu tượng mới” [22;195]
A.N Leonchiev đã đề cập đến vấn đề này trong các nghiên cứu củamình, ông cho rằng tư duy là vấn đề chính tham gia vào việc sáng tạo chứkhông phải linh cảm
Có thể thấy rằng hai quan niệm đưa ra đều đúng nhưng không chọn vẹn
Vì thực tế những yếu tố linh cảm, tư duy, tưởng tượng không thê tách rờinhau trong hoạt động sáng tạo Các yếu tố này thường có mối quan hệ mậtthiết với nhau Linh cảm cung cấp cho lý trí những dữ kiện quý giá để lý tríphân tích sàng lọc, thử nghiệm và khẳng định Và ngược lại sự nỗ lức nghiêmtúc, kiên trì tư duy và tưởng tượng sẽ tạo điều kiện cho linh cảm xuất hiện Rõràng, nếu chúng ta làm việc thực sự căng thẳng và nghiêm túc trong một thờigian dài thì đến một thời điểm nào đó chúng ta sẽ giải quyết được nhiệm vụmột cách tốt nhất như một sự lóe sáng
Tóm lại bản chất của hoạt động sáng tạo của con người có nguồn gốc
từ hiện thực khách quan và mang bản chất xã hội Sáng tạo là hoạt động khókhăn, vất vả của con người nhằm cải thiện cuộc sống và thúc đẩy xã hội pháttriển Nó là hoạt động có ý thức và có mục đích của con người chứ khôngphải là hoạt động mang tích chất huyền bí hay là sự may rủi và càng khôngphải là món quà Thượng đế ban tặng cho
1.2.3. Đặc điểm sáng tạo
Trong nghiên cứu về sáng tạo, đã có nhiều quan niệm về các đặc trưng(thuộc tính) của sáng tạo Các quan niệm đều tập trung cho rằng tính linhhoạt, tính thuần thục, tính độc đáo, tính nhạy cảm vấn đề, tính phê phán, tính
Trang 28độc lập, tính chi tiết, khả năng giải quyết vấn đề theo cách mới là những đặctrưng của sáng tạo.
Khi nghiên cứu về sáng tạo, Guilford J.P., nhà tâm lý học Mỹ cho rằng:
Tư duy phân kì (divergence thinking) là loại sáng tạo, có đặc trưng: mềm dẻo(flexibility), thuần thục (fluency), độc đáo (originality) và nhạy cảm vấn đề(problemsensibility) Theo ông, sáng tạo về bản chất là tìm kiếm và thể hiệnnhững phương pháp lôgíc trong tình huống có vấn đề, tìm kiếm những phươngpháp khác nhau và mới của việc giải quyết vấn đề, giải quyết nhiệm vụ Ôngcũng khẳng định năng khiếu sáng tạo có sẵn ở các mức độ biến thiên ở mọi cáthể bình thường (tức mọi cá nhân bình thường đều có khả năng sáng tạo).Đồng thời cho rằng quá trình sáng tạo có thể tái tạo tự giác (tức có thể dạy vàhọc được với một số lớn cá thể)
Trong đề tài này chúng tôi thống nhất với quan điểm của các nhà nghiêncứu tâm lý học sáng tạo kinh điển như Guilford J.P., Torrance P E., cho rằng
ST được đặc trưng bởi các yếu tố chính (basic components) như tính mềm dẻo(flexibility), tính thuần thục (fluency), tính độc đáo (originality), tính chi tiết(elaboration) và tính nhạy cảm (problemsensibility), do Loowenfeld (1962)đưa ra
- Tính mềm dẻo (flexibility)
Tính mềm dẻo là khả năng dễ dàng chuyển từ hoạt động trí tuệ này sang
hoạt động trí tuệ khác Đó là năng lực chuyển dịch dễ dàng nhanh chóng trật tựcủa hệ thống tri thức, xây dựng phương pháp tư duy mới, tạo ra sự vật mớitrong mối liên hệ mới, dễ dàng thay đổi các thái độ đã cố hữu trong hoạt độngtrí tuệ của con người
Có thể thấy rằng tính mềm dẻo (linh hoạt) của TD có những đặc điểm sau:
Dễ dàng chuyển từ hoạt động trí tuệ này sang hoạt động trí tuệ khác; dễdàng chuyển từ giải pháp này sang giải pháp khác; Điều chỉnh kịp thời hướngsuy nghĩ nếu gặp trở ngại; Suy nghĩ không rập khuôn, không áp dụng một cáchmáy móc những tri thức, kinh nghiệm, kĩ năng đã có vào trong những điềukiện, hoàn cảnh mới trong đó có những yếu tố đã thay đổi; Có khả năng thoátkhỏi ảnh hưởng kìm hãm của những kinh nghiệm, phương pháp, cách thức suynghĩ đã có;Nhận ra vấn đề mới trong điều kiện đã quen thuộc, nhìn thấy chức
Trang 29- Tính thuần thục (fluency)
Tính thuần thục (lưu loát, nhuần nhuyễn) thể hiện khả năng làm chủ tư
