1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Việt nam hội nhập kinh tế Đông á trong khuôn khổ Asean+3

380 197 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 380
Dung lượng 5,13 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việt nam hội nhập kinh tế Đông á trong khuôn khổ Asean+3 Từ nhiều năm qua, Việt Nam đã mở rộng và phát triển quan hệ kinh tế với các nước cũng như tham gia nhiều tổ chức kinh tế, thương mại khu vực và toàn cầu. Bước phát triển mở đầu và có tính đột phá của quá trình này là việc Việt Nam chính thức gia nhập ASEAN ngày 2571995 và tham gia Khu vực Thương mại Tự do ASEAN (AFTA) từ 111996. Qua 48 năm hình thành và phát triển, hợp tác kinh tế là lĩnh vực mà ASEAN đã đạt được mức độ hội nhập sâu, rộng nhất. Hiện nay, ASEAN đang xây dựng Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) với bốn trụ cột gồm: (i) cơ sở sản xuất và thị trường thống nhất; (ii) khu vực kinh tế cạnh tranh; (iii) khu vực kinh tế phát triển đồng đều và (iv) hội nhập kinh tế toàn cầu. Trong Trụ cột 4 của tiến trình hướng tới thành lập AEC vào cuối năm 2015, hợp tác kinh tế trong cơ chế ASEAN+3 đã đạt được những bước tiến lớn, không những góp phần thúc đẩy hợp tác kinh tế, thương mại đầu tư giữa ASEAN với các đối tác Ðông Bắc Á, mà còn tạo động lực cho sự tăng trưởng kinh tế ở khu vực châu Á.

Trang 1

(§ång chñ biªn)

VIÖT NAM

Trang 3

THÔNG TIN NHÓM TÁC GIẢ

1 PGS.TS Nguyễn Hồng Sơn, Tiến sĩ ngành Kinh tế chính trị

tại Đại học Tổng hợp Quốc gia Mat-xcơ-va tại Liên Bang Nga Hiện nay, PGS.TS Nguyễn Hồng Sơn là Hiệu trưởng Trường Đại học Kinh tế, ĐHQGHN Lĩnh vực nghiên cứu chính là phát triển khu vực dịch vụ, hội nhập quốc tế, tài chính và phát triển

giáo dục ở Việt Nam

2 TS Nguyễn Anh Thu, Tiến sĩ ngành Kinh tế năm 2009 tại

Trường Đại học Quốc gia Yokohama, Nhật Bản; chuyên ngành Phát triển quốc tế Hiện nay, TS Nguyễn Anh Thu đang là Phó Hiệu trưởng, trường Đại học Kinh tế, ĐHQGHN Lĩnh vực nghiên cứu chính là các vấn đề hội nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt trong ASEAN và AEC, thương mại quốc tế, tăng trưởng xanh

3 PGS.TS Hà Văn Hội nhận bằng Tiến sỹ ngành Kinh tế học,

chuyên ngành Kinh tế thế giới và Quan hệ Kinh tế Quốc tế tại

Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam Hiện nay PGS.TS

Hà Văn Hội là Chủ nhiệm khoa Khoa Kinh tế & Kinh doanh

Quốc tế, Trường Đại học Kinh tế, ĐHQGHN Lĩnh vực nghiên cứu chính Thương mại quốc tế: chuyên sâu về thương mại dịch

vụ, Kinh doanh quốc tế, Chuỗi cung ứng, Logistics

4 PGS.TS Nguyễn Thị Kim Anh, Tiến sĩ ngành Kinh tế quốc tế

tại trường Đại học Keio, Nhật Bản Hiện nay, PGS.TS Nguyễn Thị Kim Anh là Chủ nhiệm Bộ môn Kinh tế Thế giới và Quan

Trang 4

trường Đại học Kinh tế, ĐHQGHN Lĩnh vực nghiên cứu chính

là Lý thuyết và thực tiễn về Đầu tư trực tiếp nước ngoài, công

ty xuyên quốc gia đối với phát triển bền vững

5 ThS Vũ Thanh Hương, thạc sỹ Kinh tế tài nguyên thiên nhiên

vào năm 2007 tại trường Đại học Queensland, Asutralia Hiện nay, ThS Vũ Thanh Hương là Phó chủ nhiệm Bộ môn Kinh tế thế giới và Quan hệ Kinh tế quốc tế, Khoa Kinh tế và Kinh doanh quốc tế, trường Đại học Kinh tế, ĐHQGHN Lĩnh vực nghiên cứu chính là Thương mại quốc tế, Hiệp định thương mại

tự do, Thương mại và Môi trường, Cộng đồng kinh tế ASEAN, Thương mại Việt Nam – EU

6 TS Nguyễn Cẩm Nhung, Tiến sĩ Kinh tế năm 2012 tại

Trường Đại học Quốc gia Yokohama, Nhật Bản; chuyên ngành Kinh tế Quốc tế Hiện nay, TS Nguyễn Cẩm Nhung đang là Phó chủ nhiệm Bộ môn Tài chính Quốc tế, trường Đại học Kinh tế, ĐHQGHN Lĩnh vực nghiên cứu chính là các vấn đề hội nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt là hội nhập về tài chính, các vấn đề và chính sách tài chính quốc tế

7 Th.S Nguyễn Thị Minh Phương tốt nghiệp thạc sỹ Kinh tế

Quốc tế vào năm 2012 tại trường Đại học Kinh tế và Luật Berlin, Đức Hiện nay, Th.S Nguyễn Thị Minh Phương đang là giảng viên Khoa Kinh tế và Kinh doanh quốc tế, trường Đại học Kinh tế, ĐHQGHN Lĩnh vực nghiên cứu chính là Thương mại quốc tế, Hội nhập kinh tế quốc tế và FDI hướng tới phát triển bền vững

Trang 5

8 ThS Trần Việt Dung, Thạc sĩ Kinh tế và Tài chính Quốc tế;

tại trường Đại học Tổng Hợp Queensland, Brisbane, Australia Hiện nay là giảng viên Khoa Kinh tế và Kinh doanh Quốc tế, Trường Đại học Kinh tế, ĐHQGHN, Lĩnh vực nghiên cứu chính: Hợp tác kinh tế quốc tế, đặc biệt là hợp tác tài chính quốc tế và an toàn tài chính quốc tế

Trang 6

MỤC LỤC

Trang

LỜI NÓI ĐẦU 6

Phần 1 HéI NHËP KINH TÕ TRONG ASEAN+3 Chương 1 TỔNG QUAN VỀ CỘNG ĐỒNG KINH TẾ ASEAN VÀ NỀN KINH TẾ CÁC NƯỚC ASEAN+3 24

1.1 TỔNG QUAN CHUNG VỀ KINH TẾ CÁC NƯỚC ASEAN VÀ ASEAN+3 24

1.1.1 Nền kinh tế ASEAN 24

1.1.2 Nhật Bản 38

1.1.3 Hàn Quốc 49

1.1.4 Trung Quốc 60

1.2 CÁC VẤN ĐỀ ĐẶT RA 70

Chương 2 HỘI NHẬP THƯƠNG MẠI ASEAN+3 73

2.1 BỐI CẢNH HỘI NHẬP THƯƠNG MẠI TRONG ASEAN+3 73

2.1.1 Bối cảnh thế giới tác động đến hội nhập thương mại 73

2.1.2 Bối cảnh khu vực tác động đến hội nhập thương mại 74

2.2 TIẾN TRÌNH HỘI NHẬP THƯƠNG MẠI TRONG ASEAN+3 76

2.2.1 Cơ chế hợp tác trong ASEAN+3 76

2.2.2 Tiến trình hội nhập thương mại trong ASEAN+3 79

2.2.4 Thương mại ASEAN+3 89

Trang 7

2.3 CÁC VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ TRIỂN VỌNG 102

Chương 3 HỘI NHẬP VỀ ĐẦU TƯ TRONG ASEAN+3 106

3.1 CÁC CAM KẾT HỘI NHẬP ĐẦU TƯ TRONG ASEAN+3 106

3.2 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH ĐẦU TƯ TRONG ASEAN+3 109

3.3 CÁC CÔNG TY XUYÊN QUỐC GIA (TNCS) TRONG KHU VỰC ASEAN+3 114

3.3.1 TNCs từ Nhật Bản vào ASEANError! Bookmark not defined 3.3.2 TNCs từ Trung Quốc vào ASEANError! Bookmark not defined 3.3.3 TNCs từ Hàn Quốc vào ASEANError! Bookmark not defined. Chương 4 DI CHUYỂN LAO ĐỘNG TRONG ASEAN+3 148

4.1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH DI CHUYỂN LAO ĐỘNG TRONG ASEAN+3 148

