BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ PHẠM ĐẶNG TRÂM ANH TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGHIÊN CỨU HIỆU QUẢ CỦA GIAO TIẾP CÙNG THỜI ĐIỂM QUA TRUNG GIAN MÁY TÍNH ĐỐI VỚI
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ
PHẠM ĐẶNG TRÂM ANH TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ
NGHIÊN CỨU HIỆU QUẢ CỦA GIAO TIẾP CÙNG THỜI ĐIỂM QUA TRUNG GIAN MÁY TÍNH ĐỐI VỚI VIỆC PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG NGÔN NGỮ
CHO SINH VIÊN VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ
LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC BỘ MÔN TIẾNG ANH
HUE, 2019
Trang 2Công trình được hoàn thành tại trường Đại học Ngoại ngữ Huế
Người hướng dẫn khoa học:
PGS TS TRẦN VĂN PHƯỚC PGS TS NGUYỄN VĂN LONG
Phản biện 1:
Phản biện 2:
Phản biện 3:
Luận án được bảo vệ tại Hội đồng đánh giá luận án cấp Đại học Huế tại số 03 Lê Lợi, thành phố Huế vào ngày tháng năm
Có thể tìm luận án tại:
- Thư viện trường Đại học Ngoại ngữ Huế
- Thư viện Quốc gia
Trang 3LỜI CAM ĐOAN CỦA TÁC GIẢ
Tôi xin xác nhận tôi là tác giả duy nhất của luận án tiến sĩ này
và tôi không sử dụng bất cứ nguồn tài liệu nào khác ngoài những tài liệu đã được trích dẫn và liệt kê trong danh mục tài liệu tham khảo
Tôi cũng xác nhận tôi không nộp luận án tiến sĩ này cho bất cứ
cơ sở giáo dục nào khác để xin được cấp bằng
Tại: Huế, Việt Nam
Nghiên cứu sử dụng thiết kế phỏng thực nghiệm dựa trên kết quả kiểm tra đầu vào và đầu ra 30 sinh viên của trường Đại học Kỹ thuật Y – Dược Đà Nẵng tham gia vào nghiên cứu Cả 2 số liệu định lượng và định tính được thu thập để sử dụng cho mục đích nghiên cứu
Kết quả cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về năng lực nói và viết giữa hai nhóm vào cuối học kỳ Tuy nhiên, có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về kết quả điểm kiểm tra nói và viết giữa đầu học kỳ và cuối học kỳ Kết quả phân tích đặc điểm từ vựng cho thấy nhìn chung có gia tăng về ngôn ngữ mặc dù không phát hiện có sự khác biệt giữa hai nhóm can thiệp Phân tích bảng câu hỏi và phỏng vấn bán cấu trúc cho thấy khóa học tiếng Anh 1 học kỳ có thể nâng cao phát triển ngôn ngữ cho người học Các phát hiện phù hợp với quan điểm cho rằng thảo luận trực tuyến cùng thời điểm hỗ trợ quá trình phát triển tương tự làm nền tảng cho việc phát triển kỹ năng nói Vì vậy, thảo luận trực tuyến cùng thời điểm cho thấy là một đóng góp có giá trị vào lớp học kỹ năng ngôn ngữ
Trên cơ sở những phát hiện của nghiên cứu, nhiều kiến nghị về mặt lý thuyết, phương pháp và sư phạm đối với giao tiếp cùng thời điểm qua trung gian máy tính đã được đề xuất cho các lớp học kỹ năng tiếng Anh
Trang 5Chương 1 Giới thiệu 1.1 Giới thiệu
Nghiên cứu về giao tiếp qua trung gian máy tính đã cho thấy sự phát triển vượt bậc về phương pháp dạy và học ngoại ngữ/ngôn ngữ thứ hai Sử dụng công nghệ mang lại nhiều lợi ích đã được chứng minh qua các nghiên cứu rộng khắp trên thế giới (Abdorreza, Jaleh, & Azadeh, 2015; Abrams, 2003; Bui, 2006; Chou, 2004; Dang, 2011)
Mục đích của nghiên cứu này là nhằm thấu hiểu tính ứng dụng của hình thức giao tiếp cùng thời điểm qua trung gian máy tính (SCMC) đối với việc phát triển kỹ năng ngôn ngữ cho sinh viên Việt Nam học tiếng Anh như một ngoại ngữ
1.2 Bối cảnh nghiên cứu
1.2.1 Cơ sở giáo dục
Nghiên cứu được thực hiện tại trường Đại học Kỹ thuật Y – Dược Đà Nẵng (ĐHKTYD ĐN), thuộc Bộ Y tế Việt Nam
1.2.2 Sinh viên
Nghiên cứu khảo sát trên sinh viên năm nhất ngành Y đa khoa
ở học kỳ 1 năm đầu tiên trong 6 năm kéo dài 12 học kỳ tại trường ĐHKTYD ĐN
1.2.3 Sử dụng công nghệ
Việt Nam cần đẩy mạnh, đầu tư, nghiên cứu và tìm hiểu nhiều hơn về tính ứng dụng của SCMC trong lớp học để tận dụng những lợi thế mà công nghệ có thể mang lại (Dang, 2011) Kết quả mong muốn của nghiên cứu này là có thể cải thiện được năng lực nói và viết cho nhóm thực nghiệm thông qua SCMC và sinh viên sẽ cảm nhận được một số lợi ích đối với việc phát triển kỹ năng ngôn ngữ qua việc sử dụng SCMC
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
Nghiên cứu này nhằm trả lời 3 câu hỏi sau:
1 Trình độ năng lực nói của người học tiếng Anh khác nhau ở mức độ nào giữa nhóm không sử dụng SCMC và nhóm sử dụng SCMC sau một học kỳ 15 tuần? Mức độ khác nhau, nếu
có, được xác định như sau:
1a qua kết quả bài kiểm tra nói trước và sau can thiệp
Trang 61b qua so sánh bằng chứng về số lượng ngôn ngữ sử dụng và độ giàu từ vựng trong bản sao bài kiểm tra nói trước và sau can thiệp
2 Trình độ năng lực viết của người học tiếng Anh khác nhau ở mức độ nào giữa nhóm không sử dụng SCMC và nhóm sử dụng SCMC sau một học kỳ 15 tuần? Mức độ khác nhau, nếu
có, được xác định như sau:
2a qua kết quả bài kiểm tra viết trước và sau can thiệp
2b qua so sánh bằng chứng về số lượng ngôn ngữ sử dụng và độ giàu từ vựng trong bài kiểm tra viết trước và sau can thiệp
