Ở Việt Nam bệnh nhân chấn thương cột sống lưng - thắt lưng ngày mộtnhiều, nhưng một số ít được điều trị sau giai đoạn cấp, còn phần lớn trở vềnhà không qua giai đoạn điều trị phục hồi –
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
Chấn thương cột sống là thương tích phổ biến ở các nước trên thế giới và
có xu hướng ngày càng tăng do tai nạn lao động, giao thông, sinh hoạt, thểthao, thiên tai và chiến tranh gây ra Theo thống kê tại Mỹ, hàng năm cókhoảng từ 20 đến 64 trường hợp CTCS trên 100.000 dân/năm, chi phí tốnkém hàng tỷ đô la cho việc điều trị cho bệnh nhân [13], trong đó chấn thươngcột sống vùng ngực - thắt lưng là hay gặp nhất và phần lớn kèm theo tổnthương tuỷ sống Chấn thương cột sống lưng - thắt lưng là thương tổn ở đoạncột sống từ đốt sống ngực 11 đến đốt sống thắt lưng 2 Chấn thương cột sốnglưng – thắt lưng là loại chấn thương thường gặp trong tai nạn lao động, giaothông và sinh hoạt Chấn thương cột sống lưng - thắt lưng chiếm phần lớn trongtổng số chấn thương cột sống (CTCS), tuy ít khi tử vong nhưng để lại di chứngrất nặng nề, ảnh hưởng nhiều đến đời sống người bệnh, gia đình và xã hội
Ở Việt Nam bệnh nhân chấn thương cột sống lưng - thắt lưng ngày mộtnhiều, nhưng một số ít được điều trị sau giai đoạn cấp, còn phần lớn trở vềnhà không qua giai đoạn điều trị phục hồi – đây là một giai đoạn hết sức quantrọng, một số đã tử vong khi về nhà, số khác phải tái nhập viện vì các biếnchứng nặng do di chứng liệt gây ra Đồng thời, những di chứng do liệt 2 chidưới sau chấn thương cột sống ảnh hưởng rất lớn đến người bệnh, trong đó có88,8% không làm được việc gì, 11,2% chỉ làm được việc nhẹ [8] Chính vìvậy, việc điều trị sớm cho bệnh nhân sau chấn thương cột sống là vô cùngquan trọng
Hiện nay, tại khoa Cột sống ít xâm lấn tại bệnh viện Châm cứu trungương đã tiếp nhận điều trị rất nhiều ca liệt 2 chi dưới sau chấn thương cộtsống lưng - thắt lưng đã phẫu thuật Tình trạng này không những ảnh hưởngđến khả năng lao động, sinh hoạt của bệnh nhân mà còn trở thành gánh nặng
Trang 2cho xã hội Vì vậy, việc điều trị sớm là cần thiết, giúp bệnh nhân có khả nănglao động, sinh hoạt, tái hòa nhập với xã hội Nhằm mục đích có một cái nhìntổng quát về bệnh nhân chấn thương cột sống lưng-thắt lưng đã phẫu thuật vàhiệu quả của phương pháp điều trị bằng điện châm, tôi thực hiện nghiên cứu
đề tài: “Đánh giá tác dụng của điện châm trong điều trị liệt hai chi dưới sauchấn thương cột sống lưng - thắt lưng đã phẫu thuật”
Với 2 mục tiêu:
1 Nghiên cứu tình trạng bệnh nhân liệt 2 chi dưới sau chấn thương cột sống lưng – thắt lưng đã phẫu thuật
2 Đánh giá kết quả điều trị bằng điện châm trong điều trị bệnh nhân liệt
2 chi dưới sau chấn thương cột sống lưng - thắt lưng đã phẫu thuật.
