Phạm vi nghiên cứu Luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu vào các vấn đề văn bản học của các văn bản Then cấp sắc, vấn đề sử dụng chữ Nôm trong văn bản, khái niệm “đường Then cấp sắc” và g
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN VĂN TUÂN
NGHIÊN CỨU VĂN BẢN THEN CẤP SẮC NÔM TÀY
TẠI VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ HÁN NÔM
Hà Nội - 2019
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN VĂN TUÂN
NGHIÊN CỨU VĂN BẢN THEN CẤP SẮC NÔM TÀY
TẠI VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM
Ngành: Hán Nôm
Mã số: 9 22 01 04
LUẬN ÁN TIẾN SĨ HÁN NÔM
Người hướng dẫn khoa học PGS.TS Nguyễn Tá Nhí
Hà Nội - 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
NCS xin cam đoan rằng:
- Luận án Tiến sĩ này là kết quả nghiên cứu của riêng NCS dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Tá Nhí, chưa từng được công bố trong các công trình nghiên cứu của ai khác
- Luận án đã được tiến hành nghiên cứu một cách nghiêm túc, cầu thị
- Kết quả nghiên cứu của các nhà nghiên cứu khác đã được tiếp thu chân thực, cẩn trọng trong luận án
NCS
Nguyễn Văn Tuân
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận án Tiến sĩ này, tác giả xin trân trọng cảm ơn Ban Giám đốc, Khoa Hán Nôm, Học viện Khoa học xã hội và các thầy, cô giáo đã trực tiếp giảng dạy, giúp đỡ NCS trong suốt quá trình học tập
Trân trọng cám ơn Lãnh đạo Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Lãnh đạo Phòng Nghiên cứu văn bản Nôm cùng bạn bè đồng nghiệp công tác tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho NCS trong quá trình học tập NCS và viết luận án
Đặc biệt, NCS xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới giảng viên hướng dẫn PGS.TS Nguyễn Tá Nhí, thầy đã luôn tận tình hướng dẫn, chỉ bảo trong suốt thời gian NCS nghiên cứu và hoàn thành luận án
Cuối cùng, xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, người thân, bạn bè và đồng nghiệp
Trang 5KÍ HIỆU VIẾT TẮT
ĐHSP : Đại học sư phạm KHXH : Khoa học xã hội NCS : Nghiên cứu sinh Nxb : Nhà xuất bản
VHTT : Văn hóa Thông tin VNCHN : Viện Nghiên cứu Hán Nôm
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU:… 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 6
1.1 Khái quát về dân tộc Tày, Then và Then cấp sắc 6
1.1.1 Vài nét về đời sống văn hóa của dân tộc Tày 6
1.1.2 Khái quát về Then và Then cấp sắc 8
1.2 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài 17
1.2.1 Các công trình nghiên cứu từ góc độ văn hóa tín ngưỡng 17
1.2.2 Các công trình nghiên cứu từ góc độ văn hóa nghệ thuật 23
1.2.3 Các công trình sưu tầm, giới thiệu văn bản Then 27
1.2.4 Nhận xét chung về tình hình nghiên cứu liên quan đến luận án 33
Tiểu kết chương 1: 35
Chương 2: KHẢO SÁT VĂN BẢN THEN CẤP SẮC NÔM TÀY TẠI VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM 36
2.1 Mô tả văn bản Then cấp sắc viết bằng chữ Nôm Tày 36
2.1.1 Văn bản liên quan đến cấp sắc 36
2.1.2 Văn bản Then cấp sắc Nôm Tày 38
2.2 Khảo sát đặc điểm văn bản Then cấp sắc 43
2.2.1 Hình thức văn bản 43
2.2.2 Kết cấu văn bản 50
2.3 Một số vấn đề về chữ Nôm ghi trong văn bản Then cấp sắc 56
2.3.1 Về nghiên cứu chữ Nôm Tày 56
2.3.2 Phân loại chữ Nôm Tày trong văn bản Then cấp sắc 59
2.3.3 Đặc điểm chữ Nôm Tày trong văn bản Then cấp sắc 69
Tiểu kết chương 2: 71
Chương 3: NGHIÊN CỨU “ĐƯỜNG THEN” TRONG VĂN BẢN THEN CẤP SẮC NÔM TÀY 73
3.1 Một số vấn đề cơ bản về “đường Then” và “đường Then cấp sắc” 73
3.1.1 Khái niệm “đường Then” và “đường Then cấp sắc” 73
3.1.2 Những quy định dùng để cấp sắc cho Then 75
3.1.3 Một số bài thỉnh ban đầu của buổi lễ cấp sắc 79
3.2 Tìm hiểu “đường Then” trong văn bản Then cấp sắc Nôm Tày 82
3.2.1 Thống kê, so sánh những khúc hát trong văn bản Then cấp sắc 83
3.2.2 Trình tự các khúc hát trong văn bản Then cấp sắc 85
3.2.3 Nội dung của những khúc hát trong văn bản Then cấp sắc 95
Trang 73.3 Đặc trưng của “đường Then” trong văn bản Then cấp sắc Nôm Tày 103
3.3.1 Đặc trưng về hình thức 103
3.3.2 Đặc trưng về nội dung 106
Tiểu kết chương ba: 108
Chương 4: NGHIÊN CỨU GIÁ TRỊ CỦA VĂN BẢN THEN CẤP SẮC NÔM TÀY 109 4.1 Giá trị nội dung 109
4.1.1 Phản ánh những vấn đề về đời sống xã hội của người Tày trong quá khứ 109
4.1.2 Phản ánh những vấn đề về văn hóa tín ngưỡng 117
4.2 Giá trị nghệ thuật 128
4.2.1 Vấn đề thể loại 128
4.2.2 Thủ pháp tu từ 131
4.2.3 Nghệ thuật sử dụng điển cố 135
4.3 Thực trạng việc sử dụng và vấn đề bảo tồn văn bản Then cấp sắc hiện 139
4.3.1 Thực trạng việc sử dụng văn bản Then cấp sắc viết bằng chữ Nôm Tày ở địa phương hiện nay 139
4.3.2 Những vấn đề đặt ra cho việc bảo tồn và phát huy những giá trị Văn bản Then cấp sắc Nôm Tày 141
Tiểu kết chương 4: 144
KẾT LUẬN 145
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LUẬN ÁN CÓ LIÊN QUAN TỚI ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 149
TÀI LIỆU THAM KHẢO 150
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam, dân tộc Tày có số dân đông thứ hai sau người Kinh, sống tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam, sau này số ít di cư vào vùng Tây Nguyên Với người Tày, không chỉ có số dân đông, mà còn có một kho tàng tư liệu văn hóa rất đặc sắc mà ngày nay vẫn còn lưu giữ được,
đó là những tập truyện thơ, lượn cọi, phong slư, hát Then, v.v Các nguồn tư liệu này thường được ghi chép bằng chữ Nôm của người Tày (gọi là chữ Nôm Tày) Trong khối tư liệu này, chúng tôi đặc biệt chú ý đến các văn bản Then cấp sắc Bởi
vì, Then cấp sắc là một đại lễ có quy mô tổ chức lớn nhất trong hệ thống các nghi lễ của Then, chứa đựng nhiều giá trị đặc sắc thuộc về phong tục tập quán và văn hóa cũng như nghệ thuật diễn xướng nghi lễ của người Tày
Then cấp sắc gắn với đời sống sinh hoạt tín ngưỡng của dân gian, nên lời ca là
sự phản ánh về cuộc sống của người dân miền núi, mà trước hết là môi trường tự nhiên xã hội của người Tày Đó môi trường miền núi với đặc trưng là nền kinh tế tiểu nông tự cấp, tự túc… tất thẩy đều được phản ánh khá rõ trong hành trình Then cấp sắc mang lễ vật lên mường trời Có thể nhận thấy bản làng và cuộc sống sinh hoạt, lao động sản xuất, phong tục tập quán của người Tày hiện lên rất quen thuộc trong Then
Vì vậy việc tìm hiểu, nghiên cứu văn bản Then cấp sắc ghi bằng chữ Nôm Tày không những làm rõ thêm vấn đề nội dung trong Then cấp sắc, mà còn góp phần bảo tồn, phát huy những giá trị bản sắc văn hóa dân tộc Tày nói riêng, dân tộc Việt Nam nói chung Điều này phù hợp với quan điểm đúng đắn của Đảng và Nhà nước
về chủ trương xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc Dựa trên các kết quả nghiên cứu của người đi trước, chúng tôi thống kê được
06 văn bản Then cấp sắc viết bằng chữ Nôm Tày hiện lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm (VNCHN) Số lượng văn bản này tuy chưa phải là nhiều, nhưng qua khảo sát, nghiên cứu cho thấy được bức tranh toàn cảnh của Then cấp sắc Tày Xuất phát
từ những lý do nêu trên, chúng tôi lựa chọn vấn đề “Nghiên cứu văn bản Then cấp
Trang 9sắc Nôm Tày tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm” làm đề tài cho luận án Tiến sĩ
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Trên cơ sở mục đích nghiên cứu đã đề ra, chúng tôi đặt nhiệm vụ nghiên cứu của luận án như sau:
- Hệ thống hóa các văn bản Then cấp sắc hiện lưu trữ tại VNCHN, giới thiệu văn bản, so sánh và đối chiếu văn bản, xác định bản tin cậy để khảo sát, nghiên cứu
- Nghiên cứu đặc điểm văn bản, kết cấu văn bản, chữ Nôm, xác định số lượng các chương, khúc hát trong các văn bản; từ đó xác định khái niệm “đường Then” và
“đường Then cấp sắc” ghi chép trong văn bản Then cấp sắc
- Nghiên cứu giới thiệu giá trị của văn bản Then cấp sắc trong đời sống văn hóa dân tộc Tày xưa, từ đó đề xuất biện pháp bảo tồn và phát huy giá trị của văn bản Then cấp sắc trong đời sống văn hóa đương đại
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận án chọn đối tượng nghiên cứu chủ yếu là một nhóm 6 văn bản Then cấp sắc viết bằng chữ Nôm Tày hiện lưu trữ tại VNCHN, với các ký hiệu, là: NVB.1; VNv.671; NC.50; ST.2227; ST.2201; ST.557 Đây là những văn bản chưa từng được biên dịch và công bố
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu vào các vấn đề văn bản học của các văn bản Then cấp sắc, vấn đề sử dụng chữ Nôm trong văn bản, khái niệm “đường Then cấp sắc” và giá trị nội dung của văn bản Then cấp sắc trong đời sống văn hóa tín ngưỡng của dân tộc Tày
Trang 104 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
4.1 Phương pháp luận
Dựa trên quan điểm của Đảng và Nhà nước trong việc sưu tầm, bảo tồn, nghiên cứu khai thác và phát huy văn hóa truyền thống, xây dựng nền văn hóa Việt Nam “tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc” Những tri thức về Ngữ văn Hán Nôm, văn bản học, văn hóa học, văn tự học và nghiên cứu liên ngành sẽ được vận dụng lý thuyết nghiên cứu khoa học trong từng chương của luận án
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau đây:
- Phương pháp văn bản học: Nghiên cứu, so sánh 6 văn bản chữ Nôm Tày thuộc văn bản Then cấp sắc, so sánh số lượng chương, khúc hát trong các văn bản, nêu lên một số đặc điểm văn bản về cấu trúc văn bản Từ kết quả khảo sát văn bản, tạo điều kiện cho việc chọn thiện bản đề nghiên cứu và giới thiệu
- Phương pháp phiên dịch (còn gọi là thuyên thích học, hay học thông diễn học) cũng được sử dụng để giải thích, giải nghĩa, hay diễn dịch các bản văn Then cấp sắc, từ các vấn đề về văn bản, ngôn ngữ, lời nói, v.v… Đây là một phương pháp giúp chúng ta thấu hiểu văn bản và minh giải văn bản sâu hơn
- Phương pháp văn tự học: Dựa vào lý thuyết cấu tạo chữ Nôm của các học giả