3 Sinh viên có thái độ và nhận thức như thế nào về việc sử dụng SCMC trong lớp học kỹ năng ngôn ngữ?
1.4 Cơ sở lý luận của nghiên cứu
Thách thức trong việc dạy tiếng Anh như một ngoại ngữ tại Việt Nam gồm những khó khăn trong thực hiện các yêu cầu thực tế nhắm đến nhu cầu của sinh viên, động lực học tập, kích cỡ lớp học, chiến lược dạy giao tiếp, phương pháp hướng đến sinh viên và tính tự chủ của sinh viên SCMC được chọn làm chủ đề nghiên cứu cho dự án nghiên cứu này với mong muốn khai thác những kỹ năng và điểm mạnh sẵn có của sinh viên để cải thiện các kỹ năng ngôn ngữ, đặc biệt là kỹ năng nói Bối cảnh phòng lab của nghiên cứu này cũng chứng minh cho việc gia tăng sử dụng và tầm quan trọng của công nghệ trong dạy học ngoại ngữ, nhằm đề cập đến các cách học khác hơn là chỉ học trong lớp học truyền thống
1.5 Cấu trúc luận án
Luận án được trình bày theo bố cục sau:
Chương 1: Giới thiệu
Chương 2: Tổng quan tài liệu
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Kết quả và bàn luận
Chương 5: Kết luận và kiến nghị
1.6 Tóm tắt chương 1
Chương này nhằm cung cấp thông tin nền tảng để thực hiện dự
án nghiên cứu, trình bày những vấn đề liên quan đến việc nâng cao ý thức và khả năng của giáo viên và sinh viên, sự ưu tiên và mức độ thành thạo của giáo viên, khả năng và nhận thức của sinh viên về việc giới thiệu công nghệ thông tin vào môi trường giáo dục Vì vậy, việc trả
Trang 7lời được câu hỏi then chốt và toàn diện này sẽ tạo thuận lợi cho sinh viên sử dụng hình thức giao tiếp qua trung gian máy tính
Chương 2 Tổng quan tài liệu 2.1 Giới thiệu
2.2 Định nghĩa những thuật ngữ chính
Những thuật ngữ chính sau được định nghĩa trong phần này:
giao tiếp qua trung gian máy tính (CMC), giao tiếp qua trung gian máy tính không cùng thời điểm (ACMC), giao tiếp qua trung gian máy tính cùng thời điểm (SCMC), kỹ năng ngôn ngữ, năng lực, độ giàu từ vựng
và học ngoại ngữ/ngôn ngữ thứ hai
2.3 Khung lý thuyết
2.3.1 Chủ nghĩa kiến tạo trong học thuyết văn hóa xã hội
Kiến tạo xã hội
Vùng phát triển gần (ZPD) được Vygotsky (1978) định nghĩa là vùng trí tuệ tiềm năng của một cá nhân khi được hỗ trợ từ một người có kiến thức nhiều hơn hoặc một trẻ có năng lực hơn Ông nhấn mạnh tầm quan trọng của ZPD vì nó cho phép đo được vùng trí tuệ tiềm năng của một cá nhân hơn là kiến thức mà cá nhân đó đã đạt được
Kiến tạo trong phương pháp giáo dục
Kiến tạo trong giáo dục thể hiện rõ nét sau khi xu hướng chủ nghĩa hành vi được chào đón và làm mới lại quan điểm học tập hướng đến người học tích cực trong quá trình dạy-học Đóng góp lớn nhất của chủ nghĩa kiến tạo cho nền giáo dục có lẽ thông qua việc thay đổi quan điểm từ kiến thức là một sản phẩm sang hiểu biết là một quá trình Quan điểm lý thuyết trên giúp làm sáng tỏ nghiên cứu này về việc sử dụng SCMC hỗ trợ các nhà giáo dục hay các giáo viên tổ chức sắp xếp lại các lớp học ngôn ngữ trong bối cảnh giáo dục tại Việt Nam
2.3.2 Giao tiếp qua trung gian máy tính (CMC) và học thuyết văn hóa xã hội
Beauvois (1997) đề cập đến Vùng phát triển gần (ZPD) để giải thích rằng quá trình viết trong CMC xây dựng một cộng đồng ngôn ngữ hơn là lớp học truyền thống Các phát hiện của Beauvois (ibid.) và Hall (1999) phù hợp với học thuyết văn hóa xã hội về việc học của Vygotsky (1978), trong đó ông nhấn mạnh vai trò của tương tác xã hội trong học tập và phát triển Các hoạt động dạy học sử dụng can thiệp trong nghiên cứu này tuân theo nguyên tắc như vậy Các bài tập dựa vào trang web, hoạt động đóng vai trực tiếp và thảo luận trực tuyến là
Trang 8những hoạt động có ý nghĩa để thúc đẩy việc trao đổi thông tin không giới hạn Việc tìm kiếm thông tin cũng như hoạt động đóng vai được thực hiện theo cặp hoặc nhóm sau đó nhằm khuyến khích tạo bước đệm gợi ý (scaffolding) và thúc đẩy Vùng phát triển gần (ZPD), và cả hai đều tạo cơ hội cho tương tác thỏa hiệp
2.3.3 Giao tiếp qua trung gian máy tính và phát triển ngôn ngữ
Đóng góp của CMC vào việc phát triển ngôn ngữ đã không ngừng được chứng minh ngay từ giai đoạn đầu trong lịch sử CMC Các lĩnh vực siêu ngôn ngữ về phát triển ngôn ngữ đã được nghiên cứu, bao gồm thương lượng nghĩa, môi trường ngôn ngữ xã hội và năng lực liên văn hóa (Kern & Warshauer, 2000; Luppicini, 2007; Stockwell G , 2007) Vì vậy, chúng ta có thể thấy rằng CMC đã được sử dụng rộng rãi trong việc phát triển hầu hết các kỹ năng và lĩnh vực ngôn ngữ (Stockwell, 2007)
2.3.4 Giao tiếp qua trung gian máy và thuyết đắc thụ ngôn ngữ hai
Đầu vào, đầu ra và tương tác thỏa hiệp đóng vai trò rất quan trọng trong môi trường tượng trưng cho bối cảnh học tập trong đó không khí hợp tác và hướng đến người học được tạo ra Nhiều học thuyết đắc thụ ngôn ngữ hai được ứng dụng cho ngữ cảnh này bởi vì chúng giúp chúng ta hiểu hơn về việc học ngôn ngữ thông qua giả thuyết các yếu tố lồng ghép trong môi trường học hướng đến sinh viên
và được xem là tạo thuận lợi cho quá trình đắc thụ ngôn ngữ (Kost, 2004)
2.4 Các nghiên cứu về giao tiếp qua trung gian máy tính
2.4.1 Giao tiếp qua trung gian máy tính cùng thời điểm (SCMC)
Mặc dù SCMC có những mặt hạn chế, nó vẫn được nhiều nhà nghiên cứu đề xuất như là một công cụ hữu ích cho giáo dục ngôn ngữ (Berge, 1995; Lavooy & Newlin, 2003; Khamis, 2010; Watts, 2016; Gonzalez-Lloret, 2011)
2.4.2 Chuyển từ thảo luận trực tuyến sang khả năng nói
Nhiều nghiên cứu (Kern, 1995; Warschauer, 1996; Sotillo, 2000) so sánh đặc điểm diễn ngôn và tính phức tạp của ngôn ngữ giữa thảo luận trực tuyến và đàm thoại trực tiếp, nhưng chỉ có một vài nghiên cứu tìm hiểu sâu về mối quan hệ và khả năng có thể chuyển một vài đặc điểm trong thảo luận bằng hình thức viết trực tuyến sang khả năng giao tiếp nói
Trang 92.4.3 Số lượng và tính phức tạp của ngôn ngữ
Về số lượng ngôn ngữ sản xuất trong hai môi trường, nhiều nhà nghiên cứu trước đây phát hiện rằng sinh viên sản xuất ngôn ngữ trong môi trường giao tiếp trực tuyến nhiều hơn gấp hai hoặc bốn lần thảo luận nói trực tiếp
2.5 Giáo dục tiếng Anh tại Việt Nam
2.5.1 Năng lực ngôn ngữ hiện tại của người học tiếng Anh như một ngoại ngữ tại Việt Nam
Về năng lực tiếng Anh của sinh viên Việt Nam, mặc dù tầm quan trọng của tiếng Anh đã được ghi nhận rộng rãi và công khai, thực
tế dạy và học tiếng Anh vẫn còn nhiều vấn đề chưa được giải quyết Chất lượng đào tạo tiếng Anh vẫn còn là một trong những mối quan tâm hàng đầu của nhiều nhà giáo dục Việt Nam và cộng đồng
Đối mặt với tình hình như vậy, việc lồng ghép công nghệ trong dạy và học ngoại ngữ là một giải pháp được chính phủ Việt Nam chọn lựa khi thiết lập một trong những mục tiêu chính trong Đề án Ngoại ngữ quốc gia 2020 là đưa công nghệ vào giảng dạy để nâng cao việc dạy và học ngoại ngữ
