1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khảo sát,kiến thức, thái độ, hành vi ở nhóm bệnh nhân đã có con phá thai từ 13 đến hết 22 tuần tại bệnh viện phụ sản trung ương

83 134 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 392,25 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phương pháp PT ngoại khoa bằng nong và gắpthường chỉ áp dụng cho tuổi thai dưới 18 tuần, chỉ phù hợp với những cơ sở y tế có trang thiết bị thật tốt và đội ngũ thầy thuốc có tay nghề cao

Trang 1

13 tuần đến hết 22 tuần nhưng với những lý do khác nhau, trong đó cónhững lý do bệnh lý của người mẹ cũng như dị tật bẩm sinh của thai nênnhiều phụ nữ bắt buộc phải PT ở tuổi thai này.

Có hai phương pháp PT từ 13 tuần đến hết 22 tuần bao gồm PT nội khoa

và PT ngoại khoa đã và đang được áp dụng Những phương pháp cổ điển như:đặt túi nước ngoài buồng ối hiện nay hầu như không được áp dụng nữa vì íthiệu quả và gây nhiều tai biến Phương pháp PT ngoại khoa bằng nong và gắpthường chỉ áp dụng cho tuổi thai dưới 18 tuần, chỉ phù hợp với những cơ sở y

tế có trang thiết bị thật tốt và đội ngũ thầy thuốc có tay nghề cao, có thể gặpnhững tai biến như: băng huyết, thủng tử cung, rách cổ tử cung, tổn thươngcác tạng lân cận phải can thiệp [1]

Đã có nhiều nghiên cứu trên thế giới cũng như tại Việt Nam về kiến thức,thái độ, hành vi PT được tiến hành Kết quả của mỗi nghiên cứu phụ thuộc vàothiết kế nghiên cứu và đặc trưng khác nhau của đối tượng nghiên cứu

Tại Việt Nam, các yếu tố như tuổi, số con, trình độ học vấn, nghềnghiệp, kinh tế thiếu thốn, sử dụng biện pháp tránh thai không đúng làm tăngnguy cơ PT, nhất là PT từ 13 tuần đến hết 22 tuần [5],[6],[7] Sự thiếu hiểubiết về PT và hậu quả của PT không an toàn, không xem chương trình kếhoạch hoá gia đình và thông tin BPTT trên truyền hình là yếu tố tăng tỷ lệ

Trang 2

PT[6] Trên thực tế, những nghiên cứu trên ít đề cập đến kiến thức, thái độ,hành vi và những yếu tố liên quan đến chính nó của người phụ nữ PT, đặc biệtphụ nữ chưa có con Đây là một trong những vấn đề cần được quan tâm bởi

PT không những gây biến chứng vô sinh mà còn liên quan đến các thai kỳ vềsau[8] Nếu như chúng ta xác định được kiến thức, thái độ, hành vi và 1 sốyếu tố liên quan đến PT ở những phụ nữ chưa có con và áp dụng vào chiếnlược chăm sóc sức khoẻ sinh sản, ngăn ngừa PT thì tỷ lệ, biến chứng do PT sẽgiảm và hạn chế đáng kể ở phụ nữ trong mọi lứa tuổi

Xuất phát từ thực tế trên, nhằm góp phần giảm tỷ lệ PT không an toàn

và cải thiện sức khoẻ sinh sản của phụ nữ, chúng tôi tiến hành nghiên cứu

đề tài: “Khảo sát,kiến thức, thái độ, hành vi ở nhóm bệnh nhân đã có con phá thai từ 13 đến hết 22 tuần tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương”

Trang 3

Chương 1 TỔNG QUAN

1.1 Các phương pháp phá thai áp dụng cho tuổi thai từ 13 tuần đến hết

22 tuần

1.1.1 Phương pháp ngoại khoa

1.1.1.1 Nong, nạo và gắp đơn thuần

Tiến hành làm rộng cổ tử cung (CTC) bằng cách sử dụng các nong bằngkim loại, sau đó dùng kẹp gắp thai và nạo hút lại buồng tử cung (BTC) bằng cácống hút cỡ 12 - 16 mm Tuy nhiên phương pháp này chỉ có thể áp dụng vớinhững thai ở giai đoạn đầu của 3 tháng giữa

Phương pháp này có nhiều nhược điểm như: nong rộng CTC hay gặp khókhăn và gây đau, thường gặp các biến chứng như rách CTC, thủng tử cung (TC),tổn thương các tạng lân cận (ruột hay bàng quang), nhiễm khuẩn và dính BTC,

từ đó dẫn đến vô sinh sau nạo PT

1.1.1.2 Nong, nạo và gắp có chuẩn bị cổ tử cung

Để dễ dàng hơn cho việc nong CTC, người ta sử dụng các biệnpháp làm mềm và mở CTC là các que nong thấm nước hoặc dùng một

số dược phẩm

Que nong thấm nước được sử dụng dưới hai dạng laminaria và dilapan.Sau khi đặt vào CTC, que nong hút nước từ niêm dịch CTC và tăng đườngkính lên gấp 3 đến 4 lần Laminaria còn tác động lên CTC để tăng giải phóng

PG, giúp CTC mềm và giãn nở Ưu điểm của phương pháp này là giúp việcnong CTC nhẹ nhàng và dễ dàng, ít gây sang chấn Tuy nhiên các tác dụngphụ của que nong thấm nước là nổi mề đay ÂĐ, đôi khi khó thở, buồn nôn, tụthuyết áp, nhiễm khuẩn Hiện nay MSP được sử dụng rộng rãi để làm mềm và

mở CTC trước khi nong và gắp

Trang 4

Các tai biến có thể gặp gồm có: sót rau hoặc mô thai, nhiễm khuẩn, chảymáu nhiều, tổn thương các tạng lân cận phải can thiệp…, tuy nhiên tỷ lệ cáctai biến này rất thấp.

1.1.1.3 Mổ lấy thai hoặc cắt tử cung cả khối

Phương pháp mổ lấy thai được chỉ định cho những trường hợp chống chỉđịnh với PT đường dưới hoặc PT đường dưới thất bại Thuận lợi nữa củaphương pháp này là có thể kết hợp thắt hai vòi TC nếu như thai phụ khôngmuốn có thai nữa…

Phương pháp cắt TC cả khối tức là cắt luôn toàn bộ TC hoặc cắt khônghoàn toàn TC mà không cần lấy bỏ thai ra trước Phương pháp này thườngđược áp dụng cho những trường hợp bệnh lý của mẹ như: bệnh tim mạchnặng, hen phế quản nặng hoặc nhiễm khuẩn TC nặng Bằng cách cắt TC cảkhối sẽ giúp cho bệnh nhân ít nguy cơ bị nhiễm khuẩn nặng, nhất là nguy cơviêm nội tâm mạc bán cấp (Osler) sau PT

1.1.2 Phương pháp nội khoa

Là phương pháp gây sẩy thai bằng cách kích thích để tạo cơn co TCgiống như chuyển dạ để đưa bào thai ra khỏi BTC Có thể tạm chia cácphương pháp gây sẩy thai nội khoa làm 2 nhóm:

