Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA Y DƯỢC Người thực hiện: NGUYỄN BÁ LỰC BÀO CHẾ VÀ ĐÁNH GIÁ MỘT SỐ TÁC DỤNG CỦA GEL MẬT ONG TRONG HỖ TRỢ CH
Trang 1Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA Y DƯỢC
NGUYỄN BÁ LỰC
BÀO CHẾ VÀ ĐÁNH GIÁ MỘT SỐ TÁC DỤNG CỦA GEL MẬT ONG TRONG
HỖ TRỢ CHĂM SÓC VẾT THƯƠNGKHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH DƯỢC HỌC
HÀ NỘI - 2018
Trang 2Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA Y DƯỢC
Người thực hiện: NGUYỄN BÁ LỰC
BÀO CHẾ VÀ ĐÁNH GIÁ MỘT SỐ TÁC DỤNG CỦA GEL MẬT ONG TRONG
HỖ TRỢ CHĂM SÓC VẾT THƯƠNG KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH DƯỢC HỌC
Khóa: QH.2013.Y
Người hướng dẫn: 1 ThS Trịnh Ngọc Dương
2 PGS.TS.Nguyễn Thanh Hải
HÀ NỘI - 2018
Trang 3Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
LỜI CẢM ƠN
Đầu tiên, em xin bày tỏ lòng biết ơn tới ThS.Trịnh Ngọc Dương – bộ
môn Bào chế và Công nghiệp Dược phẩm, khoa Y Dược – Đại học Quốc gia
Hà Nội đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em trong suốt thời gian vừa qua
Em cũng xin tỏ lòng biết ơn tới PGS.TS.Nguyễn Thanh Hải – Phó
chủ nhiệm phụ trách khoa Y Dược – Đại học Quốc gia Hà Nội, Chủ nhiệm bộ môn Bào chế và Công nghiệp Dược phẩm đã định hướng cho nghiên cứu
Đặc biệt, em xin gửi lời chân thành cảm ơn tới anh Nguyễn Xuân
Tùng, chị Bùi Thị Thương, các thầy và các anh chị trong bộ môn Bào chế và
Công nghiệp Dược, Khoa Y Dược – Đại học Quốc gia Hà Nội đã trực tiếp chỉ bảo, tạo điều kiện thuận lợi nhất để em hoàn thành khoá luận
Cuối cùng, em xin cảm ơn những người thân gia đình, bạn bè đã luôn bên em, động viên em hoàn thành khóa luận này
Hà Nội, ngày 27/04/2018
Tác giả
Nguyễn Bá Lực
Trang 4Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
CMC Carboxymethyl cellulose cPs Centipoise
DĐVN Dược điển Việt Nam DPPH 1,1-diphenyl-2-picrylhydrazyl HEC Hydroxyethyl cellulose
KSC Kháng sinh chuẩn MeOH Methanol
MGO Methylglyoxal enzym
Na CMC Natri Carboxymethyl cellulose
Na EDTA Natri Ethylene Diamine Triacetic Axit TEA Triethanolamin
USP Dược điển Mỹ
UV Ultra violet (Tia tử ngoại) VSV Vi sinh vật
Trang 5Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
Bảng 1.2 Ứng dụng của hydrogel và ví dụ các polyme 17
Bảng 2.2 Nguyên liệu thử tác dụng oxy hoá gel mật ong 20
Bảng 3.1 Trạng thái thể chất của gel mật ong bào chế được với
một số polyme ở các nồng độ khác nhau
27
Bảng 3.2 Độ nhớt gel mật ong bào chế được với một số
polyme ở các nồng độ khác nhau sau bào chế và sau
Bảng 3.7 Kết quả thử nghiệm hoạt tính kháng khuẩn 33
Bảng 3.8 Kết quả đánh giá khả năng chống oxy hoá của
gel mật ong 60 %
36
Trang 6Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1 Mô hình tác dụng của mật ong trên các giai đoạn
của quá trình hồi phục vết thương
13
Hình 1.2 Thuốc điều trị vết thương hở Medihoney® Gel 14
Hình 2.1 Quy trình bào chế gel chứa mật ong 22
Hình 3.1 Sơ đồ quy trình bào chế gel mật ong 60% với tá
Hình 3.3 (A) Gel mật ong 60% tá dược carbopol 940, (B) Gel
mật ong 60% tá dược chitosan
33
Hình 3.4 Hoạt tính kháng khuẩn của gel mật ong so với
kháng sinh chứng và mật ong trên 1 số vi khuẩn