2.5.2 Tại sao CMC có thể giúp người học Việt Nam học tiếng Anh như một ngoại ngữ?
Việt Nam mới chỉ ở giai đoạn đầu thực hiện việc đưa công nghệ vào giáo dục nói chung và dạy ngoại ngữ nói riêng Có thể dễ hiểu
là chưa có nhiều nghiên cứu về lĩnh vực này Sử dụng công nghệ không chỉ đóng góp vào việc nâng cao chất lượng đào tạo, dạy và học ngoại ngữ mà còn phát triển được kiến thức về máy tính cho người học tại Việt Nam Ngoài ra, việc ứng dụng máy tính trong lớp học đáp ứng lời kêu gọi của chính phủ Việt Nam về đổi mới giáo dục và đầu tư máy tính cho trường học
Trang 10ngôn ngữ Vì vậy, nghiên cứu này được thiết kế để khắc phục một số vấn đề đã nêu
2.7 Tóm tắt chương 2
Tóm lại, chương này cung cấp khung lý thuyết cơ bản nhất về thuyết văn hóa xã hội, giao tiếp qua trung gian máy tính và thuyết đắc thụ ngôn ngữ hai; những nghiên cứu trước đây về SCMC cũng như giáo dục tiếng Anh hiện nay tại Việt Nam Chương này đã đưa ra những cơ
sở chủ yếu cho việc chọn lựa thiết kế và phương pháp nghiên cứu cho
dự án nghiên cứu này
Chương 3 Phương pháp nghiên cứu 3.1 Giới thiệu
3.2 Thiết kế nghiên cứu
Để trả lời các câu hỏi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu phỏng thực nghiệm đã được lựa chọn Kết quả kiểm tra đầu kỳ, cuối kỳ, bảng câu hỏi điều tra và phỏng vấn được kiểm tra chéo để xem xét hiệu quả của SCMC và để điều tra nhận thức và thái độ của sinh viên đối với việc sử dụng SCMC trong lớp học kỹ năng ngôn ngữ
3.3 Đối tượng nghiên cứu
Chỉ những số liệu thu thập từ các đối tượng có mặt trong tất cả các ngày thu thập số liệu mới được phân tích trong nghiên cứu này, với tổng số đối tượng tham gia là 30: mỗi lớp 15 đối tượng phục vụ cho việc thu thập và phân tích số liệu Tính tương đồng của các biến giữa hai nhóm được phân tích từ bảng hỏi trước can thiệp bảo đảm độ tin cậy của nghiên cứu và giúp người nghiên cứu kiểm soát các yếu tố gây nhiễu trong quá trình can thiệp
3.4 Đạo đức nghiên cứu
Đối tượng tham gia đồng ý ký vào bản cam kết sau khi đã hiểu
rõ mọi thông tin liên quan đến dự án nghiên cứu Đối tượng tham gia được thông báo đầy đủ rằng tất cả các số liệu từ bài kiểm tra, bảng hỏi, ghi âm và phỏng vấn đều được thu thập trên cơ sở tự nguyện
3.5 Qui trình nghiên cứu
Vai trò người nghiên cứu
Bài tập trong phòng lab
Trang 11Qui trình nghiên cứu được mô tả ở bảng sau
Bảng 3.1 Qui trình nghiên cứu
Công cụ đánh giá trước can thiệp
1 Bài kiểm tra năng lực nói 3 Bảng hỏi trước can thiệp
2 Bài kiểm tra năng lực viết
Trong khi can thiệp
Nhóm không sử dụng SCMC trong
phòng lab
Thực hiện bởi người nghiên cứu
- Cung cấp chủ đề và đường link qua
- Cho chủ đề, giải thích và trả lời câu
hỏi liên quan đến chủ đề
- Hỗ trợ bằng cách nói với sinh viên
- Phản hồi lỗi trong khi đi quanh lớp
Thực hiện bởi sinh viên
- Thực hiện các hoạt động trên web
- Kích chuột vào các đường link cho
sẵn để tìm thông tin liên quan đến chủ
Thực hiện bởi người nghiên cứu
- Cung cấp chủ đề và đường link qua email
- Cho chủ đề, giải thích và trả lời câu hỏi liên quan đến chủ đề
- Hỗ trợ bằng cách gửi tin nhắn
- Phản hồi lỗi khi tham gia nhóm Hangout
Thực hiện bởi sinh viên
- Thực hiện các hoạt động trên web
- Kích chuột vào các đường link cho sẵn để tìm thông tin liên quan đến chủ đề
- Viết tin nhắn gởi qua Hangout
- Đọc đề nghị/phản hồi từ người hướng dẫn
- Gửi các câu đúng để sửa các lỗi đã dán trước đó
Công cụ đánh giá sau can thiệp
1 Bài kiểm tra năng lực nói 3 Bảng hỏi sau can thiệp
2 Bài kiểm tra năng lực viết 4 Phỏng vấn bán cấu trúc
3.6 Phương pháp thu thập số liệu
3.6.1 Bài kiểm tra năng lực nói
3.6.2 Bài kiểm tra năng lực viết
3.6.3 Bảng hỏi trước can thiệp
3.6.4 Bảng hỏi sau can thiệp
3.6.5 Phỏng vấn sau can thiệp
Bảng sau tóm tắt phương pháp thu thập số liệu và công cụ nghiên cứu đối với từng câu hỏi nghiên cứu cụ thể
Trang 12Bảng 3.1 Số liệu và phương pháp thu thập
Câu hỏi nghiên cứu Thu thập số liệu Công cụ
1 Trình độ năng lực nói của
người học tiếng Anh khác nhau ở
mức độ nào giữa nhóm không sử
dụng SCMC và nhóm sử dụng
SCMC sau một học kỳ 15 tuần?
Mức độ khác nhau, nếu có, được
xác định như sau:
1a qua kết quả bài kiểm tra nói
trước và sau can thiệp
1b qua so sánh bằng chứng về số
lượng ngôn ngữ sử dụng và độ
giàu từ vựng trong bản sao bài
kiểm tra nói trước và sau can
thiệp
- Trình độ năng lực nói (đầu và cuối học kỳ)
- Số lượng ngôn ngữ
- Độ giàu từ vựng
- Điểm bài kiểm tra nói
- Bản sao bài kiểm tra nói
2 Trình độ năng lực viết của
người học tiếng Anh khác nhau ở
mức độ nào giữa nhóm không sử
dụng SCMC và nhóm sử dụng
SCMC sau một học kỳ 15 tuần?
Mức độ khác nhau, nếu có, được
xác định như sau:
1a qua kết quả bài kiểm tra viết
trước và sau can thiệp
1b qua so sánh bằng chứng về số
lượng ngôn ngữ sử dụng và độ
giàu từ vựng trong bài kiểm tra
viết trước và sau can thiệp
- Trình độ năng lực viết (đầu và cuối kỳ)
- Số lượng ngôn ngữ
- Độ giàu từ vựng
- Điểm bài kiểm tra viết
- Bài kiểm tra viết
3 Sinh viên có thái độ và nhận
thức như thế nào về việc sử dụng
SCMC trong lớp học kỹ năng
ngôn ngữ?