4.2 CÁC HIỆP ĐỊNH LIÊN QUAN ĐẾN TỰ DO HOÁ DI CHUYỂN LAO ĐỘNG TRONG ASEAN+3 158

4.3 DỰ BÁO CƠ HỘI, THÁCH THỨC VÀ XU HƯỚNG DI CHUYỂN LAO ĐỘNG TRONG ASEAN+3 SAU 2015 161

4.3.1 Cơ hội 161

4.3.2 Thách thức 162

4.3.3 Xu hướng 162

Chương 5 HỢP TÁC TÀI CHÍNH TIỀN TỆ TRONG ASEAN+3 167

5.1 BỐI CẢNH RA ĐỜI, NỘI DUNG CAM KẾT VÀ THỰC TRẠNG TIẾN TRÌNH HỢP TÁC TÀI CHÍNH TIỀN TỆ TRONG ASEAN+3 ERROR! BOOKMARK NOT DEFINED. 5.1.1 Sáng kiến Chiang Mai 167

5.1.2 Thỏa thuận Đa phương hóa Sáng kiến Chiang Mai (Chiang Mai Initiative Multilateralization, CMIM) 170

5.1.3 Các cơ chế đối thoại chính sách và cơ quan nghiên cứu kinh tế vĩ mô ASEAN+3 (ASEAN+3 Macroeconomic Research Office, AMRO) 174 5.1.4 Sáng kiến phát triển thị trường trái phiếu châu Á

Trang 8

5.1.5 Cơ chế bảo lãnh tín dụng và thuận lợi hóa đầu tư (Credit Guarantee and Investment Facility, CGIF) 180

TIỀN TỆ TRONG ASEAN+3 181

TIỄN HỢP TÁC TÀI CHÍNH TIỀN TỆ TRONG ASEAN+3 184

ASEAN (ASEAN ECONOMIC COMMUNITY, AEC) 261

Phần 2

Sù HéI NHËP CñA VIÖT NAM TRONG ASEAN+3

Chương 6 HỘI NHẬP VỀ THƯƠNG MẠI CỦA VIỆT NAM TRONG

ASEAN+3 187

ĐỊNHTHUỘC ASEAN+3 187 6.1.1 Các Hiệp định Việt Nam tham gia trong khuôn khổ ASEAN+3 187 6.1.2 Thực hiện cam kết của Việt Nam trong các Hiệp định ASEAN+3 195 6.2 THƯƠNG MẠI VIỆT NAM - ASEAN 203 6.2.1 Tổng quan thương mại Việt Nam  ASEAN 203

Phân tích từ các chỉ số thương mại 215 6.2.3 Phân tích ngành hàng dựa trên cách tiếp cận Tỷ trọng thị trường cố định (CMS – Constant Market Share  Based Approach) 226 6.3 CÁC VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ TRIỂN VỌNG 240

Chương 7 SỰ THAM GIA CỦA VIỆT NAM VÀO HỘI NHẬP ĐẦU TƯ

TRONG ASEAN+3 242

HỘI NHẬP 242

Trang 9

7.2 TÁC ĐỘNG TÍCH CỰC CỦA HỘI NHẬP ĐẾN FDI CỦA

VIỆT NAM 245

7.2.1 Hội nhập kinh tế nói chung và hội nhập đầu tư khu vực nói riêng đã giúp gia tăng luồng vốn FDI vào Việt Nam cũng như luồng vốn FDI từ Việt Nam sang các nước trong khu vực 245

7.2.3 Tự do hóa và thuận lợi hóa đầu tư thúc đẩy Việt Nam tham gia ngày càng nhiều và sâu vào chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu 254

7.3 NHỮNG VẤN ĐỀ CÕN TỒN TẠI 255

7.4 MỘT SỐ HÀM Ý CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP ĐẦU TƯ TRONG KHU VỰC ASEAN+3 255

Chương 8 THỰC TRẠNG HỘI NHẬP TÀI CHÍNH CỦA VIỆT NAM TRONG AEC 261

8.1 TỰ DO HÓA DỊCH VỤ TÀI CHÍNH 261

8.1.1 Đối với ngành ngân hàng 265

8.1.2 Đối với ngành bảo hiểm 265

8.2 TỰ DO HÓA TÀI KHOẢN VỐN 270

8.3 MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ ĐỊNH HƯỚNG HỢP TÁC VÀ HỘI NHẬP TÀI CHÍNH TRONG THỜI GIAN TỚI 276

Chương 9 VIỆT NAM THAM GIA VÀO CHUỖI GIÁ TRỊ TRONG KHU VỰC 286

9.1 CHUỖI GIÁ TRỊ THỦY SẢN 286

9.1.1 Giới thiệu về chuỗi giá trị thủy sản 286

9.1.2 Sự tham gia của các nước ASEAN+3 vào chuỗi giá trị thủy sản toàn cầu 289

9.2 CÁC NƯỚC ASEAN+3 TRONG CHUỖI GIÁ TRỊ GẠO TOÀN CẦU 303

9.2.1 Chuỗi giá trị toàn cầu của ngành nông nghiệp 303

9.2.2 Chuỗi giá trị gạo toàn cầu trong ASEAN+3 308

Trang 10

9.3 SỰ THAM GIA CỦA CÁC QUỐC GIA ASEAN 3+ TRONG CHUỖI GIÁ TRỊ DỆT MAY TOÀN CẦU 320 9.3.1 Chuỗi giá trị dệt may toàn cầu 320 9.3.2 Vị thế của Việt Nam trong chuỗi giá trị dệt may toàn cầu 322 9.3.3 Vị thế của Philipines trong chuỗi giá trị dệt may toàn cầu 326 9.3.4 Vị thế của Thái Lan trong chuỗi giá trị dệt may

toàn cầu Error! Bookmark not defined.

9.3.5 Vị thế của Malaysia trong chuỗi giá trị dệt may

toàn cầu Error! Bookmark not defined.

9.3.6 Vị thế của Indonesia trong chuỗi giá trị dệt may

toàn cầu Error! Bookmark not defined.

9.3.7 Vị thế của Trung Quốc trong chuỗi giá trị dệt may

toàn cầu Error! Bookmark not defined.

CẦU NGÀNH ĐIỆN TỬ 328 9.4.1 Giới thiệu về MSX trong ngành điện tử 332 9.4.2 Mạng sản xuất toàn cầu ngành điện tử tại các nước ASEAN+3 335

toàn cầu 341 9.4.4 Vị trí của Việt Nam trong MSX toàn cầu và hàm ý chính sách 345 9.5 TRIỂN VỌNG ĐẦU TƯ 352 9.5.1 Triển vọng đầu tư trong ASEAN+3 352 9.5.2 Triển vọng thu hút FDI vào và đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Việt nam trong bối cảnh hội nhập ASEAN+3 354

Phụ lục LƯỢNG VỐN FDI TIẾP NHẬN VÀ XUẤT RA CỦA CÁC

NƯỚC ASEAN (2013 - 2014) 332

TÀI LIỆU THAM KHẢO 358

Trang 11

LỜI NÓI ĐẦU

Trang 12

Từ nhiều năm qua, Việt Nam đã mở rộng và phát triển quan hệ kinh tế với các nước cũng như tham gia nhiều tổ chức kinh tế, thương mại khu vực và toàn cầu Bước phát triển mở đầu và có tính đột phá của quá trình này là việc Việt Nam chính thức gia nhập ASEAN ngày 25/7/1995 và tham gia Khu vực Thương mại

Tự do ASEAN (AFTA) từ 1/1/1996

Qua 48 năm hình thành và phát triển, hợp tác kinh tế là lĩnh vực

mà ASEAN đã đạt được mức độ hội nhập sâu, rộng nhất Hiện nay, ASEAN đang xây dựng Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) với bốn trụ cột gồm: (i) cơ sở sản xuất và thị trường thống nhất; (ii) khu vực kinh tế cạnh tranh; (iii) khu vực kinh tế phát triển đồng đều và (iv) hội nhập kinh tế toàn cầu Trong Trụ cột 4 của tiến trình hướng tới thành lập AEC vào cuối năm 2015, hợp tác kinh tế trong cơ chế ASEAN+3 đã đạt được những bước tiến lớn, không những góp phần thúc đẩy hợp tác kinh tế, thương mại đầu tư giữa ASEAN với các đối tác Ðông Bắc Á, mà còn tạo động lực cho sự tăng trưởng kinh tế ở khu vực châu Á

Cơ chế hợp tác giữa ASEAN với ba đối tác Trung Quốc, Hàn Quốc

và Nhật Bản (ASEAN+3) hình thành từ năm 1997 và chính thức đi vào hoạt động từ năm 1999, với mục tiêu dài hạn là xây dựng Cộng đồng Ðông Á, trong đó ASEAN đóng vai trò trung tâm Mặc dù cơ chế hợp tác chính thức ra đời chưa lâu, song sự phát triển của các mối liên kết, hợp tác kinh tế, thương mại, đầu tư của các doanh nghiệp, đặc biệt các công ty xuyên quốc gia trong khu vực Đông Á

