Cũng nghiên cứunày cho thấy bệnh nhân phẫu thuật có khả năng suy dinh dưỡng cao gấp 2-3lần so với khả năng xuất hiện các biến chứng khác cũng như tỉ lệ chết, vì vậythời gian nằm lại bệnh
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
Dinh dưỡng ngày nay không còn là khái niệm mới mẻ hay quá xa lạtrong đời sống cũng như trong điều trị bệnh Cùng với sự phát triển của xãhội, dinh dưỡng không chỉ đơn thuần là ăn đủ no mà còn đóng vai trò quantrọng trong phòng và điều trị bệnh Khoa học đã chứng minh dinh dưỡngđúng cách giúp người bệnh nhanh chóng phục hồi, giảm số ngày điều trị cũngnhư tăng khả năng phục hồi, hỗ trợ bác sĩ điều trị để tối ưu hóa số lượng thuốc
sử dụng qua đó gián tiếp giảm gánh nặng cho nền kinh tế và xã hội Theo tạpchí của hiệp hội Dinh dưỡng Hoa Kỳ xuất bản tháng 4 năm 1996, khi tiếnhành nghiên cứu trên 1327 bệnh nhân người lớn đang nằm điều trị tại bệnhviện cho thấy 40 – 55% bệnh nhân có suy dinh dưỡng hoặc có nguy cơ suydinh dưỡng và tới 12% có mức độ suy dinh dưỡng nặng Cũng nghiên cứunày cho thấy bệnh nhân phẫu thuật có khả năng suy dinh dưỡng cao gấp 2-3lần so với khả năng xuất hiện các biến chứng khác cũng như tỉ lệ chết, vì vậythời gian nằm lại bệnh viện của những bệnh nhân này dài hơn 90% so với cácbệnh nhân dinh dưỡng tốt Chi phí điều trị cho những bệnh nhân này cũng caohơn từ 35 - 75% so với bệnh nhân dinh dưỡng tốt Đến nay cũng đã có rấtnhiều công trình nghiên cứu về vai trò của dinh dưỡng lâm sàng trên thế giớikhẳng đinh vai trò của dinh dưỡng trong điều trị nói chung hay trong bệnhviện nói riêng
Bệnh viện Răng Hàm Mặt TW Hà Nội hiện nay có 4 khoa điều trị nội trú
và là tuyến cuối điều trị các bệnh lý vùng hàm mặt bao gồm cả dị tật bẩmsinh, chấn thương, ung thư hay phẫu thuật thẩm mỹ và tạo hình Hầu như cácbệnh nhân phẫu thuật tại bệnh viện đều có vấn đề ít nhiều liên quan đến ănuống như khó ăn do cố định 2 hàm hoặc có vết thương trong khoang miệngnên việc chăm sóc ăn đòi hỏi có một cách thức riêng và cân nặng khi ra việnthường có chiều hướng giảm Vì vậy công tác chăm sóc bệnh nhân để đảm
Trang 2bảo bệnh nhân đạt kết quả điều trị tốt nhất với thời gian nằm viện ngắn nhấtcũng là một trong những mục tiêu quan trọng nhằm giảm tải cho bệnh viện vàgiảm chi phí điều trị cho bệnh nhân Từ trước đến nay chưa có nghiên cứu nàochuyên biệt với loại hình bệnh nhân có can thiệp điều trị phẫu thuật vùng hàmmặt tại bệnh viện Răng Hàm Mặt TW Với những lý do trên chúng tôi tiến
hành nghiên cứu đề tài “Dinh dưỡng của bệnh nhân điều trị chấn thương hàm mặt tại Bệnh viện Răng Hàm Mặt TW” với 2 mục tiêu sau:
1 Nhận xét tình trạng bệnh nhân chấn thương hàm mặt điều trị tại bệnh viện Răng Hàm Mặt TW Hà nội.
2 Xây dựng chế dộ dinh dưỡng cho nhóm bệnh nhân trên.
Trang 3CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN
1.1 Đặc điểm của chấn thương gãy xương vùng hàm mặt
Chấn thương vùng hàm mặt là một chấn thương phổ biến và là mối quantâm chung của toàn xã hội với nhiều nguyên nhân như tại nạn sinh hoạt, tạinạn giao thông, tai nạn thể thao, tai nạn lao động Trong các nghiên cứu gầnđây cho thấy chấn thương gãy xương vùng hàm mặt xảy ra ở nhiều nước trênthế giới với số lượng lớn Vì vậy có thể coi đây là một loại chấn thương phổbiến với độ tuổi từ 21 – 30 là hay gặp nhất
1.1.1 Các hình thái gãy xương hàm
1.1.1.1 Gãy xương hàm trên
Khối xương tầng giữa của mặt được cấu tạo nên bởi 13 xương đối xứngtừng đôi một (2 xương hàm trên, 2 xương xoăn dưới; 2 xương gò má, 2 xươngkhẩu cái; 2 xương mũi, 1 xương lá mía và 2 xương lệ) Trong đó xương hàmtrên và xương gò má là xương to và cơ bản.[11]
a Gãy một phần: gãy xương ổ răng, gãy mỏm lên, gãy bờ dưới xương ổ mắt,góc trong mắt, lún hố nanh, gãy mỏm và vòm khẩu cái.[1]
b Gãy toàn bộ : [1]
Gãy dọc
- Lannelogue: đường gãy ở giữa, tách rời hai xương hàm trên, tạo kẽ hở giữahai răng cửa giữa, niêm mạc khẩu cái bị rách
- Richet: gãy dọc một bên qua răng cửa bên hoặc răng nanh
- Bassereau: phối hợp Lannelogue và Richet chia xương hàm trên thành bađoạn
- Huet: đường gãy hình tam giác, đỉnh là mấu lên XHT, hai góc là hai răngnanh
- Walther: gồm ba đường gãy dọc, một ở giữa, hai đường khác qua răng hàmnhỏ thứ nhất hoặc răng hàm nhỏ thứ hai, phối hợp với một đường gãy ngang(Le Fort I)
Trang 4Gãy ngang – gẫy Lefort:
- Gãy Lefort I (Gãy Guerin) Do một lực chấn thương mạnh vào vùng môi trên.Đường gãy: Bắt đầu ở phấn dưới hốc mũi, sang cả hai bên, đi ngang trên cácchóp răng, đi dưới và cách đường nối hàm trên gò- má # 1,5cm Cắt ngangqua lồi củ xương hàm trên và 1/3 dưới xương chân bướm hàm Bên trongcũng gãy ở 1/3 dưới xương lá mía hay vách ngăn mũi
- Gãy Lefort II (Gãy tách rời sọ mặt thấp, dưới xương gò má) Do lực chấnthương từ trước ra sau hoặc từ dưới lên trên mà điểm chạm ở vùng răng hayxương ổ răng hàm trên Đường gãy: Đi qua giữa xương chính mũi, làm tổnthương thành trong hốc mắt, qua xương lệ ra ngoài cắt bờ dưới hốc mắt cạnhhoặc qua lỗ dưới ổ mắt, rồi đi dưới xương gò má và đi ra sau qua lồi cũ xươnghàm trên, cắt qua 1/3 giữa xương chân bướm hàm Bên trong đường cắt đi quagiữa xương vách ngăn mũi Ở thể gãy này cung tiếp gò má còn nguyên vẹn
- Gãy Lefort III (Gãy tách rời sọ mặt cao trên xương gò má) Đường gãy chạytheo trán gò má, trán xương hàm và trán mũi, tổn thương vào xoang sàng,bướm, sâu vào sau hốc mắt Thường đó là những chấn thương rất nặng, nhưtai nạn ô tô, ngã từ trên cao xuống… Đường gãy đi từ trán mũi qua ổ mắt ra
bờ ngoài ổ mắt, chạy về phía sau đến chân bướm, cả 2 bên đều vỡ như vậy,thương tổn này sẽ làm cho khối xương mặt tách ra với nền sọ - phân ly sọ mặt
Hình 1 Các hình thái gãy Lefort nhìn thẳng
Trang 5Hình 2 Các hình thái gãy Lefort nhìn nghiêng
1.1.1.2 Gãy xương hàm dưới
Chiếm 40,7% gãy xương vùng hàm mặt
Có nhiều cách phân loại gãy XHD, các tác giả dựa vào vị trí của đườnggãy hay tính chất của tổn thương Có tác giả còn dựa vào sự liên quan của cácrăng nằm trên đường gãy từ đó đưa ra các hướng điều trị cho từng nhóm
Phân loại theo tổn thương của GUSTAV O KRUGER [8].