duy, làm chủ kiến thức, kĩ năng và thể hiện tính đa dạng của các cách xử lýkhi giải quyết vấn đề Đó chính là năng lực tạo ra một cách nhanh chóng sự tổhợp giữa các yếu tố riêng lẻ của tình huống, hoàn cảnh, đưa ra giả thuyết về ýtưởng mới Nó được đặc trưng bởi khả năng tạo ra một số lượng nhất định các
ý tưởng Tính thuần thục của nó thể hiện ở các đặc trưng sau: Khả năng xemxét đối tượng dưới nhiều khía cạnh khác nhau; có cái nhìn đa chiều, toàn diệnđối với một vấn đề; Khả năng tìm được nhiều giải pháp trên nhiều góc độ vànhiều tình huống khác nhau; Khả năng tìm được nhiều giải pháp cho một vấn
đề từ đó sàng lọc các giải pháp để chọn được giải pháp tối ưu
- Tính độc đáo (originality)
Tính độc đáo là khả năng tìm kiếm và quyết định phương thức lạ vàduy nhất Tính độc đáo được đặc trưng bởi các khả năng sau: Khả năng tìm ranhững liên tưởng và kết hợp mới; Khả năng tìm ra các mối liên hệ trongnhững sự kiện bên ngoài tưởng như không có quan hệ với nhau; Khả năngtìm ra những giải pháp lạ tuy đã biết những giải pháp khác
Ngoài ra, sáng tạo còn được đặc trưng bởi nhiều yếu tố khác Chẳng
hạn như: Tính chi tiết (elaboration): là khả năng lập kế hoạch, phối hợp giữa
các ý nghĩ và hành động, phát triển ý tưởng, kiểm tra và chứng minh ý tưởng.Chẳng hạn như một sáng chế khoa học, một tác phẩm văn chương, một
nguyên lý, hay một phương thức hành động; tính nhạy cảm
(problemsensibility) (Loowenfeld (1962): là năng lực phát hiện vấn đề, mâu
thuẫn, sai lầm, bất hợp lý một cách nhanh chóng, có sự tinh tế của các cơquan cảm giác, có năng lực trực giác, có sự phong phú về cảm xúc, nhạy cảm,cảm nhận được ý nghĩ của người khác Tính nhạy cảm vấn đề biểu hiện sựthích ứng nhanh, linh hoạt Tính nhạy cảm còn thể hiện ở chỗ trong nhữngđiều kiện khắc nghiệt, khó khăn, gấp rút về mặt thời gian mà chủ thể vẫn tìm
ra được giải pháp phù hợp, tối ưu,
Các đặc trưng trên của sáng tạo không tách rời nhau mà chúng có liên
hệ mật thiết với nhau, bổ sung cho nhau, trong đó tính độc đáo được cho làquan trọng nhất trong biểu đạt sáng tạo, tính nhạy cảm vấn đề đi liền với cơ
Trang 30chế xuất hiện sáng tạo Tính mềm dẻo, thuần thục là cơ sở để có thể đạt được tính độc đáo, tính nhạy cảm, tính chi tiết và hoàn thiện [63, tr12].
1.3. Lý luận về tính sáng tạo cho trẻ mẫu giáo
1.3.1 Khái niệm tính sáng tạo của trẻ mẫu giáo
Mỗi trẻ em đều tiềm ẩn năng lực sáng tạo, những sáng tạo của trẻ em
không giống người lớn Sự sáng tạo của người lớn là tạo ra cái mới, cái độcđáo gần gắn với tính chủ đích có tính bền vững thường là kết quả của của quátrình nỗ lực tìm tòi để phát minh sáng kiến những sản phẩm hoàn toàn mới lạ
và có ý nghĩa nhất định trong đời sống xã hội Nhưng ở một đứa trẻ thì tínhsáng tạo lại là chính một đứa trẻ khi bắt đầu tái tạo mô phổng bắt chước, môphổng một điều gì đó và thường không có tính chủ đích Sự sáng tạo của trẻ
em phụ thuộc nhiều vào xúc cảm và tình huống và thường kém bền vững Các nhà tâm lý học cho rằng: Sản phẩm sáng tạo ở trẻ nhỏ nếu xem xét
một cách nghiêm ngặt theo tiêu chuẩn thì trẻ nhỏ chưa có sáng tạo Do đótheo họ nên bỏ thuật ngữ “ Sáng tạo của trẻ” Thay bằng thuật ngữ “Tiền sángtạo” nghĩa là những sản phẩm của trẻ tạo ra chỉ có biểu hiện sáng tạo mà thôi X.L Rubinstein quan niệm có hai loại sản phẩm sáng tạo: Sản phẩm sáng
tạo mang tính khách quan và sản phẩm sáng tạo mang tính chủ quan Cái mớicái độc đáo có ý nghĩa đối với bản thân trẻ chứ chưa phải mới mang ý nghĩa
xã hội Hoạt động sáng tạo mang lại niềm vui niềm, sự thích thú
Theo L.X Vugotxki cho rằng: Khi trong đầu trẻ xuất hiện ý định và
mong muốn tìm kiếm phương tiện để thực hiện nó có ý nghĩa là đứa trẻ đã bộc lộ tính sáng tạo trong hoạt động”.
