1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu đánh giá quá trình hội nhập kinh tế của Việt Nam trong ASEAN và ASEAN+3 từ năm 2013 đến năm 2015

432 137 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 432
Dung lượng 11,46 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu đánh giá quá trình hội nhập kinh tế của Việt Nam trong ASEAN và ASEAN+3 từ năm 2013 đến năm 2015 Trong báo cáo “Hội nhập kinh tế của Việt Nam trong ASEAN+3 2014”, chúng tôi đã tổng hợp toàn bộ quá trình hội nhập ASEAN+3 cho tới thời điểm 2014, tích hợp với các phân tích tác động về thương mại và đầu tư. Báo cáo cũng phân tích tiến trình hội nhập ASEAN+3 của Việt Nam, các kết quả đã đạt được cũng như các tác động của tiến trình này tới thương mại, đầu tư, tài chính và phát triển kinh tế nói chung, từ đó tìm ra một số vấn đề lớn và triển vọng của tiến trình hội nhập này. Báo cáo 2015 là tiếp nối của báo cáo 2014, trong đó cập nhật tiến trình hội nhập ASEAN+3 đã được phân tích trong báo cáo 2014 và đi sâu vào các vấn đề nổi bật trong từng mảng thương mại, đầu tư, tài chính; các vấn đề mới phát sinh ảnh hưởng đến hội nhập khu vực ASEAN+3. Đặc biệt, báo cáo 2015 tiếp tục đi sâu vào phân tích các ngành đã được lựa chọn trong báo cáo 2014 theo mô hình chuỗi giá trịmạng sản xuất, từ đó có các đánh giá cụ thể và các hàm ý đối với doanh nghiệp và chính phủ trong từng ngành.

Trang 1

MỤC LỤC

DANH SÁCH BẢNG vi

DANH SÁCH HÌNH vii

DANH SÁCH BIỂU viii

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT xi

LỜI MỞ ĐẦU xv

PHẦN 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA HỘI NHẬP KINH TẾ KHU VỰC VÀ CỘNG ĐỒNG KINH TẾ 1

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỘI NHẬP KINH TẾ KHU VỰC 1

1.1 Khái niệm hội nhập kinh tế và hội nhập kinh tế khu vực 1

1.2 Các hình thức hội nhập kinh tế khu vực 2

1.3 Các nhân tố thúc đẩy hội nhập kinh tế khu vực 7

1.3.1 Các nhân tố thúc đẩy tự do hoá thương mại 7

1.3.2 Các nhân tố thúc đẩy di chuyển tự do các nguồn lực sản xuất 9

1.3.3 Khoảng cách địa lý 14

1.3.4 Yếu tố kinh tế chính trị 14

1.3.5 Sự trì trệ của các vòng đàm phán đa phương 15

1.3.6 Tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu 16

1.4 Tác động của hội nhập kinh tế khu vực 17

1.4.1 Tác động của sự tự do di chuyển hàng hoá, dịch vụ 17

1.4.2 Tác động của sự tự do di chuyển vốn 20

1.4.3 Tác động của sự tự do di chuyển lao động 22

1.4.4 Các tác động khác của hội nhập kinh tế khu vực 24

1.5 Mối quan hệ của hội nhập kinh tế khu vực với hội nhập toàn cầu 26

CHƯƠNG 2 THỰC TIỄN VỀ HỘI NHẬP KINH TẾ KHU VỰC VÀ CỘNG ĐỒNG KINH TẾ 31

2.1 Các xu hướng hội nhập kinh tế khu vực 31

2.2 Kinh nghiệm hội nhập kinh tế khu vực trên thế giới 35

2.2.1 Khu vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ (NAFTA) 35

2.2.2 Thị trường chung Nam Mỹ (MERCOSUR) 42

2.2.3 Khu vực châu Phi 45

2.2.4 Kinh nghiệm của EU 48

Trang 2

2.3 Nhận diện Cộng đồng kinh tế 57

2.3.1 Một số Cộng đồng kinh tế điển hình 57

2.3.2 Nhận diện các đặc trưng cơ bản của Cộng đồng kinh tế 61

2.4 Bài học kinh nghiệm từ quá trình hội nhập kinh tế khu vực trên thế giới dành cho Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) 62

PHẦN 2 AEC TRONG BỐI CẢNH QUỐC TẾ MỚI 66

CHƯƠNG 3 CỘNG ĐỒNG KINH TẾ ASEAN (AEC): MỤC TIÊU VÀ CÁC TRỤ CỘT 66

3.1 Quá trình hình thành Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) 66

3.2 Mục tiêu của Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) 67

3.3 Các trụ cột cơ bản của AEC và lộ trình thực hiện 69

3.3.1 Nội dung và lộ trình thực hiện của Trụ cột 1 – thị trường và cơ sở sản xuất thống nhất 69

3.3.2 Nội dung và lộ trình của Trụ cột 2 - Khu vực kinh tế cạnh tranh cao 74

3.3.3 Nội dung và lộ trình của Trụ cột 3 - Khu vực phát triển kinh tế đồng đều 75

3.3.4 Nội dung và lộ trình của Trụ cột 4 - Khu vực hội nhập đầy đủ vào nền kinh tế toàn cầu 77

3.4 Vị trí, vai trò của AEC trong Cộng đồng ASEAN (AC) 78

3.5 Tác động của AEC tới các nước thành viên 83

3.5.1 Tác động của AEC đến tăng trưởng kinh tế 84

3.5.2 Tác động của AEC đến thúc đẩy thương mại 86

CHƯƠNG 4 BỐI CẢNH QUỐC TẾ MỚI VÀ TÁC ĐỘNG TỚI QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN AEC 88

4.1 Những xu hướng phát triển của thế giới và khu vực 88

4.1.1 Xu hướng toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế tiếp tục được đẩy mạnh 88

4.1.2 Khoa học công nghệ tiếp tục đạt nhiều tiến bộ, tri thức và nguồn nhân lực chất lượng cao đóng vai trò ngày càng quan trọng hơn trong sự phát triển 91

4.1.3 Tương quan sức mạnh giữa các cường quốc sẽ tiếp tục thay đổi nhanh và khác thường 93

4.1.5 Xu hướng đẩy mạnh cải cách, chuyển đổi mô hình tăng trưởng và tái cơ cấu ở các nền kinh tế đang phát triển 98

Trang 3

4.1.6 Xu thế hoà bình, hợp tác và phát triển xét trên tổng thể vẫn nổi trội song thế giới và khu vực vẫn tiềm ẩn các nguy cơ mất an toàn với những thay đổi mất cân

bằng 101

4.2 Những yếu tố nổi bật tác động đến sự hình thành và phát triển của Cộng đồng Kinh tế ASEAN 103

4.2.1 Sự phục hồi của kinh tế khu vực và toàn cầu 103

4.2.2 Các mô hình hội nhập và các hiệp định thương mại mới trong khu vực 108

4.2.3 Sự nổi lên của Trung Quốc và cạnh tranh giữa các cường quốc ở khu vực Đông Nam Á 112

4.2.4 Diễn biến tranh chấp trên biển Đông 122

4.2.5 Những bất ổn nội bộ và sự gắn kết chính trị của các nước trong khu vực 127

CHƯƠNG 5 KẾT QUẢ THỰC HIỆN, THỂ CHẾ HỢP TÁC VÀ KINH NGHIỆM THAM GIA AEC CỦA CÁC NƯỚC THÀNH VIÊN 132

5.1 Kết quả thực hiện AEC 132

5.1.1 Kết quả chung 132

5.1.2 Kết quả thực hiện Trụ cột 1 của AEC 134

5.1.3 Kết quả thực hiện Trụ cột 2 của AEC 142

5.1.4 Kết quả thực hiện Trụ cột 3 của AEC 144

5.1.5 Kết quả thực hiện Trụ cột 4 của AEC 145

5.2 Thể chế hợp tác của AEC 151

5.2.1 Cơ cấu tổ chức của AEC 151

5.2.1 Nguyên tắc và cơ chế hợp tác trong AEC 155

5.2.2 Những kiến nghị điều chỉnh thể chế trong AEC 157

5.2.3 So sánh với thể chế hợp tác của EU 158

5.3 Những vấn đề đặt ra 159

5.4 Kinh nghiệm tham gia AEC của các nước thành viên ASEAN 164

5.4.1 Mức độ tham gia của các nước thành viên 164

5.4.2 Những hoạt động được thực hiện để hướng tới AEC 169

5.5 Cơ hội, thách thức và bài học rút ra cho Việt Nam 179

5.5.1 Cơ hội 179

5.5.2 Thách thức 180

5.5.3 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 181

Trang 4

PHẦN 3 SỰ THAM GIA CỦA VIỆT NAM VÀO AEC VÀ MỘT SỐ GỢI Ý

CHÍNH SÁCH 183

CHƯƠNG 6 SỰ THAM GIA CỦA VIỆT NAM VÀO CỘNG ĐỒNG KINH TẾ ASEAN 183

6.1 Tiến trình hội nhập của Việt Nam vào ASEAN và AEC 183

6.2 Thực trạng Việt Nam tham gia vào AEC theo các trụ cột 184

6.2.1 Tự do hoá thương mại hàng hoá 185

6.2.2 Thuận lợi hoá thương mại 188

6.2.3 Tự do hoá thương mại dịch vụ 191

6.2.4 Hội nhập về tài chính 201

6.2.5 Tự do hoá đầu tư 210

6.2.6 Tự do hoá di chuyển lao động có tay nghề 215

6.2.7 Khu vực kinh tế cạnh tranh cao 223

6.2.8 Khu vực kinh tế phát triển đồng đều 227

6.3 Đánh giá tác động của Việt Nam tham gia AEC 240

6.3.1 Tác động đến thương mại hàng hoá 241

6.3.2 Tác động đến thương mại dịch vụ 250

6.3.3 Tác động trong lĩnh vực tài chính 255

6.3.4 Tác động đến đầu tư 266

6.3.5 Tác động trong lĩnh vực lao động 271

6.3.5 Thương mại Việt Nam với ASEAN theo một số nhóm hàng chính 274

6.4 Đánh giá sự sẵn sàng của Việt Nam hướng tới AEC 293

6.4.1 Sự sẵn sàng của doanh nghiệp 293

6.4.2 Quan điểm của các nhà quản lý 308

6.4.3 Đánh giá chung về sự sẵn sàng của Việt Nam khi tham gia AEC 311

6.5 Điểm mạnh, điểm yếu và những vấn đề đặt ra 313

6.5.1 Điểm mạnh và điểm yếu 313

6.5.2 Những vấn đề đặt ra 317

Chương 7 QUAN ĐIỂM, ĐỊNH HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GỢI Ý CHÍNH SÁCH NHẰM TĂNG CƯỜNG SỰ THAM GIA HIỆU QUẢ CỦA VIỆT NAM VÀO CỘNG ĐỒNG KINH TẾ ASEAN 321

Trang 5

7.1 Quan điểm và định hướng cho sự tham gia có hiệu quả của Việt Nam vào

AEC 321

7.1.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về hội nhập kinh tế quốc tế 321

7.1.2 Quan điểm và định hướng của Đảng và Nhà nước về hội nhập ASEAN nói chung và AEC nói riêng 326

7.2 Một số đề xuất nhằm tăng cường sự tham gia hiệu quả của Việt Nam vào Cộng đồng kinh tế ASEAN 329

7.2.1 Đổi mới tư duy về hội nhập AEC 330

7.2.2 Nhà nước dẫn dắt và tạo một cơ chế hội nhập hiệu quả 330

7.2.3 Doanh nghiệp chủ động chuẩn bị cho hội nhập 334

7.2.4 Các Hiệp hội, cơ quan nghiên cứu đóng vai trò tư vấn, hỗ trợ quá trình hội nhập 336

7.2.5 Một số giải pháp liên quan đến thông tin tuyên truyền 337

7.3 Lộ trình và các điều kiện để Việt Nam có thể thực hiện được những đề xuất và kiến nghị của Đề tài 339

KẾT LUẬN 341

TÀI LIỆU THAM KHẢO xxxix PHỤ LỤC liii

Trang 6

DANH SÁCH BẢNG

Bảng 1.1 Các cấp độ hội nhập chính sách kinh tế khu vực 7

Bảng 2.1: Các khối hội nhập kinh tế khu vực điển hình 32

Bảng 2.2 Thay đổi về thuế quan trong một số ngành 37

Bảng 2.3 Tiến trình hội nhập của MERCOSUR 43

Bảng 2.4 Các bước hội nhập kinh tế của EU 49

Bảng 3.1 Tác động của AEC 85

Bảng 4.1 Tăng trưởng GDP của kinh tế thế giới giai đoạn 2013 – 2015 (%) 104

Bảng 4.2 Xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ của một số nước châu Á 107

Bảng 5.1: Mức độ hoàn thành AEC theo Biểu đánh giá Scorecard 133

trong giai đoạn I và giai đoạn II (%) 133

Bảng 5.2 Thống kê biện pháp bảo hộ thương mại của một số quốc gia 135

Bảng 5.3 Khuôn khổ hội nhập tài chính ASEAN 139

Bảng 5.4 Bộ máy tổ chức chính của ASEAN 152

Bảng 5.5 GDP các nước thành viên ASEAN năm 2012 (PPP) 162

Bảng 5.6 Bất bình đẳng ở các nước ASEAN 163

Bảng 6.1 Tổng hợp số dòng hàng theo thuế ATIGA, 2014 185

Bảng 6.2 Phạm vi cam kết dịch vụ của Việt Nam trong AFAS 8 193

Bảng 6.3 Chỉ số Hoekman trong 11 ngành dịch vụ của Việt Nam theo Biểu cam kết AFAS 8 193

Bảng 6.4 Lượt khách du lịch đến các nước ASEAN 196

Bảng 6.5 Xếp hạng của Việt Nam trong báo cáo Môi trường kinh doanh của Ngân hàng thế giới 2005-2013 214

Bảng 6.6 Kim ngạch, tỷ trọng xuất khẩu một số nhóm hàng chính của Việt Nam sang ASEAN trong 09 tháng đầu năm 2014 244

Bảng 6.7 Tỷ trọng, kim ngạch nhập khẩu một số nhóm hàng chính của Việt Nam từ ASEAN trong 09 tháng đầu năm 2014 245

Bảng 6.8 Kết quả ước lượng mô hình trọng lực cho xuất khẩu và nhập khẩu của Việt Nam 247