• Gãy đơn giản không di lệch (Simple) xương có thể bị mất liên tục
nhưng không thông thương với môi trường có thể là không di lệch
• Gãy cành tươi (Greenstick) noá mất đi sự liên tục của xương nhưng
còn màng xương, gãy cành tươi là một trong loại gãy mà đôi lúcc rất khóchuẩn đoán nó được phân biệt dựa trên xquang để phát hiện đường gãy
• Gãy phức hợp (Compound) đường gãy bị các cơ co kéo, di lệch, lợi bị
tổn thương với môi trường bên ngoài
• Gãy nát làm nhiều mảnh (Comminuted) do lực tác dụng trực tiếp
mạnh, gãy nát làm nhiều mảnh hay gặp do vết thương hoả khí
° Gãy nát làm nhiều mảnh không di lệch (Simple Comminuted).
° Gãy nát làm nhiều mảnh di lệch (Simple Comminuted).
Phân loại dựa vào vị trí đường gãy và phạm vi của tổn thương của DINGMAN RO và NATVIG P 1964 [18]
° Gãy chính giữa (Midline).
° Gãy vùng bên (Parasympyseal)
° Gãy cành ngang (Body).
Trang 6° Gãy góc hàm (Angle).
° Gãy cành cao (Ramus).
° Gãy lồi cầu (Condylar process).
° Gãy mõm vẹt (Eronoid process).
° Gãy xương ổ răng (Alveola process).
Hình 3 Phân loại gãy xương hàm dưới theo Dingman và Natvig Phân loại theo tính chất và số lượng đường gãy của HOPKINS R,
1986 (4)
• Gãy một phần.
• Gãy toàn bộ.
° Gãy một đường
˚ Gãy lồi cầu
˚ Gãy trong bào khớp
˚ Gãy ngoài bào khớp
Trang 7• Gãy góc hàm.
˚ Đường gãy ngang thuận lợi hay không thuận lợi
˚ Đường gãy đứng dọc thuận lợi hay không thuận lợi
• Gãy vùng răng nanh: Đường gãy ngắn di lệch hay đoạn dài di lệch
• Gãy vùng cằm
˚ Đường giữa thẳng đứng
˚ Đường giữa chéo
° Gãy hai đường
˚ Gãy cổ lồi cầu hai bên
˚ Gãy góc hàm hai bên
˚ Gãy vùng răng nanh hai bên
• Đường gãy đứng dọc và đường gãy chéo thuận lợi, đoạn gãy ít di lệch
• Đường gãy đứng dọc thuận lợi, đường gãy chéo không thuận lợi
• Đường gãy đứng dọc không thuận lợi, đường gãy chéo thuận lợi
° Gãy nhiều đường
• Gãy vùng cằm phối hợp với góc hàm hai bên
• Gãy vùng răng nanh phối hợp với gãy góc hàm và cổ lồi cầu
Ngoài ra gãy xương hàm dưới còn có gãy phối hợp 2 - 3 đường và có sự
di lệch phức tạp do sự co kéo của các cơ hàm
1.1.2 Các phương pháp điều trị gãy xương hàm
1.1.2.1 Phương pháp chỉnh hình [12]
- Chỉnh hình ngoài miệng
• Băng cầm đầu Barton J.R đề xuất năm 1819: Ưu điểm tiện lợi, dễ làm Nhược điểm: Cố định không chắc chắn Hiện nay còn sử dụng băngcầm đầu để cố định tạm thời khi sơ cứu
Trang 8• Khung bất động ngoài miệng Carl đề xuất năm 1823, ưu điểm dễ sửdụng Nhược điểm cồng kềnh, gây khó chịu cho người bệnh, đôi khi nhiễmtrùng, ngày nay không được dùng nữa.