đi trước, phương pháp văn tự học được sử dụng nghiên cứu cấu trúc chữ Nôm Tày cũng như xác định hệ thống chữ Nôm Tày trong văn bản, như chữ Nôm Tày tự tạo, chữ Nôm Tày mượn chữ Nôm Kinh (Việt) và chữ Nôm Tày mượn chữ Hán trong văn bản Then cấp sắc
- Phương pháp định lượng: Nhằm hệ thống hóa, thống kê số lượng các chương, khúc hát Then cấp sắc, những chữ Nôm thuần Tày, chữ Nôm Tày vay mượn (Kinh và Hán); từ đó, đưa ra những biện luận, phân tích để xác định độ tin cậy của tư liệu trong văn bản Thao tác thống kê được sử dụng xuyên suốt luận án, các kết quả thống kê là những số liệu cụ thể và chính xác, từ đó đưa tới những nhận định đáng tin cậy Ngoài ra, luận án cũng sử dụng những thao tác như phân tích, tổng hợp, quy nạp, diễn dịch, so sánh, v.v trước khi đưa ra những nhận xét về văn bản Then cấp sắc
Trang 11- Phương pháp liên ngành: Nhằm khai thác những giá trị lịch sử, giá trị văn hóa, văn học, tôn giáo, phong tục tập quán, v.v… được thể hiện qua các văn bản Then cấp sắc
- Cung cấp số liệu đáng tin cậy về số lượng chương hát, khúc hát trong văn bản Then cấp sắc viết bằng chữ Nôm Tày của ba dòng Then ở ba tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn So sánh “đường Then cấp sắc” của ba dòng Then để thấy được
sự tương đồng và khác biệt giữa ba dòng này Đưa ra cứ liệu về việc sử dụng chữ Nôm trong văn bản, từ đó góp phần gợi mở cho việc tìm hiểu sự giao lưu văn hóa Tày - Kinh thời trung đại
- Phân tích, đánh giá làm sáng tỏ giá trị nội dung và nghệ thuật của văn bản Then cấp sắc, góp phần vào việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Tày Đồng thời giúp các nhà quản lý văn hóa có biện phát bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống của dân tộc Tày
- Phiên âm, dịch nghĩa, chú thích và giới thiệu văn bản Then cấp sắc viết bằng chữ Nôm của người Tày (Bản NVB.1)
6 Ý nghĩa khoa học của đề tài
Việc nghiên cứu nhóm văn bản Then cấp sắc viết bằng chữ Nôm Tày hiện lưu trữ tại VNCHN, đưa lại những ý nghĩa khoa học như sau:
- Nghiên cứu văn bản và phân tích văn bản, xác định bản đáng tin cậy để phiên dịch, giới thiệu, công bố văn bản Then cấp sắc; nghiên cứu hệ thống chữ Nôm trong văn bản, góp phần nghiên cứu hệ thống văn bản chữ Nôm của dân tộc Tày
- Phác họa được bức tranh tổng thể về “đường Then” cấp sắc của dân tộc Tày gồm: Hành trình Then đi từ trần gian lên đến thượng giới để gặp Ngọc Hoàng, số
Trang 12lượng các chương, khúc hát được ghi chép trong văn bản Then cấp sắc viết bằng chữ Nôm Tày hiện lưu trữ tại VNCHN
- Luận án tạo hướng mở cho việc nghiên cứu các văn bản Then cấp sắc nói riêng, dân ca nghi lễ của dân tộc Tày nói chung Hy vọng đề tài sẽ có những đóng góp cho việc bảo tồn, nghiên cứu và phát huy những giá trị tốt đẹp trong văn hóa của đồng bào dân tộc Tày
7 Bố cục của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục; luận án có bố
cục chia làm 4 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Chương 2: Khảo sát văn bản Then cấp sắc Nôm Tày tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm Chương 3: Nghiên cứu “đường Then” trong văn bản Then cấp sắc Nôm Tày Chương 4: Nghiên cứu giá trị của văn bản Then cấp sắc Nôm Tày
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN TÌ NH HÌ NH NGHIÊN CỨU
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
Then nói chung và Then cấp sắc nói riêng là thuộc loại hình dân ca nghi lễ, đã được các nhà nghiên cứu văn hóa, ngôn ngữ, Hán Nôm quan tâm nghiên cứu, giới thiệu ở các góc độ khác nhau Ở chương này chúng tôi sẽ giới thiệu khái quát về đời sống văn hóa của người Tày, Then và Then cấp sắc của người Tày; đồng thời, tổng quan về các công trình đã nghiên cứu về Then Tày nói chung, Then cấp sắc của người Tày nói riêng Từ đó, chúng tôi có những đánh giá về những thành tựu của những công trình nghiên cứu của những người đi trước, để kế thừa và định hướng triển khai nghiên cứu của luận án
1.1 Khái quát về dân tộc Tày, Then và Then cấp sắc
1.1.1 Vài nét về đời sống văn hóa của dân tộc Tày
Trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam, người Tày có số dân đông thứ hai sau người Kinh (1.626.392 người)1, sống tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam và một số tỉnh thuộc Tây Nguyên như Đăk Lăk, Lâm Đồng Ở các tỉnh miền núi phía Bắc, người Tày cư trú chủ yếu ở các thung lũng màu mỡ, có độ cao trung bình, thuận tiện cho việc trồng trọt, chăn nuôi và ổn định cuộc sống
Về phương diện cội nguồn lịch sử, người Tày “vốn thuộc chung một nhóm Âu Việt, trong khối Bách Việt mà địa bàn cư trú là Miền Bắc Việt Nam và Miền Hoa Nam Trung Quốc Vào thế kỷ thứ III (TCN), liên minh bộ lạc Âu Việt (Tày – Nùng)
đã cùng với liên minh bộ lạc Lạc Việt (Việt Mường) thành lập nên Vương quốc Âu Lạc Người thủ lĩnh đứng đầu là An Dương Vương Thục Phán Trong quá trình chung sống, đấu tranh để xây dựng và gìn giữ đất nước, người Âu Lạc và người Lạc Việt vốn có những quan hệ gần gũi nhau, dễ hòa hợp nhau, cùng giao lưu và tiếp thu ảnh hưởng văn hóa của nhau” [131, 22]
Về ngôn ngữ và chữ viết, tiếng Tày thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái (ngữ hệ Thái - Ka Ðai) được sử dụng rộng rãi trong giao tiếp Do nhu cầu cuộc sống, người
1 Theo kết quả điều tra dân số năm 2009 của Tổng cục thống kê
Trang 14Tày đã sáng tạo ra chữ viết riêng của mình là chữ Nôm Tày để ghi chép lại những câu thành ngữ, tục ngữ, cao dao và các bài thơ, lời ca, truyện cổ mà ngày nay vẫn còn lưu giữ được rất nhiều tác phẩm, như: Phong slư, Lượn cọi, truyện thơ Nôm, Then, v.v Xét về từ vựng, từ vựng tiếng Tày gồm những từ gốc Tày và những từ mượn của các ngôn ngữ khác Bộ phận từ gốc Tày có vị trí quan trọng, bởi nó được
sử dụng nhiều nhất trong đời sống hàng ngày, khiến cho người Tày có thể dễ dàng giao tiếp với nhau trong sinh hoạt gia đình, làng bản Để biểu thị các khái niệm xã hội, chính trị, pháp lý khoa học kỹ thuật thì tiếng Tày phải vay mượn từ tiếng Hán
và đặc biệt là từ tiếng phổ thông là tiếng Kinh (Việt) Sự vay mượn này phù hợp với quy luật nên nó làm cho tiếng Tày thêm phong phú, có đủ sức làm công cụ giao tiếp của người Tày trong xã hội
Về phương diện hoạt động sản xuất, người Tày là cư dân nông nghiệp lúa nước, sớm biết thâm canh và áp dụng rộng rãi các biện pháp thuỷ lợi, như: đào mương, đắp phai, làm cọn lấy nước vào ruộng Họ có tập quán đập lúa ở ngoài đồng trên những “loỏng” (máng gỗ) rồi mới đưa thóc về nhà Ngoài lúa nước, người Tày còn trồng lúa cạn, hoa màu, cây ăn quả Bên cạnh việc trồng trọt còn có chăn nuôi phát triển với nhiều loại gia súc, gia cầm Thủ công nghiệp là nghề phụ trong các gia đình Nhiều nghề thủ công lâu đời đã đạt tới một trình độ kỹ xảo cao, như: Thổ cẩm ở Hòa An, Hà Quảng (Cao Bằng) cho nhiều mặt hàng dùng làm mặt chăn, địu trẻ, khăn treo cửa, khăn trải bàn rất đẹp; nghề làm bàn ghế trúc ở Cao Lộc (Lạng Sơn), Nguyên Bình (Cao Bằng) với nhiều hình mẫu bàn ăn, bàn ghế tiếp khách, bàn thờ tổ tiên… mà càng dùng lâu thì mầu trúc càng “lên nước” vàng xẫm, bóng lộn; nghề đan lát phổ biến trong mọi gia đình, bất cứ nhà nào cũng có thể tự đan được những đồ dùng cần thiết trong sinh hoạt hàng ngày; nghề kéo sợi, dệt vải, bật bông, nấu mật, ép dầu… cũng là nghề thiết yếu mà hầu hết gia đình nào cũng có
Về phong tục tập quán và tín ngưỡng dân gian, người Tày có nhiều phong tục đẹp thể hiện nét văn hóa độc đáo của riêng mình, như: tục nhận họ, tục nhận con nuôi, tục kết tồng kết đẳm, tục cưới hỏi, v.v… Đối với tục nhận họ, khi gặp những người có cùng tên họ (như Bế, Hoàng…) kể cả những người thuộc các thành phần dân tộc khác với mình, người Tày thường kết thân nhận là người cùng họ, bởi nghĩ rằng “tồng slính slam phăn chăn” (người cùng họ ít nhất cũng có ba phần mười là
Trang 15thân thích rồi) Sau khi nhận họ, quan hệ hai bên trở nên thân thiết và thiêng liêng, mọi công việc cùng nhau gánh vách trách nhiệm tựa như một thành viên trong cùng một tông tộc Đối với tục nhận con nuôi, khi một gia đình hiếm con hoặc không có con, họ thường tổ chức việc nhận con nuôi, người con nuôi phải bỏ họ của mình để lấy họ cha nuôi Bởi vậy, con nuôi được đối xử như con đẻ, có quyền lợi và nghĩa
vụ như con đẻ Nếu gia đình không có con trai thì con nuôi được quyền thừa tự mang vác trọng trách đúng như con đẻ Với tục kế tồng kết đẳm, khi gặp người có cùng năm sinh tháng đẻ hợp tính tình (kể cả người có cùng cảnh ngộ: mồ côi, ngóa bụa…) thì có thể kết tồng (“tồng” nghĩa là giống nhau) Còn “đẳm” là khi hai người (có thể cùng tuổi hoặc khác tuổi) nhưng cùng tên thì gọi nhau là “đẳm” Sự giao kết
“tồng” hay “đẳm” là do hai người tự nguyện Việc kết này được chính thức hóa trong một bữa cơm thân mật, có sự chứng kiến và công nhận của những người anh
em thân thuộc trong gia đình V.v…
Vấn đề tín ngưỡng dân gian, người Tày thờ đa thần Đồng bào thờ cúng tổ tiên, thần thánh là chính, vì họ tin rằng có rất nhiều thứ thần thánh ma quỷ, được gọi chung là “phi” “Phi” có cả ở trên trời lẫn mặt đất, như “phi fạ” (ở trên trời), “phi đông” (ở trong rừng), “phi pẩu pú” (tổ tiên), v.v… và “phi” được chia làm hai loại
là lành và dữ Loại lành, như: phi tổ tiên, phi mụ, phi bếp, phi bản… luôn bảo vệ con người và súc vật, mùa màng, sẵn sàng giúp con người diệt trừ các loài tà ma quỷ quái Tuy nhiên, phi này cho dù là lành, nhưng cũng sẽ sẵn sàng trừng phạt ai
đó nếu như không chịu lo việc cúng bái chu đáo Phi này được thờ ở trong gia đình hoặc những nơi đền miếu công cộng Đối với loại phi dữ, như: ma rừng, thuồng luồng, yêu tinh… có thể về hại người, gia súc và mùa màng Bởi vậy, người ta không thờ cúng, song khi có họa nạn (như ốm đau…), nếu Tào, Mo, Then phát hiện