Bảng 6.9 Kết quả ước lượng mô hình trọng lực cho xuất khẩu và nhập khẩu dịch vụ của Việt Nam 252

Bảng 6.10 Mạng lưới ngân hàng Việt Nam ở ASEAN 257

Bảng 6.11 Số liệu di cư lao động trong ASEAN năm 2010 272

Bảng 6.12 Thị trường và kim ngạch thương mại hàng dệt may của Việt Nam 09 tháng 2014 292

Bảng 6.13 Cơ cấu mẫu theo tỉnh 294

Bảng 6.14 Tỷ lệ các doanh nghiệp quan tâm đến AEC theo tỉnh 302

Bảng 6.15 Tỷ lệ các doanh nghiệp điều chỉnh chiến lược kinh doanh theo tỉnh 305

Bảng 6.16 Tỷ lệ các doanh nghiệp điều chỉnh chiến lược kinh doanh theo ngành 306

Trang 7

DANH SÁCH HÌNH

Hình 1.1: Tác động tạo lập mậu dịch của liên minh thuế quan 18

Hình 1.2: Tác động chệch hướng thương mại của liên minh thuế quan 19

Hình 1.3: Tác động của di chuyển tự do vốn 20

Hình 1.4: Tác động của di chuyển tự do lao động 22

Hình 2.1 Hệ thống tổ chức của NAFTA 36

Hình 2.2 Sáu giai đoạn xây dựng Cộng đồng kinh tế châu Phi 46

Hình 2.3 Ba trụ cột của EU theo Hiệp ước Maastricht 51

Hình 2.4 Thể chế của EU 54

Hình 3.1 Bốn trụ cột của Cộng đồng kinh tế ASEAN 69

Hình 4.1 Tỷ trọng trong tổng XNK toàn cầu 96

của các nước phát triển và đang phát triển 96

Hình 4.2 Hai chiếc bánh xe ở Đông Á 110

Hình 5.1 Cơ cấu ban thư ký ASEAN 154

Trang 8

DANH SÁCH BIỂU

Biểu 2.1 Thương mại hàng hóa của Mỹ với các thành viên NAFTA, 1993-2013 40

Biểu 2.2 Thương mại Hàng hóa của MERCOSUR với thế giới 1991-2013 44

Biểu 3.1 Tác động của AEC đến GDP 85

Biểu 4.1 Tăng trưởng thương mại hàng hóa và dịch vụ 2012 – 2015 106

Biểu 5 1 Hiện đại hoá hải quan trong ASEAN 165

Biểu 5.2 Tiến độ thực hiện một cửa quốc gia trong ASEAN 166

Biểu 5.3 Tự do hóa thương mại dịch vụ trong ASEAN 167

Biểu 5.4 Điểm thúc đẩy và thuận lợi hoá đầu tư (%) 167

Biểu 5.5 Tóm tắt mức độ tham gia của các nước thành viên vào AEC 168

Biểu 6.1 Điểm khung thể chế của các nước ASEAN 228

Biểu 6.2 Điểm tiếp cận với các dịch vụ hỗ trợ 229

Biểu 6.3 Điểm về khởi nghiệp dễ dàng và luật pháp thân thiện 231

Biểu 6.4 Điểm tiếp cận tài chính 233

Biểu 6.5 Điểm phát triển và chuyển giao công nghệ 234

Biểu 6.6 Mở rộng thị trường quốc tế 235

Biểu 6.7 Điểm về các chương trình khởi nghiệp 237

Biểu 6.8 Điểm về năng lực của các hiệp hội SME 238

Biểu 6.9 Quan hệ thương mại Việt Nam – ASEAN giai đoạn 1990 – 2013 241

Biểu 6.10 Cán cân thương mại của Việt Nam với các nước ASEAN năm 2013 242

Biểu 6.11 Tỷ trọng kim ngạch hàng hóa xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và ASEAN giai đoạn 1990 – 2013 243

Biểu 6.12 Tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường ASEAN năm 2013 245

Biểu 6.13 Tỷ trọng kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam từ thị trường ASEAN năm 2013 246

Biểu 6.14 Xuất khẩu dịch vụ của Việt Nam trong giai đoạn 2000 – 2012 251

Biểu 6.15 Nhập khẩu dịch vụ của Việt Nam trong giai đoạn 2000 – 2012 251

Biểu 6.16 Chỉ số KAOPEN của Việt Nam và các nước trong ASEAN 259

Biểu 6.17 Chỉ số de facto của Việt Nam giai đoạn 2005-2013 261

Biểu 6.18 Tổng tài sản tài chính của Việt Nam theo %GDP 263

Biểu 6.19 Vốn hóa thị trường của các công ty niêm yết theo % GDP, 263

2005-2012 263

Biểu 6.20 Dòng vốn FDI ròng vào Việt Nam giai đoạn 2005-2013 267

Trang 9

Biểu 6.21 FDI vào Việt Nam theo nhà đầu tư, lũy kế hết 2013 268

Biểu 6.22 Tổng số lao động di cư trong khu vực ASEAN tính đến năm 2013 271

Biểu 6.23 Trình độ lao động di cư trong ASEAN 273

Biểu 6.24 Kim ngạch thương mại hàng nông sản Việt Nam ASEAN 275

giai đoạn 2001-2012 275

Biểu 6.25a Tỷ trọng XK các sản phẩm nông nghiệp của Việt Nam sang ASEAN (%), 2012 276

Biểu 6.25b Tỷ trọng NK các sản phẩm nông nghiệp của Việt Nam từ ASEAN (%), 2012 276

Biểu 6.26 Chỉ số lợi thế so sánh hiển thị ngành nông sản của Việt Nam và một số nước ASEAN 276

Biểu 6.27 Chỉ số chuyên môn hóa xuất khẩu mặt hàng nông sản của Việt Nam với một số nước ASEAN, 2000-2013 278

Biểu 6.28 Thương mại hàng thủy sản của Việt Nam với ASEAN 2001-2012 279

Biểu6.29a Tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu hàng thủy sản sang ASEAN, 2012 279

Biểu 6.29b Tỷ trọng kim ngạch nhập khẩu hàng thủy sản từ ASEAN, 2012 279

Biểu 6.30 Thương mại hàng điện tử của Việt Nam với ASEAN 2001-2012 280

Biểu 6.31a Tỷ trọng kim ngạch XK hàng điện tử sang ASEAN năm 2012 281

Biểu 6.31b Tỷ trọng kim ngạch NK hàng điện tử từ ASEAN năm 2012 281

Biểu 6.32 Chỉ số lợi thế so sánh hiển thị nhóm hàng điện tử của Việt Nam và một số nước ASEAN 2003-2012 282

Biểu 6.33 Chỉ số chuyên môn hóa xuất khẩu hàng điện tử Việt Nam với một số nước ASEAN 282

Biểu 6.34 Thương mại nhóm hàng ô tô của Việt Nam với ASEAN, 283

Giai đoạn 2001 – 2012 283

Biểu 6.35a Tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng ô tô sang ASEAN, 2012 284

Biểu 6.35b Tỷ trọng kim ngạch nhập khẩu nhóm hàng ô tô từ ASEAN, 2012 284

Biểu 6.36 Thương mại nhóm hàng sắt thép của Việt Nam với ASEAN 2001-2012 285

Biểu 6.37a Tỷ trọng kim ngạch XK hàng sắt thép sang ASEAN năm 2012 286

Biểu 6.37b Tỷ trọng kim ngạch NK hàng sắt thép từ ASEAN năm 2012 286

Biểu 6.38 Chỉ số so sánh lợi thế hiển thị ngành sắt thép của Việt Nam

và một số nước ASEAN 287

Biểu 6.39 Chỉ số chuyên môn hóa xuất khẩu nhóm hàng sắt thép của Việt Nam và một số nước ASEAN 287

Trang 10

Biểu 6.40 Chỉ số lợi thế so sánh hiển thị (RCA) hàng dệt may của Việt Nam và một số nước ASEAN 288 Biểu 6.41 Thương mại nhóm hàng dệt may của Việt Nam với ASEAN 2001-2012 289 Biểu 6.42a Tỷ trọng kim ngạch XK hàng dệt may sang ASEAN năm 2012 290 Biểu 6.42b Tỷ trọng kim ngạch NK hàng dệt may từ ASEAN năm 2012 290 Biểu 6.43 Chỉ số chuyên môn hóa xuất khẩu nhóm hàng dệt may của Việt Nam và một số nước ASEAN 292 Biểu 6.44 Tỷ lệ doanh nghiệp thu nhận thông tin về AEC từ các nguồn 304

Trang 11

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

ACFTA Khu vực thương mại tự do ASEAN – Trung Quốc

ACIA Hiệp định đầu tư toàn diện ASEAN

ACM Thị trường chung Ả Rập

ACMECS Tổ chức Chiến lược hợp tác kinh tế Ayeyarwady - Chao Phraya - MêKông ADB Ngân hàng phát triển châu Á

AEC Cộng đồng kinh tế ASEAN

AEM Hội nghị Bộ trưởng kinh tế ASEAN

AfDB Ngân hàng phát triển châu Phi

AFAFIST Hiệp định khung ASEAN về tạo thuận lợi cho vận tải liên quốc gia

AFAFGIT Hiệp định khung ASEAN về tạo thuận lợi cho hàng hoá quá cảnh

AFAS Hiệp định khung về thương mại dịch vụ ASEAN

AFCC Thoả thuận khung đa ngành về biến đổi khí hậu trong ASEAN

AFTA Khu vực thương mại tự do ASEAN

AHTN Hệ thống hài hòa hóa thuế quan ASEAN

AIA Hiệp định đầu tư ASEAN

AICHR Ủy ban liên chính phủ ASEAN về nhân quyền

AIIB Ngân hàng đầu tư hạ tầng châu Á

AICO Chương trình hợp tác công nghiệp ASEAN

AMU Liên minh Ả Rập-Maghreb

ANCOM Thị trường chung ADEAN

APAEC Kế hoạch hành động ASEAN về hợp tác năng lượng

APBSD Chính sách ASEAN về phát triển SMEs

APEC Hợp tác kinh tế châu Á-Thái Bình Dương

APSC Cộng đồng an ninh – chính trị ASEAN

ARF Diễn đàn khu vực ASEAN

ASAM Thị trường hàng không ASEAN đơn nhất

ASCC Cộng đồng văn hóa – xã hội ASEAN

ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á

ASEAN-6 Brunei, Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore, Thái Lan

ATIGA Hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN

Trang 12

ATR Cơ sở dữ liệu thương mại ASEAN

AU Liên minh châu Phi

AUN Mạng lưới các trường đại học ASEAN

BDS Dịch vụ phát triển kinh doanh

BIMP-EAGA Khu vực tăng trưởng Đông ASEAN

BU Liên minh ngân hàng

CACM Thị trường chung khu vực Trung Mỹ

CAN Cộng đồng các quốc gia Andean

CARICOM Cộng đồng các nước Caribbe

CECA Hiệp định khung về Hợp tác kinh tế toàn diện CEFTA Hiệp định thương mại tự do Trung Âu

CEMAC Cộng đồng kinh tế và tiền tệ Trung Phi

CEN-SAD Cộng đồng Sahel-Sahara

CEP Hiệp định đối tác toàn diện kinh tế

CEPA Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện

CEPT Chương trình thuế quan ưu đãi hiêu lực chung CLMV Campuchia, Lào, Myanmar, Việt Nam

CM Thị trường chung

CPR Ủy ban đại diện thường trực

COMESA Thị trường chung Đông Nam Phi

CU Liên minh thuế quan

ĐPT Đang phát triển

EAC Cộng đồng Đông Phi

ECB Ngân hàng trung ương châu Âu

ECCAS Cộng đồng kinh tế các nước Trung Phi

ECOWAS Cộng đồng kinh tế Tây Phi

ECSC Cộng đồng than thép châu Âu

EEA Khu vực kinh tế châu Âu

EEC Cộng đồng kinh tế châu Âu

EED Khuôn khổ ASEAN về phát triển kinh tế công bằng EFTA Hiệp hội thương mại tự do châu Âu

EPA Hiệp định đối tác kinh tế

ERIA Viện nghiên cứu kinh tế ASEAN và Đông Á

Trang 13

ESM Cơ chế bình ổn châu Âu

EU Liên minh châu Âu

FA Hiệp định khung

FAF Lương thực, nông nghiệp và lâm nghiệp FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài

FED Cục dự trữ liên bang Mỹ

FTA Khu vực thương mại tự do

G20 Nhóm 20 nền kinh tế lớn nhất thế giới GAP Sản xuất nông nghiệp tốt

GATS Hiệp định chung về thương mại dịch vụ GATT Hiệp định chung về thuế quan và thương mại GCC Hội đồng hợp tác vùng vịnh

GMS Tiểu vùng sông Mê Kông mở rộng

HSL Danh mục nhạy cảm cao

IAI Sáng kiến hội nhập ASEAN

ICT Công nghệ thông tin và viễn thông

IGA Hiệp định bảo đảm đầu tư ASEAN

IL Danh mục cắt giảm thuế ngay

IMF Quỹ tiền tệ quốc tế

IP Sở hữu trí tuệ

IPR Quyền sở hữu trí tuệ

IS Lực lượng nhà nước Hồi giáo

LAFTA Hiệp hội mậu dịch tự do Mỹ Latinh

MERCOSUR Thị trường chung Nam Mỹ

MFN Đãi ngộ tối huệ quốc

MIP Biện pháp chống mất cân bằng kinh tế vĩ mô MRA Thỏa thuận công nhận lẫn nhau

NAFTA Khu vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ

NSW Một cửa quốc gia

NTBs/NTMs Các biện pháp phi thuế quan

NTR Cơ sở dữ liệu thương mại quốc gia

OAU Tổ chức thống nhất châu Phi

OECD Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế

Trang 14

PIS Các ngành ưu tiên

PRF Quỹ cứu trợ thường trực

PTA Thỏa thuận thương mại ưu đãi

RCEP Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện khu vực

REC Cộng đồng kinh tế khu vực

RIATS Lộ trình hội nhập du lịch hàng không

RTA Hiệp định thương mại khu vực

ROO Nguyên tắc xuất xứ

SAARC Hiệp hội Nam Á vì sự hợp tác khu vực

SADC Cộng đồng phát triển miền Nam châu Phi

SCPP Dự án thí điểm tự chứng nhận

SEANWFZ Hiệp ước ASEAN không có vũ khí hạt nhân

SGP Gói bình ổn và phát triển

SL Danh mục nhạy cảm

SME Doanh nghiệp vừa và nhỏ

SPS Biện pháp bảo vệ an toàn động vật, thực vật

TAC Hiệp ước hợp tác và thân thiện ở Đông Nam Á

TBT Hàng rào kỹ thuật

TEL Danh mục loại trừ tạm thời

TFA Hiệp định thuận lợi hóa thương mại

TNC Công ty xuyên quốc gia

TPP Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương

TTIP Hiệp định đối tác đầu tư và thương mại xuyên Đại Tây Dương UMA Liên minh Magreb