- Chỉnh hình trong miệng
• Buộc dây số 8 Hippocrate đề xuất năm 400 trước công nguyên Cótác dụng cố định liên kết các răng trong một hàm Ngày nay vẫn còn được sửdụng rộng rãi
• Buộc dây hình thang và buộc dây theo Stout: Có tác dụng cố định vàliên kết các răng trong một hàm Kỹ thuật này ngày nay vẫn được sử dụng
• Cung nẹp đơn giản Thomas đề xuất năm 1881.Để cố định răng mộthàm Ngày nay kỹ thuật này ngày nay vẫn được sử dụng
• Buộc Leblane: Có tác dụng cố định liên hàm, nhất là trong trườnghợp mất răng xen kẽ
• Cung nẹp có móc: Tiguerstedt, Darnall đề xuất năm 1923 Có tácdụng cố định liên hàm chắc chắn Nhược điểm khó làm vệ sinh răng Ngàynay vẫn còn được sử dụng
• Buộc dây theo Ivy: Có tác dụng cố định liên hàm Ngày nay kỹ thuậtnày ngày nay vẫn được dung rộng rãi
Hình 4 buộc Ivy cố định 2 hàm
• Dùng máng trong miệng phối hợp với khung cố định ngoài miệng Kỹthuật này không tiện lợi bằng dùngmáng trong miệng phối hợp với băng cầmđầu Nó cồng kềnh, gây khó chịu cho người bệnh
1.1.2.2 Phương pháp phẫu thuật [8]
Trang 9- Phẫu thuật khâu kết hợp xương bằng dây kim loại
Gordon Buck đề xuất năm 1847 Kỹ thuật này cố định xương tương đốichắc chắn, nhưng trong trường hợp dập nát khuyết hổng xương thì không thựchiện được
- Phẫu thuật kết hợp xương bằng đóng đinh
Major đề xuất năm 1938 Kỹ thuật này dễ làm Đôi khi gây tai biến vìđóng vào ống răng dưới gây tổn thương thần kinh mạch máu Vì vậy mà ngàynay hầu như không dùng nữa
- Phẫu thuật kết hợp xương bằng nẹp vít
Hansmann đề xuất năm 1886 Ngày nay đã được các nhà sản xuát cho
ra đời nhiều loại nẹp vít với kích cỡ và chất liệu khác nhau để cố định xương
ở mọi vị trí có hiệu quả tốt, kể cả những nơi dập nát khuyết hổng xương.Ngày nay kỹ thuật này đang được sử dụng rộng rãi trên thế giới
Hình 5 Nẹp vít cố định hàm
1.2 Vai trò của dinh dưỡng điều trị
1.2.1 Kinh nghiệm ăn của người Việt Nam
Nhân dân ta từ lâu do kinh nghiệm thực tế của mình đã thấy vấn đề ănđiều trị rất quan trọng đối với người ốm Bát cháo cảm gồm thịt, trứng, hànhtỏi, tía tô và các loaị rau gia vị khác thực chất là nhằm cung cấp cho người ốmnhững chất đạm, vitamin, muối khoáng và kháng sinh cần thiết
Trang 10Các kinh nghiệm về ăn uống của nhân dân còn được ghi lại trong cácsách với một sự trùng lặp kỳ lạ và thú vị Nói đến y học cổ truyền Việt Nam,tất cả mọi người đều nhắc đến Tuệ Tĩnh (thế kỷ XIV) và Hải Thượng LãnÔng (thế kỷ thứ XVIII) Cả hai vị đại danh y này có thể đều được coi lànhững nhà dinh dưỡng học đầu tiên ở nước ta.
Tuệ Tĩnh [3,9] , trong tác phẩm nổi tiếng của mình "Nam dược thầnhiệu", đã nghiên cứu 586 vị thuốc nam, 3873 phương thuốc uống trị 184 loạichứng bệnh Tuệ Tĩnh đã làm một công tác tổng kết đồ sộ những kinh nghiệm
cổ truyền, dân gian, những giao lưu với y học Trung Quốc bắt đầu từ thế kỷthứ 2 sau công nguyên, những quyết định lớn của các Thái y đời Lý và nhất làcủa các Viện Thái y đời Trần đã khuyến khích trồng cây thuốc nam ở các địaphương để không bị lệ thuộc vào thuốc bắc Chính nhà Trần (1362) cũng đãphát động truyền thống trồng những cây kết hợp ăn với thuốc ở các gia đìnhnhư hành, hẹ, tỏi, tía tô, kinh giới, xương sông, rau mùi, nghệ, gừng, riềng,sả đến nay vẫn còn được áp dụng
Trong số 586 vị thuốc nam do Tuệ Tĩnh sưu tầm, tổng kết, có gần mộtnửa gồm 246 loại là thức ăn và gần 50 loại có thể dùng làm đồ uống
Đối với từng loại thức ăn làm thuốc, Tuệ Tĩnh đều xác định tinh vị vàcông dụng Ví dụ gan gà vị ngọt đắng, hơi ấm, bổ gan thận, mạnh dương, bớt
mờ mắt Rau muống vị ngọt, tính hàn, sinh da thịt, giải độc, tiêu thuỷ thũng.Cám hạ khí thông ruột, chống táo bón, phá tan hòn cục Vừng vị ngọt, nhuậntràng, ích khí, bổ trung, hoà 5 tạng Hạt sen ngọt bình, bổ trung, ích khí, anthần, giải nhiệt Tỏi tinh vị cay, nóng, công dụng giải độc, thông quan khỏi bítắc, phá hòn cục tiêu thức ăn
Tuệ Tĩnh còn đặt nền móng có thể coi là rất sớm cho việc trị bệnh bằng
ăn uống Ngoài những vấn đề bổ dưỡng chung trong các đơn thuốc, Tuệ Tĩnhcòn liệt kê các món ăn để chữa cụ thể chứng bệnh như cảm, ho, lao, ỉa chảy,
lỵ, phù, đau lưng, trĩ, mờ mắt, mộng tinh, liệt dương
Trang 11Tuy chưa có khái niệm về vai trò các chất dinh dưỡng, chất đạm,vitamin, vi chất, nhưng dựa vào kinh nghiệm thực tế của mình, Tuệ Tĩnh đã
kê những đơn thuốc ăn điều trị như một nhà dinh dưỡng học hiện đại
Khi bị cảm sốt, Tuệ Tĩnh khuyên ăn cháo nóng có hành, tía tô, cho uốngnước mía, nghĩa là đúng như quan niệm hiện đại là phải bổ sung nước vào cơthể khi sốt Cung cấp cho cơ thể các chất vitamin và kháng sinh thực vật, cácthức ăn dễ hấp thu, dễ tiêu, đối với bệnh tiêu chảy Tuệ Tĩnh đã chỉ định dùnggan gà, gan lợn, cá, đậu xị, hành để điều trị các chứng bệnh mờ mắt Hiện naychúng ta biết đó là bệnh khô mắt do thiếu vitamin A, cho nên phải cung cấpnhiều vitamin A có nhiều trong gan, cung cấp chất đạm, chất béo (ở gan, cá,đậu xị) để hấp thu và sử dụng tốt vitamin A Đối với bệnh lao, Tuệ Tĩnhkhuyên phải ăn nhiều thức ăn bổ dưỡng, nhất là các loại thức ăn mà ngày naychúng ta hiểu là giàu chất đạm như thịt, cá, trứng; các món ăn cần thay đổi và
