TÍNH ĐỐI XỨNG VÀ BẤT ĐỐI XỨNG CỦAQUAN HỆ TÍNH ĐỐI XỨNG VÀ BẤT ĐỐI XỨNG CỦAQUAN HỆ TÍNH ĐỐI XỨNG VÀ BẤT ĐỐI XỨNG CỦAQUAN HỆ
Trang 13 Đối tượng, khách thể, phạm vi và phương pháp nghiên cứu 7
1.1.3 Đặc trưng quan hệ giúp đỡ trong mạng lưới quan hệ xã hội 16
1.2 Các nghiên cứu về tính chất có đi có lại như một thành tố của vốn xã hội 22 1.2.1 Tính chất có đi có lại trong khái niệm vốn xã hội 22 1.2.2 Tính chất có đi có lại như một chỉ báo đo lường vốn xã hội 23 1.2.3 Tính chất có đi có lại của quan hệ giúp đỡ trong vốn xã hội 24 1.3 Các nghiên cứu về cách đo tính đối xứng và bất đối xứng của quan hệ giúp đỡ 26
Trang 2trong vốn xã hội
2.1.2 Nhóm lý thuyết xã hội học tiếp cận theo quan điểm kinh tế học hành vi 35
CHƯƠNG 3: MỨC ĐỘ ĐỐI XỨNG VÀ BẤT ĐỐI XỨNG CỦA QUAN HỆ
3.1 Mức độ đối xứng và bất đối xứng về số lượng loại hình giúp đỡ 57 3.2.Mức độ đối xứng và bất đối xứng về tính chất loại hình giúp đỡ 75
3.3 Mức độ đối xứng và bất đối xứng về hoàn cảnh giúp đỡ 81 3.4 Thảo luận về mức độ đối xứng và bất đối xứng của quan hệ giúp đỡ trong vốn
CHƯƠNG 4: CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TÍNH ĐỐI XỨNG VÀ BẤT
ĐỐI XỨNG CỦA QUAN HỆ GIÚP ĐỠ TRONG VỐN XÃ HỘI CỦA NGƯỜI
Trang 3DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Số lượng phỏng vấn sâu và nghiên cứu trường hợp 52 Bảng 3.1: So sánh mức độ đối xứng và bất đối xứng của quan hệ giúp đỡ với
Bảng 3.2: So sánh mức độ đối xứng và bất đối xứng của quan hệ giúp đỡ với
Bảng 3.3: So sánh mức độ đối xứng và bất đối xứng của quan hệ giúp đỡ với
Bảng 3.4: Kiểm định McNemar về tính đối xứng và bất đối xứng trong tính chất
Bảng 3.5: Kiểm định McNemar về tính đối xứng và bất đối xứng trong một số
Bảng 4.1: Các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ đối xứng và bất đối xứng về số
lượng loại hình giúp đỡ giữa người trả lời và ba người bạn thân 100
Bảng 4.2: Các yếu tố ảnh hưởng đến mng độác yếu tố ảnh́t đối xứng vố ảnh
Bảng 4.3: Các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ đối xứng và bất đối xứng về tiền
Bảng 4.4: Các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ đối xứng và bất đối xứng về sức
lao động giữa người trả lời và bạn thân thứ nhất 108
Bảng 4.5: Các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ đối xứng và bất đối xứng về sức
lao động giữa người trả lời và bạn thân thứ nhất 110
Bảng 4.6: Các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ đối xứng và bất đối xứng trong
hoàn cảnh cưới hỏi giữa người trả lời và bạn thân thứ nhất 112
Bảng 4.7: Các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ đối xứng và bất đối xứng trong hoàn cảnh tang ma giữa người trả lời và bạn thân thứ nhất 114 Bảng 4.8: Các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ đối xứng và bất đối xứng trong hoàn cảnh xây/mua nhà giữa người trả lời và bạn thân thứ nhất 116 Bảng 4.9: Các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ đối xứng và bất đối xứng trong hoàn cảnh tìm việc giữa người trả lời và bạn thân thứ nhất 118 Bảng 4.10: Các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ đối xứng và bất đối xứng trong hoàn cảnh đầu tư làm ăn giữa người trả lời và bạn thân thứ nhất 120 Bảng 4.11: Các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ đối xứng và bất đối xứng trong hoàn cảnh mua sắm vật dụng đắt tiền giữa người trả lời và bạn thân thứ nhất 121 Bảng 4.12: Các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ đối xứng và bất đối xứng giữa "bố
mẹ đẻ giúp" và "nhận giúp đỡ từ con cái" trong hoàn cảnh đầu tư làm ăn 124 Bảng 4.13: Các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ đối xứng và bất đối xứng giữa "bố
mẹ đẻ giúp" và "nhận giúp đỡ từ con cái" trong hoàn cảnh ốm đau 126
Trang 4DANH MỤC CÁC HÌNH, HỘP
Hình 2.2: Thiết kế nghiên cứu Có đi có lại gián tiếp giữa ba chủ thể 40
Hình 2.7: Bất đối xứng trong quan hệ cho – nhận giúp đỡ 44
Hình 2.9: Quan hệ giúp đỡ giữa các thế hệ trong gia đình 47 Hình 3.1: Giúp đỡ đối xứng và bất đối xứng giữa bạn bè thân và ít thân 62 Hình 3.2: Bất đối xứng liên thế hệ về số lượng loại hình giúp đỡ 67 Hình 3.3: Giúp đỡ đối xứng và bất đối xứng giữa bố mẹ và con cái 71 Hình 3.4: Tính bất đối xứng trong quan hệ giúp đỡ với con trai/ con gái; con trưởng/
Hình 3.5a: Bất đối xứng về chia sẻ tâm sự giữa hai người bạn 77 Hình 3.5b: Đối xứng về chia sẻ tâm sự giữa hai người bạn 77 Hình 3.6: Tính đối xứng trong giúp đỡ về tiền bạc và sức lao động giữa bạn bè 78 Hình 3.7a: Bất đối xứng về cung cấp thông tin quan trọng giữa hai người bạn 79 Hình 3.7b: Đối xứng về cung cấp thông tin quan trọng giữa hai người bạn 79 Hộp 3.1: Tính bất đối xứng của quan hệ giúp đỡ trong gia đình đô thị 70 Hộp 3.2: Tính bất đối xứng của quan hệ giúp đỡ trong gia đình nông thôn 70 Hộp 3.3: Tính đối xứng và bất đối xứng về số lượng loại hình giúp đỡ giữa bố mẹ và
Hộp 3.4: Tính đối xứng và bất đối xứng về số lượng loại hình giúp đỡ giữa bố mẹ và
Hộp 3.5: Tính bất đối xứng trong quan hệ giúp đỡ với con trai/ con gái; con trưởng/
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Xã hội Việt Nam trong 28 năm đổi mới đã và đang có những bước chuyển mình liên tục và mạnh mẽ kéo theo nhiều biến đổi trong các quan hệ xã hội, nơi sản sinh ra vốn xã hội Do vậy, muốn nâng cao chất lượng vốn xã hội thì việc nghiên cứu làm rõ các đặc tính của các quan hệ xã hội là rất cần thiết Vốn xã hội là một phạm trù rộng lớn và phức tạp, được tạo nên bởi bốn thành tố: quan hệ xã hội (mạng lưới xã hội), lòng tin xã hội, chuẩn mực có đi có lại và sự tham gia xã hội Chuẩn mực có đi có lại chính là tính chất cơ bản của quan hệ giúp đỡ trong vốn xã hội Khi nói đến tính chất
có đi có lại, phần lớn mọi người đều nghĩ đến những trao đổi, giúp đỡ trong kinh tế theo kiểu A giúp B bao nhiêu thì B cũng giúp A bấy nhiêu một cách sòng phẳng Nhưng trên thực tế, tính chất có đi có lại trong quan hệ giúp đỡ còn chứa đựng những đặc tính riêng, trong đó có tính đối xứng/bất đối xứng Ví dụ, những loại hình giúp đỡ như tình cảm, cung cấp thông tin v.v không phải lúc nào cũng dễ dàng giúp đỡ lẫn nhau một cách sòng phẳng, tức là đối xứng Vậy làm thế nào để đo được tính đối xứng/bất đối xứng này vẫn đang là vấn đề bị bỏ ngỏ trong các nghiên cứu ở Việt Nam
Tính đối xứng và bất đối xứng có thể nhìn ở ba chiều cạnh: số lượng loại hình giúp đỡ, tính chất các giúp đỡ và hoàn cảnh giúp đỡ Xét chiều cạnh thứ nhất, A giúp
B ba loại hình gồm tiền bạc, tình cảm, sức lao động nhưng B chỉ có thể giúp lại A một hoặc hai trong số ba loại hình trên hoặc có thể giúp A thêm các loại hình khác thì quan
hệ giúp đỡ cho - nhận giữa A và B là bất đối xứng Ngược lại, nếu B cũng có thể giúp lại A đúng bằng số lượng loại hình giúp đỡ mà A đã giúp B thì quan hệ giúp đỡ giữa A
và B là đối xứng Xét chiều cạnh thứ hai, A giúp B về tiền bạc nhưng B chỉ có thể giúp lại A về tình cảm Khi đó, quan hệ giúp đỡ giữa A và B là bất đối xứng Ngược lại, B cũng giúp lại A về tiền bạc thì quan hệ giúp đỡ này mang tính đối xứng Xét chiều cạnh thứ ba, A giúp B trong hoàn cảnh cưới hỏi và B cũng giúp lại A khi cưới hỏi thì quan hệ giúp đỡ giữa A và B là đối xứng Ngược lại, nếu B không giúp đỡ được gì cho
A trong hoàn cảnh cưới hỏi nhưng có giúp A trong các hoàn cảnh khác như tang ma, xây mua nhà v.v thì quan hệ giúp đỡ giữa A và B mang tính bất đối xứng Hiện nay,
ở Việt Nam, chưa có nghiên cứu nào đo lường được tính đối xứng/bất đối xứng của quan hệ giúp đỡ hai chiều ở ba chiều cạnh này
Trang 6Vấn đề “tính đối xứng/ bất đối xứng” trong vốn xã hội chủ yếu được bàn luận một cách không trực tiếp trong một số nghiên cứu ở Việt Nam như Đặng Nguyên Anh (1998), Lê Ngọc Hùng (2003, 2008), Nguyễn Quý Thanh (2005, 2012, 2013), Thomése F và Nguyễn Tuấn Anh (2007, 2011, 2012), Nguyễn Duy Thắng (2007), Lê Minh Tiến(2007), Trần Hữu Dụng (2006) v.v… Phần lớn các nghiên cứu này quan tâm xem cá nhân nhận được những sự giúp đỡ nào về kinh tế, tình cảm hay loại hình khác khi họ rơi vào những hoàn cảnh cần đến chúng Mặt “giúp đỡ” của quan hệ xã hội được đề cập còn khá mờ nhạt, hoặc nếu có, lại không đặt trong những cặp chủ thể nhất định, và trên nền tảng của quan hệ “cho - nhận giúp đỡ” qua lại
Xuất phát từ thực tiễn biến đổi xã hội và tình hình nghiên cứu mạng lưới quan
hệ xã hội và vốn xã hội còn giải quyết chưa đầy đủ và triệt để về vấn đề tính đối xứng
và bất đối xứng trong quan hệ giúp đỡ của người Việt Nam, luận án này mong muốn tìm hiểu xem mức độ đối xứng và bất đối xứng của quan hệ giúp đỡ trong vốn xã hội của người Việt Nam hiện nay như thế nào? Yếu tố nào ảnh hưởng hơn cả đến mức độ đối xứng và bất đối xứng của quan hệ giúp đỡ?1 Như vậy, luận án sẽ đo lường mức độ đối xứng và bất đối xứng của quan hệ giúp đỡ ở ba chiều cạnh: số lượng loại hình giúp
đỡ, tính chất các giúp đỡ và hoàn cảnh giúp đỡ Cuối cùng, luận án sẽ tìm hiểu xem các yếu tố nào có ảnh hưởng nhiều hơn cả đến mức độ đối xứng và bất đối xứng này
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Luận án này đặt mục đích đầu tiên vào việc tìm ra một số logic xã hội của quan
hệ giúp đỡ trong vốn xã hội của người Việt Nam Thứ hai, luận án này nhằm bổ sung một khung phân tích mới về mạng lưới quan hệ xã hội thông qua việc đo lường định lượng và kiểm chéo thông tin bằng phương pháp định tính về tính đối xứng và bất đối xứng của quan hệ giúp đỡ trong vốn xã hội Thứ ba, nghiên cứu này hy vọng sẽ cung cấp tài liệu cơ sở cho các nhà làm công tác xã hội và chính sách xã hội
Để đạt được các mục đích nghiên cứu trên, luận án xác định hai nhiệm vụ cần thực hiện như sau Thứ nhất là đo lường mức độ đối xứng và bất đối xứng của quan hệ giúp đỡ giữa những bạn bè thân thông qua ba chiều cạnh nêu trên Đồng thời, luận án cũng sẽ đo lường mức độ đối xứng và bất đối xứng của quan hệ giúp đỡ giữa người
1
Để thực hiện nghiên cứu này, luận án này đã tiếp cận và sử dụng một phần dữ liệu trong bộ dữ liệu của đề tài
"Sự hình thành và phát triển vốn xã hội ở Việt Nam" do Quỹ Nafosted tài trợ Từ các dữ liệu sẵn có, luận án đã khai thác, chọn lọc để xây dựng các ý tưởng và phương pháp nghiên cứu cụ thể và phù hợp
Trang 7được hỏi với bố mẹ và con họ Các kết quả định lượng sẽ được kiểm định chéo bằng các phỏng vấn sâu và nghiên cứu trường hợp Thứ hai, luận án sẽ phân tích các yếu tố ảnh hưởng hơn cả đến mức độ đối xứng và bất đối xứng của các quan hệ giúp đỡ này
3 Đối tượng, khách thể, phạm vi và phương pháp nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án này là tính đối xứng và bất đối xứng của quan hệ giúp đỡ trong vốn xã hội của người Việt Nam Cụ thể, đó là tính đối xứng và bất đối xứng của quan hệ giúp đỡ giữa những bạn bè thân và trong đó, quan hệ giúp đỡ giữa người được hỏi với bố mẹ và con họ sẽ là trường hợp đặc thù để làm rõ thêm cho quan hệ giúp đỡ trong xã hội2 Bên cạnh đó, chúng tôi sẽ tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng hơn cả đến mức độ đối xứng và bất đối xứng của các quan hệ giúp đỡ này
3.2 Khách thể nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu của luận án này là cá nhân, đại diện cho các hộ gia đình
từ 20 tuổi trở lên và cộng đồng nơi cá nhân sống Các cá nhân tham gia khảo sát thuộc các ngành nghề khác nhau và mức thu nhập trung bình tháng của hộ gia đình không giống nhau Cộng đồng nơi cá nhân sống bao gồm cả khu vực nông thôn và đô thị3