Thái độ và nhận thức của sinh viên
Định lượng và định tính
Bảng hỏi cuối kỳ Phỏng vấn cuối kỳ Thông tin nền tảng (để mô tả đối
tượng tham gia) Số liệu nhân khẩu học, năng lực tiếng
Anh và máy tính, thái
độ đối với máy tính kết nối mạng Internet)
Bảng hỏi đầu
kỳ
Trang 133.7.3 Nhận thức của sinh viên
Số liệu định lượng thu thập từ bảng hỏi được nhóm theo các chủ đề và tính phần trăm, độ trung bình và độ lệch chuẩn sử dụng phần mềm SPSS 24 Số liệu định tính phỏng vấn bán cấu trúc được phân loại, nhóm, diễn giải thông qua tam giác đạc (kiểm tra chéo) và phân tích dựa theo chủ điểm nghiên cứu
3.8 Độ tin cậy và độ hiệu lực của nghiên cứu
3.9 Tóm tắt chương 3
Chương này mô tả chi tiết thông tin nền tảng của đối tượng tham gia được thu thập từ bảng hỏi đầu kỳ: thông tin nhân khẩu học, năng lực tiếng Anh, năng lực máy tính, thái độ đối với máy tính cũng như nhận thức về lợi ích của máy tính có kết nối internet Điểm trung bình của bài kiểm tra năng lực nói và viết đầu kỳ cũng được trình bày trong chương này để bảo đảm tính so sánh giữa các đối tượng tham gia Nguyên tắc đạo đức được thể hiện qua văn bản đồng ý của Hiệu trưởng trường ĐHKTYD ĐN, bản cam kết của đối tượng tham gia Ngoài ra, chương này cũng trình bày qui trình nghiên cứu, phương pháp thu thập
và phân tích số liệu cũng như các kỹ thuật sử dụng để thiết lập độ tin cậy và độ hiệu lực của nghiên cứu
Chương 4 Kết quả và bàn luận 4.1 Giới thiệu
4.2 Kết quả nghiên cứu
4.2.1 So sánh kết quả điểm trước và sau can thiệp
Bảng 4.1 bên dưới cho thấy độ trung bình và độ lệch chuẩn về kết quả điểm bài kiểm tra năng lực nói và viết trước và sau can thiệp theo nhóm (không sử dụng SCMC và sử dụng SCMC)
Trang 14Bảng 4.1 Độ trung bình và độ lệch chuẩn về bài kiểm tra năng lực
nói và viết của hai nhóm
Độ
TB Độ lệch chuẩn Diff t p Kiểm
tra nói
Nhóm không sử
dụng SCMC
Trước 5.10 1.137 1.10 295 770 Sau 6.20 1.099
Nhóm sử dụng
SCMC Trước Sau 4.97 6.57 1.329 1.100 1.60 -.914 .369 Kiểm
tra
viết
Nhóm không sử
dụng SCMC Trước Sau 5.07 5.93 1.624 1.321 0.86 -.435 .667 Nhóm sử dụng
SCMC
Trước 5.37 2.117 1.03 -.997 327 Sau 6.40 1.242
Bảng 4.2 Độ trung bình và độ lệch chuẩn của bài kiểm tra nói và
viết đầu và cuối học kỳ
Độ TB Độ lệch chuẩn t p Không sử dụng SCMC Kiểm
sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa hai nhóm can thiệp
Bảng 4.3 ANOVA: T-test: Kiểm định T-test cặp đôi
bình Độ lệch chuẩn df t p Không
Trang 154.2.2 Phân tích đặc điểm từ vựng
4.2.2.1 Số lượng ngôn ngữ
Điểm mạnh là hầu hết đối tượng tham gia sử dụng nhiều ngôn ngữ hơn trong cả hai bài kiểm tra nói và viết cuối kỳ Thành tích lạc quan này giải thích thêm cho kết quả điểm đạt tỷ lệ cao hơn ở cuối học
Mật độ từ vựng
Khi tính mật độ từ vựng cho bài kiểm tra nói và viết, có sự gia tăng đáng kể về số lượng ngôn ngữ đầu ra, tuy nhiên tỷ lệ mật độ từ vựng gần như không đổi
4.2.2.3 So sánh đặc điểm từ vựng giữa hai nhóm can thiệp
Số trung bình và độ lệch chuẩn được tính để so sánh mức độ đạt được về đặc điểm từ vựng, cả số lượng và chất lượng, giữa hai nhóm Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về đặc điểm từ vựng giữa hai nhóm can thiệp với p >0.05
4.2.3 Nhận thức và thái độ của sinh viên đối với hình thức can thiệp
4.2.3.1 Nhận thức về hiệu quả của đóng vai trực tiếp và thảo luận trực tuyến
Phát triển ngôn ngữ
Cả hai nhóm can thiệp đều có cảm nhận tích cực về hình thức đóng vai trực tiếp và thảo luận trực tuyến đối với việc phát triển ngôn ngữ Kết quả này cũng trùng khớp với số liệu phân tích phỏng vấn
Kỹ năng và lĩnh vực ngôn ngữ
Kết quả cho thấy sử dụng thảo luận trực tuyến cùng thời điểm không những có lợi cho kỹ năng đọc viết mà còn kỹ năng nghe nói, thâm chí phát âm, đặc biệt là kỹ năng nói Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về nói, nghe và phát âm giữa hai nhóm với p = 012 và p = 002 (<.05) và p = 000 (<.001)
Ảnh hưởng ở tương lai
Nhóm sử dụng SCMC thể hiện cam kết sẽ sử dụng thảo luận trực tuyến bằng hình thức viết để thực hành tiếng Anh trong tương lai
Trang 16mạnh mẽ hơn nhóm không sử dụng SCMC cam kết sẽ sử dụng đóng vai trực tiếp Từ kết quả này có thể dự đoán mô hình học mới này có thể được chấp nhận rộng rãi trong sinh viên Việt Nam để học ngoại ngữ trong tương lai
4.2.3.2 Nhận thức về hình thức đóng vai trực tiếp không sử dụng SCMC và chat sử dụng SCMC
Kiểm soát lỗi sai
Sinh viên nhóm chat sử dụng SCMC báo cáo họ kiểm soát việc
sử dụng lỗi ngữ pháp và từ vựng là 3.33 và chú ý lỗi sai của sinh viên khác là 3.53 Số liệu phỏng vấn có cùng kết quả
Yêu cầu đối với đóng vai trực tiếp không sử dụng SCMC và thảo luận trực tuyến sử dụng SCMC
Cả hai nhóm đồng ý đóng vai và thảo luận trực tuyến trong phòng lab khiến họ suy nghĩ nhanh và trả lời tự phát Ít đối tượng tham gia ở nhóm chat sử dụng SCMC nhận định rằng kỹ năng đánh máy là cần thiết, điều này cho thấy sinh viên cảm nhận kỹ năng đánh máy không phải là nhân tố quan trọng
4.2.3.3 Nhận thức của nhóm chat sử dụng SCMC về hình thức can thiệp
Hầu hết đối tượng tham gia cho thấy họ thích các buổi học chat với bạn, thảo luận trực tuyến kích thích nhiều ý tưởng, họ cảm thấy tự tin hơn khi chia sẻ ý kiến trong nhóm chat, và sự đóng góp của các thành viên trong nhóm ngang bằng nhau Kết quả từ bảng hỏi rất giống với kết quả phỏng vấn
4.2.4 Đề xuất mô hình phát triển kỹ năng ngôn ngữ sử dụng SCMC
Trên cơ sở kết quả thu được, nhà nghiên cứu đề xuất mô hình phát triển kỹ năng ngôn ngữ sử dụng SCMC
4.3 Bàn luận về các kết quả chính
4.3.1 So sánh điểm kiểm tra trước và sau can thiệp
Nghiên cứu này có cùng kết quả với nghiên cứu của Beauvois (1998b) Beauvois phát hiện rằng sau một học kỳ điểm số trung bình
Trang 17của nhóm thử nghiệm cao hơn nhóm chứng là 5 điểm Beauvois đề xuất
có mối liên hệ giữa giao tiếp trực tuyến cùng thời điểm với việc nâng cao kỹ năng nói
Điểm trung bình của bài kiểm tra nói cao hơn cuối học kỳ xác nhận kết quả của các nghiên cứu trước đây rằng SCMC có hiệu quả tích cực đối với kỹ năng nói (Payne & Whitney, 2002; Kost, 2004) Có một điều đáng lưu ý rằng số liệu nghiên cứu cho thấy sinh viên tham gia vào thảo luận trực tuyến đồng bộ không bị tác dụng ngược với việc phát triển kỹ năng nói, bởi vì SCMC thúc đẩy cơ chế nhận thức tương tự làm nền tảng cho việc phát triển kỹ năng nói (Payne & Whitney, 2002)