1.1.2.1 Làm tăng thể tích buồng ối

- Bơm chất gây sẩy vào trong buồng ối

Các chất được bơm vào buồng ối để gây sẩy thai rất đa dạng, bao gồm:dung dịch muối ưu trương, urê, ethacridin lactat, PG…

Các phương pháp này ngày nay không được sử dụng nữa vì hiệu quả PTthấp, nguy cơ nhiễm trùng cao và gây nhiều tai biến như: hội chứng đông máurải rác trong lòng mạch, tăng natri máu có thể dẫn đến hôn mê hoặc tử vong,tắc mạch ối…

Trang 5

- Phương pháp Kovacs

Bơm huyết thanh mặn vào khoang ngoài màng ối để kích thích tạo cơn

co TC gây sẩy thai Ưu điểm của phương pháp là dễ thực hiện, giá thành rẻ.Kết quả thai sẩy chậm, tỷ lệ phải can thiệp để lấy thai ra cao, nguy cơnhiễm trùng cao Vì vậy phương pháp này từ lâu đã không được sử dụng để

PT nữa

- Đặt túi nước ngoài buồng ối (phương pháp Kovacs cải tiến)

Ở nước ta đây là phương pháp được dùng chủ yếu trong nhiều năm quacho tới những năm 90 thế kỷ trước, còn có tên gọi là phương pháp Kovacs cảitiến, áp dụng cho việc đình chỉ thai nghén không phải là bệnh lý với tuổi thai

từ 18 - 24 tuần

Dùng 1 ống thông Nélaton cỡ 18 luồn vào trong một bao cao su, buộc cốđịnh cổ bao vào sonde, đặt vào BTC ngoài màng ối Bơm vào túi 500 mlhuyết thanh mặn 0,9%, cho kháng sinh toàn thân và chờ cơn co TC xuất hiện.Sau 12 giờ, tháo nước và rút túi Truyền oxytocin nhỏ giọt để tăng cường cơn

co TC nếu cần thiết Thai sẽ sẩy tự nhiên giống như một cuộc đẻ Sau khi thai

và rau ra, kiểm soát lại BTC bằng tay hoặc nạo lại bằng dụng cụ

Ưu điểm của phương pháp là dễ thực hiện, giá thành rẻ Tuy nhiênphương pháp này có nguy cơ thường gặp nhất là nhiễm khuẩn do đặt vật lạvào BTC, nhất là sau khi vỡ ối, tỷ lệ thành công không cao lắm

1.1.2.2 Phương pháp gây sẩy thai bằng thuốc

- Phương pháp truyền oxytocin tĩnh mạch

Oxytocin được sử dụng hết sức rộng rãi trong sản phụ khoa

Trong trường hợp thai chưa đủ tháng, TC có ít cơ quan cảm thụ(receptor) hơn các trường hợp thai đủ tháng, vì vậy liều lượng oxytocin sửdụng cho các trường hợp PT 3 tháng giữa thường cần cao hơn các trường hợpgây chuyển dạ khi thai đã đủ tháng

Trang 6

Các nghiên cứu cho thấy tỷ lệ gây sẩy thành công của oxytocin đạt từ80% đến 90%, tỷ lệ sót rau và thai cần phải nạo ở mức 27% Thời gian gâysẩy trung bình dao động trong khoảng từ 8 đến 13 giờ.

Chống chỉ định đối với PT 3 tháng giữa: khối u tiền đạo, TC có sẹo mổ

cũ, rau tiền đạo…

- Phương pháp Stein

+ Phương pháp Stein cổ điển:

Cho bệnh nhân tắm nước ấm, thụt tháo, dùng estrogen và quinine trướckhi truyền oxytocin để gây sẩy thai

+ Phương pháp Stein cải tiến :

Dùng estrogen, cụ thể là benzogynestryl 10 mg/ngày, trong 3 ngày liền.Đến ngày thứ 4 truyền oxytocin tĩnh mạch gây cơn co TC Liều oxytocintruyền mỗi ngày tối đa là 30 đơn vị, truyền từng đợt trong 3 ngày liền, mỗiđợt cách nhau 7 ngày cho đến khi thai sẩy

+ Ưu điểm của phương pháp là dễ thực hiện, giá thành rẻ, hiệu quả cao.Tuy nhiên có thể gặp một số tác dụng phụ và tai biến do truyền oxytocin tĩnhmạch như hạ huyết áp, rối loạn nhịp tim, ngộ độc nước, vỡ TC

- Gây sẩy thai bằng Misoprostol đơn thuần

Sử dụng MSP đơn thuần gây sẩy thai 3 tháng giữa là phương pháp PT nộikhoa an toàn và hiệu quả, điều đó từ lâu đã được chứng minh Tuy nhiên liều dùng

và cách sử dụng thuốc có nhiều phác đồ khác nhau Hiện nay, nhiều nghiên cứu vẫncòn đang tiếp tục thực hiện để tìm ra một phác đồ tối ưu nhất

Trang 7

Bảng 1.1 Kết quả nghiên cứu về PT ba tháng giữa bằng phác đồ MSP đơn

thuần của một số tác giả trên thế giới

Tác giả

Thời gian khởi phát- tống xuất (h)

Ramsey

(2004) [9]

60

Ba tháng giữa

600mcg MSP ÂĐ, sau

đó 400mcg MSP ÂĐ mỗi 4h, tối đa 5 liều 24h: 95% 12

66 10mg PGE2 mỗi 6h, tốiđa 4 liều, kết hợp với

oxytocin liều tăng dần 24h: 85% 17

mỗi 3h, tối đa 5 liều

24h: 64%

48h: 91% 13,8Dilbaz

(2004) [11] 250 12 - 20tuần

200mcg MSP ÂĐ, sau

đó 100mcg MSP uống mỗi 2h

200mcg MSP ÂĐ mỗi 12h đến khi tống xuất thai

24h: 54% 22,5

47 400mcg MSP ÂĐ mỗi6h đến khi tống xuất thai 24h: 81% 13,3

Các kết quả nghiên cứu cũng đã thể hiện rõ, với liều MSP thấp hơn vàkhoảng cách giữa mỗi lần dùng thuốc dài hơn thì hiệu quả gây sẩy thai củaMSP sẽ giảm đi Ngược lại nếu tăng liều MSP hoặc rút ngắn khoảng cáchgiữa các lần dùng thuốc thì khả năng thành công sẽ cao hơn khá nhiều, trongkhi đó tác dụng không mong muốn và tai biến không thay đổi rõ rệt

Việc sử dụng MSP đặt ÂĐ, ngậm dưới lưỡi, uống và ngậm cạnh má đều

đã được báo cáo trong y văn Đường ngậm cạnh má đang trở nên thông dụngtrong các phác đồ PT bằng thuốc kết hợp với MFP trên thế giới Mặc dùđường ngậm cạnh má cho nồng độ huyết thanh thấp hơn đường ÂĐ, nhưngtrương lực và hoạt động của cơ TC là tương đương nhau, tác dụng phụ tươngđương nhau và sự chấp nhận cả hai đều cao Mặt khác phụ nữ thường thích