sử dụng nhiều loại thịt để được ăn ngon miệng (thịt lợn, thịt vịt, thịt ếch, chim
sẻ, cá diếc ) Đối với người già, Tuệ Tĩnh khuyên phải đề phòng chứng bệnhtáo bón và khuyên nên dùng sữa bò Ngày nay chúng ta hiểu là dùng sữa bò là
để bổ sung chất đạm cho người có tuổi thường thiếu đạm do hấp thu kém vàđặc biệt là uống sữa giúp đề phòng thiếu calci, dẫn đến xương người có tuổi
bị xốp, bị loãng, dễ bị gãy xương
Lê Hữu Trác (1720 - 1790), hiệu là Hải Thượng Lãn Ông, được coi làmột trong những nhà bác học uyên thâm với những hiểu biết có tính chất báchkhoa và những công trình nghiên cứu về nhiều lĩnh vực ở thế kỷ thứ XVIII
Là nhà y học có học vấn sâu rộng, ông đã vận dụng quan niệm về sự nhất trígiữa con người và môi trường, ông chủ trương phải nghiên cứu đặc điểm thờitiết khí hậu nước ta với đặc điểm cơ thể con người Việt Nam để tìm ra nhữngphương pháp chẩn đoán, điều trị và phòng bệnh thích hợp
Hải Thượng Lãn Ông [4,14] đã dùng tài học uyên thâm kết hợp với nhữngkinh nghiệm chữa trị phong phú của mình, đã dồn hết tâm sức để biên soạn bộ y
Trang 12học toàn thư "Hải Thượng y tông tâm lĩnh" gồm 28 tập, 66 quyển viết về vấn đề
vệ sinh, dinh dưỡng, y đức, y thuật, dược khoa, chẩn trị các bệnh nội khoa, ngoạikhoa, phụ khoa, sản khoa, nhi khoa, nhãn khoa, cấp cứu
Về mặt dinh dưỡng, Hải Thượng Lãn Ông đã xác định được rõ tầm quantrọng của vấn đề ăn so với thuốc Theo ông "có thuốc mà không có ăn uốngthì cũng đi đến chỗ chết" Chữa bệnh cho người nghèo, ngoài việc cho thuốckhông lấy tiền, ông còn chu cấp cho cả gạo cơm để bồi dưỡng
Do thấy rõ được vai trò của ăn uống nên ông rất chú ý tới việc chế biếncác món ăn Trong "Nữ công thắng lãm", Hải Thượng Lãn Ông đã sưu tầmcách chế biến 28 loại mứt, 16 loại xôi, 61 loại bánh, 21 loại cơm, cháo, bún,cốm, 9 món ăn chay từ đậu phụ, 9 loại tương ngon từ tương Nhật Bản tớitương làm theo kiểu dân tộc của nhiều địa phương khác nhau trong nước.Trong chế biến thực phẩm, ông chú ý hướng dẫn cách sử dụng thức ăn thôngthường, không cầu kỳ đắt tiền như qủa khế, quả sấu, quả trám, quả nhót, cácloại đậu thường gặp như đậu xanh, đậu đen, đậu tương, củ từ, củ khoai, lạc,vừng, gạo tẻ, gạo nếp và rất quan tâm tới việc đảm bảo vệ sinh tinh khiết vàhương vị màu sắc Ông còn khéo léo kết hợp một số vị thuốc vào để nâng caogiá trị bổ dưỡng của thức ăn và trị bệnh như tô mộc, chua me, củ tóc tiên, hoahiên, lá cẩm, men rượu
Hải Thượng Lãn Ông đặc biệt chú ý tới vấn đề vệ sinh thực phẩm Theoông, thức ăn phải là chất bổ dưỡng cho cơ thể chứ không được là nguồn gâybệnh Muốn vậy, phải chú ý đậy thức ăn, phòng chống ruồi nhặng, tránh cácthực phẩm bị mốc, bị ôi, thiu, thịt súc vật toi, quả xanh, rau sống, nước lã, chú
ý các chất độc có sẵn trong thực phẩm như ở củ sắn Dựa vào kinh nghiệmthực tế, ông đã hướng dẫn ăn sắn đúng như những lời khuyên hiện đại để loạitrừ độc tố Hydrocyanic có trong sắn, nghĩa là sắn đã bóc vỏ ngâm một đêmtrong nước rồi hôm sau mới vớt ra luộc Ngoài thực phẩm, ông còn chú ý tới
Trang 13vệ sinh nguồn nước, khuyên không được phóng uế bậy, không được dùng cácnước bề mặt, nước ao, nước sông mà phải dùng nước giếng, nước mưa trong
ăn uống
Đọc những lời khuyên của ông về cách sử dụng các thực phẩm, chúng ta
có cảm tưởng như đang nghe những lời khuyên về ăn uống hiện đại
"Rau, tương thanh đạm đói lòng cũng ngon.
Ăn nhiều ngũ cốc tốt hơn" và "Chớ ham ăn thịt các loài cầm thú"
Ông còn khuyên không nên ăn mặn vì ảnh hưởng đến hoạt động của tim,làm cho "tim lạnh" Ăn "ngọt nhiều cũng chẳng ích gì", còn làm cho"thận yếu".Những lời khuyên sau đây cũng có thể được dùng trong tuyên truyền nếpsống lành mạnh hiện đại: Không nên hút thuốc; Không nên uống rượu Nếuuống thường xuyên thành nghiện rượu thì sẽ ảnh hưởng đến tim, phổi, "phếsuy, tâm hoãn và gan khô da vàng"
Một sự trùng hợp nữa là cả hai nền y học cổ truyền Đông, Tây đều đi tìmkiếm sự cân bằng Nếu nền y học cổ tryền phương Tây với Hypocrat đã khẳngđịnh tình trạng sức khỏe là sự cần bằng thể dịch, thì y học cổ truyền phươngĐông cũng nói tới sự cân bằng âm dương là điều kiện để con người khỏemạnh Và để tìm sự cân bằng đó, thì y học cổ truyền Đông Tây đều dựa vàobữa ăn Theo Hypocrat, trong điều trị, chủ yếu phải chú ý điều hòa các dịch vàphải dựa vào bữa ăn để lấy lại sự cân bằng đã mất do ốm đau Ông viết:
"Thức ăn cho người bệnh phải là phương tiện điều trị và các phương tiện điềutrị của chúng ta phải là các chất dinh dưỡng" Ông còn khuyên "Phải chú ýxem nên cho người bệnh ăn nhiều hay ăn ít, ăn một lúc hay ăn rải ra làmnhiều lần Lại phải chú ý tới thời tiết, địa phương, thói quen, tuổi tác củangười bệnh Cần biết chọn thức ăn về chất lượng cũng như về số lượng phùhợp với từng giai đoạn của bệnh" Theo y học cổ truyền phương Đông, sứckhỏe là sự cân bằng âm dương Căn cứ vào thực phẩm có chứa nhiều lượng
Trang 14nước hay ít, màu sắc lạnh (tím, xanh) hay nóng (đỏ, hồng), về trọng lượng nhẹhay nặng, về hình thể tròn hay dẹt mà chia ra thực phẩm thuộc loại âm haydương Thực phẩm,với tính chất âm dương của nó, sẽ góp phần tạo lại thế cânbằng khi cơ thể bị bệnh Nếu dương quá thịnh mà sinh bệnh thì bổ âm vàngược lại.