3.3 Phạm vi nghiên cứu
Về thời gian nghiên cứu, luận án này sử dụng một phần dữ liệu định lượng và định tính từ bộ dữ liệu của đề tài "Sự hình thành và phát triển vốn xã hội tại Việt Nam" được thực hiện từ năm 2011 đến năm 2013 Bên cạnh đó, tác giả đã trực tiếp thực hiện thêm 25 phỏng vấn sâu và nghiên cứu trường nhằm phục vụ riêng cho mục đích nghiên cứu của luận án này trong khoảng thời gian từ năm 2013 đến năm 2015
Về địa bàn nghiên cứu, điều tra bảng hỏi của đề tài "Sự hình thành và phát triển vốn xã hội tại Việt Nam" được tiến hành ở 5 tỉnh thành bao gồm: Hà Nội, Thành phố
Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hải Dương, Bình Dương Địa bàn tiến hành phỏng vấn sâu và
nghiên cứu trường hợp bổ sung riêng cho luận án này được thực hiện ở các khu vực nông thôn và đô thị thuộc các tỉnh thành như Hà Nội, Bắc Ninh, Bắc Giang
2
Quan hệ giúp đỡ giữa những người bạn bè thân thiết được hiểu là quan hệ giúp đỡ trong mạng lưới xã hội nói chung Mạng lưới bạn bè thân chính là mạng quan hệ xã hội lõi hay là nguồn vốn xã hội hữu ích nhất của cá nhân Gia đình là xã hội thu nhỏ Do vậy quan hệ giúp đỡ trong gia đình được coi là một trường hợp riêng của quan hệ giúp đỡ trong xã hội
3
Các thông tin cơ bản về khách thể được khảo sát được trình bày trong phụ lục 4
Trang 8Về nội dung nghiên cứu: luận án này đo lường mức độ đối xứng và bất đối xứng của quan hệ giúp đỡ cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ đối xứng và bất đối xứng này ở ba chiều cạnh: số lượng các loại hình giúp đỡ, tính chất loại hình giúp
đỡ, hoàn cảnh giúp đỡ
3.4 Phương pháp nghiên cứu
Ở phần này chúng tôi chỉ mô tả khái quát về phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong luận án Các mô tả chi tiết về phương pháp nghiên cứu sẽ được trình bày cụ thể hơn trong chương 2 Phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong luận án này là
sự kết hợp của phương pháp nghiên cứu định lượng và phương pháp nghiên cứu định tính Cụ thể, luận án này đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu như sau:
- Phân tích cơ sở dữ liệu định lượng:
Cơ sở dữ liệu định lượng được sử dụng trong luận án là một phần dữ liệu của
bộ dữ liệu từ cuộc khảo sát 1430 đại diện hộ gia đình tại 5 tỉnh/thành phố ở Việt Nam, bao gồm: Hà Nội, Hải Dương, Đà Nẵng, thành phố Hồ Chí Minh và Bình Dương trong khuôn khổ của đề tài do Quỹ Khoa học và công nghệ Quốc gia Việt Nam tài trợ4
Các chiến lược phân tích đa dạng như kiểm định T, kiểm định McNemar được
áp dụng để mô tả và kiểm định các số liệu thống kê ở các chiều cạnh như: số lượng loại hình giúp đỡ, tính chất loại hình giúp đỡ và hoàn cảnh giúp đỡ Chi tiết về từng chiến lược phân tích sẽ được trình bày trong chương 2, trang 53-54
Các mô hình hồi quy tuyến tính bội được áp dụng để tìm ra các yếu tố ảnh hưởng đến việc làm tăng hay làm giảm mức độ đối xứng và bất đối xứng của quan hệ giúp đỡ ở chiều cạnh số lượng loại hình giúp đỡ Tổng số biến độc lập được đưa vào chạy các mô hình hồi quy tuyến tính bội là 20 biến Trong khi đó, các mô hình hồi quy logistic được áp dụng để tìm ra các yếu tố ảnh hưởng đến việc làm tăng hay làm giảm mức độ đối xứng và bất đối xứng của quan hệ giúp đỡ ở chiều cạnh tính chất loại hình giúp đỡ và hoàn cảnh giúp đỡ Tổng số biến độc lập được đưa vào các mô hình hồi quy logistic cho quan hệ giúp đỡ giữa bạn bè thân là 22 biến Tổng số biến độc lập được đưa vào các mô hình hồi quy logistic cho quan hệ giúp đỡ trong gia đình là 23 biến Thông tin về các biến độc lập sẽ được trình bày kỹ hơn trong chương 2, trang 55-56
4
Nghiên cứu sinh đã được sự đồng ý và khuyến khích của chủ nhiệm đề tài và cơ quan quản lý đề tài để khai thác một phần dữ liệu liên quan đến quan hệ giúp đỡ giữa bạn bè thân và giữa các thế hệ trong gia đình từ cuộc khảo sát của đề tài này
Trang 9- Dữ liệu phỏng vấn sâu và nghiên cứu trường hợp:
Bên cạnh dữ liệu định lượng, nghiên cứu sinh đã thực hiện thêm 25 phỏng vấn sâu và nghiên cứu trường hợp trong khoảng thời gian từ năm 2013 đến năm 2015 để phục vụ riêng cho luận án này Các khách thể được khảo sát đang sinh sống ở cả khu vực nông thôn và đô thị Thông tin chi tiết về số lượng các khách thể được khảo sát tương ứng với mỗi khu vực sẽ được trình bày trong dữ liệu định tính, trang 52
- Dữ liệu từ các biên bản phỏng vấn sâu của đề tài:
Ngoài các trường hợp phỏng vấn sâu do tác giả trực tiếp thực hiện, luận án đã tham khảo và sử dụng 3 trường hợp phỏng vấn sâu từ các biên bản phỏng vấn sâu của
đề tài "Sự hình thành và phát triển vốn xã hội tại Việt Nam" Thông tin cụ thể về các trường hợp phỏng vấn sâu này sẽ được trình bày trong phần dữ liệu định tính, trang 52
- Dữ liệu từ các bản ghi chép quan sát trực tiếp
Bên cạnh các nguồn dữ liệu định tính nêu trên, tác giả cũng tiến hành quan sát
tự do, quan sát có tham dự và ghi chép lại các kết quả quan sát được về quan hệ giúp
đỡ giữa bạn bè thân và giữa các thế hệ trong gia đình Các bản ghi chép này chính là
cơ sở dữ liệu định tính hữu ích cho luận án Chi tiết về thiết kế nghiên cứu và việc sử dụng các phương pháp nghiên cứu sẽ được trình bày trong chương 2, trang 40-56
4 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Về ý nghĩa khoa học: Luận án này góp phần tìm ra một số logic xã hội đang
chi phối các quan hệ xã hội, liên quan đến tính đối xứng và bất đối xứng của quan hệ giúp đỡ giữa bạn bè thân và giữa người được hỏi với bố mẹ và con họ Từ đó, luận án này đã góp phần bổ sung thêm khung lý thuyết mới về phân tích mạng lưới quan hệ xã hội trong vốn xã hội của người Việt Nam
Về ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu này góp phần gợi ý cho các nhà
hoạch định chính sách có quan tâm đến việc phát triển mạng lưới quan hệ xã hội dựa trên những phát hiện về đặc tính đối xứng và bất đối xứng này
5 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu
5.1 Câu hỏi nghiên cứu
Nghiên cứu này sẽ trả lời các câu hỏi nghiên cứu sau: (1) Mức độ đối xứng và
bất đối xứng của quan hệ giúp đỡ trong vốn xã hội của người Việt Nam được biểu hiện như thế nào thông qua số lượng loại hình, tính chất và hoàn cảnh của sự "giúp đỡ -
Trang 10được giúp đỡ"? (2) Những yếu tố nào có ảnh hưởng nhiều hơn cả đến tính đối xứng và bất đối xứng của quan hệ giúp đỡ trong vốn xã hội của người Việt Nam?
5.2 Giả thuyết nghiên cứu
Để trả lời cho hai câu hỏi nghiên cứu trên, luận án này đặt ra hai giả thuyết chính Giả thuyết chính H1 là quan hệ giúp đỡ trong vốn xã hội của người Việt Nam không bất đối xứng hoàn toàn và mức độ đối xứng/bất đối xứng của quan hệ giúp đỡ phụ thuộc vào mức độ gắn kết tình cảm Tức là, quan hệ giúp đỡ có thể bất đối xứng ở chiều cạnh số lượng loại hình giúp đỡ nhưng lại đối xứng ở các chiều cạnh khác Và những người bạn có tình cảm thân thiết hơn thì mức độ bất đối xứng trong quan hệ giúp đỡ cũng được biểu hiện rõ hơn và ngược lại Theo đó, giả thuyết phụ H1.1 là nhìn chung, quan hệ giúp đỡ giữa bạn bè thân thường mang tính đối xứng rõ rệt Giả thuyết H1.2 là quan hệ giúp đỡ trong gia đình thường mang tính bất đối xứng rõ nét
Giả thuyết chính H2 là mức độ đối xứng và bất đối xứng của quan hệ giúp đỡ trong vốn xã hội chịu ảnh hưởng đan xen của cả ba nhóm yếu tố cá nhân, gia đình và cộng đồng/xã hội Trong đó, nhóm yếu tố gia đình chắc hẳn sẽ ảnh hưởng nhiều hơn
cả đến việc làm tăng hay làm giảm mức độ đối xứng và bất đối xứng của quan hệ giúp
đỡ trong gia đình và nhóm yếu tố cá nhân sẽ ảnh hưởng rõ nhất đến việc làm tăng hay làm giảm mức độ đối xứng và bất đối xứng của quan hệ giúp đỡ giữa bạn bè thân thiết
6 Cấu trúc luận án
Luận án này được cấu thành bởi ba phần chính: phần mở đầu, phần nội dung và phần kết luận Trong đó, phần nội dung bao gồm bốn chương Chương 1 là phần tổng quan các nghiên cứu liên quan đến đặc tính mạng lưới quan hệ xã hội, tính có đi có lại như một thành tố của vốn xã hội và tính đối xứng và bất đối xứng như một trường hợp riêng của tính có đi có lại Chương 2 sẽ đưa ra các cơ sở lý luận, thiết kế nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu Nội dung chính của luận án được trình bày trong chương 3
và chương 4 Chương 3 tìm hiểu về mức độ đối xứng và bất đối xứng của quan hệ giúp
đỡ Chương 4 tìm hiểu về các yếu tố ảnh hưởng hơn cả đến tính đối xứng và bất đối
xứng của quan hệ giúp đỡ
Trang 11CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
Chương này sẽ khảo sát lịch sử nghiên cứu vấn đề theo ba chủ điểm chính Thứ nhất là các nghiên cứu về mạng lưới quan hệ xã hội, thứ hai là các nghiên cứu về tính chất có đi có lại như một thành tố của vốn xã hội và thứ ba là các nghiên cứu về tính đối xứng và bất đối xứng của quan hệ giúp đỡ trong vốn xã hội Từ đó, chúng tôi sẽ
nêu rõ những vấn đề luận án cần tập trung làm rõ
1.1 Các nghiên cứu về mạng lưới quan hệ xã hội
Trong phần này, chúng tôi sẽ khảo sát lịch sử nghiên cứu liên quan đến các vấn
đề như khái niệm, đặc tính của mạng lưới quan hệ xã hội, đặc trưng của quan hệ giúp
đỡ trong quan hệ xã hội nói chung và trong gia đình Việt Nam nói riêng
1.1.1 Khái niệm mạng lưới quan hệ xã hội
Nhiều quan điểm cho rằng nhà xã hội học người Đức Georg Simmel là người
đầu tiên đưa ra khái niệm "tính xã hội" (sociability), tiền thân của khái niệm "mạng lưới xã hội" Theo ông, tính xã hội được hiểu như một tập hợp các mối quan hệ giữa cá nhân/nhóm với những cá nhân khác/nhóm khác [A Degenne, M Forsé, 1994, tr 38] Tức là, Simmel xác định mạng lưới bao gồm các mối liên hệ của các cá nhân trong trạng thái vận động tương tác lẫn nhau [Lê Ngọc Hùng, 2003, tr 68] Sau đó, các nhà
xã hội học theo trường phái Chicago đã ứng dụng khái niệm "tính liên kết xã hội" của Simmel vào các chủ đề nghiên cứu như quan hệ láng giềng, quan hệ gia đình, quan hệ bạn bè trong đời sống đô thị [Xem Lê Minh Tiến, 2006, tr 68-69]
Tuy nhiên, một số quan điểm lại cho rằng nhà nhân học người Anh J.A Barnes mới là người sáng tạo ra khái niệm "mạng lưới xã hội" (social network) Ông đã dành
3 năm để quan sát tổ chức xã hội tại Bremnes, Na Uy Và trong bài viết "Giai cấp và cộng đồng ở đảo Parish, NaUy" được công bố năm 1954, ông dùng thuật ngữ "mạng lưới xã hội" để chỉ loại hình tổ chức xã hội bao gồm toàn bộ các mối quan hệ phi chính thức giữa các thành viên của đảo [Lê Minh Tiến, 2006, tr.70] Tuy nhiên, nhiều nhà nghiên cứu đều đồng ý rằng nhà tâm lý học người Mỹ gốc Romania J.L.Moreno mới là người có công đầu tiên phát minh ra phương pháp phân tích mạng lưới xã hội Ngay từ tác phẩm "Ai sẽ sống sót?", ông đã đưa ra khái niệm "mạng lưới xã hội" là một lược
đồ các quan hệ đan chéo lẫn nhau, trong đó mỗi cá nhân đều có một vị trí xác định
Trang 12trong lược đồ đó và liên kết với các cá nhân khác bởi những lý do khác nhau và theo những phương thức khác nhau [xem Lê Minh Tiến, 2006, tr.70]
Hiểu một cách chung nhất, mạng lưới xã hội là tập hợp các quan hệ xã hội giữa các chủ thể (actor) Các chủ thể có thể là cá nhân hoặc nhóm/ tổ chức/ cơ quan/ quốc gia Các mối quan hệ này mang nhiều nội dung khác nhau như giúp đỡ về tinh thần hay vật chất, trao đổi thông tin v.v [Xem Lê Minh Tiến, 2006, tr 66] Vậy mạng lưới
xã hội và vốn xã hội có phải là một hay không?