Trang 3CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Giải phẫu cột sống
Cột sống bao gồm 7 đốt sống cổ, 12 đốt sống lưng, 5 đốt sống thắtlưng, 5 đốt sống cùng liền nhau và xương cụt tạo nên một giá đỡ vữngchắc cho cơ thể [4]
- Các đốt sống cổ đặc biệt so với các đốt sống khác là ở mấu ngang có lổnhỏ cho động mạch ống sống đến não Cấu tạo đặc biệt của đốt sống đội C1
và đốt sống trục C2 cho phép đầu quay sang bên
- Các đốt sống từ ngực 1 (T1) đến ngực 10 (T10) nối với các xương sườntạo thành lồng ngực, hai đốt T11 và T12 nối với 2 xương sườn cụt Các đốtsống ngực cử động hạn chế do bởi khung sườn
- Các đốt sống thắt lưng có cấu tạo to hơn do phải chịu lực phần lớn của cơthể Tầm hoạt động của đốt sống lưng rộng hơn, cúi ngữa, nghiêng và xoay
- Các xương cùng liền nhau, hai bên có các lổ nhỏ cho các dây thầnkinh đi qua
- Cuối cùng là xương cụt
Các đốt sống tư C1 đến L2 có lỗ sống tạo nên ống sống, bảo vệ tủy sống.Tủy sống là đường thần kinh từ não chạy theo ống sống Từ tủy sống các dâythần kinh đi khắp cơ thể Các cảm giác và vận động thu được là nhờ thông tin
đi qua tủy sống, ngoài ra còn chi phối dinh dưỡng, vận mạch
Cột sống lưng – thắt lưng trong nghiên cứu đề tài là khu vực tiếp giápgiữa cột sống ngực (là đoạn cột sống “cố định”) và cột sống thắt lưng (là đoạncột sống “di động”) Khu vực này kéo dài từ đốt sống ngực thứ 11 đến hết đốtsống thắt lưng thứ 2 Ngoài đặc điểm là khu vực tiếp giáp giữa đoạn cột sống
“cố định” với đoạn cột sống “di động”, khu vực này còn có một đặc điểm giải
Trang 4phẫu khác biệt so với các vùng khác là ở khu vực này có đoạn cuối của tủysống, gọi là phình thắt lưng và chóp tủy Ở đoạn này tủy phình to rồi thon lại
và kết thúc thành một chóp nhọn gọi là chóp tủy Chóp tủy thường nằm ở vịtrí giữa đốt sống thắt lưng 1 và đốt sống thắt lưng 2 Trong khu vực phình thắtlưng và chóp tủy có nhiều trung tâm thần kinh quan trọng chỉ huy toàn bộhoạt động của hai chân và hoạt động niệu, sinh dục
Hình 1.1 Giải phẫu cột sống
1.2 Chấn thương cột sống lưng – thắt lưng
Đoạn lưng – thắt lưng là đoạn cột sống hay bị chấn thương Khi bị chấnthương ở vùng này, các đốt sống có thể bị gãy, các dây chằng hoặc đĩa đệm
có thể bị rách, đứt, vỡ ra, đồng thời ảnh hưởng đến các mạch máu nuôi dưỡngcột sống ngực-thắt lưng và tủy sống Các đốt sống ngực - thắt lưng nhận máunuôi dưỡng từ các mạch gian sườn và thắt lưng Tủy sống được tưới máu bởihai hệ thống, động mạch tủy trước và sau, tách biệt nhau Mặt trước tủy cóđộng mạch tủy trước, cung cấp máu cho 2/3 trước của tủy, nên khi cột sống
vỡ có các mảnh của thành sau thân đốt chèn làm giảm tới 80% tưới máu củatủy Đặc biệt, đoạn tủy ngực thấp và thắt lưng được động mạch Adamkiewicz
Trang 5tưới máu chỉ với một nguồn chính từ động mạch rễ trước Do sự sắp xếp gốilên nhau, nên hai hệ thống mạch trước và sau không có sự hỗ trợ tưới máu,nhất là ở đoạn ngực, nên tủy dễ bị thương tổn khi có gẫy xương gây chèn ép ởphía trước.
