1. Kết luận 1.1. GDHN là một bộ phận quan trọng trong hoạt động giáo dục của trường THPT, góp phần cụ thể hóa mục tiêu đào tạo của nhà trường và là bước khởi đầu quan trọng của quá trình phát triển nguồn nhân lực. Trong giai đoạn hiện nay, trường phổ thông phải đào tạo thế hệ trẻ thành người lao động trong một lĩnh vực nghề nghiệp cụ thể. HS sau khi tốt nghiệp THPT phải có năng lực tham gia một nghề cụ thể ở địa phương hoặc tiếp tục học lên để sau này làm tốt một nghề. Để HS có một nghề nghiệp và một tương lai vững chắc đều phụ thuộc vào sự quyết định đúng đắn ban đầu trong việc lựa chọn ngành, nghề phù hợp với năng lực, sở trường của cá nhân, phù hợp với yêu cầu của nghề và đáp ứng được sự phát triển KTXH của địa phương, đất nước. Chất lượng GDHN phụ thuộc rất nhiều vào quá trình quản lý hoạt động GDHN của các nhà quản lý giáo dục nói chung và của Hiệu trưởng các trường THPT nói riêng. Do vậy muốn hoạt động GDHN có hiệu quả cao, và đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế trong giai đoạn hiện nay đòi hỏi các nhà quản lý giáo dục phải quan tâm đến GDHN theo hướng tạo nguồn đào tạo cán bộ một cách đúng mức, phải đặt nhiệm vụ này trong bối cảnh phát triển KT XH của địa phương mình, đồng thời nắm bắt kịp thời những thế mạnh của hệ thống giáo dục ở địa phương, xác định được những điều kiện cơ bản về các nguồn lực bên ngoài nhà trường để thực hiện tốt nhiệm vụ GDHN đặc thù cho học sinh THPT vùng cao. Luận văn đã làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về QLHĐ GDHN, làm rõ các khái niệm và những vấn đề có liên quan, làm rõ yêu cầu của công tác GDHN ở trường THPT. 1.2. Đề tài đã khảo sát thực trạng thực hiện GDHN và QLHĐ GDHN ở trường THPT Búng Lao đánh giá những thành tựu cơ bản, những hạn chế, nguyên nhân của hạn chế và những thuận lợi, khó khăn trong công tác QLHĐ GDHN. Kết quả thực hiện các nội dung GDHN trong nhà trường còn thấp, GDHN chưa tác động tích cực đến việc lựa chọn nghề nghiệp tương lai của HS. Đội ngũ CBQL và GV có nhận thức tương đối cao về vị trí, tầm quan trọng của GDHN, QLHĐ GDHN. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau nên trong quá trình thực hiện, công tác QLHĐ GDHN còn bộc lộ nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu GDHN trong giai đoạn hiện nay. 1.3. Do nhận thức của lực lượng GDHN còn hạn chế, nguồn tài lực vật lực của nhà trường phụ thuộc vào ngân sách nhà nước và không có một khoản thu nào nên chưa có đủ CSVC, trang thiết bị, sách giáo khoa, tài liệu phục vụ cho hoạt động GDHN. Giáo viên thì chưa đủ điều kiện để cập nhật thông tin về nghề nghiệp và chưa quan tâm nhiều đến GDHN. Sự phối hợp giữa các lực lượng GDHN trong nhà trường chưa chặt chẽ và ngay cả vấn đề xã hội hoá GDHN cũng gặp nhiều khó khăn bởi lực lượng có thể huy động hiệu quả nhất là cha mẹ học sinh thì đối với học sinh vùng cao điều này khó thực hiện vì đa số cha mẹ học sinh trình độ dân trí thấp, kinh tế khó khăn, ở xa trường, và đã quen trông chờ vào chế độ chính sách của nhà nước, nhà trường cần huy động các nguồn lực từ hệ thống giáo dục, vận dụng chế độ chính sách ưu tiên dân tộc để phát huy tài lực và cơ sở vật chất từ phía Nhà nước. Vì vậy việc dựa trên những cơ sở lý luận và thực tiễn đã nghiên cứu để đưa ra những biện pháp trên là có thể đáp ứng được nhu cầu cần đổi mới quản lý hoạt động GDHN cho học sinh THPT vùng cao trong giai đoạn hiện nay. Tuy nhiên để hoàn thiện hơn chúng tôi sẽ cố gắng tiếp tục nghiên cứu thêm. Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng về GDHN, QLHĐ GDHN trong trường THPT Búng Lao. Để nâng cao chất lượng GDHN ở trường THPT Búng Lao đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực ở địa phương, đề tài đã đề xuất các biện pháp quản lý sau : Biện pháp 1: Tổ chức các hoạt động truyền thông, giáo dục nâng cao nhận thức cho học sinh, các lực lượng giáo dục về giáo dục hướng nghiệp Biện pháp 2: Nâng cao chất lượng xây dựng kế hoạch giáo dục hướng nghiệp Biện pháp 3: Quản lý mối quan hệ phối hợp giáo dục giữa các lực lượng tham gia giáo dục hướng nghiệp Biện pháp 4: Nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên về công tác giáo dục hướng nghiệp Biện pháp 5: Quản lý và khuyến khích cán bộ, giáo viên tổ chức hoạt động ngoại khóa về giáo dục hướng nghiệp và tư vấn hướng nghiệp Biện pháp 6: Tạo động lực, khuyến khích thúc đẩy giáo viên thực hiện nhiệm vụ giáo dục hướng nghiệp Biện pháp 7: Quản lý việc đầu tư và sử dụng cơ sở vật chất, trang thiết bị cho hoạt động giáo dục hướng nghiệp Biện pháp 8: Thực hiện thường xuyên việc giám sát công tác thanh tra, kiểm tra đánh giá hoạt động giáo dục hướng nghiệp 1.4. Các biện pháp này đã được kiểm chứng bằng các ý kiến của các chuyên gia về tính cần thiết và tính khả thi. Sau khi xử lý số liệu, kết quả bước đầu cho thấy: các biện pháp này đều mang tính cần thiết và tính khả thi cao. Như vậy nhiệm vụ nghiên cứu của chúng tôi đã hoàn thành, mục đích nghiên cứu đã đạt được, giả thuyết khoa học bước đầu đã được kiểm chứng. Các biện pháp này có thể giúp Hiệu trưởng trường THPT Búng Lao và các trường có điều kiện tương tự vận dụng để nâng cao hiệu quả GDHN cho HS nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ của trường là tạo nguồn đào tạo cán bộ cho địa phương 2. Khuyến nghị 2.1. Đối với Bộ Giáo dục và Đào tạo: Bộ GDĐT cần tiếp tục phổ biến sâu rộng về ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác GDHN để phân luồng một cách hợp lý học sinh THPT. Bộ GDĐT cần hoàn thiện quy định, cơ chế, chính sách tạo hành lang pháp lý, đồng thời có kế hoạch hỗ trợ, khuyến khích nhằm thúc đẩy công tác GDHN trong trường THPT. 2.2. Đối với Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Điện Biên Tham mưu cho UBND tỉnh đổi mới công tác tuyển sinh vào lớp 10 THPT theo hướng chọn lọc và phân luồng được học sinh tốt nghiệp THCS; Thường xuyên mở các lớp bồi dưỡng về kiến thức và kỹ năng cho giáo viên THPT tham gia hoạt động GDHN. Tăng cường đội ngũ giáo viên chuẩn trình độ về GDHN cho nhà trường. Tăng cường chỉ đạo hoạt động GDHN theo đúng tinh thần của công văn hướng dẫn GDHN cho các trường THPT của Bộ giáo dục và đào tạo. Tăng cường CSVC cho GDHN nhất là các trắc nghiệm dùng để tư vấn nghề cho học sinh. Ban hành các văn bản chỉ đạo các trường THPT về việc đẩy mạnh công tác GDHN. Hàng năm nên tổ chức các buổi hội thảo, chuyên đề về GDHN để các trường giao lưu, trao đổi, học hỏi kinh nghiệm trong công tác quản lý. Hàng năm cần phải tổ chức kiểm tra, đánh giá và tổng kết về tình hình thực hiện nhiệm vụ GDHN cho HS, cần có tiêu chí đánh giá GDHN trong việc thực hiện nhiệm vụ năm học đối với các trường THPT. 2.3. Đối với UBND huyện Mường Ảng Quan tâm hỗ trợ các trường THPT nói chung và trường THPT Búng Lao nói riêng về CSVC, trang thiết bị, tài liệu cũng như nguồn tài chính phục vụ công tác GDHN cho HS. Chỉ đạo các ban ngành, đoàn thể, CSSX kinh doanh trên địa bàn huyện hỗ trợ các trường THPT về lực lượng hướng nghiệp, nguồn tài chính, CSVC phục vụ công tác GDHN. Tạo điều kiện để trường THPT Búng Lao đưa học sinh đến tham quan, học tập và tiếp cận với những ngành nghề của địa phương. Tăng cường phối hợp chỉ đạo thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển GDĐT địa phương theo kế hoạch phát triển KTXH của thành phố và định hướng của ngành. 2.4. Đối với trường THPT Búng Lao Đối với cán bộ quản lý: Nghiên cứu các văn bản chỉ đạo về công tác xây dựng đội ngũ cán bộ xã của chính phủ, Tỉnh uỷ, UBND tỉnh để nắm vững đường lối chủ trương của Đảng và nhà nước về công tác cán bộ địa phương phục vụ cho công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức về GDHN theo hướng tạo nguồn cán bộ cho các đối tượng trong và ngoài nhà trường. Tăng cường mối liên hệ với các cơ sở giáo dục khác để khai thác các nguồn lực phục vụ cho GDHN cho học sinh. Phối hợp tốt với các trường chuyên nghiệp đóng trên địa bàn tỉnh trong công tác hướng nghiệp cho học sinh. Tăng cường tuyên truyền về nhiệm vụ và vai trò của trường THPT đối với công tác tạo nguồn cán bộ xã cho địa phương, cho các đối tượng trong và ngoài nhà trường. Liên hệ chặt chẽ với chính quyền địa phương nhất là các xã để thực hiện đào tạo cán bộ nguồn theo địa chỉ. Nhà trường cần thường xuyên tổ chức bồi dưỡng chuyên đề, tự bồi dưỡng để nâng cao năng lực tổ chức các hoạt động GDHN cho GV Cần có nguồn chi ngân sách cho công tác GDHN, đầu tư CSVC, trang thiết bị phuc vụ GDHN. Hiệu trưởng cần tăng cường công tác chỉ đạo, kiểm tra, đánh giá kết quả GDHN cho HS. Tổng kết, rút kinh nghiệm một cách sâu sắc công tác quản lý sau mỗi học kỳ và cuối năm học. Vận dụng một cách sáng tạo và phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện dạy học của nhà trường. Đối với giáo viên: Tăng cường công tác tự học, tự bồi dưỡng nâng cao năng lực chuyên môn về GDHN, khai thác triệt để trang thiết bị, phương tiện hiện có của nhà trường để tư vấn hướng nghiệp cho học sinh và nghiên cứu về GDHN đặc thù ở vùng cao. Giáo viên chủ nhiệm cần lập phiếu hướng nghiệp cho mỗi học sinh để theo dõi sự hình thành và phát triển năng lực và phẩm chất người cán bộ xã để làm tốt tư vấn hướng nghiệp làm cán bộ xã cho những học sinh có điều kiện phù hợp với công việc này sao cho tất cả các đối tượng học sinh trong lớp mình quản lý đều được chú ý động viên và có định hướng nghề nghiệp phù hợp. Giáo viên bộ môn cần chú trọng tư vấn hướng nghiệp thông qua quá trình truyền đạt kiến thức văn hoá.