Trang 8

dùng thuốc đường miệng hơn là đặt ÂĐ Eric và cộng sự (2005) [13] đãnghiên cứu so sánh giữa MSP ngậm cạnh má và ngậm dưới lưỡi, cho thấyhiệu quả gây sẩy thai 3 tháng giữa gần tương đương nhau, tỷ lệ sẩy thai trong

24 giờ là 96,2% ở nhóm ngậm cạnh má và 91,3% ở nhóm ngậm dưới lưỡi

Để đánh giá tác dụng MSP gây sổ rau tự nhiên mà không cần nạo lại BTCmột cách hệ thống, rất nhiều nghiên cứu trên thế giới chỉ rõ rằng tỷ lệ nạo BTCsau sẩy không cao, chỉ dao động trong khoảng 8% - 20%

Nhiều tác giả cũng đánh giá PT nội khoa bằng MSP có độ an toàn cao, íttai biến và ít tác dụng phụ Năm 2001, Gilbert [14] đã nghiên cứu 55 trườnghợp PT ba tháng giữa bằng MSP uống và đặt ÂĐ, liều 400 mcg MSP khởiđiểm, sau đó 200 mcg MSP mỗi 4 giờ trong 32 giờ, không có trường hợp taibiến nào Năm 2004, Saipin Ponsatha [15] cũng không tìm thấy trường hợptai biến nào trong số 63 bệnh nhân thai chết lưu ba tháng giữa, được sử dụngphác đồ 400 mcg MSP mỗi 4 giờ đến khi thai sẩy Năm 2005, Edwards [12]nghiên cứu 147 trường hợp PT ba tháng giữa, sử dụng phác đồ 200 mcg MSP

ÂĐ mỗi 12 giờ và 400 mcg MSP đặt ÂĐ mỗi 6 giờ đến khi thai sẩy, có 1trường hợp tai biến vỡ TC, chiếm tỷ lệ 0,68 % Như vậy tỷ lệ tai biến của PTnội khoa bằng MSP là rất thấp

Khi lựa chọn một phác đồ MSP tối ưu về liều và khoảng cách, nên dùngliều thấp nhất, đồng thời tăng cường tối đa hiệu quả và giảm đến tối thiểu thờigian tống xuất thai Phác đồ MSP 400 mcg cho mỗi 3 giờ đã chứng minhđược tỷ lệ tống xuất thai cao ở thời điểm 24 giờ (khoảng 85% - 95%) và thờigian tống xuất thai ngắn (khoảng 12 - 17 giờ) khi so với liều thấp hơn vàkhoảng cách giữa các liều dài hơn Phác đồ MSP này cũng được khuyến cáo

sử dụng khi kết hợp với 200 mg MFP

Như vậy, qua những nghiên cứu trên ta có thể nhận thấy PT ba thánggiữa nếu có sự chuẩn bị trước bằng MFP tỷ lệ thành công cao hơn, thời gian tống

Trang 9

xuất thai kể từ khi dùng MSP sẽ được rút ngắn lại rất nhiều, liều MSP cũng sẽgiảm đi và do đó sẽ giảm bớt những tác dụng phụ và biến chứng do thời gian gâysẩy quá dài mang lại, đồng thời sẽ được phụ nữ chấp nhận nhiều hơn.

Hướng dẫn quốc gia năm 2009 [2] đã cho phép các bệnh viện tuyếntrung ương và tuyến tỉnh được áp dụng phác đồ PT ba tháng giữa bằng MSPvới liều 1 viên 200 mcg/4 giờ đối với thai nhỏ hơn 18 tuần và và liều 1 viên

200 mcg/6 giờ đối với thai lớn hơn 18 tuần, tổng thời gian dùng thuốc khôngquá ba ngày

Bảng 1.2 Kết quả nghiên cứu về phá thai ba tháng giữa bằng phác đồ

MSP đơn thuần của một số tác giả trong nước

Tác giả chính n Tuổi thai Phác đồ Hiệu quả

Thời gian khởi phát- tống xuất (h)

48h: 84,2% 46,2Phan Thanh

Hải (2008) [19] 154 17 - 22 tuần

200mcg MSP ÂĐ mỗi 6h 95,4% 40,05 ± 13,22

200mcg MSP ÂĐ mỗi 6h 84% 24,9 ± 17,2

23,8

76

200mcg MSP ngậm má mỗi 6h, tối đa 8 liều 86,8% 18,8

Trang 10

Có thể nhận thấy hầu hết các nghiên cứu trong nước đều sử dụng phác

đồ dùng 200 mcg MSP mỗi 6 giờ để gây sẩy Gần đây tác giả Nguyễn HuyBạo [20] đã áp dụng rất thành công phác đồ 400 mcg MSP đặt ÂĐ hoặc ngậmcạnh má mỗi 3 giờ, tối đa 5 liều, tỷ lệ thành công đạt 97% - 98% [11] Đâycũng là phác đồ mà nhiều tác giả trên thế giới khuyến cáo nên sử dụng vì đãchứng minh được tỷ lệ tống xuất thai cao ở thời điểm 24 h (khoảng 85% -95%) và thời gian tống xuất thai ngắn (khoảng 12h - 17h) khi so với liều thấphơn và khoảng cách giữa các liều dài hơn Tuy nhiên phác đồ này hay được

sử dụng hơn đối với thai dưới 18 tuần Đối với thai trên 18 tuần nên cân nhắc

sử dụng nhắc lại sau mỗi 6 giờ, vì TC nhạy cảm với MSP ở tuổi thai lớn hơn

và vì lo ngại vỡ TC nên một số người cung cấp dịch vụ khuyến nghị nên kéodài khoảng cách giữa các liều MSP đối với thai từ 18 tuần trở lên

1.2 Một số nghiên cứu về kiến thức, thái độ, hành vi phá thai

1.2.1 Kiến thức về phá thai

Theo kết quả nghiên cứu của Perera và cộng sự [22], tiến hành trên 210phụ nữ tại Sri Lanka cho thấy thấy 96% các trường hợp đến PT không biếtcác ảnh hưởng của PT; 80% các trường hợp không biết như thế nào là PT antoàn Một nghiên cứu khác của tác giả Jagnayk tại Ấn Độ [23] trên 150 phụ

nữ tuổi từ 15- 45 cho thấy, về khái niệm PT, có 38,33% các trường hợp đạtmức rất tốt, 15% các trường hợp đạt mức khá, 44,17% đạt mức trung bình và2,5% đạt ở mức kém; về kiến thức những lý do có thể PT, có 15% các trườnghợp đạt mức tốt, 24,17% các trường hợp đạt mức khá, 44,17% các trường hợpđạt mức trung bình và 16,66% các trường hợp ở mức kém; về kiến thức cácbệnh cần phải PT có 18,33% các trường hợp ở mức tốt, 20,83% các trườnghợp ở mức khá, 41,67% các trường hợp ở mức trung bình và 19,17% cáctrường hợp ở mức kém và cuối cùng, về kiến thức các phương pháp PT, có