Người ta chia các loại thương tổn của cột sống từ ngực trở xuống thànhnhiều loại dựa trên lí thuyết của Dennis về 3 cột vững [11]
Thương tổn cột giữa có mảnh rời
Thương tổn có nguy cơ biến dạng cột sống sau này
+ Mất vững độ II (mất vững thần kinh): chấn thương có thương tổnthần kinh
+ Mất vững độ III: vừa mất vững cơ học vừa mất vững thần kinh
Hình 1.2 Các cột vững theo lý thuyết của Dennis
Trang 6Tỷ lệ gãy từ 2 cột trở lên rất cao, đồng nghĩa với việc cột sống bị mấtvững một cách trầm trọng Trong nhiều trường hợp, tủy bị thương tổn do cácmảnh vỡ của xương, đĩa đệm, dây chằng hoặc bản thân các đốt sống di lệchchèn ép vào, vì vậy phải phẫu thuật để cố định lại đốt sống
Hình 1.3 Chấn thương cột sống thắt lưng đã được nẹp vis
1.3 Tủy sống
Ở người trưởng thành, tủy sống dài khoảng 42-45cm, nặng trung bình 30gam [1], nối tiếp ở phía trên với hành tủy, kết thúc ở chóp tủy Chóp tủy hìnhthành từ chỗ xuất phát của rễ cùng S4 và kết thúc ở dưới chỗ xuất phát của rễ cụt.Tủy sống nằm trong ống sống nhưng không chiếm hết lòng ống sống vàngắn hơn ống sống do cột sống phát triển nhanh hơn tủy sống ở ngang mức
bờ trên thân đốt sống L2, tủy sống kết thúc ở chóp tủy, dưới đó chỉ có các rễthần kinh và dây tận cùng tạo thành đuôi ngựa đi xuống ống sống cùng Cácthần kinh ngực - thắt lưng chui ra qua lỗ gian đốt sống tương ứng nhưng đoạntủy nằm cao hơn so với đốt sống tương ứng Đốt T11 và khoảng liên gai ngaydưới, liên quan đến ba đoạn tủy của ba đôi dây thần kinh L1, L2, L3 Đốt T12
và khoảng liên gai ngay dưới liên quan với nguyên ủy các dây thần kinh cùng
Trang 7Các rễ trước và sau của thần kinh sống tách rời nhau và đi xuống trongkhoang dưới nhện Tới ngang lỗ gian đốt, rễ sau có một chỗ phình, đó chính
là hạch gai, được tạo nên bởi các tế bào thần kinh cảm giác Sau hạch gai, các
rễ trước và sau chập lại tạo thành dây thần kinh sống hỗn hợp
Mỗi đốt tủy chi phối cảm giác và vận động của một vùng (khoanh hoặcdải) nhất định của cơ thể
Tủy sống còn có hệ thống thần kinh thực vật là phần thần kinh chỉ huycác cơ trơn, các tuyến hoạt động ngoài ý muốn, chi phối các cơ quan nội tạngnhư: tuần hoàn, hô hấp, tiêu hóa, bài tiết và quá trình chuyển hóa chất trong
cơ thể Hệ này gồm hai phần: hệ giao cảm và hệ phó giao cảm
1.4 Sinh lý tủy sống
Tủy sống có chức năng dẫn truyền, là nơi tích hợp các thông tin cảmgiác và vận động[3] Chất trắng của tủy sống gồm những sợi trục thần kinhhợp lại thành các bó dẫn truyền: gồm các bó dẫn truyền đi lên (các bó cảmgiác) và các bó dẫn truyền đi xuống (bó vận động) Ngoài ra giữa các nhânvận động của sừng trước và nhân cảm giác của sừng sau cũng có các sợi dẫntruyền liên hợp Chất xám của tủy sống, là trung tâm của một số phản xạ Cácphản xạ của tủy sống, là các phản xạ tự động nhưng chịu sự điều phối của não
bộ để tạo nên một hệ điều hành thống nhất toàn bộ hoạt động của cơ thể
1.5 Tổn thương tủy sống
Hình 1.4 Tổn thương tủy sống