UNECA Ủy ban Liên hợp quốc về kinh tế ở châu Phi

WB Ngân hàng thế giới

WEC Hợp tác phát triển kinh tế hành lang Đông – Tây

WTO Tổ chức thương mại thế giới

ZOPFAN Tuyên bố về khu vực hoà bình, tự do, trung lập

Trang 15

LỜI MỞ ĐẦU

Sự cần thiết của đề tài

Sau hơn 40 năm thành lập, Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) đã thể hiện là một tổ chức liên kết khu vực thành công, thúc đẩy sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội trong khu vực và quốc tế Quyết tâm xây dựng Cộng đồng kinh tế ASEAN, gồm ba trụ cột chính là Cộng đồng Chính trị-An ninh, Cộng đồng Văn hóa-Xã hội và Cộng đồng Kinh tế thể hiện bước tiến mới trong quá trình hợp tác của các nước ASEAN Trong đó, các nước ASEAN đề ra mục tiêu thành lập Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) vào năm 2015 và hiện đang triển khai nhiều chương trình hành động nhằm đạt được mục tiêu đó Tuy nhiên, thực tiễn thực hiện AEC của các nước thành viên ASEAN còn tương đối khó khăn, cần nỗ lực vượt qua rất nhiều thách thức để có thể hiện thực hóa AEC vào năm 2015 Việc nghiên cứu về AEC trong bối cảnh mới của thế giới và sự tham gia của Việt Nam vào AEC là hết sức cấp thiết, có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn

Xét trên khía cạnh lý luận, nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc hình thành

AEC là kết quả tất yếu khách quan của quá trình hợp tác kinh tế lâu dài giữa các nước ASEAN, là đối sách của ASEAN trước nhu cầu hội nhập sâu hơn của các nền kinh tế ở Đông Nam Á, đồng thời là nhu cầu chính trị muốn có một “bản sắc” trong hợp tác kinh tế của ASEAN Các nhận định trên dựa vào lập luận của chủ nghĩa

“chức năng mới,” chủ nghĩa hiện thực cấu trúc và chủ nghĩa kiến tạo xã hội Tựu trung lại, AEC là bước hội nhập về kinh tế tổng thể và mạnh mẽ trong các nước ASEAN, hướng tới một khối ASEAN vững mạnh và đoàn kết hơn, góp phần tạo môi trường quốc tế hòa bình và ổn định, là điều kiện quan trọng cho sự phát triển của các nước thành viên

Tuy nhiên, vẫn thiếu một khuôn khổ lý thuyết cơ bản về “Cộng đồng kinh tế” nói chung Do đó, bản chất của AEC và lộ trình phát triển AEC trong dài hạn vẫn là một vấn đề chưa được thống nhất Một số nghiên cứu cho rằng AEC thực

chất chỉ là một Thị trường chung trừ (trừ đi hai nội dung là thuế quan chung và hài hòa chính sách kinh tế) hoặc một FTA cộng (cộng thêm một nội dung di chuyển tự

do các yếu tố sản xuất) Tuy nhiên, Bản kế hoạch chi tiết AEC được đưa ra tại Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN lần thứ 13 vào tháng 11/2007 đã đề ra bốn đặc tính của AEC như sau (i) Một thị trường và cơ sở sản xuất duy nhất, (ii) vùng kinh tế cạnh tranh cao, (iii) vùng phát triển kinh tế toàn diện, và (iv) vùng hội nhập sâu vào kinh

tế toàn cầu Với những đặc tính như vậy và với tên gọi đầy tham vọng “Cộng đồng kinh tế ASEAN”, vẫn có nhận thức trong xã hội cho rằng AEC sẽ phải phát triển dần dần theo mô hình của Liên minh châu Âu – EU Gần đây, vấn đề khủng hoảng

Trang 16

nợ công châu Âu dẫn đến việc đánh giá lại những thành tựu của EU cũng đặt ra câu hỏi về mô hình của EU Việc so sánh mô hình của AEC với mô hình của EU trong bối cảnh mới để từ đó đưa ra những bài học chung đang là một vấn đề hết sức cần thiết

Về mối quan hệ giữa hội nhập kinh tế khu vực AEC và các tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế khác, bao gồm hội nhập song phương, khu vực và toàn cầu cũng có rất nhiều ý kiến khác nhau Có các ý kiến cho rằng hội nhập song phương

và khu vực sẽ tạo đà cho hội nhập toàn cầu, bên cạnh đó cũng có luồng ý kiến cho rằng việc ký kết quá nhiều các Hiệp định hợp tác song phương, khu vực sẽ khiến các quốc gia không mặn mà với quá trình toàn cầu hóa và cản trở quá trình toàn cầu hóa do xu hướng ly tâm Vấn đề đặt ra ở đây là cần có các luận cứ khoa học giải thích mối quan hệ của các quá trình hội nhập nói trên, đặc biệt trong trường hợp AEC, làm cơ sở để đưa ra được các chiến lược hội nhập phù hợp, không mâu thuẫn với nhau

Vấn đề khoảng cách phát triển và sự khác biệt về hệ tư tưởng (ideology) giữa các nước thành viên cũng là vấn đề lớn trong lộ trình phát triển của AEC Đây

là một điểm khác biệt lớn giữa AEC và EU cũng như một số hình thức hội nhập khu vực khác trên thế giới Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng sự chênh lệch phát triển lớn, khác biệt trong thể chế chính trị-xã hội sẽ là những khó khăn và trở ngại trên con đường tiến tới AEC Tuy nhiên, cần luận giải một cách cụ thể những khó khăn trở ngại đó trong từng lĩnh vực, trong từng giai đoạn phát triển và các ảnh hưởng cụ thể của các trở ngại đó đến AEC như thế nào

Việt Nam cũng đã nhận thức được rằng hội nhập kinh tế ASEAN, đặc biệt việc ủng hộ và tham gia tích cực AEC sẽ giúp Việt Nam tăng cường vị thế và uy tín trên diễn đàn ASEAN cũng như các diễn đàn quốc tế khác Việc tích cực tham gia

và thực hiện AEC sẽ giúp Việt Nam nắm bắt được những cơ hội và chủ động đối phó với những thách thức trong tiến trình hợp tác khu vực nhằm mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội Có thể thấy rằng, nhận thức chung về sự tham gia AEC của Việt Nam đã khá thống nhất, tuy nhiên, nhận thức về AEC trong cộng đồng, quan điểm

và cách thức tham gia AEC của Việt Nam vẫn còn có nhiều ý kiến khác nhau

Thứ nhất, nhận thức của cộng đồng doanh nghiệp về AEC chưa thực sự rõ ràng, doanh nghiệp chưa thực sự thấy được những tác động cụ thể của việc tham gia AEC tới doanh nghiệp mình, cũng như chưa thực sự chủ động tham gia vào quá trình này

Thứ hai, về quan điểm và cách thức tham gia AEC của Việt Nam, có một số

Trang 17

ý kiến cho rằng Việt Nam nên chủ động và thực hiện sớm các cam kết của mình trong AEC, khẳng định với cộng đồng quốc tế quyết tâm cải cách, mở cửa, và hội nhập kinh tế Bên cạnh đó, có quan điểm cho rằng Việt Nam nên tham gia AEC theo hướng thận trọng, thực hiện cam kết theo lộ trình để cho nền kinh tế dần dần thích nghi với các tiến trình tự do hóa Việc cung cấp các luận cứ khoa học nhằm xác định một quan điểm và cách thức tham gia AEC phù hợp đối với Việt Nam là hết sức cần thiết

Nghiên cứu này sẽ cung cấp các luận cứ khoa học nhằm lấp các lỗ hổng về mặt lý luận nói trên Cụ thể, nghiên cứu này sẽ tập trung nghiên cứu các vấn đề còn chưa thống nhất hoặc chưa rõ ràng nêu trên, bao gồm:

- Làm rõ về mặt lý luận mô hình, lộ trình và thể chế của AEC dựa trên cơ sở

lý luận rõ ràng về “Cộng đồng kinh tế”; đặc biệt cung cấp các lý luận xác đáng nhằm nâng cao nhận thức của cộng đồng, đặc biệt cộng đồng doanh nghiệp về AEC

- Luận giải mối quan hệ của quá trình hội nhập AEC với các tiến trình, mức

độ hội nhập song phương, khu vực và toàn cầu khác

- Xác định rõ quan điểm và cách thức tham gia AEC một cách có hiệu quả

của Việt Nam

Xét trên khía cạnh thực tế, AEC ra đời năm 2003 là kết quả của quá trình

hợp tác kinh tế giữa các nước Đông Nam Á Về cơ bản AEC dựa trên ba trụ cột chính của hợp tác kinh tế ASEAN là AFTA (hiện nay là ATIGA – Hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN), AFAS (Hiệp định khung về thương mại dịch vụ ASEAN) và AIA (hiện nay là ACIA – Hiệp định toàn diện về đầu tư ASEAN) Gần đây, kế hoạch hành động AEC (AEC Blueprint) đã được thông qua vào năm 2007 Đây là tập hợp các sáng kiến của các nước ASEAN nhằm hoàn tất lộ trình AEC vào năm 2015, do đó nó bao gồm rất nhiều các kế hoạch hành động, mục tiêu và thời hạn cụ thể cho nhiều lĩnh vực khác nhau

Tuy nhiên, các nước ASEAN vẫn cần những cố gắng rất lớn để có thể tiến tới AEC vào năm 2015 Hơn thế nữa, đặt trong bối cảnh đầy biến động của thế giới trong những năm gần đây, AEC không chỉ phải đương đầu với nhiều khó khăn thử thách hơn, mà còn thậm chí phải xem xét điều chỉnh cả về mục tiêu, nội dung, lộ

trình, đặc biệt là mô hình và thể chế hoạt động Do đó có thể nói rằng bối cảnh quốc tế mới đặt ra những vấn đề mới đối với AEC và những vấn đề này cần được

nghiên cứu để giúp AEC có thể điều chỉnh để hướng tới một thể chế hiệu quả hơn

Trang 18

Bối cảnh quốc tế mới đặt ra những vấn đề mới đối với AEC

Thứ nhất, cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu những năm 2008-2009 đã tác động mạnh mẽ tới nền kinh tế thế giới nói chung Nền kinh tế các nước ASEAN vốn phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố bên ngoài thông qua hoạt động xuất khẩu và nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), đã chịu ảnh hưởng nặng nề bởi cuộc khủng hoảng này, kéo theo một giai đoạn đình trệ trong phát triển kinh tế của các nước này Hậu quả của khủng hoảng ít nhất sẽ ảnh hưởng tới tiến trình hiện thực hóa AEC vào năm 2015

Thứ hai, khủng hoảng nợ công châu Âu tuy không ảnh hưởng trực tiếp tới các nước ASEAN, song lại là một yếu tố buộc ASEAN phải xem xét lại mô hình hợp tác của mình, tránh những thất bại mà EU đã gặp phải EU từ trước tới nay vẫn được coi là hình mẫu của một liên minh kinh tế phát triển ở giai đoạn cao Tuy AEC có rất nhiều điểm khác biệt và còn rất xa mới đạt tới mức độ phát triển của

EU, song dường như AEC vẫn coi EU là một hình mẫu để hướng tới Câu hỏi đặt

ra ở đây là liệu mục tiêu trong dài hạn của AEC sẽ là thị trường chung hay liên minh kinh tế tiền tệ như mô hình của EU; AEC sẽ cần phải điều chỉnh những gì sau bài học từ cuộc khủng hoảng đồng euro ở châu Âu

Thứ ba, quá trình phát triển hợp tác Đông Á và châu Á-Thái Bình Dương đang là một yếu tố quan trọng trong bối cảnh thế giới hiện nay Hợp tác Đông Á đã phát triển mạnh mẽ cả về chiều rộng và chiều sâu trong những năm gần đây Kể từ năm 1997, thể chế cho hợp tác kinh tế Đông Á đã được định hình trong quan hệ giữa ASEAN với Trung Quốc, Nhật bản và Hàn quốc thông qua các cơ chế ASEAN+1, ASEAN+3 và hội nghị thượng đỉnh Đông Á Trên thực tế, tổng kim ngạch thương mại giữa ASEAN với Trung Quốc, Nhật bản và Hàn quốc đã đạt 533,3 tỷ USD vào năm 2010, chiếm 26,1% tổng kim ngạch thương mại của ASEAN Đầu tư trực tiếp (FDI) từ các nước này vào ASEAN cũng đã được ghi nhận ở con số 14,9 tỷ USD năm 2010, tăng 62,4% so với năm 2009 (ASEAN, 2011) Hợp tác Đông Á đang hướng tới một Cộng đồng Kinh tế Đông Á trong tương lai, và AEC đang cố gắng không bị hòa tan mà trở thành một hạt nhân trong liên kết kinh tế này

Bên cạnh hợp tác kinh tế Đông Á, trong những năm gần đây, khu vực châu Á-Thái Bình Dương còn chứng kiến quyết tâm hội nhập mạnh mẽ của các nước đàm phán Hiệp định đối tác xuyênThái Bình Dương (TPP), trong đó nổi lên vai trò của Mỹ TPP đã diễn ra nhiều vòng đàm phán và tham vọng trở thành một Hiệp định bao hàm các lĩnh vực hợp tác toàn diện nhất từ trước tới nay Do đó, AEC