1.2.2 Quan điểm hiện đại điều trị bệnh thông qua ăn
Dinh dưỡng sớm giúp ngăn ngừa và phục hồi suy dinh dưỡng: SDD bệnhviện hiện nay chiếm tỷ lệ khá cao (30-50%) [10] Dinh dưỡng sớm hỗ trợ giúpngăn ngừa và giảm SDD bệnh viện Nhiều nghiên cứu trên thế giới và ViệtNam đã khẳng định Dinh dưỡng sơm có hiệu quả: Cải thiện nồng độ Pre-albumin; Nâng cao miễn dịch; Giảm tỷ lệ mắc bệnh & tử vong; giảm thời giandùng kháng sinh và ngày điều trị [5]
Ăn điều trị có tác dụng trực tiếp tới căn nguyên bệnh và căn nguyên sinhbệnh như đối với các bệnh nhiễm khuẩn, ngộ độc thức ăn, hôn mê do đạmhuyết cao, thiếu vitamin, suy dinh dưỡng, viêm loét dạ dày, hành tá tràng,viêm gan, vữa xơ động mạch, đái tháo đường…
Ăn điều trị còn nhằm nâng cao sức đề kháng chung của cơ thể chống lạibệnh tật Y học hiện đại đánh giá rất cao vai trò phản ứng của cơ thể trước cácbệnh tật Nhiều công trình nghiên cứu đã chứng minh là sự phát triển của cácquá trình sinh bệnh trong tất cả các bệnh nhiễm khuẩn và nhiễm độc phụthuộc một phần lớn vào phản ứng của cơ thể Ai cũng biết là cơ thể suy nhược
ăn, uống kém, dễ bị lao Sự phát triển của bệnh lao phụ thuộc phần lớn vàophản ứng của cơ thể hơn là sự thâm nhập ào ạt của trực khuẩn lao
Ăn điều trị cũng rất ảnh hưởng đến các cơ chế điều hoà thần kinh thểdịch [9] Sự rối loạn của cơ chế điều hòa này ảnh hưởng đến quá trình diễnbiến của bệnh và thường gây ra các rối loạn chức năng ở một số cơ quan và hệ
cơ quan Sự rối loạn chức năng này thường kèm theo các thay đổi cơ thể học Từ
Trang 15lâu, các bác sĩ lâm sàng đã thấy là những rối loạn chức năng dạ dày và ruột kéodài thường dẫn đến những thay đổi thực thể của cơ quan đó Trong số các cơ chếđiều hòa, đặc biệt phải kể đến sự điều hòa nội tiết và hệ thần kinh.
Ăn còn nhằm mục đích phòng bệnh Khi bệnh còn ở giai đoạn phát triểnkín đáo, chế độ ăn hợp lý, khoa học có thể ngăn chặn sự phát triển của bệnh
Ăn còn là biện phát để đề phòng các bệnh cấp tính khỏi trở thành mạn tính
Ăn điều trị sử dụng đều đặn sẽ làm giảm sự phát triển của bệnh mạn tính và
đề phòng tái phát
Nhiều công trình nghiên cứu đã chứng minh là chất và lượng thức ăn ănvào ảnh hưởng rất lớn đến hoạt tính của các nội tiết tố: Cho ăn nhiều glucidlàm tăng hoạt tính adrenalin; ăn nhiều protid làm tăng hoạt tính của thyroxin.Hoạt tính của adrenalin còn phụ thuộc vào lượng vitamin C ở thượng thận.[9]Những người có tăng toan dịch vị thường bị ợ chua, đau ở vùng thượng
vị, có cảm giác co thắt ở ngực Đa số bệnh nhân này dễ bị kích thích Diễnbiến đường huyết của những bệnh nhân này dao động rất lớn Khi lượngđường ở máu tăng lên thì sự tiết dịch của dạ dày giảm đi; khi lượng đườnghuyết giảm đi thì sự tiết dịch của dạ dày tăng lên Những dao động đột ngộtcủa đường huyết gây ra những dao động mạnh về tiết dịch dạ dày
Nếu cho người bệnh ăn giảm glucid để giảm sự tăng đường huyết và cho
ăn nhiều bữa gần nhau để đường huyết khỏi giảm xuống nhanh thì các triệuchứng tăng toan cũng sẽ mất đi Qua dẫn chứng trên, có thể thấy thành phầnhóa học và chế độ ăn có ảnh hưởng rất rõ đến cơ thể
Đại đa số người bệnh bị tăng toan dịch vị là những người thuộc loại thầnkinh yếu Khi ăn hạn chế glucid và ăn rải ra nhiều bữa, không những làm mấttriệu chứng tăng toan mà còn giúp người bệnh trở nên bình tĩnh và cân bằnghơn Như vậy là trong một số trường hợp, dịch thể trở thành yếu tố điều hòa,
hệ thần kinh thực vật trở thành bị điều hòa và như vậy là ăn uống có thể ảnhhưởng đến cơ chế điều hòa của hệ thần kinh thực vật Những nhận xét trên chỉ
Trang 16rõ: “Điều hòa thần kinh và dịch thể tồn tại ở trong cơ thể không phải riêng rẽ,
mà có liên quan chặt chẽ với nhau, hợp lại thành một thể thống nhất sinh lý”.Trong các bệnh tiêu hóa, ăn uống hợp lý là biện pháp điều trị chủ yếu vìđây là nơi chuẩn bị và sử dụng thức ăn
Biện pháp ăn điều trị còn có tác dụng lớn trong các bệnh chuyển hóa, đặcbiệt trong bệnh đái tháo đường
Có nhiều bệnh phát sinh do ăn uống không đúng, không hợp lý hoặc ănquá nhiều, hoặc ăn quá ít, hoặc đủ số lượng nhưng chất lượng không đủ,không cân đối Rất tiếc là những hậu quả của khẩu phần ăn không hợp lý nàyđược phát hiện rất chậm
Trong nhiều trường hợp, những triệu chứng rõ nét của một số bệnh cấptính thường qua đi rất nhanh Bệnh nhân tự coi mình đã khỏe rồi, trong khitính chất cấp tính đã âm ỉ chuyển thành mạn tính Chính trong giai đoạn âm ỉnày, nếu kịp thời sử dụng thức ăn thích hợp, có thể cắt đứt được sự phát triểncủa bệnh, không chuyển sang mạn tính Nếu ăn điều trị được sử dụng rộng rãitrong giai đoạn hồi phục thì khả năng lao động của người bệnh sẽ được phụchồi nhanh chóng và đề phòng được các biến chứng Có thể nói ăn điều trị làmột bộ phận không thể thiếu được trong các biện pháp điều trị tổng hợp, nơinào không có tổ chức ăn điều trị thì nơi đó không thể có điều trị hợp lý được