ra phi nào về quấy rầy thì phải làm lễ cúng phi đó Điều này được thể hiện khá rõ qua tín ngưỡng dân gian của họ
1.1.2 Khái quát về Then và Then cấp sắc
1.1.2.1 Các khái niệm cơ bản
* Về khái niệm “Then”, hiện chúng chúng tôi thấy có 7 cách giải thích theo trình tự thời gian như sau:
Trang 16(1) Nhóm tác giả Hoàng Văn Ma, Lục Văn Pảo, Hoàng Chí giải thích: Then
tức “hết Pụt hết Then” (làm Bụt làm Then) [77, 423]
(2) Dương Kim Bội quan niệm về Then: Cho dù chưa có cách định nghĩa, giải thích một cách thoả đáng, cứ coi nó như một danh từ riêng để chỉ một loại hình mê tín [84, 14]
(3) Nông Văn Hoàn cho rằng: Then là Tiên 仙 (có nơi gọi sliên), là người của trời Họ là người giữ mối liên hệ giữa người trần gian với Ngọc hoàng và Long vương Khi họ làm Then là họ đại diện cho người của trời giúp cho người trần gian cầu mong được sự tốt lành, được tai qua nạn khỏi v.v tức là Then chỉ làm điều thiện cứu giúp người trần gian [84, 7 - 41]
(4) Triều Ân thì cho rằng: Then là những khúc hát thuộc về thờ cúng (chant cultuel) do những Then làm nghề (chan-teuse cultuelle) hát trong nghi lễ [17, 7]
(5) Hoàng Phê chủ biên, định nghĩa từ Then có ba nét nghĩa: 1/Lực lượng siêu
tự nhiên sáng tạo ra thế giới, theo quan niệm của một số dân tộc thiểu số miền Bắc Việt Nam 2/Người làm nghề cúng bái (thường là nữ) ở vùng các dân tộc thiểu số
nói trên Bà Then, làm mo, làm Then 3/Loại hình nghệ thuật tổng hợp gồm đàn,
hát, múa gắn liền với tín ngưỡng của các dân tộc thiểu số nói trên Hát Then, múa Then [94, 931]
(6) Từ điển bách khoa Việt Nam, giải thích: Then tên chung chỉ một loại
hình sinh hoạt văn hóa – văn nghệ dân gian của các dân tộc Tày, Thái Tùy theo mục đích của từng kỳ lễ mà Then có tên gọi và kiểu cách trình diễn khác nhau như Then kỳ yên, Then cầu hoa, Then nối số, v.v… Đầy đủ nhất là Then cấp sắc hay còn gọi là lẩu Then Người làm Then gọi là thầy Then, khi đã già, muốn nghỉ thì làm lễ Then cáo lão Then có nguồn gốc từ niềm tin của con người vào sự tồn tại của các siêu linh trong các thế giới trên trời, trên mặt đất và dưới nước Khi con người ốm tức là hồn hay vía của họ bay vào các thế giới đó Muốn khỏi bệnh
họ phải nhờ đến các thầy Then Các thầy Then dùng giọng hát dẫn đường cho âm binh đi đến tất cả các thế giới nói trên để tìm hồn trả về cho thân xác và người
ốm sẽ khỏi bệnh [130, 198]
Trang 17(7) Nguyễn Thị Yên trong cuốn Then Tày sau khi phân tích sự tương đồng
giữa tên gọi Then (đọc trại từ chữ Hán thiên - trời) với các hình thức cúng bái tương tự của người Tày, Nùng, Thái như Pụt, Sliên, Một mà đã đưa ra giả định
“Tên gọi Then là bắt nguồn từ tín ngưỡng thờ trời (phạ) của các cư dân Tày, Thái nói chung” Tuy nhiên, trong quá trình hình thành và biến đổi Then của người Tày đã có sự giao lưu tiếp biến với các yếu tố du nhập khác như Phật giáo
và Đạo giáo [138, 54] Cách hiểu này cũng được tác giả trình bày tương tự trong
cuốn Tín ngưỡng dân gian Tày, Nùng phần viết về “Then, Pụt và sinh hoạt văn
hóa tín ngưỡng Then, Pụt”, mục “Khái niệm, phân loại” [141, 104 - 114]
Tổng hợp từ các nhận định về Then của các nhà nghiên cứu đi trước, khái niệm “Then” được hiểu là tên gọi một hình thức cúng bái có nguồn gốc từ tín ngưỡng thờ trời (phạ) của các cư dân Tày, Thái nói chung, gọi chung là văn hóa tín ngưỡng Then, Pụt (theo giải thích của tác giả Nguyễn Thị Yên) Hiểu theo nghĩa mở rộng thì “Then” là tên gọi chỉ các khía cạnh cụ thể liên quan đến văn hóa tín ngưỡng Then “Then” với nghĩa chỉ thầy Then bao gồm cả nam và nữ (người làm nghề cúng bái có những phép thuật, có thể chuyển lời giữa người trần gian với một thế giới tâm linh khác như Ngọc Hoàng, Long Vương thông qua việc trình diễn nghệ thuật đàn, hát, múa trong quá trình thực hiện nghi lễ) “Then” gắn với tên gọi các nghi lễ
cụ thể của Văn hóa tín ngưỡng Then như: Then kỳ yên, Then giải hạn, Then cấp sắc, “Then” gắn với tên gọi các hình thức nghệ thuật biểu diễn trong Then như: Hát Then, đàn Then (tính tẩu), múa Then,
*Về khái niệm “Then cấp sắc”, chúng tôi tán đồng với khái niệm mà Nguyễn Thị Yên đưa ra: “là nghi lễ công nhận tư cách hành nghề của thày Then là thuộc loại Then đại lễ có quy mô tổ chức lớn hơn cả và có liên quan đến việc thờ cúng tổ nghề của Then”[138,11]
* Khái niệm “Văn bản Then” và “Văn bản Then cấp sắc”
Đối với nghi lễ Then nói chung và Then cấp sắc nói riêng thì lời hát Then là phần quan trọng, chuyển tải toàn bộ nội dung của hành trình Then do thầy Then làm chủ Vì vậy, với một người làm Then thì nhất thiết phải thuộc lòng các lời hát trong các nghi lễ Then, khi đi hành lễ không được dùng sách thì nghi lễ mới “thiêng” Trong xã hội Tày truyền thống, nữ giới thường không biết chữ, nếu làm nghề Then
Trang 18thì họ học thuộc lời Then thông qua truyền khẩu Riêng đối với dòng Then nam (còn gọi là “slàng” hoặc “dàng”) vì các thầy biết chữ (Nôm Tày) nên có thể học nghề bằng cách ghi chép lại các lời hát trong nghi lễ Then để học và truyền lại cho đời sau
Theo đó, văn bản Then nói chung và văn bản Then cấp sắc nói riêng, là những lời hát của Then thực hiện được văn bản hóa bằng chữ Nôm Tày Với ý nghĩa đó,
“văn bản Then cấp sắc” mà chúng tôi giới hạn sử dụng để khảo sát trong luận án này là những lời hát Then cấp sắc được văn bản hóa bằng chữ Nôm Tày, được triển khai nghiên cứu ở góc độ văn bản học, còn các hình thức nghệ thuật khác (âm nhạc, diễn xướng,…) không được đề cập trong luận án
1.1.2.2 Nguồn gốc của Then, người làm Then và hệ thống nghi lễ
- Về nguồn gốc của Then: Các nhà nghiên cứu đi trước như Nông Văn Hoàn,
Hoa Cương, Dương Kim Bội, Triều Ân… đều có nhận xét gần giống nhau nhưng chưa hoàn toàn nhất quán Sau đây, chúng tôi xin nêu ra một số những luận điểm tiêu biểu như sau:
Nông Văn Hoàn cho rằng: Then có từ thời Lê - Mạc tức là từ cuối thế kỷ XVI, đầu thế kỷ XVII, khi Mạc Kính Cung lên chiếm cứ đất Cao Bằng đánh lại nhà Lê (1598 - 1625) Then do ông Bế Phùng người làng Đám Vạn (Hòa An) đặt ra; Giàng
do ông Hoàng Quỳnh người Trùng Khánh đặt ra Hai ông đều làm quan cho nhà Mạc và đặt ra Then, Giàng để tiến hành chầu mua vui cho vua Mạc Vua thấy Then múa hát làm cho mình được vui vẻ, khỏe mạnh hơn, bèn truyền cho phổ biến trong nhân dân Dần dần biến nó thành thứ cúng lễ cầu khấn cho được khỏi bệnh, đạt được những ước vọng tốt lành [84, 15] Đồng quan điểm với ý kiến này, Hoa Cương cho biết thêm: Ông Bế Văn Phùng rất thông minh tài giỏi, am hiểu cả về thiên văn địa lý, nên được gọi là quan Tư Thiên Quản nhạc Còn ông Nông Quỳnh Vân thì tài nghệ thi phú cũng rất giỏi mà còn có tài lặn xuống nước được lâu nên nhân dân còn gọi là ông vua Ca Đáng (nghĩa là vua của loài quạ khoang chuyên lặn bắt cá) Hai ông là bạn thân với nhau và thường xuyên xướng họa thi ca cùng nhau
Về sau vua Ca Đáng thành lập đội xướng ca nam ở vùng Trùng Khánh gọi là Giàng, còn quan Tư Thiên thì lập xướng ca nữ ở vùng Hòa An gọi là Then Thời nhà Mạc
bị nhà Lê đánh đuổi phải chạy lên Cao Bằng vì buồn rầu lo sợ mà sinh phát bệnh
Trang 19chạy chữa mãi cũng không khỏi Sau có người tâu với vua rằng: Bệnh của vua chỉ
có ông Tư Thiên đem đội xướng ca đến mới khỏi Tức khắc vua sai người đem chiếu chỉ đến mời Trạng Nhận được chiếu chỉ của vua, Trạng liền chuẩn bị tập tành
và tiến vào chầu vua Đội xướng ca nữ khi vào chầu vua liền biểu diễn điệu múa chầu làm cho vua tươi hẳn lên rồi nhỏm dậy ban khen tấm tắc Múa xong lại cầm đàn tính vừa gẩy vừa hát điệu Then chúc tụng nhà vua làm cho vua quên hết lo sầu rồi tự nhiên thấy khỏe hẳn Sau đó vua liền phong sắc cho Tư Thiên thêm chức Quản nhạc [84, 341]
Dương Kim Bội sưu tầm ở các nghệ nhân dân gian cho biết: Có một thời gian nhà Mạc đem quân chạy lên Cao Bằng, vì xa nhà cửa, quê hương, vợ con nên quan quân sinh bệnh, đau ốm rất nhiều Giữa lúc bệnh hoạn đang hoành hành như thế, một viên quan bầy cách cho một nhóm binh sĩ có học thức làm Then để giải khuây Việc làm này đã đem lại kết quả một cách không ngờ Từ khi có nhóm người này hát then, tự nhiên quan quân khỏi bệnh quá nửa! Từ đó vua nhà Mạc truyền cho quân sĩ hãy phổ biến ra ngoài dân chúng thật rộng rãi [84, 141]
Ý kiến của Triều Ân: Cây đàn và lời hát Then của dân tộc Tày đã có từ rất lâu,
từ khi tổ tiên ta có nhu cầu sinh hoạt văn hoá… Hát Then là loại hát thuộc về thờ cúng (chant cultuel) mà thờ cúng, với bất cứ dân tộc nào cũng có rất sớm, theo vũ trụ quan vạn vật hữu linh của họ [17, 9]
Nguyễn Thị Yên nhận định: Trước khi vào cung, Then tồn tại trong dân gian dưới hình thức của Sliên - Pụt mang nhiều yếu tố bản địa Khi vào cung đình, dựa trên bài bản của Pụt mà các trí thức kiêm nghệ sĩ, nhà thơ và thầy cúng như Bế Văn Phụng đã bổ sung cho phù hợp với nhu cầu thưởng thức cũng như tâm lý của tầng lớp vua quan Chính vì thế mà Then đã được đổi mới và cách tân về phần văn bản lời hát: từ ngữ trau chuốt, hành văn lưu loát giàu hình ảnh hơn, nhiều tích cổ bằng
từ Hán Việt có pha trộn tiếng Kinh [138, 19]
Như vậy, nhìn lại những đánh giá về nguồn gốc Then của các nhà nghiên cứu
đi trước, có thể nhận thấy các nhà nghiên cứu đều cho rằng, Then chính thức được phổ biến rộng rãi vào cuối thế kỷ XVI khi nhà Mạc lên cát cứ Cao Bằng; nhưng thực tế, trước đó đã được tồn tại trong dân gian Luận án của chúng tôi kế thừa
Trang 20những thành tựu nghiên cứu này Tuy nhiên, chúng tôi thấy cần bổ sung thêm, cụ thể như sau:
Đúng vậy, Then Tày nảy sinh từ thời đại phong kiến Việt Nam đã phát triển,