Trang 19

cũng đang đứng trước một nguy cơ chia rẽ và hòa tan vào TPP, như là một công cụ của Mỹ để gây ảnh hưởng đến các nước trong khu vực Như vậy, việc đánh giá các tác động cụ thể của bối cảnh hợp tác Đông Á và châu Á-Thái Bình Dương hiện nay đối với ASEAN nói chung và AEC nói riêng có ý nghĩa quan trọng về thực tiễn, tạo

cơ sở để đưa ra những điều chỉnh và đối sách phù hợp của AEC trước tình hình mới

Thứ tư, xu hướng hợp tác trong khu vực đi đôi với xu hướng cạnh tranh ngày càng gia tăng, nổi bật nhất là sự cạnh tranh từ nền kinh tế Trung Quốc Hàng xuất khẩu giá rẻ của Trung Quốc đang đánh bật hàng hoá của các nước ASEAN không chỉ tại thị trường Nhật Bản, châu Âu và Mỹ truyền thống mà ngay tại cả khu vực Đông Nam Á Do thiếu sự liên kết với nhau nên nhiều nước Đông Nam Á đang trở thành nơi cung cấp nguyên liệu thô cho hoạt động sản xuất ở Trung Quốc và tiếp nhận những công nghệ vốn đã lạc hậu so với thế giới của nước này Việc thuế nhập khẩu đang giảm dần theo lộ trình của Hiệp định thương mại tự do đối với hàng loạt mặt hàng, từ thực phẩm, sản phẩm dệt may, đồ điện đến sắt, thép… kim ngạch thương mại hai chiều giữa các nước ASEAN với Trung Quốc năm 2010 đã đạt 300 tỉ USD, tăng trên 50% so năm trước, với xu hướng nhập siêu của các nước ASEAN ngày càng tăng (theo số liệu của UN Comtrade)1 Nhiều doanh nghiệp ASEAN đang rất khó khăn trong việc cạnh tranh với hàng nhập khẩu Trung Quốc Điều này đã làm nảy sinh yêu cầu xem xét và đàm phán lại nội dung Hiệp định thương mại hoặc sử dụng các công cụ phòng vệ hay bảo hộ khác Bên cạnh đó, lo ngại mang tính chính trị cũng tăng lên do những vấn đề biên giới và chủ quyền quốc gia, các nước ASEAN nghi ngờ về những lợi ích có thể đạt được với một Trung Quốc quá tham vọng Tác động của sự cạnh tranh từ Trung Quốc đối với việc thực hiện AEC cũng như vai trò của AEC đối với các nước ASEAN trong việc đối phó với sự cạnh tranh của Trung Quốc cần phải được đánh giá một cách khoa học

Thứ năm, xu thế bùng nổ của các hiệp định tự do thương mại không chỉ khiến các nước không mấy mặn mà với quá trình hội nhập đa phương mà còn ảnh hưởng tới cả các quá trình hội nhập khu vực đã có Theo thống kê của Ban Thư ký WTO, tính đến tháng 7/2012, có 224 Hiệp định thương mại khu vực đã được thông báo cho WTO và đang có hiệu lực, trong đó có 195 Hiệp định thương mại tự do (FTA) Đáng chú ý là có 139 FTAs (chiếm 71%) được ký kết trong giai đoạn 2001-

2012, tức là trong thời gian diễn ra vòng đàm phán Doha2 Như vậy, việc ký kết và

Trang 20

thực hiện các FTA song phương và khu vực vẫn diễn ra đồng thời với quá trình đàm phán Doha của WTO Các nước ASEAN cũng đang bị cuốn vào trào lưu đó với hàng loạt các hiệp định thương mại tự do giữa các nước thành viên ASEAN với các nước bên ngoài Việc cố gắng theo đuổi các FTA song phương riêng rẽ với bên ngoài đang tạo ra hai chiếc bánh xe ở Đông Á mà trung tâm là hai nền kinh tế Nhật Bản và Trung Quốc Theo nhiều nghiên cứu, điều này không đem lại lợi ích lâu dài cho mỗi nước ASEAN Với việc Mỹ đang mở rộng ảnh hưởng ở khu vực này thông qua TPP, ASEAN sẽ có khả năng tiếp tục bị chia rẽ và tạo nên một trung tâm mới

là Mỹ AEC được coi là giải pháp để khắc phục những bất lợi của tự do hóa song phương với các nước lớn ở Đông Á Tuy nhiên, cần có một câu trả lời cho câu hỏi: liệu AEC cũng đồng thời là giải pháp đối phó với việc Mỹ mở rộng ảnh hưởng trong khu vực hay không?

Thứ sáu, những thay đổi trong nội bộ các nền kinh tế ASEAN cũng là một yếu tố rất lớn tác động đến AEC Cụ thể là việc chuyển đổi kinh tế ở Myanmar và vấn đề tái cấu trúc nền kinh tế ở một số nước ASEAN, trong đó có Việt Nam Vấn

đề tái cấu trúc có phạm vi rộng và phức tạp, nó bao gồm cả vấn đề tái cơ cấu ngành, vùng lẫn sự phân tích điều chỉnh hệ thống thể chế, cơ chế vận hành và hệ thống quản trị vĩ mô Do đó, quá trình tái cấu trúc ở các nước sẽ ảnh hưởng lớn đến một loạt các vấn đề cốt lõi trong hợp tác AEC trên các lĩnh vực thương mại, đầu tư, tài chính, lao động, cạnh tranh

Ngoài ra, những bất ổn về an ninh, chính trị trong khu vực và trên thế giới như xung đột ở Trung Đông, các tranh chấp ở biển Đông cũng có các tác động trực tiếp hoặc gián tiếp tới quá trình hình thành AEC và do đó cũng cần được phân tích một cách cụ thể

Tóm lại, bối cảnh thế giới mới đặt ra nhiều vấn đề có ảnh hưởng lớn tới AEC cần phải được nghiên cứu một cách thấu đáo và đưa ra những đối sách, những đề xuất điều chỉnh phù hợp Nghiên cứu này sẽ tập trung vào ba điểm chính sau:

- Làm rõ bối cảnh thế giới mới, trong đó điển hình là khủng hoảng kinh tế

thế giới, khủng hoảng nợ công châu Âu, hợp tác Đông Á và châu Á-Thái Bình Dương, chủ nghĩa song phương và khu vực, vấn đề tái cấu trúc nền kinh tế các nước thành viên có thể ảnh hưởng tới AEC

- Đánh giá các tác động của từng bối cảnh và tác động chung tới AEC

Giúp Việt Nam giải quyết các vấn đề đang phải đối mặt khi tham gia AEC

và tăng cường hiệu quả gia nhập AEC của Việt Nam

Trang 21

Việt Nam tham gia vào các liên kết kinh tế cơ bản của ASEAN như AFTA, AFAS, AIA, và 12 ngành ưu tiên hội nhập với thời hạn thực thi sau nhóm ASEAN-

6 nhưng thuộc loại sớm nhất trong nhóm CLMV Gần đây, Việt Nam đã thể hiện rõ quyết tâm thực hiện AEC và tham gia tích cực hơn vào các hoạt động của AEC thông qua việc thực hiện các cam kết trong khuôn khổ AEC về thương mại hàng hóa cũng như các biện pháp thuận lợi hóa thương mại và tài chính

Tuy nhiên, việc tham gia AEC và thực hiện theo đúng lộ trình cũng đặt ra rất nhiều thách thức đối với Việt Nam

Bản thân nền kinh tế Việt Nam đang đứng trước yêu cầu phải tái cấu trúc và thay đổi mô hình tăng trưởng Vấn đề đặt ra là cần hài hòa những biện pháp, chính sách Việt Nam thực hiện trong khuôn khổ AEC với mục tiêu chung về tái cấu trúc

và thay đổi mô hình tăng trưởng phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế-xã hội của Việt Nam Nội dung tái cấu trúc nền kinh tế có thể khái quát thành một số nội dung chủ chốt: tái cấu trúc hệ thống quản trị vĩ mô (tài chính, đầu tư, cải cách hành chính…); tái cấu trúc hệ thống phân cấp quản lý trung ương - địa phương; tái cấu trúc khu vực doanh nghiệp nhà nước; cấu trúc lại hệ thống các ngành kinh tế; cấu trúc và phát triển hệ thống hạ tầng… Tất cả các nội dung tái cấu trúc này đều nhằm đưa Việt Nam đạt đến giai đoạn cao hơn của mô hình tăng trưởng, trong đó chú trọng gắn liền số lượng với chất lượng tăng trưởng

Bốn nhóm biện pháp trụ cột của Lộ trình chiến lược và Kế hoạch tổng thể thực hiện AEC gồm: (1) Nhóm biện pháp để tạo lập một thị trường chung và cơ sở sản xuất duy nhất; (2) Nhóm biện pháp về nâng cao năng lực cạnh tranh của các khu vực, ngành kinh tế; (3) Nhóm các biện pháp tạo sự phát triển công bằng và đồng đều; và (4) Nhóm các biện pháp kết nối nền kinh tế ASEAN với bên ngoài

Có thể thấy rằng nhóm biện pháp (1) liên quan trực tiếp đến vấn đề tái cấu trúc quản trị vĩ mô về tài chính, đầu tư; nhóm biện pháp (2) liên quan đến việc tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước, các ngành kinh tế; nhóm biện pháp thứ (3), trong

đó bao gồm việc xây dựng một cơ sở hạ tầng ASEAN gắn liền với quá trình tái cấu trúc và phát triển hệ thống hạ tầng tại Việt Nam

Như vậy, các nội dung của tái cấu trúc có sự giao thoa với các mảng hoạt động mà Việt Nam tham gia trong AEC Việc nghiên cứu quá trình tham gia AEC của Việt Nam, đặc biệt việc đề xuất các chính sách, biện pháp nhằm tham gia AEC

có hiệu quả cần phải đặt trong quá trình tái cấu trúc và chuyển đổi mô hình phát triển kinh tế của Việt Nam

Trang 22

Thứ hai là vấn đề về nhận thức và sự tham gia của các doanh nghiệp Việt Nam vào tiến trình hội nhập ASEAN nói chung và hội nhập AEC nói riêng Doanh nghiệp Việt Nam vẫn khá bị động trong tiến trình hội nhập này, do nhận thức về AEC và những cơ hội và thách thức mà AEC mang lại chưa thực sự rõ ràng Cần

có những nghiên cứu sâu để đánh giá hiểu biết và nhận thức của doanh nghiệp Việt Nam về AEC, tác động của AEC đối với hoạt động của doanh nghiệp và chiến lược của doanh nghiệp trong bối cảnh Việt Nam tham gia AEC

Thời gian cho việc hiện thực hóa AEC không còn nhiều, bản thân việc thực hiện các cam kết trong AEC của Việt Nam cũng đòi hỏi nỗ lực và quyết tâm lớn

Đã có một số nghiên cứu về sự tham gia của Việt Nam vào AEC và tác động của AEC tới Việt Nam, nhưng vẫn còn nhiều mảng nội dung chưa được nghiên cứu như được nêu trong phần tổng quan tài liệu Do đó, cần có một nghiên cứu tổng thể các nội dung hội nhập của Việt Nam trong AEC; xác định Việt Nam đang ở giai đoạn nào của lộ trình; cần có các biện pháp như thế nào để thực hiện đầy đủ và hiệu quả các cam kết và tác động của việc thực hiện AEC tới kinh tế Việt Nam nói chung và các ngành cụ thể nói riêng như thế nào

Tóm lại, nghiên cứu về AEC trong bối cảnh mới của thế giới và sự tham gia của Việt Nam là hết sức cần thiết nhằm lấp đầy các khoảng trống của các nghiên cứu trước đây cả về lý luận và thực tiễn Hơn thế nữa, nghiên cứu này còn có ý nghĩa cấp bách trước bối cảnh khu vực và quốc tế mới hiện nay cũng như trước các vấn đề mà Việt Nam phải đối mặt khi tham gia AEC, giúp Việt Nam tham gia

có hiệu quả vào AEC, qua đó góp phần thực hiện thành công chiến lược hội nhập, chiến lược phát triển Kinh tế - Xã hội đến năm 2020 cũng như quá trình tái cơ cấu kinh tế và chuyển đổi mô hình tăng trưởng

Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Các nghiên cứu liên quan đến AEC tập trung vào một số nội dung lớn: Mục tiêu, nội dung, lộ trình của AEC; Đánh giá các tác động của bối cảnh mới của thế giới tới ASEAN/AEC; Đánh giá tác động của ASEAN/AEC tới các nước thành viên

Mục tiêu, nội dung, lộ trình của AEC

Các tài liệu của ASEAN đưa ra các mục tiêu và nội dung cơ bản của AEC

Đề cương AEC, mục 8, phần II đã khẳng định AEC dựa trên bốn trụ cột chính là: i) Một thị trường và cở sở sản xuất duy nhất; ii) Một khu vực kinh tế cạnh tranh cao; iii) Một khu vực phát triển kinh tế bình đẳng; và iv) Một khu vực hội nhập hoàn

toàn vào nền kinh tế toàn cầu

Trang 23

Hew (2005) và ISEAS (2009) là hai nghiên cứu quan trọng về lộ trình của AEC cũng như kế hoạch hành động cụ thể của các nước thành viên tới năm 2015

Kế hoạch hành động được thông qua vào năm 2007 của AEC đã chỉ rõ các kế hoạch cụ thể, mục tiêu và thời hạn thực hiện các biện pháp hội nhập kinh tế nhằm tiến tới AEC vào năm 2015

Nguyễn Hồng Sơn (2009) là một công trình tiêu biểu nghiên cứu về nội dung và lộ trình của AEC Nghiên cứu này đã cung cấp một bức tranh toàn diện và tổng thể về lịch sử hình thành, mục tiêu, các nội dung và hình thức hợp tác trong AEC và lộ trình thực hiện các hợp tác đó Nghiên cứu này cùng với một số nghiên cứu khác như Đỗ Hoài Nam (2006), Nguyễn Hồng Sơn (2007) cũng chỉ ra rằng

mục tiêu “thị trường sản xuất duy nhất” của AEC chỉ dựa trên bốn tự do (4F) ở mức yếu là tự do di chuyển hàng hoá và dịch vụ, tự do di chuyển vốn hơn và lao động có tay nghề Nói cách khác, AEC chỉ là mô hình liên kết kinh tế khu vực dựa

trên và nâng cao những cơ chế liên kết kinh tế hiện có của ASEAN, bổ sung thêm hai nội dung mới là tự do di chuyển lao động và di chuyển vốn tự do hơn

Về thể chế hợp tác trong AEC, theo Tuyên bố Bali II (Mục B.3), để thực hiện AEC ASEAN sẽ lập ra những cơ chế và biện pháp mới để đẩy mạnh hơn những liên kết kinh tế hiện có của ASEAN như AFTA, AFAS, AICO, thúc đẩy hội nhập khu vực những lĩnh vực ưu tiên, tạo thuận lợi cho các doanh nhân và lao động

có tay nghề di chuyển, củng cố các thể chế của ASEAN như Cơ chế giải quyết tranh chấp và đồng thời thực hiện các khuyến nghị về liên kết kinh tế của Nhóm đặc biệt cao cấp (HLTF) Trong đó, Tuyên bố Bali II (mục B.2) và khuyến nghị của HLTF (mục 3.iii) nhấn mạnh cần phải đẩy mạnh thực hiện các sáng kiến liên kết hiện có của ASEAN với các thời hạn rõ ràng hơn

Bàn về thể chế hợp tác của AEC, Đỗ Đức Định (2007) và Nguyễn Hồng Sơn (2009) đã chỉ rõ một khác biệt quan trọng nữa giữa mô hình AEC với mô hình của EEC là cách thức ra quyết định Nguyên tắc ra quyết định của ASEAN là nguyên

tắc “đồng thuận” trong khi nguyên tắc tối thượng của EU là nguyên tắc "đa số quyết định" Hội nghị Bộ trưởng kinh tế ASEAN (AEM) là cơ quan điều phối hội

nhập và hợp tác kinh tế trong AEC với tính thể chế và quyền lực không cao Trong khi đó, Ủy ban châu Âu (EC) lại là một cơ quan có tính thể chế và quyền uy cao đối với các nước thuộc EEC Công trình này đã nhận định rằng khó có thể so sánh AEC với EEC về mức độ hội nhập kinh tế và thể chế; và lại càng không thể so sánh

“Thị trường ASEAN duy nhất” với “Thị trường châu Âu duy nhất.”