4.3.3 Nhận thức của nhóm chat sử dụng SCMC về hình thức can thiệp
Về nhận thức của sinh viên đối với hình thức SCMC, tất cả đối tượng tham gia đều có nhận xét tích cực về khóa học tiếng Anh tăng cường có sử dụng thảo luận trực tuyến cùng thời điểm Thông tin quá tải, công nghệ thay đổi nhanh, toàn cầu hóa và phương thức lĩnh hội kiến thức mới làm cho môi trường học tập dựa vào máy tính trở nên triệt để hơn bao giờ hết
4.4 Tóm tắt chương 4
Các kết quả từ điểm kiểm tra, bảng hỏi và phỏng vấn cho thấy hiệu quả tích cực của thảo luận trực tuyến cùng thời điểm đối với việc phát triển kỹ năng ngôn ngữ của người học tiếng Anh như một ngoại ngữ Cả hai nhóm can thiệp cho thấy có tiến bộ đáng kể về năng lực nói
và viết cũng như khả năng tạo ra ngôn ngữ, tuy nhiên điểm mấu chốt từ những phân tích này là sinh viên tham gia thảo luận trực tuyến phát triển kỹ năng nói ngang bằng mức độ với sinh viên thực hành nói trực tiếp trong học kỳ can thiệp Hơn nữa, nhóm sử dụng SCMC có nhận thức rõ ràng về việc sử dụng máy tính trong lớp học ngôn ngữ và họ cũng có ấn tượng tốt về hiệu quả tích cực của thảo luận trực tuyến đối với việc học ngôn ngữ Kết quả từ nghiên cứu này mở ra nhiều cơ hội
Trang 18hứa hẹn mà môi trường SCMC có thể sẽ tạo ra cho những nhà đào tạo
và người học tiếng Anh như một ngoại ngữ tại Việt Nam
Chương 5 Kết luận và Kiến nghị 5.1 Giới thiệu
Mục đích của nghiên cứu này là tìm hiểu hiệu quả của SCMC đối với việc phát triển kỹ năng ngôn ngữ cho sinh viên Việt Nam học tiếng Anh như một ngoại ngữ, cũng như tìm hiểu nhận thức và thái độ của họ đối với việc sử dụng SCMC trong lớp học kỹ năng ngôn ngữ Với 30 đối tượng tham gia, nghiên cứu này kết hợp phân tích định tính
và định lượng Để có cái nhìn toàn diện về hiệu quả của thảo luận trực tuyến cùng thời điểm, tất cả đối tượng tham gia được đánh giá năng lực nói và viết ở đầu và cuối học kỳ, số liệu nghiên cứu được phân tích theo từng nhóm can thiệp (nhóm nói không sử dụng SCMC và nhóm chat sử dụng SCMC), sử dụng thống kê mô tả và suy luận, sau đó phân tích sâu
về đặc điểm từ vựng trong tiếng Anh Cuối cùng, phân tích định lượng
và phỏng vấn sâu để tìm hiểu nhận thức và thái độ của sinh viên đối với SCMC trong lớp học ngoại ngữ tại Việt Nam
5.2 Tóm tắt kết quả chính
Kết quả nghiên cứu được tóm tắt ở phần sau
Nghiên cứu này tìm hiểu trình độ năng lực nói và viết của đối tượng tham khác nhau ở chừng mực nào giữa nhóm không sử dụng SCMC và nhóm sử dụng SCMC sau một học kỳ hướng dẫn Mức độ khác nhau được xác định bằng điểm kiểm tra nói và viết trước và sau can thiệp Dựa vào tiêu chí chấm đã được thiết lập cho nghiên cứu này,
rõ ràng độ giàu từ vựng của đối tượng nghiên cứu có ảnh hưởng đến kết quả kiểm tra trước và sau can thiệp Vì vậy, số lượng ngôn ngữ, độ giàu
từ vựng trong bài nói và viết cũng được so sánh giữa đầu và cuối học
kỳ
Kết quả rút ra từ phân tích phương sai (ANOVA) cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về năng lực nói và viết cuối học kỳ giữa hai nhóm can thiệp Tuy nhiên, cả hai nhóm cho thấy có sự tiến bộ vượt bậc về năng lực nói và viết trước và sau can thiệp, và có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về điểm kiểm tra năng lực nói và viết trước và sau can thiệp Điều này có nghĩa rằng hiệu quả của từng phương pháp can thiệp cụ thể không khác nhau đối với việc phát triển năng lực nói và viết, tuy nhiên việc giảng dạy trong suốt học kỳ dẫn đến sự tiến bộ rõ rệt về trình độ năng lực của đối tượng tham gia Quan
Trang 19trọng nhất là việc sử dụng SCMC không làm kết quả của người học thấp hơn Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về hiệu quả phát triển năng lực cho thấy SCMC có kết quả trung lập đối với hiệu quả của phát triển năng lực nói và viết
Sử dụng T-test cặp đôi (paired samples t-test) để phân tích chi tiết hơn nhằm tìm hiểu những khác nhau có thể có giữa hai lớp can thiệp Cả hai lớp cho thấy có sự tiến bộ rõ rệt về năng lực nói và viết
Từ phân tích này, một kết luận quan trọng được rút ra là sinh viên tham gia thảo luận trực tuyến bằng hình thức viết phát triển kỹ năng nói ngang bằng mức độ với sinh viên thực hành nói trực tiếp trong học kỳ can thiệp Vì vậy, thảo luận trực tuyến không có tác dụng ngược với việc phát triển khả năng nói
Khi nghiên cứu các bản sao bài kiểm tra nói và bài viết đồng thời dựa vào tiêu chí chấm điểm, người nghiên cứu chú ý rằng độ giàu
từ vựng có ảnh hưởng đến điểm số của đối tượng tham gia Để tìm hiểu sâu sắc hơn cụ thể việc phát triển kỹ năng ngôn ngữ của sinh viên, người nghiên cứu đã phân tích đặc điểm từ vựng trên cơ sở 60 bản sao bài kiểm tra nói và 60 bài viết trước và sau can thiệp của 30 đối tượng tham gia
Về số lượng ngôn ngữ sản xuất, kết quả cho thấy đa số đối tượng tham gia sản sinh nhiều ngôn ngữ hơn và số lượng từ hợp lệ được sử dụng nhiều hơn trong bài kiểm tra nói và viết cuối kỳ Thành tích lạc quan này giải thích thêm cho kết quả tỷ lệ điểm cao hơn ở cuối học kỳ Điều này cho thấy có mối liên hệ giữa tỷ lệ dùng từ hợp lệ với kết quả điểm kiểm tra Không phát hiện có sự khác nhau về đầu ra ngôn ngữ nói và viết theo từng nhóm can thiệp
Về đánh giá độ giàu từ vựng, nghiên cứu phát hiện rằng mặc dù trung bình số lượng ngôn ngữ mà đối tượng tham gia sử dụng trong bài kiểm tra nói và viết cuối học kỳ tăng hơn, tỷ lệ phần trăm về tính đa dạng của từ vựng nhìn chung thấp hơn ở cuối học kỳ Tỷ lệ phần trăm được tính bằng cách lấy các từ không trùng nhau chia cho tổng số từ sử dụng Không có sự khác nhau về trình độ năng lực hay hình thức can thiệp
Mật độ từ vựng được xác định bằng cách chia các đơn vị từ vựng (lexical tokens) gồm danh từ, động từ, tính từ và trạng từ cho tổng
số từ nội dung và từ cấu trúc (content and function words) Mật độ từ vựng trung bình giảm ở cả bài kiểm tra nói và viết Đa số đối tượng tham gia tăng đáng kể chiều dài bài bản sao noi và bài dẫn đến tỷ lệ
Trang 20giảm ở cuối học kỳ Giống như đa dạng từ vựng, nhìn chung sinh viên nói hoặc viết ngắn sẽ đạt được tỷ lệ cao Có mối liên hệ giữa tỷ lệ về đa dạng và mật độ từ vựng với chiều dài bài nói và bài viết