xã hội Tày đã có sự phân chia đẳng cấp rõ rệt, dân tộc Tày đã có tầng lớp trí thức Nho học, văn hóa Tày đã có sự giao lưu rộng với các dân tộc anh em khác Chúng ta thấy trong Then có sự chồng chất và sự pha tạp của nhiều tầng lớp văn hóa: Tày có, Kinh có, Hán có, cổ có, mới có, Phật giáo có, Đạo giáo Chúng tôi cho rằng, ban đầu sự hình thành của Then rất đơn giản, gắn với các yếu tố sinh hoạt, tập quán, ngôn ngữ thông thường của người Tày Dần dần các yếu tố sinh hoạt, tập quán, ngôn ngữ của người Tày càng phát triển đưa Then phát triển phong phú hơn, điêu luyện hơn qua những đóng góp và hoàn thiện của một số trí thức kết hợp cùng các nghệ sĩ dân gian, mà đặc biệt là hai ông Hoàng Quỳnh Vân và Bế Văn Phụng - người lập ra phường hát Then, Dàng Chúng tôi nhất trí với quan điểm của Nguyễn Thị Yên là khi nhà Mạc tan rã, Then ra ngoài dân gian thâm nhập vào các địa phương khác nhau, trước hết là các khu vực kề cận như Bắc Kạn, Lạng Sơn rồi từ
đó tỏa đi các nơi khác Dưới hình thức trao truyền bằng phương thức truyền miệng, trải qua nhiều thế hệ mà Then đã có sự cải biến, bổ sung tùy vào từng khu vực cư trú cụ thể [138, 227]
- Về những người làm Then: Người làm Then chủ yếu là nam giới hoặc có thể
là nữ giới và họ đều có khả năng đánh đàn tính rất thuần thục Nhiệm vụ của họ là thực hành các nghi lễ thờ cúng chuyển tải những thông điệp của trần gian tới thần linh thông qua việc đàn và hát Theo Nông Văn Hoàn trong bài “Bước đầu nghiên
cứu về Then Việt Bắc” in trong Mấy vấn đề về Then Việt Bắc [84, 7 - 41] thì những
người làm Then có thể chia làm ba loại như sau:
Loại thứ nhất: Loại Then nối dõi, tức là dòng dõi đã có người làm Then, nay
người đó đã qua đời nên phải có người nối dõi, nếu không thế người trong gia đình hay gặp họa nạn, bệnh tật Trong nhà, ngoài bàn thờ tổ tiên đặt ở gian giữa, còn có bàn thờ Then đặt ở gian bên cạnh Bàn thờ của Then gọi là “bàn giả giàng”, của bụt gọi là “bàn ham” Trước hết người nối dõi phải học làm Then với một ông sư phụ, hoặc một bà sư mẫu nào đó Đến khi có thể làm được thì chuẩn bị làm một đại lễ cấp sắc để được hành nghề
Trang 21Loại thứ hai: Loại tin ở “lục mệnh”, tin ở con “ma then” (phi ham) bắt phải
làm Then, tiếng Tày gọi là “vửt théc” “Vửt théc” không phải do dòng dõi làm Then, mà là do một hoàn cảnh đặc biệt họ phải làm Hoàn cảnh đó là trong một trường hợp nào đó không bình thường, học cười hát suốt ngày Có người nhảy xuống sông, xuống suối ngâm nước, hoặc chạy vào rừng trèo lên cây cao, vách núi
đá mà người bình thường khó làm được Có khi họ bỏ nhà đi vài ba ngày rồi chạy đến tìm “sláy” quỳ lạy trước bàn thờ Then của ông hay bà Then nào đó để xin làm Then và khấn chuẩn bị lễ vật làm đại lễ cấp sắc Loại này không nhiều lắm, song người ta cho rằng, những người “mệnh nhẹ” (mỉnh mẩư) mới bị như vậy Khi trong gia đình có người như thế xuất hiện thì cũng phải cố chạy vạy chuẩn bị lễ vật làm lễ cấp sắc để làm Then
Loại thứ ba: Loại mà tiếng Tày gọi là “vửt đíp”, “Then đíp” (tức Then sống),
là những người yêu thích hát Then Họ thường hay đi theo Then, giúp Then trong các đám làm then Họ biết làm Then như những người làm Then chuyên nghiệp, nhưng họ không mê tín, không thờ ma Then và cũng không ai mời họ đi làm Then bao giờ Trong các buổi làm Then họ có thể thay ông hay bà Then làm từng đoạn, từng việc Thực ra loại “Then đíp” cũng không nhiều
- Về hệ thống nghi lễ: Trong văn hóa tín ngưỡng của người Tày có nhiều
nghi lễ khác nhau như: Then cầu an giải hạn, thường diễn ra vào dịp đầu năm; Then nàng hai, thường diễn ra vào dịp Trung thu; Then cúng mụ, diễn ra vào dịp cúng mụ khi đầy tháng sinh con; v.v… Theo cách chia hệ thống nghi lễ của Nông Văn Hoàn [84, 7 - 41] gồm có 7 loại: 1/Then cầu mong, cầu mong được yên lành, hạnh phúc, được sống lâu ; 2/Then chữa bệnh, nhà có người ốm đau thì mời Then
về cúng lễ; 3/Then bói toán, bói xem người ốm do ma gì quấy, do hồn vía bị thất lạc nơi đâu để cúng cho đúng; 4/Then tống tiễn, nhà có người chết sau khi chôn cất xong, chọn được ngày lành thì đón Then về làm lễ tiễn hồn người chết đi khỏi nhà để không quấy rầy những người đang sống; 5/Then cầu mùa, cầu đảo, diệt trùng, cầu cúng để mùa màng được tươi tốt; 6/Then vui mừng, chúc tụng ca ngợi, chúc tụng những người thăng cấp có địa vị trong xã hội, hoặc làm được nếp nhà mới, có đám cưới, sinh con đầu lòng ; 7/Then trung lễ, đại lễ cấp sắc, những người làm Then thường 3 năm hoặc 5 năm phải làm lễ cấp sắc một lần
Trang 22Theo cách chia hệ thống nghi lễ qua hình thức diễn xướng của Nguyễn Thị
Yên trong cuốn Then Tày [138, 86 - 87] thì có bốn hình thức là: 1/Diễn xướng
Then chúc tụng, thường tổ chức trong các dịp vui mừng như đám cưới, vào nhà mới; 2/Diễn xướng Then bói, là công việc thường xuyên của thầy Then; 3/Diễn xướng Then đi hành nghề, thường được tiến hành khi có yêu cầu của gia chủ; 4/Diễn xướng hội Then (lẩu Then), là các đại lễ của Then, chủ yếu thực hiện ở nhà thầy Then với các mục đích liên quan nghề nghiệp của nhà thầy Then
Tuy nhiên, khi khảo sát ở các văn bản Then viết bằng chữ Nôm Tày, Trịnh Khắc Mạnh trong bài viết “Giới thiệu các văn bản Then Nôm Tày lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm”[82, 3] đã chia hệ thống nghi lễ làm 3 loại chủ yếu là: 1/Then chúc tụng được sử dụng trong các nghi lễ: đầu năm mới, làm nhà mới, khi làm ăn phát đạt ; 2/Then cầu an, giải hạn: cúng cầu an, cúng giải hạn để cầu mong
an lành và tránh khỏi tai họa; 3/Then lễ hội được sử dụng trong các nghi lễ: cầu mùa, lễ cấp sắc
1.1.2.3 Sơ lược về lễ cấp sắc
- Mục đích tổ chức lễ cấp sắc: Đây là nghi lễ công nhận người học nghề làm
Then chính thức được là Then, đủ tư cách làm nghề Việc tổ chức lễ cấp sắc này được coi là “chính thống”, bởi vì có được sự đồng ý của Ngọc Hoàng, có được sự chứng kiến của các đấng thần linh, các Then và đông đảo mọi người gần xa tới dự
lễ Trong buổi lễ, Then mới sẽ được thày Tào (thày cha) thay mặt Ngọc Hoàng cấp cho một bản sắc văn cùng các trang bị thiết yếu như trang phục mũ, áo, ấn bản mệnh, đạo hiệu, lượng âm binh, xích lình, để Then hành việc cứu nhân độ thế nơi trần gian Nếu người nào làm Then mà chưa qua lễ cấp sắc, cho dù cá nhân họ có giỏi đến đâu đi chăng nữa thì cũng không được cộng đồng cư dân thừa nhận mà trọng dụng Do đó, mục đích của lễ cấp sắc vừa là thủ tục bắt buộc đối với người làm nghề Then vừa là để cộng đồng cư dân thừa nhận là Then Vì vậy sau khi học nghề xong và có đủ điều kiện thì người đệ tử sẽ tiến hành làm lễ cấp sắc
- Về không gian thực hiện nghi lễ cấp sắc: Lễ cấp sắc thực hiện tại nhà người
được cấp sắc làm nghề Then Không gian này được thực hiện trọng tâm nhất là trong ngôi nhà sàn, được bài trí thể hiện theo quan niệm của Then về thế giới tâm
Trang 23linh thông qua nghệ thuật trang trí và nghệ thuật sắp đặt, cùng với các thành tố nghệ thuật khác làm nên nét riêng đặc sắc của nghi lễ Then
Nơi diễn ra nghi lễ trong nhà được chia thành 2 khu vực: Khu vực hành lễ và khu vực ngoài Khu vực hành lễ là phía trước bàn thờ Tổ tiên và bàn thờ Then Đây
là khu vực trung tâm của cuộc lễ, là vùng “cấm địa” chỉ có các Then và những người ăn chay được phép qua lại; khu vực ngoài là nơi dựng cây cầu hào quang, là phần sân khấu của cuộc lễ, ai cũng có thể vào được, dân làng đến xem sẽ ngồi quanh khu vực này
- Về thời gian và nội dung thực hiện nghi lễ: Thời gian tiến hành một nghi lễ
cấp sắc phụ thuộc vào kinh tế của gia chủ, thông thường sẽ được diễn ra vào bốn ngày ba đêm Theo Nguyễn Thị Yên [138, 101 - 140] thời gian và nội dung thực hiện một nghi lễ cấp sắc có trình tự như sau:
Ngày, đêm thứ nhất: Các hoạt động và thủ tục ban đầu như lập đàn cúng, giải
uế, trình báo Thổ công và tổ tiên, mời các tướng, xin binh mã, v.v
Ngày, đêm thứ hai: Khao binh mã, lên đường vào cửa các tướng nộp lễ, lại tiếp tục lên đường tới đồng ve sầu thì nghỉ ngơi
Ngày, đêm thứ ba: Tiếp tục lên đường, tiếp tục vào các cửa nộp lễ vệt, đến cửa Ngọc Hoàng nộp lễ vật xin được cấp sắc và được cấp sắc, trở về trần gian
Ngày thứ tư: Mời tổ tiên và chư tướng hưởng cỗ khao và khoản đãi mọi người tham gia buổi lễ
Nhìn chung, trong suốt quá trình của một đại lễ cấp sắc, thời gian, không gian
sẽ được diễn ra theo một trình tự có bài bản Sự liên kết giữa các nội dung rất chặt chẽ, khi thỉnh mời xong thì mới được vào lễ; khi quân Then lên đường thì phải qua các cửa thánh, cửa tướng dưới sự điều hành chỉ dẫn của Then thầy; khi xong việc thì tiễn tướng, khách về trời và quân âm binh về nhà thầy Then; không có công đoạn này thì không có công đoạn kia Các nội dung diễn ra rất phong phú, nên rất cuốn hút người xem Có thể nói, bối cảnh sinh hoạt của Then cấp sắc không chỉ tạo nên một không gian tâm linh huyền bí mà còn thể hiện được nét uy nghi, sang trọng, cũng như niềm hân hoan của gia chủ và mọi người
Trang 241.2 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trong kho tàng văn hóa của người Tày, Then nói chung, Then cấp sắc nói riêng thuộc loại dân ca nghi lễ gắn với tín ngưỡng, nên đã sớm thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu khai thác từ nhiều góc độ, như: văn hóa, tôn giáo, dân tộc học, v.v Có thể nói, những thành tựu nghiên cứu này đã mở ra cách nhìn nhận sâu sắc hơn về Then và Then cấp sắc Để có cái nhìn tổng quan về những công trình nghiên cứu này, chúng tôi xin chia làm các lĩnh vực nghiên cứu cơ bản như sau:
1.2.1 Các công trình nghiên cứu từ góc độ văn hóa tín ngưỡng
1.2.1.1 Các công trình nghiên cứu từ góc độ văn hóa tín ngưỡng về Then
Ngay từ nửa đầu thế kỷ XX, học giả Việt Nam đầu tiên là Nguyễn Văn Huyên
đã có sự nhận diện và cách tiếp cận trong việc tìm hiểu tôn giáo tín ngưỡng của người Tày Năm 1939, Nguyễn Văn Huyên có hai bài thuyết trình liên quan đến tín ngưỡng của người Tày đăng trên tạp chí của Pháp: Bài thứ nhất “Về điện thờ Lão