Về bản chất mạng lưới quan hệ xã hội, có nhiều quan điểm coi nó như một nơi chứa đựng, nguồn tạo lập vốn xã hội Tiêu biểu cho quan điểm này là Nan Lin trong
định nghĩa "Vốn xã hội là nguồn vốn được tiếp cận thông qua các liên kết xã hội của
cá nhân " [Nan Lin, 1999, tr 28] Nan Lin đã khẳng định mạng lưới xã hội hay chính
là các liên kết xã hội là nơi sản sinh ra vốn xã hội Đồng quan điểm với Nan Lin,
Pierre Bourdieu từng định nghĩa vốn xã hội như “một tập hợp các nguồn lực hiện hữu
hoặc tiềm tàng, gắn với việc sở hữu một mạng lưới bền vững của các mối quan hệ quen biết hoặc thừa nhận lẫn nhau ít nhiều được thể chế hóa” [Pierre Bourdieu, 1983,
tr 3] Mạng lưới xã hội mà Bourdieu nói đến ở đây là tổng hòa các mối quan hệ xã hội của một cá nhân với đặc trưng là ít nhiều đã được thể chế hóa dựa trên sự quen biết hoặc thừa nhận lẫn nhau Theo đó, từ mối quan hệ vốn đã được gắn kết chặt chẽ và thừa nhận từ lâu như quan hệ gia đình, họ hàng, bạn bè thân thiết đến những quan hệ chỉ là quen biết như quan hệ bạn bè thông thường và nhiều quan hệ xã giao khác đều
có thể đan kết thành một mạng lưới dày đặc, đa dạng và cũng khá phức tạp Bourdieu
đã nêu lên cả cấu trúc và đặc trưng của mạng lưới xã hội là nơi chứa đựng vốn xã hội
Cùng xem xét mạng lưới quan hệ xã hội ở góc độ cấu trúc như Bourdieu, Hoàng Bá Thịnh cho rằng mạng lưới quan hệ xã hội bao gồm tập hợp các đối tượng (giao điểm) và một lược đồ miêu tả mối quan hệ giữa các đối tượng đó Vốn xã hội được sinh ra từ tập hợp các giao điểm này [Hoàng Bá Thịnh, 2009, tr 44] Đồng quan điểm với Nan Lin còn nhiều tác giả khác như Bourdieu (1986), Coleman (1988) v.v
Bên cạnh đó, dòng quan điểm thứ hai với đại diện tiêu biểu là nhà xã hội học
nổi tiếng Robert Putnam (1995) đã cho rằng " vốn xã hội chỉ các liên kết xã hội
(mạng lưới xã hội), các chuẩn mực và sự tin tưởng kèm theo” [Putnam, 1995, tr
664-665; D.Hapern, 2005, tr 1] Putnam khẳng định mạng lưới xã hội chỉ là một trong những thành tố quan trọng cấu thành nên vốn xã hội Rất nhiều nghiên cứu như Portes
Trang 13(1998), Fukuyama (2002), David Halpern (2005), Lê Ngọc Hùng (2003, 2008) v.v cũng ủng hộ dòng quan điểm này
Tuy nhiên, xét về bản chất, mạng lưới xã hội và vốn xã hội không phải là hai phạm trù biệt lập mà là một phạm trù thống nhất A và B là hai thành viên trong mạng lưới quan hệ xã hội của C cũng đồng nghĩa rằng A và B là vốn xã hội của C Mạng lưới xã hội và vốn xã hội nằm trong nhau và được tạo nên theo một chu trình khép kín gồm hai giai đoạn: giai đoạn thứ nhất là các quan hệ xã hội sinh ra các nguồn vốn xã hội, đến lượt mình ở giai đoạn thứ hai, các nguồn vốn xã hội trong quá trình tương tác với nhau lại tạo nên các mạng lưới quan hệ xã hội mới Như vậy, thực chất hai dòng quan điểm nêu trên chỉ là sự nhấn mạnh hơn đến giai đoạn 1 hay giai đoạn 2 mà thôi
Như vậy, mạng lưới xã hội là vốn xã hội Tuy nhiên, trong một mạng lưới xã hội khá rộng lớn, không phải quan hệ xã hội nào cũng được coi là nguồn vốn xã hội hữu ích Vấn đề này đã từng được chúng tôi bàn đến trong các nghiên cứu trước Chúng tôi đã phân biệt rõ "mạng lưới xã hội" và "mạng lưới xã hội lõi" "Mạng lưới quan hệ xã hội" hiểu theo nghĩa rộng là tổng hòa tất cả các đối tác mà cá nhân đã xây dựng và duy trì các quan hệ một cách có chủ đích Nhưng xét theo nghĩa hẹp, mạng lưới quan hệ xã hội có thể chỉ là số người bạn mà cá nhân có thể tìm đến như nguồn hỗ trợ đầu tiên khi họ gặp những khó khăn trong cuộc sống cần có sự trợ giúp Những người bạn thân thiết nhất chính là những người sẵn sàng cung cấp các trợ giúp này cho bạn của mình Như vậy, số lượng những người được xem như là bạn thân cùng với các thành viên trong gia đình ruột thịt luôn sẵn sàng sẻ chia giúp đỡ chính là mạng lưới quan hệ xã hội lõi (core network) của mỗi chủ thể.6 Với cách lập luận như trên thì các quan hệ xã hội có thể cung cấp các giúp đỡ cho nhau chỉ có thể là mạng quan hệ lõi bao gồm bạn bè thân thiết nhất và các thành viên gia đình ruột thịt Do vậy, luận án này sẽ đo tính đối xứng và bất đối xứng của quan hệ giúp đỡ trong mạng lõi của người Việt Nam
1.1.2 Các đặc tính của mạng lưới quan hệ xã hội
Để có được thông tin về một mạng lưới quan hệ xã hội thì cần nắm được các đặc tính về mạng lưới đó Các đặc tính thường được nhắc đến của mạng lưới xã hội bao gồm qui mô, mật độ, tần suất tiếp xúc, cơ chế hình thành, có đi có lại v.v
6
Tham khảo: Nguyễn Quý Thanh và Cao Thị Hải Bắc (2015), " Đặc trưng quy mô mạng lưới quan hệ xã hội của
người Việt Nam và một số yếu tố ảnh hưởng", tạp chí Nghiên cứu con người số 2, tr.38 và cuốn sách "Mạng lưới
quan hệ xã hội và lòng tin: một phân tích xã hội học về vốn xã hội ở Việt Nam", nxb Đại học QGHN, dự kiến xuất bản 2015
Trang 14Về đặc tính qui mô mạng lưới xã hội, chúng tôi đã từng khảo sát ba dòng quan điểm chính Thứ nhất, qui mô mạng lưới quan hệ xã hội của một cá nhân là tổng số lượng các chủ thể mà cá nhân quen biết Quan điểm này giới hạn qui mô mạng lưới xã hội của một cá nhân trong các liên kết mạnh (strong ties) Tiêu biểu cho dòng quan điểm này là nghiên cứu của Pool, Kochen (1978) Khác với dòng quan điểm cổ điển là quan điểm cho rẳng qui mô mạng lưới quan hệ xã hội là mạng lưới của cả những người quen biết và người lạ Tiêu biểu cho dòng quan điểm này là Chang, Fu (2003) Dòng quan điểm thứ ba có thể tìm thấy trong nghiên cứu của Lee Jae Yeol (2000) về
"Mạng lưới quan hệ xã hội của người Hàn Quốc" Trong nghiên cứu của Lee Jae Yeol, qui mô mạng lưới quan hệ xã hội được tính là tổng số người được liệt kê như là nguồn giúp đỡ đầu tiên trong cuộc sống và những người được tin cậy để chia sẻ và bàn luận những việc quan trọng [Nguyễn Quý Thanh, Cao Thị Hải Bắc, 2015, tr 36-37]
Ở Việt Nam có lẽ cũng chưa có nghiên cứu nào đo lường qui mô mạng lưới quan hệ xã hội Do vậy, nghiên cứu về "Quan hệ xã hội và vốn xã hội: nghiên cứu so sánh Việt Nam và Hàn Quốc" của chúng tôi được thực hiện năm 2012 có lẽ là một trong số ít các nghiên cứu có bàn đến chủ đề này Chúng tôi cũng đã so sánh với kết quả nghiên cứu của Lee Jae Yeol (2000) và đưa ra kết luận rằng qui mô mạng lưới quan hệ xã hội của người Việt Nam lớn hơn qui mô này của người Hàn Quốc Các nghiên cứu trước của chúng tôi về mạng lưới quan hệ xã hội cũng đã giới hạn rõ ràng qui mô mạng lưới xã hội của người Việt Nam được đo lường là qui mô lõi và thuộc về loại các quan hệ xã hội do cá nhân kiến tạo chứ không phải là loại quan hệ xã hội mặc định Cụ thể, qui mô lõi mạng lưới quan hệ xã hội được đo trong nghiên cứu của chúng tôi chính là tổng số bạn bè thân thiết nhất, là những người sẵn sàng cung cấp các trợ giúp cho bạn của mình [Nguyễn Quý Thanh, Cao Thị Hải Bắc, 2015, tr 38]
Về đặc tính cơ chế hình thành mạng lưới quan hệ xã hội, phần lớn tác giả nhấn mạnh đến đặc tính đồng dạng Miller McPherson, Lynn Smith-Lovin, James M.Cook (2001) trong tác phẩm "Birds of a feather homophily in social network" đã chỉ ra rằng
sự tương đồng tạo ra các liên kết, nghĩa là các mạng lưới quan hệ xã hội liên kết với nhau dựa trên những đặc điểm tương đồng nhất định Sự tương đồng đó có thể là về tuổi, giới tính, nghề nghiệp, vị trí công tác, quê quán, sở thích v.v [Miller McPherson, Lynn Smith-Lovin, James M.Cook, 2001, tr 415-416] Trước khi lý thuyết đồng dạng này ra đời, đã có nhiều nghiên cứu thực nghiệm đề cập đến mạng lưới đồng nhất
Trang 15Chẳng hạn như Portney, Berry (1997) cho rằng “Sự đồng thuận thường được tìm thấy
phổ biến hơn ở các mạng lưới đồng nhất so với các mạng lưới không đồng nhất”
Sampson và đồng sự (1997) cũng cho rằng: “Các hàng xóm đồng nhất hơn thì tinh
thần tập thể cao hơn” [Xem Anirudh Krishna, 2002, tr 59-60].7
Nghiên cứu của Lee Jae Yeol (2000) hay nghiên cứu của chúng tôi năm 2012
về "Quan hệ xã hội và vốn xã hội: nghiên cứu so sánh Việt Nam và Hàn Quốc" cũng bàn về tính đồng dạng của mạng lưới quan hệ xã hội Kết quả nghiên cứu của Lee Jae Yeol cho thấy mức độ đồng dạng trong mạng lưới quan hệ xã hội của người Hàn cao hơn mức độ này trong mạng lưới của người Mỹ Trong khi đó, nghiên cứu của chúng tôi mới chỉ đo lường sơ lược một số chỉ số đồng dạng như cùng giới tính, cùng quê, cùng học, cùng họ hàng mà chưa phân tích sâu về các chỉ số này Chúng tôi cũng đã chỉ ra một số đặc tính trong quan hệ xã hội của người Hàn và người Việt như tính tôn
ti trật tự, tính gia trưởng nhưng chưa đo lường được các đặc tính này bằng định lượng
Năm 2015 chúng tôi tiếp tục thực hiện một nghiên cứu về "Nguyên lý đồng dạng: cơ chế hình thành mạng lưới quan hệ xã hội của người Việt Nam" để đi sâu hơn vào việc đo lường các chỉ số đồng dạng của mạng lưới quan hệ xã hội của người Việt Nam theo 6 tiêu chí: cùng giới tính, cùng học, cùng nơi làm việc (đồng nghiệp), cùng
vị trí làm việc (đồng cấp), cùng quê và cùng họ hàng Bên cạnh đó, chúng tôi đã phân tích sự khác biệt theo giới tính, vùng miền nông thôn-đô thị của các chỉ số đồng dạng này và đo lường được các yếu tố ảnh hưởng đến đặc tính đồng dạng của mạng lưới quan hệ xã hội của người Việt Nam Một số kết luận được rút ra như sau Cùng với nguyên lý bù trừ, tính đồng dạng là một trong hai cơ chế hình thành mạng lưới xã hội
cơ bản nhất và cũng là đặc tính tương đối phổ biến của người Á Đông, trong đó tương đối rõ nét với người Việt Nam Tính chất đồng dạng được thể hiện rõ rệt nhất qua các tiêu chí như cùng đặc tính giới, đồng môn, đồng hương và ngang cấp
Ngoài các đặc tính cơ bản như qui mô, mật độ, tính đồng dạng, một mạng lưới quan hệ xã hội còn chứa đựng nhiều đặc tính khác, trong đó có tính chất có đi có lại
mà tính đối xứng/bất đối xứng chính là trường hợp riêng của tính có đi có lại này Có
đi có lại là một nguyên tắc phổ biến và dễ nhận thấy trong mọi sự trao đổi xã hội, đặc biệt là các quan hệ giúp đỡ Nhưng tính chất có đi có lại có luôn đối xứng hay không là
7
Tham khảo cuốn sách của Nguyễn Quý Thanh (chủ biên) về "Mạng lưới quan hệ xã hội và lòng tin: một phân tích xã hội học về vốn xã hội ở Việt Nam", nxb Đại học QGHN, dự kiến xuất bản năm 2015
Trang 16điều khó nhận thấy ngay trong cuộc sống Cũng khó tìm được nhiều nghiên cứu tại Việt Nam bàn về đặc tính đối xứng và bất đối xứng trong quan hệ giúp đỡ, trong khi đây là một đặc tính khá thú vị giúp hiểu hơn đặc điểm tâm lý cũng như tư duy tình cảm của người Việt Nam Do vậy, trong các phần sau, luận án sẽ khảo sát kỹ hơn về các nghiên cứu liên quan đến tính chất có đi có lại và đặc tính đối xứng/bất đối xứng này
1.1.3 Đặc trưng quan hệ giúp đỡ trong mạng lưới quan hệ xã hội
Như đã đề cập ở trên, mạng lưới xã hội của cá nhân hiểu theo nghĩa rộng là
tổng hòa tất cả các mối quan hệ xã hội của cá nhân đó Nhưng khi bàn về quan hệ giúp
đỡ trong mạng lưới các nhà nghiên cứu thường xem xét mạng lưới đó theo nghĩa hẹp
Đó là mạng lưới thân gần nhất như một nguồn vốn xã hội hữu ích nhất Mạng lưới này chính là các quan hệ bạn bè thân thiết và các quan hệ gia đình ruột thịt (bố mẹ và con cái) Do vậy, ở phần này, chúng tôi sẽ khảo sát các nghiên cứu liên quan đến quan hệ
giúp đỡ trong cả các quan hệ xã hội nói chung và quan hệ gia đình ruột thịt nói riêng
Các nghiên cứu về quan hệ giúp đỡ trong mạng lưới xã hội cũng chiếm một tỉ lệ lớn trong các nghiên cứu về mạng lưới xã hội Một số nghiên cứu tiêu biểu như Granovetter (1973, 1983); Lee Jae Yeol (2000); Hirasawa Ayami (2011), Russell J Dalton và cộng sự (2001), Lê Ngọc Hùng (2003, 2008), Hoàng Bá Thịnh (2009), Đặng Nguyên Anh (1998), Phan Đại Doãn (1994), Lê Ngọc Văn (2004), Lê Ngọc Lân (2011, 2012), Nguyễn Hữu Minh (2012) v.v đã cung cấp nhiều bằng chứng thực nghiệm để khẳng định rằng mạng lưới xã hội đã đem lại những giúp đỡ nhất định cho các cá nhân
Granovetter (1973) đã nhắc đến hai kiểu loại giúp đỡ bao gồm những giúp đỡ mang tính tình cảm (emotion) như chia sẻ, động viên trong lúc khó khăn; chăm sóc, thăm hỏi lúc ốm đau v.v và những giúp đỡ mang tính công cụ (instrumental) như hỗ trợ tiền bạc để xây/mua nhà hay để làm ăn v.v Tuy nhiên, còn nhiều loại hình giúp đỡ khác sẽ rất khó xếp chúng thuộc hẳn về kiểu loại nào như giúp sức lao động, giúp cung cấp thông tin v.v Do vậy, trong phần này, luận án tập trung khảo sát các nghiên cứu bàn về bốn loại hình giúp đỡ được cho là cơ bản, thiết yếu và thường gặp nhất trong cuộc sống bao gồm: kinh tế, tinh thần, sức lao động và thông tin, tri thức
1.1.3.1 Quan hệ giúp đỡ về kinh tế
Mạng lưới xã hội di cư là chủ đề được bàn đến nhiều trong nghiên cứu thực nghiệm về vai trò mạng lưới xã hội Một nghiên cứu tiêu biểu về chủ đề này là nghiên
Trang 17cứu của Hirasawa Ayami (2011) về "Nhà hàng Việt Nam - một hiện tượng về vốn xã hội của người Việt Nam định cư ở Nhật" Kết quả nghiên cứu cho thấy hầu hết những người Việt Nam định cư tại Nhật khi cần những hỗ trợ kinh tế họ thường tìm đến giúp