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
ĐỖ QUYẾT TIẾN
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG BÚNG LAO, HUYỆN MƯỜNG ẢNG, TỈNH ĐIỆN BIÊN ĐÁP ỨNG YÊU CẦU
PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC Ở ĐỊA PHƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
ĐỖ QUYẾT TIẾN
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG BÚNG LAO, HUYỆN MƯỜNG ẢNG, TỈNH ĐIỆN BIÊN ĐÁP ỨNG YÊU CẦU
PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC Ở ĐỊA PHƯƠNG
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 60 14 01 14
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: TS Ngô Thị Thu Dung
Trang 3Tôi xin cảm ơn Ban lãnh đạo trường Đại học Giáo Dục - Đại học quốc gia
Hà Nội, Phòng Sau Đại học - Đại học Giáo Dục, Ban giám đốc Sở GD&ĐT tỉnhĐiện Biên, Phòng tổ chức cán bộ, Sở GD&ĐT Điện Biên các nhà khoa học, cácThầy giáo, Cô giáo đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn
Tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ quý báu của cán bộ, giáo viên và học sinh trườngTHPT Búng Lao và các bạn bè đồng nghiệp lớp QLGD K13 đã động viên, khuyếnkhích và tạo mọi điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong việc nghiên cứu, thử nghiệm và hoànchỉnh luận văn, song chắc rằng luận văn vẫn còn có những thiếu sót, tôi rất mongnhận được sự góp ý, chỉ bảo của quý thầy giáo, cô giáo, các bạn đồng nghiệp và bạnđọc để đề tài được hoàn thiện hơn, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diệncho học sinh thân yêu của chúng ta
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã quan tâm, chia
sẻ, động viên giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận văn
Hà Nội, ngày 02 tháng 11 năm 2015
Tác giả luận văn
Đỗ Quyết Tiến
Trang 4DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
STT Ký hiệu Nguyên nghĩa
20 KTTH-HN Kỹ thuật tổng hợp- hướng nghiệp
21 TCCN Trung cấp chuyên nghiệp
22 THCS Trung học cơ sở
23 THPT Trung học phổ thông
24 UBND Ủy ban nhân dân
Trang 5DANH MỤC BẢNG BIỂU ST
Tran g
1 Bảng 2.1 Thống kê chất lượng giáo dục của Trường THPT
Búng Lao trong 5 năm học gần đây
2 Bảng 2.2 Đánh giá mức độ hiểu biết của học sinh khi chọn
nghề
3 Bảng 2.3 Mức độ sử dụng các nguồn thông tin cần biết về nghề
4 Bảng 2.4 GDHN thông qua dạy - học các môn văn hoá
5 Bảng 2.5 GDHN qua dạy - học môn Công nghệ và hoạt động
LĐSX
6 Bảng 2.6 GDHN qua tổ chức hoạt động GDHN
7 Bảng 2.7 GDHN qua hoạt động tham quan, ngoại khoá
8 Bảng 2.8 Thống kê học sinh tốt nghiệp THPT Búng Lao vào
CĐ, ĐH giai đoạn 2010 - 2015
9 Bảng 2.9
Nhận thức về tầm quan trọng các biện pháp QLHĐGDHN của trường THPT Búng Lao, huyện MườngẢng
10 Bảng 2.10 Mức độ thực hiện các biện pháp QLHĐ GDHN
11 Bảng 2.11
Tương quan giữa nhận thức tầm quan trọng và mức
độ thực hiện các biện pháp QLHĐ GDHN của trườngTHPT Búng Lao
12 Bảng 2.12 Các yếu tố ảnh hưởng đến QLHĐ GDHN của trường
THPT Búng Lao
13 Bảng 3.1 Đánh giá mức độ cần thiết của các biện pháp đề xuất
14 Bảng 3.2 Đánh giá mức độ khả thi của các biện pháp đề xuất
15 Bảng 3.3 Tương quan giữa tính cần thiết và tính khả thi của
các biện pháp
Trang 6DANH MỤC CÁC HÌNH, BIỂU ĐỒ ST
Tran g
1 Hình 1.1 Mối quan hệ giữa các thành tố cấu trúc của quá trình
GDHN
2 Hình 2.1
Biểu diễn tỉ lệ phần trăm các ý kiến của CBQL, GV
về tầm quan trọng của hoạt động giáo dục hướngnghiệp
3 Hình 2.2
Biểu diễn tỉ lệ phần trăm các ý kiến của CBQL, GV
về mức độ quan tâm tới công tác giáo dục hướngnghiệp
4 Hình 2.3 Biểu diễn tỉ lệ phần trăm các ý kiến của cha mẹ HS
về vai trò của gia đình trong giáo dục hướng nghiệp
5 Biểu đồ 3.1 Mức độ cần thiết của các biện pháp
6 Biểu đồ 3.3 Tương quan giữa mức độ cần thiết và mức độ khả
thi của các BP
7 Biểu đồ 3.2 Mức độ khả thi của các biện pháp
Trang 7Tuy nhiên, trong những năm gần đây, việc quản lý công tác hướng nghiệp ởmột số trường trung học phổ thông chưa thật sự hiệu quả Các nhà quản lý trườnghọc chưa thật sự quan tâm đến việc tổ chức thực hiện, kiểm tra đánh giá việc thựchiện công tác giáo dục hướng nghiệp cho học sinh ở các trường trung học phổthông Vấn đề đặt ra là làm thế nào để các nhà quản lý trường học quản lý tốt côngtác giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trong nhà trường
Xuất phát từ những cơ sở lý luận và thực tiễn nêu trên, tác giả chọn đề tài
nghiên cứu: “Quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở trường trung học phổ
thông Búng Lao, huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực ở địa phương”
2 Mục đích nghiên cứu.
Trên cơ sở nghiên cứu việc quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở
trường THPT Búng Lao, huyện Mường Ảng, Điện Biên, một số biện pháp quản lý
hoạt động GDHN sẽ được đề xuất nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả của hoạtđộng GDHN
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xác định cơ sở lý luận nghiên cứu quản lý giáo dục hướng nghiệp ở trườngTHPT
Trang 8- Tìm hiểu thực trạng QLHĐ GDHN ở trường THPT Búng Lao, huyện
Mường Ảng, tỉnh Điện Biên
- Đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động GDHN ở trường THPT Búng
Lao, huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu.
4.1 Khách thể nghiên cứu
Hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở trường trung học phổ thông
4.2 Đối tượng nghiên cứu
Quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở trường THPT Búng Lao, huyệnMường Ảng, tỉnh Điện Biên
5 Vấn đề nghiên cứu.
Nghiên cứu vấn đề của đề tài: Tìm tòi một số biện pháp quản lý hoạt động
GDHN hiệu quả ở trường THPT Búng Lao, huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên
6 Giả thuyết khoa học
Quá trình quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh ở trường
THPT Búng Lao, huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên đã đạt được một số kết quả
đáng kể song cũng còn nhiều hạn chế Nếu có một số biện pháp quản lý giáo dụchướng nghiệp phù hợp sẽ nâng cao chất lượng giáo dục hướng nghiệp cho học sinhtrường THPT Búng Lao, huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên
7 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu.
- Đề tài nghiên cứu các biện pháp quản lý hoạt động của cán bộ, giáo viên
- Khảo sát các biện pháp quản lý của nhà trường và sử dụng các số liệu củanhà trường từ năm học 2010- 2011 đến tháng 5 năm 2015
8 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài.
- Ý nghĩa lý luận: Tổng kết thực tiễn công tác quản lý hoạt động giáo dục
hướng nghiệp cho học sinh trường trung học phổ thông Búng Lao, huyện MườngẢng, tỉnh Điện Biên, chỉ ra những bài học thành công và mặt hạn chế, cung cấp cơ
sở khoa học để xây dựng các biện pháp QLHĐ GDHN cho học sinh
Trang 9- Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu về quản lý hoạt động giáo dục
hướng nghiệp cho học sinh có thể được áp dụng cho các trường THPT khác ở ĐiệnBiên; Đồng thời là tài liệu tham khảo giá trị cho các nhà quản lý giáo dục
9 Một số phương pháp nghiên cứu đã sử dụng
9.1 Phương pháp luận
9.1.1 Quan điểm hệ thống - cấu trúc
Áp dụng tiếp cận hệ thống - cấu trúc trong nghiên cứu quá trình quản lý HĐGDHN ở trường THPT Búng Lao- huyện Mường Ảng cho thấy: Quá trình quản lý
HĐ GDHN có mối quan hệ chặt chẽ, hệ thống với các hoạt động giáo dục, dạy họctrong nhà trường Mặt khác, quá trình quản lý HĐ GDHN bao gồm nhiều yếu tố, cócấu trúc chặt chẽ Vì vậy để quản lý quá trình quản lý HĐ GDHN có hiểu quả, cầnquản lý một cách hệ thống, đồng bộ
9.1.2 Quan điểm thực tiễn
Chất lượng quá trình quản lý hoạt động GDHN HS ở trường THPT BúngLao- huyện Mường Ảng phụ thuộc điều kiện thực tiễn của nhà trường Vì vậy, việcnghiên cứu quá trình quản lý HĐGDHN, đề xuất một số biện pháp quản lý hoạtđộng GDHN ở các trường THPT cần xuất phát từ tiếp cận thực tiễn
9.1.3 Quan điểm lịch sử, logic
Tìm hiểu sự hình thành và phát triển của hoạt động giáo dục hướng nghiệptrên thế giới và ở Việt Nam, đồng thời, xem xét xu thế phát triển KT - XH và nhucầu nguồn nhân lực của đất nước và trên địa bàn tỉnh Điện Biên trong những nămvừa qua là cơ sở nghiên cứu quá trình quản lý HĐGDHN cũng như đề xuất biệnpháp quản lý
9.2 Các phương pháp nghiên cứu cụ thể
9.2.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận: Các phương pháp phân tích - tổng
hợp, hệ thống hoá những vấn đề lý luận trong các văn bản, tài liệu, sách báo, thôngtin trên mạng Internet được sử dụng, từ đó xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài
9.2.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp quan sát: Được sử dụng trong quan sát có chủ định cách tổchức, tiến hành quản lý hoạt động GDHN, quản lý cơ sở vật chất, trang thiết bị,
Trang 10phương tiện phục vụ cho công tác GDHN ở trường THPT Búng Lao nhằm thu thậpthông tin về thực trạng công tác quản lý hoạt động GDHN ở trường THPT BúngLao, huyện Mường Ảng
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Với hai bảng hỏi: Bảng 1 hỏi CBQL,
GV, các lực lượng tham gia hoạt động GDHN; Bảng 2 hỏi học sinh 12 khối / lớpcủa trường THPT Búng Lao nhằm tìm hiểu tác động của hoạt động GDHN ở trườngTHPT Búng Lao, huyện Mường Ảng
- Phương pháp phỏng vấn : Người nghiên cứu tiến hành phỏng vấn hoặc traođổi với các CBQL, GV về công tác QLHĐ GDHN ở trường THPT Búng Lao,huyện Mường Ảng
- Phương pháp chuyên gia: Tác giả trao đổi, lấy ý kiến chuyên gia về quản lýhoạt động GDHN ở các trường THPT
- Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động: Nghiên cứu các kế hoạchhoạt động GDHN, kế hoạch bài dạy GDHN ở trường THPT Búng Lao nhằm thuthập thông tin về quản lý hoạt động GDHN
9.3 Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng phương pháp thống kê toán học và phần mềm SPSS để xử lý các sốliệu thu được trong quá trình khảo sát
10 Cấu trúc của luận văn
Cấu trúc luận văn gồm: phần Mở đầu; Phần nội dung và phần Kết luận vàkhuyến nghị Phần nội dung gồm ba chương là Chương 1- Cơ sở lý luận về quản lýHĐGDHN ở các trường THPT; Chương 2- Thực trạng Quản lý HĐGD hướngnghiệp ở trường THPT Búng Lao; Chương 3- Biện pháp QL HĐGD HN ở trườngTHPT Búng Lao đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực ở địa phương ; Kếtluận và khuyến nghị
Trang 11CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC
HƯỚNG NGHIỆP Ở CÁC TRƯỜNG THPT ĐÁP ỨNG YÊU CẦU
PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC Ở ĐỊA PHƯƠNG
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Trên thế giới
Vấn đề giáo dục Hướng nghiệp cho học sinh ở trên thế giới được quan tâm từlâu và ngày càng phát triển Vấn đề hướng dẫn tìm hiểu, lựa chọn nghề được đặt ramột cách rộng rãi ở nhiều nước với tính cấp thiết của nó vào những năm đầu thế kỷ