Tử ở người Tày” [65, 767] viết về nỗi kinh sợ rừng núi trong văn học dân gian Việt nam (ma quỷ, cách yểm bùa); danh sách các thần linh ở Cao Bằng; bảy mươi pháp thuật được sử dụng ở vùng thượng du Bắc Kỳ; miêu tả một số đền thờ Lão giáo của người Tày Bài viết đã được giới học giả Pháp lúc bấy giờ đánh giá cao, trong đó có câu: “Không chỉ là lượng thông tin phong phú và cái nhìn chắc chắn, là lợi ích của những vấn đề đưa ra lý giải, tính trong sáng của cách trình bày, mà còn là tính vô tư khoa học mà trước đó người ta không chờ đợi ở một người Việt Nam nghiên cứu đời sống tôn giáo của người Tày” [65, 769] Bài thứ hai “Một dạng ma thuật ở miền thượng du Bắc kỳ: Những cách chữa bệnh bằng phép lạ” [65, 770] Trong bài này, Nguyễn Văn Huyên đã trình bày một cách sinh động từ đầu đến cuối về phương thuật của thầy Phù thủy trong các nghi lễ chữa bệnh cho người lớn và trẻ con
- Dương Kim Bội (1974), có bài “Cái cấu cầu bjoóc - những vần thơ đẹp của
dân tộc Tày” in trong cuốn Bước đầu tìm hiểu vốn văn nghệ Việt Bắc (Sở VHTT
Việt Bắc), tập trung khai thác giá trị nghệ thuật trong các lời ca của Then cầu hoa (cầu tự)
- Nông Minh Châu (1974), có bài “Khảm hải - một tác phẩm văn học cổ của
dân tộc Tày” in trong Bước đầu tìm hiểu vốn văn nghệ Việt Bắc (Sở VHTT Việt
Trang 25Bắc), phân tích giá trị hiện thực của cuộc sống phu phen chèo thuyền vượt biển đầy dẫy sự khắc nghiệt
- Nông Quốc Thắng (1977), có bài “Quá trình chuyển hóa của Then và yếu tố
hiện thực trong Then” in trong Tạp chí Văn học, tập trung phân tích vị trí của Then
trong đời sống văn hóa tín ngưỡng của người Tày; giá trị phản ánh hiện thực trong đời sống người dân trong xã hội có giai cấp của lời hát Then, quá trình chuyển hóa của Then sang phục vụ đời sống sinh hoạt văn nghệ của người dân
- Hà Văn Thư, Lã Văn Lô (1984), Văn hóa Tày Nùng (Nxb Văn hóa), dành
một số trang giới thiệu về những người làm nghề cúng bái, trong đó có Then Qua đây các tác giả đã nêu được khá rõ những đặc điểm cơ bản của Then như sự ảnh hưởng Đạo giáo; mối quan hệ với Tào, Mo, Pụt; đặc điểm làm nghề Để nhấn mạnh tính dân tộc của Then, các tác giả cho rằng: “Làm Then (tức là cúng Then) vừa là một hình thức cúng bái, vừa là một hình thức văn nghệ để cho mọi người đến thưởng thức” [70, 30] Có thể nói tuy chưa thật đầy đủ nhưng bước đầu các tác giả đã giới thiệu được một cách khái quát về nghề làm Then và bản chất tín ngưỡng của Then mà các công trình trước đây chưa đề cập đến hoặc chưa đề cập một cách đầy đủ
- Hoàng Quyết (1995), Phong tục tập quán dân tộc Tày ở Việt Bắc (Nxb Văn
hóa Dân tộc), tập trung nghiên cứu sâu về đời sống văn hoá tinh thần của dân tộc Tày ở khu Việt Bắc, với những phong tục tập quán về ăn mặc, tín ngưỡng thờ cúng
tổ tiên, tang ma, cưới hỏi… từ xa xưa của người Tày, song công trình cũng chỉ đề cập đến vấn đề một cách chung chung của vùng Việt Bắc
- Hoàng Quyết, Triều Ân, Hoàng Đức Toàn (1996), Từ điển văn hóa cổ truyền dân tộc Tày (Nxb Văn hóa Dân tộc), là công trình nghiên cứu về văn hóa cổ truyền
của dân tộc Tày, bố cục được chia làm 3 phần Phần 1: Phong tục, tập quán, sinh hoạt, lễ hội Phần 2: Chùa chiền, đền miếu Phần 3: Văn hóa, nghệ thuật, sự tích
- Đỗ Hồng Kỳ (1997), có bài “Những biểu hiện của tôn giáo, tín ngưỡng trong
truyện thơ Nôm Tày, Nùng” in trong Tạp chí Văn hoá dân gian, đã dành một phần
để phân tích truyện thơ Khảm hải dưới hình thức lưu truyền bằng phương pháp hát trong các nghi lễ tôn giáo Đây là bài viết đầu tiên đã đặt Khảm hải vào trong một
nghi lễ Then cụ thể để phân tích
Trang 26- Nguyễn Thị Yên (1997) đã hoàn thành luận văn với đề tài: Lễ hội Nàng Hai của người Tày Cao Bằng, sau đó bổ sung và xuất bản vào năm 2003 (Nxb Văn hóa
thông tin) Trong công trình này, tác giả đã phân tích và nhận định, lễ hội Nàng Hai
ở Hòa An, Phục Hòa, Cao Bằng là một hình thức Shaman của người Tày có nhiều điểm tương đồng với Then Năm 1998, tác giả có bài “Tìm hiểu yếu tố tín ngưỡng
trong lễ hội của người Tày, Nùng” in trong Tạp chí Văn hoá dân gian, bước đầu
tìm hiểu Then dưới góc nhìn văn hóa tâm linh Năm 2002, có bài “Khảo sát đối
tượng cúng trong Then” in trong Thông báo văn hóa dân gian, đưa ra những tư
liệu cụ thể về các đối tượng được thờ cúng trong Then miền đông Cao Bằng Năm
2006, có bài “Về sự hình thành và biến đổi của Then Tày” in trong Tạp chí Văn hoá dân gian, phân tích so sánh về sự biến đổi của Then và cho rằng, từ Sliên đến
Pụt rồi Then đó là con đường hình thành và biến đổi lâu dài trong lòng dân tộc với
sự tham gia góp mặt của nhiều tầng, nhiều lớp tín ngưỡng đến từ nhiều phía để cuối cùng hình thành nên Then - một hình thức Đạo giáo dân gian độc đáo của người Tày như ngày nay Năm 2007, có bài “Khảo sát đối tượng thờ cúng trong
Then” in trong Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, giới thiệu chi tiết về các đối tượng
thờ cúng trong Then, như Ngọc Hoàng, 30 tướng nhà phép, 80 tướng nhà công, Táo công, Thổ công, Tổ sư, Pháp sư Năm 2008, có bài “Dấu ấn cổ sơ trong các
hình thức cúng bái Then, Pụt của người Tày Nùng” in trong Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, nêu ra các hình thức cúng bái trong Then, Pụt của người Tày, Nùng
đồng thời so sánh với một số hình thức cúng bái của người Thái, như nơi thờ cúng của Then, công việc chính của các bà Then của người Thái, phép hành nghề
của Then mang dấu ấn bản địa Năm 2009, có cuốn Tín ngưỡng dân gian Tày Nùng (Nxb Khoa học xã hội), giới thiệu khái quát về tín ngưỡng dân gian của
người Tày, Nùng; tổng hợp, phân loại các hình thức sinh hoạt văn hoá tín ngưỡng tiêu biểu của người Tày, Nùng; giới thiệu các nghi lễ phổ biến của người Tày, Nùng như tang ma, lễ cấp sắc, lễ mừng thọ, v.v…
- Hà Đình Thành chủ biên (1999), Văn hoá tín ngưỡng Then, Tào, Mo của người Tày - Nùng ở miền núi phía Bắc Việt Nam (Viện Văn hóa dân gian), tập hợp
các bài viết của các tác giả đi vào khảo sát Then với tư cách là một hình thức sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng truyền thống của người Tày, như bài: “Đời sống tâm linh
Trang 27của Then” (Đoàn Thị Tuyến), “Then - một nghi lễ tôn giáo” (Nguyễn Thị Hiền),
v.v… Tuy đây mới chỉ là khảo sát ban đầu nhưng đã góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề cốt yếu về Then Năm 2002, Hà Đình Thành có bài “Then của người Tày -
Nùng với tín ngưỡng tôn giáo dân gian” in trong Văn hoá nghệ thuật
- Hoàng Đức Chung (1999), Lẩu Then bjoóc mạ của người Tày huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang (Nxb Văn hóa Dân tộc), trình bày làm 3 chương Chương 1,
tác giả giới thiệu hệ thống Then của dân tộc Tày ở tỉnh Hà Giang gồm có 7 loại là cầu mong, chữa bệnh, bói toán, tống tiễn, cầu mùa, chúc tụng, cấp sắc; chương 2,
giới thiệu lẩu Then bjoóc mạ ở bản Ping gồm có hai bước: Bước 1, mời Chúa Then
(trong đó có các mục là đưa rượu lên bàn, sắp các mâm hương, các Then lạy bàn thờ tổ, các Then về mâm cúng trình tổ, ông trùm Then chỉ huy lên phủ tìm ngựa về
để đón chúa Then và đoàn then, chúa Then về nghe báo cáo nội dung công việc, giải vía, lên ngai) Bước 2, đoàn Then lên đường qua các chặng, gồm: trình tổ then, trình thổ công, trình các linh hồn người chết không người thờ, trình thần, bắt ve sầu và ruồi muỗi, kể về các loài hoa, trạm nghỉ Thanh Lâm, mượn gậy Dà Dìn, cửa hành khiển, chờ đò, suôi Thuông, khảm hải, lên phủ Ngọc Hoàng, xuống trần gian, kiểm
lễ, múa thuyền, múa hoa chuối rừng, múa măng, tán hoa, múa then, quân Then cùng
đi đánh bài và uống rượu; chương 3, tác giả tiến hành đánh giá về lẩu Then bjoóc
mạ trong đời sống sinh hoạt văn hóa của người Tày ở bản Ping, qua đó đưa ra một
số biện pháp bảo tồn giá trị của lẩu Then bjoóc mạ
- Đoàn Thị Tuyến (1999), hoàn thành khóa luận Cử nhân tại Khoa Sử, Đại học
Khoa học xã hội và Nhân văn, đề tài: Đạo Then trong đời sống tâm linh của người Tày – Nùng Lạng Sơn, đưa ra những nhận xét về đạo Then tồn tại trong đời sống
tâm linh của cư dân Tày Nùng ở Lạng Sơn Khóa luận có một đóng góp khá mới mẻ trong việc tìm hiểu đời sống và thế giới tâm linh của người làm Then Cùng năm,
Đoàn Thị Tuyến có bài “Then – một hình thái Saman giáo” in trong Tạp chí Văn hóa dân gian, tiến hành phân tích Then như một loại hình tín ngưỡng dân gian
- Tháng 4 năm 2001, Hội thảo Quốc tế Tín ngưỡng thờ Mẫu và lễ hội Phủ Dày
do Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn quốc gia (nay là Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam) phối hợp với UBND tỉnh Nam Định tổ chức tại Hà Nội Hội thảo tập trung nhiều bài viết của các tác giả trong và ngoài nước đề cập đến tín
Trang 28ngưỡng và lễ hội trong văn hóa của người Việt Tham gia Hội thảo này có ba bài viết về Then, một bài của Nguyễn Thị Yên “Shaman giáo trong Then của người Tày”; một bài của Đoàn Thị Tuyến “Căn nguyên trở thành Then trong xã hội Tày, Nùng Văn Quan, Lạng Sơn”; một bài của Võ Quang Trọng “Bước đầu so sánh nghi
lễ hầu đầu của người Việt và nghi lễ Then của người Tày” Đây có thể coi là một diễn đàn khoa học để các nhà nghiên cứu thảo luận hình thức tín ngưỡng của người Tày nói riêng, người Việt nói chung
- Ngô Đức Thịnh (2002), có bài “Then - Một hình thức Shaman của dân tộc
Tày ở Việt Nam” in trong Tạp chí Văn hoá dân gian, là một bài tổng luận vừa cô
đọng vừa mang tính khái quát về các vấn đề liên quan đến Then Ở phần kết luận, tác giả đã đưa ra một số vấn đề có tính gợi mở cho việc tiếp tục nghiên cứu về Then, chẳng hạn như Then là một hình thức sân khấu tâm linh, thỏa mãn các nhu cầu tâm linh và thưởng thức văn hóa nghệ thuật của quần chúng nhân dân
- Hoàng Nam (2006), có bài “Then - cái nhìn từ hệ thống tín ngưỡng” in trong