đã phát triển từ trước đó, và thể hiện qua sự phát triển mạnh mẽ

Trang 13

của các mạng lưới sản xuất, chuỗi cung ứng trong khu vực Như vậy, về thực chất, các cơ chế hợp tác thông qua các Hiệp định trong khu vực ASEAN+3 chủ yếu tiến tới chính thức hoá và thúc đẩy các quan hệ hợp tác kinh tế của các nước trong khu vực Trong bối cảnh đó, ASEAN với vai trò trung tâm đã ký kết các Hiệp định thương mại tự do (FTA) với 3 nước đối tác Đông Á gồm FTA giữa ASEAN và Trung Quốc, FTA ASEAN – Hàn Quốc, Hiệp định đối kinh tế toàn diện ASEAN-Nhật Bản Các nước Đông Á cũng tích cực ký kết với nhau các Hiệp định song phương Tất cả các hiệp định thương mại tự do này đã và đang mở ra một thị trường lớn và

cơ hội lớn thúc đẩy hợp tác thương mại, đầu tư giữa các nước Đông Á Hiện nay, các nước ASEAN cũng đang đàm phán RCEP - Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực - với 6 nước đối tác là Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Úc - New Zealand Mục tiêu của RCEP là tích hợp các Hiệp định Thương mại tự do khác nhau mà 10 nước ASEAN đã ký với Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia, New Zealand, Ấn Độ và Trung Quốc thành một hiệp định toàn diện để tối đa hóa các lợi ích kinh tế RCEP với sự tham gia của 16 nền kinh tế, thị trường dân số trên 3 tỷ người, chiếm khoảng 1/2 thị trường toàn cầu và 1/3 sản lượng kinh

tế thế giới, dự kiến sẽ tạo ra khu vực mậu dịch tự do lớn nhất thế giới

Việt Nam đã tham gia tích cực trong hợp tác kinh tế ASEAN và ASEAN+3, và các kết quả đạt được thể hiện rõ trên các lĩnh vực,

Trang 14

gian tới sẽ hỗ trợ Việt Nam trong tiến trình phát triển kinh tế, góp phần tạo môi trường hòa bình, ổn định cho phát triển Cụ thể hơn, hội nhập Đông Á sẽ tạo cơ hội cải thiện cơ cấu, tăng giá trị gia tăng hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam sang khu vực Đông Á và thúc đẩy thu hút nguồn lực FDI của các nước trong khu vực vào Việt Nam Tuy nhiên, trong quá trình hội nhập, các doanh nghiệp Việt Nam cũng sẽ phải đối mặt với thách thức cạnh tranh gay gắt từ hàng hóa và dịch vụ từ các nước khác, đặc biệt là sự cạnh tranh từ Trung Quốc; các vấn đề về hàng rào kỹ thuật đối với thương mại; các vấn đề nảy sinh từ mối quan hệ địa-chính trị phức tạp trong khu vực

Trong báo cáo này, chúng tôi tổng hợp toàn bộ quá trình hội nhập ASEAN+3 cho tới thời điểm 2014, tích hợp với các phân tích tác động

về thương mại và đầu tư Báo cáo cũng

Trong bối cảnh như vậy, cuốn sách “Việt Nam hội nhập kinh tế Đông Á trong khuôn khổ ASEAN+3” do PGS.TS Nguyễn Hồng Sơn và TS Nguyễn Anh Thu đồng chủ biên có mục đích cung cấp những phân tích về tiến trình hội nhập trong khuôn khổ ASEAN+3, đặc biệt sự tham gia của Việt Nam vào tiến trình này Cuốn sách được thực hiện trong khuôn khổ đề tài cấp Đại học

Quốc gia Hà Nội “Nghiên cứu đánh giá quá trình hội nhập kinh

tế của Việt Nam trong ASEAN và ASEAN + 3 từ năm 2013 đến năm 2015” Mã số đề tài: QGTĐ 13.22

Nội dung của cuốn sách bao gồm hai phần Phần thứ nhất: “Hội nhập kinh tế trong ASEAN+3” sẽ tổng hợp toàn bộ quá trình hội nhập ASEAN+3 cho tới nay, các kết quả đã đạt được trên các lĩnh vực thương mại, đầu tư, tài chính và di chuyển lao động từ đó tìm ra một số vấn đề lớn và triển vọng của tiến trình hội nhập này

Trang 15

Phần thứ hai: “Sự hội nhập của Việt Nam trong ASEAN+3” phân tích tiến trình hội nhập ASEAN+3 của Việt Nam, các kết quả đã đạt được cũng như các tác động của tiến trình này tới thương mại, đầu tư, tài chính và phát triển kinh tế nói chung Đặc biệt, phần này cũng đi sâu vào phân tích sự hội nhập của Việt Nam trong ASEAN+3 trên giác độ ngành, tập trung vào các ngành mà Việt Nam có mức độ tham gia sâu vào chuỗi giá trị hoặc mạng sản xuất trong khu vực, đó là các mặt hàng gạo, thuỷ sản, dệt may và điện tử

Các vấn đề được trình bày trong cuốn sách là những vấn đề mới và đang được quan tâm trong bối cảnh các tiến trình hội nhập đang diễn ra rất nhanh như AEC được hình thành vào cuối năm 2015, Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) và Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – EU đã hoàn tất đàm phán Do vậy, mặc dù các tác giả đã cố gắng để cập nhật thông tin và thực hiện các phân tích ở mức tốt nhất có thể nhưng do điều kiện nghiên cứu

có hạn nên cuốn sách khó tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót Rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của các độc giả

Cuối cùng, các tác giả và Ban chủ nhiệm đề tài QGTĐ 13.22 xin trân trọng cảm ơn Đại học quốc gia Hà Nội đã hỗ trợ kinh phí cho

đề tài, Trường Đại học Kinh tế - Đại học quốc gia Hà Nội, Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật đã tạo điều kiện và giúp đỡ xuất bản cuốn sách này

Hà Nội, tháng 9 năm 2015

Thay mặt nhóm tác giả Chủ nhiệm đề tài QGTĐ 13.22

TS Nguyễn Anh Thu

Phó Hiệu trưởng

Trang 17

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

ABMF Diễn đàn thị trường trái phiếu châu Á

ABMI Sáng kiến phát triển thị trường trái phiếu châu Á

ABS Tiêu chuẩn trái phiếu châu Á

ACFT

A Hiệp định thương mại tự do ASEAN – Trung Quốc ACIA Hiệp định đầu tư toàn diện ASEAN

ADB Ngân hàng phát triển châu Á

AFAS Hiệp định khung ASEAN về dịch vụ

AFTA Hiệp định thương mại tự do ASEAN

AHTN Danh mục biểu thuế quan hài hòa ASEAN

AIA Hiệp định khung về khu vực đầu tư ASEAN

AIIB Ngân hàng đầu tư cơ sở hạ tầng châu Á

AIGA Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư ASEAN

AJCEP Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện ASEAN - Nhật Bản

AK –

AKFT

A Hiệp định thương mại tự do ASEAN - Hàn Quốc

AKTIG Hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN-Hàn Quốc AKTIS Hiệp định về thương mại dịch vụ ASEAN-Hàn Quốc AMM

AMRO Văn phòng nghiên cứu kinh tế vĩ mô ASEAN+3

APEC Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương ASA Thỏa thuận hoán đổi tiền tệ ASEAN