Trang 11

16,67% các trường hợp đạt mức tốt, 25,83% các trường hợp ở mức khá,47,50% các trường hợp ở mức trung bình và 10% các trường hợp ở mức kém.Tại Việt Nam, nghiên cứu của tác giả Huỳnh Nguyễn Khánh Trang năm

2004 [6] tại thành phố Hồ Chí Minh trên 168 phụ nữ PT cho thấy 20,6% cáctrường hợp cho biết PT không phải là biện pháp KHHGĐ và 8% các trườnghợp cho biết PT có tác hại đối với sức khoẻ Nghiên cứu khác của Trịnh HữuVách và cộng sự năm 2003 [24] tại tỉnh Tiền Giang về thực trạng cung cấp và

sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản cho thấy, có 16,2% các trườnghợp không biết các hậu quả cụ thể của PT, có khoảng 51,4% các trường hợpphụ nữ biết PT dễ mắc các bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản, 22,4% cáctrường hợp biết rằng có thể bị vô sinh nếu PT và 15,7% các trường hợp phụ

nữ cho rằng PT có thể gây tử vong Ngoài ra, có 88,1% các trường hợp phụ

nữ và 64,3% các trường hợp nam giới biết nơi PT là cơ sở y tế nhà nước và26,7% các trường hợp phụ nữ và 8,1% các trường hợp nam giới biết nơi PT là

cơ sở y tế tư nhân Số đối tượng không biết nơi nào có thể PT an toàn cònchiếm khoảng 1/5, trong đó tỷ lệ phụ nữ chiếm 10,5% và tỷ lệ tương ứng ởnam giới là 33,8%

Nghiên cứu về kiến thức xem các BPTT như là 1 phần kiến thức vềphòng tránh PT cho thấy hầu hết các trường hợp nghiên cứu có thể kể tên ítnhất 1 BPTT hiện đại trong các nghiên cứu Theo kết quả nghiên cứu củaChhun Long, Neang Ren và cộng sự năm 2001 [25] tại Campuchia tiếnhành trên 600 phụ nữ từ 15 - 45 tuổi, có 74,3% các trường hợp nghiên cứubiết ít nhất 3 BPTT, thuốc tránh thai uống và tiêm là kiến thức phổ biếnnhất về BPTT Đối với thuốc tránh thai uống, 75% các trường hợp nghiêncứu có nghe nói tới, trong số đó có 30,9% các trường hợp nghiên cứu biếtcần phải uống hàng ngày, 29,8% các trường hợp nghiên cứu biết cần phảiuống thuốc tiếp tục càng sớm càng tốt sau khi uống hết vỉ thuốc trước và

Trang 12

16,3% các trường hợp nghiên cứu biết rằng phải làm thế nào nếu bỏ quênthuốc 1 ngày Tìm hiểu kiến thức về BCS cho kết quả là 68,2% các trườnghợp nghiên cứu đã được nghe nói về BCS, trong đó 33,5% các trường hợpnghiên cứu biết rằng BCS chỉ được sử dụng 1 lần, 73% các trường hợpnghiên cứu không biết thời điểm dùng BCS, 92,2% các trường hợp nghiêncứu không biết sử dụng BCS như thế nào Cũng theo nghiên cứu của TrịnhHữu Vách và cộng sự [24] tại Tiền Giang, hai biện pháp tránh thai hiện đạiđược đa số đối tượng phỏng vấn biết là BCS (86,7%) và thuốc uống tránh thai(84,8%) Các BPTT hiện đại còn lại, tỷ lệ người biết không nhiều, thậm chí cóloại rất thấp như thuốc tránh thai uống khẩn cấp (0,8%)

1.2.2 Thái độ về phá thai

Theo kết quả nghiên cứu của tác giả Cesar và cộng sự năm 1997 [26]tại Miền nam Brazil, trong số 1456 phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ cho thấy có30% các trường hợp nghiên cứu đồng ý chấp nhận PT trong bất cứ tình huốngnào, 53% các trường hợp nghiên cứu đồng ý được phép PT vì lý do tài chính,17% các trường hợp nghiên cứu đồng ý là việc PT được chấp nhận có thểgiảm thiểu các trường hợp PT “chui”, giảm tỷ lệ bệnh tật và tử vong ở người

mẹ Trong những phụ nữ không chấp nhận được phép PT, 26% các trườnghợp nghiên cứu cho rằng PT không phải là biện pháp để KHHGĐ, 20% cáctrường hợp nghiên cứu coi đó như tội ác

Nghiên cứu khác của tác giả Weiss JA và cộng sự [27] tại Cộng hoàSéc năm 1998, trong số 862 nam và 857 nữ trên 15 tuổi trả lời nghiên cứu thái

độ đối với PT cho thấy, 6,1% các trường hợp nghiên cứu nữ và 6,8% cáctrường hợp nghiên cứu nam trên 60 tuổi và 5,4% các trường hợp nghiên cứu

nữ, 5,2% các trường hợp nghiên cứu nam lứa tuổi 15 - 17 cho rằng PT làkhông được phép Có 7% các trường hợp nghiên cứu nam và 7,2% các trườnghợp nghiên cứu nữ tín đồ Thiên chúa giáo không bày tỏ thái độ trong phỏng

Trang 13

vấn này, nhưng lại có tới 35,5% các trường hợp nghiên cứu nam và 31,4%các trường hợp nghiên cứu nữ nghĩ rằng có thể PT vì lý do sức khoẻ trong khi

có 12,3% các trường hợp nghiên cứu nam và 13,6% các trường hợp nghiêncứu nữ không theo tôn giáo đồng ý với ý kiến đó

1.2.3 Hành vi về phá thai

* Các nghiên cứu hành vi số lần phá thai

Theo kết quả nghiên cứu của Trần Thị Trung Chiến và cộng sự năm

2002 tại Hà Nội, có 47,5% các trường hợp nghiên cứu chưa PT lần nào, 28%các trường hợp nghiên cứu PT 1 lần và 14% các trường hợp nghiên cứu PT 2lần trước thời điểm nghiên cứu [28] Nghiên cứu của Trịnh Hữu Vách vàcộng sự tại Tiền Giang, có 23,4% các trường hợp nghiên cứu đã từng PT,19% các trường hợp nghiên cứu PT lần đầu, 3,3% các trường hợp nghiên cứu

PT 2 lần, và 2,4% các trường hợp nghiên cứu đã từng PT 3 lần trở lên [24]

* Các nghiên cứu về hành vi tuổi thai khi thực hiện phá thai

Theo kết quả nghiên cứu của Perera và cộng sự tại bệnh viện Colombo,SriLanka, có 96% số phụ nữ đến thực hiện PT có tuổi thai dưới 12 tuần [22].Trong nghiên cứu của Trần Thị Trung Chiến năm 2002 tại Nam Định, tỷ lệphụ nữ đến PT nhiều nhất ở tuổi thai 6 tuần (43.8%), còn ở 7 tuần và 8 tuầnthì tỷ lệ tương ứng là 31.4% và 13.9% Tỷ lệ phụ nữ PT dưới 5 tuần tuổi và 9