XX Ngay từ đầu thế kỷ XX, N.K Crupxkaia, nhà giáo dục lỗi lạc người Nga đãtừng nêu lên luận điểm “tự do chọn nghề” cho mỗi thanh niên Theo bà, thông quahướng nghiệp, mỗi trẻ em đều phải nhận thức sâu sắc hướng phát triển kinh tế củađất nước, những nhu cầu nào của nền sản xuất cần được thỏa mãn, những nhiệm vụ
mà thanh thiếu niên phải đáp ứng trước yêu cầu mà xã hội đề ra trong lĩnh vực laođộng sản xuất
Giáo dục hướng nghiệp, lập nghiệp ở các trường trung học của Australia:
Giáo dục hướng nghiệp, lập nghiệp (Career Education) ở các trường học củaAustralia nhằm phát triển những kỹ năng, kiến thức và thái độ thông qua mộtchương trình học tập được kế hoạch hóa Việc giáo dục này giúp cho học sinh biết
ra những quyết định về việc lựa chọn có tính hướng nghiệp, lập nghiệp trong và saukhi học ở trường và tham gia có hiệu quả vào đời sống lao động Cá nhân conngười thường xuyên lao động suốt đời: ở nhà, trong hệ thống giáo dục chính quy, ởcộng đồng (với tư cách là người chủ hoặc người làm thuê) Mô hình các vai tròtrong lao động mà cá nhân phát triển trong cuộc đời là kết quả mà hàng loạt các tácđộng qua lại của những yếu tố tâm lý, xã hội, giáo dục, vật chất, kinh tế và maymắn Giáo dục hướng nghiệp, lập nghiệp yêu cầu học sinh phải hiểu biết những yếu
tố nói trên và phát triển năng lực chuẩn bị, biết lập và thực hiện những quyết địnhhướng nghiệp, lập nghiệp cho bản thân Quyết định này phản ánh những khả năng,lợi ích và giá trị cá nhân liên quan đến việc lựa chọn thích hợp Những kỹ năng và
Trang 12hiểu biết cần thiết cho việc tham gia có hiệu quả vào lao động và rất quan trọng đốivới học sinh, không phụ thuộc vào giới, hoàn cảnh văn hóa, điều kiện địa lý và đờisống vật chất
Những nghiên cứu về GDHN, lập nghiệp ở các trường học của Australia chỉ
ra 4 nhiệm vụ của học sinh Bốn nhiệm vụ này có liên quan với nhau: Học về bảnthân trong mối quan hệ với lao động; Học về thế giới nghề nghiệp; Học về lập kếhoạch và ra quyết định hướng nghiệp, lập nghiệp; Phát triển khả năng triển khai cácquyết định về hướng nghiệp và tiến hành thay đổi công việc
Học sinh phải đối mặt với nhiều sự dịch chuyển trong suốt thời gian học ởtrường, kể cả dịch chuyển từ năm học này sang năm học khác, từ trường này sangtrường khác, từ môn học này sang môn học khác, từ thầy này sang thầy khác… Họphải có kỹ năng quản lý những dịch chuyển này, vì những kỹ năng này có thể ápdụng cho những dịch chuyển sau nhà trường
Xu thế cải cách các trường học ở Châu Âu cuối thế kỷ XX gắn với hướng nghiệp và đào tạo nghề: Vào những năm 70 - 80 của thế kỷ trước, các nước Châu
Âu lần lượt tiến hành cải cách giáo dục từ cấu trúc, tổ chức đến nội dung, phươngpháp giáo dục và giảng dạy, đáp ứng các yêu cầu phát triển của xã hội công nghiệpdựa vào sự tiến bộ vượt bậc của khoa học - công nghệ, nhất là công nghệ thông tin,kinh tế để đạt tới một số chuẩn mực chung về trình độ giáo dục phổ thông và giáodục nghề Ở đây, tôi điểm qua một số cải cách nhà trường gắn với vấn đề giáo dục,nghề và hướng nghiệp tại trường phổ thông
* Nhà trường Pháp và vấn đề giáo dục lao động, nghề nghiệp: Năm 1975,nước Pháp đã tiến hành cải cách giáo dục để hiện đại hóa giáo dục nhằm vào cáchướng: tăng cường giáo dục tự nhiên và toán học, trong đó tăng kiến thức thực hànhđối với khoa học tự nhiên, đưa giáo dục kỹ thuật vào để đảm bảo sự liên hệ giữatrường học và đời sống, đồng thời vẫn giữ vững ý nghĩa của các môn xã hội và nhânvăn Cải cách giáo dục Pháp đặc biệt chú trọng tới giảng dạy lao động và nghềnghiệp cho học sinh khắc phục khuynh hướng và quan niệm coi giáo dục lao động
là một hoạt động giáo dục lao động loại hai (tức là đứng sau các môn khoa học) Để
Trang 13phát triển nhân cách toàn diện cho học sinh, nhà trường Pháp đặt giáo dục lao động,thủ công và nghề nghiệp bình đẳng với các loại hình hoạt động khác của nhàtrường, đào tạo “tiền nghề nghiệp” là cơ sở của việc học tập liên tục về sau vàchuẩn bị cho học sinh bước vào cuộc sống lao động “Công nghệ học là lĩnh vực cơbản của văn hóa Nó không có mục tiêu đào tạo một nghề cụ thể mà nhiệm vụ chính
là giáo dục phổ thông phải cung cấp những tri thức kỹ thuật xác định và phát triểnnhững kỹ năng cần thiết giúp học sinh hiểu được thế giới công nghệ xung quanh”.Chương trình công nghệ học phải bao gồm những kiến thức liên quan đến thiết kế
cơ khí, các loại máy và hiệu quả sử dụng chúng Học sinh cần hiểu được vị trí củacông nghệ học trong môi trường xã hội và trong tự nhiên, trình độ công nghệ,những thành tựu to lớn và hiểm họa trong lao động
Nhà trường Pháp hiện nay đã giảm bớt tính hàn lâm trong việc cung cấp cáckiến thức khoa học, tăng cường tỷ trọng các kiến thức có ý nghĩa thực và hướngnghiệp để giúp học sinh trung học chuẩn bị đi vào đào tạo và cuộc sống nghềnghiệp
* Nhà trường ở Đức về vấn đề hướng nghiệp: Giáo dục phổ thông trong nhàtrường của Liên bang Đức đang tiến tới “Một nhà trường Châu Âu thống nhất”nhưng vẫn giữ được những truyền thống tốt đẹp nhất của nền giáo dục Đức Vì vậy,định hướng cải cách của nhà trường Đức đã đặt ra nhiệm vụ xem xét lại mục tiêu vànhiệm vụ của trường phổ thông, hiện đại hóa, cụ thể là:
- Chuyển từ nhà trường truyền thống với hệ 3 loại hình sang 2 loại hình
- Giảm thời lượng học tập của trường Ghim-na-zi (THCS) nhưng vẫn bảođảm trình độ cao về giáo dục phổ thông
- Xác lập mối quan hệ chặt chẽ hơn giữa giáo dục phổ thông và giáo dụcnghề nghiệp
- Sử dụng nguồn lực của chính nhà trường, sự sáng tạo của giáo viên và sựđổi mới nhằm làm cho nhà trường được tự chủ nhiều hơn trong quản lý
Theo truyền thống, hệ thống trường phổ thông Đức quán triệt nguyên tắchướng nghiệp để chuẩn bị cho học sinh đi vào trường đào tạo nghề tùy theo trình độ
Trang 14học tập của mỗi em Học sinh được phân loại ngay từ cấp tiểu học Sau lớp 5, căn
cứ vào thành tích học tập của từng em, trường phân loại học sinh thành hai loại: loạichỉ học hết lớp 10 rồi đi vào đào tạo nghề để trở thành công nhân lành nghề tại cáctrung tâm dạy nghề và loại học hết trung học lớp 12 Đến đây, lại phân loại lần nữa,chỉ cho những học sinh học khá được lên lớp 13 thi lấy bằng tú tài toàn phần và vàohọc các trường đại học, số còn lại sẽ vào các cơ sở đào tạo nghề trung cấp Sự phânloại sơ bộ được tiến hành từ khi học hết tiểu học nhưng phải phúc tra và đưa raquyết định chính xác sau lớp 9 Tới lớp 10, ngay từ học kỳ 1, giáo viên chủ nhiệmliên hệ với nhiều cơ sở hướng nghiệp, những trường dạy nghề của các công ty tưnhân và Nhà nước để bố trí học sinh đến đó tìm hiểu nghề mình muốn học, chế độđược hưởng khi học như trợ cấp bao gồm tiền ăn, tiền ở, đảm bảo nhu cầu tối thiểutheo mức sống ở Đức Những học sinh có nhu cầu hay năng lực học lên đại họcbuộc phải có học lực khá và từ lớp 11 được học trường phổ thông hệ học lên đạihọc Nhà nước không để thanh niên dù là người thuộc quốc tịch nước ngoài đang cưtrú hợp pháp trên nước Đức bị thất học phổ thông và mù nghề Học sinh được họcmiễn phí trong tất cả các bậc học: tại nhà trẻ, lớp mẫu giáo, trường tiểu học đều tổchức căn tin và Nhà nước bù lỗ đối với việc ăn uống của trẻ Xu hướng hiện đại hóa
ở đây là tạo điều kiện cho học sinh có thể học nghề ngay khi đang học phổ thông,cung cấp hệ thống và kiến thức khoa học gắn với hướng đào tạo nghề một cách linhhoạt, giảm bớt tính hàn lâm của bậc trung học hoàn chỉnh
Chuẩn bị nguồn nhân lực và tinh thần hướng nghiệp ở nhà trường của Nhật Bản: Năm 1988, Nhật Bản công bố “sách trắng” và đã khẳng định: Nhật Bản đang
đối mặt với mục tiêu cơ bản của cải cách giáo dục thế kỷ XXI, thực hiện một “xãhội học tập suốt đời” Hạ Nghị viện Nhật Bản thông qua ngày 01/07/1990 Đạo luậtgọi là “Luật về duy trì hệ thống khuyến khích học tập suốt đời” Nếu mục tiêu củacải cách giáo dục Nhật Bản ở giai đoạn sau chiến tranh thế giới lần thứ II là hướngtới tạo nguồn nhân lực phục vụ cho tăng trưởng kinh tế, thì mục tiêu cải cách giáodục hiện nay là sự phát triển của chính học sinh, giúp các em tự phát triển ngay từnhỏ cho đến khi trưởng thành Sự kết hợp giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng
Trang 15trở thành một nguyên tắc cơ bản, trong đó vai trò chính của nhà trường phổ thông làphải tạo động cơ học tập cho học sinh, dạy cho các em cách học, phát triển khả năng
tự học Trên cơ sở đó, vai trò của từng cấp học thay đổi nhằm thích ứng với yêu cầuphát triển này Chương trình cải cách giáo dục được xây dựng trên cơ sở hai luậnđiểm quan trọng đó là tăng cường tính linh hoạt và đa dạng trong đánh giá hệ thốnggiáo dục; thực hiện chương trình cải cách giáo dục không chỉ đóng khung trongphạm vi nhà trường, trong hệ thống giáo dục mà còn mở rộng tầm nhìn ra phạm vitoàn xã hội theo quan điểm mở cửa, giao lưu, hội nhập quốc tế Nội dung chươngtrình học gồm các môn học: Quốc ngữ, Địa lý, Lịch sử, Giáo dục công dân, Toán,Khoa học, Nghịên cứu môi trường, Âm nhạc, Vẽ, Thủ công, Đồ họa, Kinh tế giađình, Giáo dục sức khỏe và thể chất, Ngoại ngữ, Tin học, Giáo dục hướng nghiệp,Giáo dục đạo đức và các hoạt động đặc biệt khác
Với những thay đổi về nội dung, phương pháp học tập theo hướng nêu trên,giáo dục phổ thông nhằm tăng cường năng lực thực tiễn của cá nhân học sinh, cầnthiết cho vai trò của người lao động Theo quan điểm mới về chất lượng nguồn nhânlực, trong tương lai, mỗi công dân cần phải có những kỹ năng đa dạng, phong phúhơn là những kiến thức mà học sẽ quên ngay sau khi thi Những kỹ năng này khôngchỉ được học trong nhà trường, mà còn phải được luyện tập, thực hành hằng ngàytrong cuộc sống Để đạt được mục tiêu này, phải có sự kết hợp chặt chẽ giữa nhàtrường, gia đình và cộng đồng Để học tập trong nhà trường cho kết quả thật sự, họcsinh phải được luyện tập những điều đã học được trong cuộc sống thực tế Kiến thức
sẽ thiết thực đối với học sinh hơn khi được vận dụng trong cuộc sống Đó là điểmthen chốt trong chương trình học tập, tạo hứng thú cho học sinh Việc rèn luyện khảnăng thích ứng của nhân lực đối với sự phát triển “nền văn hóa công nghiệp NhậtBản” trong giáo dục phổ thông Nhà trường phổ thông Nhật Bản rèn luyện khả năngthích ứng cho học sinh qua một số hoạt động như hoạt động nhóm nhỏ và “tinhthần doanh nghiệp Nhật Bản”; giáo dục lòng trung thành của người lao động NhậtBản tương lai trong trường phổ thông; giáo dục quan hệ lãnh đạo trong trường phổthông; hình thành thói quen cần cù, tự giác của người lao động
Trang 16Theo quan điểm của UNESCO: Quan điểm coi học tập là một quá trình liên
tục, kéo dài suốt cả cuộc đời, khiến chúng ta xét lại cả nội dung và cách tổ chứcgiáo dục trung học Đòi hỏi của thị trường lao động tạo ra áp lực dẫn đến số nămhọc có xu hướng tăng lên Trên toàn thế giới, nếu xét về tỷ lệ học sinh đến trường,thì giáo dục trung học có số lượng học sinh tăng nhanh nhất trong hệ thống giáo dụcchính quy Xác định nguyên tắc giáo dục suốt đời, tạo nhiều cơ hội cho người tựhọc, tự đào tạo và tự hoàn thiện sau đã hoàn thành giáo dục cơ sở Ý tưởng về