Khá khó để liên hệ kết quả này với các nghiên cứu trước đây vì các nghiên cứu tìm hiểu hiệu quả của SCMC đối với phát triển năng lực nói chỉ sử dụng điểm kiểm tra làm cơ sở so sánh mà không phân tích chi tiết đặc điểm từ vựng (Beauvois, 1998b; Payne & Whitney, 2002) Chỉ có một nghiên cứu tìm hiểu đặc điểm từ vựng đó là nghiên cứu của Abrams Nghiên cứu của Abrams và nghiên cứu này đều đánh giá độ giàu từ vựng (đa dạng và mật độ) và cả hai nghiên cứu đều phát hiện không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa hai nhóm can thiệp
Về nhận thức và thái độ của sinh viên đối với hai loại hình can thiệp, kết quả cho thấy một bức tranh khá cân bằng Nhìn chung, tất cả đối tượng tham gia thích học mỗi tuần một buổi tại phòng máy tính và tìm kiếm thông tin trên internet, sau đó là đóng vai nói trực tiếp hoặc chat viết với nhau Hai lớp đều có thái độ tán thành đối với việc sử dụng máy tính trong lớp học ngôn ngữ (như thể hiện trong bảng hỏi đầu kỳ) Kết quả từ bảng hỏi cuối kỳ cho thấy cả hai nhóm dường như đều
có cảm nhận tích cực về đóng vai trực tiếp hay thảo luận trực tuyến bằng hình thức viết đối với việc phát triển ngôn ngữ Nhóm chat sử dụng SCMC có thiện chí hơn về hiệu quả có lợi của thảo luận trực tuyến đối với việc học ngôn ngữ Sinh viên cũng cảm thấy thoải mái khi tham gia đóng vai trực tiếp, thảo luận viết hay khi trả lời câu hỏi trong lớp Với nhóm SCMC, họ thấy hữu ích hơn vì họ không phải lo lắng về phát âm khi thảo luận trực tuyến Kết quả này giống với các phát hiện khả quan trong các nghiên cứu khác khi đối tượng tham gia nhận xét lợi ích của thảo luận trực tuyến là họ không phải chú ý vào việc phát âm
Ngoài ra có hai kết quả thú vị khác là ý kiến của sinh viên về giám sát và chú ý lỗi sai của bạn đồng học, cũng như cảm nhận hiệu quả của hai hình thức can thiệp đối với bốn kỹ năng ngôn ngữ Kết quả của nhóm chat sử dụng SCMC cho thấy sinh viên có khuynh hướng giám sát việc sử dụng ngôn ngữ của họ đồng thời chú ý lỗi sai của các bạn đồng học Như đã được thảo luận trong thuyết đắc thụ ngôn ngữ hai (Swan, 1985; Kilickaya, 2007; Rutherford & Sharwood, 1988), nâng cao ý thức và chú ý lỗ hổng giữa đầu ra ngôn ngữ và ngôn ngữ đích là các bước quan trọng tạo thuận lợi cho quá trình đắc thụ ngôn ngữ hai Căn cứ vào các câu trả lời trong bảng hỏi, có thể lập luận rằng việc sử
Trang 21dụng SCMC trong các lớp kỹ năng ngôn ngữ cung cấp cơ hội để giải quyết những vấn đề này
Về hiệu quả của thảo luận đóng vai trực tuyến, nhóm chat sử dụng SCMC khẳng định thảo luận viết có thể nâng cao kỹ năng nói của
họ Nhận thức này phù hợp với số liệu định lượng: nhóm SCMC có điểm bài nói cao hơn nhóm đóng vai không sử dụng SCMC ở cuối học
kỳ Nhóm sử dụng SCMC nâng cao kỹ năng nói tương tự như nhóm luyện tập đóng vai nói không sử dụng SCMC Chiều hướng này xác nhận ý kiến đưa ra trong các nghiên cứu trước (Chun, 1994; Payne & Whitney, 2002) rằng thảo luận trực tuyến bằng hình thức viết kết hợp
cả hai lĩnh vực nói và viết, đồng thời phát triển cơ chế tương tự như hình thức nói Thậm chí với khoảng thời gian rất ngắn dành cho thảo luận trực tuyến (4 tiết trong phòng lab hàng tuần), SCMC dường như cho thấy những cơ hội hứa hẹn để giám sát, chú ý lỗi sai và phát triển khả năng nói
5.3 Kiến nghị
5.3.1 Về mặt lý thuyết
Nghiên cứu này được thực hiện trong bối cảnh văn hóa xã hội Việt Nam sử dụng khung lý thuyết văn hóa xã hội Tương tự như một trong những nghiên cứu của Vygotsky (1978), nghiên cứu tìm hiểu xem sinh viên trong bối cảnh văn hóa xã hội sử dụng hỗ trợ từ bên ngoài, ví
dụ SCMC, như thế nào để kiểm soát các hoạt động và hoàn thành các bài tập trong phòng máy tính Kết quả rút ra từ nghiên cứu thừa nhận sự thật rằng việc ứng dụng SCMC trong giáo dục ngôn ngữ chỉ có thể hiệu quả khi được đặt trong bối cảnh văn hóa xã hội cụ thể (Warchauer, 1999)
Ngoài ra, thảo luận trực tuyến cùng thời điểm cho phép sinh viên đạt được Vùng phát triển gần (ZPD) Thông qua các buổi chat trong phòng lab, sinh viên đã tạo ra không gian nhận thức xã hội để đặt
họ và các bạn đồng học trong mô hình tạo bước đệm gợi ý (scaffolding) Trong nghiên cứu này, sinh viên nhận hỗ trợ từ bạn đồng học và giáo viên, trong Vùng phát triển gần để đạt được mức độ năng lực mà họ sẽ không thể đạt được bởi riêng họ Nói cách khác, bằng cách đặt nghiên cứu này vào trong bối cảnh văn hóa xã hội cụ thể, cho thấy việc ứng dụng SCMC trong lớp học ngôn ngữ phù hợp với quan điểm nhận thức xã hội, như đã thấm nhuần trong khung lý thuyết của Vygotsky Nghiên cứu này làm nổi bật ý nghĩa và tầm quan trọng của
Trang 22lý thuyết văn hóa xã hội, như là cơ sở lý thuyết chính, trong dạy và học ngôn ngữ
5.3.2 Về mặt phương pháp
Nghiên cứu áp dụng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp, được khuyến khích trong cộng đồng nghiên cứu giáo dục ngoại ngữ (Dornyei, 2007) Nghiên cứu sử dụng cả hai phương pháp phân tích số liệu định lượng và định tính Như bản chất của phương pháp hỗn hợp, nhiều công cụ nghiên cứu được sử dụng để tìm hiểu các khía cạnh về nhận thức xã hội, tình cảm xã hội và tổ chức việc học ngôn ngữ Ý nghĩa của “tam giác đạc giữa các phương pháp” này là để có thể dễ dàng kiểm tra chéo, vì vậy tăng độ tin cậy của kết quả phân tích Nhìn chung, việc sử dụng cả hai phương pháp phân tích số liệu, định lượng
và định tính, là một trong những điểm mạnh của nghiên cứu này
Ngoài ra, một đóng góp khác của nghiên cứu là đi tìm khung khái niệm khả thi để phân tích số liệu Nghiên cứu này chứng minh việc lựa chọn một khung phân tích cụ thể nào đó cần dựa một phần vào bản thân số liệu và chủ yếu dựa vào mục tiêu và mục đích của tổng thể đề
án Trong nghiên cứu này, phân tích quy nạp được thiết kế để khoanh vùng chủ điểm và mối tương quan phát sinh từ các số liệu hơn là qua những giả định diễn dịch được xác định sẵn Mặc dù có thể sử dụng khung lý thuyết mã hóa và phân tích phù hợp, những chủ điểm phát sinh trong quá trình phân tích số liệu cần được xem xét cẩn thận Những chủ điểm được trình bày trong nghiên cứu này phát sinh từ việc phân tích bản sao bài kiểm tra nói, bài viết và phát biểu của đối tượng tham gia Các nhà nghiên cứu tương lai cần nhớ rằng việc phân tích và bàn luận những chủ điểm nổi lên trong quá trình phân tích sẽ làm cho nghiên cứu trở nên độc đáo và thuyết phục
5.3.3 Về mặt sư phạm
Nhằm thúc đẩy việc sử dụng công nghệ, các nhà giáo dục ngôn ngữ được khuyến khích sử dụng công nghệ ngày càng nhiều trong lớp học ngoại ngữ Sinh viên ngày nay không chỉ thích sử dụng công nghệ,