Gram âm: (A) E.coli, (B) P.mirabilis, (C) S.flexneri
và một số vi khuẩn Gram dương:
(D) B.subtilis, (E) S.lutea, (F) S.aureus
34
Hình 3.5 Đồ thị biểu diễn khả năng chống oxy hoá của
gel mật ong 60% (tá dược carbopol 940)
37
Hình 3.6 Đồ thị biểu diễn khả năng chống oxy hoá của
gel mật ong 60% (tá dược chitosan)
37
Hình 3.7 Đồ thị biểu diễn khả năng chống oxy hoá của
axit ascorbic
38
Trang 7Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN 3
1.1 Thuốc điều trị vết thương hở 3
1.1.1 Giới thiệu chung về vết thương 3
1.1.2 Các thuốc được sử dụng trong điều trị vết thương hở 4
1.2 Tổng quan về mật ong và tác dụng của mật ong trong điều trị vết thương hở 6
1.2.1 Giới thiệu chung về mật ong 6
1.2.2 Tác dụng sinh học của mật ong 7
1.2.3 Tính chất, cơ chế tác dụng của mật ong trong quá trình hồi phục vết thương 8
1.2.4 Thuốc hỗ trợ điều trị vết thương từ mật ong 13
1.3 Khái niệm, phân loại, phương pháp tạo gel 14
1.3.1 Khái niệm gel 14
1.3.2 Phân loại gel 15
1.3.3 Hydrogel 15
CHƯƠNG 2: NGUYÊN VẬT LIỆU, TRANG THIẾT BỊ VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
2.1 Nguyên vật liệu, thiết bị 19
2.1.1 Nguyên vật liệu 19
2.1.2 Thiết bị nghiên cứu 21
2.2 Nội dung nghiên cứu 21
2.3 Phương pháp nghiên cứu 21
Trang 8Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
2.3.2 Xây dựng quy trình bào chế gel mật ong 60% 21
2.3.3 Đánh giá một số đặc tính của sản phẩm bào chế được 22
2.3.4 Đánh giá tác dụng kháng khuẩn in vitro của gel mật ong 23
2.3.5 Đánh giá tác dụng chống oxy hoá của gel mật ong 25
2.4 Phương pháp xử lý số liệu 26
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 27
3.1 Khảo sát khả năng tạo gel của một số polyme với mật ong 27
3.2 Xây dựng quy trình bào chế gel mật ong 60% 28
3.3 Đánh giá một số đặc tính của gel mật ong 60% 31
3.3 Đánh giá tác dụng kháng khuẩn in vitro của gel mật ong 60% 33
3.4 Đánh giá tác dụng chống oxy hoá của gel mật ong 60% 35
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 39 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 9Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
ĐẶT VẤN ĐỀ
Mật ong là hỗn hợp tự nhiên của nhiều chất, có tác dụng chữa lành vết thương sẵn có trong tự nhiên Từ xa xưa, con người đã biết dùng đến mật ong trong việc chữa lành các vết thương Người Trung Quốc cổ đại, Ai Cập, Hy Lạp và người La Mã đã sử dụng các loại mật ong khác nhau để chữa lành các vết thương và các bệnh về đường tiêu hóa Cho đến đầu thế kỉ 20, người ta đã
sử dụng mật ong trong việc chăm sóc vết thương mỗi ngày [16]
Về mặt bệnh lý, vết thương hở là một chấn thương liên quan đến phá
vỡ bên ngoài hoặc bên trong mô cơ thể, thường liên quan đến da Các tai nạn với đồ vật hoặc dụng cụ sắc nhọn, và tai nạn xe là nguyên nhân phổ biến gây nên vết thương hở [18] Tại các tổn thương, vi sinh vật có thể xâm nhập, gây nhiễm trùng, hoại tử, làm chậm quá trình hồi phục vết thương Do đó, việc sử dụng các thuốc kháng khuẩn tại chỗ nhằm hạn chế hoặc loại bỏ yếu tố bệnh lý này, tạo điều kiện cho sự sửa chữa và hồi phục của các mô Sau hơn 80 năm