1.3 Chế độ dinh dưỡng cho bệnh nhân phẫu thuật
1.3.1 Nguyên tắc dinh dưỡng cho bệnh nhân phẫu thuật:
Chăm sóc bệnh nhân sau mổ, đặc biệt là dinh dưỡng đóng một vai trò rấtquan trọng, đảm bảo bệnh nhân có đủ sức để vượt qua sự thiếu hụt do bệnh lý,
do mất máu, dịch thể, stress Nuôi dưỡng bệnh nhân cả trước và sau khi phẫuthuật đóng vai trò quyết định sự phục hồi của người bệnh
Những bệnh nhân có tình trạng dinh dưỡng kém có tỉ lệ nhiễm khuẩncao, tỉ lệ tử vong tăng và gặp nhiều biến chứng sau phẫu thuật hơn so vớinhững bệnh nhân có tình trạng dinh dưỡng tốt.[10]
Trang 17Trong các trường hợp phẫu thuật cấp cứu, vấn đề dinh dưỡng chỉ đượcchú trọng sau phẫu thuật, còn các trường hợp mổ chương trình cần có sự hỗtrợ về dinh dưỡng cả trước phẫu thuật, chuẩn bị phẫu thuật và sau phẫu thuật
Dinh dưỡng thời kỳ trước phẫu thuật: Trước phẫu thuật, chế độ ăn
cần tăng cường chất dinh dưỡng cho người bệnh đủ sức chịu đựng phẫu thuật.Chế độ dinh dưỡng trong thời kỳ này cần đảm bảo:
- Tăng cường protein, vì sau phẫu thật thường làm cho cơ thể mất nhiềuprotein do chảy máu, vết thương, do viêm…
- Nhiều năng lượng, phải tăng thêm từ 10- 50 % và đôi khi phải tăng tới
100 % so với bình thường
- Hỗ trợ dinh dưỡng trước phẫu thuật cho bệnh nhân suy dinh dưỡng,cung cấp đầy đủ dinh dưỡng cho bệnh nhân từ trước 7-10 ngày trước phẫuthuật, kết quả sau phẫu thuật được cải thiện rõ ràng Duy trì chế độ dinhdưỡng cao ít nhất 1 tháng đối với bệnh nhân bị suy dinh dưỡng nặng
Dinh dưỡng trong thời gian chuẩn bị phẫu thuật: Trong thời gian
chuẩn bị phẫu thuật, chú ý các thức ăn giàu dinh dưỡng nhưng dễ hấp thu,đảm bảo giảm bớt cặn bã trong ruột, giảm vi trùng đường ruột nhất là khiphẫu thuật đường tiêu hoá, tránh nôn khi gây mê Thời gian chuẩn bị phẫuthuật thường là một ngày, một đêm (24 giờ), thời gian này không cần phảinhịn ăn, tuy nhiên cần lưu ý như sau:
Ngày trước hôm phẫu thuật: nên cho ăn nhẹ để không làm mệt bộ máytiêu hoá, ăn thức ăn mềm, ít chất xơ Bữa chiều ăn ít hơn bữa trưa
Sáng hôm phẫu thuật: Bệnh nhân phải nhịn ăn hoặc chỉ cho bệnh nhânuống ít nước đường hoặc một nước lọc
Dinh dưỡng sau khi phẫu thuật: Thời kỳ này đòi hỏi có chế độ ăn
đặc biệt phù hợp với bệnh nhân, giúp bệnh nhân phục hồi nhanh chóng Côngviệc chăm sóc về dinh dưỡng trong thời gian này rất quan trọng
Trang 18Tùy theo loại phẫu thuật mà việc nuôi dưỡng sẽ khác nhau Ngày đầusau mổ dinh dưỡng cho bệnh nhân thông qua dịch truyền tĩnh mạch, chủ yếu
bù nước, điện giải và cung cấp glucid đảm bảo đủ lượng calo cần thiết chonuôi dưỡng cơ thể, làm giảm giáng hoá protein Có thể truyền tĩnh mạch cácloại dịch glucoza 5%, glucoza 30%, NaCl 9 ‰, KCl 1 hoặc 2 ống Cho uống
ít một (50 ml cách nhau 1 giờ) nước đường, nước luộc rau, nước quả
Sau mổ 1 ngày nên cho ăn sớm, cho uống sữa, súp, nước cháo
Cho ăn uống như bình thường sau khi đánh hơi được, tăng dần số lượng
và mức độ đặc của đồ ăn, ăn chất dễ tiêu, dễ hấp thu
Sau phẫu thuật theo dõi các chỉ số: Mạch, nhiệt độ, huyết áp, nhịp thở,lượng dịch truyền vào, lượng nước mất đi qua nước tiểu, dịch dẫn lưu, dịchsonde dạ dày, dịch sonde hậu môn, …và tập vận động, theo dõi thời điểmđánh hơi…
1.3.2 Chế độ dinh dưỡng cho từng giai đoạn [4]
1.3.2.1 Giai đoạn khởi động ruột
Cơ cấu khẩu phần:
E (Kcal): 300-500
P(g) : < 10
L(g) : < 5
G (g) : < 50-100
* Nhu cầu các chất dinh dưỡng
NL: 35- 40 Kcal/kg cân nặng hiện tại/ngày
Protid: 1-1,2g/kg cân nặng hiện tại
Lipid: 15- 20% tổng năng lượng
* Đường nuôi
a Nuôi qua đường ruột
NL: 300-500 Kcal/ngày
Trang 19P: < 10g/ngày
L: < 5g/ngày
Số bữa ăn: 6-8 bữa/ngày
Ăn lỏng hoàn toàn (nước cháo, nước quả chín)
b Nuôi qua đường tĩnh mạch
Số lượng chất dinh dưỡng = nhu cầu – số lượng chất dinh dưỡng nuôiqua đường ruột
1.3.2.2.Giai đoạn chuyển tiếp 1 (Thời gian 2-3 ngày sau khi mổ)
Cơ cấu khẩu phần:
* Nhu cầu các chất dinh dưỡng:
NL: 35-40 Kcal/kg cân nặng hiện tại/ngày
Protid: 1-1,2g/kg cân nặng hiện tại
Lipid: 15- 20% tổng năng lượng
Số bữa ăn: 6-8 bữa/ngày
Ăn mềm (Cháo, súp, sữa, nước quả)
Thực phẩm: gạo, khoai tây, quả chín, sữa đã thủy phân protein và lipidchuỗi trung bình Trong các trường hợp đặc biệt, tùy theo độ cắt giảm diện
Trang 20tích hấp thu mà lựa chọn các thực phẩm công thức có chứa các chuỗi peptithoặc ở dạng acid amin và lipid ở dạng chuỗi trung bình.