ASCU Đơn vị điều phối giám sát ASEAN

ASEA

ASEA Brunei, Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore và

Trang 18

+3 Hội nghị Bộ trưởng kinh tế ASEAN+3

ATIGA Hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN

BEC1 Nhóm hàng đồ uống, thực phẩm

BEC2 Nhóm hàng nguyên liệu cho công nghiệp

BEC3 Nhóm hàng nhiên liệu và dầu nhờn

BEC4 Nhóm hàng hàng tư liệu sản xuất

BEC5 Nhóm hàng thiết bị vận tải, bộ phận và phụ tùng

BEC6 Nhóm hàng hàng hóa tiêu dùng

BSA Hiệp định hoán đổi song phương

BTA Hiệp định thương mại song phương

CAL Tự do hóa tài khoản vốn

CEPEA Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện

CEPT Thuế quan ưu đãi có hiệu lực chung

CGIF Quỹ bảo lãnh tín dụng và đầu tư

CLMV Campuchia - Lào - Myanmar - Việt Nam

CMD Phát triển thị trường vốn

CMIM Thỏa thuận đa phương hóa sáng kiến Chiang Mai

Trang 19

DNBH Doanh nghiệp bảo hiểm

EAFTA Hiệp định thương mại Đông Á

EPA Hiệp định đối tác kinh tế

ERPD Đối thoại chính sách và đánh giá kinh tế

ETWG Nhóm công tác kỹ thuật về kinh tế và tài chính giám sát

FAO Tổ chức Nông lương Liên hiệp quốc

FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài

IAI Sáng kiến hội nhập kinh tế ASEAN

IIT Chỉ số thương mại nội ngành

ILO Tổ chức lao động quốc tế

IMF Quỹ tiền tệ quốc tế

JETRO Tổ chức xúc tiến mậu dịch Nhật Bản

M&A Mua lại và sáp nhập

Trang 20

MNP Hiệp định ASEAN về di chuyển thể nhân

MRAs Các thoả thuận công nhận lẫn nhau

NTBs Các rào cản phi thuế quan

ODA Hỗ trợ phát triển chính thức

OECD Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế

OFDI Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài

PCL Cách thức tín dụng phòng ngừa

PIS Ngành hội nhập ưu tiên

PSS Hệ thống thanh toán

QABs Các ngân hàng đạt chuẩn ASEAN

R&D Nghiên cứu và Phát triển

RCA Chỉ số lợi thế so sánh hiển thị

RCEP Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực

RSI Trung gian giải quyết khu vực

RVC Hàm lượng giá trị khu vực của hàng hóa

SMEs Các doanh nghiệp nhỏ và vừa

SOM

+3 Hội nghị quan chức cấp cao

TNCs Các công ty xuyên quốc gia

TPP Hiệp định Đối tác chiến lược xuyên Thái Bình Dương

VCCI Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam

VJEPA Hiệp định đối tác kinh tế Việt Nam - Nhật Bản

Trang 21

WC-FSL Ủy ban công tác về tự do hóa dịch vụ tài chính

WEF Diễn đàn Kinh tế thế giới

WTO Tổ chức Thương mại thế giới

Trang 24

Ch-¬ng 1

TỔNG QUAN VỀ CỘNG ĐỒNG KINH TẾ ASEAN

VÀ NỀN KINH TẾ CÁC NƯỚC ASEAN+3

1.1 TỔNG QUAN CHUNG VỀ KINH TẾ CÁC NƯỚC ASEAN VÀ ASEAN+3

ASEAN+3 là một cơ chế hợp tác giữa Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và ba nền kinh tế lớn trong khu vực Đông Á bao gồm Hàn Quốc, Nhật Bản và Trung Quốc Vượt qua giới hạn của một hiệp định hợp tác kinh tế, đây còn là bước khẳng định của ASEAN cũng như ba nước Đông Á về vai trò của ASEAN+3 trong nền kinh tế toàn cầu Phần này sẽ tổng quan và đánh giá các đặc điểm kinh tế vĩ mô, đồng thời phân tích các chính sách nổi bật của bốn nền kinh tế trong ASEAN+3 ảnh hưởng đến hợp tác giữa các nước ASEAN+3 trong tương lai

Trang 25

Trong số các nước ASEAN, Indonesia là quốc gia trụ vững nhất với mức tăng trưởng đều từ 6% trở lên trong khoảng từ năm 2010 - 2012 trong khi mức tăng trưởng của Thái Lan bùng nổ ở mức 7,8% năm 2010, thụt lùi gần về mức 0% năm 2011 và lấy lại đà tăng trưởng mức 5,5% năm

2012 Sự tăng trưởng của các quốc gia còn lại trong khối cũng dao động liên tục trong khoảng thời gian 2010-2012

Năm 2013, năm năm sau khủng hoảng, nền kinh tế các nước ASEAN nói

riêng và ASEAN nói chung đã có những sự phục hồi nhất định Tăng trưởng GDP của cả khối ASEAN năm 2013 tăng 5,16% so với năm 2012 (Phụ lục 1) Sáu nước Lào, Myanmar, Philippines, Campuchia, Indonesia và Việt Nam có mức tăng trưởng tương đối cao trong khi các quốc gia phát triển như Singapore, Brunei, Malaysia và Thái Lan lại vẫn đang vật lộn với việc phục hồi nền kinh tế khỏi mức sụt giảm từ năm

2008 Đáng chú ý, Myanmar là nước đạt mức tăng trưởng cao trong

mười nước thành viên ASEAN năm 2012-2013 ở mức 7,30%, đóng góp chủ yếu là từ đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và các nỗ lực của chính phủ trong xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng Bên cạnh đó, kim ngạch xuất khẩu khí tự nhiên (đóng góp 41% cho GDP năm 2013) cũng ở mức 3,6 tỉ USD, du lịch năm 2013 đạt mức 2 triệu lượt khách nước ngoài, gấp đôi năm 2012 (ADB, 2014) là những tín hiệu đáng mừng cho nền kinh

tế mới mở cửa và hội nhập với kinh tế khu vực và thế giới của quốc gia này

Năm 2013 cũng được coi là một năm thành công của nền kinh tế Việt

Nam Tăng trưởng GDP năm 2013 đạt mức 5,4%, tuy có thấp hơn mức

chỉ tiêu 5,5%, Cán cân thương mại cũng như chỉ số giá tiêu dùng (CPI) đều được cải thiện Cán cân thương mại tiếp tục đạt thặng dư nhờ tăng

trưởng kim ngạch xuất khẩu điện thoại và hàng điện tử dân dụng (Rumki

Majumdar, 2014) Thêm vào đó, những thỏa thuận thương mại toàn cầu

Trang 26

được đàm phán thành công cũng là nhân tố đóng góp tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam

Với Singapore, mức tăng trưởng 2013 thấp hơn dự kiến một phần là do

năng suất kém từ khu vực sản xuất trong Quý I năm 2013 Tăng trưởng của khu vực này giảm 6,8% so với cùng kỳ năm trước do sụt giảm nhu cầu hàng điện tử từ thị trường Mỹ và EU Ngành dịch vụ đóng góp hai phần ba cho GDP chỉ đạt mức tăng trưởng khiêm tốn 1% Do đó, với sự phục hồi của nền kinh tế Singapore vào Quý IV năm 2013 (ngành sản xuất tăng trưởng 3,5%, dịch vụ tăng 5,5% và xây dựng tăng 4,7% so với cùng kỳ năm ngoái) cũng chỉ có thể đưa GDP của Singapore lên mức 4,44% cho cả năm Thêm vào đó, sự sụt giảm của nền kinh tế các nước như Trung Quốc, Ấn Độ và Indonesia cũng làm Singapore nhạy cảm hơn với những biến chuyển kinh tế do đây là những quốc gia nhận vốn FDI từ Singapore (Rumki Majumdar, 2014)

Tăng trưởng GDP của Malaysia đạt mức 4,7% năm 2013, thấp nhất trong ba năm trở lại đây Đây là hậu quả của đầu tư chính phủ giảm và tình trạng xuất khẩu trì trệ trong suốt nửa đầu năm 2013 Nửa cuối năm

2013, nền kinh tế Malaysia nhận được những tín hiệu khả quan hơn khi GDP Quý IV tăng 5,1% so với cùng kỳ năm ngoái, giữ đà tăng trưởng từ Quý III trước đó là 5% Đóng góp chủ yếu cho mức tăng này là tăng trưởng về kim ngạch xuất khẩu của ngành điện tử và dầu cọ Tuy nhiên,

do phải đối mặt tỉ lệ nợ của hộ gia đình cao (chiếm 87% GDP) và nguy

cơ bong bóng bất động sản nên nhìn chung nền kinh tế Malaysia chưa đạt được mức tăng trưởng như ý (Akrur Barua, 2014)

Sang năm 2014, tốc độ tăng trưởng của ASEAN chững lại và giảm

xuống mức 4,4%, trong đó Indonesia và Thái Lan là hai quốc gia gặp khó khăn trong việc giữ ổn định nền kinh tế Indonesia phải đối mặt với

Trang 27

tình trạng kim ngạch xuất khẩu tụt dốc trong khi Thái Lan lại gặp phải bất ổn chính trị trong nước

Indonesia là một trong những quốc gia khai thác khoáng sản lớn nhất thế

giới bao gồm vàng, nicken, thiếc, và than nhiệt lượng Trong năm 2013, lượng nicken Indonesia khai thác lên đến 440.000 tấn, chiếm 1/6 sản lượng nicken khai thác toàn cầu Việc chính phủ Indonesia ban hành lệnh cấm xuất khẩu khoáng sản thô vào tháng 1/ 2014 với mục tiêu dài hạn là đưa ngành khoáng sản lên vị trí cao hơn trong chuỗi giá trị toàn cầu và mong đợi rằng xuất khẩu khoáng sản với giá trị gia tăng cao sẽ đóng góp cho tăng trưởng GDP, cải thiện cán cân thanh toán và tạo việc làm Tuy nhiên, tác động ngắn hạn của chính sách này đã ảnh hưởng tới kim ngạch xuất khẩu cũng như niềm tin của các nhà đầu tư nước ngoài vào thị trường khoáng sản Theo dự kiến, chính sách cấm xuất khẩu này

sẽ còn tiếp tục đến năm 2017 - thời gian đủ để cho những công ty khai khác khoáng sản xây dựng phân xưởng xử lý khoáng sản thay vì xuất khẩu khoáng sản thô ra ngoài Bên cạnh đó, việc nền kinh tế Trung Quốc