kể từ khi khoa học phát hiện ra penicillin, hàng trăm loại thuốc kháng sinh và các thuốc tương tự đã được phát minh và đưa vào sử dụng Sự ra đời của kháng sinh đánh dấu kỷ nguyên phát triển mới của y học trong việc điều trị các bệnh nhiễm khuẩn Tuy nhiên, việc sử dụng kháng sinh rộng rãi, kéo dài, lạm dụng kháng sinh đã tạo điều kiện cho nhiều loại vi sinh vật trở nên kháng thuốc Do đó, sự quan tâm của con người với hợp chất tự nhiên, kháng khuẩn
và không độc như mật ong càng tăng lên Gần đây, việc sử dụng mật ong trong điều trị các vết thương được quan tâm đặc biệt thông qua những nghiên cứu và báo cáo lâm sàng [3, 5] Tuy nhiên, mới chỉ có một sản phẩm hỗ trợ điều trị vết thương từ mật ong được thương mại hoá (Medihoney® Gel) [13]
Đa số các nghiên cứu đều mới ở giai đoạn đánh giá tính chất, cơ chế tác dụng của mật ong, khá ít công trình nghiên cứu về mặt bào chế
Hướng đến việc bào chế thuốc hỗ trợ chăm sóc vết thương hở từ mật ong có hiệu lực cao, phổ rộng nhằm tăng quá trình hồi phục, ngăn ngừa nhiễm
khuẩn và hạn chế để lại sẹo, chúng tôi tiến hành đề tài: “Bào chế và đánh giá
một số tác dụng của gel mật ong trong hỗ trợ chăm sóc vết thương”, với các
mục tiêu cụ thể như sau:
Trang 10Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
1 Bào chế được gel mật ong và đánh giá một số đặc tính của mẫu gel bào chế được
2 Đánh giá tác dụng kháng khuẩn in vitro trên một số chủng vi sinh vật, tác dụng chống oxy hóa của gel bào chế được
Trang 11Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN
1.1 Thuốc điều trị vết thương hở
1.1.1 Giới thiệu chung về vết thương
Vết thương xảy ra nhiều lần trong cuộc sống, kèm theo sự chảy máu
Do đó, việc chữa lành vết thương là cần thiết để tránh chảy máu và mất nước
từ các mạch và mô Các cơ quan có thể bị thương do các tác động bên ngoài (vật lý, hoá học) hay rối loạn nội bộ (bệnh) Vết thương có thể đơn giản hoặc phức tạp, vô trùng hoặc nhiễm trùng, cấp tính hoặc mạn tính [41] Các vết thương mạn tính liên quan đến khả năng tự phục hồi của bệnh nhân, nguyên nhân gây bệnh như các bệnh nhiễm trùng mạn tính hoặc rối loạn chuyển hoá Các rối loạn chuyển hoá như tiểu đường có thể dẫn đến nhiễm trùng, những biến chứng phức tạp và làm các vết thương lâu hồi phục [37] Có rất nhiều lý
do như nghèo đói, vệ sinh kém, suy dinh dưỡng, côn trùng và ô nhiễm môi trường có thể gây ra các vết thương và làm trầm trọng thêm hậu quả của vết thương [23] Chữa lành vết thương là một quá trình phức tạp liên quan đến nhiều loại tế bào chuyên biệt, chúng hoạt động tương tác với nhau dưới sự điều khiển của các phân tử do chúng ta tiết ra Quá trình phức tạp này diễn ra theo các giai đoạn và có sự trùng lặp lẫn nhau [25] Quá trình liền vết thương trải qua 4 giai đoạn cơ bản: giai đoạn cầm máu, giai đoạn viêm, giai đoạn tăng sinh và giai đoạn tái tạo [17]
Điều trị vết thương hở là quá trình khôi phục lại tình trạng lành mạnh của bất kì chấn thương nào gây ra gián đoạn trong sự liên tục của bề mặt bên ngoài cơ thể Quá trình này phục hồi nguyên vẹn các mô bị tổn thương bằng cách thay thế mô chết bằng các mô mới Việc này bắt đầu ngay sau khi bị thương, có thể tiếp tục trong nhiều tháng hoặc nhiều năm, và về cơ bản là giống nhau đối với tất cả các loại vết thương Việc sửa chữa các tế bào bị tổn thương và mô diễn ra trong quá trình tái tạo Trong đó, các cấu trúc được thay thế bởi sự gia tăng các tế bào tương tự, như xảy ra với da và xương; và bằng cách hình thành sẹo, bao gồm các cấu trúc sợi với một số mức độ co lại Vì hầu hết các vết thương liên quan đến nhiều mô, sự hồi phục hoàn toàn là không thể Do đó, sự hình thành sẹo là một kết quả của việc chữa lành vết thương [15]