Trang 8Tủy sống cùng với não hình thành nên hệ thần kinh trung ương (centralnervous system - CNS) Tủy sống điều phối cử động và cảm giác của cơ thể.Tủy sống bao gồm các nơron và các sợi thần kinh dài được gọi là các sợi trục(axon) Các sợi trục trong tủy sống có nhiệm vụ truyền những tín hiệu từ bộnão xuống (dọc theo các đường nhỏ đi xuống) và truyền lên trên bộ não (dọctheo các đường nhỏ đi lên Bộ não và tủy sống bị giới hạn trong các khoangxương bảo vệ nhưng việc này lại làm cho chúng dễ bị tổn thương sức ép dotình trạng sưng tấy hoặc chấn thương mạnh Tổn thương tuỷ sống (TTTS) làtổn thương đối với các dây thần kinh trong ống tủy sống; phần lớn các trườnghợp TTTS có nguyên nhân do chấn thương cột sống gây nên Do đó nó gâyảnh hưởng đến khả năng của tủy sống trong việc gửi và nhận tín hiệu từ nãođến các hệ của cơ thể điều khiển cảm giác, vận động và chức năng tự chủ của
cơ thể dưới mức tổn thương
1.6 Sinh lý bệnh sau chấn thương tủy sống
Diễn biến bệnh lý sau chấn thương tủy sống có thể phân theo 2 cơ chế :thương tổn tiên phát và thứ phát [10] Thương tổn tiên phát do lực chấnthương tác động trực tiếp lên tổ chức tủy làm đứt các sợi trục, dập nát các tếbào thần kinh, đứt các mạch máu Thương tổn thứ phát xảy ra do tủy sống bịthiếu tưới máu do ống sống bị vỡ gây chèn ép, do chảy máu, do phù nề hoặc
do tình trạng tụt huyết áp dẫn đến hoại tử tế bào thần kinh
Ngay sau khi bị chấn thương, tủy có thể bị sốc, biểu hiện bằng tình trạngmất hoàn toàn các phản xạ, vận động và cảm giác phía dưới đoạn tủy bị chấnthương Các triệu chứng của sốc tủy, thường kéo dài từ 48 giờ - 72 giờ Tronggiai đoạn này rất khó tiên lượng về khả năng hồi phục Thương tổn tiên phát
và thứ phát của tủy sống, hiệu quả của sơ cứu, cấp cứu và điều trị là nhữngyếu tố có tính quyết định về di chứng sau này của bệnh nhân
Trang 9Hình 1.5 Cơ chế tổn thương tủy vùng nón tủy
1.7 Các biến chứng của liệt 2 chi dưới do chấn thương cột sống
Chấn thương cột sống có thể gây ra liệt 2 chi dưới, tình trạng này khôngnhững ảnh hưởng đến khả năng lao động, sinh hoạt của bệnh nhân mà còn trởthành gánh nặng cho xã hội Ngoài ra, những người bị liệt 2 chi dưới còn dễ
bị kèm theo các biến chứng như:
- Loét do tỳ đè: sự đè ép lâu lên mô sẽ làm bít tắc dòng máu và dịch kẽ,gây thiếu máu, đau, hoại tử và tạo mảng mục của mô bị chết
Hình 1.6 Loét do tỳ đè
-Biến chứng hô hấp: viêm phổi
Trang 10- Biến chứng tiết niệu: rối loạn tiểu tiện có thể làm nhiễm khuẩn tái diễn,chít hẹp niệu đạo, sỏi bàng quang, trào ngược bàng quang niệu quản, viêm đài
bể thận và suy thận mạn
- Viêm tắc tĩnh mạch chi: do nằm lâu, ít vận động
- Co cứng chi, dính khớp: do ít vận động
- Đau thần kinh dưới mức tổn thương, chứng bỏng buốt
- Các rối loạn về sinh dục, tình dục
- Các rối loạn thần kinh thức vật: cơn tăng huyết áp, tăng tiết mồ hôi, rốiloạn thân nhiệt, phù nề do thiểu dưỡng
Chính vì vậy, việc điều trị phục hồi chức năng vận động 2 chi dưới chobệnh nhân sau chấn thương cột sống lưng – thắt lưng đã phẫu thuật là cần thiết
và thực hiện càng sớm càng tốt, giúp bệnh nhân sớm hòa nhập trở lại với xã hội
1.8 Rối loạn cơ tròn
- Rối loạn cơ tròn bàng quang
Là một rối loạn hay gặp nhất trong các rối loạn cơ tròn ở nhiều mức khácnhau từ kín đáo tới rầm rộ Gồm:
+ Tiểu khó: Khi đi tiểu bệnh nhân phải rặn, đi lâu hết bãi hoặc đi mỗi lầnmột ít và luôn có cảm giác buồn tiểu (cảm giác tiểu không hết bãi), thườngkhông kèm tiểu buốt
+ Bí tiểu: Bệnh nhân không có cảm giác buồn tiểu hoặc vẫn cónhưng rặn mãi không thể tiểu được vì cơ tròn không mở Lúc đó sờ thấy bàngquang căng phồng (cầu bàng quang) Khi bàng quang quá căng, áp lực bêntrong lớn làm nước tiểu rỉ ra ít một (tiểu do nước tiểu tiểu trào ra) hoặc kíchthích gõ bàng quang có thể làm cơ tròn mở và bệnh nhân tiểu được Người tagọi là tích tủy tự động hoặc bàng quang tự động