- đối tác thương mại lớn thứ hai của Indonesia năm 2014 sau Nhật Bản - đang trải qua sự chững lại trong tăng trưởng ảnh hưởng cụ thể nhất là đến ngành xuất khẩu hàng hóa và năng lượng của Indonesia, đặc biệt là ngành công nghiệp cao su và dầu cọ (ADB, 2015)

Bất ổn chính trị ở Thái Lan bắt đầu từ tháng 11/2013 dẫn đến những ảnh hưởng tiêu cực về kinh tế đối với đất nước này Thứ nhất, chi tiêu chính

phủ sụt giảm, một phần do sự chậm trễ trong quá trình bầu cử và sự

thiếu quan tâm của chính phủ tạm thời Thứ hai, chi tiêu tiêu dùng thấp

là kết quả của việc mất niềm tin cũng như sự lo ngại của người tiêu dùng vào sự hồi phục của nền kinh tế và tình hình chính trị Đây là mối lo chung không chỉ của doanh nghiệp trong nước mà còn của các nhà đầu

tư nước ngoài Việc trì trệ trong đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng trong

Trang 28

dài hạn đến khả năng cạnh tranh và triển vọng tăng trưởng của Thái Lan

Thứ ba, bất ổn chính trị đã ảnh hưởng xấu đến ngành du lịch nước này,

làm giảm mức đóng góp của ngành này vào GDP từ 20,2% năm 2013 xuống mức 17,1% năm 2014 Theo số liệu thống kê của Tổ chức Du lịch Thế giới (WTCC) năm 2014, lượng du khách đến với Thái Lan năm

2014 đã giảm 6,7% so với năm 2013, thu nhập từ du lịch giảm 8,1% xuống mức 38,4 tỉ USD năm 2014 Những bất ổn về chính trị này cũng dẫn đến khó khăn đối với Thái Lan trong tiến trình gia nhập Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) năm 2015 Theo Cơ quan Đầu tư nước ngoài tại Thái Lan (JFCCT), Thái Lan cần áp dụng những thay đổi về luật pháp và quy trình cần thiết để giúp doanh nghiệp và công dân Thái Lan hội nhập với khu vực Tuy nhiên, với tình hình chính trị không rõ ràng, không có

gì chắc chắn về khả năng nắm quyền và điều hành của Chính phủ đã đặt

ra nhiều lo ngại về khả năng thực hiện mục tiêu AEC Hồi phục lại nền kinh tế là cơ hội tốt nhất cho Thái Lan để giữ ổn định nền kinh tế và

khai thác khoáng sản ở quốc gia lân cận Philippines và Malaysia Theo

Cơ quan Hải quan Trung Quốc năm 2014, tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu nicken từ Philippines sang Trung Quốc tăng 12% so với năm 2013 Tuy nhiên, mùa mưa kéo dài ở Philippines từ tháng mười một đến tháng hai hàng năm cũng đưa đến nhiều lo ngại cho các nhà đầu tư Trung Quốc trong năm 2015 vào đất nước này Malaysia đạt mức tăng trưởng khá ổn định 6,0% năm 2014 nhờ chính sách nhằm tạo việc làm, giảm thất nghiệp và tăng lương mặc dù quốc gia này vẫn gặp phải vấn đề đầu

tư và chi tiêu chính phủ (ADB, 2015)

Trang 29

Kinh tế Việt Nam tăng trưởng ở mức 6,0% năm 2014, mức tăng cao nhất

từ năm 2011 Các nhân tố đóng góp cho sự tăng trưởng này phải kể đến đầu tư của vốn FDI vào các lĩnh vực, đặc biệt là công nghiệp tăng 7,1% (cao hơn mức tăng 5,4% năm 2013) và sản xuất đạt mức 8,5% Kim ngạch xuất khẩu hàng thủy sản đặc biệt là cá và tôm cũng đóng góp cho tăng trưởng nông nghiệp đạt mức 3,5% (ADB, 2015)

 Tỷ lệ lạm phát

Tỷ lệ lạm phát của nhiều quốc gia ASEAN năm 2013 tăng so với năm

2012, mức tăng trung bình theo Cơ quan Thống kê ASEAN (ASEAN Stat), dao động từ mức 1,4% đến 7,7% năm 2013 Trong đó, mức lạm phát thấp nhất là ở Thái Lan (1,4%) và Singapore (1,6%); cao nhất là Indonesia (8,4%) Trong khi phải đối mặt với nền kinh tế trì trệ, mức lạm phát của Indonesia đạt mức kỷ lục năm 2013 là 8,4%, cao hơn mức lạm phát 4,3% của năm 2012 và vượt quá dự kiến của Chính phủ Điều này là kết quả của việc giá dầu và giá thực phẩm tăng Xăng dầu là mặt hàng nhận được trợ cấp chính phủ tại Indonesia, tuy nhiên thực tiễn lại cho thấy việc làm này đặt gánh nặng lên nền kinh tế do giá dầu trên thị trường bị bóp méo và ảnh hưởng đến tài chính công Bên cạnh đó, sử dụng ngân sách để trợ cấp xăng dầu đã ngăn cản Chính phủ đầu tư cho các mục đích khác cấp thiết hơn Như vậy, việc giảm trợ cấp xăng dầu vào tháng 6/2013 đã khiến giá xăng tăng 44% và tăng 22% trong giá dầu diesel là tác nhân dẫn đến ảnh hưởng ngắn hạn lên tỉ lệ lạm phát của Indonesia năm 2013 (Akrur Barua, 2013) Thêm vào đó, vụ mùa thất bát, thiên tai cùng với sự chậm trễ của chính phủ trong việc tiếp tế thực phẩm trong nước bằng thực phẩm nhập khẩu cũng là yếu tố dẫn đến mức tăng lạm phát đỉnh điểm của nước này

Năm 2014, khu vực ASEAN đạt tỉ lệ lạm phát trung bình là 4,1% và dự

kiến sẽ giảm xuống 3,1% vào năm 2015 do giá dầu thế giới giảm Việc

Trang 30

giá dầu thế giới giảm có tác động đến tỉ lệ lạm phát của các nước ASEAN khác nhau do sự khác nhau trong chính sách kinh tế cũng như

sự phụ thuộc của từng nước vào dầu mỏ Indonesia vẫn là quốc gia có tỷ

lệ lạm phát cao nhất (6,6%), tiếp đó là Philippines (4,17%) và Việt Nam (4,10%)

 Thương mại

Thương mại là yếu tố vô cùng quan trọng đối với khối các quốc gia

ASEAN Trong năm 2013, kim ngạch xuất khẩu tăng 3,86% và nhập

khẩu tăng 3,55% so với năm 2012 Trong đó, tỉ lệ thương mại nội khối ASEAN so với tổng thương mại chiếm 24,2% trong năm 2013 Thương mại nội khối ASEAN+3 đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với thương mại ASEAN với tỉ trọng gấp đôi so với thương mại nội khối ASEAN Thương mại với khối ASEAN+6 và các quốc gia Đông Á (Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc) chiếm hơn hai phần ba tổng kim ngạch thương mại của ASEAN

75,8% tổng thương mại của ASEAN trong năm 2013 thuộc về thương mại ngoại khối, điều này cũng nói lên rằng ASEAN ngày càng mở rộng thị trường của mình ra các nước ngoài khối Trung Quốc là đối tác thương mại lớn nhất của ASEAN (kim ngạch thương mại chiếm 14%), theo sau là Nhật Bản, EU và Mỹ Nhiều quốc gia châu Á, đặc biệt khu vực ASEAN đã thiết lập các chuỗi cung ứng tích hợp với Trung Quốc vì Trung Quốc hiện nay đã dần trở thành trung tâm sản xuất và lắp ráp của thế giới (ASEAN, 2014)

Sang năm 2014, kim ngạch xuất khẩu của ASEAN vẫn giữ đà tăng

trưởng 4,35% so với năm 2013, tuy nhiên kim ngạch nhập khẩu đạt mức tăng khiêm tốn 2,08% Dự kiến với sự ra đời của AEC vào cuối năm

2015, thương mại nội khối ASEAN và ASEAN+3 sẽ tăng mạnh Tuy nhiên, tác động của tiến trình tự do hóa thương mại trong ASEAN chưa

Trang 31

thực sự đồng đều giữa các rào cản thuế và rào cản phi thuế Để có thể giữ tăng trưởng kim ngạch thương mại nội khối ASEAN, các quốc gia thành viên cần phải có các nỗ lực cao hơn nữa trong tự do hoá thương mại