Trang 12Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
1.1.2 Các thuốc được sử dụng trong điều trị vết thương hở
Các yêu cầu của một thuốc bôi vết thương hở tốt bao gồm: Có tác dụng với các vi khuẩn gây nhiễm khuẩn vết thương với tỷ lệ kháng thuốc thấp nhất, không hoặc ít gây hại cho mô lành và tế bào lành, không hoặc ít có tác dụng phụ, thấm sâu vào các mô [12] Dưới đây là một số thuốc bôi vết thương hở được sử dụng phổ biến hiện nay:
Oxi già
Oxi già là dung dịch màu trong suốt, có tác dụng oxi hóa khá mạnh Ở
nồng độ lớn hơn 3% dung dịch oxi già có thể gây bỏng Oxi già thông thường
dùng để sát khuẩn vết thương mới, có mủ, vết thương có hiện tượng nhiễm trùng và đặc biệt là các vết thương có dị vật Dung dịch oxy già không được
sử dụng cho vết thương đang lành vì nó có thể làm tổn thương mô mới Khi
sử dụng oxi già có hiện tượng sủi bọt, làm sạch mô chết và loại trừ mủ, đẩy dị
vật ra ngoài [46]
Cồn
Cồn 70 độ (cồn có nồng độ cao hơn không có khả năng sát trùng) được
sử dụng rộng rãi để diệt khuẩn các dụng cụ chăm sóc vết thương, sát trùng trước khi tiêm và sát trùng vết thương trước khi băng bó [1]
Trang 13Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
Thuốc tím
Thuốc tím được pha loãng trước khi bôi lên vết thương Dung dịch này dùng để thấm dịch và tiêu diệt một số vi khuẩn, sát trùng vết thương Tuy nhiên một số vi khuẩn dung dịch này không tiêu diệt được [8]
Bạc sulfadiazine 1%
Bạc sulfadiazine là sự kết hợp của bạc với một sulfamide Nhiều phối
hợp của bạc với các sulfamide khác nhau đã được nghiên cứu thử nghiệm in
vitro, kết quả cho thấy bạc sulfadiazin cho tác dụng tốt nhất Điều này có thể
được giải thích là do sự liên kết mạnh của bạc sulfadiazin với DNA của vi sinh vật Thuốc có phổ kháng khuẩn rộng, tiêu diệt được nhiều loại vi sinh vật
như S aureus, E coli, Klebsiella, P aeruginosa, Proteus,
Enterobacteraceae và cả C albicans Bạc sulfadiazine có thể gây giảm bạch
cầu Tác dụng phụ này gặp ở 5 - 15% bệnh nhân, thường xảy ra khi sử dụng trên diện tích rộng, 2 - 3 ngày sau khi bắt đầu dùng thuốc Bạc sulfadiazine được sản xuất từ năm 1960, dưới dạng kem nồng độ 1% màu trắng không tan trong nước, ít thấm sâu vào hoại tử, khó vệ sinh vết thương, thời gian tác dụng ngắn Sản phẩm có thể làm giảm khả năng tái tạo biểu mô còn độc tính đối với tủy xương chủ yếu là do propylen glycol có trong dạng thuốc gây nên
Sự đề kháng của vi khuẩn trên dòng sản phẩm này cũng đã được ghi nhận [2]
Madecassol oil
Đây là dạng thuốc mỡ được bào chế từ dịch chiết của cây rau má
(Centella asiatica) Ngoài ra, sản phẩm này còn chứa kháng sinh neomycin và