Trang 11Rối loạn này thường do tổn thương cung phản xạ làm người bệnh mấtcảm giác buồn tiểu hoặc do tổn thương tủy sống các hoạt động phản xạ đượcgiải phóng, kích thích cơ tròn co thắt nhiều hơn gây bí tiểu Cần phân biệt với u
xơ tiền liệt tuyến khi có tiểu khó hoặc bí tiểu ở nam giới hoặc phụ nữ có thai
- Tiểu tự động
+ Tiểu vãi: Nước tiểu tự chảy ra, không tự ngừng được ngoài ý
muốn của bệnh nhân, thường gặp khi bệnh nhân hôn mê, tổn thươngphình tủy thắt lưng, chóp cùng đuôi ngựa…
+ Tiểu dầm: Nước tiểu tự chảy ra và tự ngừng không theo ý muốn củangười bệnh gặp trong tổn thương trên phình tủy thắt lưng nhưng không gâytăng trương lực vòng ngoài nhiều, do tổn thương hạ khâu não hay thùy cạnhgiữa Loại rối loạn này thường dẫn đến loét vùng cùng cụt, nhiễm khuẩn tiếtniệu ngược dòng Tiểu tự động thường gặp trong các tổn thương nặng nề củanão, tủy Tiên lượng nặng
- Rối loạn cơ tròn hậu môn
Rối loạn cơ tròn hậu môn không thường xuyên như rối loạn cơ trònbàng quang, nhưng nếu có thì thường đi kèm với rối loạn cơ tròn bàng quang
+ Bí đại tiện (táo bón): Bệnh nhân không đi đại tiện được trong nhiềungày, có thể có cảm giác mót rặn nhưng không đại tiện được vì cơ trònhậu môn không mở Khám thấy hố chậu trái đầy, lổn nhổn các cục phâncứng, đôi khi bệnh nhân chướng bụng hoặc kèm đau bụng (chú ý khi tắcruột) Táo có thể do trường hợp khác không phải do thần kinh như: chế độ ăn,bệnh nhân bất động lâu ngày, liệt ruột cơ năng…
+ Ðại tiện vãi (đại tiện không tự chủ): Thường bệnh nhân mất cảm giácmót rặn, phân tự đùn ra do cơ tròn hậu môn luôn mở Loại rối loạn cơ trònnày cũng như đái vãi rất dễ loét và bội nhiễm Cần chú ý cần phân biệt với ỉachảy nhất là ở người già Tiên lượng nặng
Trang 121.9 Điện châm điều trị liệt 2 chi dưới sau chấn thương cột sống lưng-thắt lưng
Liệt 2 chi dưới do chấn thương cột sống lưng-thắt lưng trong y học cổtruyền có nguyên nhân là bất nội ngoại nhân Ở Việt nam, đã có nhiều nhàchâm cứu như An Kỳ Sinh, Cao Lỗ thời Thục An Dương Vương, từ 1136 -
1377 có các nhà châm cứu nổi tiếng như Châu Canh, hoặc thế kỷ 15 cóNguyễn Đại Năng, Vũ Bình Phủ (Nam Dương Bình ) có để lại tác phẩm nhưchâm cứu Tiệp hiệu diễn ca, Y thư lược sao đều có giới thiệu nói về kinhnghiệm chữa bệnh bằng châm cứu như điều trị các chứng nuy (liệt,tê, bại, teocơ ) Kế thừa và phát huy những kinh nghiệm của cha ông để lại, GSNguyễn Tài Thu đã áp dụng châm cứu kết hợp với y học hiên đại để điều trịbệnh từ năm 1966
Năm 1972 khi chăm sóc cho thương binh bị tổn thương tuỷ sổng,GSNguyễn Tài Thu,GS Đặng Đình Huấn, Dương Văn Hạng đã áp dụng điệnchâm phục hồi liệt cho thương binh
Điện châm là phương pháp dùng một xung điện tác động lên các huyệtchâm cứu để phòng và chữa bệnh Dòng điện được tác động lên huyệt quakim châm Đây là phương pháp kết hợp chặt chẽ giữa phương pháp chữa bệnhbằng châm cứu (của YHCT) với phương pháp chữa bệnh bằng xung điện (củaYHHĐ)
Do đó phương pháp điện châm có đặc điểm:
- Sử dụng tác dụng chữa bệnh của huyệt vị, kinh lạc bằng các phươngpháp châm sâu, xuyên kinh, xuyên huyệt (phương pháp mãng châm)