“quyền được có thời gian học tập” có thể được sử dụng suốt đời và hướng cáchoạch định chính sách tập trung vào các thủ tục cho phép quay trở lại học tập chonhững ai còn trẻ mà việc học hành bị gián đoạn như cấp giấy phép đi học, côngnhận những khả năng đã tiếp thu được, cấp giấy chứng nhận đã theo học cácchương trình không chính quy và công nhận những mối liên hệ liên thông giữa cácloại hình giáo dục khác nhau
Tóm lại, với nguyên tắc giáo dục thường xuyên, giáo dục trung học có thểgắn với phạm vi học suốt đời theo ba nguyên tắc cơ bản: đa dạng hóa các khóa học;phát triển xen kẽ giữa chương trình học và hoạt động nghề nghiệp hoặc xã hội vànghiên cứu cải tiến chất lượng Trong khi giáo dục cơ sở phải đáp ứng nhu cầu họctập thông thường của dân cư, thì giáo dục trung học có nhiệm vụ làm cho tất cả tàinăng của học sinh bộc lộ và nở rộ Nói cách khác, cần phải quan tâm hơn nữa đếnchất lượng và đến việc chuẩn bị cho cuộc sống trong một thế giới biến động nhanh,thường là những thay đổi về công nghệ
Ngày nay, các môn học về lý thuyết về cơ bản thường phục vụ cho việcchuẩn bị cho học sinh vào đại học mà bỏ rơi những người không được học tiếp,không được trang bị những gì cần thiết cho lao động và cuộc sống Việc đa dạnghóa cơ cấu khóa học và chú ý hơn không chỉ nội dung mà cả việc chuẩn bị chocuộc sống lao động là một trong những mục tiêu của mọi cuộc cải cách Dạy kỹthuật và đào tạo nghề nhằm đào tạo ra những kỹ thuật viên trung cấp, thợ lànhnghề Ở các nước đang phát triển, điều này mang ý nghĩa đặc biệt quan trọng vàcần được phát triển
Trang 17Giáo dục trung học là giai đoạn mà thế hệ trẻ lựa chọn cho mình conđường bước vào cuộc sống lao động thật sự Hướng nghiệp tạo điều kiện cho họcsinh lựa chọn một trong nhiều con đường khác nhau Các hệ thống giáo dục cầnphải được thiết kế dù linh hoạt để tính đến sự khác biệt cá nhân trong việc tổ chứccác mô hình học tập, tạo cầu nối cho những người bị gián đoạn học tập có thể trởlại học theo hình thức chính quy Việc lựa chọn con đường riêng biệt của giáo dụcnghề hay giáo dục phổ thông cần phải dựa trên những đánh giá thận trọng về điểmmạnh và điểm yếu của học sinh Nói cách khác, hướng nghiệp đòi hỏi sự đánh giádựa trên việc kết hợp những tiêu chí về giáo dục và dự báo về nhân cách tương lai.Nhà trường phải có khả năng vẽ lên một bức tranh rõ nét nhất về khả năng củamỗi học sinh Vì vậy, cần phải có những nhà tư vấn hướng nghiệp chuyên môn đểgiúp học sinh lựa chọn khóa học thích hợp (có tính đến nhu cầu của thị trường laođộng), dự báo những khó khăn trong học tập và giúp giải quyết những vấn đề xãhội khi cần thiết.
1.1.2 Ở Việt Nam
So với các nước trên thể giới thì GDHN ở nước ta còn mới mẻ cả về lýthuyết và trong hoạt động thực tiễn, nhưng vấn đề này đã được nhiều nhà nghiêncứu quan tâm và đề cập tới ở những góc độ khác nhau Tư tưởng “giáo dục nhàtrường gắn với thực tiễn xã hội, học tập gắn với định hướng phát triển nghề nghiệp”được đặt ra ở Việt nam ngay từ sau ngày thành lập nước Việt nam Dân chủ cộnghòa và thành lập nền giáo dục dân chủ nhân dân
Những năm 60 của thế kỷ XX, ở Việt Nam, lí luận và thực tiễn hướng nghiệpđược bắt đầu phát triển chủ yếu dựa trên cơ sở lí luận và kinh nghiệm thực tiễnhướng nghiệp của Liên Xô ( cũ) Thời kỳ đầu, quan niệm hướng nghiệp đi đôi vớigiáo dục lao động, để định hướng nghề nghiệp cho HS trước hết cần giáo dục cho
HS thái độ sẵn sàng bước vào các hoạt động hướng nghiệp Quan điểm này thể hiện
rõ trong cuốn “ Một số vấn đề giáo dục lao động” [17]
Từ năm 1975 - 1980 Viện Khoa học Giáo dục Bộ Giáo dục nay là BộGD&ĐT đã thực nghiệm để đưa công tác hướng nghiệp vào trường phổ thông Vào
Trang 18đầu những năm 80 của thế kỉ XX phải kể đến sự đóng góp của các tác giả như:Phạm Hoàng Gia, Lê Sơn, Phạm Tất Dong, Đặng Danh Ánh đã nêu ra một số cơ sởtâm lý, nội dung của công tác hướng nghiệp Những sản phẩm nghiên cứu của họ là
cơ sở để ngày 19/3/1981, Chính phủ đã ban hành Quyết định số 126/CP về “Côngtác hướng nghiệp trong trường phổ thông và việc sử dụng hợp lý học sinh các cấpphổ thông cơ sở và phổ thông trung học tốt nghiệp ra trường” Quyết định này đãtạo hành lanh pháp lý cho sự phát triển của công tác hướng nghiệp, nhất là hướngnghiệp cho học sinh phổ thông Để triển khai quyết định trên, ngày 17/11/1981 BộGD&ĐT ra thông tư số 31/TT hướng dẫn việc thực hiện quyết định 126/CP cho các
cơ quan quản lý giáo dục, trường phổ thông các cấp và các cơ quan liên ngành
Trong những năm 1983 - 1996, GDHN ở nước ta đã đạt được một số thànhtựu quan trọng, GDHN phát triển rất mạnh mẽ ở hầu hết các trường cấp 2, cấp 3:nhiều trường đã có phòng hướng nghiệp, nhiều lớp đã có góc hướng nghiệp, nhiều
cá nhân có công trình nghiên cứu về hướng nghiệp Tuy nhiên, từ năm 1997, donhiều nguyên nhân khác nhau, vai trò của GDHN dần bị coi nhẹ, việc học nghề của
HS phổ thông ít được quan tâm, dẫn đến tình trạng thừa thầy thiếu thợ ở nước tangày càng nghiêm trọng hơn, ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển nguồn nhânlực trong giai đoạn CNH - HĐH đất nước Nhiều Nghị quyết của Đảng đã nói đếnthực trạng này Từ Đại hội Đảng lần thứ VIII (1996) đến Đại hội Đảng lần thứ XI(2011), Trung ương Đảng luôn nhấn mạnh đến tăng cường công tác hướng nghiệp,đẩy mạnh công tác dạy nghề
Để thực hiện chủ trương của Đảng về công tác hướng nghiệp, ngay từ năm
2002, Bộ GD&ĐT đã cho xây dựng lại chương trình GDHN và viết sách về GDHNcho HS phổ thông từ lớp 9 đến lớp 12 Năm 2002, tại Hà Nội đã tổ chức hội thảo:
“Giáo dục phổ thông và Hướng nghiệp - Nền tảng để phát triển nguồn nhân lực đivào công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước” [29] Có 20 báo cáo, tham luận khoahọc tại hội thảo Các bài tham luận thực sự là những nghiên cứu, tìm tòi, đúc rút,tổng kết có giá trị về lí luận và thực tiễn của giáo dục phổ thông và hướng nghiệp.Đồng thời cũng chỉ ra các giải pháp nhằm làm cho GDHN và giáo dục phổ thông
Trang 19phục vụ tốt cho việc chuẩn bị nguồn nhân lực trong thời kì CNH-HĐH và hội nhậpquốc tế.
Ngày 23/7/2003, Bộ trưởng Bộ GD&ĐT có chỉ thị số BGD&ĐT “Về việc tăng cường giáo dục hướng nghiệp cho học sinh phổ thông” vàtiếp theo đó trong phương hướng nhiệm vụ từng năm học, GDHN được quan tâmchỉ đạo Quyết định số 16/2006/QĐ-BGD&ĐT ngày 05/6/2006 cũng đề cập về việcban hành chương trình giáo dục phổ thông và trong đó có chương trình chuẩn củahoạt động GDHN Như vậy, GDHN lại được chính thức có trong kế hoạch giáo dục
33/2003/CT-ở bậc THCS, THPT và được triển khai đại trà 33/2003/CT-ở lớp 9 và lớp 10 trong cả nước kể từnăm học 2006- 2007
Ngày 11/1/2005, Khoa Sư phạm - Đại học Quốc gia Hà Nội phối hợp vớiViện nghiên cứu Quốc gia về lao động và hướng nghiệp - Cộng hoà Pháp đã tổ chứcHội thảo khoa học quốc tế về GDHN với chủ đề: “Đối thoại Pháp -Á về các vấn đề
và hướng đi cho giáo dục hướng nghiệp tại Việt Nam” Trong hội thảo, nhiều thamluận của các nhà khoa học trong và ngoài nước đã trình bày sâu các nội dung,hướng đi cần thiết để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ GDHN của nước nhà
Trong những năm gần đây, một số nhà nghiên cứu như Đặng Danh Ánh,Phạm Tất Dong, Quang Dương, Nguyễn Văn Hộ, đã đề cập đến nhiều khía cạnhtrong công tác QLGDHN cho học sinh THPT Một số công trình nghiên cứu vềcông tác GDHN ở cấp Bộ như: Đề tài cấp Bộ năm 2005: “Những giải pháp triểnkhai thực hiện tổ chức giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học phổ thông khuvực miền núi Đông Bắc Việt Nam trong thời kì công nghiệp hoá - hiện đại hoá” củatác giả Nguyễn Thị Thanh Huyền thuộc Đại học sư phạm Thái Nguyên Đề tàinghiên cứu cấp Bộ năm 2009: “Tham vấn hướng nghiệp cho học sinh trung học phổthông - Thực trạng ở Việt Nam và kinh nghiệm Quốc tế” do Lê Thị Thanh Hươnglàm chủ nhiệm
Kế thừa những nghiên cứu lý luận này đã có một số công trình nghiên cứucủa các học viên về công tác GDHN cho học sinh THPT Tác giả Bùi Việt Phú(2003): “Tổ chức giáo dục hướng nghiệp cho học sinh phổ thông theo tinh thần xã
Trang 20hội hoá”- Luận án tiến sĩ Khoa học giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội; Tác giảPhạm Văn Liêm (2004): “Một số biện pháp quản lý công tác giáo dục hướng nghiệpcho học sinh phổ thông trung học tại Trung tâm Kỹ thuật tổng hợp - Hướng nghiệp
số 3 Hà Nội” - Luận văn thạc sỹ Khoa học giáo dục, Đại học Sư phạm Hà Nội; Tácgiả Nguyễn Thế Tuân (2008): “Biện pháp quản lý công tác giáo dục hướng nghiệpcho học sinh trung học phổ thông tại Trung tâm Kỹ thuật tổng hợp - Hướng nghiệpBắc Ninh” - Luận văn thạc sỹ Khoa học giáo dục, Đại học sư phạm Hà Nội; Tác giảCao Văn Nguyên (2008): “Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp củaHiệu trưởng các trường Trung học phổ thông huyện Thiệu Hoá - Tỉnh Thanh Hoá” -Luận văn thạc sỹ Khoa học giáo dục, Đại học sư phạm Hà Nội; Tác giả NguyễnHữu Văn (2008): “Biện pháp quản lý giáo dục hướng nghiệp của Hiệu trưởng cáctrường Trung học phổ thông tỉnh Hậu Giang” - Luận văn thạc sỹ Khoa học giáodục, Đại học sư phạm Hà Nội
Trong Dự thảo Đổi mới chương trình giáo dục phổ thông sau 2015, Nhiệm
vụ cơ bản của bậc THPT là Giáo dục định hướng nghề nghiệp cho học sinh Chính
vì vậy, nhiệm vụ này đã chi phối định hướng, cách thức xây dựng nội dung giáodục, chương trình giáo dục và tổ chức triển khai chương trình
Tóm lại, trên lĩnh vực GDHN cho học sinh THPT, nhìn chung các công trìnhcủa các tác giả đều tập trung vào cơ sở lý thuyết và thực tiễn của công tác hướngnghiệp với mục đích, ý nghĩa, nội dung, hình thức hướng nghiệp cho học sinh phổthông Riêng về khía cạnh QLGDHN thì có rất ít công trình nghiên cứu về vấn đềnày và những biện pháp đưa ra phù hợp với địa bàn của địa phương nơi họ công tác.Hiện tại, ở trường THPT Búng Lao, huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên chưa cócông trình nào nghiên cứu về quản lý GDHN
1.2 Một số khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1 Quản lý giáo dục
Giáo dục và QLGD là sự tồn tại song hành Nếu nói giáo dục là hiện tượng
XH tồn tại lâu dài cùng với XH loài người thì cũng có thể nói như thế về QLGD
Theo tác giả Trần Kiểm, khái niệm “ Quản lý giáo dục” có nhiều cấp độ Ítnhất có hai cấp độ chủ yếu: cấp vĩ mô và cấp vi mô
Trang 21Ở cấp vĩ mô: QLGD được hiểu là những tác động tự giác (có ý thức, có mục
đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tất cả các mócxích của hệ thống (từ cấp độ cao nhất đến các cơ sở giáo dục là nhà trường) nhằmthực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ
mà XH đã đặt ra cho ngành giáo dục