mà họ còn biết rằng họ phải giỏi vi tính và internet để cạnh tranh trong thị trường lao động Các hoạt động tìm kiếm thông tin trên web, theo sau là các hoạt động đóng vai đem lại nhiều lợi ích Những hoạt động này cho sinh viên trải nghiệm cách sử dụng ngôn ngữ chính xác qua những thông tin cập nhật và chân nguyên văn hóa từ những trang web
đã truy cập
Trang 23Hơn nữa, điều này cũng cho phép người học kết nối nghĩa của
từ thay vì chỉ dịch từ, vì vậy góp phần vào việc đắc thụ từ vựng Sử dụng các hoạt động đóng vai dựa trên thông tin thu thập được giúp người học tham gia vào bài tập giao tiếp phù hợp và có cơ hội luyện tập
kỹ năng ngôn ngữ trong ngữ cảnh cụ thể Các hoạt động ý nghĩa và không hạn chế được xem là có thể dẫn đến việc nâng cao năng lực nói
và viết bởi chúng tạo cơ hội để sử dụng sáng tạo ngôn ngữ đích trong nhiều ngữ cảnh và nhiều chức năng
Ngoài ra, chuyển các bài tập đóng vai sang hình thức viết sử dụng thảo luận trực tuyến đồng bộ đem lại thêm nhiều lợi ích Đầu tiên,
nó làm chậm nhịp độ giao tiếp chung giữa những người học trong nhóm, cho mọi người thời gian suy nghĩ và soạn tin nhắn trước khi gởi
đi, vì vậy có thể tạo cơ hội cho những sinh viên chậm hoặc rụt rè có cơ hội đóng góp ý kiến như những sinh viên nhanh và cởi mở hơn Thứ hai, tất cả sinh viên tham gia đàm thoại cùng lúc và cùng được luyện tập kỹ năng ngôn ngữ mà không phải chờ giáo viên gọi tên, sinh viên không phát biểu hay giành quyền phát biểu như trong lớp học truyền thống Thứ ba, trên cơ sở nhóm chat sử dụng SCMC đạt kết quả về thành tích nói và viết, có vẻ như thảo luận trực tuyến cùng thời điểm hỗ trợ luyện tập và phát triển cả hai kỹ năng nói và viết, đồng thời cũng được sinh viên chấp nhận như một phương pháp thay thế hiệu quả cho luyện tập nói trong lớp
Mặc dù nghiên cứu này không phân tích bản sao các buổi thảo luận trực tuyến do hạn chế thời gian, chúng được xem như nguồn dữ liệu mở cho nhà nghiên cứu tương lai xem xét bởi vì chúng cung cấp những ví dụ tuyệt vời về cách sử dụng ngôn ngữ của sinh viên, thông báo tình trạng của sinh viên và cho giáo viên cơ hội biên soạn lại chương trình giảng dạy để lồng ghép những hoạt động thay đổi nếu cần trên cơ sở các lỗi đã được quan sát
Một gợi ý sư phạm khác là giáo viên cần biết rõ về năng lực tiếng Anh của sinh viên khi ghép cặp trong thảo luận trực tuyến Từ số liệu định tính của nghiên cứu này, một số đối tượng tham gia vào nghiên cứu thổ lộ rằng đôi khi họ thấy nản vì họ không hiểu tin nhắn của bạn đồng học giỏi hơn Vì vậy, giáo viên nên ghép sinh viên chat với các bạn khác có cùng trình độ ngôn ngữ
Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy thái độ tích cực là chưa đủ
để thực hiện công nghệ giao tiếp, như hình thức viết chat trong giảng dạy ngôn ngữ Từ kết quả phát hiện, người nghiên cứu đề nghị phải đào
Trang 24tạo cả giáo viên và sinh viên trường ĐHKTYD ĐN về việc sử dụng công nghệ Thiếu kiến thức về cách sử dụng và ứng dụng tiềm năng của CMC vào trong giảng dạy và cách quản lý máy tính đối với CMC có thể làm cho cả sinh viên và giáo viên có thái độ tiêu cực Giáo viên ngôn ngữ có thể dễ bị nản lòng khi gặp khó khăn trong sử dụng công nghệ Vì thế họ cần chú ý nhu cầu của sinh viên và lựa chọn công cụ tối
ưu nhất để thực hiện hoạt động dạy học Thêm vào đó, thật cần thiết để tìm hiểu những công nghệ quen thuộc trước đã, rồi mới tìm hiểu sử dụng công nghệ mới, tuy nhiên điều này còn tùy thuộc vào mục đích sư phạm Khi được áp dụng một cách chiến lược, các buổi chat có thể nâng cao kinh nghiệm học tập, tạo cơ hội cho những trao đổi thú vị và
có chất lượng cao cũng như những hoạt động ngôn ngữ sáng tạo, thu hút nhiều cách học khác nhau
Tương tự như những nghiên cứu trước đây, giảng dạy trong môi trường CMC đã cho thấy nhiều trở ngại và thử thách về bối cảnh giáo dục, sự chuẩn bị sẵn sàng về kiến thức lý thuyết và kỹ thuật máy tính, khả năng truy cập internet, thái độ, năng lực và kỹ năng sử dụng máy tính của sinh viên (Lee K.-w , 2000; Peeraer & Van Petegem, 2010) Quan trọng hơn, Keengwe (2007) biện luận rằng chỉ vì thiết bị công nghệ có sẵn không có nghĩa là giáo viên phải nắm lấy và lồng ghép chúng vào trong lớp học, vì vậy “thử thách cho các nhà nghiên cứu nằm
ở sự cần thiết phải có đủ khả năng sử dụng công nghệ máy tính mới hỗ trợ được việc học cho sinh viên” (p 171) Vì vậy, khi đưa các nguồn công nghệ sử dụng trong chương trình, giáo viên và sinh viên cần được thông báo về cách sử dụng công nghệ giao tiếp nhằm hỗ trợ cho việc dạy và học ngôn ngữ Về vấn đề này, các chuyên gia và các nhà đào tạo cần hướng dẫn và hỗ trợ Các nhà quản lý và các giáo viên dạy tiếng Anh có thể hợp tác trao đổi vấn đề này với các giáo viên giàu kinh nghiệm trên thế giới
Chính thủ Việt Nam đang ban hành chính sách hỗ trợ quốc gia
về ứng dụng công nghệ trong giáo dục để nâng cao chất lượng dạy và học ngoại ngữ (Vietnamese Government, 2008a) Nhằm sử dụng hiệu quả công nghệ trong dạy và học ngoại ngữ, cần nghiên cứu thật cẩn thận việc lựa chọn công nghệ Theo Levy and Stockwell (2006), tiêu chí lựa chọn công nghệ bao gồm nguyên tắc sư phạm, yếu tố giáo dục, tính tò mò của cá nhân người sử dụng, xu hướng tương lai, tiêu chuẩn công nghệ TESOL cũng như các tiêu chuẩn khác như thân thiện với
Trang 25người sử dụng, hiệu quả chi phí và phù hợp với bối cảnh người Việt Nam sử dụng
Cuối cùng, nghiên cứu này đề nghị việc đào tạo công nghệ cho giáo viên và sinh viên về cách sử dụng đúng không những ngay từ đầu
mà còn trong suốt quá trình sử dụng Việc đào tạo có thể là tự học hoặc học hỏi kinh nghiệm để người thực hành công nghệ có thể tiếp tục tìm kiếm và cập nhật những thay đổi của công nghệ, học cách thích nghi với môi trường dạy và học mới Bối cảnh dạy và học như hiện nay tại Việt Nam làm cho công nghệ được mong ước hơn bao giờ hết Ngày nay, mặc dù ngày càng nhiều sinh viên Việt Nam sử dụng ví tính có kết nối mạng trong cuộc sống hàng ngày, 73.3% đối tượng tham gia trong nghiên cứu này có thiết bị kết nối internet như báo cáo trong bảng hỏi trước can thiệp, họ sử dụng chủ yếu để lướt web (96.7% trả lời trong bảng điều tra đầu kỳ) Nghiên cứu cũng khuyến khích giáo viên và sinh viên Việt Nam sử dụng công cụ sẵn có trong dạy và học ngoại ngữ bởi