Tạp chí Dân tộc học, đề cập đến với xu hướng khai thác Then từ giá trị nghệ thuật
dân gian và khai thác Then như một biểu hiện của tín ngưỡng dân gian
- Hà Anh Tuấn (2008), hoàn thành luận văn Thạc sĩ, Đại học Sư phạm Thái
Nguyên với đề tài: Văn hoá tâm linh của người Tày qua lời hát Then Nghiên cứu
hát Then của người Tày dưới góc nhìn về văn hóa tâm linh
- Vũ Thị Nhung (2013), hoàn thành khóa luận tốt nghiệp Cử nhân chuyên
ngành Văn hóa, đề tài: Then cầu an của người Tày ở Dương Quang Bắc Kạn, giới
thiệu khái quát về người Tày ở Dương Quang, Bắc Kạn Đồng thời, tìm hiểu đặc điểm Then cầu an trong đời sống văn hóa tín ngưỡng người Tày, đưa ra giải pháp bảo tồn, phát huy giá trị của Then cầu an
Ngoài ra còn nhiều bài viết nghiên cứu Then đăng trên các tạp chí, như: Hà Đình Thành có bài “Tình hình sưu tầm, nghiên cứu tín ngưỡng Then, Mo, Tào, Pụt
của người Tày, người Nùng ở Việt Nam” in trong Tạp chí Nghiên cứu tôn giáo;
Nguyễn Duy Thiệu có bài “Đường về mường trời của người Tày ở Mường Má (xã
Mó Lao, huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai)” in trong Tạp chí Dân tộc học; Nguyễn Thị Yên có hai bài, một bài là “Saman giáo trong Then của người Tày” in trong Nguồn sáng dân gian; bài thứ hai là “Lịch sử vấn đề sưu tầm, nghiên cứu Then ở miền Bắc
Trang 29Việt Nam” in trong Tạp chí Văn hoá dân gian, v.v… Những bài viết theo hướng
này đã cho một bức tranh rõ nét về khía cạnh tín ngưỡng của Then khi hành nghề kiểu saman giáo Các công trình nghiên cứu này đã góp phần nhận thức đúng về bản chất của Then là một loại hình văn nghệ dân gian, đồng thời cũng là một biểu hiện của tín ngưỡng dân gian, văn nghệ được sử dụng trong tín ngưỡng và tín ngưỡng lại
sử dụng văn nghệ làm phương tiện Nhìn chung, các công trình đã thành công đáng
kể trong việc sưu tầm, giới thiệu những khía cạnh văn hóa của Then Tày
1.2.1.2 Các công trình nghiên cứu từ góc độ văn hóa tín ngưỡng Then cấp sắc
- Nguyễn Thị Yên (2000) hoàn thành đề tài cấp viện Then cấp sắc của người Tày qua khảo sát ở huyện Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng tại Viện nghiên cứu văn hóa
dân gian (nay là Viện Nghiên cứu Văn hóa) Trên cơ sở của đề tài, tác giả hoàn thiện thêm và để bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ ngành Văn hóa học tại Viện
Nghiên cứu Văn hóa với đề tài Then cấp sắc của người Tày ở huyện Quảng Uyên tỉnh Cao Bằng vào năm 2005 Đề tài này sau khi bảo vệ thành công (năm 2006), tác giả xuất bản thành sách với tiêu đề Then Tày (Nxb KHXH) gồm 4 chương Đây
được xem là một công trình nghiên cứu đầy đủ và hệ thống về Then Tày ở Cao Bằng, trong đó tác giả dành riêng chương 2 để trình bày về “Diễn xướng nghi lễ Then cấp sắc” mà ở đó phần văn bản nghi lễ Then cấp sắc được tác giả sử dụng để làm cơ sở mô tả toàn bộ nghệ thuật diễn xướng nghi lễ Then cấp sắc của dòng then nam ở khu vực huyện Quảng Uyên (tách ra từ huyện Quảng Hòa), Cao Bằng
- Nguyễn Thị Tuyết Nhung (2013), có bài “Những giá trị trong lễ Lẩu Then
cấp sắc hành nghề”, in trong Tạp chí Văn hóa nghệ thuật, cho Then là một hình
thức sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng dân gian truyền thống, có lịch sử lâu đời, trong
nó chứa đựng những giá trị văn hóa nghệ thuật riêng có của cư dân Tày - Nùng ở Lạng Sơn Hát Then được bảo lưu qua nhiều thế hệ và luôn xuất hiện từ đời sống thường nhật đến những sự kiện quan trọng của cộng đồng như lễ hội, đám cưới, đám ma, lễ mừng sinh nhật, cầu an, cầu phúc
- Dương Thị Lâm và Trần Văn Ái (2015), Lẩu Then cấp sắc hành nghề của người Tày ở xã Tân Lập, huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn (Nxb KHXH), công trình
khái quát về vị trí địa lý, đặc điểm kinh tế, văn hoá, xã hội người Tày xã Tân Lập (Bắc Sơn, Lạng Sơn); nghiên cứu mục đích, vai trò của đại lễ Then Điểm mới của
Trang 30công trình là tập trung làm rõ về những giá trị nghi lễ loại hình lẩu Then cấp sắc hành nghề và đưa ra giải pháp bảo tồn loại hình di sản văn hóa phi vật thể này
1.2.2 Các công trình nghiên cứu từ góc độ văn hóa nghệ thuật
1.2.2.1 Các công trình nghiên cứu từ góc độ văn hóa nghệ thuật về Then
- Năm 1978, nhà xuất bản Văn hóa Dân tộc in cuốn Mấy vấn đề về Then Việt Bắc của nhiều tác giả đã được viết trong Hội nghị sơ kết công tác sưu tầm, nghiên
cứu Then Việt Bắc của năm 1975 và một bài viết ở những năm trước đó Có thể nói, đây là cuốn sách đầu tiên đã khảo sát về Then trên phạm vi địa bàn rộng và xem xét Then từ nhiều góc độ khác nhau, như: Nguồn gốc, loại hình, nghệ thuật biểu diễn,
âm nhạc, giá trị văn học, v.v… Tuy nhiên, do quán triệt tư tưởng gạn đục khơi trong nên các tác giả bài viết mặc dù đều thừa nhận Then là một loại hình sinh hoạt có tính tín ngưỡng nhưng hầu như lại không đề cập một cách thích đáng
- Dương Kim Bội (1978), có bài “Những yếu tố dân ca, ca dao trong lời Then
Tày – Nùng” in trong Tạp chí Dân tộc học, phân tích những yếu tố dân ca, ca dao
trong lời Then Tày, một hình thức mang màu sắc tôn giáo nhưng rất gần gũi với cuộc sống nhân dân lao động, được nhân dân yêu thích và trân trọng
- Vi Hồng (1979), Sli lượn Dân ca trữ tình Tày - Nùng, đã gián đề cập đến
Then, so sánh Then với các hình thức tín ngưỡng dân gian khác và xem xét mối quan hệ giữa Then với Sli lượn Tuy công trình chủ yếu nghiên cứu về hình thức dân ca trữ tình, song tác giả cũng có đôi điều gợi ý cho công trình nghiên cứu về Then Tày Năm (1992), có bài “Tình hình văn bản và một số suy nghĩ về bài ca
Khảm hải” in trong Tạp chí Văn hóa dân gian, nêu ra tình trạng văn bản Khảm hải
mà tác giả đã sưu tầm được, đồng thời phân tích nội dung văn bản phản ánh hiện thực cuộc sống cơ cực của người dân dưới chế độ phong kiến thời quá khứ
- Cung Văn Lược (1996), có bài “Vài đặc điểm của Then nhìn từ góc độ văn
bản Nôm Tày” in trong Tạp chí Văn hóa dân gian, đã điểm qua những nét chính về
ngôn ngữ văn tự của Then, như các bài ca Then luôn luôn hiện diện với người hát Then (về sau trở thành người chuyên làm Then)
- Nguyễn Thị Hiền (2000), có bài “Người diễn xướng Then: Nghệ nhân hát
dân ca và thầy saman” in trong Tạp chí Văn học, tập trung nghiên cứu khẳng định
Trang 31người diễn xướng Then không chỉ là một nghệ nhân hát dân ca mà còn là một thầy cúng – thầy Shaman thực thụ
- Dương Thị Lâm (2002), hoàn thành luận văn Thạc sĩ ngành Văn hóa, Đại
học Văn hoá Hà Nội, đề tài: Nghệ thuật Then của người Tày ở Lạng Sơn, đã tìm
hiểu, phân tích và đánh giá nghệ thuật hát Then của người Tày tại tỉnh Lạng Sơn
- Nguyễn Thị Hoa (2002), hoàn thành luận văn Thạc sĩ Ngữ văn, Đại học Sư
phạm I Hà Nội, đề tài: Khảo sát Then hết khoăn (giải hạn) của người Tày ở huyện Đình Lập, tỉnh Lạng Sơn, tiến hành khảo sát nuổi lễ Then giải hạn của người Tày ở
huyện Đình Lập Từ đó, nêu ra những yếu tố nghệ thuật của loại Then này
- Nông Thị Nhình (2004), Nét chung và riêng của âm nhạc trong diễn xướng Then Tày Nùng (Nxb Văn hoá dân tộc), đề cập tới phần âm nhạc trong Then, sự
giống nhau và khác nhau về âm nhạc Then của mỗi vùng Qua đó thấy được sự phong phú, đa dạng cũng như giá trị nghệ thuật trong Then của người Tày Nùng Sách gồm ba chương, chương 1: Các hình thức âm nhạc trong Then; chương 2: Nhạc cụ trong Then; chương 3: Đặc điểm âm nhạc trong Then Đây là một công trình khảo cứu công phu về âm nhạc Then, góp phần khẳng định cho thành tựu nghiên cứu Then trong giai đoạn hiện nay
- Đỗ Trọng Quang (2005), có bài “Đồng bào Tày Nùng với nghệ thuật hát
Then” in trong Tạp chí Dân tộc và thời đại, giới thiệu hát Then là một sản phẩm âm
nhạc độc đáo của dân tộc Tày – Nùng Làn điệu của hát Then là hát đối đáp nam nữ
và phản ánh sinh hoạt cộng đồng Hát Then thường được tổ chức vào dịp hội xuân,
lễ thượng thọ, lễ cầu tự (đối với gia đình muộn đường con cái) Trong các bài hát tỏ tình, nhiều khi bà Then một mình đóng hai vai nam, nữ và một mình đối đáp Hát Then ngày càng được nhiều nhà sáng tác âm nhạc khai thác, làm phong phú cho kho tàng nghệ thuật dân tộc
- Lê Thị Điền (2005), hoàn thành khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Văn hóa,
Đại học Văn hóa Hà Nội, đề tài: Then và nghệ thuật hát Then trong đời sống cộng đồng tộc người Tày (xã Thần Sa, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên), đã khảo sát các
yếu tố nghệ thuật múa, nhạc, hình họa trong buổi lễ Then của người Tày xã Thần
Sa, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên
Trang 32- Lương Thị Hạnh (2006), có bài “Lễ cầu an của người Tày ở Bắc Kạn”, in
trong Tạp chí Dân tộc học, giới thiệu chi tiết về một buổi lễ cầu an, là một trong
những đặc sắc còn giữ lại được trong đời sống tinh thần và phát triển cao trên cơ sở nền tảng tâm linh và nghệ thuật diễn xướng
- Nguyễn Thanh Hiền (2007), hoàn thành luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Ngữ
văn, Đại học sư phạm Hà Nội, đề tài: Khảo sát phần lời ca trong Then cầu tự của người Tày Cao Bằng, đã phân tích lời ca của thể loại Then cầu tự (xin con) của
người Tày ở Cao Bằng, trong đó có nêu rõ nội dung, ý nghĩa và nghệ thuật của thể loại Then này
- Phạm Thị Thu Hà (2008), có cuốn Then giải hạn của người Tày huyện Chí Lăng, tỉnh Lạng Sơn (Viện Dân tộc học), tìm hiểu Then giải hạn thuộc một trong
những loại hình Then của người Tày ở Chi Lăng – Lạng Sơn, đồng thời giới thiệu phương thức diễn xướng, nội dung và nghệ thuật Then giải hạn trong đời sống người Tày ở Chi Lăng hiện nay
- Nguyễn Minh Tuân (2009), có bài “Tính giáo dục trong Then bách thú của
người Tày – Nùng” in trong Thông báo Hán Nôm học, phân tích các yếu tố mang
tính giáo dục về hiếu nghĩa với cha mẹ ông bà, về nhân cách, về phẩm chất và nếp sống văn hóa và lẽ sống ứng xử với cộng đồng của người Tày Nùng