QLGD là sự tác động liên tục, có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản
lý lên hệ thống giáo dục nhằm tạo ra tính trồi của hệ thống; sử dụng một cách tối
ưu các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống nhằm đưa hệ thống đến mục tiêu mộtcách tốt nhất trong điều kiện bảo đảm sự cân bằng với môi trường bên ngoài luônbiến động
Cũng có thể định nghĩa QLGD là hoạt động tự giác của chủ thể quản lýnhằm huy động, tổ chức, điều phối, điều chỉnh, giám sát, một cách có hiệu quảnguồn lực giáo dục (nhân lực, vật lực, tài lực, thông tin, thời gian) phục vụ cho mụctiêu phát triển giáo dục, đáp ứng yêu cầu phát triển KT-XH
Ở cấp độ vi mô: QLGD được hiểu là hệ thống những tác động tự giác (có ý
thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đếntập thể GV, công nhân viên, tập thể HS, CMHS và các lực lượng XH trong vàngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục củanhà trường
Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quan làđiều hành, phối hợp các lực lượng nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thể hệ trẻ theoyêu cầu phát triển của xã hội Ngày nay, với sứ mệnh phát triển giáo dục thườngxuyên, công tác giáo dục không chỉ giới hạn ở thế hệ trẻ mà cho mọi người Chonên, quản lý giáo dục được hiểu là sự điều hành hệ thống giáo dục quốc dân”.[4,31]
Theo tác giả Trần Kiểm: “Quản lý giáo dục thực chất là những tác động củachủ thể quản lý vào quá trình giáo dục (được tiến hành bởi tập thể giáo viên và họcsinh, với sự hỗ trợ đắc lực của các lực lượng xã hội) nhằm hình thành và phát triểntoàn diện nhân cách học sinh theo mục tiêu đào tạo của nhà trường” [30,38]
Trang 22Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý giáo dục là một hệ thống tácđộng có mục đích, có kế hoạch hợp quy luật của chủ thể quản lý, nhằm làm cho hệvận hành theo đường lối và nguyên lí giáo dục của Đảng, thực hiện được các tínhchất của nhà trường Xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạyhọc, giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ thống giáo dục đến mục tiêu dự kiến, tiến lên trạngthái mới về chất” [38,35].
Như vậy dù theo tác giả nào thì khái niệm QLGD cũng đều chứa đựng cácnhân tố đặc trưng bản chất như: Phải có chủ thể quản lý giáo dục, ở tầm vĩ mô làquản lý của Nhà nước mà cơ quan quản lý trực tiếp là Bộ, Sở, Phòng giáo dục, còn
ở tầm vi mô là quản lý của Hiệu trưởng nhà trường; Phải có hệ thống tác động quản
lý theo nội dung, chương trình kế hoạch thống nhất từ Trung ương đến địa phươngnhằm thực hiện mục đích giáo dục trong mỗi giai đoạn cụ thể của XH; Phải có mộtlực lượng đông đảo của XH những người làm công tác giáo dục cùng với hệ thống
cơ sở vật chất kĩ thuật tương ứng
Từ các quan niệm trên ta có thể hiểu: Quản lý giáo dục là hoạt động điều
hành, phối hợp các lực lượng giáo dục và hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội.
1.2.2 Quản lý nhà trường
Vấn đề cơ bản của QLGD là quản lý nhà trường, vì nhà trường là cơ sở giáodục, nơi tổ chức thực hiện mục tiêu giáo dục Nó là tế bào căn bản của bất cứ hệthống giáo dục ở cấp nào
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý nhà trường là tập hợp những tácđộng tối ưu của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, học sinh và cán bộ khác,nhằm tận dụng các nguồn dự trữ do nhà nước đầu tư, lực lượng xã hội đóng góp và
do lao động xây dựng vốn tự có Hướng vào việc đẩy mạnh mọi hoạt động của nhàtrường mà điểm hội tụ là quá trình đào tạo thế hệ trẻ Thực hiện có chất lượng mụctiêu và kế hoạch đào tạo, đưa nhà trường tiến lên trạng thái mới”.[38]
Tác giả Phạm Viết Vượng: “Quản lý trường học là lao động của các cơ quanquản lý nhằm tập hợp và tổ chức lao động của giáo viên, học sinh và các lực lượng
Trang 23giáo dục khác, cũng như huy động tối đa các nguồn lực của giáo dục để nâng caochất lượng giáo dục và đào tạo trong nhà trường” [40,205].
Quản lý nhà trường là quản lý một thiết chế của hệ thống giáo dục quốc dân,
do đó quản lý nhà trường có liên quan hữu cơ với QLGD QLGD gồm hai cấp độ làquản lý cấp vĩ mô và quản lý cấp vi mô Quản lý cấp vĩ mô là quản lý hệ thống giáodục quốc dân trong các cấp từ Trung ương đến địa phương, còn quản lý vi mô làquản lý hoạt động giáo dục của nhà trường Do đó quản lý nhà trường còn có nghĩa
là tổ chức các lực lượng trong và ngoài nhà trường biến các quan điểm, đường lối,chủ trương, chính sách giáo dục của Đảng và Nhà nước thành hiện thực
Như vậy, Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng
trong phạm vi trách nhiệm của mình đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, đối với thế hệ trẻ và đối với từng học sinh.
sự phân công lao động XH, có tính đến hứng thú và năng lực của từng cá nhân
Về phương diện kinh tế học, hướng nghiệp được hiểu là những mối quan hệkinh tế giúp cho mỗi thành viên xã hội phát triển năng lực lao động và đưa họ vàomột lĩnh vực hoạt động cụ thể phù hợp với sự phân bổ lực lượng lao động xã hội
Tháng 10/1980, Hội nghị lần thứ 9 những người đứng đầu cơ quan giáo dụcnghề nghiệp các nước Xã hội chủ nghĩa họp tại La-ha-ba-na thủ đô Cu Ba đã
Trang 24thống nhất khái niệm hướng nghiệp như sau: “Hướng nghiệp là những biện phápdựa trên cơ sở tâm lý học, sinh lý học, y học và nhiều khoa học khác để giúp đỡhọc sinh chọn nghề phù hợp với nhu cầu xã hội, đồng thời thoả mãn tối đa nguyệnvọng, thích hợp với những năng lực, sở trường và tâm sinh lý cá nhân, nhằm mụcđích phân bố hợp lý và sử dụng có hiệu quả lực lượng lao động dự trữ có sẵn củađất nước”.
Xét trên bình diện XH, hướng nghiệp là hệ thống tác động của xã hội vềgiáo dục học, y học, xã hội học, kinh tế học, nhằm giúp cho thế hệ trẻ chọn đượcnghề vừa phù hợp với hứng thú, năng lực, nguyện vọng, sở trường của cá nhân, vừađáp ứng được nhu cầu nguồn nhân lực của các lĩnh vực sản xuất trong nền kinh tếquốc dân
Xét trên bình diện trường phổ thông, hướng nghiệp là một hình thức hoạtđộng dạy của thầy và hoạt động học của trò Với tư cách là hoạt động dạy của thầy,hướng nghiệp được coi như là công việc của tập thể GV, tập thể sư phạm có mụcđích giáo dục HS trong việc chọn nghề, giúp các em tự quyết định nghề nghiệptương lai trên cơ sở phân tích khoa học về năng lực, hứng thú của bản thân và nhucầu nhân lực của các ngành sản xuất trong XH Như vậy, hướng nghiệp trongtrường phổ thông được thể hiện như một hệ thống tác động sư phạm nhằm giúp cho
HS chọn nghề phù hợp với nhu cầu XH, đồng thời thoả mãn tối đa nguyện vọng,thích hợp với năng lực, sở trường và điều kiện tâm sinh lý cá nhân cũng như điềukiện gia đình để người học có thể phát triển đến đỉnh cao của nghề nghiệp, cốnghiến cho XH, tạo lập cuộc sống tốt đẹp cho bản thân
Từ các khái niệm trên, có thể hiểu: Hướng nghiệp là quá trình hướng dẫnchọn nghề, quá trình chuẩn bị cho thế hệ trẻ đi vào LĐSX; hướng nghiệp là một hệthống biện pháp tác động của gia đình, nhà trường và xã hội, trong đó nhà trườngđóng vai trò chủ đạo nhằm hướng dẫn và chuẩn bị cho thế hệ trẻ sẵn sàng đi vào laođộng ở các ngành nghề tại những nơi xã hội đang cần phát triển, đồng thời lại phùhợp với hứng thú, năng lực cá nhân
Trang 251.2.4 Giáo dục hướng nghiệp
Có nhiều khái niệm khác nhau về GDHN với các tiêu chí, mục tiêu quan sát
và góc độ chuyên môn khác nhau
Theo tác giả Đặng Danh Ánh quan niệm: “Giáo dục hướng nghiệp là mộthoạt động của tập thể sư phạm, của cán bộ các cơ quan nhà máy khác nhau, đượctiến hành với mục đích giúp học sinh chọn nghề đúng đắn với năng lực, thể lực vàtâm lý của cá nhân với nhu cầu kinh tế xã hội Giáo dục hướng nghiệp là một bộphận cấu thành quá trình giáo dục - học tập trong nhà trường” [1,27]
Theo tác giả Nguyễn Trọng Bảo: “Giáo dục hướng nghiệp là một hệ thốngcác biện pháp giáo dục nhằm chuẩn bị cho học sinh sớm có ý thức chọn ngành,nghề vừa phù hợp với nguyện vọng cá nhân vừa phù hợp với phân công lao động xãhội ngay từ khi còn học ở trường phổ thông”.[6,29]
Như vậy, GDHN là một hệ thống các biện pháp giáo dục của nhà trường, giađình và xã hội, nhằm dẫn dắt thế hệ trẻ đi vào thế giới nghề nghiệp, giúp cho các em
có định hướng đúng trong việc lựa chọn nghề phù hợp với nguyện vọng, sở trườngcủa bản thân, đáp ứng được nhu cầu nhân lực của xã hội đang đặt ra Đồng thời,giúp các em phát huy hết năng lực của mình với nghề đã chọn
Để nâng cao hiệu quả của GDHN trong giai đoạn hiện nay ngoài việc đảmbảo các nguyên tắc trên của GDHN, ta còn phải quán triệt các yêu cầu sau đây:
- GDHN góp phần điều chỉnh việc chọn nghề cho thanh thiếu niên theo hướngchuyển đổi cơ cấu kinh tế: GDHN phải thông tin chính xác về yêu cầu chuyển dịch
cơ cấu kinh tế để thế hệ trẻ có cơ sở cân nhắc hướng chọn nghề của mình
- GDHN phải có tác động giáo dục ý thức chính trị và lý tưởng nghề nghiệp
- GDHN gắn với làm chủ công nghệ mới
- GDHN chuẩn bị con người năng động thích ứng với thị trường nguồn nhânlực
1.2.5 Quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp
GDPT là một tiểu hệ thống trong hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam Hệthống này có một vai trò và vị trí rất quan trọng trong quá trình giáo dục hình thành
Trang 26nhân cách con người Việt Nam mới Cơ sở GDPT gồm trường tiểu học, trườngTHCS, trường THPT, trường phổ thông nhiều cấp, trung tâm KTTH - HN Mục tiêugiáo dục ở trường THPT đã được Luật giáo dục 2009 của nước Cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam nêu lên ở điều 27: “Giúp học sinh củng cố và phát triển những kết
quả của giáo dục THCS, hoàn thiện học vấn phổ thông và có những hiểu biết thông thường về kỹ thuật và hướng nghiệp, có điều kiện phát huy năng lực cá nhân để lựa chọn hướng phát triển, tiếp tục học đại học, cao đẳng, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động [20]
Hướng nghiệp ở trường phổ thông là bước khởi đầu quan trọng trong quátrình xây dựng, tạo nguồn nhân lực Vì vậy, quản lý GDHN ở trường THPT tronggiai đoạn hiện nay là quản lý các thành tố và mối quan hệ giữa các thành tố cấu trúccủa quá trình GDHN nhằm đạt mục tiêu GDHN Các thành tố và mối quan hệ nàyđược biểu diễn bằng Hình 1.1 sau đây:
Hình 1.1: Mối quan hệ giữa các thành tố cấu trúc của quá trình GDHN
Phương pháp GDHN GGDGDHN Phương tiện GDHN
Môi trường xã hội Lực lượng GDHN Môi trường tự nhiên Hình thức GDHN Kết quả GDHN
Phương tiện GDHN Phương tiện GDHN
Môi trường xã hội Lực lượng GDHN Môi trường tự nhiên Hình thức GDHN Kết quả GDHN
Lực lượng GDHN Phương tiện GDHN
Môi trường xã hội Lực lượng GDHN Môi trường tự nhiên Hình thức GDHN Kết quả GDHN
Hình thức GDHN Phương tiện GDHN
Môi trường xã hội Lực lượng GDHN Môi trường tự nhiên
Kết quả GDHN Phương tiện GDHN
Môi trường xã hội Lực lượng GDHN Môi
xã hội
Mục tiêu GDHN