Nguyễn Duy Dũng (2012) và Laursen (2010) cũng chỉ ra rằng AEC chưa

Trang 24

phải là liên minh thuế quan, cũng chưa phải là một thị trường chung Có thể AEC cần có một số thể chế mới để phối hợp các liên kết kinh tế rời rạc trong ASEAN hiện nay như Cơ quan giải quyết tranh chấp và Hiến chương ASEAN Trên thực tế,

Cơ quan giải quyết tranh chấp của ASEAN khó thể vượt qua được giới hạn của các nguyên tắc truyền thống của ASEAN “đồng thuận”, “không can thiệp vào công việc nội bộ”, “quyền tự quyết” và “chủ quyền quốc gia” để cưỡng chế các thành viên thi hành quyết định của mình một cách hiệu quả Hiến chương ASEAN cũng chỉ mới dừng lại ở mức tạo một quy chế pháp lý, nói cách khác là sự “xuất hiện” chính thức của ASEAN, trên các diễn đàn quốc tế chứ chưa có tác động đáng kể gì đối với quyền và nghĩa vụ của các thành viên ASEAN đối với tổ chức này Cái mới đáng kể của AEC đến nay có lẽ chỉ là cái tên, một thời hạn rút ngắn và những mốc thời gian để hoàn thành cam kết rõ ràng và dứt khoát hơn

Tóm lại, đã có khá nhiều công trình nghiên cứu tổng thể về mục tiêu, nội dung, lộ trình của AEC Nếu như các vấn đề về mục tiêu, nội dung hợp tác, lộ trình của AEC đã khá rõ ràng thì vấn đề thể chế của AEC vẫn tốn khá nhiều giấy mực của các nhà nghiên cứu Trong bối cảnh biến động của khu vực và quốc tế, với những đặc điểm khác biệt về văn hóa, kinh tế, xã hội, chính trị của ASEAN so với các khu vực khác, đặc biệt là châu Âu, các hình thức thể chế nào là phù hợp với ASEAN để vừa giúp ASEAN đạt được mục tiêu đặt ra, lại vừa đảm bảo được các hoạt động theo phương cách châu Á (Asian ways) Rõ ràng là cần có một nghiên cứu tổng thể và chi tiết về thể chế hợp tác của AEC, đặc biệt trong bối cảnh khu vực và quốc tế mới, so sánh với thể chế hợp tác của các tổ chức khu vực khác (EU), trên cơ sở đó đề xuất các điều chỉnh thể chế phù hợp với mục tiêu nội dung và lộ trình đã đặt ra

Tác động của những biến động khu vực và quốc tế mới tới ASEAN/AEC

Có nhiều nghiên cứu về các tác động của những biến động khu vực và quốc

tế mới tới AEC như Lall (2001), Athukorala (2008), Brooks và Stone (2010), Kawai (2011: 123), Trần Văn Tùng và Phạm Ngọc Tân (2007:27), Nguyễn Văn Lịch (2007), Deng và Moore (2004:19), Pangestu và Gooptu (2003), Ronald J Wannacott (1996), Baldwin (2003), Urata và Kiyota (2003) và Schwarz và Villinger (2004) Tuy nhiên, các bài nghiên cứu này thường chỉ đi sâu vào một vài biến động riêng lẻ và tác động của nó tới sự phát triển của AEC Trong đó, Deardorff (2001), Lall (2001), Nguyễn Văn Lịch (2007), Athukorala (2008) và Brooks và Stone (2010) đi sâu phân tích về khía cạnh toàn cầu hóa Kawai (2011: 123) phân tích bất ổn kinh tế toàn cầu tới AEC Trần Văn Tùng và Phạm Ngọc Tân (2007:27), Deng và Moore (2004:19) đánh giá tác động tính toán chiến lược của

Trang 25

các nước lớn tới việc hình thành AEC Ronald J Wannacott (1996), Baldwin (2003), Pangestu và Gooptu (2003), Urata và Kiyota (2003) và Plummer và Wignaraja (2006) đi sâu vào phân tích xu thế bùng nổ của các hiệp định tự do thương mại đến việc hình thành AEC Chỉ có Đỗ Hoài Nam (2006) và Nguyễn Hồng Sơn (2007) đã đưa ra khá đầy đủ những yếu tố tác động đến việc hình thành AEC

Theo Deardorff (2001), toàn cầu hóa tạo điều kiện cho quá trình sản xuất phân chia thành nhiều công đoạn và được tiến hành ở nhiều nơi khác nhau để tạo ra một sản phẩm cuối cùng Việc phân chia này đem lại lợi ích kinh tế do chi phí cho những dịch vụ liên kết các khu vực sản xuất như giao thông vận tải và thông tin liên lạc ngày càng thấp Bởi vì những dịch vụ này tạo ra lợi thế về quy mô nên toàn cầu hóa không chỉ tạo ra sự phân chia mà còn tạo ra sự tập trung sản xuất vào những khu vực nhất định Kết quả là có những nền kinh tế trở thành công xưởng và cũng có những nền kinh tế bị loại ra khỏi dây chuyền sản xuất toàn cầu Khả năng

đó buộc các nền kinh tế ASEAN, vốn phụ thuộc rất nhiều vào xuất khẩu và luồng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), phải tham gia “năng động” và “mạnh mẽ” hơn nữa hướng tới mục tiêu đẩy nhanh tiến trình thành lập AEC vào năm 2015 để phát huy được tối đa lợi thế về quy mô, một địa chỉ đầu tư hấp dẫn và đóng góp vào

“chuỗi giá trị” toàn cầu, nâng cao vị thế của nền kinh tế ASEAN trong kinh tế toàn cầu

Theo Brooks và Stone (2010), xu hướng kể trên đang tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở châu Á được hưởng lợi từ toàn cầu hóa Nghiên cứu của Athukorala (2008) cho thấy nhờ xu hướng toàn cầu hóa, thị phần xuất nhập khẩu trong khu vực của tất cả các nước Đông Á đã tăng nhanh hơn nhiều

so với với phần còn lại của thế giới

Như vậy, xu hướng toàn cầu hóa đã và đang diễn ra sẽ là động lực thúc đẩy AEC nắm bắt cơ hội để đạt được mục tiêu “một thị trường và cơ sở sản xuất duy nhất”, nơi có tự do thương mại và tự do chuyển các yếu tố sản xuất (như vốn và lao động có tay nghề) Theo đó, ASEAN sẽ trở thành một thị trường có giá cả thống nhất, bao gồm giá hàng hóa và dịch vụ lẫn giá của các yếu tố sản xuất (Lloyd và Smith, 2004:19 và Romeo A Reynes, 2004) Đây là yếu tố quan trọng để nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế ASEAN trong bối cảnh mới

Bên cạnh việc nghiên cứu những tác động tích cực của xu hướng toàn cầu hóa tới AEC, các nghiên cứu, đặc biệt là nghiên cứu của Lall (2001) đã chỉ ra rằng toàn cầu hóa đem lại nhiều lợi ích hơn cho các nước đã phát triển như Singapore,

Trang 26

Hàn Quốc và Đài Loan trong khi những nước kém phát triển khác như các nước châu Phi cận Sahara thì ít, thậm chí không được hưởng lợi Trên cơ sở đó, các nghiên cứu này cũng khuyến nghị các nhà lãnh đạo ASEAN cần có những chính sách để xu hướng toàn cầu hóa không ảnh hưởng đến mục tiêu thứ 3 của AEC là sự phát triển đồng đều trong nội khối ASEAN

Ngoài ra, sự mất ổn định của nền kinh tế toàn cầu trong bối cảnh toàn cầu hóa đặc biệt là khủng hoảng tài chính toàn cầu, khủng hoảng nợ công ở châu Âu đang đặt ra những thách thức lớn cho ASEAN Liên kết chặt chẽ với nhau hơn sẽ tạo ra một nền kinh tế khu vực thống nhất và lợi thế về quy mô có thể giúp nền kinh tế ASEAN ngăn ngừa và đối phó với các cuộc khủng hoảng trong tương lai

Tuy nhiên, cho đến thời điểm hiện nay, trong khi có rất nhiều nghiên cứu phân tích đánh giá khủng hoảng tài chính toàn cầu và khủng hoảng nợ công ở châu Âu và những bài học kinh nghiệm rút ra cho châu Á, nhưng chưa có nhiều nghiên cứu đã công bố phân tích tác động của của hai cuộc khủng hoảng này tới việc hình thành AEC vào năm 2015

Trần Văn Tùng và Phạm Ngọc Tân (2007:27), Đỗ Hoài Nam (2006), Nguyễn Thị Thanh Thủy (2007), Nguyễn Hồng Sơn (2007), và Deng và Moore (2004:19) đã phân tích tác động tính toán chiến lược của các nước lớn tới việc hình thành AEC ASEAN là đối tượng giành giật và gây ảnh hưởng về lợi ích kinh tế chính trị của nhiều nước lớn như Mỹ, Trung Quốc và Nhật Bản Các nước này đều coi ASEAN là đối tác chiến lược và đang tích cực lôi kéo ASEAN về phía mình

Mỹ có thể muốn một ASEAN liên kết chặt chẽ hơn tạo sự “cân bằng quyền lực” với Trung Quốc trong khu vực này, thay vì khả năng ASEAN bị chia ra thành các nước trên lục địa thân Trung Quốc nhiều hơn AEC độc lập cũng không làm tổn hại lợi ích kinh tế của Mỹ khi Mỹ đã buộc chặt các đồng minh của mình là Philippines, Thái Lan và Singapore bằng các hiệp định tự do thương mại (Trần Văn Tùng và Phạm Ngọc Tân, 2007:27) và đã ký hiệp định thương mại với các nước ASEAN khác trong đó có Việt Nam Như vậy, Mỹ có thể phản đối một Cộng đồng kinh tế Đông Á song Mỹ không phản đối một Cộng đồng kinh tế ASEAN Trung Quốc chú

ý tới ASEAN bởi đây là thị trường tiềm năng có vị trí chiến lược an ninh quan trọng của Trung Quốc (Đỗ Hoài Nam, 2006) Thế hệ lãnh đạo mới của Trung Quốc tích cực theo đuổi chính sách an ninh hợp tác khu vực (Deng và Moore, 2004:19) ASEAN đang là đối tác thương mại chính của Trung Quốc nên không có lý do gì

để Trung Quốc phản đối AEC Nhật Bản coi ASEAN là mắt xích quan trọng trong mạng lưới sản xuất toàn cầu của nước này Một thị trường tự do thống nhất tại ASEAN sẽ giúp Nhật Bản đa dạng hóa địa bàn và lĩnh vực đầu tư, thay vì phải đầu

Trang 27

tư tập trung tại Trung Quốc (Trần Văn Tùng và Phạm Ngọc Tân, 2007: 27) Vì thế, Nhật Bản ủng hộ ASEAN liên kết chặt chẽ hơn để tạo ra một thị trường thống nhất cho các công ty Nhật làm đối trọng với Trung Quốc đang lớn mạnh

Ngoài ra, AEC còn là sự phản ứng của ASEAN trước sự canh tranh ngày một gia tăng của các nền kinh tế mới nổi như Trung Quốc và Ấn Độ Với lợi thế là một thị trường rộng lớn, tương đối thống nhất và thông thoáng, Trung Quốc và Ấn

Độ đang là hai nền kinh tế cạnh tranh “mang tính sống còn” với ASEAN nơi vẫn còn đang bị chia cắt bởi các hàng rào thuế quan và phi thuế quan và chưa chiếm được ưu thế khi tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu AEC sẽ giúp ASEAN hội nhập sâu sắc hơn để trở thành một thực thể kinh tế thống nhất, có khả năng bổ sung lẫn nhau, khắc phục yếu thế của từng nước riêng lẻ để cạnh tranh với hai “người khổng

lồ mới nổi” này

Đã có một số nghiên cứu như Ronald J Wannacott (1996), Baldwin (2003), Pangestu và Gooptu (2003), Nguyễn Thị Hồng Nhung (2003) và Nguyễn Hồng Sơn (2007:4) đi sâu vào phân tích xu thế bùng nổ của các hiệp định tự do thương mại ở ASEAN đến việc hình thành AEC Các nước thành viên AEC chủ yếu phụ thuộc vào các nước ngoài khối về thị trường, vốn và công nghệ Mức độ mở cửa thương mại của các nước thành viên đều lớn (trừ Lào và Myanmar), từ 50% (Indonesia) lên đến 385,6% (Singapore) (Nguyễn Hồng Sơn, 2007:4) Các đối tác thương mại và đầu tư chủ chốt của ASEAN là Mỹ, Nhật Bản, EU và Trung Quốc chứ không phải

là một nước nào trong khối Baldwin (2003) chỉ ra rằng việc từng thành viên ASEAN cố gắng theo đuổi các FTA song phương riêng rẽ với bên ngoài đang tạo

ra hai chiếc bánh xe ở Đông Á mà trung tâm là hai nền kinh tế Nhật Bản và Trung Quốc Đây chính là “cạm bẫy” cho các nước ASEAN Bản chất của cạm bẫy này chính là mối quan hệ bất bình đẳng giữa “trung tâm” là nền kinh tế lớn như Trung Quốc và Nhật Bản và “ngoại vi” là các nền kinh tế nhỏ của ASEAN “Trung tâm” hưởng lợi do có được đối xử ưu đãi từ tất cả các nước ngoại vi trong khi các nước này mở cửa thị trường cho nhau còn hạn chế “Trung tâm” có thể dịch chuyển dòng vốn đầu tư của mình từ nước ngoại vi này sang nước ngoại vi khác theo cách có lợi nhất cho mình song lại gây bất lợi cho các nước ngoại vi Để đối phó với “cạm bẫy” này, ASEAN đã chọn theo một trong ba cách mà Pangestu và Gooptu (2003) chỉ ra là thành lập một FTA khu vực giữa tất cả các nền kinh tế ngoại vi để đảm bảo được lợi ích của mỗi nước thành viên ASEAN trong quan hệ với các nền kinh

tế ngoại khối Mặt khác nó có thể hạn chế một số thành viên ASEAN phát triển hơn

đã khai thác lợi thế đi trước để ký các hiệp định tự do song phương riêng rẽ với bên ngoài như Mỹ, Nhật và Trung Quốc Điều này sẽ gây ra hiệu ứng “ngoại vi-trung