- Sử dụng tác dụng kích thích thần kinh và cơ của xung điện
1.9.1 Cơ sở lý luận.
Chấn thương cột sống lưng-thắt lưng gây khí trệ huyết ứ, làm kinh mạchtắc nghẽn, dẫn đến liệt 2 chi dưới Do vậy việc điều trị bằng điện châm nhằmmục đích thông kinh hoạt lạc, hành khí hoạt huyết, tiêu ứ, chọn huyệt theo
Trang 13nguyên tắc kinh mạch sở quá, chủ trị sở cập, tức là kinh lạc đi qua vùng nàothì chữa bệnh vùng đó, tuần kinh thủ huyệt tức là lấy ngay huyệt trên đườngkinh đi qua vùng bị bệnh Do các bệnh nhân vào điều trị ngay sau giai đoạn cấpcứu nên tất cả đều là thực chứng, vì vậy khi châm cứu chủ yếu dùng tả pháp.Như vậy sẽ sử dụng các huyệt tiêu biểu nằm trên đường kinh đi qua phần
bị liệt Ngoài ra còn sử dụng các huyệt bổ, tả toàn thân và các huyệt Giáp tích cóliên quan tới tiết đoạn thần kinh bị tổn thương chi phối vận động 2 chi dưới
1.9.2 Phác đồ huyệt.
Kết hợp những lý luận trên cùng với tham khảo quy trình kỹ thuật điệnchâm điều trị liệt do chấn thương cột sống, do Bộ Y tế ban hành theo quyếtđịnh số 792/QĐ-BYT ngày 12/3/2013 [9], chúng tôi có phác đồ sau:
Trang 14* Nếu rối loạn cơ tròn châm tả thêm các huyệt:
Trang 15CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Địa điểm và thời gian tiến hành nghiên cứu
- Địa điểm: nghiên cứu được thực hiện tại khoa Cột sống ít xâm lấn –
Bệnh viện Châm cứu TW
- Thời gian thu thập số liệu từ tháng 1/2018 đến tháng 9/2018.
2.2 Đối tượng nghiên cứu
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu
Gồm 35 bệnh nhân liệt 2 chi dưới do chấn thương cột sống lưng - thắtlưng từ T11 đến L2 đã phẫu thuật Các bệnh nhân được điều trị bằng phươngpháp châm cứu trong thời gian 4 tuần
2.2.2 Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân:
- Bệnh nhân được chẩn đoán liệt 2 chi dưới do chấn thương cột sốnglưng – thắt lưng từ T11 đến L2 đã phẫu thuật
- Các bệnh nhân này đã được phẫu thuật tại bệnh viện Việt Đức, sau đóđược chuyển sang bệnh viện Châm cứu TW trong tình trạng các chỉ số sinhtồn ổn định
Các bệnh nhân liệt 2 chi dưới do chấn thương cột sống lưng-thắt lưngđược phân loại mức độ chấn thương cột sống theo Frankel [12] và đánh giámức độ liệt theo Henry và cộng sự năm 1984
Trang 16Bảng 2.1 Phân loại mức độ chấn thương cột sống theo Frankel Loại Triệu chứng
A Không còn vận động, cảm giác nào dưới tổn thương
B Còn cảm giác, không có vận động
C Có cảm giác, vận động yếu
D Có cảm giác, vận động giảm ít
E Hoạt động cảm giác, vận động bình thường
Cách phân loại theo Frankel là dễ sử dụng, chỉ dựa trên chức năng vậnđộng và cảm giác trên lâm sàng, không đòi hỏi khám bệnh nhân nhiều, vì vậy
có thể tiến hành ngay tại giường bệnh
Bảng 2.2 Đánh giá mức độ liệt của chi theo 5 mức độ
(Henry và cộng sự 1984).
I Liệt nhẹ Sức cơ 4 điểm Giảm sức co, còn vận động chủ động
II Liệt vừa Sức cơ 3 điểm Còn nâng được chi lên khỏi giườngIII Liệt nặng Sức cơ 2 điểm Còn co duỗi chi khi có tì
IV Liệt rất nặng Sức cơ 1 điểm Chỉ còn biểu hiện co cơ
V Liệt hoàn toàn Sức cơ 0 điểm Không co cơ
2.2.3 Tiêu chuẩn loại trừ
- Các trường hợp đa chấn thương khác gây hạn chế vận động tại 2 chi dưới
- Các bệnh nhân có kèm theo chấn thương sọ não, gây sai lệch đánh giá
- Bệnh nhân có các bệnh lý kèm theo có liên quan đến tủy sống như trượtđốt sống, u tủy
2.3 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp Tiến cứu, không có đối chứng
2.4 Các bước tiến hành nghiên cứu
- Lựa chọn bệnh nhân theo tiêu chuẩn nghiên cứu
Trang 17Ghi chép, đánh giá đầy đủ thông tin cần thiết cho nghiên cứu Tìmnhững thông tin cần thiết trên hồ sơ bệnh án với các bệnh nhân.