Trang 271.2.6 Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp
Biện pháp là cách làm, cách giải quyết một vấn đề cụ thể Biện pháp hànhchính; Biện pháp kĩ thuật Có biện pháp đúng
Biện pháp quản lý là cách làm, cách thực hiện tiến hành giải quyết một côngviệc, hợp qui luật của chủ thể quản lý tác động đến đối tượng quản lý để điều khiển,hướng dẫn các hành vi của đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu quản lý
Biện pháp quản lý hoạt động GDHN được hiểu: là những tác động có mụcđích, có kế hoạch của chủ thể quản lý giáo dục đến đối tượng quản lý trong công tácGDHN nhằm đạt mục tiêu GDHN đã đề ra
1.3 Giáo dục hướng nghiệp trong trường trung học phổ thông
1.3.1 Vị trí của trường trung học phổ thông trong hệ thống giáo dục quốc dân
Hệ thống giáo dục quốc dân là một chỉnh thể thống nhất với đầy đủ các cấphọc và trình độ đào tạo từ mầm non đến sau đại học, đa dạng về loại hình, phươngthức và nguồn lực Hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam bao gồm giáo dục mầmnon, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp, giáo dục ĐH và giáo dục thườngxuyên Trong đó giáo dục phổ thông gồm có giáo dục Tiểu học, giáo dục THCS vàgiáo dục THPT
Nhà trường trong hệ thống giáo dục quốc dân được thành lập theo quyhoạch, kế hoạch của Nhà nước nhằm phát triển sự nghiệp giáo dục và được tổ chứctheo các loại hình công lập, dân lập, tư thục, chịu sự quản lý Nhà nước của các cơquan QLGD theo sự phân công, phân cấp của Chính phủ; được tổ chức và hoạtđộng theo quy định của Luật giáo dục và Điều lệ nhà trường
Trường THPT là cơ sở giáo dục cấp THPT, cấp học cuối cùng của bậc phổthông, là cấp học bắt buộc đối với mọi trẻ em từ 15 đến 24 tuổi
Trong Điều lệ trường phổ thông, điều 2 đã quy định vị trí của trường trunghọc trong hệ thống giáo dục quốc dân: “Trường trung học là cơ sở giáo dục phổthông của hệ thống giáo dục quốc dân Trường có tư cách pháp nhân và con dấuriêng” [9,10]
Trang 28Trường THPT nằm trong hệ thống giáo dục quốc dân, do đó, nội dung giáodục phải đảm bảo tính phổ thông, cơ bản, nền tảng, toàn diện và hệ thống; làm cơ sởcho việc phát triển hài hoà, toàn diện nhân cách của học sinh, đáp ứng mục tiêu giáodục phổ thông.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung ương khóa XI (Nghịquyết số 29-NQ/TW) với nội dung Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo,đáp ứng yêu cầu CNH - HĐH trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hộichủ nghĩa và hội nhập quốc tế Đối với giáo dục phổ thông, tập trung phát triển trítuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năngkhiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh Nâng cao chất lượng giáo dục toàndiện, chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tinhọc, năng lực và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn Phát triểnkhả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời
Hoàn thành việc xây dựng chương trình giáo dục phổ thông giai đoạn saunăm 2015 Bảo đảm cho học sinh có trình độ trung học cơ sở (hết lớp 9) có tri thứcphổ thông nền tảng, đáp ứng yêu cầu phân luồng mạnh sau trung học cơ sở; trunghọc phổ thông phải tiếp cận nghề nghiệp và chuẩn bị cho giai đoạn học sau phổthông có chất lượng Nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục, thực hiện giáo dục bắtbuộc 9 năm từ sau năm 2020 Phấn đấu đến năm 2020, có 80% thanh niên trong độtuổi đạt trình độ giáo dục trung học phổ thông và tương đương
1.3.2 Ý nghĩa của giáo dục hướng nghiệp ở trường trung học phổ thông
1.3.2.1 Ý nghĩa giáo dục
Công tác hướng nghiệp là một bộ phận của công tác giáo dục Về phươngdiện này, hướng nghiệp là công việc điều chỉnh động cơ nghề của HS, điều chỉnhhứng thú nghề nghiệp của các em theo xu thế phân công lao động xã hội Kinhnghiệm trong và ngoài nước cho thấy rằng, sự chọn nghề một cách tự phát củathanh thiếu niên thường không phù hợp với hướng phát triển sản xuất và cơ cấungành, nghề trong xã hội Vì vậy, tác động giáo dục trong quá trình hướng nghiệp
có ý nghĩa rất đặc biệt Kết quả cuối cùng cần đạt là mỗi HS phải tự giác chọn nghề
Trang 29với ý thức đặt lợi ích của sự phát triển sản xuất lên trên những nguyện vọng cánhân Hướng nghiệp với ý nghĩa giáo dục sẽ là một công việc góp phần vào việc cụthể hóa mục tiêu đào tạo của trường phổ thông Trong giai đoạn hiện nay, trườngphổ thông phải đào tạo thế hệ trẻ thành những người lao động trong lĩnh vực nghềnghiệp cụ thể Tốt nghiệp trường phổ thông, HS phải có năng lực tham gia mộtnghề ở địa phương hoặc sẽ tiếp tục học để sau này làm tốt một nghề Như vậy, quátrình HN trong nhà trường không dừng lại ở sự giáo dục ý thức lao động nghềnghiệp chung chung, mà phải hướng HS đi vào nghề nghiệp cụ thể
1.3.2.2 Ý nghĩa kinh tế
Công tác HN luôn hướng vào việc sử dụng hợp lý tiềm năng lao động trẻ tuổicủa đất nước, từ đó, nâng cao năng suất lao động của xã hội Đưa thanh thiếu niênvào đúng vị trí lao động nghề nghiệp, giúp họ phát huy được hết năng lực, sở trườnglao động, phát triển cao những hứng thú nghề nghiệp, làm nảy nở óc sáng tạo tronglao động là việc làm hết sức quan trọng đối với hướng nghiệp Làm như vậy, nghềnghiệp không phải là nơi kiếm sống, mà là nơi thể hiện nhân cách, phát triển tàinăng, cống hiến sức lực và trí tuệ cho công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa và bảo
vệ Tổ quốc Để đảm bảo ý nghĩa kinh tế của hướng nghiệp, trường phổ thông phảigắn mục tiêu đào tạo với những mục tiêu kinh tế - xã hội Sự phát triển kinh tế - xãhội phụ thuộc rất nhiều vào việc chuẩn bị cho thế hệ trẻ đi vào lao động sản xuất, đivào sự phân công lao động trong phạm vi cả nước và từng địa phương Hướngnghiệp có nhiệm vụ quan trọng đối với công việc này, bởi vì thông qua đó, hướngnghiệp là một trong những yếu tố làm đồng bộ hóa đội ngũ lao động nghề nghiệp,phân bố lại lực lượng lao động xã hội, chuyên môn hóa tiềm năng lao động trẻ tuổi
1.3.2.3 Ý nghĩa chính trị
Nếu như nói rằng, hướng nghiệp có tác dụng góp phần làm cụ thể hóa mụctiêu đào tạo của trường phổ thông thì điều đó có nghĩa là, công tác hướng nghiệp cóchức năng thực hiện đường lối giáo dục của Đảng và Nhà nước, hiện thực hóađường lối giáo dục trong đời sống xã hội Ngày nay, cuộc chạy đua về sản xuấtđang diễn ra rất mãnh liệt Trong cuộc chạy đua này, những nước bị tụt lại phần lớn
Trang 30là do không làm tốt công tác đào tạo người lao động, đào tạo một đội ngũ thợ lànhnghề và những cán bộ khoa học, kỹ thuật có trình độ cao, hay nói khác đi, là nhữngnước chưa làm tốt công tác giáo dục Hướng nghiệp phải được coi là điều kiện đảmbảo chất lượng và hiệu quả giáo dục Hướng nghiệp sẽ tạo nên những yếu tố mớitrong con người lao động - yếu tố cơ bản của việc tăng năng suất lao động xã hội.Làm tốt công tác hướng nghiệp, chúng ta sẽ có những lớp người đủ năng lực vàphẩm chất cách mạng để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa Tóm lại,công tác hướng nghiệp có ý nghĩa lớn đối với sự triển khai chiến lược con người -một bộ phận của chiến lược kinh tế, khoa học và công nghệ
1.3.2.4 Ý nghĩa xã hội
Xét ở bình diện xã hội, hướng nghiệp có tác dụng điều chỉnh sự phân cônglao động xã hội, tạo ra sự cân bằng trong việc phân bố lực lượng dân cư Khi xã hộigặp khó khăn trong việc tìm kiếm “công ăn, việc làm” cho thanh, thiếu niên, hướngnghiệp kết hợp chặt chẽ với lao động sản xuất và dạy nghề có tác dụng làm ổn địnhđời sống xã hội: góp phần tạo điều kiện để xã hội sử dụng có hiệu quả lực lượng HSphổ thông ra trường trong lĩnh vực kinh tế, kể cả kinh tế quốc doanh, ngoài kinh tếquốc doanh và kinh tế gia đình Chúng ta biết rằng thanh, thiếu niên không tham gialao động nghề nghiệp, không có việc làm sẽ rất dễ gây ra nhiều tiêu cực cho xã hội.Điều này không chỉ gây lo âu cho người lớn, mà nguy hiểm hơn là tạo ra những thói
hư, tật xấu ở tuổi trẻ, từ đó dẫn đến tình trạng suy thoái nhân cách của lớp ngườimới lớn Hướng dẫn thanh thiếu niên chọn nghề, hình thành ở các em tinh thần yêuthích lao động, thái độ sẵn sàng tham gia sản xuất, đóng góp sức lực, tài trí cho sự
mở mang ngành, nghề, phát triển kinh tế - đó là một nội dung giáo dục rất cơ bảngiúp thế hệ trẻ phấn chấn và tự giác chấp nhận sự phân công lao động xã hội, tinyêu chế độ xã hội chủ nghĩa
1.3.3 Mục đích, chức năng, nhiệm vụ của GD HN trong trường THPT
1.3.3.1 Mục đích của giáo dục hướng nghiệp
Mục đích chung của GDHN là hình thành năng lực tự chủ trong việc lựachọn nghề của HS trên cơ sở của sự phù hợp giữa năng lực, hứng thú, sở thích cá
Trang 31nhân với nhu cầu sử dụng lao động trong các hoạt động đa dạng của đời sống XH.Thực hiện được mục đích nêu trên, GDHN sẽ góp phần nâng cao hiệu quả lao động
XH, điều chỉnh từ gốc sự phân luồng lao động dự trữ trên bình diện cả nước
Đối với trường THPT, mục đích của GDHN là giúp cho HS có được ý thứcnhư là chủ thể trong sự lựa chọn nghề, có định hướng đúng khi chọn nghề dựa trên
cơ sở hiểu biết khoa học về nghề nghiệp, về nhu cầu thị trường lao động XH vànăng lực, sở trường của bản thân
1.3.3.2 Chức năng của giáo dục hướng nghiệp
GDHN là một bộ phận cấu thành của giáo dục phổ thông, góp phần bồidưỡng phẩm chất, đạo đức, ý thức đúng đắn đối với lao động, nâng cao chất lượngdạy và học, tạo ra những cơ sở ban đầu rất quan trọng cho thế hệ trẻ tham gia LĐSX
và đào tạo nghề, đồng thời tạo điều kiện cho HS tiếp xúc với những ngành nghềkhác nhau trong XH, hiểu được nhu cầu sử dụng nhân lực của đất nước, thấy đượcnhững đòi hỏi của nghề Trên cơ sở đó kích thích thế hệ trẻ tự giác tìm hiểu và phấnđấu để vươn tới nghề có dự kiến lựa chọn
Như vậy, GDHN có chức năng chuẩn bị cho HS sẵn sàng đi vào cuộc sốnglao động sản xuất, đó là sẵn sàng về mặt tri thức, tư tưởng tình cảm, kỹ năng hànhđộng và đạo đức, lương tâm nghề nghiệp
1.3.3.3 Nhiệm vụ giáo dục hướng nghiệp ở trường trung học phổ thông
Thi hành Quyết định số 126-CP ngày 19 tháng 3 năm 1981 của Hội đồngChính phủ về công tác hướng nghiệp trong nhà trường phổ thông và việc sử dụnghợp lý học sinh các cấp phổ thông cơ sở và phổ thông trung học tốt nghiệp ratrường Thông tư số 31/TT ngày 17 tháng 11 năm 1981 của Bộ Giáo dục, hướngdẫn về công tác hướng nghiệp trong nhà trường như sau:
Trong nhà trường phổ thông, hướng nghiệp là bộ phận quan trọng của nềngiáo dục phổ thông Thực hiện công tác hướng nghiệp là một yêu cầu cần thiết củacải cách giáo dục nhằm thực hiện mục tiêu nguyên lý và nội dung giáo dục củaĐảng; góp phần tích cực và có hiệu quả vào việc phân công và sử dụng hợp lý họcsinh sau khi tốt nghiệp
Trang 32Công tác hướng nghiệp trong nhà trường phổ thông nhằm mục đích bồidưỡng, hướng dẫn học sinh chọn nghề phù hợp với yêu cầu phát triển của xã hội,đồng thời phù hợp với thể lực và năng khiếu của cá nhân.