- 12 tuần tuổi chiếm tỷ lệ dưới 10% [28]

* Các nghiên cứu hành vi về địa điểm phá thai

Theo kết quả nghiên cứu của Machungo F và cộng sự năm 1997 tạiMôzămbíc cho thấy, có 49% trường hợp PT ngoài cơ sở y tế là tự PT, có 38%các trường hợp nghiên cứu được thực hiện bởi những người có chuyên môn y

tế [29] Theo kết quả nghiên cứu của Trần Thị Phương Mai và cộng sự vềthực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến nạo hút thai tại các cơ sở y tế tại ViệtNam, có 91,5% các trường hợp nghiên cứu đã chọn các cơ sở y tế nhà nước

Trang 14

để PT, còn lại 8,5% các trường hợp nghiên cứu đã PT ở các cơ sở tư nhân [7] TạiTiền Giang, có 78,4% các trường hợp nghiên cứu đã PT tại cơ sở y tế nhà nước và21,6% các trường hợp nghiên cứu PT tại cơ sở y tế tư nhân [24].

* Các nghiên cứu hành vi về lý do phá thai

Theo kết quả nghiên cứu của Bankole J và cộng sự năm 1998 tại 27quốc gia đã đưa ra kết quả về những lý do dẫn đến PT: 25,5% các trường hợpnghiên cứu chưa muốn có con vào thời điểm đó, 7,9% các trường hợp nghiêncứu không muốn có con thêm, 1,8% các trường hợp nghiên cứu do ảnh hưởngđến học tập và công tác, 14,1% các trường hợp nghiên cứu chồng khôngmuốn có thêm con, 2,8% các trường hợp nghiên cứu do nguy hiểm đến sứckhoẻ mẹ, 3,3% các trường hợp nghiên cứu do ảnh hưởng sức khoẻ của con[30] Nghiên cứu tại Hà Nội cho kết quả là 62,2% các trường hợp nghiên cứuđến PT với lý do không muốn đẻ nhiều, đẻ dày, 15% các trường hợp nghiêncứu không muốn vi phạm chính sách 2 con, 4,5% các trường hợp nghiên cứuchưa muốn có con vào thời điểm đó, lý do kinh tế khó khăn chiếm 2,7% và dosức khoẻ yếu chiếm 1,3% [28]

1.3 Các yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ, hành vi phá thai

PT và các BPTT là nội dung truyền thông được phổ biến trên rất nhiềukênh khác nhau bao gồm cả thông tin đại chúng và truyền thông trực tiếp.Nghiên cứu tại Kenya về thông tin, giáo dục, truyền thông cho kết quả 75%nhận được thông tin chăm sóc sức khoẻ sinh sản từ các phương tiện thông tinđại chúng, có 27% nam và 33% nữ không hề thảo luận với bạn đời/bạn tìnhSKSS trong vòng 1 năm qua Còn tại Thành phố Hồ Chí Minh, nghiên cứucủa Huỳnh Nguyễn Khánh Trang năm 2004 cho thấy, có 54% các trường hợpnghiên cứu đến chưa bao giờ thảo luận với người khác về KHHGĐ, 21,4%các trường hợp nghiên cứu thảo luận với chồng/bạn tình Nghiên cứu cũng

Trang 15

cho kết quả rằng không xem chương trình liên quan đến KHHGĐ trên truyềnhình là yếu tố nguy cơ của PT [6].

Nghiên cứu tại Ấn Độ cho thấy mức độ kiến thức của ĐTNC về PT cóliên quan chặt chẽ, có ý nghĩa thống kê với tuổi (p<0,01), trình độ học vấn(p=0,05), nghề nghiệp (p=0.01) [23]

Các nghiên cứu về tình hình PT trước đây cũng cho thấy có một số yếu

tố liên quan đến hành vi PT là kiến thức về PT, BPTT đang sử dụng, tuổi, sốcon, trình độ học vấn và nghề nghiệp Nghiên cứu tại Campuchia cho kết quả

là kiến thức về BPTT, sử dụng BPTT và PT liên quan có ý nghĩa thống kê với

5 yếu tố: giới, tuổi, trình độ học vấn, số con, nơi cư trú [25]

Kiến thức của phụ nữ về PT chính là yếu tố ảnh hưởng quan trọng tớihành vi PT, một số nghiên cứu chỉ ra rằng thiếu hiểu biết về PT chính lànguyên nhân dẫn đến mang thai ngoài ý muốn và phải kết thúc bằng việc PT.Nghiên cứu trên 87 phụ nữ PT và 81 phụ nữ nhóm chứng tại thành phố HồChí Minh cho thấy không biết gì về các tai biến, tác hại của PT là yếu tố nguy

cơ dẫn đến PT (OR= 10.26) [6]

Tỷ lệ PT thường đi đôi với tỷ lệ áp dụng các BPTT và tỷ lệ thất bại củacác BPTT Mặt khác, hiệu quả áp dụng các BPTT còn phụ thuộc vào kiếnthức, thái độ, hành vi của những cặp vợ chồng và cá nhân trong độ tuổi sinh

đẻ về BPTT Mức độ hiểu biết càng cao thì việc áp dụng BPTT càng tốt và tỷ

lệ có thai ngoài ý muốn càng giảm Tại Thổ Nhĩ Kỳ, nghiên cứu chỉ ra rằng,

có 39.3% phụ nữ đang sử dụng 1 biện pháp tránh thai bất kỳ đã có thai, trong

đó có hơn một nửa (57,8%) sử dụng biện pháp xuất tinh ngoài âm đạo [30].Nghiên cứu tại Bắc Ninh cho thấy có 1 tỷ lệ đến PT là do thất bại của BPTTđang sử dụng, trong đó nhiều nhất là 45.8% sử dụng xuất tinh ngoài âm đạo,

tỷ lệ sử dụng biện pháp tính vòng kinh là 14,7%, thuốc tránh thai là 16,5%,BCS là 11,8% và DCTC là 11,2% Có 83% các trường hợp nghiên cứu không

Trang 16

sử dụng BPTT do sợ ảnh hưởng đến sức khoẻ [7] Đối với nghiên cứu 4 tỉnhnăm 2002 của Trần Thị Phương Mai, kết quả sử dụng BPTT của ĐTNC:32,8% các trường hợp nghiên cứu dùng BCS, 26,9% các trường hợp nghiêncứu dùng thuốc tránh thai uống, 13% các trường hợp nghiên cứu xuất tinhngoài âm đạo, 7,4% các trường hợp nghiên cứu dùng DCTC và 0,4% cáctrường hợp nghiên cứu dùng thuốc tránh thai tiêm Trong tổng số 138 cáctrường hợp nghiên cứu không sử dụng BPTT, có 36,2% muốn có con thêm,30,4% chủ quan do ít quan hệ tình dục, 16,7 % sợ các tác dụng của BPTT,6,5% không biết nơi cung cấp các BPTT, 3,6% do sức khoẻ không tốt nênkhông dùng BPTT, 2.2% do đang cho con bú, 2,2% do chồng hoặc bạn tìnhphản đối [7].