chất kháng viêm hydrocortisol Madecassol oil được sản xuất từ năm 1970, dùng để bôi lên vết thương hở nhằm tránh nhiễm khuẩn, tăng cường khả năng hồi phục vết thương, hạn chế để lại sẹo Sản phẩm này không dùng cho những vết thương bị nhiễm thứ cấp hoặc các bệnh nhân nhạy cảm với neomycin và hydrocortisol [45]
Trang 14Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
1.2 Tổng quan về mật ong và tác dụng của mật ong trong điều trị vết thương hở
1.2.1 Giới thiệu chung về mật ong
Mật ong là chất lỏng đặc sánh, hơi trong và dính nhớt, màu vàng nhạt hoặc vàng cam đến nâu hơi vàng Khi để lâu hoặc để lạnh sẽ có những tinh thể dạng hạt dần dần tách ra Mùi thơm, vị rất ngọt [10] Mật ong là một dung dịch bão hòa có nguồn gốc từ ong bao gồm chủ yếu là fructose và glucose Ngoài ra, mật ong còn chứa các protein, các axit amin, vitamin, enzym, khoáng chất và các thành phần thiết yếu khác như:
Nước: Trong mật ong, nước thường chiếm từ 16% đến 21%, còn các chất keo chiếm khoảng 80% [11]
Đường: Là thành phần chính trong mật ong Có tất cả ba loại đường chủ yếu là:
Glucose: Chiếm 50% tổng số đường trong mật ong và 35% trong khối lượng mật [11]
Fructose: Đường fructose khó kết tinh, loại mật ong nào chứa nhiều đường frutose sẽ để được lâu hơn mà vẫn giữ được ở thể lỏng Đường fructose ngọt hơn đường glucose Cả hai loại đường này đều
dễ hấp thụ vào cơ thể [11]
Sacarose: Chỉ có khoảng 2%, thuộc loại đường kép khó hấp thụ vào
cơ thể Mật ong non có thể chứa tới 6% sacarose [11]
Protein: Có từ 0,04 - 3%; gốc protein từ mật hoa (protein thực vật) và
từ dịch do chính con ong tiết ra (protein động vật) [10]
Các hợp chất phenolic: Mật ong có chứa khoảng 0,1% - 0,5% các hợp chất phenolic Các hợp chất này có nhiều tác dụng như chống oxy hoá, chống
vi khuẩn, chống vi rút, chống ung thư và nhiều hoạt tính sinh học khác [11]
Enzym: Trong mật ong có chứa nhiều loại enzym có vai trò quan trọng đối với hệ tiêu hoá của con người như amylase, invertase, catalase và phosphorylase [4, 35]
Axit hữu cơ: Axit hữu cơ chiếm một tỷ lệ nhỏ khoảng 0,57% (theo tổng khối lượng mật ong) Ngoài các axit phenolic và các axit amin tự do, một số
Trang 15Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
axit hữu cơ như formic, oxalic, malic, maleic, succinic, citric, gluconic, glutaric và fumaric đã được phát hiện ở nhiều loại mật ong khác nhau ở các nồng độ khác nhau [24]
Chất khoáng: Tổng hàm lượng khoáng chất của mật ong xấp xỉ 0,04% - 0,2%, bao gồm kali, canxi, natri, magie, photpho, lưu huỳnh, i-ốt Đặc biệt hàm lượng muối khoáng trong mật ong tương tự như trong máu người [7]
Vitamin: Hàm lượng vitamin trong mật ong không nhiều nhưng có nhiều loại Nguồn gốc vitamin này do phấn hoa trong mật mà ra Viện Nghiên cứu Liên Xô phân tích 1 kg mật ong giàu vitamin B2 bằng 10 lần hàm lượng vitamin B2 có trong nho, táo Ngoài ra, trong mật còn có chứa các vitamin như vitamin PP, B6, C, E, K và caroten [7]
1.2.2 Tác dụng sinh học của mật ong
Mật ong có một số đặc tính sinh học đáng lưu ý như:
Tác dụng kháng khuẩn: Nhiều công trình nghiên cứu đã chứng minh
mật ong hay dung dịch chứa từ 30% mật ong trở lên là môi trường mà đa số