Nhằm mục đích đó, công tác hướng nghiệp trong nhà trường phổ thông cócác nhiệm vụ sau:Giáo dục thái độ lao động và ý thức đúng đắn về nghề nghiệp;Tổchức cho học sinh thực tập, làm quen với một số nghề chủ yếu trong xã hội và cácnghề truyền thống của địa phương; Tìm hiểu năng khiếu, khuynh hướng nghềnghiệp của từng học sinh để khuyến khích, hướng dẫn và bồi dưỡng khả năng nghềnghiệp thích hợp nhất; Động viên hướng dẫn học sinh đi vào những nghề, nhữngnơi đang cần lao động trẻ tuổi có văn hoá
Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, nhà trường cần quán triệt các yêu cầu sau:
- Hướng nghiệp dựa trên cơ sở giáo dục kỹ thuật tổng hợp và giáo dục toàn diện
- Hướng nghiệp phải căn cứ vào phương hướng phát triển kinh tế, văn hoá vànhu cầu sử dụng nguồn lao động dự trữ của đất nước và địa phương;
- Mức độ nội dung, hình thức và phương pháp hướng nghiệp phải phù hợpvới đặc điểm của học sinh (sức khoẻ, lứa tuổi, trình độ học tập, xu hướng v.v )
1.3.4 Nội dung của giáo dục hướng nghiệp trong trường trung học phổ thông
1.3.4.1 Định hướng nghề nghiệp
Công việc chủ yếu của định hướng nghề trong trường THPT gồm những nộidung: Thông tin cho HS biết về đặc điểm hoạt động và yêu cầu phát triển của cácnghề trong xã hội; Thông tin về nhu cầu nguồn nhân lực
- Định hướng sự chú ý của HS vào những ngành, nghề hay lĩnh vực KT-XH
mà Nhà nước, địa phương đang cần phát triển
- Kích thích hứng thú của học sinh tìm hiểu về các ngành, nghề trong xã hội
- Giúp HS có thái độ đúng đắn đối với nghề nghiệp, từng bước xóa bỏ nhữngquan niệm sai về nghề nghiệp trong XH
- Giáo dục HS tự giác lao động nhằm tự đánh giá và kiểm nghiệm hứng thúcủa bản thân đối với một dạng lao động nhất định
Trang 331.3.4.2 Tư vấn nghề
Tư vấn nghề là hệ thống các biện pháp tâm lý - giáo dục và y học nhằm pháthiện và đánh giá nhân cách của học sinh, giúp các em chọn nghề trên cơ sở khoahọc Tư vấn nghề là mảng thứ hai giúp cho HS định hướng nghề, bao gồm các hoạtđộng chính
- Cung cấp cho HS những vấn đề liên quan đến nghề nghiệp: Thế giới nghềnghiệp; hệ thống trường chuyên nghiệp; sự phù hợp nghề và cách thức tự xác lập sựphù hợp nghề theo các tiêu chí: hứng thú với nghề, có năng lực làm việc với nghề
và đặc điểm tâm sinh lý phù hợp với tính chất, đặc điểm của lao động nghề nghiệp
- Tìm hiểu nguyện vọng, khuynh hướng, hứng thú nghề nghiệp của HS
- Tìm hiểu toàn diện nhân cách HS
- So sánh, đối chiếu kết quả khảo sát và nguyện vọng của HS với yêu cầu củanghề; Cho HS lời khuyên về lựa chọn nghề
1.3.4.3 Tuyển chọn nghề
Tuyển chọn nghề là quá trình đánh giá sự phù hợp ban đầu về phẩm chất,nhân cách, năng lực của cá nhân đối với những yêu cầu do nghề đặt ra Để thực hiệnnội dung này trường THPT phải cung cấp tư liệu về đặc điểm nhân cách của từng
HS khi ra trường, góp ý cho việc tuyển sinh vào các trường đào tạo nghề, tuyểnchọn người lao động vào các lĩnh vực kinh tế được thuận lợi, chính xác
Trong trường THPT, GDHN chủ yếu là định hướng nghề nghiệp và mộtphần tư vấn nghề, việc tuyển chọn nghề không thuộc chức năng của trường THPTnhưng có liên quan với công việc định hướng, tư vấn nghề nghiệp Tuyển chọnnghề và thích ứng nghề được tiến hành thông qua quá trình người lao động tham giavào làm việc tại các cơ quan, xí nghiệp, nhà máy Thông qua đó, người lao động cóthể tự quyết định nghề nghiệp tương lai của mình
1.3.5 Các con đường giáo dục hướng nghiệp trong trường trung học phổ thông
1.3.5.1 Hướng nghiệp qua dạy - học các môn văn hóa
Trang 34Quá trình lĩnh hội kiến thức nằm trong các bộ môn khoa học cơ bản là mộttrong những con đường hình thành, phát triển khuynh hướng, sở trường của HS.Người GV khi truyền thụ cho HS hệ thống các kiến thức phổ thông còn có nhiệm
vụ chỉ rõ ý nghĩa của những kiến thức này đối với việc nắm vững các nghề nghiệpphổ biến và quan trọng của nền kinh tế quốc dân Bản thân những kiến thức trongcác môn học mà HS lĩnh hội sẽ tạo thành nền móng cho sự tiếp thu kiến thức nghềnghiệp bởi lẽ đó là hệ thống tri thức cơ bản, chung nhất, được tất cả các ngành nghềlấy đó làm điểm tựa để bồi dần tri thức chuyên ngành cho giai đoạn tiếp theo
Hướng nghiệp qua các môn học có tác dụng góp phần nâng cao chất lượnghọc tập, lôi cuốn thế hệ trẻ vào thế giới nghề nghiệp nhằm tìm hiểu và dự kiến chobản thân nghề nghiệp trong tương lai Môn học nào cũng có khả năng hướng nghiệpcho HS, mỗi môn học có vị trí và tầm quan trọng khác nhau, có quan hệ với nhữngngành nghề có liên quan đến môn học đó Đây là việc làm khó khăn nhưng để cókết quả trước hết phải dạy tốt kiến thức cơ bản và tùy đặc trưng của từng bộ mônchỉ rõ cho HS những kĩ năng, tri thức của bộ môn nói chung, từng bài nói riêng và
có thể vận dụng như thế nào vào đối tượng lao động, mục đích, công cụ, điều kiệnlao động của những nghề xác định, qua đó giáo dục tư tưởng, tình cảm, đạo đức, tácphong nghề nghiệp cho HS
1.3.5.2 Hướng nghiệp qua dạy - học môn Công nghệ, dạy nghề phổ thông và hoạt động lao động sản xuất
Chương trình môn Công nghệ ở bậc THPT tập trung vào các lĩnh vực Nông Lâm - Ngư nghiệp, tạo lập doanh nghiệp và công nghiệp Với tư cách là môn khoahọc ứng dụng, môn Công nghệ góp phần nâng cao hiệu quả GDHN thông qua việccung cấp cho HS những nguyên lý chung của các quá trình sản xuất chủ yếu, củng
-cố những nguyên lý khoa học và làm cho HS hiểu được những ứng dụng của chúngtrong sản xuất, trong các dạng hoạt động nghề nghiệp khác nhau Môn Công nghệđược coi là một phương tiện quan trọng trong việc chuẩn bị kĩ năng, kĩ xảo nghềcho HS, là môi trường tạo ra sự thích ứng cần thiết trong việc tiếp cận với hoạt độngnghề nghiệp
Trang 35Hoạt động LĐSX và dạy nghề phổ thông nhằm tạo điều kiện gắn lý luận vớithực tiễn Hướng nghiệp qua hoạt động LĐSX và dạy nghề trước hết làm cho HShiểu rõ vai trò hoạt động có ý thức của con người trong sự phát triển XH Đồng thờilàm cho HS hiểu rõ tác dụng to lớn của khoa học kỹ thuật trong việc đấu tranh,chinh phục và cải tạo tự nhiên.
Qua việc dạy nghề phổ thông, HS có điều kiện tìm hiểu một cách hệ thốngvai trò, nhiệm vụ, tính chất, đặc điểm hoạt động nghề, yêu cầu nghề nghiệp, trên cơ
sở đó bồi dưỡng phẩm chất đạo đức nghề nghiệp, phát triển hứng thú nghề nghiệp.Dạy nghề phổ thông nhằm chuẩn bị cho HS một số kĩ năng lao động về những lĩnhvực nghề phù hợp với lứa tuổi HS và là hoạt động mang tính chất GDHN cho HSphổ thông
Hoạt động LĐSX không chỉ đơn thuần là tổ chức cho HS tham gia lao động
mà có nhiệm vụ chủ yếu là cung cấp cho HS kiến thức, rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo vềlao động và giáo dục thái độ lao động Thông qua đó, hình thành và phát triển nhâncách cho HS, giúp HS có đủ năng lực và phẩm chất, sẵn sàng về tâm thế để thamgia vào cuộc sống lao động sau khi rời ghế nhà trường
1.3.5.3 Hướng nghiệp qua hoạt động giáo dục hướng nghiệp
Hoạt động GDHN được đưa vào chương trình giáo dục phổ thông trên qui
mô toàn quốc và được tổ chức theo các chủ đề từ năm học 2006 - 2007 với thờilượng 27 tiết/lớp/năm học đối với các lớp cấp THPT; đến năm học 2008 - 2009 theocông văn hướng dẫn số 7475/BGDĐT-GDTrH về hướng dẫn nhiệm vụ giáo dụctrung học của Bộ GD&ĐT sau khi tích hợp đưa sang giảng dạy ở môn Công nghệ
và tích hợp đưa sang môn Hoạt động GD ngoài giờ lên lớp thì môn hoạt độngGDHN còn 9 tiết/lớp/năm học với cả 3 khối lớp và thực hiện 3 buổi/năm học, mỗibuổi 3 tiết Việc đưa hoạt động GDHN vào trường phổ thông đã có tác động tíchcực đến việc định hướng nghề nghiệp của học sinh cuối cấp THPT
Đây là con đường hướng nghiệp chính và có tầm quan trọng đặc biệt ở trongnhà trường vì:
- Cung cấp cho HS những thông tin nghề nghiệp, hệ thống đào tạo và thịtrường lao động một cách có hệ thống, có chủ đích
Trang 36- HS biết được về năng lực cá nhân, điều kiện và truyền thống gia đình đểđịnh hướng lựa chọn nghề trong thế giới nghề nghiệp, chọn hướng đi sau khi tốtnghiệp một cách có ý thức, có cơ sở khoa học.