Có thể nói sự sáng tạo của trẻ em không có nghĩa là tạo ra cái mới mà chỉ
cần trẻ có nhu cầu, và ý định tìm cách khám phá chúng là trẻ đã có sáng tạo.Như vậy trẻ nhỏ sáng tạo là phát triển những kinh nghiệm của trẻ trong mộtquá trình nào đó chứ không phải là một sản phẩm hoàn chỉnh
1.3.2. Đặc điểm sáng tạo của trẻ mẫu giáo nói chung và trong hoạt động học của trẻ nói riêng.
Hoạt động sáng tạo của trẻ rất phức tạp phụ thuộc vào hàng loạt cácnhân tố khác nhau trong đó phụ thuộc vào kinh nghiệm Kinh nghiệm và trithức của trẻ đang phát triển dần dần Sáng tạo của trẻ em mang tính chất tổng
Trang 31hợp các lĩnh vực trí tuệ, ý trí, tình cảm,trong đó tưởng tượng có vai trò quantrọng “ bản thân khoa học ít cũng là khoa học tự nhiên, không thể có nếu không
có trí tưởng tượng [14, tr65] Những biểu tượng của trẻ không nằm trong lĩnhvực mở rộng như người lớn, trẻ luôn muốn thể hiện bất cứ tưởng tượng nào củamình thành những hình tượng và hoạt động sinh học Sáng tạo của trẻ biểu hiệnmột cách tự phát, độc lập ý muốn của người lớn
Sáng tạo bao giờ cũng xuất phát từ nhu cầu đã có trước, một nhu cầu cấpbách tự nhiên và là điều kiện tồn tại của trẻ Trẻ giải quyết nhu cầu của mìnhmột cách nhanh chóng và triệt để những tình cảm đang tràn ngập trong lòng nó,trẻ có thê sáng tạo một cách đột nhiên, có cách làm việc tự do, không cần thuậtnhớ, không cần sự bắt chước, bất kỳ chỗ nào thiếu trí nhớ, những kiểu bị rạnnứt chỉ còn lại những yếu tố rời rạc thì óc tưởng tượng sẽ móc phép theo cáchriêng, thế là có sáng tạo
Trong mỗi hoạt động của mình, trẻ luôn có cảm giác thăc mắc, tò mòcao độ và một sự nỗ lực tự phát nhằm khám phá thao tác thử nghiệm mangkiểu độc đáo mang tính trò chơi Đó cũng chính là biểu hiện sáng tạo của trẻ Khi sáng tác trẻ ít nghiền ngẫm sâu về tác phẩm của mình, phần lớn nó
là sáng tác liền mạch Trẻ giải quyết nhu cầu sáng tạo của mình một cáchnhanh chóng và triệt để những tình cảm đang tràn ngập Sản phẩm sáng tạocủa trẻ có thể không hoàn hảo nhưng ưu thế là chúng được nảy sinh trong quátrình sáng tạo của trẻ
Lứa tuổi mầm non là lứa tuổi tràn ngập cảm xúc, phát triển trí tò mò,trí tưởng tượng bay bổng, khả năng liên tưởng mạnh Vì vậy đây là giai đoạntối ưu nhất để phát triển tính sáng tạo cho trẻ mầm non
1.3.3. Vai trò của tính sáng tạo đối với sự phát triển tâm lý trẻ
Có thể thấy lứa tuổi mầm non nói chung và lứa tuổi mẫu giáo lớn nói
riêng là giai đoạn quan trọng trong sự hình thành và phát triển nhân cách củatrẻ, trong đó tốc độ phát triển tâm lý diễn ra mạnh mẽ, là giai đoạn phát cảm.Tất cả mọi tác động ít nhiều đều có ảnh hưởng đến sự phát triển tâm lý của trẻ.Trong đó khả năng sáng tạo của trẻ cũng có ảnh hưởng rất lớn đến quá trìnhphát triển này
Một là hoạt động sáng tạo là một hình thức giúp trẻ tự do thể hiện cáitôi của mình
Trang 32Đề cập tới vấn đề này, X.L Rubinstein cho rằng, mặc dù vốn kiếnthức, kinh nghiệm của trẻ còn hạn chế, nhưng trẻ có nhiều cơ hội đê bộc lộ sựsáng tạo mang tính chủ quan của mình Điều quan trọng là phải xem xét cái gì
là cái mới chủ quan của trẻ Sứ mệnh của sáng tạo với vị trí bậc thang cao nhất
ở hoạt động của con người có liên quan đến không chỉ những giá trị kháchquan và sự phát triển xã hội mà còn có giá trị đối với sự chủ quan đối với sựphong phú đa dạng trong cuộc sống cá nhân Theo ông có 2 loại sản phẩmsáng tạo: Sáng tạo của người lớn mang tính khách quan, sản phẩm sáng tạo củatrẻ mang tính chủ quan Cái mới cái độc đáo trong sản phẩm của trẻ chỉ có ýnghĩa đối với sự phát triển bản thân mà không có ý nghĩa xã hội Ở trẻ tuy vốnkiến thức kinh nghiệm còn bị hạn chế, nhưng trẻ vẫn có nhiều cơ hội để bộc lộ
sự sáng tạo chủ quan của mình Điều quan trọng là phải xem cái gì mới chủquan của trẻ
Như vậy ý nghĩa của sự sáng tạo của trẻ không chỉ được xem xét ở kết
quả, trong sản phẩm sáng tạo mà còn được nhìn nhận trong bản thân quá trìnhsáng tạo Điều quan trọng không phải là cái mới mẻ trẻ tạo ra mà là trẻ đangđược sáng tạo, đang dược bộc lộ và rèn luyện trong hoạt động sáng tạo đó.Sáng tạo như một trò chơi nảy sinh từ một nhu cầu cấp bách tự nhiên Trẻ tựmình khám phá tìm tòi, nghĩ ra một cái mới và thể hiện cái mới đó với niềmvui sướng vô cùng