Trang 28

tâm bất đối xứng” và đem lại bất lợi cho các nước ASEAN về lâu dài như Ronald J Wannacott (1996) và Baldwin (2003) đã chỉ ra

Như vậy, có thể thấy, AEC đã trở thành tâm điểm giao thoa của hàng chục thỏa thuận thương mại song phương và đa phương khác mà ASEAN đang triển khai hoặc tham gia đàm phán với Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Úc, New Zealand, Ấn Độ, EU, thậm chí là các nước thuộc khối thị trường chung Nam Mỹ (MERCOSUR) Sự thịnh vượng của AEC chỉ thực sự vững chắc nếu như AEC tạo được mối liên kết hài hòa giữa hợp tác nội khối và giữa ASEAN với các đối tác ngoại khối Trong vài năm qua, bên cạnh việc tạo ra các AFTA, ASEAN cũng đã

đề cao việc củng cố mối quan hệ kinh tế với các đối tác thương mại lớn như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, Úc và New Zealand (Hew, 2007) Các Hiệp định thương mại tự do ASEAN-Trung Quốc (ACFTA), ASEAN-Hàn Quốc (AKFTA), ASEAN-Nhật bản (AJCEP), ASEAN-Ấn Độ và ASEAN-Úc và New Zealand (AANZFTA) đã bắt đầu có hiệu lực là minh chứng cho nhận định trên Urata và Kiyota (2003) đã chỉ ra ASEAN+3 FTA sẽ tạo ra lợi ích cho tất cả các nước tham gia Đặc biệt, Plummer và Wignaraja (2006) đã nghiên cứu định lượng

và chỉ ra ASEAN+6 FTA tạo ra nhiều lợi ích xã hội hơn cả ASEAN+3 FTA

Tóm lại, trong vài năm trở lại đây, khu vực và thế giới đã chứng kiến nhiều biến động lớn về cả mặt kinh tế và chính trị, bối cảnh mới này chắc chắn đặt ra những vấn đề mới đối với AEC Tuy nhiên, đa số nghiên cứu được công bố trước đây đã chỉ đi sâu vào một vài vấn đề để đánh giá tác động của những biến động tới AEC như vấn đề toàn cầu hóa, vấn đề khủng hoảng tài chính, vấn đề nở rộ các hiệp định tự do thương mại, tính toán chiến lược của các nước lớn Chỉ có Đỗ Hoài Nam (2006) và Nguyễn Hồng Sơn (2007) đã đánh giá khá đầy đủ những yếu tố tác động đến việc hình thành AEC Tuy nhiên, cả hai nghiên cứu này cũng như những nghiên cứu kể trên đều hoàn thành trước khi có những biến động mới trong khu vực và quốc tế Để khắc phục điều đó, nghiên cứu này sẽ tập trung phân tích một cách toàn diện các biến động mới của khu vực và quốc tế và các tác động của nó tới AEC trong giai đoạn 2010 đến 2015 thông qua các nội dung (1) Xu thế toàn cầu hóa và dịch chuyển sang nền kinh tế tri thức; (2) Khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008-2010; (3) Khủng hoảng nợ công ở Châu Âu; (4) Tính toán chiến lược của các nước lớn; (5) Sự đẩy mạnh của hợp tác Đông Á và châu Á-Thái Bình Dương; (6)

Sự cạnh tranh của hai nền kinh tế Trung Quốc và Ấn Độ; (7) Vấn đề tranh chấp giữa Trung Quốc với các nước ASEAN ở Biển Đông; (8) Xu thế bùng nổ các hiệp định tự do thương mại song phương; (9) Tái cấu trúc kinh tế ở một số nước ASEAN Dựa trên phân tích toàn diện các tác động này, nghiên cứu sẽ cố gắng đề

Trang 29

xuất một số khuyến nghị về điều chỉnh thế chế hợp tác của Cộng động kinh tế ASEAN nhằm giúp cho cộng đồng đạt được mục tiêu của mình trong bối cảnh có nhiều biến động mới trong khu vực và quốc tế

Tác động của việc thực hiện AEC tới nội khối

Hình thành được AEC vào năm 2015 là tham vọng của tất cả các nước thành viên ASEAN Vậy, AEC sẽ mang lại những lợi ích và chi phí gì cho nội khối và từng nước thành viên là câu hỏi lớn mà các nhà lãnh đạo của các nước ASEAN đều quan tâm Cho đến nay đã có nhiều nghiên cứu phân tích và đánh giá tác động của AEC tới nội khối như Rayes (2005), Nguyễn Duy Lợi (2004), Trần Văn Tùng và Phạm Ngọc Tân (2007), Nguyễn Xuân Thắng (2006), Nguyễn Hồng Sơn (2007), Pasha và Setiati (2008), Plummer và Chia (2009), Corbett và Umezaki (2009), Petri, Plummervà Zhai (2010), King, Ismail và Hook (2010), Lee and Plummer (2011) và Sakmaneevongsa (2011) Tuy nhiên, đa số các nghiên cứu chỉ đi sâu vào một vài tác động riêng lẻ để phân tích, chỉ có nghiên cứu bởi Trần Văn Tùng và Phạm Ngọc Tân (2007), Nguyễn Hồng Sơn (2007) đã phân tích đánh giá khá toàn diện các tác động của việc thực hiện AEC tới nội khối Nhưng hạn chế trong nghiên cứu của Trần Văn Tùng và Phạm Ngọc Tân (2007) và Nguyễn Hồng Sơn (2007) là chỉ dùng phương pháp định tính để phân tích Trong các nghiên cứu về tác động của việc thực hiện AEC tới nội khối ASEAN, Corbett và Umezaki (2009)

và Petri, Plummer, & Zhai (2010), King, Ismail và Hook (2010) và Lee and Plummer (2011) đã dùng phương pháp định lượng cho nghiên cứu của mình Tuy nhiên, các nghiên cứu này chỉ phân tích một vài tác động của việc thực hiện AEC tới nội khối Ví dụ, Corbett và Umezaki (2009) dựa vào biện pháp định lượng để phân tích tác động của AEC tới góc độ cạnh tranh và điều chỉnh trong nội khối Petri, Plummer và Zhai (2010) đã dựa trên mô hình CGE (Computable General Equilibrium Model) để ước lượng hai tác động của AEC là tạo thương mại, đầu tư và giúp thu hẹp khoảng cách phát triển trong nội khối Nghiên cứu của Petri, Plummer và Zhai (2010) chỉ ra AEC có tác động thuận lợi hóa thương mại và cắt giảm được tối thiểu 5% chi phí thương mại trên giá trị thương mại của nó Tất cả các thành viên ASEAN sẽ được hưởng lợi từ AEC Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng Cộng đồng Kinh tế ASEAN sẽ giúp tăng tốc độ hội nhập của các nước CLMV vào khu vực Tuy nhiên, do có một số hiệu ứng chuyển hướng thương mại và đầu

tư, AEC cũng sẽ tạo ra lợi nhuận ròng cho nhiều đối tác của ASEAN Nhìn chung, AEC sẽ mang lại lợi ích tương tự như Liên minh châu Âu đã đem lại cho các thành viên của mình

Trang 30

Nghiên cứu của Lee và Plummer (2011) cũng dựa trên mô hình CGE nhưng chỉ phân tích hai khía cạnh tác động là tạo thương mại và tạo ra áp lực cạnh tranh cho nội khối Nghiên cứu đã chỉ ra rằng khi loại bỏ các rào cản thương mại kết hợp với giảm các rào cản hành chính và kỹ thuật, phúc lợi ước tính cho năm 2015 đạt khoảng từ 1,1% ở Indonesia đến 9,4% ở Thái Lan Kết quả cho thấy lợi ích của AEC mang lại đáng kể cho nội khối là đơn giản được các thủ tục hải quan và giảm các rào cản hành chính và kỹ thuật, cũng như tăng được tính cạnh tranh và cải thiện

cơ sở hạ tầng

King, Ismail và Hook (2010) đã sử dụng mô hình lực hấp dẫn (Gravity Model) để phân tích tác động của AEC lên thương mại nội khối ASEAN Tuy nhiên, nghiên cứu này có nhược điểm là chỉ dùng số liệu từ năm 1993 đến năm

2006 để nghiên cứu với phạm vi 5 nước ASEAN chứ không phải 10 nước ASEAN Nghiên cứu chỉ ra rằng sự hình thành của một AEC sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho khu vực trong việc thu hút thương mại giữa các nước thành viên ASEAN Những phát hiện của nghiên cứu này sẽ có thể giúp chính phủ các nước ASEAN hiểu thêm

về vai trò của AEC theo hướng thu hút thương mại giữa các nước thành viên ASEAN

Plummer và Chia (2009) đã ước tính tăng trưởng kinh tế ASEAN sẽ tăng khoảng 5,3 % sau khi AEC được hình thành Đây là điều quan trọng cho các nhà hoạch định chính sách trong khu vực để duy trì đà tiến tới thiết lập AEC

Pasha và Setiati (2008) cho rằng sự tồn tại của các FTA sẽ tăng cường mạng lưới sản xuất quốc tế hiện có và AEC có thể thúc đẩy ngành công nghiệp địa phương nhờ có các chính sách rõ ràng và một môi trường thuận lợi do AEC mang lại Nguyễn Duy Lợi (2004) và Nguyễn Xuân Thắng (2006) đã phân tích sự chênh lệch phát triển giữa các nước trong ASEAN tác động tới quá trình hợp tác trong khu vực

Rayes (2005) đã phân tích tác động xã hội của AEC tới nội khối Trong ngắn hạn, AEC có thể có lợi ích cho người lao động do tự do hóa thương mại và đầu tư đạt được mục đích làm cho ASEAN trở thành một cơ sở sản xuất hấp dẫn hơn Các công ty đã có trụ sở tại ASEAN sẽ được khuyến khích hơn là chuyển đến Trung Quốc, do đó cho phép người lao động có thể giữ công việc của họ Ngoài ra, dòng vốn đầu tư lớn hơn vào các lĩnh vực mà ASEAN có lợi thế so sánh sẽ tạo ra cơ hội việc làm mới Trong dài hạn, lợi ích thực sự từ hội nhập kinh tế bắt nguồn từ tăng cường khả năng cạnh tranh phát sinh từ nền kinh tế nhờ quy mô là một thị trường duy nhất cho phép chi phí sản xuất thấp hơn do thuế quan, hàng rào phi thuế quan

Trang 31

và kỹ thuật dòng chảy của hàng hóa, dịch vụ và các yếu tố của sản xuất bị phá dỡ Chi phí sản xuất thấp hơn giúp người tiêu dùng được lợi thông qua giá thấp hơn Ngoài mức giá thấp hơn, người tiêu dùng cũng sẽ có phạm vi lựa chọn hàng hóa rộng hơn Sakmaneevongsa (2011) phân tích tác động của AEC lên yếu tố vốn con người

Như vậy, tuy đã có nhiều nghiên cứu về tác động của AEC tới nội khối nhưng các nghiên cứu này thiếu tính tổng thể và toàn diện mà chỉ tập trung vào một vài khía cạnh của tác động để nghiên cứu Đa số các nghiên cứu chỉ đi sâu vào khía cạnh AEC có tác động tạo thương mại cho nội khối Một vài nghiên cứu đi sâu phân tích một vài tác động riêng lẻ tới nội khối như AEC có tác động tạo ra áp lực cạnh tranh hoặc AEC giúp thu hẹp khoảng cách phát triển hoặc AEC tác động xã hội tới nội khối Chỉ có Trần Văn Tùng và Phạm Ngọc Tân (2007) và Nguyễn Hồng Sơn (2007) là đã đưa ra được bức tranh khá tổng thể về các tác động của AEC tới nội khối Nhưng nhược điểm của hai nghiên cứu này là chỉ dùng phương pháp định tính để phân tích Mặt khác, trong bối cảnh có nhiều biến động mới về kinh tế và chính trị diễn ra trong khu vực và quốc tế trong một vài năm qua đang đặt ra những vấn đề mới đối với AEC, chưa có nghiên cứu nào dùng cả phương pháp định tính và định lượng để phân tích toàn diện các tác động có thể có của việc thực hiện AEC trong bối cảnh khu vực và thế giới mới tới nội khối ASEAN và các điều chỉnh thể chế trong ASEAN, đặc biệt là AEC

Đề tài nghiên cứu này có tham vọng lấp đầy những chỗ trống của các nghiên cứu trước đây bằng cách phân tích toàn diện tất cả các tác động của AEC trong bối cảnh khu vực và quốc tế mới tới nội khối cả bằng phương pháp định tính

và định lượng, từ đó nghiên cứu những điều chỉnh thể chế trong AEC nhằm: (1) tạo thuận lợi về thương mại cho nội khối, (2) tạo thuận lợi về đầu tư và vốn cho nội khối, (3) tạo ra áp lực cạnh tranh và điều chỉnh, (4) giúp thu hẹp khoảng cách phát triển trong nội khối, (5) vừa giúp đối phó vừa là điều kiện lan truyền những bất ổn kinh tế, (6) tác động chính trị và (7) tác động xã hội và con người