1.3.5.4 Hướng nghiệp qua hoạt động tham quan, ngoại khóa trong và ngoài nhà trường.
Hoạt động ngoại khóa rất phong phú, đa dạng và có tính chất đa mục tiêu,nên bằng các hoạt động ngoại khóa chúng ta hướng nghiệp cho HS Có nhiều hìnhthức hoạt động ngoại khóa về hướng nghiệp ở trong và ngoài nhà trường như: Tổchức cho HS xem phim, xem kịch, đọc sách báo, nghe đài, giới thiệu sách để tìmhiểu đặc điểm và yêu cầu của các nghề đang cần phát triển; Tổ chức cho HS thamgia các trò chơi hướng nghiệp giúp các em làm quen dần với hoạt động nghề nghiệpcủa XH; Tổ chức cho HS tham quan các cơ sở sản xuất, các trường học nghề; Phốihợp với Đoàn thanh niên tổ chức các buổi tọa đàm, diễn đàn về lựa chọn nghềnghiệp; Tổ chức các buổi gặp gỡ, trao đổi về nghề nghiệp với những điển hình,những gương vượt khó nhưng thành đạt trong các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh,học tập; Động viên HS tích cực tham gia hoạt động hướng nghiệp của các cơ sởgiáo dục ở ngoài nhà trường tổ chức
1.4 Nội dung quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp của trường THPT
1.4.1 Nâng cao nhận thức về giáo dục hướng nghiệp
GDHN là một hoạt động giáo dục trong nhà trường, tuy nhiên với hoạt độnggiáo dục này, có nhiều cách nghĩ khác nhau, có những quan điểm trái ngược nhau.Như vậy, vấn đề nhận thức tư tưởng là vấn đề quan trọng GDHN trong trườngTHPT muốn đạt hiệu quả thì Hiệu trưởng cần có những biện pháp tốt nhất để tăngcường nâng cao nhận thức cho cán bộ, GV, HS, CMHS và các lực lượng bên ngoàinhà trường về vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ và sự cần thiết của GDHN đối vớiviệc phát triển nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu phát triển KT-XH của địa phương,đất nước
1.4.2 Xây dựng kế hoạch giáo dục hướng nghiệp
Những căn cứ để xây dựng kế hoạch
Trang 37- Mục tiêu chung của GDHN ở trường THPT là nhằm phát hiện và bồi dưỡngphẩm chất nhân cách nghề nghiệp cho HS, giúp học sinh hiểu mình, hiểu yêu cầucủa nghề; định hướng cho học sinh đi vào những lĩnh vực mà XH đang có yêu cầu.
- Tình hình giảng dạy và nội dung chương trình các môn học trong nhàtrường, các chủ trương công tác trọng tâm và nhiệm vụ chính trị của địa phương.Điều tra cơ bản khả năng của GV và các lực lượng ngoài nhà trường hỗ trợ chocông tác GDHN
- Điều kiện KT-XH của địa phương và cơ sở vật chất của nhà trường để xâydựng kế hoạch GDHN mang tính khả thi
- Văn bản hướng dẫn của Bộ GD&ĐT về GDHN, trên cơ sở đó đề ra kếhoạch cho sát hợp
- Đặc điểm sinh lý, tính cách, lứa tuổi, dân tộc
Xây dựng kế hoạch
- Xây dựng kế hoạch cần xác định rõ: Mục đích yêu cầu, thời gian thực hiện,hình thức tổ chức, lực lượng tham gia, điều kiện thực hiện, địa điểm, người phụtrách cho từng hoạt động, từng học kỳ và cả năm học Kế hoạch phải cân đối, hợp lývới kế hoạch toàn diện của nhà trường trong năm học
- Triển khai thực hiện các hoạt động trong kế hoạch GDHN (giao việc,hướng dẫn, giám sát, thúc đẩy thực hiện các hoạt động cụ thể theo từng tháng, từnghọc kì và năm học)
- Kiểm tra đôn đốc việc thực hiện kế hoạch của Ban hướng nghiệp trên một
số mặt quan trọng như nội dung, thời gian, phương tiện, nhân lực và hiệu quả kinh
tế, giáo dục của GDHN
1.4.3 Tổ chức thực hiện giáo dục hướng nghiệp
Thành lập Ban hướng nghiệp và phối hợp các lực lượng trong và ngoài nhàtrường trong công tác GDHN Ban hướng nghiệp gồm các thành phần: Phó hiệutrưởng (Trưởng ban), GV chủ nhiệm, GV bộ môn, đại diện Đoàn thanh niên Cộngsản Hồ Chí Minh trong nhà trường, đại diện Ban đại diện CMHS, đại diện các cơ sởsản xuất ở địa phương, cán bộ thư viện, y tế nhà trường (làm ủy viên) Sự có mặt
Trang 38của các thành phần trong và ngoài nhà trường cho phép mở rộng khả năng liên kếtcác lực lượng giáo dục (nhà trường - gia đình - xã hội) Chức năng chính của Banhướng nghiệp nhà trường là chỉ đạo kế hoạch (soạn thảo, phê chuẩn, kiểm tra vàđánh giá việc thực hiện kế hoạch), nó đồng thời còn là một bộ phận trung gian, môigiới liên kết tất cả các thành phần có trong hệ thống để đạt được mục đích chungcủa hướng nghiệp.
Nhiệm vụ của Ban hướng nghiệp: Giúp cho cán bộ, công nhân viên trongnhà trường, GV, các tổ chức đoàn thể trong nhà trường, HS nhận thức đầy đủ và sâusắc mục đích, yêu cầu, nhiệm vụ, nội dung của GDHN trong trường học Tuyêntruyền, vận động các tổ chức xã hội có liên quan cùng tham gia vào công tácGDHN Giúp Hiệu trưởng xây dựng chương trình, kế hoạch hoạt động hàng tháng,năm và chỉ đạo thực hiện chương trình, kế hoạch đó.Tổ chức các hoạt động GDHN
và thực hiện sự phối hợp các lực lượng giáo dục trong công tác GDHN Giúp Hiệutrưởng kiểm tra, đánh giá công tác GDHN
1.4.4 Chỉ đạo thực hiện giáo dục hướng nghiệp
Chỉ đạo thực hiện GDHN qua các con đường GDHN: Dạy và học các bộmôn văn hóa; Dạy và học môn Công nghệ, dạy nghề phổ thông và hoạt độngLĐSX; Tổ chức hoạt động GDHN; Các hoạt động tham quan, ngoại khóa trong vàngoài nhà trường GDHN phải hướng đến yêu cầu: Thực hiện đồng bộ qua các conđường hướng nghiệp ở trường THPT để giúp HS biết lựa chọn hướng học tập vànghề nghiệp tương lai một cách có ý thức, đặc biệt là hướng phân luồng phù hợpvới điều kiện KT-XH của cả nước và từng địa phương sau khi HS tốt nghiệp THPT
Chỉ đạo đổi mới nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức các hoạt độngGDHN cho phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý HS và quá trình phát triển trong nhậnthức về nghề của HS Phương pháp tổ chức các hoạt động GDHN phải chú trọngvào các hoạt động tìm hiểu, nhận thức về nghề nghiệp, trong đó phải tập trung vàocác phương pháp tự hướng nghiệp ở HS Chương trình hoạt động GDHN của BộGD&ĐT chỉ là chương trình khung và tài liệu hoạt động GDHN chỉ có tài liệu thamkhảo cho GV (không có sách cho học sinh), vì thế không nên cứng nhắc theo sách
Trang 39vở, tài liệu mà căn cứ vào xu hướng chọn nghề của các nhóm HS trong lớp và hơn
6000 nghề khác nhau trong xã hội để thay đổi phương pháp tổ chức các hoạt độngGDHN hiệu quả
Chỉ đạo sự phối hợp giữa các lực lượng GD: nhà trường, GĐ,XH trongGDHN
1.4.5 Bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên làm công tác GDHN
Đội ngũ hỗ trợ công tác hướng nghiệp nhà trường: Ban giám hiệu, GV bộmôn, Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh Trong đó GV bộ môn là người thammưu trực tiếp cho GV chủ nhiệm về học lực và khí chất của HS, GV chủ nhiệm làcầu nối giữa nhà trường với gia đình học sinh trong quá trình GDHN, GV chủnhiệm và Ban hướng nghiệp đóng vai trò chủ đạo trong quá trình GDHN
Đội ngũ trực tiếp tổ chức các nội dung GDHN là giáo viên chủ nhiệm, kếthợp với Ban hướng nghiệp và cộng tác với một số bậc phụ huynh làm việc ở cácngành nghề khác nhau trong xã hội
Hiệu trưởng cần bồi dưỡng các thành viên trong Ban hướng nghiệp về nănglực tổ chức, quản lý các hoạt động GDHN có nề nếp, chất lượng, thường xuyên, liêntục Bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng, phương pháp hướng nghiệp cho đội ngũ GV cácmôn học để lồng ghép trong quá trình dạy học
Xây dựng kế hoạch bồi dưỡng tại nhà trường, kế hoạch cử CBQL, GV thamgia các lớp tập huấn về công tác GDHN do Bộ và Sở GD&ĐT tổ chức Đội ngũgiáo viên thường xuyên nhận thức tốt về vai trò, nhiệm vụ của GDHN theo yêu cầugiáo dục toàn diện HS
1.4.6 Xây dựng các điều kiện phục vụ giáo dục hướng nghiệp
Đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị đáp ứng nhu cầu giảng dạy và học tậpGDHN trong nhà trường Xây dựng nguồn kinh phí phục vụ các hoạt động của côngtác GDHN
Tăng cường sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình và XH trong công tácGDHN Tổ chức công tác thi đua khen thưởng để động viên, khích lệ tính chủ động,tích cực hoạt động của từng cá nhân và tập thể
Trang 401.4.7 Kiểm tra, đánh giá công tác giáo dục hướng nghiệp
Kiểm tra, đánh giá là quá trình thu thập thông tin về các nội dung trong côngtác GDHN, đưa ra những nhận định, phán đoán về thực trạng GDHN trong nhàtrường, trên cơ sở đó đề xuất những quyết định phù hợp nhằm nâng cao hiệu quảGDHN ở nhà trường
Việc kiểm tra, đánh giá công tác GDHN góp phần làm sáng tỏ mức độ đạtđược và chưa đạt được về các mục tiêu của GDHN, xác định những nguyên nhânảnh hưởng, từ đó có những điều chỉnh hợp lý trong quá trình tổ chức GDHN Do
đó, trong kiểm tra, đánh giá GDHN, Hiệu trưởng coi mục tiêu đã xây dựng trong kếhoạch là tiêu chuẩn để đánh giá kết quả Việc kiểm tra phải thường xuyên, liên tục,
có tiêu chí, chuẩn mực cụ thể
1.5 Những yếu tố ảnh hưởng đến giáo dục hướng nghiệp trong trường THPT
1.5.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về giáo dục hướng nghiệp
Vấn đề định hướng giáo dục hướng nghiệp và quan điểm GDHN cho họcsinh trong các nhà trường đã được để cập đến trong một số văn kiện của Đảng vàNhà nước
* Có một số văn kiện của Đảng đã đề cập đến như:
- Đại hội Đảng Lần VI (1986) khẳng định: nhà trường phải chuyển mạnhtheo hướng dạy kiến thức PT, cơ bản, LĐ, KTTH, HN và DN
- Nghị quyết trung ương 2 khoá VIII đã đề ra nhiệm vụ của ngành giáo dụccần mở rộng và nâng cao chất lượng giáo dục KTTH HN
- Nghị quyết Trung ương 6 khoá IX khẳng định lại những mục tiêu và yêucầu về giáo dục KTTH-HN đã được xác định trong Nghị quyết trung ương 2 khoáVIII
- Đại hội Đảng X đã thông qua văn kiện xác định đổi mới toàn diện GD&ĐTtrong đó yêu cầu dạy học phân ban và tự chọn ở cấp THPT trên cơ sở làm tốt côngtác HN và phân luồng từ THCS
* Quyết định số 126/CP và các văn bản hướng dẫn