Hai là hoạt động sáng tạo giúp hình thành phát triển những xúc cảm
và tình cảm thẩm mỹ ở trẻ Khi trẻ sáng tạo những xúc cảm ở trẻ lay động,qua đây trẻ có thể nhìn thấy cái đẹp, yêu cái đẹp và cố gắng tạo ra cái đẹp,trong khuân khổ vốn kinh nghiệm ít ỏi của mình Cho dù những gì trẻ tạo rakhông mang lại giá trị xã hội lớn lao, không mang tính độc đáo mới mẻ đốivới xã hội, nhưng khi được hoạt động, được sáng tạo và trải nghiệm cảm xúcmang lại cho trẻ niềm vui thích vô cùng và cũng là món quà mà sáng tạomang lại cho chúng
Ba là hoạt động sáng tạo phát triển ngôn ngữ và trí tuệ cho trẻ Với trẻnhỏ muốn cho trí tưởng tượng sáng tạo của trẻ phát triển phải cho nó tham giavào các hoạt động hoạt động chơi, hoạt động học, với trẻ mẫu giáo hai yêu tốnày đều quan trọng Thông qua hoạt động học theo chủ đề có thể mở rộng vốn
Trang 33kiến thức của trẻ tiếp xúc mối quan hệ xung quanh trẻ, trẻ được nghiên cứu,
tư duy, tự do sáng tao qua các chủ đề… Do vậy có thể nói, thông qua những ýtưởng và tưởng tượng sự sáng tạo của mình, đã giúp cho các nét tâm lý xãhội, những tri thức kinh nghiệm và ngôn ngữ của trẻ có nhiều cơ hội đượcphát triển
1.3.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển tính sáng tạo của trẻ
1.3.4.1 Những yếu tố tạo tiền đề cho sáng tạo cho trẻ
Sự nhạy cảm của chủ thể đối với vấn đề Sự nhạy cảm là trạng thái bên
trong giúp chủ thể dễ dàng tiếp nhận những vấn đề bên ngoài và biến nhữngvấn đề bên ngoài đó thành nhiệm vụ của chính bản thân mình, đồng thờ kíchthích những hoạt động bên trong giúp chủ thể giải quyết vấn đề trong thựctiễn Sự nhạy cảm giúp chủ thể tiếp cận với hoàn cảnh có vấn đề nhạnh chónghơn,dễ dàng nhìn thấy những vấn đề mà người khác khó nhận ra Tính nhạycảm cũng là cơ sở cho sụ tích lũy rộng vốn tri thức cho sáng tạo
Lòng hiếu kì và sự bất toại Hai yếu tố này liên quan chặt chẽ với nhau, bổ
sung cho nhau tạo nên tiền đề tài cơ bản để con người đi đến sáng tạo Nếukhông có lòng bất toại thì sự hiếu kì trở nên vô ích, còn nếu như không có óchiếu kì, ham hiểu biết thì sự bất toại của con người chỉ sinh ra những oan trái
vô bổ, hướng tới sự tiêu cực Lòng hiếu kỳ và sự bất toại ở con người sẽ là cơ
sở hình thành tự hoàn thiện mình
Nhu cầu nội tại của con người là yếu tố quan trọng làm nảy sinh qua trình
sáng tạo Những nhu cầu sáng tạo có thể làm tăng hoặc ngược lại, làm giảmnhững yếu tố khác trong quá trình sáng tạo Sự thỏa mãn những nhu cầu sángtrong quá trình hoạt động sẽ kích thích những sáng tạo tiếp theo
Động cơ sáng tạo cũng là một yêu tố có ý nghĩa quan trọng.Đây chính làyêu tố thúc đẩy con người đến hoạt động, như vậy gốc của động cơ là nhucầu
Tư duy phân kỳ Nói tới nền tảng của sáng tạo người ta còn đề cập đến tư
duy phân kỳ Có hai phương thức tư duy:Tư duy hội tụ và tư duy phân kỳ
Linh cảm và trực giác: Đây là yếu tố cũng rất được chú ý trong hoạt động
sáng tạo Nhiều người cho rằng sáng tạo thường gắn với ngẫu nhiên – là hoạt
Trang 34động vô cảm vô thức Trên thực tế, nhiều phát minh nảy sinh trong tình huốngngẫu nhiên nào đó song những yếu tố nảy sinh các phát kiến lại không phải
“quà tặng của thượng đế” mà hiệu quả bộc lộ trên kinh nghiệm Linh cảm làphẩm chất tâm lý không phải ai cũng có và không phải tự nhiên mà có.Nó chỉ
có tạo nên bừng sáng phát minh sáng tạo ở một số có sự lao động, tích lũykinh nghiệm học tâp, rèn luyện một cách có ý thức
1.3.4.2 Những yếu ảnh hưởng đến tính sáng tạo cho trẻ
Quá trình tổ chức hoạt động học theo chủ đề cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổichịu nhiều tác động của nhiều yếu tố, chủ quan và khách quan.Theo phươngpháp sư phạm tương tác, trong quá trình diễn ra hoạt động sư phạm luôn diễn
ra mối quan hệ tương hỗ giữa ba tác nhân là người dạy, người học và môitrường Vì vậy một số yếu tố sau đây được coi là ảnh hưởng mạnh mẽ tới việc
tổ chức hoạt động học theo chủ đề nhằm phát triển tính sáng tạo cho trẻ mẫugiáo 5-6 tuổi
Yếu tố thứ nhất giáo viên và phương pháp hướng dẫn của giáo viên.