đỡ từ bạn bè như hội đồng hương, hội đồng học, hội cùng nhà thờ v.v Hình thức giúp
đỡ phổ biến là cho nhau vay vốn làm ăn Cùng chủ đề nghiên cứu về mạng lưới di cư, Đặng Nguyên Anh (1998) trong bài viết "Vai trò của mạng lưới xã hội trong quá trình
di cư" đã đưa ra những bằng chứng thực nghiệm rằng trong quá trình thích ứng với cuộc sống thành thị, người di cư đã huy động sự giúp đỡ về kinh tế từ chính những bạn đồng hương hay đồng học như vay mượn tiền, nhờ chuyển tiền v.v
Như vậy đặc trưng giúp đỡ về kinh tế của mạng lưới di cư là sự nương tựa lẫn nhau giữa các thành viên trong cùng mạng lưới Và hình thức giúp đỡ phổ biến nhất là cho nhau vay mượn tiền Khác với mạng lưới di cư, các giúp đỡ về kinh tế trong quan
hệ gia đình lại phản ánh nhiều đặc trưng riêng Phan Đại Doãn đã phác họa lại hình
ảnh gia đình Việt Nam trong xã hội truyền thống: "Gia đình là đơn vị giáo dục, truyền
thụ những kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp Đây đó chúng ta gặp những gia đình là 'thầy thuốc gia truyền', 'thợ mộc truyền nghề', 'thợ gốm truyền nghề' v.v " [Phan Đại
Doãn, 1994, tr 4] Hiện tượng này vẫn còn khá phổ biến trong xã hội ngày nay tạo nên đặc trưng về sự giúp đỡ "cha truyền con nối" trong quan hệ gia đình người Việt Dựa vào sự giúp đỡ này, các cá nhân có được công ăn việc làm và con đường sự nghiệp cho riêng mình, tức là gia đình Việt Nam xưa và nay đã và đang góp phần không nhỏ trong việc tạo kế sinh nhai cho các thành viên trong gia đình Cùng quan điểm này, nghiên cứu của Lê Ngọc Lân và đồng nghiệp cũng đã nhấn mạnh đến mối quan hệ giúp đỡ về kinh tế giữa người cao tuổi và con cháu Trong đó, các tác giả nhấn mạnh hiện nay người cao tuổi cũng mang lại nhiều trợ giúp về kinh tế cho con cháu như đóng góp thu nhập, góp vốn làm ăn, phổ biến kinh nghiệm làm ăn [Lê Ngọc Lân, 2011, tr 61-62]
Một đặc trưng giúp đỡ kinh tế khác trong các gia đình Việt Nam được giới thiệu trong nghiên cứu của Mai Văn Hai, Ngô Thị Thanh Quý (2012) Nghiên cứu này được tiến hành từ năm 2007 đến năm 2009 ở làng Duy Tắc, xã Giao Tân, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định Nghiên cứu cho thấy, trong các hình thức liên kết làm kinh tế ở Duy Tắc, mạng lưới gia đình và họ hàng lấy cá nhân làm trung tâm có vị trí và vai trò đặc biệt quan trọng, giúp nhau xóa đói giảm nghèo, cải thiện cuộc sống trong bối cảnh kinh tế thị trường Hình thức giúp đỡ chủ yếu là cùng hợp tác làm ăn, kinh doanh như
Trang 18cho nhau vay tiền, cung cấp thông tin v.v Nghiên cứu này đã phản ánh một đặc trưng nữa của quan hệ giúp đỡ về kinh tế trong gia đình người Việt Nam là cá nhân thường tìm đến sự trợ giúp của gia đình, họ hàng ruột thịt bên bố mẹ đẻ trước tiên, rồi mới đến gia đình, họ hàng ruột thịt bên vợ/chồng Thêm một đặc trưng giúp đỡ khác không thể không nhắc đến, đó là, gia đình thường là nguồn giúp đỡ đầu tiên trong hoạt động kinh doanh của mỗi cá nhân Đặc trưng này đã được rút ra từ kết quả nghiên cứu thực nghiệm của Nguyễn Quý Thanh trong nghiên cứu về "Sự giao thoa giữa vốn xã hội với các giao dịch kinh tế trong gia đình: so sánh gia đình Việt Nam và gia đình Hàn Quốc" Kết quả nghiên cứu cho thấy gia đình luôn là nguồn hỗ trợ đắc lực nhất trong việc cho cá nhân vay vốn khởi nghiệp, vay vốn luân chuyển, vận hành kinh doanh, thực hiện những giao dịch đối ngoại v.v [Nguyễn Quý Thanh, 2005]
Cũng là một nghiên cứu thực nghiệm tại làng Quỳnh Đôi, tỉnh Nghệ An, tác giả Nguyễn Tuấn Anh trong nghiên cứu "Dòng họ như một nguồn vốn xã hội: Các chiều cạnh kinh tế và văn hóa của sự biến đổi quan hệ dòng họ ở một làng thuộc miền Bắc Việt Nam" đã chứng minh được rằng quan hệ họ hàng, đặc biệt là dòng họ bên nội, trong đó có bao hàm cả quan hệ giữa các thành viên gia đình ruột thịt có vai trò vô cùng quan trọng trong việc cung cấp các giúp đỡ có đi có lại giữa các thành viên và hộ gia đình trong dòng họ Tác giả nhấn mạnh đến các giúp đỡ về vật chất và tài chính trong các hoạt động như sản xuất nông nghiệp, sản xuất thủ công nghiệp và cho vay vốn làm ăn [Nguyễn Tuấn Anh, 2010]
1.1.3.2 Giúp đỡ về tinh thần
Cũng trong nghiên cứu của Đặng Nguyên Anh (1998) nêu trên, những người bạn, đặc biệt là những người cùng quê còn được nhấn mạnh là nguồn vốn xã hội hữu ích trong việc cung cấp những giúp đỡ về tinh thần cho người di cư Đó là việc tâm sự những vui buồn, thuận lợi và khó khăn trong quá trình sống nơi nhập cư hay là những
trao đổi và chia sẻ về tin tức quê nhà v.v
Tuy nhiên, Granovetter (1973) đã nhấn mạnh rằng những giúp đỡ mang tính tình cảm (emotional helps) luôn gắn liền hơn với các quan hệ gia đình Về điều này,
Phan Đại Doãn cũng nhấn mạnh rằng gia đình Việt Nam có chức năng nuôi dưỡng người già Con cái có một ý nghĩa tinh thần vô cùng quan trọng trong gia đình người Việt Con cái là của để dành Con cái được kì vọng sẽ phụng dưỡng cha mẹ lúc tuổi
Trang 19già, có thể về vật chất, có thể về tình cảm hoặc bằng nhiều hình thức giúp đỡ khác Nhưng trên tất cả, việc làm tròn đạo hiếu với cha mẹ chính là thể hiện rõ nét nhất của
sự giúp đỡ về tinh thần của con cái với cha mẹ Về phần cha mẹ, tác giả cũng đề cập đến vai trò quan trọng của cha mẹ trong việc giáo dục con cái [Phan Đại Doãn, 1994, tr.6] Đồng nhất với quan điểm của Phan Đại Doãn, Vũ Thị Cúc cũng tiến hành một nghiên cứu định tính ở Hưng Yên để tìm hiểu quan niệm của người dân về giá trị con cái Nghiên cứu này cho thấy đối với hầu hết các bậc cha mẹ thì con cái có ý nghĩa đặc biệt quan trọng về mặt tinh thần Sự giúp đỡ đặc biệt mà con cái mang lại cho cha mẹ chính là sự giúp đỡ tinh thần lúc cha mẹ về già [Vũ Thị Cúc, 2012]
Nhấn mạnh đến một đặc trưng khác trong giúp đỡ về tinh thần giữa người cao tuổi với con cháu, nghiên cứu của Lê Ngọc Văn đã phản ánh rõ những biến đổi trong quan hệ giúp đỡ giữa người cao tuổi và con cháu Xu hướng biến đổi rõ nhất là nhìn chung ngày nay người cao tuổi và con cháu đều muốn nương tựa vào nhau để giúp đỡ lẫn nhau chứ không theo mô hình người cao tuổi chỉ sống phụ thuộc hoàn toàn vào con cháu hay con cháu thường cảm thấy nhiều áp lực khi phải phụng dưỡng người cao tuổi như trước đây Kết quả nghiên cứu đã khẳng định gia đình luôn là nơi đáng tin cậy nhất trong việc cung cấp cho cá nhân những giúp đỡ về tinh thần, tình cảm [Lê Ngọc Văn, 2004] Cũng bàn về quan hệ giúp đỡ giữa người cao tuổi và con cháu, Nguyễn Hữu Minh đã phát hiện ra một số đặc trưng thú vị như: nhìn chung người Việt Nam có
xu hướng chia sẻ tâm sự với con ruột nhiều hơn là với con dâu và con rể, tỷ lệ về thăm hỏi bố mẹ lúc ốm đau của con gái nhiều hơn con trai v.v [Nguyễn Hữu Minh, 2012]
Các bài viết trên đã phản ánh rõ về một đặc trưng của những giúp đỡ về tinh thần trong quan hệ gia đình người Việt Đó là sự sẻ chia và động viên tinh thần có đi
có lại mang tính liên thế hệ Những giúp đỡ về tinh thần này dường như là qui luật tâm
lý cố hữu Sự kì vọng của các thế hệ trước vào thế hệ sau về sự giúp đỡ tinh thần lúc
họ về già có thể xuất phát từ một sự tính toán lợi ích như quan điểm của Becker (1999) trong bối cảnh này hay bối cảnh khác Nhưng trên tất cả, sự giúp đỡ về tinh thần trong quan hệ gia đình người Việt xuất phát từ một chuẩn mực đạo đức có từ lâu đời
1.1.3.3 Giúp đỡ về sức lao động
Trở lại với nghiên cứu về mạng lưới di cư của Hirasawa Ayami (2011) nêu trên, mạng lưới bạn bè tại cộng đồng nơi nhập cư còn đóng vai trò quan trọng trong việc
Trang 20giúp đỡ về sức lao động Hình thức giúp đỡ phổ biến được đề cập là làm giúp hoặc làm
thuê tại nhà hàng với các công việc như bồi bàn, dọn dẹp, chuyên chở hàng hóa v.v
Về mạng lưới quan hệ gia đình, Phan Đại Doãn cũng đề cập đến vai trò của gia đình trong việc giúp đỡ sức lao động cho các cá nhân Tác giả lập luận rằng trong xã hội nông nghiệp, sức lao động là nguồn tài sản quan trọng Do vậy, trong công việc nhà nông, các thành viên trong gia đình, mở rộng ra là trong họ hàng thường được huy động về sức để giúp đỡ nhau cầy cấy, trồng trọt hay chăn nuôi Đối với các gia đình nông nghiệp có thêm thủ công nghiệp hay buôn bán thì các thành viên gia đình, họ hàng vẫn có thể giúp đỡ nhau về sức lao động như sản xuất, vận chuyển và trông nom hàng hóa Đây chính là sự giúp đỡ mang tính nghĩa vụ [Phan Đại Doãn, 1994, tr 6]
Cùng nhấn mạnh tầm quan trọng của gia đình trong sự giúp đỡ về sức lao động, Nguyễn Quý Thanh đã đưa ra bằng chứng thực nghiệm để khẳng định lao động gia đình có năng suất cao hơn lao động bên ngoài trong khi chi phí lại thấp hơn Một ví dụ thực nghiệm là khi các ông chủ cần bốc dỡ hàng ngoài giờ mà những người lao động
họ thuê đã kết thúc giờ làm việc thì lúc này, các thành viên gia đình chính là lực lượng lao động rẻ nhất và không kêu ca nhiều về công việc nặng nhọc [Nguyễn Quý Thanh, 2005] Từ đây có thể rút ra một đặc trưng của quan hệ giúp đỡ về sức lao động trong gia đình giống như đã tìm thấy trong nghiên cứu của Phan Đại Doãn Đó là những giúp đỡ về sức lao động trong gia đình thường luôn mang tính tự nguyện và nghĩa vụ
1.1.3.4 Giúp đỡ về thông tin, tri thức
Cùng nghiên cứu về vai trò của mạng lưới quan hệ xã hội trong tìm kiếm việc làm, Granovetter và Lê Ngọc Hùng lại lựa chọn các đối tượng khảo sát khác nhau và thu được những kết quả nghiên cứu không giống nhau Granovetter (1973) đã tiến hành khảo sát 266 người đã thay đổi công việc tại vùng Newton, thuộc thành phố Boston và thấy rằng trong trường hợp tìm kiếm việc làm, các quan hệ yếu tỏ ra hữu ích hơn các quan hệ mạnh [Granovetter, 1973, tr 1373] 10 năm sau, Granovetter lại khẳng định lại rằng các liên kết yếu có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc tạo ra cơ hội di động cho cá nhân, thậm chí chúng còn mang lại nhiều thông tin việc làm hơn các liên kết mạnh [Granovetter, 1983, tr 205] Khác với Granovetter, Lê Ngọc Hùng chỉ giới hạn chủ thể nghiên cứu là sinh viên Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng các liên
Trang 21kết mạnh hay chính là các quan hệ gia đình vẫn có sức ảnh hưởng lớn hơn các liên kết yếu trong tìm kiếm việc làm của người Việt Nam [Lê Ngọc Hùng, 2003]
Cũng bàn về mạng lưới di cư nhưng Hirasawa Ayami (2011) lại lựa chọn đối tượng khảo sát là những người Việt Nam kinh doanh nhà hàng định cư tại Nhật Kết quả khảo sát của Hirasawa Ayami cho thấy bạn bè giúp đỡ rất nhiều trong việc cung cấp thông tin về nguồn nhân lực (giới thiệu người lao động Việt Nam biết tiếng Nhật)
hay địa điểm phù hợp để mở nhà hàng v.v
Không chỉ mạng lưới quan hệ bạn bè, mạng lưới quan hệ gia đình cũng được bàn đến như một nguồn vốn xã hội hữu ích trong việc cung cấp các giúp đỡ về thông tin cho cá nhân Nguyễn Hữu Minh đã khảo sát thực nghiệm để tìm hiểu về vai trò của gia đình trong việc cung cấp những thông tin về sức khỏe cho thanh niên và trẻ vị thành niên Dựa trên chỉ báo đo được rằng đại đa số các em nói chuyện lần đầu tiên chủ yếu với bố mẹ về biểu hiện dậy thì, tác giả khẳng định gia đình chính là nguồn cung cấp thông tin quan trọng về sức khỏe giới tính cho thanh thiên và trẻ vị thành niên [Nguyễn Hữu Minh, 2006] Phan Đại Doãn cũng nhấn mạnh rằng mỗi khi cần giúp đỡ về thông tin hay tri thức, các cá nhân thường tìm đến gia đình như nguồn đáng tin cậy đầu tiên bởi gia đình chính là cái nôi kiến thức đã nuôi lớn mỗi cá nhân [Phan Đại Doãn, 1994] Ở cả hai nghiên cứu này, các tác giả đều muốn nhấn mạnh rằng gia đình của người Việt Nam thường được coi là nguồn giúp đỡ đầu tiên và đáng tin cậy nhất trong việc cung cấp các thông tin hay tri thức cho cá nhân khi họ cần đến
Trong phần khảo sát các nghiên cứu bàn về đặc trưng quan hệ giúp đỡ trong mạng lưới xã hội nói chung và trong quan hệ gia đình nói riêng của người Việt như trên, có thể nhận thấy một vài điểm hạn chế Thứ nhất, phần lớn các nghiên cứu mới chỉ nói lên những giúp đỡ một chiều theo kiểu các thành viên trong mạng lưới đã cung cấp cho cá nhân những giúp đỡ gì mà chưa phân tích chiều ngược lại Tức là, chưa phân tích được trường hợp riêng của tính chất có đi có lại là đặc tính đối xứng/bất đối xứng Thứ hai, mặc dù một số nghiên cứu về quan hệ giúp đỡ trong gia đình như Lê Ngọc Văn (2004), Lê Ngọc Lân (2011), Nguyễn Hữu Minh (2012) đã bàn đến mối quan hệ giúp đỡ hai chiều giữa người cao tuổi và con cháu nhưng chưa phân tích được đặc trưng về xu hướng giúp đỡ của mối quan hệ này Tức là, chưa đo được xem những giúp đỡ của con cháu cho người cao tuổi so với những giúp đỡ họ nhận lại được từ người cao tuổi đang theo xu hướng cân bằng hay mất cân bằng? Mặt khác, đặc trưng
Trang 22quan hệ giúp đỡ trong gia đình thường mang tính liên thế hệ Để tìm hiểu đặc trưng này, cần đặt quan hệ giúp đỡ trong gia đình thông qua ba chủ thể, trong đó cá nhân là trung tâm nhận sự giúp đỡ từ thế hệ trước và thế hệ sau Qua đó, người nghiên cứu sẽ thấy được sự khác biệt và biến đổi giữa các thế hệ của quan hệ giúp đỡ Tuy nhiên, tính liên thế hệ của quan hệ giúp đỡ chưa được bàn đến trong các nghiên cứu này