b Nuôi qua đường tĩnh mạch
Số lượng chất dinh dưỡng = nhu cầu – số lượng chất dinh dưỡng nuôiqua đường ruột
1.2.2.3 Giai đoạn chuyển tiếp 2 (Thời gian 3 - 5 ngày sau mổ)
Cho ăn tăng dần và giảm dần truyền tĩnh mạch
Cơ cấu khẩu phần: E (kcal): 1200-1300
P (g) : 30 - 45
L (g): < 20
G (g): 250- 330
Nguyên tắc
* Nhu cầu các chất dinh dưỡng
Năng lượng: 35-40 Kcal/kg cân nặng hiện tại/ngày
Protid: 11,2g/kg cân nặng hiện tại Trong đó: Nuôi qua đường ruột 30 45g, phần còn lại nuôi qua đường tĩnh mạch
-Lipid: 15 -20% tổng năng lượng, nuôi qua đường ruột < 20g, phần cònlại nuôi qua đường tĩnh mạch
* Đường nuôi
a Nuôi qua đường ruột
Năng lượng: 1200 - 1300 Kcal/ngày
P: 30- 45g/ngày
L: < 20g/ngày
Số bữa ăn: 4-6 bữa/ngày
b Nuôi qua đường tĩnh mạch
Số lượng chất dinh dưỡng = nhu cầu – số lượng chất dinh dưỡng nuôiqua đường ruột
Trang 21Giai đoạn hồi phục
Cơ cấu khẩu phần:
Số bữa ăn: 4 - 6 bữa/ngày
1.4 Các phương pháp cho ăn
1.4.1 Các phương pháp cho ăn
Bên cạnh việc chỉ định các loại chế độ ăn như ăn thông thường hay ănphù hợp với bệnh lý, góp phần rất lớn trong phòng ngừa hay điều chỉnh cácrối loạn về dinh dưỡng, tác động đến kết quả điều trị bệnh nhân, thì việc hỗtrợ dinh dưỡng kịp thời và phù hợp qua các đường nuôi dưỡng như bổ sungdinh dưỡng đường miệng (oral feeding) hay dinh dưỡng qua ống thông hoặcdinh dưỡng qua đường tĩnh mạch là quan trọng trong việc ngăn ngừa hay điềutrị suy dinh dưỡng, thúc đẩy khả năng lành bệnh, giảm biến chứng, chi phíđiều trị và tần suất tử vong bệnh nhân nằm viện
Các đường nuôi dưỡng bệnh nhân được phân thành 2 loại [3,5]:
- Dinh dưỡng qua đường ruột (Enteral Nutrition- EN): Các chất dinhdưỡng được cung cấp qua đường miệng hay qua ống thông nuôi ăn (ốngthông tại dạ dày hay tại ruột non)
Trang 22- Dinh dưỡng qua đường tĩnh mạch (Parenteral Nutrition- PN): các chấtdinh dưỡng được trực tiếp vào máu qua đường truyền tĩnh mạch (ngoại vi haytrung tâm)
1.4.1.1 Dinh dưỡng qua đường ruột (qua đường miệng hay qua ống thông)
Ưu điểm
- Phù hợp với sinh lý cơ thể: co bóp ống tiêu hóa, tiêu hóa, hấp thu, bài tiết
- Tăng cường sức đề kháng cơ thể
- Duy trì tính toàn vẹn tế bào niêm mạc ruột giảm nguy cơ chuyển vị
vi khuẩn
- Tiết kiệm chi phí điều trị
Khuyết điểm
- Trở ngại về tiêu hóa, hấp thu dinh dưỡng do bệnh lý (mạn, cấp)
- Khó đạt đủ nhu cầu dinh dưỡng trong trường hợp bệnh lý nặng
- Biến chứng cơ học, chuyển hóa, nhiễm khuẩn, đặc biệt trong dinhdưỡng qua ống thông
1.4.1.2 Dinh dưỡng qua đường tĩnh mạch
Trang 23- Biến chứng chuyển hóa như tăng đường huyết, rối loạn nước, điện giải,thiếu dưỡng chất thiết yếu (đặc biệt acid béo thiết yếu), thiếu vi chất dinh dưỡng.
- Tắc ruột hoàn toàn
- Không thể đặt ống thông nuôi ăn tại ruột trong rò cung lượng cao hayviêm tụy cấp nặng
- Tăng nguy cơ nhiễm trùng cơ hội do đặt ống thông nuôi ăn như phẫuthuật vùng hàm mặt hay điều trị ung thư
Thời điểm bắt đầu nuôi ăn
- Thông thường bệnh nhân được chỉ định cho ăn trong vòng 24 tiếngnhập viện
- Đối với bệnh nhân nặng: đặt ống thông nuôi ăn ngay khi đã ổn địnhhuyết động, với các tiêu chuẩn như sau:
Đã hồi sức đủ dịch
CVP 8-12 mmHg
Áp lực động mạch trung bình ≥ 65mmHg
Liều thuốc vận mạch ổn trong 24 tiếng
CVO2 ≥ 70% hay MVO2 ≥ 65%
Lactate máu < 2mg/dL
Dư kiềm < 5mEq
- Đối với phẫu thuật:
Trong vòng 24 tiếng sau phẫu thuật (ESPEN Guideline-Mức độ A)
Trang 25Dinh dưỡng qua đường ruột
Có chỉ định dinh dưỡng qua ống thông (ÔT) ?