- Phạm Thị Thu Hà (2010), có bài “Phương thức diễn xướng Then giải hạn
của người Tày ở huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn”, in trong Tạp chí Dân tộc học,
bàn về số mệnh và các vận hạn của người Tày ở Chi Lăng theo quan niệm xưa, đồng thời tìm hiểu phương thức diễn xướng Then giải hạn, như: Nghi thức và nghi
lễ, trình tự các bước nghi lễ, thời gian và không gian diễn xướng
- Đinh Thị Liên (2012), hoàn thành luận văn Thạc sĩ chuyên Ngôn ngữ học,
ĐHSP Thái Nguyên, đề tài: Một số đặc điểm ngôn từ trong Then Tày, trình bày về
những đặc điểm ngôn từ trong Then, như: Lớp từ ngữ biểu thị những sự vật và hiện tượng tự nhiên, lớp từ ngữ chỉ đồ vật, lớp từ ngữ chỉ lực lượng siêu nhiên, v.v… Ngoài ra, tác giả còn chỉ rõ một số đặc điểm về hình thức như kết cấu thể, vần, nhịp trong Then
- Tô Ngọc Thanh (2012), có bài “Đôi nét về hát Then” in trong Nguồn sáng dân gian, trình bày về hát Then – loại hình văn hóa tín ngưỡng của các dân tộc Thái
Trang 33– Tày qua việc giới thiệu nguồn gốc, nghệ thuật, người trình diễn, trang phục trang trí, lễ vật của Then cấp sắc và Then trong đời sống con người
- Trần Mạnh Tiến (2013), có bài “Hát Then với hát chầu văn trong đời
sống văn hóa tâm linh” in trong Nguồn sáng dân gian, giới thiệu khái lược về
tập quán hát Then, mối tương quan giữa hát Then với hát Chầu văn Đồng thời tìm hiểu rõ hơn hai loại hình diễn xướng thông qua hai bài ca “Xo cầu phúc” và
“Văn phụ mẫu”
- Hoàng Nam (2013), có bài “Then – cái nhìn từ văn nghệ dân gian” in trong
Nguồn sáng dân gian, giới thiệu sơ lược về Then, một loại hình nghệ thuật diễn
xướng dân gian gồm có cả lời hát, âm nhạc, điêu khắc và hóa trang
- Nguyễn Thị Luân (2014), hoàn thành khóa luận chuyên ngành Văn hóa, đề
tài: Tình hình phát triển của nghệ thuật hát Then ở hai xã Vĩnh Yên và Nghĩa Đô, huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai, tìm hiểu về các nghệ nhân tham gia vào hoạt động
Then, hát Then được đưa vào trường học, sự ra đời của câu lạc bộ hát Then, hội diễn văn nghệ về Then ở địa phương Đây là một trong những đề tài có những đóng góp về hiện trạng bảo tồn và phát huy của Then trong cộng đồng dân tộc của một địa phương
1.2.2.2 Các công trình nghiên cứu từ góc độ văn hóa nghệ thuật về Then cấp sắc
- Nguyễn Thị Hiền (1998) Báo cáo “Người diễn xướng Then: nghệ nhân hát dân ca và thầy Shaman” tại hội thảo quốc tế Việt Nam học được ghi nhận là đầu tiên đã khẳng định rằng người diễn xướng Then không chỉ là một nghệ nhân hát dân
ca mà còn là một thầy cúng - thầy Shaman thực thụ, điều mà các nghiên cứu trước đây chưa làm rõ Theo đó, người hầu bóng khi hầu đồng không đi đến thế giới khác
mà chỉ ở trạng thái nhập thần để nhận được thông điệp từ thế giới vô hình, rồi lại
“xa giá hồi cung”
- Hà Diệu Thu (2006), có bài “Múa trong Then cấp sắc của người Tày ở tỉnh
Lạng Sơn”, in trong Tạp chí Dân tộc học, giới thiệu cấp sắc là một nghi lễ quan
trọng đối với những người làm Then Với Then cấp sắc, múa giữ vai trò quan trọng trong suốt buổi lễ này Bài viết gồm các nội dung: Một số quan niệm về múa trong Then; Một số điệu múa chính trong Then cấp sắc (múa chầu, múa khảm hải, múa tán hoa)
Trang 34- Nguyễn Thị Tuyết Nhung (2017), hoàn thành luận án Tiến sĩ ngành Văn hóa
học, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội, đề tài “Nghệ thuật trình diễn nghi lễ Then của người Tày ở huyện Bắc Sơn tỉnh Lạng Sơn”, đã đi sâu vào nghiên cứu những
yếu tố cấu thành nghệ thuật trình diễn nghi lễ Then, trong đó chủ yếu là Then cấp sắc Từ đó nhận định về đặc điểm, giá trị và sự biến đổi của nghệ thuật trình diễn ở huyện Bắc Sơn tỉnh Lạng Sơn
1.2.3 Các công trình sưu tầm, giới thiệu văn bản Then
1.2.3.1 Các công trình sưu tầm, giới thiệu văn bản lời hát Then
- Hoàng Hạc (1964), trích dịch và giới thiệu Then “Khản hải” in trong tập Truyện thơ Tày Nùng (Nxb Văn học), giới thiệu một số chương đoạn của Then
vượt biển, là hành trình lên mường trời và thường được tiến hành trong các đại lễ của Then như lễ kỳ yên, lễ cấp sắc, v.v… diễn xướng vào lúc nửa đêm
- Dương Kim Bội (1975), Lời hát Then (Sở văn hóa thông tin Khu tự trị Việt
Bắc), giới thiệu về lời hát Then dưới dạng nguyên bản tiếng Tày Rất tiếc là tác giả mới chỉ trích dịch được một phần rất ít Thế nhưng, dù sao đây cũng là cuốn sách đầu tiên giới thiệu với độc giả về nội dung chính của lời hát Then Tuy nhiên, đúng như tác giả đã thừa nhận trong phần giới thiệu ở trang 29, đó là sự sắp xếp các đoạn Then chỉ là tương đối, chủ yếu dựa vào giai thoại xuất xứ của Then Do vậy, văn bản Then này không tránh khỏi những khiếm khuyết, thể hiện ở sự áp đặt chủ quan của tác giả trong việc giới thiệu văn bản và ở sự trùng lặp một số chương đoạn Then
- Lục Văn Pảo (1992), Pụt Tày (Nxb Khoa học xã hội), giới thiệu về kết cấu
nội dung của Pụt, giải thích hàm nghĩa ý nghĩa của từ Pụt, chức năng nghề nghiệp của Pụt, phân biệt sự khác nhau giữa Pụt và Then Ngoài ra, tác giả còn đi vào tìm hiểu một cách khái quát về nội dung chủ yếu và hình thức nghệ thuật của Pụt
- Vi Hồng (1993), Khảm hải - Vượt biển (Nxb Văn hóa Dân tộc), sưu tầm,
giới thiệu và chỉ ra thân phận của những người nghèo khổ phải gian nan vất vả chèo thuyền vượt biển đưa các quan quân cùng những lễ vật tới bến bờ bình an
- Hoàng Tuấn Cư, Vi Quốc Bình, Nông Văn Tư và Hoàng Hạc (1994), Then bách điểu (Nxb Văn hóa Dân tộc), giới thiệu trăm loài chim (bách điểu), là một xã
hội thu nhỏ của các loài chim Qua đó thấy được những bất công, ích kỷ, oan trái,
Trang 35vui buồn, v.v… mà trung tâm là chúa Then Toàn bộ tác phẩm dài 3.980 câu viết bằng chữ Nôm Tày đã được tác giả dịch sang tiếng Việt
- Lục Văn Pảo (1996), Bộ Then tứ bách (Nxb Văn hoá dân tộc), giới thiệu với độc giả về bốn bộ Then, gồm Bách cốc (trăm loài lúa), Bách thú (trăm loài thú), Bách điểu (trăm loài chim), Bách va (trăm loài hoa) Đó là thể loại nghi lễ cúng bái
cầu mùa của dân tộc Tày ở Việt Bắc
- Triều Ân (2000), có cuốn Then Tày những khúc hát (Nxb Văn hoá dân tộc),
giới thiệu những khúc hát về cầu chúc và lễ hội Toàn bộ cuốn sách gồm ba phần, phần 1: Then Tày và những khúc hát; phần 2: Những khúc hát (tuyển dịch); phần 3: Những khúc hát Then dàng (nguyên văn Tày – phiên âm từ bản Nôm) Năm 2011,
có cuốn Lễ hội dàng Then (Nxb Văn hóa Thông tin), giới thiệu lễ hội Dàng Then là
một di sản văn hóa dân gian của vùng dân tộc Tày Sách gồm các phần: Lễ hội Dàng Then; Khúc hát phần lễ; Khúc hát phần hội; Khúc hát lễ hội Dàng Then
- Phạm Tuất (2006), sưu tầm và giới thiệu cuốn Then Tày đăm (Nxb Văn hóa
Thông tin), giới thiệu 1.098 câu của chương Thống Đẳm, 799 câu của chương Pang Khoăn, 820 câu của chương Cái Ban Then, 649 câu của chương Cấp Sắc Then, 603 câu của chương Cầu Bjoóc
- Nguyễn Thị Yên (2008) chủ biên cuốn Quyển Đẳm (Nxb Văn hóa Dân tộc),
giới thiệu về đám tang của người làm nghề thầy cúng người Tày Ngoài phần mô tả diễn xướng nghi lễ (của Tào và Then) còn sưu tầm, giới thiệu toàn bộ văn bản nghi
lễ Then (nguyên bản tiếng Tày và bản dịch) Năm 2009 tiếp tục chủ biên cuốn Then chúc thọ của người Tày, (Nxb Văn hóa Dân tộc), gồm 3 phần, phần 1: Then chúc
thọ của người Tày (giới thiệu nội dung nghi lễ Then chúc thọ cho người già người Tày); chương 2: Văn bản Then chúc thọ (tiếng Tày); chương 3: Văn bản Then chúc thọ (dịch sang tiếng Việt)
Năm 2008, bộ Thư mục sách Hán Nôm của các dân tộc thiểu số Việt Nam, 3
tập (Nxb KHXH), do Trịnh Khắc Mạnh chủ biên là bộ sách đầu tiên được thống kê chi tiết về mảng thư tịch Hán Nôm các dân tộc thiểu số Việt Nam lưu trữ tại VNCHN Trong đó, (tập 1) tóm tắt được 1.519 đầu sách, (tập 2) tóm tắt được 1.367 đầu sách, (tập 3) tóm tắt được 1.478 đầu sách với nhiều thể loại văn học, như:
Truyện thơ, y dược, hát dân ca, tôn giáo, dạy học, v.v… Trong bộ Tổng tập truyện
Trang 36thơ Nôm các dân tộc thiểu số Việt Nam, 18 tập, (Nxb KHXH) do Trịnh Khắc Mạnh
chủ trì, giới thiệu các thể loại truyện thơ Nôm Tày, trong đó các tập viết về Then,
gồm: (Tập 11) có Lễ hội hằng nga do Hoàng Triều Ân giới thiệu, phiên âm, dịch nghĩa Pác va do Trần Thu Hường giới thiệu, phiên âm, dịch nghĩa Xéc pụt do Hoàng Phương Mai giới thiệu, phiên âm, dịch nghĩa (Tập 12) có Then Tày giải hạn
do Hoàng Triều Ân giới thiệu, phiên âm, dịch nghĩa (Tập 17) có Then Tày – Lễ kỳ yên do Hoàng Triều Ân giới thiệu, phiên âm, dịch nghĩa (Tập 18) có Quảy binh ca
do Nguyễn Minh Tuân phiên âm, dịch nghĩa, giới thiệu (Tập 11) có Then chèo lừa
do Nguyễn Minh Tuân phiên âm, dịch nghĩa, giới thiệu
- Nguyễn Thị Yên (2009), có cuốn Then chúc thọ của người Tày (Nxb Văn hóa
Dân tộc), giới thiệu Then chúc thọ nằm trong hệ thống lời hát Then của nghệ nhân Nông Vĩnh Tuân thuộc dòng Then nam (dàng) ở miền đông Cao Bằng Sách gồm 3 phần, phần 1: Then chúc thọ của người tày; chương 2: Văn bản Then chúc thọ (tiếng Tày); chương 3: Văn bản Then chúc thọ (dịch sang tiếng Việt)
- Hoàng Tuấn Cư, Hoàng Hạc, Nguyễn Thanh Huyền (2012), có cuốn Then Tày (Nxb Văn hóa Dân tộc), giới thiệu về một số thể loại Then của người Tày ở
Cao Bằng, như Then bách điểu, Then bắc cầu xin hoa (xin con)
- Ma Văn Đức (2017), sưu tầm, giới thiệu 4 tập Then cổ Tuyên Quang (Nxb
Hội Nhà văn) Trong 4 tập sách, tập 1 phiên âm và dịch nghĩa được 410 trang, tập 2 phiên âm và dịch nghĩa được 439 trang, tập 3 phiên âm và dịch nghĩa được 363 trang, tập 4 phiên âm và dịch nghĩa được 382 trang
- Nông Phúc Tước chủ biên (2017), Then bách hoa, bách điểu, bắt ve sầu