1.2 Các nghiên cứu về tính chất có đi có lại như một thành tố của vốn xã hội
Tính chất có đi có lại là một trong những thành tố quan trọng của vốn xã hội
Do vậy, phần này sẽ tập trung tìm hiểu các nghiên cứu liên quan đến các vấn đề như tính chất có đi có lại trong khái niệm vốn xã hội, tính chất có đi có lại như một chỉ báo
đo lường vốn xã hội, tính chất có đi có lại của quan hệ giúp đỡ trong vốn xã hội
1.2.1 Tính chất có đi có lại trong khái niệm vốn xã hội
Trong nhiều định nghĩa về vốn xã hội đã bao hàm tính chất có đi có lại
Bourdieu định nghĩa vốn xã hội là nguồn lực dựa trên mạng lưới được thừa nhận hoặc
quen biết, trong đó các thành viên tương tác qua lại với nhau [Bourdieu, 1986: tr
248] Hay như Nan Lin (2001: 25) đã nhấn mạnh: " Để sản sinh ra lợi ích, các cá
nhân tiến hành tương tác lẫn nhau trong các mạng lưới quan hệ xã hội của ho” Như
vậy, cả Bourdieu và Nan Lin đều nhắc đến cái gọi là "tương tác qua lại với nhau" hay chính là tính chất có đi có lại trong vốn xã hội Theo Bourdieu và Nan Lin, vốn xã hội không tự nhiên có được mà được sinh ra từ chính sự có đi có lại trong mạng lưới quan
hệ xã hội và sẽ trở lên đa dạng hơn tùy thuộc vào sự đa dạng của các liên kết xã hội Nói một cách khác, "có đi có lại" chính là một tính chất quan trọng của vốn xã hội
Nhấn mạnh hơn đặc trưng của vốn xã hội, Portes khẳng định sự trao đổi qua lại
và lòng tin là nguồn gốc của vốn xã hội [Portes, 1998, tr 7] Còn nhà chính trị học
người Mỹ gốc Nhật Fukuyama lại đề cập đến tính chất có đi có lại trong vốn xã hội ở góc độ văn hóa, thái độ Ông nhấn mạnh chuẩn mực có đi có lại là đặc trưng quan
trọng nhất của vốn xã hội Trong bài viết "Vốn xã hội và xã hội dân sự" (Social
Capital and Civil Society) Fukuyama đã định nghĩa về vốn xã hội như sau: "Trong các chuẩn mực làm nên vốn xã hội có chuẩn mực có đi có lại Chuẩn mực có đi có lại tồn tại trong tiềm thể (in potentia), trong lối xử sự của tôi với mọi người, nhưng nó chỉ được hiện thực hóa khi tôi xử sự với bạn bè của tôi mà thôi" [Fukuyama, 2000, tr.3]
Tính chất có đi có lại tiếp tục được khẳng định là một trong ba tính chất quan
Trang 23trọng nhất tạo nên vốn xã hội trong khái niệm về vốn xã hội của Putnam: "Tóm lại, vốn
xã hội chỉ các liên kết xã hội (social connection) và các chuẩn mực và sự tin tưởng kèm theo” [Putnam, 1995, tr 664-665] Hay như Lê Minh Tiến tiếp cận vốn xã hội
theo 3 cấp độ: vĩ mô, trung mô và vi mô, trong đó "Ở cấp độ vĩ mô, vốn xã hội được
hiểu là là các giá trị và chuẩn mực của nền văn hóa xã hội, bao gồm cả lòng tin và sự
có đi có lại" [Lê Minh Tiến, 2007, tr 72-73] Nguyễn Ngọc Bích (2006) và Ngô Đức
Thịnh (2008) cũng cùng chung một quan tâm là nêu lên các biểu hiện ra bên ngoài của vốn xã hội, trong đó có tính chất có đi có lại Thêm một bằng chứng nữa là nhận định
của Trần Hữu Dụng (2006) rằng "không giống mọi loại vốn khác, vốn xã hội tùy vào
“lòng tốt” của kẻ khác, sự “có đi có lại” của nhiều người, và lợi ích của nó là của chung" Tất cả các quan điểm trên đều hướng tới một mục đích chung là chỉ ra mối
liên hệ mật thiết giữa vốn xã hội và "có đi có lại", trong đó "có đi có lại" là một thành
tố để tạo nên vốn xã hội và vốn xã hội chỉ được duy trì khi tồn tại "có đi có lại"
1.2.2 "Có đi có lại" như một chỉ báo đo lường vốn xã hội
"Có đi có lại" không chỉ được nhắc đến như một tính chất của vốn xã hội mà còn được nhấn mạnh như một chỉ báo đo lường vốn xã hội một cách hiệu quả Mặc dù cho đến nay đã có rất nhiều các bộ tiêu chí đo lường vốn xã hội với các tiêu chí không hoàn toàn trùng nhau, nhưng có thể tựu chung lại thành bốn phương pháp đo lường chính và phổ biến nhất, đó là đo lường thông qua qui mô mạng lưới quan hệ xã hội, chỉ
số lòng tin xã hội, chuẩn mực có đi có lại và mức độ tham gia xã hội
Thời kỳ đầu, những năm 1990, các nhà nghiên cứu thường lựa chọn phương pháp đo lường vốn xã hội thông qua qui mô mạng quan hệ xã hội Nhưng kể từ sau năm 2000, nhiều tiêu chí đo lường đa dạng hơn đã được sử dụng Chẳng hạn như Ton van Schaik đã tiến hành đo lường vốn xã hội của người Châu Âu thông qua 4 chiều cạnh: 1) Lòng tin giữa các cá nhân, 2) Lòng tin đối với thể chế, 3) Sự tham gia vào xã hội dân sự, 4) Chuẩn mực có đi có lại Như vậy, chuẩn mực có đi có lại đã được đề cập đến như một tiêu chí quan trọng để đo lường vốn xã hội [Ton van Schaik, 2002]
Hay như Hilde Coffe´ (2009) cũng lựa chọn tính chất "có đi có lại" là một trong những tiêu chí để đo lường vốn xã hội tại Flemish - một vùng đất thuộc Bỉ Ngoài ra, còn nhiều nghiên cứu khác đã đề cập đến nhiều tiêu chí đo lường đa dạng như bộ tiêu chí của hai nghiên cứu thuộc cơ quan Thống kê Canada là C.A Bryant và D.Norris, bộ
Trang 24tiêu chí của tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD), bộ tiêu chí của cơ quan thống kê Úc hay bộ tiêu chí của hai tác giả V.Vella (Nam Phi) và D Narajan (Ngân hàng thế giới) [Lê Minh Tiến, 2007, tr 74] Tuy nhiên, có thể thấy một trong những tiêu chí chung được lựa chọn để đo lường vốn xã hội vẫn là sự giúp đỡ có đi có lại
1.2.3 Tính chất có đi có lại của quan hệ giúp đỡ trong vốn xã hội
Có thể rút ra nghĩa vụ tối cần thiết cho đi phải đáp lại trong hành vi trao đổi từ
câu nói nổi tiếng của nhà triết học La Mã Cicero: "Không có nghĩa vụ nào cần thiết hơn
nghĩa vụ phải đáp trả lại lòng tốt Tất cả loài người sẽ đều không tin những kẻ hay quên ơn huệ" [Howard Becker, 1956, tr 1] Tính chất "có đi có lại" này cũng đã được
đề cập đến như một nguyên tắc trong trao đổi quà cũng như các giao dịch kinh tế giản đơn ngay từ các xã hội cổ sơ trong tác phẩm "Luận về biếu tặng" của Mauss Mauss cho rằng trao đổi là mẫu số chung của nhiều sinh hoạt xã hội và thực chất của trao đổi luôn cho thấy "ba sự bắt buộc: Tặng, nhận và đáp tặng" [Mauss, 1925, tr.207]
Ở góc độ kinh tế, Homans trong tác phẩm "Hành vi xã hội như một sự trao đổi"
đã xem tính chất có đi có lại như một khuôn mẫu trao đổi trong giao dịch kinh tế nói riêng và trong mọi trao đổi xã hội nói chung [Cropanzano, Russell; Mitchell, Marie,
2007, tr 878] Điểm giống nhau giữa Mauss và Homans là cùng thừa nhận "có đi có lại" là bản chất của mọi mối quan hệ trao đổi trong vốn xã hội nhưng với Mauss, nguyên tắc này chịu sự kiểm soát của các qui ước xã hội, còn Homans lại cho rằng sự tính toán đến chi phí và lợi ích đã tạo nên nguyên tắc có đi có lại này Gouldner (1960) cũng có một đóng góp quan trọng trong việc chỉ ra ba dạng thức có đi có lại dựa trên quan điểm liên ngành Ba dạng thức đó là: (1) Có đi có lại là một mô hình trao đổi phụ thuộc lẫn nhau, (2) Có đi có lại như một tín ngưỡng dân gian, (3) Có đi có lại như một chuẩn mực đạo đức [Cropanzano, Russell; Mitchell, Marie S, 2007, tr 876]
Nhưng đến những năm 1980, các nhà nghiên cứu mới bắt đầu nhìn nhận tính chất "có đi có lại" trong vốn xã hội như một hành vi ứng xử xã hội để nghiên cứu sâu hơn về nó như một chỉnh thể độc lập Bài viết "Sự có đi có lại: Cung cấp hàng hóa công thông qua những đóng góp tự nguyện" (1984) của Sugden là một nghiên cứu tiêu biểu về hành vi trao đổi có đi có lại thông qua việc đóng góp tự nguyện để cung cấp hàng hóa công Sugden đã đưa ra giả thuyết rằng mỗi chủ thể đều chú ý đến số lượng đóng góp mà họ muốn người khác cung cấp cho mình Nếu số lượng đóng góp đó
Trang 25bằng hoặc lớn hơn e thì họ cũng sẽ cảm thấy có nghĩa vụ phải đóng góp trở lại một số lượng ít nhất bằng e Và Sugden gọi đây là nguyên tắc có đi có lại [Sugden, 1984, tr 775] Sugden đã nhấn mạnh rằng sự hợp tác được thực hiện không phải do lựa chọn hợp lý về kinh tế mà do chịu sự chi phối của "qui tắc đạo đức"
Tuy nhiên, phải đến những năm 1990, các nghiên cứu về tính chất "có đi có lại" mới bắt đầu chú ý đến việc phát hiện các lý thuyết cơ bản liên quan đến đặc tính này Nhà kinh tế học người Mỹ Mattheww Rabin được coi là một trong những nhà nghiên cứu đầu tiên chính thức xây dựng khái niệm "có đi có lại" thành một mô hình lý thuyết Rabin đã đưa ra một khuôn mẫu có đi có lại dựa trên sự nhấn mạnh về ý định (intention) và mức độ lòng tốt (không tốt) chứ không phải kết quả của hành động [trích dẫn theo Armin Falk and Urs Fischbacher, 2006, tr 298]
Tóm lại, nhìn ở mặt cấu trúc, "có đi có lại" là một thành tố của vốn xã hội hay nói cách khác "có đi có lại" chính là vốn xã hội và vốn xã hội chính là các quan hệ giúp đỡ có đi có lại Mặt khác, về chức năng, nó là chỉ báo hiệu quả để đo lường vốn
xã hội và là một nguyên tắc cơ bản quan trọng nhất để tạo ra và duy trì sự cân bằng, ổn định trong mọi trao đổi xã hội Nó nhấn mạnh đến qui luật cho đi thì phải đáp lại hay cho thì phải được nhận, nhận rồi thì phải cho đi Tức là, mọi mối quan hệ xã hội muốn phát triển tốt đẹp và bền vững thì phải có sự giúp đỡ lẫn nhau, đôi bên cùng có lợi Nhưng nhìn về nội dung, điều này có đúng ở mọi loại hình giúp đỡ, trong mọi loại hình mạng lưới xã hội hay không? Ví dụ, những giúp đỡ qua lại về tình cảm có luôn sòng phẳng được như những giúp đỡ nhau về tiền bạc hay không? Finch and Mason (1993) chỉ ra rằng có đi có lại giữa các thành viên trong gia đình và họ hàng là quá trình liên tục và phải mất nhiều năm mới nhận ra Sự có đi có lại này được thực hiện rất linh hoạt, dựa trên nền tảng của nghĩa vụ gia đình [Xem Wendy Stone, 2001, tr 30]
Như vậy, nhiều nghiên cứu về quan hệ giúp đỡ trong vốn xã hội đã nhấn mạnh đến tính chất có đi có lại như một thành tố hay chỉ báo đo lường quan trọng của vốn xã hội Tuy nhiên, phần lớn các nghiên cứu này mới chỉ tìm hiểu tính có đi có lại ở góc
độ lý thuyết mà chưa phân tích nó ở góc độ thực nghiệm, tức là chưa đo lường được thế nào là đối xứng/bất đối xứng, trường hợp riêng của tính có đi có lại Do vậy, trong
phần tiếp theo, luận án sẽ khảo sát các nghiên cứu có bàn đến trường hợp riêng này
Trang 261.3 Các nghiên cứu về cách đo tính đối xứng và bất đối xứng của quan hệ giúp đỡ
Như đã đề cập ở trên, mạng lưới quan hệ xã hội có nhiều đặc tính như qui mô, mật độ, tần suất liên lạc, tính đồng dạng, tính đối xứng và bất đối xứng v.v Trong cuốn sách "Mạng lưới quan hệ xã hội và lòng tin: một phân tích xã hội học về vốn xã hội ở Việt Nam" chúng tôi đã biên soạn và dự kiến xuất bản trong năm 2015, chúng tôi
đã khảo sát một số nghiên cứu đi trước có bàn đến vấn đề đo lường các đặc tính của mạng lưới xã hội nói chung và đặc tính đối xứng/bất đối xứng nói riêng Nhiều nghiên
cứu đã cố gắng đo lường các đặc tính cơ bản này như mô hình đo lường mạng lưới cá
nhân của Burt (1983) với các tiêu chí đo gồm qui mô, tần suất, mật độ, tính đồng nhất của mạng lưới; mô hình đo lỗ hổng cấu trúc của Burt (1992); mô hình đo độ tập trung của mạng lưới thông qua các tiêu chí như mức độ thân thiết và tính tương hỗ lẫn nhau của mạng lưới của Freeman (1979); mô hình đo mức độ tập trung nhóm của Everett & Borgatti (1999) với các tiêu chí đo là qui mô, mức độ gần gũi và mức độ tương tác lẫn nhau của nhóm [Tổng hợp theo Stephen P Borgatti, Candace Jones & Martin G Everett, 1998] Nan Lin (1999) cũng lập thành bảng các tiêu chí đo lường mạng lưới
xã hội bao gồm sự khác nhau của các nguồn mạng lưới, cơ hội tiếp xúc, lỗ hổng cấu trúc, tính mở, độ thân mật, mức độ tiếp xúc của mạng lưới, sự tương tác và có đi có lại trong mạng lưới [Nan Lin, 1999, tr 37] Dưới đây sẽ là các nghiên cứu bàn về đo
lường tính đối xứng/bất đối xứng - đặc tính quan trọng của quan hệ giúp đỡ lẫn nhau
Georg Simmel khẳng định "Tất cả các tiếp xúc giữa con người với con người
đều được xây dựng trên mô hình cho đi và nhận lại tương đương" [Georg Simmel, 1950,
tr 387] Hay như theo Florencia Torche & Eduardo Valenzuela: "Trong một quan hệ
xã hội, khi ta nhận một cái gì đó từ đối phương là bản thân ta cũng đã phải nghĩ đến một sự đáp trả lại tương đương" [Florencia Torche & Eduardo Valenzuela, 2011, tr
188] Wendy Stone và Jody Hughes cũng nhấn mạnh "sự tương đương" khi cho rằng
"sự ‘có đi có lại’ là quá trình trao đổi trong các quan hệ xã hội, được biểu hiện dưới dạng thức: hàng hóa và dịch vụ được cung cấp bởi một bên sẽ được trả lại cho chính bên đó bởi một bên khác – bên mà đã nhận được hàng hóa và dịch vụ ban đầu” Dễ
nhận thấy rằng cả cả ba nghiên cứu trên đều mới chỉ xem xét đến mặt hình thức của các trao đổi giúp đỡ cho đi - nhận lại là luôn "tương đương" với nghĩa là "đối xứng" Tuy nhiên nhìn về mặt nội dung, khả năng xảy ra tính bất đối xứng trong các giúp đỡ
Trang 27vẫn chưa được đề cập trong các nghiên cứu này Ví dụ như A giúp B tiền bạc nhưng B chỉ giúp lại được A về tình cảm [Wendy Stone và Jody Hughes, 2001, tr 27]