Ăn đạt ≤ 50% nhu cầu năng lượng? Dự kiến ≥ 4 tuần
Bổ sung thức uống DD Suy dinh dưỡng Mở dạ dày ra da
Nặng Nhẹ/vừa
Không
Có Không
ÔT tại ruột non
Có Không
Lựa chọn đường nuôi dưỡng qua đường ruột
Có
Trang 26Cách nuôi dưỡng
Bổ sung qua đường miệng (oral feeding)
- Dạng bữa ăn phụ (2-3 bữa ăn nhỏ)
- Hay bổ sung thức uống dinh dưỡng (100-250ml/lần × 2-3 lần/ngày)
Qua ống thông
- Dạng bơm (bolus): thức ăn lỏng cho qua syringe có thể tích >50ml,bơm với tốc độ chậm, trong một khoảng thời gian đã định (30-60 phút/ mỗibữa ăn), thường 4-6 bữa ăn trong ngày (đôi khi 8 bữa ăn) Có thể bắt đầu100ml/bữa ăn, sau đó tăng dần mỗi 50ml/bữa ăn theo khả năng dung nạp thức
ăn của người bệnh, cho đến khi đạt đủ nhu cầu dinh dưỡng Lưu ý: không ápdụng cho nuôi ăn tại ruột non
- Ngắt quãng: thường dùng dạng nhỏ giọt trọng lực Nuôi ăn được tiến hànhsuốt 24 tiếng với những khoảng nghỉ, như nuôi ăn 2-3 tiếng với 2 tiếng nghỉ
- Truyền liên tục qua bơm điện: Bắt đầu 20-30ml/ giờ, tăng dần thể tíchtheo khả năng dung nạp thức ăn của người bệnh cho đến khi đạt đủ nhu cầudinh dưỡng
- Dinh dưỡng đường ruột tối thiểu: nhỏ giọt trọng lực hay truyền liên tụcqua bơm điện với thể tích 50ml, 4 đến 6 lần trong ngày Lưu ý: Dùng trongsuy giảm chức năng dạ dày ruột, nhưng không có chống chỉ định cho ăn quađường ruột
1.4.3 Nuôi dưỡng qua đường tĩnh mạch (DDTM)
1.4.3.1 Dinh dưỡng tĩnh mạch bổ sung: thường dùng tĩnh mạch ngoại vi Chỉ định
Không đạt được đủ nhu cầu dinh dưỡng qua đường ruột trên 3 ngày dosuy giảm chức năng dạ dày ruột
Chống chỉ định
Trang 27- Chức năng ruột hoạt động tốt
- Khi nguy cơ tĩnh mạch vượt quá lợi ích mang lại như tăng đườnghuyết nặng (>300mg/dL); tăng ure/máu nặng; tăng áp lực thẩm thấu(>300mOsm/ Kg); rối loạn điện giải nặng (tương đối)
- Không thể thiết lập đường truyền tĩnh mạch
1.4.3.2 Dinh dưỡng tĩnh mạch toàn phần: thường dùng tĩnh mạch trung tâm Chỉ định
- Mất chức năng ruột hoàn toàn: viêm ruột nặng, liệt ruột hoàn toàn sauphẫu thuật
- Tắc ruột hoàn toàn
- Tương tự như trong DDTM bổ sung
1.4.3.3 Lựa chọn công thức dinh dưỡng tĩnh mạch
Theo đường truyền tĩnh mạch
- Áp lực thẩm thấu dịch truyền ≤ 850 mOsm/L đối với DDTM ngoại vi
- Áp lực thẩm thấu dịch truyền > 850 mOsm/L đối với DDTM trung tâm
Theo loại bệnh lý
Tình trạng bệnh lý Công thức dinh dưỡng
Bệnh lý thông thường Glucose, acid amin chuẩn (thiết yếu:
không thiết yếu= 60:40 hay 50: 50), nhũdịch béo
Phẫu thuật, chấn thương, bỏng
nặng
Glucose, acid amin chuẩn, nhũ dịch béo
bổ sung MCT, omega 9 hay 3, glutamin
Trang 28(Dipeptiven)Nhiễm trùng nặng/SIRS Acid amin chuẩn, nhũ dịch béo giảm hàm
lượng omega 6, bổ sung MCT, omega 9hay 3
bổ sung MCT, omega 9 hay 3
Xơ gan/ suy gan/ hôn mê gan Glucose, acid amin có bổ sung A.A phân
nhánh (BCAA) +/- nhũ dịch béo giảmhàm lượng acid béo omega 6, bổ sungMCT hay omega 9 hay 3
Suy thận Glucose, acid amin chuẩn, nhũ dịch béoDDTM lâu dài (như ruột ngắn) Glucose, acid amin chuẩn, nhũ dịch béo
ít phytosterol
1.4.3.4 Cách truyền phối hợp
- Tỉ lệ năng lượng không từ đạm (NPC-Non protein calorie): béo: đường
có thể 30:70 hay 40:60 hay 50:50 (phù hợp cho bệnh nhân suy hô hấp)
- Nitrogen: NPC tối thiểu 100 (số gram protein: 6,25=số gram nitrogen)
- Tránh truyền từng chai vì khả năng sử dụng các chất sẽ không hiệu quả,tăng đường huyết hay ure/máu
- Nên truyền các chất cùng một lúc (như túi 3 ngăn hay túi tất cả trongmột) trong 20-24 tiếng Tuy nhiên phải tuyệt đối vô trùng, tuân thủ sự tươnghợp và tránh tương kị giữa các chất khi pha trộn
LƯỢC ĐỒ LỰA CHỌN CON ĐƯỜNG NUÔI DƯỠNG [13]
Trang 29Ăn +/- uống bổ sung DD* Nuôi ăn qua ống thông Đánh giá chức năng
ruột hoạt động?
Đạt >60% nhu cầu năng lượng/Ăn/qua Tiếp tục DDTM
3 ngày đầu ống thông
Tiếp tục DD qua ống thông Bổ sung DDTM
1.5 Đánh giá tình trạng dinh dưỡng người bệnh
1.5.1 Mục tiêu:
- Xác định mức độ và nhu cầu dinh dưỡng của người bệnh
- Xây dựng được chế độ dinh dưỡng phù hợp với thể trạng và tính chấtbệnh lý của người bệnh
1.5.2 Công cụ đánh giá dinh dưỡng
Tổ chức Y tế thế giới khuyên dùng “chỉ số khối cơ thể” (Body MassIndex - BMI, WHO 1995) [10] để đánh giá tình trạng dinh dưỡng của ngườitrưởng thành Cân nặng của người bệnh được tính bằng Kilogam và chiều caođược tính bằng mét BMI được tính theo công thức sau:
BMI = Cân nặng
(chiều cao)2
Trang 30Một trong những vấn đề của bệnh nhân nằm điều trị tại bệnh viện đó lànguy cơ suy dinh dưỡng Suy dinh dưỡng là tình trạng thiếu dinh dưỡng, kếtquả của việc cung cấp chất dinh dưỡng không đầy đủ hoặc không có khả nănghấp thụ hoặc sử dụng các chất dinh dưỡng qua đường ăn uống đưa vào
Suy dinh dưỡng sẽ làm giảm chức năng nhận thức, khả năng hoạt độngcủa cơ thể, chức năng tim mạch, hệ tiêu hóa, chức năng hệ nội tiết, khả năng
đề kháng, làm lành vết thương…Từ đó kéo theo việc chữa trị, quá trình hồiphục của người bệnh bị kéo dài, khả năng tử vong tăng lên
Hầu hết người ta xác định một người bị suy dinh dưỡng khi chỉ số BMI
< 18,5 Một điều quan trọng là chỉ số BMI chỉ là cách ước lượng thống kêcũng tuỳ thuộc vào vùng, miền và giới tính Tuy nhiên BMI không thể sử