Về quá trình tham gia và các nội dung tham gia của Việt Nam vào AEC

Trong khi có nhiều nghiên cứu về AEC thì các nghiên cứu về sự tham gia của Việt Nam vào AEC còn khá ít ỏi Các nghiên cứu và báo cáo điển hình liên quan đến sự tham gia của Việt Nam vào AEC được thực hiện bởi Bùi Trường Giang và cộng sự (2005), Đỗ Hoài Nam (2006), Nguyễn Xuân Thắng (2006),Nguyễn Xuân Thắng và Nguyễn Hồng Sơn (2007), Bộ Công Thương (2010), Nguyễn Hồng Sơn (2009), ASEAN (2011), Võ Trí Thành và cộng sự

Trang 32

(2012) Ngoài ra, vấn đề hội nhập AEC cũng được đề cập đến nhiều trên các báo, tạp chí, trong đó điển hình là các bài báo của Vũ Huy Hoàng (2010) và MUTRAP III (2011a) Thêm vào đó, có một số nghiên cứu khác cũng xem xét việc Việt Nam thực hiện AEC nhưng đặt trong bối cảnh Việt Nam thực hiện các cam kết hội nhập kinh tế quốc tế như nghiên cứu của MUTRAP III (2011b) Điểm chung của các nghiên cứu trên là đều giới thiệu quá trình ra đời, mục tiêu, nguyên tắc hoạt động, thể chế và nội dung hợp tác của AEC để làm cơ sở phân tích sự tham gia của Việt Nam vào AEC Các tác giả sau đó phân tích các hoạt động chính của Việt Nam để thực hiện AEC và từ đó đưa ra các giải pháp để thúc đẩy sự tham gia tích cực và hiệu quả của Việt Nam trong AEC

Trong các nghiên cứu trên, nghiên cứu của Đỗ Hoài Nam (2006), Nguyễn Xuân Thắng & Nguyễn Hồng Sơn (2007) và Nguyễn Hồng Sơn (2009) đã cung cấp một bức tranh khá toàn diện về thực trạng Việt Nam thực hiện cam kết trong khuôn khổ AEC Các tác giả đã phân tích sự tham gia của Việt Nam trong một số nội dung chính của AEC như thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ, đầu tư, chương trình hợp tác công nghiệp, chương trình thu hẹp khoảng cách phát triển, các

lĩnh vực ưu tiên hội nhập sớm… Đối với thương mại hàng hóa, các tác giả chỉ ra

rằng Việt Nam đã công bố các danh mục hàng hóa và lộ trình giảm thuế theo CEPT Tính đến năm 2006, Việt Nam đã cơ bản hoàn thành việc cắt giảm các dòng thuế xuống mức 0-5% Việt Nam cũng đã loại bỏ các biện pháp định lượng và thuế

quan hóa các hàng rào phi thuế quan theo đúng cam kết với ASEAN Về thương mại dịch vụ, theo các tác giả, Việt Nam đã thực hiện các cam kết của mình trong cả

7 lĩnh vực dịch vụ ưu tiên gồm: dịch vụ tài chính, dịch vụ vận tải biển, dịch vụ viễn thông, dịch vụ vận chuyển hàng không, dịch vụ du lịch, dịch vụ xây dựng và một

số dịch vụ kinh doanh Trong hoạt động thúc đẩy đầu tư, từ 1/1/2003, Việt Nam đã

thực hiện khu vực đầu tư ASEAN (AIA) theo hai hướng: i) chuyển một số ngành từ

Danh mục nhạy cảm (SL) sang Danh mục loại trừ tạm thời (TEL); và ii) giảm bớt

số ngành trong Danh mục TEL bằng cách trao đối xử quốc gia và mở cửa các ngành đó cho nhà đầu tư nước ngoài Nhìn chung, các cam kết của Việt Nam trong AIA đều có thời hạn thực thi sau nhóm ASEAN-6 nhưng thuộc loại sớm nhất trong nhóm CLMV Các tác giả cũng đánh giá Việt Nam đã tích cực tham gia vào các chương trình thu hẹp khoảng cách phát triển như chương trình hợp tác tiểu vùng sông Mê Kông mở rộng, chương trình hành lang kinh tế Đông Tây…Trái với các mảng hoạt động trên, các tác giả cho rằng Việt Nam chưa tích cực tham gia vào

chương trình Hợp tác công nghiệp ASEAN (AICO) do một số lý do như: thiếu

thông tin về chương trình, những ưu đãi của AICO không phù hợp với lĩnh vực

Trang 33

kinh doanh của các doanh nghiệp, thủ tục xin tham gia AICO còn phức tạp và nhiều ưu đãi của AICO đã trùng với tiến trình giảm thuế trong khuôn khổ Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) Cuối cùng, các tác giả Đỗ Hoài Nam (2006), Nguyễn Xuân Thắng & Nguyễn Hồng Sơn (2007) và Nguyễn Hồng Sơn (2009) có chung quan điểm rằng mặc dù Việt Nam đã tham gia tích cực và theo đúng cam kết vào các nội dung cơ bản trong hợp tác AEC nhưng đây là cách tham gia “ít nhất có thể” và “kéo dài lâu nhất có thể” Vì vậy, các tác giả đều khuyến nghị Việt Nam sẽ không thể tiếp tục trì hoãn như vậy trong tương lai khi tiến trình hình thành AEC

và hội nhập kinh tế khu vực đang diễn ra gấp rút Có thể thấy các nghiên cứu trên được thực hiện từ năm 2009 trở về trước Đây là khoảng thời gian sau khi ý tưởng

về AEC ra đời được 6 năm, kế hoạch tổng thể và lộ trình chiến lược thực hiện AEC

ra đời được 2 năm và thực chất vẫn tồn tại những hoài nghi về việc liệu ý tưởng AEC có thành hiện thực và các quốc gia có nên tham gia tích cực vào AEC hay không Do vậy, các nghiên cứu chủ yếu xoay quanh sự tham gia của Việt Nam vào AEC chỉ trong một số lĩnh vực chủ yếu, đặc biệt là nhấn mạnh vào các hoạt động giảm thuế quan của Việt Nam Bên cạnh đó, các nghiên cứu trên chưa cập nhật những nội dung mới của hợp tác trong AEC như sự ra đời của Hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN (ATIGA) thay thế CEPT và Hiệp định đầu tư toàn diện ASEAN (ACIA) thay thế AIA vào tháng 2/2009

Những năm gần đây, việc thực hiện AEC diễn ra trong bối cảnh mới Một trong những bối cảnh mới đó là các nước thành viên ASEAN trong đó có Việt Nam

đã thể hiện rõ quyết tâm thực hiện AEC và tham gia tích cực hơn vào các hoạt động của AEC Các nghiên cứu và bài báo gần đây đã thể hiện rõ động thái này của Việt Nam và cho rằng Việt Nam đã tham gia vào AEC với nhiều hoạt động phong phú hơn Nghiên cứu thực hiện bởi ASEAN (2010) trình bày những hoạt động của Việt Nam liên quan đến thuận lợi hóa thương mại và tài chính trong khi MUTRAP III (2011b) lại tập trung phân tích quá trình Việt Nam thực hiện các cam kết trong

khuôn khổ AEC về thương mại hàng hóa Theo, ASEAN (2011), về thương mại hàng hóa, Việt Nam đã tham gia khá tích cực vào các hoạt động thuận lợi hóa

thương mại Cụ thể: Việt Nam đang góp phần thúc đẩy thực hiện cơ chế một cửa ASEAN (ASW) Việt Nam hiện nay đang trong pha đầu tiên và đang thực hiện các ứng dụng hải quan điện tử bao gồm: nộp giấy tờ, chọn lọc, thanh toán thuế và các biên lai thuế Cùng với các quốc gia khác, Việt Nam cũng đang tham gia tích cực vào việc xem xét một số vấn đề quan trọng của ASW như: quá trình kinh doanh,

hòa hợp dữ liệu, tính an toàn và ổn định của hệ thống Về hội nhập tài chính, Việt

Nam hiện nay đã hoàn thành việc đánh giá và đưa ra quy định đối với sự chu

Trang 34

chuyển tự do hơn các dòng vốn FDI, đồng thời bắt đầu thực hiện công tác đánh giá hoạt động đầu tư theo danh mục MUTRAP III (2011b) phân tích các điều chỉnh chính sách của Việt Nam để thực hiện AFTA, tổng kết tình hình cắt giảm thuế trong CEPT/AFTA và cho rằng việc áp dụng ATIGA đã trải qua hai năm nhưng các tác động của ATIGA có thể chưa rõ ràng do mức độ cắt giảm thuế của Việt Nam trong hai năm qua chưa cao Báo cáo của MUTRAP III (2011b) cho rằng Việt Nam sẽ phải tăng tốc cắt giảm thuế theo đúng cam kết từ nay đến năm 2015 và

2018

Theo Bộ Công Thương (2010), Vũ Huy Hoàng (2010) và MUTRAP III (2011a), Việt Nam đã tích cực và chủ động hơn trong tham gia xây dựng AEC, hợp tác toàn diện cùng các nước ASEAN khác từ các lĩnh vực truyền thống như thương mại hàng hóa tới các lĩnh vực mới như bảo hộ sở hữu trí tuệ, chính sách bảo vệ tiêu dùng So với các nghiên cứu trước đây, MUTRAP III (2011a) có điểm mới hơn ở chỗ đề cập đến những hoạt động của Việt Nam liên quan đến việc thay đổi và nâng cao nhận thức của cộng đồng doanh nghiệp và người dân về AEC MUTRAP III khẳng định rằng Việt Nam là một trong những nước đi đầu trong việc nâng cao quảng bá và thực thi một cách chủ động Chương trình truyền thông của ASEAN về

AEC cả trên cấp độ quốc gia và khu vực

Tính đến thời điểm hiện nay, công trình nghiên cứu có thể coi là toàn diện nhất phân tích về việc Việt Nam tham gia AEC được thực hiện bởi Võ Trí Thành

và cộng sự (2012) Các tác giả đã phân tích tình hình tham gia của Việt Nam trên các lĩnh vực khá đa dạng gồm: thuận lợi hóa thương mại, thuận lợi hóa đầu tư, các tiêu chuẩn, các thỏa thuận công nhận chung, nông nghiệp, dịch vụ Trong hoạt

động thuận lợi hóa thương mại, các tác giả đã phân tích chi tiết một số cải cách áp

dụng tại cửa khẩu (border reforms) và trong nội địa (behind-the-border reforms) của Việt Nam Một điểm chú ý là các kết quả của nghiên cứu liên quan đến quan điểm của các doanh nghiệp về đổi mới dịch vụ hải quan, tạo thuận lợi cho hoạt động thương mại và đầu tư; về các yếu tố quyết định đầu tư của doanh nghiệp có

độ tin cậy cao và được rút ra trên cơ sở điều tra các doanh nghiệp ở Việt Nam Nghiên cứu cũng xem xét các hoạt động nhằm tạo thuận lợi cho đầu tư nhưng mới chỉ dừng lại ở việc phân tích và nhận xét về các thể chế và quy định hiện tại của Việt Nam liên quan đến đầu tư Những nỗ lực của Việt Nam trong việc hội nhập Việt Nam vào ACIA chưa được đề cập đến một cách trực tiếp Nghiên cứu cũng đưa ra các kết quả điều tra liên quan đến quan điểm của các doanh nghiệp về tầm quan trọng của từng loại hàng rào trong thương mại dịch vụ và các tác động có thể nếu các hàng rào này được dỡ bỏ Như vậy, sự tham gia của Việt Nam vào tự do

Trang 35

hóa thương mại dịch vụ trong ASEAN theo AFAS chưa được các tác giả đề cập đến

Tóm lại, đã có các nghiên cứu trước đây xem xét sự tham gia của Việt Nam trong AEC Tuy nhiên, rất thiếu các nghiên cứu tổng thể và toàn diện Chủ yếu các nghiên cứu chỉ tập trung vào một vài mảng tham gia chủ yếu của Việt Nam trong AEC như dỡ bỏ thuế quan, thuận lợi hóa thương mại Các mảng hội nhập của Việt Nam về thương mại dịch vụ, đầu tư, tài chính, quyền sở hữu trí tuệ, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, quy tắc xuất xứ, cơ chế một cửa… ít được đề cập đến hoặc đề cập đến một cách tản mạn Các nghiên cứu trước đây cũng chưa đề cập nhiều đến

sự tham gia của Việt Nam vào AEC trong bối cảnh khá phức tạp hiện nay: nhiều Hiệp định và thể chế mới trong khuôn khổ ASEAN ra đời, tình hình kinh tế, chính trị thế giới có nhiều biến động Vì vậy, nghiên cứu này sẽ có tham vọng lấp đi các

lỗ hổng của các nghiên cứu trước đây bằng việc phân tích sự tham gia của Việt Nam trong bối cảnh mới và phân tích toàn diện các hoạt động hội nhập của Việt Nam vào AEC trên cơ sở tổng hợp theo 4 nhóm biện pháp trụ cột của Lộ trình chiến lược và Kế hoạch tổng thể thực hiện AEC gồm: (1) Nhóm biện pháp để tạo lập một thị trường và cơ sở sản xuất duy nhất; (2) Nhóm biện pháp về nâng cao năng lực cạnh tranh của các khu vực, ngành kinh tế; (3) Nhóm các biện pháp tạo

sự phát triển công bằng và đồng đều; và (4) Nhóm các biện pháp kết nối nền kinh

tế ASEAN với bên ngoài Trong từng nhóm trụ cột, nghiên cứu dự kiến sẽ đề cập đến cả những mảng hoạt động tham gia AEC của Việt Nam mà các nghiên cứu trước đây ít đề cập đến Cụ thể: trong nhóm biện pháp trụ cột (1), ngoài hội nhập

về thương mại, đầu tư, tài chính, nghiên cứu dự kiến sẽ đề cập đến thực hiện di chuyển lao động có tay nghề, cơ chế một cửa ASEAN (ASW) và cơ chế một cửa quốc gia (NSW) Với nhóm biện pháp (2), quyền sỡ hữu trí tuệ; bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; quy tắc xuất xứ sẽ là trọng tâm của nghiên cứu Trong nhóm biện pháp (3), tham gia của Việt Nam vào việc xây dựng một hệ thống cơ sở hạ tầng ASEAN sẽ được phân tích trong nghiên cứu này Cuối cùng, trong nhóm biện pháp (4), nghiên cứu sẽ phân tích mối quan hệ giữa việc Việt Nam tham gia vào AEC và các FTA song phương, đa phương, khu vực khác và đưa ra những nhận định về vai trò của AEC trong mối quan hệ hợp tác của Việt Nam Đó cũng chính là các điểm mới của nghiên cứu này