Khác với các nghiên cứu trên, Park Kyeong Suk (2008) lại nhấn mạnh đến tính bất đối xứng của quan hệ giúp đỡ giữa bố mẹ và con cái Trong gia đình Hàn Quốc hiện đại, quan hệ của bố mẹ với con cái thời xế bóng được cho là quan hệ một chiều với việc con cái chăm sóc bố mẹ già là chủ yếu Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu gần đây ở Hàn Quốc cho thấy khác với quan niệm truyền thống, việc cha mẹ nhận sự giúp đỡ hay phụng dưỡng từ con cái là điều đương nhiên, con cái đang coi việc phụng dưỡng này như một gánh nặng Vấn đề Park Kyeong Suk kết luận ở đây chính là tính bất đối xứng trong quan hệ cho - nhận giữa bố mẹ và con cái khi bố mẹ về già theo xu hướng bố mẹ nhận từ con nhiều hơn là con nhận từ bố mẹ Hàm ý được ẩn chứa ở đây nữa là xã hội Hàn Quốc đang có sự bất đối xứng trong cả ý thức (intention) giữa một bên là mong muốn được trông cậy vào con cái lúc về già với một bên là cảm giác gánh nặng khi phải phụng dưỡng cha mẹ già [Park Kyeong Suk, 2008, tr 175-176] Trái với Park Kyeong Suk (2008), một nghiên cứu gần hơn của Kim Choong Soon lại phản ánh một
xu thế mới của gia đình Hàn Quốc hiện đại, đó là, các gia đình hạt nhân gồm vợ chồng
và con cái thích lựa chọn sống gần bố mẹ đẻ, bố mẹ đằng vợ hay bố mẹ đằng chồng để vừa thuận tiện phụng dưỡng cha mẹ vừa có thể nhờ ông bà chăm sóc con cái và trông nom nhà cửa một cách miễn phí Điều này cho thấy bố mẹ và con cái trong gia đình Hàn Quốc hiện đại đang cố gắng đi tìm sự cân bằng hay còn gọi là đối xứng trong quan hệ "giúp đỡ - nhận được giúp đỡ" [Kim Choong Soon, 2012, tr 192]
Bàn đến tính chất có đi có lại một cách đầy đủ hơn ở cả hai mặt đối xứng và bất đối xứng, Luigino, Mario và Vittorio đã trích dẫn quan điểm của nhà kinh tế học Crespo
như sau: "có đi có lại không nhất thiết là sự đáp trả lại những vật giống với những gì đã
nhận được nhưng nó đòi hỏi một sự cân bằng nhất định trong những thứ được đem ra trao đổi qua lại Đó là lý do khiến cho các thứ được mang ra trao đổi qua lại thường không đồng nhất với cái ban đầu ý nghĩa của sự trao đổi “có đi có lại” không nằm ở vật trao đổi mà nằm ở giá trị của sự trao đổi và điều đó có ý nghĩa đối với những bên liên quan Nói cách khác, “có đi có lại” ám chỉ kết quả chứ không phải là các phương tiện trao đổi" [Luigino, Mario và Vittorio, 2008, tr 13] Theo quan điểm của Crespo, sự
“có đi có lại” không phải lúc nào cũng hoàn toàn đối xứng, nghĩa là nhận được vật A không nhất thiết phải trả lại vật A và sự bất đối xứng đó không phải lúc nào cũng mang
Trang 28nghĩa tiêu cực Ý nghĩa của sự “có đi có lại” không nằm ở phương tiện trao đổi là vật A hay vật B mà nằm ở giá trị, kết quả trao đổi có làm hài lòng các bên liên quan hay không Có thể nói, quan điểm của Crespo đề cập rõ ràng nhất về tính đối xứng/bất đối xứng của quan hệ giúp đỡ trong vốn xã hội, nhưng Crespo cũng như các tác giả trên đều chưa đo lường được thế nào là tính đối xứng và bất đối xứng trong quan hệ giúp đỡ này Tiếp cận ở góc độ thực nghiệm, trong nghiên cứu về sự hình thành vốn xã hội của các cô dâu nước ngoài thông qua hoạt động hỗ trợ người di trú của trung tâm Seong Nam được thực hiện năm 2012, tôi đã phát hiện thấy rằng, đến trung tâm, các cô dâu nước ngoài không chỉ nhận được sự chia sẻ về tinh thần và giúp đỡ về vật chất mà còn trực tiếp tham gia giúp đỡ người khác như trẻ em mồ côi, người già neo đơn thông qua các hoạt động tình nguyện của trung tâm Tuy nhiên, nghiên cứu này mới chỉ xem xét mặt hình thức của tính chất có đi có lại và kết luận quá trình cho và nhận sự giúp đỡ qua lại giữa trung tâm Seongnam và các cô dâu nước ngoài mang tính đối xứng Trên thực tế, xét về mặt nội dung, quan hệ này đang mang tính bất đối xứng bởi vì loại hình hay nội dung các giúp đỡ mà hai bên có thể cung cấp cho nhau không hoàn toàn giống nhau Điều này chưa được làm rõ trong nghiên cứu này [Cao Thị Hải Bắc, 2012] Như đã đề cập trong phần khảo sát các nghiên cứu về vai trò của mạng lưới xã hội
ở trên, ở Việt Nam, chưa có nghiên cứu nào bàn luận trực diện đến vấn đề tính đối xứng và bất đối xứng của quan hệ giúp đỡ trong vốn xã hội Vấn đề này chỉ được bàn luận gián tiếp trong các nghiên cứu về vai trò của mạng lưới xã hội trong việc cung cấp các giúp đỡ cho cá nhân Các nghiên cứu tiêu biểu đã kể trên như Lê Ngọc Hùng (2003) nhấn mạnh tầm quan trọng của sự giúp đỡ đến từ gia đình ở Việt Nam trong bối cảnh tìm kiếm việc làm; Đặng Nguyên Anh (1998) chỉ ra rằng người di cư thường nhận được sự giúp đỡ nhiều từ liên kết mạnh hơn từ các liên kết yếu; Nguyễn Quý Thanh (2005) đã khẳng định gia đình luôn là nguồn hỗ trợ đắc lực nhất trong việc giúp
cá nhân vay vốn khởi nghiệp, cung cấp sức lao động v.v Tất cả các nghiên cứu này cùng nhiều nghiên cứu khác ở Việt Nam như R.Abrami (1997), Nguyễn Duy Thắng (2007) v.v khi bàn đến vai trò của mạng lưới xã hội mới chỉ tập trung phân tích sự giúp đỡ một chiều, chủ yếu là chiều nhận Tức là, các tác giả quan tâm đến việc mạng lưới xã hội cung cấp cho cá nhân những gì mà chưa đề cập đến chiều ngược lại
Bên cạnh những nghiên cứu kinh tế học hay xã hội học, nhiều nghiên cứu nhân học cũng bàn luận về tính có đi có lại của quan hệ giúp đỡ Tiêu biểu trong số này là
Trang 29luận án tiến sĩ mới hoàn thành gần đây của Emmanuel Pannier (2012) với nhan đề "Có
đi có lại mới toại lòng nhau" Tác giả đã tiến hành những khảo sát thực địa về các giao dịch phi thương mại diễn ra tại một làng thuộc khu vực nông thôn phía Bắc Việt Nam nhằm tìm ra một vài đặc trưng trong nguyên tắc xã hội của người Việt Nam Những giao dịch phi thương mại này được định nghĩa là một hệ thống các trao đổi giúp đỡ lẫn nhau, các cử chỉ có đi có lại và các món nợ đạo đức Có thể nói đây là một mô tả khá chân thực về quan hệ giúp đỡ qua lại của người Việt Nam thông qua việc tặng quà hay đổi công v.v Kết quả của luận án đã chỉ rõ đặc trưng có đi có lại khá đậm nét trong quan hệ giúp đỡ lẫn nhau của người Việt Tuy nhiên, vấn đề quan hệ giúp đỡ có đi có lại này có luôn luôn đối xứng hay không vẫn chưa được bàn đến trong luận án này
Cùng chủ đề nghiên cứu với Emmanuel Pannier, Oliver Tessier đã thực hiện một nghiên cứu nhân học với chủ đề "Giúp đỡ và tương trợ trong cộng đồng làng quê
ở miền Bắc Việt Nam: Quan hệ giữa tình đoàn kết và sự phụ thuộc" Tác giả đã tiến hành một loạt các cuộc điều tra, quan sát tại làng Hay thuộc tỉnh Phú Thọ Trong nghiên cứu này, tác giả đã phân biệt rất rõ ràng giữa hệ thống trao tặng (cho không) và trao đổi (giúp đỡ) Trong đó, tác giả tập trung phân tích nhiều đến hệ thống giúp đỡ mà người dân trong làng trao đổi qua lại với nhau vào ba sự kiện chính trong đời: lễ cưới, làm nhà, tanng lễ Từ những mô tả định tính, kết luận mà tác giả đưa ra đồng nhất với kết luận của Emmanuel Pannier ở chỗ thừa nhận sự trao đổi giúp đỡ có đi có lại nhằm tăng cường tinh thần đoàn kết trong cộng đồng làng xã Tuy nhiên điểm khác trong nghiên cứu của Oliver Tessier so với nghiên cứu của Emmanuel Pannier là đã đưa ra được các mô tả và phân tích cụ thể để chứng minh rằng sự trao đổi giúp đỡ qua lại này đôi khi còn bị ràng buộc bởi hệ thống pháp lý chung của địa phương Tức là, những người làng nằm trong một hệ thống phụ thuộc lẫn nhau buộc họ thấy cần phải giúp đỡ qua lại lẫn nhau nếu họ không muốn bị loại trừ ra khỏi hệ thống [Oliver Tessier, 2012]
Một nghiên cứu nhân học tiêu biểu khác về hành vi có đi có lại thông qua việc tặng quà nhau là nghiên cứu của Lương Văn Hy (2013) với chủ đề "Quà và vốn xã hội
ở hai cộng đồng nông thôn Việt Nam" Tác giả đã tiến hành khảo sát dòng quà ở hai cộng đồng nông thôn Việt Nam là làng Hoài Thị (Tỉnh Bắc Ninh) và xã Khánh Hậu (Tỉnh Long An) Khác với nghiên cứu của Emmanuel Pannier hay nghiên cứu của Oliver Tessier, Lương Văn Hy tiến hành so sánh hành vi trao đổi quà có đi có lại giữa hai cộng đồng nông thôn và rút ra một kết luận tương đối mới Ông kết luận để hiểu về
Trang 30dòng quà tại hai cộng đồng nêu trên, chúng ta cần lưu tâm không chỉ đến mối tương tác giữa một mặt là sự lựa chọn có tính chiến lược của cá nhân và mặt khác là qui ước
xã hội mà còn cần lưu ý đến quan hệ của dòng quà với những khác biệt về vốn xã hội giữa vùng này và vùng khác hay giữa những giai tầng xã hội
Cả ba nghiên cứu của Emmanuel Pannier, Oliver Tessier và Lương Văn Hy đều
đã đưa ra bằng chứng thực nghiệm cho thấy rõ sự giúp đỡ hay tặng quà hai chiều cho
và nhận Tuy nhiên, do lựa chọn không gian nghiên cứu là các làng nông thôn Việt Nam nên kết quả các nghiên cứu chỉ giúp chúng ta hình dung được phần nào đặc trưng của hành vi giúp đỡ lẫn nhau hay tặng quà của các vùng nông thôn Việt Nam mà chưa thể khái quát được thành đặc trưng chung của người Việt Nam Hơn nữa, cả ba nghiên cứu này đều sử dụng phương pháp định tính mang tính miêu tả chứ chưa đo lường định lượng được thế nào là tính đối xứng và bất đối xứng trong quan hệ cho - nhận? Nghiên cứu của chúng tôi năm 2014 về "vốn xã hội của người Việt Nam: đối xứng hay bất đối xứng?" đã bước đầu đo lường tính đối xứng và bất đối xứng của quan hệ giúp đỡ giữa những người bạn thân, tuy nhiên, nghiên cứu này mới chỉ dừng lại ở việc đưa ra các số liệu thô mà chưa phân tích sâu về ý nghĩa của các số liệu này Hơn nữa, lúc thực hiện nghiên cứu này, chúng tôi chưa đo lường được tính đối xứng và bất đối xứng của quan hệ giúp đỡ trong gia đình và cũng chưa tiến hành những phỏng vấn sâu
để kiểm chéo kết quả định lượng
Mong muốn lấp đầy được phần nào điểm khuyết trong các nghiên cứu nêu trên, luận án này sẽ đi sâu tìm hiểu trường hợp riêng của tính có đi có lại là đặc tính đối xứng và bất đối xứng của quan hệ giúp đỡ trong vốn xã hội Cụ thể, tính đối xứng và bất đối xứng trong quan hệ bạn bè được đo lường thông qua ba chiều cạnh: số lượng loại hình giúp đỡ, tính chất các giúp đỡ và hoàn cảnh giúp đỡ
Bên cạnh đó, một hạn chế quan trọng khác là phần lớn các nghiên cứu chưa phân tích đến các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ đối xứng hay bất đối xứng của tính chất có đi có lại Giải quyết được vấn đề này cũng là một đóng góp thú vị Tuy nhiên, rất khó tìm được nghiên cứu nào tìm hiểu một cách đầy đủ và hệ thống về vấn đề này
Do vậy, chúng tôi chỉ tập hợp lại từ các nghiên cứu rời rạc, riêng lẻ để xây dựng hệ thống các biến số có thể áp dụng trong nghiên cứu của mình
Lê Ngọc Văn (2004) đã chỉ rõ có sự khác biệt theo vùng miền trong quan hệ giúp đỡ giữa người cao tuổi và con cháu theo qui luật càng là người miền Nam càng
Trang 31nhận hỗ trợ về kinh tế từ con nhiều hơn người cao tuổi miền Bắc và miền Trung Điều này phản ánh đúng qui luật tâm lý của các bậc cha mẹ người miền Bắc thường tích lũy của cải nên ít phải cậy nhờ những hỗ trợ kinh tế từ con hơn các vùng miền khác Hay như Lê Ngọc Lân chỉ ra rằng giới tính (con trai/con gái), thứ bậc (con trưởng/con thứ),
độ tuổi, mức sống, khu vực (nông thôn, đô thị) là những yếu tố ảnh hưởng lớn đến hình thức chăm sóc, thăm hỏi của con cái đối với cha mẹ [Lê Ngọc Lân, 2012]
Bên cạnh đó, một vài biến số ảnh hưởng đến tính chất có đi có lại của quan hệ giúp đỡ được nhắc đến trong các nghiên cứu khác bao gồm: lòng tin theo quan điểm của Portes (1998), Blau (1964), Ngô Đức Thịnh (2008); giới tính theo quan điểm của Judee K Burgoon và cộng sự (1987); di cư theo quan điểm của Lê Ngọc Hùng (2008)
và Đặng Nguyên Anh (1998); khu vực sống là nông thôn hay đô thị và có hay không
sự hòa thuận và hòa bình trong cộng đồng theo quan điểm của Putnam (2000), có hay không phụng dưỡng cha mẹ của Park Kyeong Suk (2008), có hay không sống cùng hoặc gần bố mẹ trong nghiên cứu của Kim Choong Soon (2012); có hay không sống
xa nhà trong nghiên cứu của Cao Thị Hải Bắc (2012)
Các biến số trên có thể được chia thành ba cấp độ: cá nhân, gia đình, cộng đồng/xã hội Tuy nhiên, mọi sự phân chia chỉ là tương đối Bởi có những biến số rất khó xác định là thuộc nhóm yếu tố nào Mặt khác, mỗi cá nhân chịu sự chi phối bởi một môi trường phức hợp từ trong gia đình đến ngoài xã hội, thậm chí bởi cả các đặc điểm của chính bản thân cá nhân đó Do vậy, mặc dù mỗi nhóm yếu tố chắc hẳn sẽ có ảnh hưởng ở những mức độ khác nhau nhưng chúng luôn đan xen nhau và cùng tác động đến tính đối xứng/bất đối xứng của quan hệ giúp đỡ trong vốn xã hội
1.4 Những vấn đề luận án tập trung nghiên cứu
Luận án này không đặt mục đích vào việc tìm hiểu xem một hành vi giúp đỡ có thể hiện tính có đi có lại hay không mà sẽ chỉ tập trung nghiên cứu một trường hợp riêng của tính chất có đi có lại, đó là đặc tính đối xứng và bất đối xứng Bởi có đi có lại đã được thừa nhận là nguyên tắc cơ bản luôn tồn tại để duy trì mọi trao đổi xã hội
Cụ thể, luận án sẽ tập trung tìm hiểu hai phần chính Phần thứ nhất là mức độ đối xứng
và bất đối xứng của quan hệ giúp đỡ Quan hệ giúp đỡ được đo trong mạng lưới quan