Tỷ lệ PT theo độ tuổi có sự khác nhau giữa các quốc gia, phần lớn phụthuộc vào tỷ lệ phụ nữ mang thai ngoài ý muốn, sự tiếp cận dễ dàng cácdịch vụ PT, pháp luật và nền văn hoá của các quốc gia đó Tại bệnh việnColombo, Srilanka trên 80% phụ nữ PT trong độ tuổi từ 20 đến 40 […] TạiViệt Nam, 1 nghiên cứu năm 2002 cũng cho thấy tỷ lệ phụ nữ đến PTchiếm tới 88.6% trong độ tuổi từ 21- 40, trong đó cao nhất ở nhóm tuổi 21-

25 (34.1%) [22]

Các nghiên cứu trước đây chỉ ra rằng tỷ lệ PT ở những người có trình

độ học vấn (TĐHV) từ THCS trở xuống cao hơn những người có TĐHVTHPT trở lên Nhưng lại có sự khác biệt đối với những nghiên cứu ở vùng

đô thị, trình độ càng cao thì tỷ lệ PT càng cao Theo kết quả điều tra nhânkhẩu học năm 1994, nhóm đối tượng PT có 84.7% mù chữ và TĐHV dướicấp 2; 15.3% là tỷ lệ PT của nhóm có TĐHV cấp 3 trở lên Nghiên cứu củaTrần Thị Phương Mai năm 2002, nhóm đối tượng TĐVH cấp 3 trở lên PTchiếm 72% cao hơn rất nhiều so với nhóm có TĐHV dưới cấp 2 [7]

Trang 17

1.4 Các yếu tố tác động đến phá thai tại Việt Nam

- Chính sách dân số

Chính sách dân số của Nhà nước Việt Nam là khuyến khích mỗi gia đình

có 2 con và giữ qui mô gia đình nhỏ, vì vậy phần lớn các gia đình đã có 2 con.Năm 2003, Chính phủ Việt Nam thông qua Pháp lệnh Dân số khẳng định mỗigia đình chỉ có 1 đến 2 con Nếu những cán bộ viên chức Nhà nước có thêm conthứ 3 sẽ bị kỷ luật do cơ quan quản lý hoặc là của tổ chức Đảng, còn nếu lànhững người ngoài các tổ chức thì thuộc sự quản lý của chính quyền xã phường

Đó cũng là một áp lực để cho người phụ nữ có con thứ 3 phải đi PT

- Yếu tố xã hội

Mặt khác, do phong tục Á Đông, vẫn còn nhiều bất bình đẳng tronggiới tính trọng nam khinh nữ cho nên nhiều gia đình đã có 2 con nhưng lại làcon gái vẫn mong muốn có con trai Chưa có một công trình nghiên cứu khoahọc nào chứng minh được lý do PT do giới tính, nhưng thực tế dường như PT

do lựa chọn giới tính đang hình thành rõ rệt Nghiên cứu những yếu tố tácđộng đến nạo PT ở phụ nữ chưa chồng và chỉ có con gái ở một số bệnh việnphụ sản và Trung tâm chăm sóc SKSS, Vương Tiến Hoà và cộng sự [1] thấy

có 2,89% nạo PT vì biết rõ giới tính là thai nữ và 7,58% nạo PT vì sợ lại đẻ racon gái, chứng tỏ có sự lựa chọn giới trong nạo PT ảnh hưởng của một áp lực

nữa đó là do "hội đồng gia đình" chỉ muốn có con trai để nối dõi tông đường.

Thất bại do các biện pháp KHHGĐ mà không phát hiện và xử lý kịp thời đểthai to đặc biệt hay gặp ở những người có thai lần đầu và chưa có chồng Cótới 68,95% PT là do chưa kết hôn

Những áp lực do công ăn việc làm, nhiều người trẻ tuổi kiếm đượcnhững việc làm nhưng với những cam kết trong một thời gian nhất địnhkhông sinh con, vì vậy khi bị vỡ kế hoạch họ phải giải quyết thai để đảm bảo

sự cam kết với cơ quan tuyển dụng và không bị mất việc làm Vương TiếnHoà và cộng sự thấy nguyên nhân này chiếm từ 1,44% đến 4,21%[1]

Trang 18

- Yếu tố kinh tế

Một lý do nữa là do kinh tế Do kinh tế phát triển, những người trẻmuốn có một vị trí tốt, hoặc là có kinh tế ổn định, cơ sở kinh tế tốt rồi mới cócon vì vậy khi có thai họ lưỡng lự nửa muốn giữ lại, nhưng sau khi suy nghĩ

họ quyết định PT thì lúc đó đã muộn vì thế làm tăng số lượng PT to Lý dokhó khăn về kinh tế hoặc chưa thoả mãn với kinh tế hiện tại của bản thân,chưa đủ điều kiện nuôi con, chiếm 10,53% đến 19,49%

- Bệnh của mẹ

Trong một số trường hợp khi mang thai người mẹ mắc những bệnh màphải có những can thiệp y tế (chụp Xquang, dùng thuốc ) ảnh hưởng đến sựphát triển của thai nên phải PT đi

Trang 19

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Phụ nữ có thai từ 13 đến hết 22 tuần tự nguyện xin PT tại Khoa Điều trịtheo yêu cầu Bệnh viện Phụ sản Trung ương được lựa chọn và đồng ý thamgia vào nghiên cứu

2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn

- Tuổi thai từ 13 đến hết 22 tuần tính theo ngày kinh cuối cùng đối vớicác trường hợp kinh nguyệt đều, có chu kỳ 28 ± 2 ngày

- Đường kính lưỡng đỉnh trên siêu âm từ 20 mm đến 52 mm (tươngđương thai từ 13 đến hết 22 tuần)

- Đã có con

- Tự nguyện xin PT, đồng ý ký giấy cam kết

- Thực hiện đầy đủ các qui định về PT to của pháp luật và của bệnh viện

- Sẵn sàng tình nguyện tham gia nghiên cứu và thực hiện theo phác đồ

2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ

- Không chấp thuận tham gia nghiên cứu

- Tuổi thai dưới 13 tuần tính theo kinh cuối cùng hoặc đường kínhlưỡng đỉnh < 20 mm trên siêu âm

- Mẹ mắc một số bệnh lý: bệnh tâm thần, trí tuệ chậm phát triển…

- Thai bất thường

2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

- Địa điểm nghiên cứu: Khoa Điều trị theo yêu cầu bệnh viện Phụ sảnTrung ương

- Thời gian nghiên cứu: từ tháng 09/2017 đến hết tháng 09/2018

Trang 20

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu tiến cứu mô tả cắt ngang

2.3.2 Cỡ mẫu nghiên cứu

Áp dụng công thức tính cỡ mẫu cho 1 tỷ lệ:

d: Độ chính xác mong muốn, với sai số 0,1

Cỡ mẫu tối thiểu n = 79, thực tế thu thập n = 92 (phụ nữ mang thai từ 13 đến

22 tuần) tự nguyện phá thai

2.4 Phương pháp thu thập số liệu

* Kỹ thuật thu thập thông tin

Phỏng vấn trực tiếp đối tượng tham gia nghiên cứu, ghi chép câu trả lờivào phiếu phỏng vấn

* Công cụ thu thập thông tin

Phiếu phỏng vấn được thiết thiết kế sẵn Các câu hỏi được tham khảo từ

bộ câu hỏi về tình hình PT của Tổ chức y tế thế giới và từ các nghiên cứutrước để có cơ sở so sánh và bàn luận

* Tổ chức thực hiện thu thập số liệu

2

2 2 /

d

q p Z

Trang 21

Học viên cùng với Thầy hướng dẫn trực tiếp tham gia phỏng vấn và điềnvào bệnh án nghiên cứu.