vì phương pháp dạy học mới này đã được chứng minh qua nhiều nghiên cứu, kể cả nghiên cứu này Tăng việc sử dụng công nghệ trong lớp học ngôn ngữ là cần thiết và thiết thực để cải thiện kỹ năng ngôn ngữ cho sinh viên, như một trong những nhiệm vụ chính của Đề án Ngoại ngữ Quốc gia 2020 của chính phủ Việt Nam là: “tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong đào tạo ngoại ngữ” (Vietnamese Government, 2008a)
5.4 Hạn chế và nghiên cứu tương lai
Nghiên cứu này điều tra sát hơn việc phát triển ngôn ngữ của người học và tìm xem hiệu quả có thể có của SCMC đối với việc phát triển đó Nghiên cứu thu thập số liệu cả định lượng và định tính, qua phân tích cho thấy người học ngoại ngữ trong khóa tiếng Anh tăng cường có thể phát triển ngôn ngữ qua khóa học một học kỳ, tuy nhiên hiệu quả của thảo luận trực tuyến không hoàn toàn rõ ràng Số liệu chỉ
ra rằng người học trong nhóm can thiệp, những người tham gia vào thảo luận trực tuyến, có kết quả về năng lực nói và viết cuối kỳ tương
tự như nhóm thực hành nói nhiều hơn Tuy nhiên, thời gian can thiệp (4 tiết 1 tuần) là quá ngắn để có thể đạt được kết quả thuyết phục Do hạn chế hạn về mặt thể chế, thời gian can thiệp cho nghiên cứu này không thể kéo dài hơn Tuy nhiên, để hỗ trợ hơn cho khuynh hướng đã chỉ ra, người nghiên cứu thấy cần thực hiện lại nghiên cứu này áp dụng hình thức can thiệp phân biệt rõ ràng hơn giữa hai nhóm, tăng các buổi chat lên 2 hoặc 3 lần mỗi tuần Ngoài ra, thời gian nghiên cứu dài và tập
Trang 26trung hơn, hai hoặc nhiều học kỳ hơn, sẽ hỗ trợ hiểu rõ hơn về hiện tượng đang nghiên cứu
Một hạn chế khác của nghiên cứu nằm ở các bước tiến hành xác định trình độ năng lực nói và viết của đối tượng tham gia Các bài kiểm tra nói và viết đã tuân theo các bước đủ độ tin cậy để đánh giá trình độ kỹ năng của đối tượng nghiên cứu, tuy nhiên đối tượng tham gia phải làm các bài kiểm tra trong thời lượng rất ngắn Bởi vậy, kết quả đánh giá này không tính đến khả năng, ví dụ, người học có 1 ngày không may, không có động lực hoặc những phân tán khác Nghiên cứu trong tương lai cần ý thức về vấn đề này và tìm các cách khác để đánh giá trình độ năng lực của người học bằng nhiều hình thức đánh giá khác nhau
Rõ ràng không khó để rút ra kết luận về việc phát triển ngôn ngữ của người học dựa trên 30 đối tượng tham gia với số liệu ngôn ngữ
đã được khảo sát trong nghiên cứu này Để đạt được tính toàn diện về bất kỳ sự phát triển nào mà người học có được trong một học kỳ, cần phải điều tra số liệu ngôn ngữ với kích cỡ mẫu lớn hơn, chứ không chỉ
30 đối tượng
Trên cơ sở số liệu thu thập từ bảng hỏi, rõ ràng sinh viên thích các buổi học chat Đối với những nghiên cứu trong tương lai, cần tiếp tục nghiên cứu vấn đề này, ví dụ bằng cách thiết kế bảng điều tra định tính chuẩn hơn để tìm hiểu động lực và thái độ của sinh viên đối với việc sử dụng công nghệ trong lớp học ngôn ngữ Hơn nữa, sẽ rất thú vị nếu nghiên cứu các khía cạnh này trong ngữ cảnh rộng lớn hơn và để xem thái độ và động lực của sinh viên sẽ ảnh hưởng như thế nào đến việc học ngoại ngữ của họ Ngoài ra, mẫu nghiên cứu gồm 30 đối tượng
là quá ít để làm cho số liệu định lượng có giá trị và làm cho mẫu có tính đại diện cho toàn dữ liệu Nghiên cứu tương lai cần thu thập số liệu từ
có thỏa hiệp cấu trúc và nghĩa không, họ thỏa hiệp như thế nào, họ làm
gì khi đối mặt với việc thiếu hụt ngôn ngữ hay sự cố ngôn ngữ, họ có phản ứng như thế nào khi giáo viên và bạn đồng học phản hồi sửa lỗi, v.v Các bản sao này cung cấp nguồn số liệu ngôn ngữ dồi dào chứa
Trang 27nhiều đặc điểm ngôn ngữ giúp chúng ta có thể tìm hiểu sâu hơn việc phát triển ngôn ngữ qua phân tích các bản sao này
Cuối cùng, bản sao cũng có thể được sử dụng chuyên sâu để sửa lỗi, như sinh viên có thể sử dụng bản sao để tự tìm và sửa lỗi của
họ, điều này tạo động lực cho sinh viên sửa hiệu quả hơn vì họ quan tâm nhiều trong bài text mà họ viết Nghiên cứu này không in bản sao
ra và sửa lỗi trên bản sao Tuy nhiên, nghiên cứu với thiết kế và mục đích khác có thể dễ dàng lồng ghép ý tưởng này và có thể có một số kết quả ý nghĩa
5.5 Kết luận
Mục đích của nghiên cứu này là tìm hiểu sâu hơn sự phát triển ngôn ngữ của người học tiếng Anh, đặc biệt là về hiệu quả của thảo luận trực tuyến cùng thời điểm Nghiên cứu cũng nhằm mục đích chiêm nghiệm các ý tưởng sư phạm hiện nay trong thiết kế nghiên cứu bằng nhiều hình thức Sinh viên tham gia vào các hoạt động ý nghĩa thúc đẩy việc trao đổi thông tin không giới hạn làm cho việc học của sinh viên được thuận lợi dễ dàng (Hall, 1999)
Nhịp độ và phong cách thân mật của diễn ngôn nói được thể hiện bằng hình thức viết đã làm chậm nhịp độ giao tiếp và kéo dài một cách bền vững Thảo luận trực tuyến cùng thời điểm có thể tổ chức ngoài lớp học, trở thành những điểm hẹn không phụ thuộc về địa điểm
và thời gian cho người học để luyện tập và nâng cao cả hai kỹ năng nói
và viết
Tuy nhiên, để soi sáng thêm những vấn đề này, cần nhiều nghiên cứu hơn điều tra việc phát triển ngôn ngữ của người học trong ngữ cảnh giao tiếp
Trang 28CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ
Bài báo đã công bố
1 Phạm Đặng Trâm Anh (2018) An investigation into students’ perceptions of synchronous online discussions on language
development in Vietnamese institutional context – Tạp chí Khoa học Ngoại ngữ - Đại học Hà Nội, 56, 74-85
2 Phạm Đặng Trâm Anh (2019) Quantitative analysis of the effect
of synchronous online discussions on oral and written language
development for EFL university students in Vietnam – Tạp chí Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Huế, 128 (6B), 5-16
Bài báo đã được duyệt đăng
3 Phạm Đặng Trâm Anh (2019) An investigation into students’ evaluation of and attitudes towards synchronous computer-mediated communication on language development in
Vietnamese institutional context – Tạp chí Nghiên cứu nước ngoài – Đại học Quốc gia Hà Nội
Báo cáo tại Hội nghị
4 Phạm Đặng Trâm Anh (2018) Investigating the effects of synchronous computer-mediated communication on language
development in Vietnamese EFL students - MEKONG TESOL – Cần Thơ
5 Phạm Đặng Trâm Anh (2018) An investigation into students’ perceptions of synchronous online discussion on language
development for Vietnamese EFL learners – VinhTESOL – Đại học Vinh