Vai trò của giáo viên rất quan trọng trong việc hướng dẫn trẻ hoạt động họctheo chủ đề.Trong việc tổ chức hoạt động theo chủ đề giáo viên có thể kíchthích tính sáng tạo của trẻ và hạn chế của nó Torrance (1983) chỉ ra rằng sựnhận thức sai lầm của giáo viên cho rằng trẻ thiếu khả năng sáng tạo đã nhấnmạnh đến việc nhớ lại và sao chép, mô phỏng lờ mờ việc sao chép có ván đề,tính sáng tạo của trẻ trong những năm đầu đời[55] Muốn phát triển tính sángtạo cho trẻ trước tiên giáo viên phải là người sáng tạo Một giáo viên sáng tạo
sẽ sẽ biết cách tổ chức hoạt động học sáng tạo và biết cách dạy trẻ sáng tạotrong trò chơi Chính vì vậy khi tổ chức hoạt động học cho trẻ giáo viên cần
có biện pháp tổ chức phù hợp điều chỉnh mục tiêu, nội dung, biện pháp hướngdẫn, môi trường đồ dùng đồ chơi
Yếu tố thứ 2 Trẻ đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển tính sáng
tạo Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng tổ chức hoạt động học cho trẻ chịu chi phốibởi vốn sống và kĩ năng của trẻ [77] ,[79], trẻ có kĩ năng cần thiết để học đểchơi nhằm phát triển tính sáng tạo của trẻ
Yếu tố thứ ba – môi trường Môi trường xung quanh bao gồm môi trường
vật chất và mối quan hệ xã hội có ảnh hưởng đến cách chơi và sự phát triển
Trang 35tính sáng tạo của trẻ cũng như ảnh hưởng đến cách hướng dẫn của giáo viêntrong hoạt động học.
Nghiên cứu chỉ ra rằng, môi trường có thể ảnh hưởng đến tiềm năngcủa trẻ theo hai hướng hoặc là kích thích hoặc là hạn chế nỗ lực sáng tạo củatrẻ trong quá trình học Sự bố trí sắp xếp không gian, thời gian, đồ dùng cóthể tác động đến hiệu quả tổ chức và sự phát triển tính sáng tạo của trẻ
Bầu không khí lớp học, mối quan hệ giữa giáo viên và trẻ Giữa trẻ vớitrẻ, giữa giáo viên với phụ huynh và sự tương tác giữa họ có ảnh hưởngkhông nhỏ đến việc tổ chức hoạt động học và phát triển tính sáng tạo của trẻ
Chính vì thế yếu tố môi trường rất ảnh hưởng đến sự sáng tạo củatrẻ.Môi trường ảnh hưởng đến sự trực tiếp môi trường hoạt động của conngười Phơbach cho rằng : “ Ơ đâu không có đất để bộc lộ tài năng thì ở đókhông có tài năng”
Môi trường đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển toàn diện nhâncách trẻ em về trí tuệ, tình cảm, đạo đức, thể chất và lao động…Môi trường lànơi ươm những hát giống sáng tạo Mặc dù môi trường là yếu tố bên ngoàicủa hoạt động sáng tạo nhưng nó lại tác động mạnh mẽ đến sự sáng tạo củacon người, sống trong môi trường với yếu tố thuận lợi, nghèo nàn, đơn điệu sẽlàm kìm hãm sự sáng tạo
Mỗi chúng ta thời thơ ấu ai cũng sống trong cái nôi của giá đình, đây lànơi luôn nuôi dưỡng tâm hồn ta, là môi trường xã hội đầu tiên nên nó ảnhhưởng rất lớn đến sự phát triển năng lực nói chung và năng lực sáng tạo nóiriêng Nhiều công trình nghiên cứu cho rằng, một gia đình đàm ấm hạnh phúc