2.5 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu

- Xử lý và phân tích số liệu bằng phần mềm SPSS 17.0

- Các thuật toán thống kê được sử dụng trong nghiên cứu gồm:

+ Các biến rời rạc được mô tả dưới dạng tần suất %

+ Các biến liên tục được mô tả dưới dạng trị số trung bình

+ Mô tả số liệu: sử dụng thuật toán thống kê mô tả, các số liệu trìnhbày theo bảng biểu số liệu và các biểu đồ

+ Sự khác nhau có ý nghĩa thống kê ở mức xác suất p < 0,05; p <0,01 và p < 0,001

+ Sử dụng mô hình hồi quy Logistics để phân tích mối liên quan giữamột số yếu tố với kiến thức, thực hành

2.6 Các biến số và một số khái niệm/qui ước dùng trong nghiên cứu

- Kiến thức về PT từ 13 tuần đến hết 22 tuần:

+ Khái niệm PT từ 13 tuần đến hết 22 tuần

+ Tuổi thai PT từ 13 tuần đến hết 22 tuần

+ Các phương pháp PT từ 13 tuần đến hết 22 tuần

+ Tai biến PT từ 13 tuần đến hết 22 tuần

+ Các trường hợp bắt buộc PT từ 13 tuần đến hết 22 tuần

+ Phòng tránh PT từ 13 tuần đến hết 22 tuần

- Thái độ về PT từ 13 tuần đến hết 22 tuần.

+ Quan niệm về PT từ 13 tuần đến hết 22 tuần

+ Xu hướng gia tăng PT từ 13 tuần đến hết 22 tuần trong cộng đồng.+ Pháp luật về PT từ 13 tuần đến hết 22 tuần

- Hành vi về PT từ 13 tuần đến hết 22 tuần.

+ Số lần PT từ 13 tuần đến hết 22 tuần

Trang 22

+ Tuổi thai đối với lần PT từ 13 tuần đến hết 22 tuần gần nhất,

+ Lý do PT từ 13 tuần đến hết 22 tuần

+ Người có ảnh hưởng đến quyết định PT từ 13 tuần đến hết 22 tuần.+ Địa điểm PT từ 13 tuần đến hết 22 tuần

+ Phương pháp sử dụng PT từ 13 tuần đến hết 22 tuần

+Ảnh hưởng thể chất và tinh thần sau PT từ 13 tuần đến hết 22 tuần

CÁCH TÍNH ĐIỂM ĐÁNH GIÁ KIẾN THỨC VỀ PHÁ THAI

1 B3 Kể được ý 1 hoặc ý 2 hoặc cả 2 1 điểm

4 B6+B7 Ý 1 câu B6 và 4 trong 7 ý B7 1điểm

Thang điểm với tổng số tối đa là 6 điểm cho 6 câu trả lời đúng Đạt yêucầu trả lời đúng khoảng 60% số điểm của các câu hỏi

+ Tổng số điểm < 4  Kiến thức không đạt

+ Tổng số điểm ≥ 4  Kiến thức đạt

CÁCH TÍNH ĐIỂM ĐÁNH GIÁ HÀNH VI VỀ PHÁ THAI

1 D5 Kể được ý 1 hoặc ý 2 hoặc cả 2 ý 1 điểm

Trang 23

- Một số yếu tố liên quan: Kiến thức và hành vi về PT biến đổi theo

đặc điểm nhân khẩu học và điều kiện kinh tế xã hội

2.7 Vấn đề đạo đức của nghiên cứu

- Tất cả các đối tượng tham gia nghiên cứu đều được giải thích cụ thể

về mục đích, nội dung của nghiên cứu để đối tượng tự nguyện, cung cấpthông tin 1 cách chính xác nhất

- Chỉ tiến hành nghiên cứu khi các đối tượng tham gia nghiên cứu kývào phiếu đồng ý tham gia nghiên cứu Tất cả các thông tin thu được chỉ phục

vụ cho mục đích nghiên cứu của đề tài, không nhằm mục đích gì khác

- Đề tài chỉ được tiến hành khi Hội đồng khoa học và Hội đồng đạo đức củaBệnh viện Phụ sản Trung ưong và Trường Đại học Y Hà nội chấp nhận thông qua

- Tất cả các hoạt động tiến hành trong nghiên cứu này đều tuân thủ cácqui định và nguyên tắc chuẩn mực về đạo đức nghiên cứu y sinh học của ViệtNam và quốc tế

Trang 24

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu

Bảng 3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu

Trang 25

- Nghề nghiệp chủ yếu là nội trợ - tự do có đến 44 người chiếm 47,83%;tiếp đó đến công nhân viên chức có đến 24 người chiếm 26,09%; tiếp đó đếnnông dân có 19 người chiếm 20,65% Lứa tuổi học sinh sinh viên trongnghiên cứu này có 5 người chiếm 5,43%.

- Nơi sinh sống chủ yếu là ở thành thị chiếm đến 95,65% với 88/92người; chỉ có 4,35% sống ở khu vực nông thôn

- Tình trạng hôn nhân chủ yếu là đang sống chung cùng chồng, với 79người chiếm 85,87% Độc thân có 11 người chiếm 11,96%; góa có 02 trườnghợp chiếm 2,18%

Nhóm tuổi 0

dưới 20 20 - 29 30 - 39 40 - 49

Biểu đồ 3.1 Phân bố nhóm tuổi của nghiên cứu Nhận xét:

Độ tuổi chiếm tỷ lệ lớn nhất là 30 – 39 tuổi có 49 người chiếm 53,26%;

độ tuổi dưới 20 tuổi chiếm tỷ lệ thấp nhất có 05 người chiếm 5,43% Tuổithấp nhất là 16 tuổi cao nhất là 49 tuổi; độ tuổi trung bình của nghiên cứu là32,96 ± 6,71 tuổi

Trang 26

3.2 Kiến thức về phá thai của đối tượng nghiên cứu

Bảng 3.2 Kiến thức về tuổi thai có thể phá thai an toàn

Tuổi thai có thể PT an toàn Số lượng Tỷ lệ (%)

lệ cao nhất; có 25 người cho rằng có thể phá thai an toàn khi thai từ 9 – 12tuần; và chỉ có 5,43% người cho rằng khi thai trên 12 tuần phá vẫn an toàn

Bảng 3.3 Kiến thức về phương pháp phá thai

Bảng 3.4 Kiến thức về bệnh của người mẹ phải phá thai

Trang 27

Bảng 3.5 Kiến thức của đối tượng nghiêncứu về hậu quả của phá thai

Về kiến thức hậu quả của phá thai; chỉ có 2 người không biết đến bất kỳ

1 hậu quả nào của phá thai hoặc cho rằng phá thai không để lại hậu quả nào

Trang 28

chiếm 2,17%; trong 90 người cho rằng phá thai để lại hậu quả; thì tỷ lệ chorằng bị bang huyết chiếm nhiều nhất 80/92 người chiếm 86,96%; tiếp theo đóđến hậu quả thủng tử cung là 84,78%; thấp nhất là cho rằng có nguy cơ chửangoài tử cung 27,17%.