Về tác động của AEC đối với Việt Nam

Trong khi có khá nhiều các nghiên cứu gần đây đánh giá tác động của AEC với các nước ASEAN nói chung như nghiên cứu của Rayes (2005), Plummer và Yue (2009), Petri, Plummer và Zhai (2010), King, Ismail và Hook (2010), Lee và

Trang 36

Plummer (2011), Center for International Studies (2011), Sakmaneevongsa (2011)

và ERIA (2012), thì các nghiên cứu liên quan trực tiếp đến đánh giá tác động AEC đến Việt Nam còn rất ít

Có một số các nghiên cứu, báo cáo và bài báo điển hình đánh giá định tính tác động của việc Việt Nam tham gia AEC như nghiên cứu và bài báo của Bùi Trường Giang và cộng sự (2005), Nguyễn Xuân Thắng, Nguyễn Hồng Sơn và Bùi Trường Giang (2007), Nguyễn Hồng Sơn (2009) và Bộ Công Thương (2010) Nghiên cứu của Nguyễn Xuân Thắng, Nguyễn Hồng Sơn và Bùi Trường Giang (2007) đã đưa ra một bức tranh khá toàn diện về tổng thể về tác động của việc Việt Nam tham gia AEC Nghiên cứu đã chỉ ra rằng tham gia AEC thúc đẩy Việt Nam tăng trưởng kinh tế, tham gia sâu sắc hơn vào phân công lao động quốc tế và cải cách thể chế kinh tế Bên cạnh đó, các tác giả cũng chỉ rõ tham gia AEC sẽ ảnh hưởng đến quyền tự quyết của Việt Nam trong một số chính sách kinh tế, bị phụ thuộc nhiều hơn vào khu vực trong quá trình phát triển kinh tế và chịu sức ép cạnh tranh từ các nước khác trong điều kiện không cân sức Nguyễn Hồng Sơn (2009) phân tích tác động của AEC đến tăng trưởng kinh tế, thương mại, đầu tư, giảm nghèo, ngân sách, phân bổ nguồn lực kinh tế, việc làm của Việt Nam Tác giả cũng nhận định tham gia AEC sẽ tác động đến môi trường thể chế cũng như những ảnh hưởng về mặt chính trị với Việt Nam Báo cáo của Bộ Công Thương (2010) cho rằng thực hiện AEC giúp Việt Nam có cơ hội tiếp cận với các thị trường lớn trên thế giới cả về thương mại và đầu tư khi ASEAN đã trở thành một thị trường sản xuất và thương mại thống nhất Những tác động mang tính chính trị và tư duy kinh

tế của được đề cập trong báo cáo của Bộ Công thương (2010)

Có một số các nghiên cứu định lượng đã chỉ ra tác động của AEC đối với Việt Nam, trong đó tiêu biểu là nghiên cứu của ERIA (2012) Đây là nghiên cứu nhằm mục đích đánh giá giữa kỳ việc thực hiện AEC của các nước ASEAN, đánh giá tác động và đề xuất phương hướng thực hiện AEC trong những năm tiếp theo ERIA (2012) đã sử dụng phương pháp phân tích cân bằng tổng thể (CGE) để xác định tác động tích lũy (cummulative impacts) của AEC đến GDP, xuất khẩu, nhập khẩu, đầu tư, sở hữu vốn của nước ngoài của từng nước ASEAN dựa trên 3 kịch bản3 Theo ERIA (2012), GDP của Việt Nam tăng lên theo cả 3 kịch bản: khoảng 0,8% theo kịch bản 1; 2,7% theo kịch bản 2 và 3,5% theo kịch bản 3 Xuất khẩu tăng trưởng ở mức khoảng 2 – 3% trong khi nhập khẩu tăng trưởng khoảng 3-5% Thực hiện AEC còn thúc đẩy đầu tư của Việt Nam tăng trưởng với tốc độ khoảng

3

Kịch bản 1: Chỉ tính đến việc giảm thuế quan Kịch bản 2: Tính đến việc giảm thuế quan + giảm 20% thuế quan tương đương trong dịch vụ Kịch bản 3: Gồm kịch bản 2 + giảm 20% chi phí tính theo thời gian di chuyển của hàng hóa xuất nhập khẩu Cả 3 kịch bản đều cho khoảng thời gian 2011 – 2015

Trang 37

11-21% và sử hữu vốn của nước ngoài tăng khoảng 3 - 5% trong năm 2015 Petri, Plummer và Zhai (2010) cũng sử dụng CGE để tính toán tác động của AEC đến các nước ASEAN, trong đó có Việt Nam Các kịch bản trong nghiên cứu liên quan đến không chỉ việc cắt giảm các hàng rào thuế quan mà còn các biện pháp phi thuế quan, tạo thuận lợi cho thương mại và đầu tư Tương tự như ERIA (2012), Petri, Plummer và Zhai (2010) cũng cho rằng xuất khẩu, nhập khẩu của Việt Nam sẽ tăng

lên khi thực hiện AEC Ngoài ra, phúc lợi xã hội của Việt Nam cũng tăng lên Xem xét các nghiên cứu trước đây về tác động của tham gia AEC đến Việt Nam cho thấy: hiện nay các nghiên cứu định lượng về tác động AEC đối với Việt Nam còn rất thiếu Nhìn chung, nghiên cứu về tác động của việc Việt Nam tham gia AEC đến nền kinh tế Việt Nam chỉ là một phần nhỏ trong các nghiên cứu tác động tổng thể của AEC đối với toàn bộ các nước ASEAN

Có một số các nghiên cứu phân tích tác động của AFTA (một nội dung quan trọng của AEC) đến nền kinh tế Việt Nam, điển hình là nghiên cứu của Võ Thành Lộc (2001), Nguyễn Tiến Trung (2002), Vergano và Linnote (2009) và MUTRAP III (2010) Chủ yếu sử dụng số liệu từ GSO, IMF, UNCTAD và các nghiên cứu trước đây, đồng thời áp dụng phân tích cân bằng bộ phận, Vergano & Linnote (2009) đó đánh giá tác động của việc cắt giảm thuế quan cho hàng công nghiệp theo AFTA đến luồng thương mại và phúc lợi xã hội của Việt Nam Đối với xuất khẩu, các tác giả tính toán tác động của việc cắt giảm thuế đến xuất khẩu của khoảng 30 quốc gia và cho rằng chỉ riêng xuất khẩu sang các nước ASEAN tăng, còn xuất khẩu sang các nước khác ngoài ASEAN đều giảm xuống Với nhập khẩu, việc giảm thuế sẽ làm nhập khẩu của tất cả các hàng hóa tăng lên khoảng 485 triệu USD, doanh thu thuế của nhà nước giảm xuống khoảng 615 triệu USD trong khi thặng dư tiêu dùng tăng 65 triệu USD Ngoài ra, các tác giả cũng phân tích định tính tác động của AFTA đến Việt Nam trên các khía cạnh như quy tắc xuất xứ, tạo thuận lợi cho hoạt động thương mại, hài hòa hóa hải quan… Nghiên cứu của Cassing và cộng sự (2010) kết luận rằng AFTA sẽ làm tăng phúc lợi xã hội của Việt Nam lên khoảng 100 triệu USD, làm tăng xuất khẩu của Việt Nam khoảng 1,2% và tăng nhập khẩu khoảng 1,3% Các tác giả cũng phân tích tác động của AFTA đến lao động, tiền lương, sử dụng nguồn lực, đầu tư Các nghiên cứu trước đây về tác động của AFTA nhìn chung đều khá tổng thể, đánh giá tác động của AFTA khá toàn diện không chỉ đến thương mại mà còn các chỉ số kinh tế vĩ mô Tuy nhiên, các nghiên cứu này đều phân tích tác động của AFTA thông qua việc thực hiện CEPT, chứ không phải là ATIGA (Hiệp định mới thay thế CEPT để thực hiện AEC) với lịch trình cắt giảm mới và mức thời gian hoàn thành cắt giảm thuế

Trang 38

mới Vì vậy, nghiên cứu này sẽ phân tích tác động thực tế và dự kiến của AFTA thông qua việc thực hiện ATIGA đến luồng thương mại Việt Nam - ASEAN và phúc lợi xã hội của Việt Nam

Tóm lại, rất thiếu các nghiên cứu chuyên sâu thuyết phục để định lượng và

dự đoán tác động của việc tham gia AEC đối với Việt Nam trên các lĩnh vực kinh tế khác nhau Vì vậy, để lấp các lỗ hổng nghiên cứu trước đây, nghiên cứu này sẽ sử dụng các công cụ định lượng để phân tích tác động của việc Việt Nam tham gia AEC đến các hoạt động kinh tế quốc tế chủ chốt gồm thương mại, đầu tư và tài chính quốc tế thông qua việc dỡ bỏ hàng rào thuế quan, thúc đẩy tự do đầu tư và dòng vốn chu chuyển giữa các nước trong ASEAN theo đúng các cam kết của Việt Nam Ngoài ra, nghiên cứu cũng dự kiến sẽ phân tích định tính tác động của việc Việt Nam tham gia AEC liên quan đến các lĩnh vực ít được đề cập đến trong các nghiên cứu trước đây như quyền sở hữu trí tuệ, chính sách bảo vệ người tiêu dùng, hiện đại hóa hệ thống hải quan, cơ chế một cửa, từ đó rút ra các cơ hội và thách thức của Việt Nam khi thực hiện AEC…

Đóng góp mới nữa của nghiên cứu này là sẽ tiến hành điều tra để đánh giá hiểu biết và nhận thức của doanh nghiệp và Việt Nam về AEC, tác động của AEC đối với hoạt động của doanh nghiệp và chiến lược của doanh nghiệp trong bối cảnh Việt Nam tham gia AEC Nghiên cứu cũng sẽ tiến hành phỏng vấn sâu lãnh đạo các doanh nghiệp và Bộ ngành để đánh giá nhận thức về những cơ hội, thách thức đối với Việt Nam khi tham gia AEC Các nghiên cứu về sự tham gia của Việt Nam và ASEAN trước đây hầu như chỉ sử dụng các số liệu và thông tin vĩ mô để phân tích tác động của AEC đối với các chỉ số kính tế vĩ mô của Việt Nam Rất thiếu các nghiên cứu phân tích tác động của AEC đến các doanh nghiệp cũng như nhận thức, hiểu biết của các doanh nghiệp về AEC Nghiên cứu của Võ Trí Thành

và cộng sự (2012) đã bắt đầu thể hiện sự quan tâm đến nhận thức của doanh nghiệp về những vấn đề liên quan đến AEC, tuy nhiên nghiên cứu này chỉ tập trung vào việc điều tra nhận thức của doanh nghiệp với tầm quan trọng của các loại rào cản trong thương mại, đầu tư và tài chính chứ không phải là nhận thức của doanh nghiệp về AEC và tác động của AEC Vì vậy, đề tài sẽ lấp đi sự thiếu hụt trên và đưa ra những hàm ý chính sách cho Việt Nam để không những giúp nâng cao nhận thức của doanh nghiệp, mà còn khuyến khích và lôi kéo các doanh nghiệp Việt Nam tham gia tích cực, hiệu quả vào AEC

Trang 39

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

Làm rõ những nội dung, yêu cầu thể chế hợp tác của Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) trước biến động của khu vực và quốc tế trong giai đoạn 2010-2015, trên cơ sở đó tìm ra những cơ hội và thách thức đối với quá trình tham gia của Việt Nam và đề xuất các chính sách để Việt Nam tham gia AEC một cách hiệu quả

xu hướng hội nhập kinh tế khu vực trên thế giới cũng như kinh nghiệm hội nhập kinh tế của Liên minh châu Âu (EU)

+ Phân tích quá trình hình thành, mục tiêu, nội dung, lộ trình và điều kiện thực hiện AEC; Phân tích so sánh những điểm tương đồng và khác biệt giữa AEC

+ Phân tích thể chế trong ASEAN nói chung và AEC nói riêng trước các biến động khu vực và quốc tế, từ đó đề xuất những định hướng, biện pháp điều chỉnh cụ thể trong tương lai

- Phân tích sự tham gia của Việt Nam vào AEC, những tác động của AEC tới Việt Nam, từ đó làm rõ cơ hội và thách thức của Việt Nam khi tham gia vào AEC, đặc biệt trước những biến động của khu vực và quốc tế giai đoạn 2010-2015

+ Phân tích quá trình tham gia AEC của Việt Nam, trong đó tập trung vào các nội dung Việt Nam tham gia hợp tác trong AEC, các cam kết cụ thể của Việt Nam, các nhóm biện pháp Việt Nam đã và đang thực hiện; Phân tích và đánh giá những kết quả đã đạt được, những hạn chế cần khắc phục cũng như chỉ rõ nguyên nhân của những thành công và hạn chế đó

Trang 40

+ Phân tích và đánh giá các tác động của việc tham gia AEC đối với Việt Nam, trên các giác độ khác nhau: Tác động tổng thể và tác động theo các lĩnh vực thương mại, đầu tư, tài chính cũng như tác động tới các ngành cụ thể…

+ Phân tích, làm rõ các tác động tích cực và tiêu cực, điểm mạnh, điểm yếu,

cơ hội và thách thức của Việt Nam khi tham gia vào AEC, đặc biệt trước những biến động của khu vực và quốc tế trong giai đoạn 2010-2015 và trước các điều chỉnh trong ASEAN

- Đề xuất các chính sách để Việt Nam tham gia vào AEC một cách có hiệu quả

+ Đề xuất các quan điểm và định hướng tham gia Cộng đồng ASEAN nói

chung và AEC nói riêng của Việt Nam, phù hợp với Chiến lược hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam

+ Đề xuất các chính sách để Việt Nam có thể tham gia một cách có hiệu quả vào AEC, góp phần thực hiện thành công quá trình tái cấu trúc nền kinh tế và chuyển đổi mô hình tăng trưởng

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là Cộng đồng Kinh tế ASEAN và sự tham gia của Việt Nam vào Cộng đồng này

Phương pháp nghiên cứu của đề tài

Phương pháp thu thập số liệu, dữ liệu

Ngày đăng: 16/07/2019, 23:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w