(Nxb Hội Nhà văn), giới thiệu Then bách hoa, bách điểu thuộc hệ thống Then Kỳ yên, mang ý nghĩa là cầu an, cầu mong phúc lộc, cuộc sống may mắn yên bình, mọi người mạnh khoẻ hạnh phúc Chương Then Bắt ve sầu như chương đệm nhằm bắt hết ve sầu cản trở giúp hỗ trợ đoàn binh mã có thêm sức mạnh để tiến lên thượng giới
Ngoài những công trình sưu tầm, giới thiệu văn bản lời hát Then in thành sách xuất bản, còn có những bài viết giới thiệu về văn bản Then, in trong các Tạp chí chuyên ngành như sau:
Trang 37- Phương Bằng (1990), có bài “Then“Bách điểu” in trong Tạp chí Dân tộc học,
giới thiệu thể loại Then bách điểu là bài ca về một trăm loài chim sinh sống trên các vùng núi phía Bắc của Việt Nam Toàn bộ nội dung của tác phẩm đã được ông dịch sang tiếng Việt (Kinh) để người đọc tiện theo dõi
- Vi Hồng (1992), có bài “Tình hình văn bản và một số suy nghĩ về bài ca
“Khảm hải””, in trong Tạp chí Văn hóa dân gian, nêu ra tình trạng văn bản Khảm hải mà tác giả đã sưu tầm được, đồng thời phân tích nội dung văn bản phản ánh
hiện thực cuộc sống cơ cực của người dân dưới chế độ phong kiến thời quá khứ
- Lục Văn Pảo (1993), có bài “Then Bách va” in trong Tạp chí Dân tộc học, giới thiệu 355 câu Then Bách va (trăm loài hoa) Tác giả tiến hành dịch theo nghĩa
đen chứ không dịch thoát ý và không bình luận Năm 1994, lại có bài “Then bách
cốc và Then bách thú” in trong Tạp chí Dân tộc học, giới thiệu với độc giả bằng cách dịch nghĩa sang tiếng Việt với tổng số 80 câu thơ Then Bách cốc và Bách thú
thuộc một trong bộ tứ bách của người Tày
- Nguyễn Minh Tuân (2001), có bài “Mảng thư tịch Nôm Tày – Nùng hiện lưu
trữ tại kho sách Viện Nghiên cứu Hán Nôm” in trong Thông báo Hán Nôm học,
thống kê các văn bản Nôm Tày Nùng đang được lưu giữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, trong đó có mảng văn bản Then Ngoài ra, tác giả còn nêu ra sự khác biệt giữa làn điệu hát Then với làn điệu hát Sli, hát Lượn
- Đinh Nữ Bình Minh (2008), hoàn thành luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Hán
Nôm, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, đề tài: Nghiên cứu văn bản Then Tày Cao Bằng, nghiên cứu 3 chương, chương 1 đưa ra khái lược về các loại Then; chương 2
phân tích cấu trúc và nội dung của văn bản Then, trong đó đi vào phân tích cấu tạo
và kiểu loại chữ Nôm Tày; chương 3 đánh giá về giá trị của văn bản
- Triệu Thị Mai (2010), Lượn Then ở miền đông Cao Bằng (Đại học quốc gia
Hà Nội), đánh giá Lượn Then là một trong những hình thức hát dân ca giao duyên của thanh niên nam nữ dân tộc Tày ở miền đông tỉnh Cao Bằng Đó là một trong những nét đẹp văn hóa của người Tày ở Cao Bằng Sách gồm hai phần, phần 1: Hát mời; lượn mời; lượn mừng; lượn đố… (tiếng Việt) Phần 2: Nguyên bản tiếng Tày
- Nguyễn Tuấn Cường và Nguyễn Văn Tuân (2017), có bài “Tìm hiểu thuật
ngữ Then từ góc độ ngữ văn học qua văn bản Nôm Tày” in trong Từ điển học &
Trang 38Bách khoa thư, khảo sát về cấu trúc chữ Then và ý nghĩa của nó qua một số văn bản
Then viết bằng chữ Nôm Tày, từ đó rút ra định nghĩa khái niệm về Then một cách tổng quát
- Trịnh Khắc Mạnh (2018), có bài “Giới thiệu các văn bản then Nôm Tày lưu
trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm” in trong Tạp chí Hán Nôm, đã nêu ra những vấn
đề về Then Nôm Tày, văn bản Then hiện lưu trữ tại VNCHN, từ đó làm rõ một số đặc điểm hình thức và nội dung của văn bản Then hiện lưu trữ tại VNCHN
1.2.3.2 Các công trình sưu tầm, giới thiệu văn bản lời hát Then cấp sắc
Trong cuốn Mấy vấn đề về Then Việt Bắc của Nxb Văn hóa Dân tộc (1978)
có in 2 bài về Then cấp sắc Trong đó, bài thứ nhất là “Tường thuật đám Lẩu Then Cao Bằng” của Nông Đinh Tuấn, miêu tả tuần tự một đám Lẩu Then ở Cao Bằng, gồm: 1) Then tạng dọn tàng; 2) Sát uế; 3) Cẩm thế; 4) Loát lẩu; 5) Khỉn không khỉn quản; 6) Vượt qua rừng vắt, rừng đỉa; 7) Vượt qua vùng sương tuyết; 8) Vượt qua rừng rắn; 9) Vượt qua vùng đười ươi; 10) Dự vài; 12) Shuông; vào cửa Ngọc Hoàng; Pắt phảp Cuối cùng tác giả cho rằng, nội dung có đề cập đến nhiều vấn đề
về đời sống lao động của nhân dân và có nhiều tình tiết sử dụng yếu tố thần thoại Bài thứ hai là “Lẩu Then Hà Giang” của Lê Trung Vũ, miêu tả 12 chặng đường mà đoàn quân Then phải vượt qua, là: mở đầu; 1) Đẩm táng; 2) Thổ Công; 3) Phi slẩn; 4) Phủ thanh lâm; 5) Hành khiển; 6) Po pỏi; 7) Xung; 8) Đẳm bôn; 9) Nặm lẩu; 10) Nặm kim; 11) Phố tam quang; 12) Tàng khỉn lẩu, rồi vào gặp Ngọc Hoàng để xin được cấp sắc Qua đó, tác giả đưa ra đề xuất rằng, cần phải tiến tới làm rõ được nội dung tư tưởng và giá trị nghệ thuật cũng như ý nghĩa của Then cấp sắc Như vậy, hai bài vừa nêu được coi là khởi đầu cho việc nghiên cứu về Then cấp sắc
- Nguyễn Thiên Tứ (2009), có cuốn Lễ cấp sắc môn phái Then phái nữ phía tây của dân tộc Tày tỉnh Cao Bằng (Nxb Văn hóa Dân tộc), tìm hiểu về lễ cấp sắc
môn phái nữ phía tây của dân tộc Tày tỉnh Cao Bằng Sách gồm ba phần, phần 1: Mấy vấn đề về lễ cấp sắc môn phái Then nữ phía tây của dân tộc Tày tỉnh Cao Bằng; phần 2: Lễ kỳ yên giải hạn; phần 3: Nội dung lễ cấp sắc
- Hoàng Thị Cành, Ma Văn Hàn, Hoàng Ngọc Hồi (2011), có cuốn Khỏa quan những khúc hát lễ hội dân gian dân tộc Tày (Nxb Thanh niên), phiên âm, dịch
Trang 39nghĩa, chú thích và giới thiệu 23 bài hát Khỏa quan thuộc hệ thống Then cấp sắc ở vùng Cao Bằng
- Hoàng Tuấn Cư (2016), sưu tầm, biên dịch hai tập Khỏa Quan những bài lượn trong nghi lễ cấp sắc, thăng sắc của người Tày Lạng Sơn (Nxb Sân khấu)
Tác giả đã phiên âm, dịch nghĩa, chú thích và giới thiệu được 175 bài hát Khỏa quan (in làm 2 tập) Khỏa quan là lối hát đối đáp giữa một bên là những người làm Then với một bên là các Khỏa – những người hiểu biết các công việc của cuộc Then
- Năm 2016, Ma Văn Vịnh, Nguyễn Văn Quyền sưu tầm, giới thiệu hai tập
Các bài hát Then nghi lễ cấp sắc tăng sắc của người Tày Bắc Kạn (Nxb Hội nhà
văn) Nhóm tác giả đã phiên âm, dịch nghĩa, chú thích và giới thiệu được 82 bài hát dùng trong lễ cấp sắc hoặc tăng sắc của người Tày ở Bắc Kạn Trong đó, ở quyển 1 là phần giới thiệu và phiên âm Tày, ở quyển 2 là phần dịch nghĩa sang tiếng Việt (Kinh)
- Năm 2017, Hoàng Biểu sưu tầm, biên dịch cuốn Khỏa Quan của người Tày
ở Lạng Sơn (Nxb Văn hóa Dân tộc) Tác giả đã phiên âm, dịch nghĩa, chú thích và
giới thiệu được 54 bài hát Khỏa quan mà tác giả đã sưu tầm được ở xã Tân Đoàn, huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn
Ngoài những ấn phẩm nêu trên, còn có một số bài nghiên cứu, giới thiệu văn bản Then cấp sắc, như Hoàng Phương Mai (2003), có bài “Bài văn cấp sắc trong lễ
cấp sắc Then của người Tày”, in trong Thông báo Hán Nôm, đã tiến hành phiên âm,
dịch nghĩa một đoạn văn sắc cấp cho nhà Then bằng chữ Hán, đồng thời giới thiệu
sơ bộ về các loại hình Then của người Tày
Nguyễn Văn Tuân (2015), hoàn thành luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Hán
Nôm, Học viện Khoa học xã hội, đề tài: Nghiên cứu tác phẩm Nôm Tày “Quảy binh
ca, phiên âm, dịch nghĩa, chú thích và giới thiệu tác phẩm Quảy binh ca thuộc thể
loại Then cấp sắc Đồng thời, tìm hiểu về giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm Năm (2018), có bài “Tìm hiểu những “đường Then” cấp sắc qua các văn bản
Then Nôm Tày” in trong Tạp chí Hán Nôm, số 4 (149), đã giới thiệu một số đường
thỉnh đầu tiên của buổi lễ cấp sắc Qua đó giới thiệu về các chặng đường lên thiên giới trong một đường Then cấp sắc, đồng thời giới thiệu những quy ước đặt đạo
Trang 40hiệu và ấn tín cho Then khi được cấp sắc Tiếp đến lại có bài “Tìm hiểu đặc điểm
Then cấp sắc của người Tày qua văn bản Nôm Tày”, Tạp chí Nhân lực Khoa học xã hội, số 9 (64), đã giới thiệu một số đặc điểm của văn bản Then cấp sắc viết bằng
chữ Nôm Tày hiện đang lưu trữ tại VNCHN
1.2.4 Nhận xét chung về tình hình nghiên cứu liên quan đến luận án
Qua các công trình, các bài viết của các nhà nghiên cứu đi trước, chúng tôi nhận thấy, những công trình nghiên cứu của các tác giả đều đạt được thành tựu ở nhiều góc độ văn hóa, tín ngưỡng, tôn giáo, nghệ thuật, v.v
- Về mặt tư liệu: Các công trình nghiên cứu đã cung cấp được nhiều tư liệu rất
có giá trị về Then nói chung, Then cấp sắc của người Tày nói riêng Trong số tư liệu của các công trình nghiên cứu, có những công trình chỉ căn cứ vào kết quả điều tra điền dã, song cũng có những công trình đã kết hợp từ những kết quả điền dã và khai thác từ văn bản Nôm Tày, như các tác giả Triều Ân, Lục Văn Pảo, Hoàng Tuấn Cư, Nguyễn Thị Yên, v.v Ngoài ra, còn có những công trình chỉ cung cấp tư liệu dưới hình thức phiên âm, dịch nghĩa, chú thích và giới thiệu văn bản Nôm Tày, nhưng chưa khai thác sâu về các yếu tố nội dung của văn bản ấy Tựu chung, các công trình nghiên cứu đi trước đã cung cấp được nhiều thông tin đáng tin cậy về Then Tày nói chung, Then cấp sắc của người Tày nói riêng; tạo điều kiện thuận lợi cho giới nghiên cứu ở thế hệ sau có những tư liệu tin cậy để triển khai nghiên cứu những vấn đề tiếp theo
- Về mặt học thuật: Các công trình nghiên cứu đã đạt được nhiều thành tựu
trong việc tìm hiểu, phân tích về giá trị nội dung và nghệ thuật của Then Tày nói
chung Điển hình là những tập sách lần lượt được xuất bản, công bố như Then Tày của Nguyễn Thị Yên; Lễ cấp sắc môn phái Then phái nữ phía tây của dân tộc Tày tỉnh Cao Bằng của Nguyễn Thiên Tứ; v.v Ngoài những công trình nghiên cứu
được in ấn xuất bản công bố dưới ấn phẩm, các bài viết cũng rất phong phú, đề cập đến nhiều vấn đề xung quanh về Then, nhưng chủ yếu nhất là ở hai góc độ văn hóa tín ngưỡng và văn hóa nghệ thuật Về văn hóa tín ngưỡng, các bài viết tập trung tìm hiểu Then dưới góc nhìn văn hóa tâm linh, như: Khảo sát đối tượng cúng trong Then, sự hình thành và biến đổi của Then Tày, phân tích vị trí của Then trong đời