 Đầu tư

Về lĩnh vực đầu tư, lượng vốn FDI cũng là một chỉ số thể hiện mức độ hội nhập của các quốc gia ASEAN nói riêng và khu vực ASEAN nói

chung Thời kỳ 2000-2013 là thời kỳ FDI thu hút vào khu vực này ở mức

cao nhất với mức tăng FDI nội khối là 25% và ngoại khối ở mức 13%

Vào năm 2013, tổng lượng vốn khu vực ASEAN tiếp nhận đạt mức 122

tỷ USD, tăng 7% so với năm 2012, trong đó FDI nội khối chiếm khoảng 17,21% (21 tỷ USD) và FDI tiếp nhận từ nước ngoài đóng góp gần 83% Một nửa lượng FDI tiếp nhận ở khu vực ASEAN thuộc về Singapore, 15% thuộc về Indonesia, 10% của Malaysia và Thái Lan Trong khối nước CLMV, Việt Nam thu hút lượng FDI lớn nhất ở mức 6,4% tổng FDI của toàn khu vực Theo báo cáo về Thương mại và Đầu tư năm

2014 của UNESCAP, năm 2013 Việt Nam tiếp nhận hơn 9 tỉ USD là vốn FDI, tăng 6,4% so với năm 2012 Theo các nhà đầu tư, những yếu tố khiến thị trường Việt Nam trở nên hấp dẫn so với thị trường các nước CLM bao gồm quy mô thị trường và giá nhân công rẻ Tuy nhiên, để giữ vững niềm tin của các nhà đầu tư, chính phủ Việt Nam cần có các biện pháp để cải tổ quy trình hành chính và đẩy mạnh môi trường đầu tư hơn

nữa Lượng vốn FDI ra từ khu vực ASEAN đạt mức 56 tỉ USD do sự sụt

giảm từ Thái Lan, Malaysia và Indonesia Trong khi đó, Singapore tăng gấp đôi lượng vốn FDI ra nước ngoài, đạt mức 28 tỉ USD năm 2013 Theo báo cáo về Thương mại và Đầu tư năm 2014 của UNESCAP, chủ yếu các nước ASEAN đầu tư FDI vào hoạt động mua lại và sáp nhập (M&A), chiếm 36,7% tổng vốn FDI ra nước ngoài Trung Quốc là nước

Trang 32

đứng đầu trong việc tiếp nhận FDI từ ASEAN thông qua hoạt động M&A

Năm 2014, tổng lượng vốn FDI tiếp nhận của ASEAN vẫn giữ đà tăng

ổn định, đạt mức 136 tỷ USD, tăng 11,6% so với năm 2013 Trong đó, lượng vốn nội khối chiếm 17,9% và vốn tiếp nhận từ các quốc gia nước ngoài chiếm 82,1% Theo dự báo của OECD, năm 2015, khu vực ASEAN sẽ trở thành khu vực có năng lực cạnh tranh và thu hút đầu tư hàng đầu thế giới Với việc ASEAN sẽ trở thành thị trường và khu vực sản xuất thống nhất, lượng vốn FDI đổ vào khu vực ASEAN sẽ còn tăng trong vòng ba năm tới vào cả khu vực Đông Nam Á và Đông Á

 Lao động

Về vấn đề lao động, theo báo cáo của OECD năm 2013, ASEAN là

khu vực tiếp nhận lao động lớn thứ hai châu Á, đặc biệt là hai quốc gia Malaysia và Thái Lan Chỉ trong 10 năm từ năm 1993 đến 2013, lượng lao động thu hút trong nội khối ASEAN đã tăng từ 1,5 triệu lên 6,5 triệu người, tuy nhiên 87% lượng lao động này không có kỹ năng hoặc kỹ năng thấp Tỷ lệ người nhập cư so với dân số nội khối các nước ASEAN chiếm 1,04% năm 2013 Nhiều người nhập cư sống và làm việc tại nước

sở tại do ưu đãi xã hội và mức lương tốt hơn so với quê hương của họ, điển hình có thể thấy tại hai quốc gia là Malaysia và Singapore Thu nhập tương đối là yếu tố quyết định quan trọng trong việc di chuyển lao động tại ASEAN Sự khác biệt lớn về thu nhập giữa các nước thành viên càng làm rõ hơn sự phức tạp mà ASEAN sẽ gặp phải trong quá trình tự

do hóa lao động trong những năm tới Ngoài ra, vấn đề bảo hộ lao động cũng như các quy định lao động, quy định về visa… khác biệt giữa các quốc gia cũng là vấn đề cần được xem xét khi khu vực này hướng đến một Cộng đồng chung năm 2015

Trang 33

Bảng 1.1 Tóm tắt các chỉ số kinh tế vĩ mô khu vực ASEAN năm 2013 -2014

Tỷ lệ người nhập cư so với dân số (%) 1,04 N/A

Nguồn: IMF World Economic Outlook Database (2015) và ASEAN Stat (2015)

1.1.1.2 Chính sách kinh tế

Chính sách kinh tế đáng chú ý của khối các quốc gia ASEAN trong năm 2013-2014 là các nỗ lực được thực hiện để hướng tới việc hình thành Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) vào ngày 31/12/ 2015 Trước đây, một câu hỏi được đặt ra liệu ASEAN có thực sự đạt được các cột mốc để hoàn thành AEC hay không Tuy nhiên, thay vì chỉ nhìn nhận AEC từ góc độ một mục tiêu cần được hoàn thành, AEC nên được đánh giá như một quá trình lâu dài để gắn kết nền kinh tế các quốc gia thành viên, xây dựng một cộng đồng quốc tế và bảo đảm tính trung tâm của ASEAN Trong giai đoạn từ năm 2008-2013, ASEAN đã hoàn thành được 78,1% các mục tiêu đặt ra trong Kế hoạch tổng thể xây dựng AEC (AEC

Blueprint) Về thương mại hàng hóa, đến năm 2013, đã có tổng cộng

98.037 dòng thuế được cam kết giảm hay loại bỏ, trong số đó có 86.083 dòng thuế đã được giảm xuống mức 0% Theo lịch trình, vào năm 2018, thuế nhập khẩu cho hơn 98% dòng thuế sẽ được loại bỏ cho các thành

Trang 34

viên mới, trong đó có Việt Nam Đối với ASEAN 6 (gồm Brunei, Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore và Thái Lan), thuế suất gần

như được loại bỏ hoàn toàn ASEAN đã từng bước thiết lập Hải quan

một cửa ASEAN (ASW) và việc xây dựng ASW đã đạt được nhiều tiến

triển ASEAN hiện nay đang tiếp tục thực hiện các dự án thí điểm ASW

và phấn đấu một phần ASW bao gồm 7 nước thành viên sẽ được thực

hiện vào năm 2015 Về tự do hoá thương mại dịch vụ, đến thời điểm hiện

tại, các nước đã hoàn tất Gói cam kết 9, trừ Philippines và Gói cam kết

10 dự kiến sẽ hoàn tất vào tháng 8/2015 ASEAN cũng có những tiến bộ đáng kể trong tự do hoá dịch vụ tài chính và các ngành dịch vụ ưu tiên,

đặc biệt là lĩnh vực vận tải hàng không Với hoạt động đầu tư, nỗ lực đáng kể trong giai đoạn này là việc ký kết và phê chuẩn Hiệp định đầu tư

toàn diện ASEAN (ACIA) Các nước ASEAN đã tập trung cắt giảm và loại bỏ dần các biện pháp trong Danh mục bảo lưu của mình, hướng tới

mục tiêu xây dựng một môi trường đầu tư tự do và mở cửa vào năm

2015 Hội nhập tài chính trong AEC vẫn còn tương đối yếu ASEAN đã phê chuẩn kế hoạch phát triển thị trường vốn ASEAN vào tháng 4/2009

và cố gắng đẩy mạnh tự do hoá tài khoản vãng lai, dịch vụ tài chính Đối

với di chuyển lao động có tay nghề, các nước ASEAN đã ký cam kết về

di chuyển thể nhân vào năm 2012 ASEAN đã ký MNP vào năm 2012

ASEAN cũng đã ký các thoả thuận công nhận lẫn nhau (MRAs) cho 07

lĩnh vực gồm: bao gồm dịch vụ tư vấn kỹ thuật (2005), dịch vụ kiến trúc (2007), hành nghề y khoa (2006), hành nghề nha khoa (2009), dịch vụ điều dưỡng (2009), ngành nghề du lịch (2012) và mới đây nhất là dịch

vụ kế toán, kiểm toán (2014) Các hoạt động về phát triển cơ sở hạ tầng

diễn ra khá mạnh mẽ với các nỗ lực thúc đẩy thuận lợi hoá giao thông vận tải, tự do hoá dịch vụ chuyên chở hành khách đường không, tự do

hoá dịch vụ vận chuyển đường biển, năng lượng, viễn thông Về Sáng

kiến Hội nhập ASEAN (AIA), ASEAN đã thông qua Kế hoạch hành động

Trang 35

chiến lược IAI I và II để thực hiện các dự án nâng cao năng lực cho nhóm CLMV, nhằm đảm bảo lợi ích của AEC sẽ lan toả tới các nền kinh

tế nhỏ hơn của ASEAN Sáng kiến kết nối ASEAN (ASEAN Connectivity) cũng đã được thông qua tại Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 15 (năm 2009) với mục tiêu củng cố kết nối cơ sở hạ tầng nhằm thu hẹp khoảng cách về kinh tế trong khu vực (Nguyễn Hồng Sơn, 2015) Tuy đã đạt được những thành tích đáng kể, ASEAN vẫn còn một chặng đường với nhiều công việc cần hoàn thành để tiến tới thành lập một