hệ xã hội lõi của cá nhân bao gồm quan hệ giữa người được hỏi với ba người bạn thân nhất và với các thế hệ gia đình ruột thịt như bố mẹ hai bên và con cái của họ Tức là,
Trang 32luận án sẽ đo mức độ đối xứng và bất đối xứng của quan hệ giúp đỡ giữa cá nhân người được hỏi với ba người bạn thân nhất của họ ở ba chiều cạnh: số lượng của loại hình giúp đỡ, tính chất giúp đỡ và hoàn cảnh giúp đỡ Ngoài ra, luận án cũng đo mức
độ đối xứng và bất đối xứng trong quan hệ gia đình như một trường hợp riêng của quan hệ giúp đỡ trong xã hội Cụ thể, người được hỏi được coi là nhân vật trung tâm hình thành mối quan hệ cho và nhận các giúp đỡ với bố mẹ (bố mẹ đẻ và bố mẹ vợ/chồng) và con cái họ Theo nghiên cứu gần đây nhất của Nguyễn Quý Thanh, Nguyễn Thị Khánh Hòa về lòng tin xã hội thì chỉ số lòng tin với các thành viên gia đình trực tiếp tương đối cao so với chỉ số lòng tin với các đối tượng khác, trong đó chỉ
số lòng tin với bố mẹ ruột là cao nhất với 9,6 điểm và tiếp đến là chỉ số lòng tin với con là 9,2 điểm trên thang điểm 109 Do vậy, luận án này đã lựa chọn các thành viên gia đình gồm bố mẹ hai bên và con cái người trả lời để đưa vào phân tích mối quan hệ giúp đỡ trong gia đình Như vậy, trong quan hệ giúp đỡ ở phạm vi gia đình chúng tôi
đo lường mức độ đối xứng và bất đối xứng giữa hai cặp quan hệ "Bố mẹ đẻ giúp đỡ"
so với "nhận giúp đỡ từ con"; "Bố mẹ vợ/chồng giúp đỡ" so với "nhận giúp đỡ từ con"
Cần lưu ý số lượng của loại hình giúp đỡ ở đây không phải là đo lường chính xác giúp đỡ một số lượng vật chất qui đổi ra được thành giá trị tiền cụ thể mà là số lượng của các loại hình giúp đỡ đã kể trên như tiền bạc, tình cảm v.v Bên cạnh đo lường định lượng, luận án cũng thực hiện các phỏng vấn sâu và nghiên cứu trường hợp
để giải thích rõ hơn cho các kết quả định lượng xem tại sao loại hình giúp đỡ hay hoàn cảnh giúp đỡ này lại thường đối xứng hay bất đối xứng hơn loại hình và hoàn cảnh giúp đỡ khác? Tại sao tính đối xứng và bất đối xứng lại thể hiện giống hoặc khác nhau trong quan hệ giúp đỡ với ba người bạn thân?
Phần chính thứ hai của luận án là tập trung tìm hiểu xem các yếu tố nào ảnh hưởng hơn cả đến mức độ đối xứng và bất đối xứng của quan hệ giúp đỡ trong vốn xã hội của người Việt Nam Đồng thời, luận án này cũng sẽ so sánh đối chiếu kết quả nghiên cứu được với kết quả các nghiên cứu đi trước và với khung lý thuyết của luận
án
9
Nguyễn Quý Thanh, Nguyễn Thị Khánh Hòa (2013), "Các yếu tố ảnh hưởng đến lòng tin đối với các thành
viên gia đình trực tiếp", Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Chuyên san Khoa học Xã hội và Nhân văn (2), tr.25
Trang 33CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trong chương 1, luận án đã tổng hợp và phân tích các nghiên cứu đi trước liên quan đến các mảng đề tài như mạng lưới quan hệ xã hội, tính có đi có lại trong vốn xã hội, tính đối xứng và bất đối xứng trong quan hệ giúp đỡ Trong chương này, luận án trình bày cơ sở lý luận chung và một số lý thuyết của các nhà khoa học nổi tiếng như John von Neumann, Goerge Homans, Gary Becker, Mattheww Rabbin, Marcel Mauss
để giải thích cho các vấn đề nghiên cứu Sau khi chỉ ra khung lý thuyết riêng cho luận
án, chúng tôi sẽ trình bày về thiết kế nghiên cứu để thấy rõ các giai đoạn triển khai thực hiện luận án này Tiếp đến, phần phương pháp nghiên cứu sẽ trình bày cụ thể về thao tác hóa khái niệm, công cụ đo, dữ liệu phân tích, mô hình và chiến lược phân tích
2.1 Cơ sở lý luận
Theo nguyên lý mối liên hệ phổ biến của Mac - Lê Nin, mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới đều tồn tại trong mối liên hệ phổ biến cùng ràng buộc, chi phối lẫn nhau,
vận động và biến đổi không ngừng Sự liên hệ biểu hiện ở 3 mặt: giữa các mặt trong
cùng một sự vật hiện tượng, giữa các sự vật khác với nhau, giữa các sự vật với môi trường 10 Áp dụng nguyên lý này vào vấn đề nghiên cứu của luận án có thể thấy tính
đối xứng và tính bất đối xứng là hai mặt của một vấn đề giống như hai mặt của một đồng xu Trong đó, khi mặt này tăng thì mặt kia sẽ giảm và ngược lại Do vậy, khi bàn
về tính chất có đi có lại của quan hệ giúp đỡ thì phải xem xét cả xu hướng đối xứng và bất đối xứng của các quan hệ giúp đỡ này Tuy nhiên, muốn hiểu rõ được trong trường hợp nào các quan hệ giúp đỡ thường mang tính đối xứng hay tính bất đối xứng thì phải xem xét mối liên hệ giữa đặc tính đối xứng/bất đối xứng của các quan hệ giúp đỡ với các lý thuyết và yếu tố tác động khác (yếu tố cá nhân, yếu tố gia đình và yếu tố cộng đồng/xã hội) Mặt khác, Mác nói phải có quan điểm lịch sử cụ thể khi xem xét một sự vật hiện tượng Tức là, khi nhận thức về sự vật và tác động vào sự vật phải chú ý điều kiện, hoàn cảnh lịch sử - cụ thể, trong đó sự vật sinh ra tồn tại và phát triển Do vậy, trong luận án này, mức độ đối xứng và bất đối xứng được đặt vào quan hệ giúp đỡ giữa người được hỏi với ba người bạn thân và giữa người được hỏi với bố mẹ và con
họ Mức độ đối xứng và bất đối xứng này cũng được đo theo ba chiều cạnh: số lượng
10
Xem Nguyễn Ngọc Long (2006), Giáo trình triết học Mác - Lênin, NXB Chính trị Quốc gia, tr 135-145
Trang 34loại hình giúp đỡ, tính chất loại hình giúp đỡ và hoàn cảnh giúp đỡ Từ cơ sở lý luận
chung của các nguyên lý duy vật biện chứng Mác - Lê Nin, chúng tôi muốn xây dựng
một khung lý thuyết riêng cho luận án dựa trên sự tiếp cận ba nhóm lý thuyết: nhóm lý
thuyết trò chơi, nhóm lý thuyết xã hội học tiếp cận theo kinh tế học hành vi, nhóm lý
thuyết về vốn xã hội nhấn mạnh đặc tính có đi có lại trong quan hệ giúp đỡ
2.1.1 Nhóm lý thuyết trò chơi (Game theory)
Năm 1838, Antoine Augustin Cournot là người chính thức đưa ra những phân
tích chung về lý thuyết trò chơi Tuy nhiên, chỉ khi John von Neumann cho ra đời một
loạt các bài báo về lý thuyết trò chơi năm 1928 thì lý thuyết này mới tồn tại như một
ngành khoa học độc lập Ban đầu được phát triển như là một công cụ để nghiên cứu
hành vi kinh tế học nhưng ngày nay lý thuyết trò chơi được sử dụng rộng rãi trong
nhiều ngành khoa học như triết học, tâm lý học, xã hội học v.v Nội dung cốt lõi của
lý thuyết được phát biểu như sau: Lý thuyết trò chơi nghiên cứu các quyết định được
đưa ra trong một môi trường trong đó các đối thủ tương tác với nhau Nói cách khác,
lý thuyết trò chơi nghiên cứu cách lựa chọn hành vi tối ưu cho cả đôi bên khi chi phí
và lợi ích của mỗi lựa chọn là không cố định mà phụ thuộc vào lựa chọn của các cá
nhân khác [Morgenstern, Oskar and John von Neumann (1947); dẫn lại theo William
Poundstone, 1992, tr 43] Phát biểu này giúp chúng ta mường tượng được rằng trong
một cuộc chơi giữa hai hay nhiều người, mỗi người có một cách ứng xử riêng Nhưng
họ sẽ luôn phải cân nhắc xem đối phương sẽ hành xử như thế nào nếu mình lựa chọn
cách ứng xử A hay B nào đó? Căn cứ vào đó, họ sẽ đưa ra quyết định cuối cùng nên
ứng xử thế nào để có lợi cho mình nhất hoặc ít nhất là đôi bên cùng có lợi ngang nhau
Luận án này chỉ áp dụng một khía cạnh của lý thuyết trò chơi Đó là khía cạnh
nhấn mạnh làm sao để tối đa hóa lợi ích trên cơ sở những thông tin mình có Tức là sự
cân nhắc về thái độ và hành động của đối phương (A đối xử tốt với B nhưng liệu B có
đối xử lại với A như thế không? A mừng đám cưới B như thế này thì liệu sau này B có
mừng lại A như thế không?) Một cá nhân giúp đỡ đối phương trên cơ sở chưa biết đối
phương sẽ hành động lại như thế nào? nhưng dựa trên thông tin mình có thì cá nhân đó
có thể dự đoán được xu hướng hành động của đối phương Như vậy, luận án này muốn
áp dụng khía cạnh lý thuyết này để tìm hiểu xem trên cở sở những thông tin có được,
Trang 35người được hỏi sẽ xây dựng các mối quan hệ giúp đỡ như thế nào? Liệu rằng trước khi quyết định giúp đỡ người khác, mỗi chủ thể đều cân nhắc đến hành vi ứng xử của đối phương hay không? Liệu rằng các chủ thể có luôn kì vọng đối phương sẽ hành động để đôi bên cùng đạt lợi ích cao nhất hay không? Nói cách khác, áp dụng khía cạnh lý thuyết nhấn mạnh đến sự cân nhắc hành động hợp lý này, chúng tôi sẽ tìm hiểu lý do
mà các chủ thể lựa chọn cách thức giúp đỡ A hay B nào đó là gì? Và kì vọng mà họ đặt vào hành vi đáp trả của đối phương có phải là một sự đối xứng hay không?
2.1.2 Nhóm lý thuyết xã hội học tiếp cận theo quan điểm kinh tế học hành vi
Trong nhóm lý thuyết xã hội học tiếp cận theo quan điểm kinh tế học hành vi, chúng tôi tiếp cận hai lý thuyết là lý thuyết trao đổi xã hội của Goerge Homans và lý thuyết hành vi của Gary Becker
Trong bài nói chuyện đoạt giải Nobel với nhan đề "Xét hành vi theo hướng kinh tế" cũng như trong tác phẩm "Vốn con người" viết năm 1975, Gary Becker đã nêu lên quan điểm lý thuyết về việc đầu tư vào vốn con người với nội dung chính như sau:
Bản chất của mối quan hệ giúp đỡ giữa các thành viên trong gia đình xét theo góc độ kinh tế là sự đầu tư vào vốn con người nhằm tối đa hóa nguồn lợi cho họ sau này bởi
họ nghĩ rằng sự đầu tư này là hiệu quả hơn bất kì hình thức đầu tư nào khác Điều này
có thể thấy qua việc bố mẹ đầu tư, giúp đỡ con cái lúc nhỏ và con giúp lại khi bố mẹ
về già, hay anh chị em giúp nhau từ lúc nhỏ đến lúc trưởng thành Nhưng trên thực tế, các cam kết chỉ là bất thành văn nên vẫn có trường hợp họ phải giảm bớt chi phí (sự giúp đỡ) vào quan hệ gia đình để san sẻ bớt vào những mối quan hệ khác hoặc đóng bảo hiểm hay gửi tiết kiệm nhằm làm tăng nguồn giúp đỡ phòng thân khi họ về già hoặc khi cần đến Để đảm bảo cho sự có đi có lại xảy ra thì người cho giúp đỡ sẽ tăng cường giáo dục, khắc sâu cho đối phương về cảm giác nghĩa vụ, ý muốn giúp đỡ lại người đã giúp đỡ mình [Gary Becker, 1975, tr 45-81; Gary Becker, 1995, tr 86-88]
Tuy nhiên, Gary Becker đang chỉ nhấn mạnh đến khía cạnh vật chất Tức là, ông quan tâm nhiều đến sự đầu tư vật chất của bố mẹ vào con cái với kì vọng con cái cũng sẽ đáp trả lại bằng vật chất cho bố mẹ sau này Mở rộng hơn quan điểm lý thuyết của Becker là lý thuyết trao đổi xã hội của George Homans Lúc đầu, mục đích của Homans là sáng lập ra học thuyết này để giải thích hành vi xã hội của con người trong các doanh nghiệp kinh tế Nhưng đến năm 1961, ông tiếp tục mở rộng lập luận của
Trang 36mình khi cho rằng lý thuyết này có thể giải thích hành vi ứng xử của con người trong nhiều bối cảnh đa dạng hơn, ví dụ trong quan hệ bạn bè Nội dung chính của lý thuyết trao đổi xã hội có thể được tóm tắt thành các luận điểm sau Thứ nhất, hành vi xã hội
là kết quả của một quá trình trao đổi lợi ích giữa các cá nhân Lợi ích này không chỉ dừng lại ở các yếu tố vật chất mà còn có thể là sự cảm thông, chia sẻ, cảm giác được tôn trọng mà cá nhân nhận được Thứ hai, mục đích mà mọi người hướng đến trong các mối quan hệ là: Tăng lợi ích, giảm chi phí cho bản thân Khi rủi ro lớn hơn những phần thưởng, con người sẽ chấm dứt hoặc từ bỏ mối quan hệ Thứ ba, kỳ vọng của mỗi
cá nhân vào các mối quan hệ là khác nhau nên mức độ hài lòng của họ đối với kết quả cũng sẽ khác nhau Thứ tư, khi không hài lòng với các mối quan hệ, người ta sẽ từ bỏ
nó và tìm đến "các lựa chọn thay thế" hứa hẹn nhiều lợi ích hơn mối quan hệ hiện tại [George Homans, 1974, tr 16-25] Lý thuyết của George Homans và Gary Becker là những cách tiếp cận kinh tế học trong xã hội học Cả hai tác giả đều đặt ra bài toán kinh tế là chí phí - lợi ích nhưng lợi ích của Homans bao hàm ý nghĩa rộng, gồm cả vật chất và tinh thần Theo đó, mọi hành vi trao đổi xã hội đều có sự cân nhắc đến chi phí
bỏ ra và lợi ích thu được sao cho lợi ích thu được phải là tối đa hóa Khi thấy lợi nhiều,
cá nhân càng có xu hướng đầu tư nhiều và ngược lại Tuy nhiên, khi sự có đi có lại trong hành vi trao đổi này là bất đối xứng theo chiều cho đi lớn hơn nhận được, tức là chi phí bỏ ra nhiều hơn lợi ích thu được thì theo Becker cá nhân sẽ tự giảm chi phí đầu
tư, còn theo Homans thì cá nhân sẽ chấm dứt hay từ bỏ mối quan hệ Và theo cả Becker và Homans thì khi giảm chi phí hoặc từ bỏ mối quan hệ thì cá nhân sẽ đầu tư bớt sang nguồn lợi khác hoặc tìm "lựa chọn thay thế"
Áp dụng khía cạnh lý thuyết nhấn mạnh đến sự cân nhắc giữa chi phí và lợi ích trong việc đầu tư vào vốn con người của Gary Becker và trong việc trao đổi các giúp
đỡ ở mọi lĩnh vực của George Homans, chúng tôi muốn thử kiểm chứng xem khi cá nhân được khảo sát có sự cân nhắc tính toán đến nguyên tắc chi phí - lợi ích thì họ sẽ
có hành động cho và nhận giúp đỡ như thế nào với đối phương? Và nguyên tắc chi phí
- lợi ích này thường được cân nhắc trong những mối quan hệ giúp đỡ nào? ở những loại hình giúp đỡ gì? Cá nhân có kì vọng về sự đối xứng hoặc bất đối xứng theo chiều nhận được nhiều hơn cho hay không? Khi không thỏa mãn kì vọng thì cá nhân thường giảm chi phí đầu tư hay có xu hướng từ bỏ hẳn quan hệ? Nếu không thể từ bỏ hẳn các mối quan hệ thì là vì những lý do gì?