- Các chỉ tiêu nghiên cứu
* Tuổi và giới
* Tỷ lệ chấn thương liên quan đến nghề nghiệp
* Phân loại mức độ chấn thương cột sống theo Frankel
* Phân loại mức độ liệt theo Henry và cộng sự (1984)
* Kết quả điều trị bằng điện châm
2.5 Quy trình thực hiện kỹ thuật điện châm [7]
2.5.1 Phương tiện
- Kim châm cứu vô khuẩn, dài từ 5-10cm, dùng riêng cho từng người
- Máy điện châm M8 hai tần số bổ, tả
- Khay inox, bông, cồn 70o, kẹp có mấu
2.5.2 Các bước tiến hành châm cứu
* Bước 1 Xác định và sát trùng da vùng huyệt
* Bước 2 Châm kim vào huyệt theo các thì sau
Thì 1: Tay trái dùng ngón tay cái và ngón trỏ ấn, căng da vùng huyệt; tayphải châm kim nhanh qua da vùng huyệt
Thì 2: Đẩy kim từ từ tới huyệt, kích thích kim cho đến khi đạt "Đắc khí"(người bệnh có cảm giác căng, tức, nặng vừa phải, không đau ở vùng huyệtvừa châm kim, thấy thuốc cảm giác kim mút chặt tại vị trí huyệt)
* Bước 3 Kích thích huyệt bằng máy châm điện châm
Nối cặp dây của máy điện châm với kim đã châm với kim đã châm vàohuyệt theo tần số bổ- tả của máy điện châm
- Tần số (đặt tần số cố định): tần số tả từ 5 - 10Hz, tần số bổ từ 1 - 3Hz
Trang 18- Cường độ nâng dần cường độ từ 0 đến 150 microampe (tuỳ theo mứcchịu đựng của người bệnh).
* Bước 4 Rút kim, sát khuẩn da vùng huyệt vừa châm
2.5.3 Liệu trình điều trị
- Điện châm ngày một lần
- Thời gian 25 - 30 phút cho một lần điện châm
2.6 Xử lý số liệu
Số liệu được xử lý trên máy tính với phần mềm SPSS 22.0
2.7 Đạo đức trong nghiên cứu
Đây là nghiên cứu đánh giá kết quả điều trị bằng điện châm, phươngpháp đã được thực hiện thường quy tại bệnh viện Châm cứu TW, theo đúngchỉ định phù hợp với lâm sàng của bệnh nhân, nên không gây tổn hại về sứckhỏe thể chất cũng như tinh thần cho bệnh nhân
Trang 19CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu
Gồm 35 bệnh nhân liệt 2 chi dưới do chấn thương cột sống lưng-thắtlưng từ T11 đến L2, đã được điều trị bằng phẫu thuật cố định cột sống tạibệnh viện Việt Đức, sau đó được điều trị bằng châm cứu tại khoa Cột sống ítxâm lấn – Bệnh viện châm cứu TW từ tháng 1/2018 đến tháng 9/2018
Qua bảng 2 tôi thấy độ tuổi bị bệnh tập trung chủ yếu ở độ tuổi lao động
từ 20-60 tuổi, trong đó độ tuổi từ 41-60 chiếm tỉ lệ đông nhất với 51,4% số cachấn thương cột sống
Có thể khái quát bằng biểu đồ sau:
Trang 20< 20 20-40 40-60 > 61
Biểu đồ 3.1 Tuổi bị bệnh
Bảng 3.3 Tỷ lệ chấn thương cột sống liên quan đến nghề nghiệp
TN giao thông TN lao động TN sinh hoạt Tổng
3.2 Tình trạng liệt 2 chi dưới sau chấn thương cột sống lưng – thắt lưng
Bảng 3.4 Phân loại mức độ chấn thương cột sống theo Frankel
Bảng 3.5 Phân loại theo mức độ liệt của chi theo Henry và cộng sự (1984)