là điều kiện thuận lợi giúp khả năng sáng tạo của trẻ Lớn hơn trẻ được đếntrường và chịu ảnh hưởng của giáo dục các cấp, rộng hơn là chịu tác động củatoàn bộ hệ thống xã hội Trong đó giáo dục của nhà trường có vai trò quantrọng đối với sự phát triển của khả năng của học sinh Tuy nhiên nhà giáo dụccần năm được nguyên tắc khuyến khích sự sáng tạo đó là:
- Tôn trọng những ý tưởng sáng tạo và sự tưởng tượng của trẻ
- Tỏ ra cho trẻ thấy những ý kiến của trẻ là có giá trị
- Khi đánh giá cần tạo mối liên hệ giữa nguyên nhân và kết quả
Trang 36Tóm lại, khi tổ chức hoạt động học theo chủ đề cho trẻ mẫu giáo cầnlưu ý đến sự ảnh hưởng của ba tác nhân chính là giáo viên, trẻ, và môi trường
và cũng như mối quan hệ tương tác các tác nhân đó
1.3.5.Tính sáng tạo của trẻ trong hoạt động học theo chủ đề
Hoạt động học theo chủ đề là một hoạt động mà có thể phát huy tínhsáng tạo của trẻ Tuy nhiên để đánh giá tính sáng tạo của trẻ chúng ta khôngchỉ đánh giá ở sản phẩm mà còn đánh giá cả quá trình học và tạo ra sản phẩmcủa trẻ
Sáng tạo là tạo ra cái mới, nếu chúng ta đưa ra được những tiêu trí phùhợp thì cũng có thể đo đếm được mức sáng tạo F.P Torrance đã đưa ra bốntiêu trí của sáng tạo: Tính nhanh nhạy, tính linh hoạt, tính chi tiết, và tính độcđáo Trong trắc nghiệm sáng tạo hình vẽ của mình, ông đã sử dụng bốn tiêu trínày để đo khả năng sáng tạo của cá nhân thông qua bài tập trắc nghiệm hình
vẽ mà họ làm Dựa vào tiêu trí ấy có thể thấy được sự sáng tạo của trẻ mẫugiáo trong hoạt động học được thể hiện như sau:
Tính nhanh nhạy: Thể hiện ở chỗ trẻ nhanh chóng xác định mục đích
bằng việc trả lời câu hỏi: Tạo ra cái gì? Tạo ra để làm gì? Trẻ thể hiện tinh thầnlàm việc với tốc độ khẩn chương, tập trung chú ý cao độ vào công việc đanglàm với kĩ năng thành tạo Trên cơ sở đó để tạo ra được nhiều sản phẩm trongmột thời gian nhất định
Tính linh hoạt: Trẻ có khả năng sáng tạo tốt thể hiện tính linh hoạt
trong khả năng cải biến các tư liệu đã có để tạo hình ảnh mới, thể hiện mức độphong phú trong nội dung mà trẻ độc lập tìm kiếm và bộc lộ Trên cơ sở vốnkinh nghiệm, vốn biểu tượng nhờ quá trình tiếp xúc, tri giác và trí nhớ, trẻ tíchcực tư duy, tưởng tượng sáng tạo để xây dựng những hình ảnh theo hứng thúcủa mình Sự sáng tạo của trẻ mẫu giáo không chỉ bộc lộ qua sản phẩm màcòn được thể hiện qua ý tưởng rõ ràng của trẻ Sản phẩm của trẻ được tao ranhững ý tượng rõ ràng của trẻ
Tính chi tiết: Điều này thể hiện mức độ sinh động của các hình ảnh
trong tưởng tượng sáng tạo của trẻ.Nó thể hiện ở mức độ chi tiết, tỉ mỉ của cácsản phẩm trẻ tạo ra trong hoạt động
Trang 37Tính độc đáo: Thể hiện ở tính độc lập, sáng tạo của trẻ trong việc tìm
kiếm các ý tưởng mới, lựa chọn các phương thức diễn đạt mới cho nội dungnhất định
Tuy nhiên khả năng sáng tạo của trẻ trong hoạt động học theo chủ đềkhông giống nhau ở mỗi trẻ, mỗi trẻ thể hiện sự sáng tạo độc lập riêng củamình
Do vậy, việc xác định mức độ sáng tạo của trẻ và xây dựng các biệnpháp phát huy tính sáng tạo của trẻ thông qua các chủ đề phải phù hợp với khảnăng của trẻ, như vậy mới đem lai hiệu quả cho giáo dục trẻ mẫu giáo lớn