Cộng đồng kinh tế Thứ nhất, các rào cản phi thuế (NTB) bao gồm giấy

phép, các quy định về kỹ thuật và chất lượng thực sự là chướng ngại vật

lớn khi các quốc gia ASEAN mở cửa hội nhập Thứ hai, cơ sở hạ tầng

của khu vực ASEAN tuy đã có những cải thiện nhưng vẫn còn chưa tương xứng với yêu cầu phát triển Việc kết nối các vùng vịnh và bán

đảo với đất liền cần đầu tư một khoản chi phí rất lớn Thứ ba, tự do hóa lĩnh vực dịch vụ còn ở mức thấp Thứ tư, khoảng cách phát triển giữa

các quốc gia thành viên ASEAN ngày càng rộng và trở thành mối đe dọa lớn cho việc ổn định và phát triển kinh tế đồng đều giữa các nước thành viên Đây không chỉ là khoảng cách về mặt tăng trưởng kinh tế mà còn bao gồm nguồn nhân lực, thể chế kinh tế, nghèo đói, cơ sở hạ tầng, tài chính, công nghệ thông tin và truyền thông

1.1.1.3 Chính sách hội nhập

Bên cạnh theo đuổi mục tiêu AEC, ASEAN còn hướng tới mục tiêu hội nhập vùng Điều này là do thương mại ngoại khối của ASEAN, đặc biệt với Trung Quốc và Nhật Bản đóng vai trò quan trọng trong tổng thương mại của khu vực này ASEAN bắt đầu quá trình củng cố hợp tác kinh tế với các đối tác thương mại của mình từ rất sớm và vào đầu những năm

1990 Việc ký kết các Hiệp định thương mại (FTA+1) riêng lẻ của từng

Trang 36

quốc gia trong khu vực do đó đã được đẩy mạnh Việc thiết lập nhiều hiệp định thương mại tự do của ASEAN thực chất là để khẳng định vị trí trung tâm của ASEAN trong khu vực Tuy nhiên, các hiệp định trên có những sự khác nhau nhất định và chính vì vậy hiệu lực chưa có được những tác động toàn diện Bên cạnh đó, một bước đi hội nhập khác mà một số quốc gia ASEAN đang theo đuổi là đàm phán Hiệp định Đối tác chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) Những bước đi trong bàn cờ hội nhập kinh tế của ASEAN được coi là để khẳng định vị trí kinh tế chiến lược của mình trong khu vực Tuy nhiên, với sự bùng nổ của quá nhiều hiệp định song phương, đa phương và khu vực, cụ thể ASEAN+3, RCEP và TPP, câu hỏi đưa ra là liệu những hiệp định này có làm bão hòa tính “trung tâm” mà ASEAN luôn hướng tới và bên cạnh đó, hiệu

ứng “bát mỳ” của các FTAs là khó tránh khỏi

ASEAN+3 là Hợp tác giữa ASEAN và ba nước Đông Á là Hàn Quốc, Trung Quốc và Nhật Bản Mục tiêu của ASEAN+3 là thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững của các nước thành viên, hướng tới một Đông Á thịnh vượng hơn với dòng chảy tự do về hàng hóa và dịch

vụ, hội nhập thương mại phù hợp với các hiệp định của WTO Tuy

nhiên, sự trỗi dậy của nền kinh tế Trung Quốc và sự sụt giảm của nền kinh tế Nhật Bản trong những năm gần đây đã đưa ASEAN vào tình thế

tiến thoái lưỡng nan

Một mặt, có thể thấy, Trung Quốc là đối tác thương mại lớn nhất của ASEAN trong nhiều năm qua Hơn nữa, sự nổi lên của nền kinh tế Trung Quốc khiến nước này trở thành một thành phần kinh tế quan trọng trong vùng Việc hình thành ASEAN+3 được Trung Quốc ủng hộ vì đây là cơ chế để xây dựng Cộng đồng Đông Á (EAS) mà Trung Quốc sẽ trở thành trung tâm thương mại chính Kể từ khi ký kết hợp tác song phương giữa ASEAN và Trung Quốc, ASEAN đã nhận được nhiều gói dự án hỗ trợ cũng như thuận lợi thương mại nhất định Mặt khác, ASEAN không thể

Trang 37

lún sâu vào quan hệ kinh tế với Trung Quốc vì như vậy ASEAN sẽ mất

đi lợi thế “trung tâm” của mình Chính vì vậy, ASEAN vẫn cần thiết lập quan hệ chiến lược với Nhật Bản và Mỹ để tạo sự cân bằng Như đã đề cập ở trên, sự trỗi dậy của nền kinh tế Trung Quốc đã trở thành mối nguy hiểm cho không chỉ ASEAN mà còn là vị thế kinh tế của Mỹ và Nhật Bản, hai nền kinh tế hàng đầu thế giới Thêm nữa, xung đột tại biển Đông giữa Trung Quốc, Nhật Bản và một vài nước ASEAN lại làm tăng thêm căng thẳng và tính cạnh tranh giữa các bên liên quan Việc hình thành ASEAN+3 trở nên khó khăn khi Hàn Quốc trở thành quốc gia trung lập, ASEAN bắt buộc phải cân bằng giữa lợi ích thương mại với Trung Quốc và lợi ích chiến lược và hợp tác an ninh với Nhật Bản Bên cạnh ASEAN+3, Hiệp định đối tác toàn diện khu vực (RCEP) cũng giành được nhiều sự quan tâm RCEP được hình thành dựa vào công thức về ASEAN++ và được coi là sự trung hòa giữa ASEAN+3 hay Hiệp định Thương mại Đông Á (EAFTA) - ủng hộ bởi Trung Quốc và Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện (CEPEA) - ủng hộ bởi Nhật Bản, Singapore và Indonesia Đây là bước đi thông minh của ASEAN, “một mũi tên trúng hai đích” khi vừa trung hòa được hai thế lực kinh tế mạnh nhất châu Á, vừa là bước đi giữ vững được đặc tính “trung tâm” mà ASEAN mong đợi Cụ thể hơn, với ASEAN+6 hay RCEP, Trung Quốc, Nhật Bản, Mỹ, Ấn Độ sẽ là bàn đạp xây dựng ASEAN nói riêng và khu vực châu Á Thái Bình Dương thành khu vực sản xuất phát triển Hiệp định TPP, được coi là “Hiệp định của thế kỷ XXI”, có mục tiêu xóa

bỏ hàng rào thuế quan và phi thuế quan trên các lĩnh vực thương mại hàng hóa, dịch vụ, nông nghiệp và thiết lập các quy tắc về các lĩnh vực như đầu tư và các hoạt động kinh tế khác Cho đến nay, TPP đã bao gồm

12 quốc gia (Úc, Brunei, Canada, Chile, Nhật Bản, Malaysia, Mexico, New Zealand, Peru, Singapore, Việt Nam và Mỹ) Có thể thấy, không

Trang 38

điều này, TPP có thể sẽ phá vỡ xu hướng “FTA+” mà ASEAN vẫn theo đuổi từ trước đến nay Hơn nữa, việc không bao gồm toàn bộ thành viên khối ASEAN thể hiện rằng, Mỹ không thực sự quan tâm tới việc phát triển kinh tế và hội nhập thương mại với ASEAN như một thể thống nhất Hơn nữa, việc tham gia của một vài quốc gia ASEAN vào TPP có thể sẽ còn làm khoảng cách về khác biệt kinh tế ngày một rõ rệt

Như vậy, mức độ hội nhập và việc ASEAN có giữ được tính “trung tâm” của mình hay không phụ thuộc rất nhiều vào những nỗ lực của từng nước thành viên nói riêng và ASEAN nói chung Các nỗ lực hình thành Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) sẽ quyết định nhiều đến vị thế của ASEAN trong khu vực và cũng sẽ là yếu tố quan trọng trong các đàm phán của RCEP hay TPP sắp tới Thay vì so sánh những mặt lợi hại của các đàm phán, ASEAN hãy nên tận dụng cơ hội của mình để hoàn thành

kế hoạnh AEC đề ra là trở thành người cầm lái nền kinh tế khu vực

Sự nổi lên của các nền công nghiệp điện tử Hàn Quốc và Trung Quốc đã làm giảm thị phần của công ty Nhật Bản trên thị trường quốc tế (Ira Kalish, 2015) Vấn đề đáng lo ngại nữa của Nhật Bản là việc chính phủ