Bảng 3.6 Kiến thức của đối tượng nghiên cứu về biện pháp tránh thai

Trang 29

Đạt; 65.00%

Không đạt; 35.00%

Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ kiến thức về phá thai của đối tượng nghiên cứu theo tổng

điểm Nhận xét: 63,04% ĐTNC có điểm kiến thức đạt.

3.3 Thái độ về phá thai của đối tượng nghiên cứu

Bảng 3.7 Phá thai được pháp luật Việt Nam chấp nhận

Phá thai được pháp luật chấp nhận Số lượng Tỷ lệ (%)

Trang 30

Bảng 3.8 Phá thai VTN ngày càng tăng Phá thai VTN ngày càng tăng Số lượng Tỷ lệ (%)

Bảng 3.9 Phá thai là biện pháp bất đắc dĩ, thực hiện phá thai là bắt buộc Phá thai là biện pháp bất đắc dĩ,

thực hiện phá thai là bắt buộc Số lượng Tỷ lệ (%)

Trang 31

Bảng 3.10 Phá thai là hành động đáng xấu hổ, cần dấu diếm

Bảng 3.11 Phá thai là trái với đạo đức, chuẩn mực xã hội

Phá thai là trái với đạo đức,

3.4 Hành vi về phá thai của đối tượng nghiên cứu

Bảng 3.12 Biện pháp tránh thai lần mang thai này

Trang 32

Biện pháp tránh thai Số lượng Tỷ lệ (%)

Bảng 3.13 Hành vi của đối tượng nghiên cứu về tiền sử

Trang 33

Bảng 3.14 Hành vi của đối tượng nghiên cứu về tuổi phá thai gần nhất

Địa điểm phá thai của 53 người đã từng phá thai lựa chọn nhiều nhất đó

là bệnh viện tuyến tỉnh/thành phố có 19/53 người chiếm 35,85%; tiếp đó làđến phòng khám tư nhân có 16 người chiếm 30,19%; tỷ lệ phá thai ở nơi khác

và bệnh viện tuyến huyện có tỷ lệ bằng nhau là 5,66%

Trang 34

Bảng 3.16 Hành vi của đối tượng nghiên cứu về lý do phá thai lần gần nhất

Bảng 3.17 Hành vi của đối tượng nghiên cứu đối tượng nghiên cứu về

Bảng 3.18 Hành vi của đối tượng nghiên cứu về biện pháp tránh thai đã

sử dụng sau lần phá thai gần nhất

Trang 35

Xuất tinh ngoài âm đạo 0 0

Nhận xét:

Sau lần phá thai; thì biện pháp phá thai đối tượng đang sự dụng chiếm tỷ lệcao nhất đó bao cao su và vòng tránh thai đều là 36/53 người đã từng phá thaichiếm 67,91%; tiếp đó đến que cấy tránh thai có 14 người sự dụng chiếm26,42%; tiếp đó đến thuốc uống tránh thai có 8/53 người chiếm 15,09% Cácphương pháp còn lại như tính vòng kinh, xuất tinh ngoài âm đạo, thuốc tiêmtránh thai hay đình sản/triệt sản không được người có tiền sử phá thai trongnghiên cứu sự dụng sau phá thai

Bảng 3.19 Hành vi của đối tượng nghiên cứu về lý do không sử dụng biện

pháp tránh thai trong lần mang thai này

Lý do không sử dụng biện pháp tránh thai trong lần mang thai này chiếm

tỷ lệ cao nhất là không tìm được BPTT phù hợp chiếm tỷ lệ cao nhất 60,44%;

Trang 36

tiếp đó đến sợ ảnh hưởng đến sức khỏe chiếm 57,14%; chồng/bạn tình không

sự dụng chiếm 40,66% thấp nhất là không muốn sự dụng có 18/92 ngườichiếm 19,78%

68.48 31.52

Hành vi

Đạt Không đạt

Biểu đồ 3.3 Phân loại hành vi phá thai lần gần đây nhất

Nhận xét:68,48% có điểm hành vi đạt và 31,52% có điểm hành vi không đạt.

Trang 37

3.5 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ, hành vi ở nhóm bệnh nhân đã có con phá thai từ 13 đến hết 22 tuần tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương.

3.5.1 Phân tích một số yếu tố liên quan đến kiến thức phá thai

Bảng 3.20 Mối liên quan giữa đặc điểm của đối tượng nghiên cứu

với kiến thức phá thai

Yếu tố liên quan

Nhóm tuổi từ 20 – 39 có tỷ lệ kiến thức đúng cao hơn nhóm tuổi dưới

20 hoặc từ 40 – 49 tuổi; sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p < 0,05

Bảng 3.21 Mối liên quan tiền sử phá thai với kiến thức phá thai

Trang 38

Bảng 3.22 Mối liên quan giữa sử dụng biện pháp tránh thai trong lần

mang thai này với kiến thức phá thai

Yếu tố liên quan

Nhận xét: Không có sự liên quan giữa hành vi sử dụng BPTT trong lần mang

thai này với kiến thức phá thai của ĐTNC

Trang 39

3.5.2.Mô tả kiên thức thái độ hành vi giữa đặc điểm của đối tượng nghiên cứu với hành vi phá thai

Bảng 3.23 Mối liên quan giữa đặc điểm của đối tượng nghiên cứu với

Nhận xét: Không có mối liên quan giữa hành vi của ĐTNC với nhóm tuổi,

nơi sống, hôn nhân Có sự liên quan giữa nhóm nghề nghiệp: nông dân có tỷ lệhành vi PT không đạt cao hơn so với nhóm CNVC, sự khác biệt này có ý nghĩathống kê với p < 0,05 Có sự liên quan giữa trình độ học vấn : học vấn càng cao,

từ CĐ, ĐH và sau đại học có tỷ lệ hành vi đạt cao hơn so với trình độ học vấn từTHPT trở xuống, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p < 0,05

Trang 40

Bảng 3.24 Mối liên quan giữa kiến thức và hành vi phá thai

Yếu tố liên quan

Chương 4

Ngày đăng: 16/07/2019, 16:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w