1.4 Lý luận về tổ chức hoạt động học theo chủ đề cho trẻ ở một số trường mầm non.
1.4.1 Khái niệm hoạt động học theo chủ đề
Tổ chức hoạt động giáo dục tích hợp theo chủ đề cho trẻ được hiểu là: Phương pháp đan cài lồng ghép đan xen các hoạt động giáo dục theo
chủ đề một cách tự nhiên hài hòa dựa theo nhu cầu hứng thú và nguyện vọngcủa trẻ trên cơ sở lấy hoạt động chủ đạo của lứa tuổi làm “hoạt động côngcụ”để tích hợp các hoạt động khác nhằm thực hiện mục tiêu và nhiệm vụ giáodục tích hợp các bậc học mầm non
Đây chính là quá trình tập hợp những tác động sư phạm phù hợp khả
năng và tiềm năng vốn có của trẻ nhằm hướng đến trẻ cung cấp cho trẻ những
cơ hội vận dụng kiến thức, kĩ năng trong hoàn cảnh nhất định, phát huy thếmạnh tích cực của trẻ giúp trẻ tích cực tìm kiếm, lựa chọn và đưa ra quyếtđịnh của mình đồng thời tạo điều kiện thu hút trẻ tham gia vào các hoạt độngkhác nhau ở trường mầm non cũng như tạo cho giáo viên hướng dẫn trẻ cáchtìm hiểu khám phá về nhữn vấn đề, sự kiện trong môi trường xung quanh
1.4.2 Đặc điểm học của trẻ lứa tuổi mẫu giáo (3-6 tuổi)
Lứa tuổi mẫu giáo là lứa tuổi kì diệu Trẻ rất hiếu động, tò mò, ham
muốn học hỏi tìm hiểu thế giới tự nhiên và xã hội Khác với người lớn trẻ emthực sự học trong khi chơi, trẻ lĩnh hội tri thức tiền khoa học( tri thức tiềnkhái niệm) trường mầm non qua vui chơi theo phương châm “ chơi bằng học,học bằng chơi” Do vậy chơi giữ vai trò là hoạt động chủ đạo trong các hoạtđộng ở trường mầm non Bên cạnh đó các yếu tố hoạt động học đã xuất hiện
Trang 38tuy mới ở dạng sơ khai Giữa hoạt động vui chơi và hoạt động học chưa códanh giới thật rõ ràng.
Hoạt động học tập nói chung và hoạt động học tập của trẻ mẫu giáo nói
riêng là một hoạt động trí tuệ mang tính chất bắt buộc, động cơ của nó nằmngay trong kết quả học tập Tuy nhiên bên cạnh những yếu tố thì giữa hoạtđộng học tập và hoạt động vui chơi của trẻ mẫu giáo còn chưa có danh giớithật sự rõ ràng Việc học của trẻ mẫu giáo được hiểu theo nghĩa rộng và nghĩahẹp
Theo nghĩa rộng thì việc học của trẻ mẫu giáo khác với việc học ở phổ
thông chúng có thể học một cách ngẫu nhiên thông qua hoạt động của trẻ ởtrường mầm non như trẻ học thông qua hoạt động vui chơi, hoạt động giáotiếp hoạt động sinh hoạt hàng ngày ….Trẻ mẫu giáo có thể học mọi lúc mọinơi, chúng tiếp thu kĩ năng kiến thức qua chơi, qua giáo tiếp qua sự trảinghiệm và khám phá thế giới xung quanh Đây chính là hoạt động học của trẻtheo nghĩa rộng
Còn học theo nghĩa hẹp học của trẻ mẫu giáo chính là học có chủ đích
học dưới sự hướng dẫn gợi mở và điều khiển của giáo viên, trẻ là chủ thể tíchcực tham gia vaò hoạt động Hoạt động học tập có kế hoạch theo chủ đích củagiáo viên giúp trẻ hệ thống và chính xác hóa dần những biểu tượng mà chúnglĩnh hội được trong quá trình hàng ngày và trong các hoạt động tự do củachúng ở trường mầm non Trẻ em học qua sử dụng các giác quan của chúng,qua nhiều trải nghiệm phối hợp các giác quan Trẻ học mọi lúc mọi nơi chúngtiếp thu kiến thức, kĩ năng qua chơi, qua trải nghiệm dựa vào sự tò mò, khámphá và tưởng tượng Trẻ cần có thời gian suy nghĩ và giải quyết vấn đề Tựkhám phá có lợi cho việc học, nó cho phép phát hiện các đặc tính và các mốiquan hệ qua phép thử sai Việc học phụ thuộc vào hiểu biết vốn có của trẻ chứkhông phải bắt đầu từ con số “0” Trẻ em học và nhớ tốt hơn khi chúng cóhứng thú, tự tin và được trải nghiệm phù hợp khả năng của chúng Ngôn ngữ
là phương tiện rất quan trọng trong việc học Bằng sự tư duy giáo tiếp ngônngữ, trẻ thu được các kinh nghiệm và kết hợp các kiến thức mới vào kiến thứcvốn có để làm phong phú thêm sự hiểu biết Trẻ cần sự hiểu biết tôn trọng, sựkhích lệ, ủng hộ của người gần gũi như cha mẹ anh chị giáo viên bạn bè Cần
Trang 39có sự cân bằng giữa các hoạt động do trẻ lựa chọn và do giáo viên lên kê hoạchướng dẫn.