Trang 39

Nhật Bản có mức nợ chính phủ ở mức 200% GDP năm 2012 Đây là kết quả của việc tăng trưởng chậm, mức chi tiêu công cao đã đưa đến nhiều lo ngại về việc mất giá mạnh của đồng Yên Nhật và tính bền vững

về mặt tài chính, tiềm năng kinh tế Việc thủ tướng Shinzo Abe lên nắm quyền đã đưa lại nhiều tín hiệu đáng mừng cho nền kinh tế trong năm

2013 - năm đầu tiên áp dụng bộ ba chính sách kinh tế về tài khóa, tiền tệ

và thay đổi cấu trúc dài hạn mang tên Abenomics Các gói kích thích được đưa vào thị trường đã phần nào giúp tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu cũng như nhu cầu nội địa Tuy nhiên, các thách thức về tính ổn định của thị trường chứng khoán, niềm tin doanh nghiệp cũng như của người tiêu dùng hay tỉ lệ nợ công cao và gia tăng dân số già là những câu hỏi mà chính phủ Nhật Bản vẫn chưa tìm được câu trả lời

Mức tăng trưởng GDP năm 2013 đạt mức 1,61% Theo báo cáo kinh tế

Nhật Bản của Deloitte, chỉ số giá tiêu dùng trong năm 2013 dần lấy lại

đà tăng trưởng, đặc biệt là cầu tín dụng Điều này là kết quả của chính sách tiền tệ mở rộng mà Nhật Bản đưa vào áp dụng một năm trước đó Cuộc điều tra theo quý Tanka của Nhật Bản năm 2013 cũng chỉ ra niềm tin của những nhà sản xuất lớn trong nước vào nền kinh tế cũng tăng lên mức điểm 12 từ mức điểm 4 vào tháng 6/ 2001, mức tăng điểm cao nhất

từ tháng 7/ 2013 Chính vì vậy, tỉ lệ đầu tư so với GDP đạt mức 21,127%, tăng 1,22% so với năm 2012

Sang năm 2014, GDP cả năm chỉ đạt mức -0,06% Sau khi đạt tốc độ

tăng trưởng mạnh trong Quý I/2014, nền kinh tế Nhật Bản trải qua tăng trưởng âm hai quý liên tiếp và chính thức rơi vào suy thoái kỹ thuật Đây

là kết quả từ việc tăng thuế từ 5% lên mức 8% Việc GDP quý I tăng trưởng mạnh có thể được hiểu là do người tiêu dùng gia tăng mua sắm trước khi việc tăng thuế có hiệu lực từ tháng 4/ 2014 Sau khi luật tăng thuế có hiệu lực, tiêu dùng và đầu tư giảm đã dẫn đến việc GDP quý II

Trang 40

thấy điều này, chính phủ của thủ tướng Shinzo Abe đã quyết định đưa vào gói cứu trợ kinh tế 3,5 tỉ Yên Nhật để hồi phục nền kinh tế, tuy nhiên vẫn chưa được đạt được kết quả khả quan (Rumki Majumdar, 2015)

 Tỷ lệ lạm phát

Mức lạm phát của Nhật Bản đã tăng từ 0% lên mức 0,4% năm 2013

Đây là một tín hiệu đáng mừng cho nền kinh tế đang cố gắng thoát ra khỏi hai thập kỷ giảm phát Chủ yếu mức lạm phát tăng năm 2013 là nhờ

sự tăng giá của các mặt hàng như điện (tăng 7,65%) và xăng dầu (tăng 9%) Tuy nhiên, mức tăng xăng dầu này là kết quả của việc đồng Yên Nhật mất giá và điều này cũng làm giá hàng nhập khẩu tăng lên Các mặt hàng khác như máy tính cá nhân và thiết bị điện tử đạt mức tăng 12,4% Tuy nhiên, xu hướng lạm phát tăng của Nhật Bản lại đi ngượi lại với xu hướng ở các nước và khu vực phát triển khác như Mỹ, Anh và châu Âu Mục tiêu đạt được lạm phát mức 2% để đưa nền kinh tế ra khỏi thời kỳ giảm phát vẫn còn gặp phải những thách thức nhất định Theo Bộ trưởng Kinh tế Nhật Bản Akira Amari, một trong số đó là vấn đề tiền lương Khi lạm phát tăng nhưng tiền lương không tăng bắt kịp với lạm phát thì việc duy trì ổn định thị trường trong nước cũng như mục tiêu lạm phát 2% sẽ còn rất xa vời Sự tăng giá của các mặt hàng thiết yếu như thực phẩm và năng lượng sẽ tác động đến niềm tin người tiêu dùng Thêm nữa, việc chính phủ Nhật Bản dự kiến tăng thuế vào năm 2014 cũng sẽ

là bước cản cho mục tiêu lạm phát nếu vấn đề tiền lương và lạm phát không được xử lý kịp thời

Sang năm 2014, mức lạm phát Nhật Bản tăng lên 2,7% Mức lạm phát

lõi (lạm phát loại trừ năng lượng, thực phẩm tươi) tăng mạnh vào tháng 4/2014 (đạt mức 3,2%) do tác động của việc tăng thuế Sang nửa cuối năm 2014, tỷ lệ lạm phát lại sụt giảm do giá dầu thế giới giảm mạnh

Ngày đăng: 16/07/2019, 23:14

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
27. Cabezas, Maritza. (2015). Japan deflation threats revives. Retrieved from https://insights.abnamro.nl/en/deflation-threats-revive/ on 20 June 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Japan deflation threats revives
Tác giả: Maritza Cabezas
Năm: 2015
32. Sriparna. (2015). Unemployment and Unrest: China‟s Internal stability concerns from the “New Normal”. Stsfor.org Sách, tạp chí
Tiêu đề: New Normal
Tác giả: Sriparna
Năm: 2015
35. Urata, Shujiro. (2015) Revitalizing sluggish FDI in Japan. East Asia Forum. Retrieved fromhttp://www.eastasiaforum.org/2015/02/23/revitalising-sluggish-fdi-in-japan/ on 18 June 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Revitalizing sluggish FDI in Japan
Tác giả: Shujiro Urata
Nhà XB: East Asia Forum
Năm: 2015
36. Yoon Ja-young (2015). South Korea’s youth unemployment at new high. Koreatimesus.com Sách, tạp chí
Tiêu đề: South Korea’s youth unemployment at new high
Tác giả: Yoon Ja-young
Nhà XB: Koreatimesus.com
Năm: 2015
37. Yu Yongding (2015a). China‟s Slow-Growth Opportunity. Project Syndicate Sách, tạp chí
Tiêu đề: China’s Slow-Growth Opportunity
Tác giả: Yu Yongding
Nhà XB: Project Syndicate
Năm: 2015
38. Yu Yongding (2015b). Can China beat deflation?. Project Syndicate 39. Zhai Kun (2015). Chinese Diplomacy towards Southeast Asia in 2014.Chinausfocus.com Sách, tạp chí
Tiêu đề: Can China beat deflation
Tác giả: Yu Yongding
Nhà XB: Project Syndicate
Năm: 2015
40. He Qinglian (2015). “ 新常 态” :中国 经济面临的六大瓶颈. Heqinglian.net Tiếng Việt Sách, tạp chí
Tiêu đề: 新常态:中国经济面临的六大瓶颈
Tác giả: He Qinglian
Nhà XB: Heqinglian.net
Năm: 2015
41. Nguyễn Hồng Sơn. Cộng đồng kinh tế ASEAN trong bối cảnh thế giới mới và sự tham gia của Việt Nam. Đề tài cấp Nhà nước KX.01.11/11-15 (thành viên tham gia).Website Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cộng đồng kinh tế ASEAN trong bối cảnh thế giới mới và sự tham gia của Việt Nam
33. Tổng cục Hải quan Trung Quốc. (2015). Số liệu thống kê. Retrieved from http://english.customs.gov.cn/newsroom/statistics 12 June 2015 Link
43. Bộ Thương mại Trung Quốc: english.mofcom.gov.cn Link
28. OECD. (2014a). OECD Economic Surveys – Korea Khác
29. OECD. (2014b). China: Structural reforms for inclusive growth Khác
30. Shannon. (2014). China sets economic reform targets for 2015. Thediplomat.com Khác
31. Snyder (2014). Sean Connell: Korea‟s creative approach to economic competitiveness. Cfr.org Khác
34. UNESCAP. (2014). Asia Pacific Trade and Investment Report 2014: Recent Trends and Developments. Economic and Social Commission for Asia and the Pacific Khác
42. Bộ Thương mại Công nghiệp và Năng lượng Hàn Quốc: english.motie.go.kr Khác
44. Tổ chức Xúc tiến Mậu dịch Nhật Bản(JETRO) www.jetro.go.jp 45. Tổng cục thống kê Trung Quốc: stats.gov.cn Khác
46. Viện nghiên cứu kinh tế Hàn Quốc: keia.org Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w