Trang 372.1.3 Nhóm lý thuyết về vốn xã hội
Như đã lập luận ở các phần trước, vốn xã hội là sự có đi có lại của quan hệ giúp
đỡ Do vậy các quan điểm, lý thuyết bàn về các đặc tính của quan hệ giúp đỡ hay trao đổi xã hội đều thuộc phạm trù quan điểm, lý thuyết về vốn xã hội Ở phần này, chúng tôi tiếp cận hai lý thuyết về vốn xã hội có nhấn mạnh đến đặc tính có đi có lại trong quan hệ giúp đỡ Đó là lý thuyết có đi có lại trong trao đổi giao dịch kinh tế của Mattheww Rabin và lý thuyết có đi có lại trong biếu tặng quà của Marcel Mauss
Nhà kinh tế học người Mỹ Mattheww Rabin được coi là một trong những nhà nghiên cứu đầu tiên chính thức xây dựng khái niệm "có đi có lại" (reciprocity) thành
một mô hình lý thuyết Tư tưởng cốt lõi của Rabin được phát biểu như sau: "hành vi
được coi là vị tha nhất vốn rất phức tạp: người ta không tìm kiếm mô hình thống nhất
để giúp đỡ người khác; thay vào đó, họ bày tỏ một sự chắc chắn có lựa chọn về hành động có đi có lại của họ Trên thực tế, mọi người sẽ vị tha với những người vị tha khác
và cũng có động lực làm tổn thương những người gây tổn thương cho họ Nói cách khác, mọi người phản ứng khác nhau với hành vi ứng xử của người khác phụ thuộc vào ý tưởng mà họ gắn vào hành động (intention of act)" [Rabin, 1993, tr 1281-1282]
Rabin đã đưa ra một ví dụ trong lĩnh vực làm ăn kinh doanh Trong đó, nhiều đối tác hợp tác làm ăn với nhau Đối tác A sẵn sàng bỏ nhiều tiền bạc để đầu tư cho dây chuyền sản xuất của đối tác B mặc dù trong vòng 3 năm tiếp theo A có thể chưa thu được nhiều lợi ích từ B Nếu B tiếp tục mang lại lợi ích cho A thì A sẽ tiếp tục đầu tư Ngược lại, A cũng có thể cắt giảm chi phí đầu tư cho B nếu A cảm thấy B không thể mang lại nguồn lợi cho mình hoặc thậm chí, A sẽ trừng phạt B nếu B có hành vi bất hợp tác hay gây thiệt hạ cho A Tức là, A và B làm việc dựa trên nguyên tắc có đi có lại, anh tốt với tôi thì tôi tốt với anh và ngược lại Và yếu tố quyết định hành vi đầu tư nhiều hay cắt giảm chi phí đầu tư của A chính là ý tưởng hay còn được hiểu là những tính toán đang hình thành trong suy nghĩ của A A quyết định đầu tư vì đã tính toán trước được rằng lợi ích mà B mang lại cho A trong tương lai có thể sẽ lớn hơn nhiều những gì A bỏ ra để đầu tư trong hiện tại và ngược lại, khi tính toán trước được khả năng vận hành kém hiệu quả của B thì A sẽ có hành động cắt giảm chi phí đầu tư hoặc ngừng hợp tác với B Tức là, luôn có sự cân nhắc ở A và B xem đối phương có thể trở thành nguồn vốn xã hội hữu ích nhất cho mình hay không? Như vậy, theo Rabin, tính chất của một hành động nên được đánh giá qua cả ý tưởng (intention) chứ không phải
Trang 38chỉ bằng kết quả của hành động đó [Rabin, 1993, tr 1281-1282] Vận dụng lý thuyết
có đi có lại với sự đề cao ý tưởng hành động (kì vọng tương lai) của Rabin, chúng tôi muốn tìm hiểu xem trong quan hệ giúp đỡ, các bên thường có xu hướng cân nhắc hành động như thế nào? kì vọng của các bên là đối xứng hay bất đối xứng? ở loại hình giúp
đỡ gì? trong hoàn cảnh giúp đỡ nào?
Một lý thuyết có đi có lại khác đối lập với nhóm lý thuyết kinh tế học hành vi
Đó là lý thuyết về có đi có lại trong biếu tặng quà và tương tác xã hội của Marcel Mauss Mauss viết "Trong văn hóa Bắc Âu và nhiều nền văn hóa khác, trao đổi và hợp đồng được thực hiện dưới dạng quà tặng, trên lý thuyết là tự nguyện, nhưng thực ra là
bị bắt buộc phải làm và phải đáp tặng " [Mauss, 1925, tr 177-178] Như vậy, theo Maus, bản chất của hành vi trao đổi thông qua biếu tặng quà là luôn theo nguyên tắc biếu tặng và đáp tặng, tức cho đi và nhận lại Vậy lý do của sự bắt buộc phải đáp tặng quà là gì? Đó là vì cái "hau" - tinh thần của đồ vật được biếu tặng Bỏ qua yếu tố thần
bí có vẻ mang màu sắc tín ngưỡng, có thể nhìn thấy sâu sa ở Mauss một tư tưởng đề cao các qui ước, thiết chế xã hội Tức là, khác với lý thuyết trao đổi xã hội của Homans, Mauss nhấn mạnh rằng đôi khi các hành vi trao đổi phải tuân theo nguyên tắc cho đi và nhận lại tương đương là bởi vì, các hành vi trao đổi luôn chịu ảnh hưởng chi phối bởi "sự kiện xã hội toàn bộ" hay chính là các qui ước, chuẩn mực đạo đức xã hội Trong phạm vi hẹp hơn, đó có thể là phong tục, tập quán của vùng miền Trái với lý thuyết trò chơi và lý thuyết kinh tế học hành vi nhấn mạnh sự cân nhắc đến lợi ích trước khi thực hiện hành động giúp đỡ, lý thuyết có đi có lại trong biếu tặng nhấn mạnh đến giá trị và ý nghĩa của hành động giúp đỡ Đó không chỉ là những giá trị vật chất đơn thuần mà còn hàm chứa những giá trị xã hội, giá trị đạo đức, giá trị văn hóa khác Điều này có nghĩa là, theo Mauss, cá nhân không có quyền lựa chọn hay suy tính đến khả năng nào đó để quyết định hành động giúp đỡ mà bị buộc phải hành động theo qui ước chung của xã hội Nếu không tuân theo là từ chối sự hòa hợp, hợp tác, thống nhất Áp dụng lý thuyết có đi có lại của Mauss, chúng tôi sẽ tìm hiểu xem ngoài sự cân nhắc đến chi phí và lợi ích thì các hành động giúp đỡ giữa các chủ thể còn chịu sự chi phối bởi những chuẩn mực chung nào? Tức là, ngoài các giá trị và ý nghĩa mang tính vật chất, các hành động giúp đỡ còn mang các giá trị và ý nghĩa nào? Các giá trị và ý nghĩa có đòi hỏi sự có đi có lại phải luôn đối xứng hay bất đối xứng không? Điều này được biểu hiện khác nhau như thế nào trong những bối cảnh, trường hợp cụ thể?
Trang 392.1.4 Khung lý thuyết của luận án
Từ cơ sở lý thuyết và tổng quan nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến tính đối xứng/bất đối xứng của quan hệ giúp đỡ như đã nêu trên, luận án này đã xây dựng một khung lý thuyết riêng áp dụng cho việc phân tích quan hệ giúp đỡ giữa những
người bạn thân và trong phạm vi gia đình như sau
Hình 2.1: Khung lý thuyết của luận án
Khung lý thuyết trên là sự tích hợp của nguyên lý về mối liên hệ phổ biến, quan điểm lịch sử cụ thể và ba nhóm lý thuyết: lý thuyết trò chơi, lý thuyết xã hội học tiếp cận theo quan điểm kinh tế học hành vi, lý thuyết về vốn xã hội nhấn mạnh đặc tính có
đi có lại Cả ba nhóm lý thuyết này đều thừa nhận có đi có lại là nguyên tắc bắt buộc
để duy trì mọi quan hệ xã hội Do vậy, luận án này sẽ không kiểm chứng xem quan hệ cho và nhận giúp đỡ trong gia đình và giữa những người bạn có đảm bảo sự có đi có lại hay không mà muốn kiểm chứng trường hợp riêng của tính chất có đi có lại, chính
là tính đối xứng và bất đối xứng11 Tức là, chúng tôi muốn kiểm chứng xem trong quan
hệ giúp đỡ, dựa trên những thông tin có được, các chủ thể sẽ lựa chọn hành động giúp
đỡ như thế nào? kì vọng khi giúp đỡ thường được biểu hiện theo xu hướng đối xứng
11
Ví dụ về tính đối xứng và bất đối xứng: A có thể giúp B hai loại hình giúp đỡ bao gồm tiền bạc và tình cảm và
B cũng có khả năng đáp trả lại A hai loại hình giúp đỡ này (có thể vào một thời điểm sau này) thì A và B đạt đến
sự đối xứng về số lượng của các loại hình giúp đỡ (đều là 2 loại hình) Ngược lại, khi B chỉ có khả năng đáp trả lại 1 trong số 2 loại hình trên tức là sự giúp đỡ của A và sự đáp trả của B là bất đối xứng
Mức độ đối xứng và bất đối xứng của quan hệ giúp đỡ
- Về số lượng loại hình giúp đỡ
Tối đa hóa lợi ích trên cơ sở thông tin mình có
Nhóm lý thuyết xã hội học tiếp cận theo quan điểm kinh tế học hành vi
- Cân nhắc chi phí - lợi ích
- Có thể từ chối giúp đỡ hoặc lựa chọn thay thế
Nhóm lý thuyết
về vốn xã hội
- Đặt kì vọng vào lợi ích tương lai
- Qui ước, chuẩn mực qui định sự
có đi có lại
Trang 40hay bất đối xứng? Những kì vọng này có khác nhau tùy theo tính chất loại hình và
hoàn cảnh giúp đỡ hay không? Nguyên tắc tính toán chi phí - lợi ích và các qui ước,
chuẩn mực chi phối mức độ đối xứng và bất đối xứng như thế nào tùy vào từng loại
hình và hoàn cảnh giúp đỡ cụ thể? Tất cả các lý thuyết này sẽ được áp dụng để giải
thích các mức độ khác nhau của tính đối xứng và bất đối xứng của quan hệ giúp đỡ
Mặt khác, mức độ đối xứng và bất đối xứng còn chịu ảnh hưởng bởi nhiều
nhóm yếu tố ở các cấp độ cá nhân, gia đình, cộng đồng/xã hội Tuy nhiên, mức độ ảnh
hưởng của từng nhóm yếu tố này đến việc làm tăng hay làm giảm mức độ bất đối
xứng/đối xứng không giống nhau Do vậy, luận án này muốn tìm hiểu xem nhóm yếu
tố nào có ảnh hưởng nhiều hơn cả đến việc làm tăng hay làm giảm mức độ đối xứng và
bất đối xứng của quan hệ giúp đỡ giữa những người bạn thân và trong gia đình
2.2 Thiết kế nghiên cứu
Song song với việc tìm hiểu các cơ sở lý luận, chúng tôi đã xây dựng một thiết
kế nghiên cứu từ những giai đoạn đầu tiên cho đến giai đoạn triển khai thực hiện luận
án Theo đó, luận án này được thực hiện theo một sơ đồ thiết kế gồm ba giai đoạn sau:
Hình 2.2: Thiết kế nghiên cứu
Ở giai đoạn nghiên cứu định tính thứ nhất, chúng tôi sử dụng chủ yếu phương
pháp quan sát tự do và quan sát có tham dự Tức là bằng những trải nghiệm thực tế và
những quan sát thực tế, tác giả hình dung bước đầu về các mối quan hệ cho và nhận
giúp đỡ của những người xung quanh đang diễn ra như thế nào trong cả môi trường gia
đình và ngoài xã hội Ở giai đoạn này, chúng tôi tiến hành phỏng vấn bán cấu trúc 5 cá
nhân với những câu hỏi xoay quanh các trải nghiệm từng giúp đỡ và được nhận giúp
đỡ của họ Thông qua kinh nghiệm sống, quan sát tự do, quan sát có tham dự và phỏng
vấn bán cấu trúc này, tác giả đã hình thành rõ hơn các ý tưởng nghiên cứu, đồng thời
xây dựng rõ hơn các phạm trù khái niệm liên quan đến chủ đề nghiên cứu như mạng
lưới xã hội, quan hệ lõi, bạn thân, liên thế hệ, tính đối xứng, tính bất đối xứng v.v
Những quan niệm dân gian như "nợ đồng lần", "nước mắt chảy xuôi" liệu có luôn
đúng không? hay vẫn tồn tại những trường hợp khác trong quan hệ cho và nhận giúp
① Nghiên
cứu định tính
② Nghiên cứu định lượng
③ Nghiên cứu định tính