Hoạt động dạy học và học theo chủ đề ở độ tuổi mẫu giáo là hoạt động
độc lập của trẻ nhằm lĩnh hội tri thức kĩ năng kĩ xảo và phương thức hànhđộng, diễn ra dưới sự hướng dẫn của giáo viên Giáo viên chủ yếu tổ chức quátrình hoạt động của trẻ để thông qua đó trẻ lĩnh hội tri thức sơ đẳng cần thiết,góp phần phát triển năng lức nhận thức và tư duy của trẻ, đồng thời hìnhthành kĩ năng hoạt động học cần thiết sau này ở trường phổ thông Hoạt độnghọc ở trường lớp mẫu giáo – Đặc biệt là các lớp bé và nhỡ - mang tính truyềnđạt tri thức có hệ thống
1.4.3 Dạy học tích hợp theo chủ đề cho trẻ mẫu giáo (Tổ chức HĐ học tập tích hợp theo chủ đề)
1.4.3.1 Khái niệm dạy học tích hợp theo chủ đề cho trẻ mẫu giáo
Dạy học tích hợp theo chủ đề của trẻ mẫu giáo chính là quá trình lồngghép, đan cài là hoạt động dạy và học cùng nhau giữa giáo viên và trẻ theochủ đề trên cơ sở lấy một hoạt động học của trẻ làm hoạt động “ công cụ” đểtích hợp, đan xen các hoạt động khác một cách có kế hoạch, có định hướngnhằm thực hiện mục tiêu dạy học đặt ra Trong dạy học theo chủ đề giáo viên
là người tổ chức hướng dẫn, tạo điều kiện, cơ hội cho trẻ khám phá thế giớixung quanh còn đứa trẻ tích cực chiếm lĩnh kiến thức, kĩ năng cần thiết để cóthể giải quyết được những tình huống có ý nghĩa với trẻ, chuẩn bị cho việchọc tập sau này của trẻ ở lớp một
1.4.3.2 Đặc điểm dạy học tích hợp theo chủ đề cho trẻ mẫu giáo
Chương trình dạy học tích hợp theo chủ đề không xuất phát từ sự phânchia kiến thức khoa học như ở phổ thông mà xuất phát từ sự hình thành nhữngthuộc tính tâm lý và năng lực chung của trẻ
Một trong những nguyên tắc chỉ đaọ cơ bản trong dạy học tích hợp theochủ đề cho trẻ mẫ giáo là lấy trẻ làm trung tâm của quá trình dạy học
Trẻ là người khởi xướng các hoạt động trẻ được khuyến khích là1người tham gia tích cực vào quá trình học chứ không thụ động Trẻ tự học quachơi, qua khám phá, qua tìm hiểu các chủ đề và trải nghiệm bằng các giác
Trang 40quan Trẻ được phép chọn góc chơi – học, thảo luận với các bạn sau đó vẽ nặnhoặc xây dựng hoặc cắt dán làm sản phẩm do chúng tạo ra chứ không phải dogiáo viên làm hộ.Quan điểm này hoàn toàn ngược lại quan điểm lấy trẻ làmtrung tâm (teacher centred- giáo viên sử dụng cách dạy truyền thống, nói vàlàm thay trẻ, trẻ trở thành người nghe thụ động).
Trong dạy học tích hợp theo chủ đề, giáo viên là người tổ chức hướngdẫn, tạo điều kiện cơ hội cho trẻ khám phá thế giớ xung quanh còn đứa trẻtích cực chiếm lĩnh kiến thức, kĩ năng cần thiết để có thể giải quyết được tìnhhuống có ý nghĩa với trẻ, chuẩn bị cho việc học tập sau này của trẻ ở lớp 1.Giáo viên đóng vai trò “trung gian”, tổ chức môi trường, tạo điều kiện cho trẻhoạt động nhằm phát huy hứng thú, nhu cầu kinh nghiệm và mặt mạnh củamỗi trẻ Giáo viên xác định chủ đề, lên kế hoạch lồng ghép các hoạt động chotrẻ tự trải nghiệm, tìm hiểu khám phá, nhận thức phù hợp với trình độ pháttriển của từng trẻ
Trong những nét nổi bật cho trẻ mẫu giáo hoạt động học theo chủ đề,
là cô và trẻ, trẻ với trẻ cùng thảo luận để làm xuất hiện các câu hỏi, các vấn đề
để trẻ có thể chia sẻ, động não và suy xét Cùng nhau tìm tòi khám phá và vậnđộng kĩ năng trí tuệ, xã hội để giải quyết các tình huống có ý nghĩa đối vớitrẻ Trẻ tạo ra sản phẩm chưng bầy sản phẩm, cùng chia sẻ kết quả học tập vuichơi cùng với nhau….Trong khi đó trẻ luôn được tôn trọng, được khuyếnkhích lựa chọn và thực hiện hoạt động theo một khuân khổ nào đó, chịu tráchnhiệm và bổ xung kinh nghiệm học tập của mình
Các chủ đề học rất cụ thể và gần gũi kinh nghiệm cá nhân của trẻ vàquan trọng là nó tạo cho trẻ cảm xúc , bắt trẻ phải động não suy nghĩ, tìmkiếm… Tất cả những cái đó mang lại nhiều cơ hội cho trẻ tham gia vào cáchoạt động khác nhau trong ngày ở trường mầm non và duy trì hứng thú lâudài Quá trình này diễn ra tong một môi trường học tập đa dạng và dưới sự tổchức hướng dẫn của giáo viên
Việc sử dụng hình thức “mạng mở” trong dạy học tích hợp theo chủ đềgiúp cho các giáo viên tìm õ các mối liên quan giữa các nội dung kiến thức vàcác hoạt động mang tính tích hợp trong phạm vi chủ đề và với các chủ đề