vi khuẩn và nấm không thể phát triển được Những vết thương, vết mổ được băng bó bằng mật ong sẽ chóng khô, sạch và không có mùi hôi, vì mật ong đã hút nước và chống được sự lây lan của vi khuẩn [33] Mật ong có tác dụng kháng khuẩn là nhờ sự có mặt của glucose oxidase và nhiều chất có tác dụng kháng khuẩn, áp suất thẩm thấu cao, pH axit Mật ong có phổ kháng khuẩn rộng, được chứng minh là có khả năng ức chế hơn 80 loại vi khuẩn, ví dụ như
S aureus, Enterococcus kháng vancomycin, và P aeruginosa [27, 40]
Tác dụng chống oxi hóa: Các axit phenolic và flavonoid có trong mật
ong đóng vai trò quan trọng đối với khả năng chống oxi hóa Mật ong sử dụng một mình hoặc phối hợp có khả năng phòng chống và ngăn ngừa một số bệnh như xơ vữa động mạch và ung thư [14, 27, 36]
Tác dụng làm lành vết thương: Nhiều nghiên cứu cho thấy mật ong có
hiệu quả trong chữa lành các vết thương do tác dụng kháng khuẩn, chống viêm, và chống oxy hóa Mật ong có độ nhớt cao, do đó hình thành hàng rào vật lý và tạo môi trường ẩm lý tưởng cho vết thương mau lành [26] Mphande
và cộng sự đã so sánh tác dụng của mật ong và đường trên 40 bệnh nhân bị
Trang 16Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
loét, viêm màng phổi mạn tính, hoặc có vết thương sau phẫu thuật Tốc độ lành vết thương trung bình là 1,43 ngày/cm2 đối với nhóm dùng mật ong và 1,62 ngày/cm2 đối với nhóm dùng đường [44] Trong một nghiên cứu khác, điều trị vết bỏng bằng mật ong giúp cải thiện rõ rệt tình trạng của vết thương sau 7 và 14 ngày Đến ngày thứ 14 có 74,11% (229/302) bệnh nhân đã được chữa lành với mật ong, trong khi chỉ có 57,89% (154/266) bệnh nhân được chữa lành bằng các phương pháp khác [7] Ingle và cộng sự so sánh tác dụng của mật ong và chế phẩm IntraSite Gel trên bệnh nhân bị rách hoặc trầy xước
da Kết quả cho thấy không có sự khác biệt đáng kể trong thời gian hồi phục trung bình và kích thước vết thương giữa các nhóm được điều trị với mật ong
và chế phẩm hydrogel [32]
Tác dụng dưỡng da: Mật ong được kí hiệu trong Danh mục Thành
phần Mỹ phẩm Quốc tế (INCI) dưới tên gọi "Honey" hoặc "Mel" (số CAS 8028-66-8), và được xếp vào nhóm làm mềm da/làm ẩm/dưỡng ẩm Tác dụng dưỡng ẩm của mật ong chủ yếu liên quan đến hàm lượng fructose và glucose cao, có khả năng tạo cầu hydro với nước và duy trì độ ẩm của lớp sừng [39] Khả năng tái tạo da xuất phát từ sự có mặt của các axit amin (chủ yếu là prolin) và các axit hữu cơ (chủ yếu là axit gluconic) Mật ong thường được sử dụng trong mỹ phẩm với tỷ lệ từ 1 - 10% [13]
Tác dụng dưỡng tóc: Mật ong tỉ lệ 3 - 20% trong dầu gội đầu có tác
dụng làm giảm tóc rối, giúp tóc suôn mượt, giữ độ ẩm và dễ chải [28] Nhờ đặc tính kháng khuẩn và chống nấm, mật ong cũng được sử dụng để trị gàu [16]
1.2.3 Tính chất, cơ chế tác dụng của mật ong trong quá trình hồi phục vết thương
Cơ chế của mật ong trong quá trình hồi phục vết thương
Trang 17Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
trưởng nội mô mạch (VEGE) và kích thích hình thành thành mạch Trong giai đoạn viêm cấp tính, bạch cầu trung tính sẽ giải phóng các loại oxy hoạt tính diệt khuẩn, hydro peroxit có khả năng diệt khuẩn và ngăn ngừa nhiễm trùng Việc sử dụng hydro peroxit thường không thuận lợi cho việc chữa lành vết thương vì nó gây viêm và tổn thương mô quá mức Tuy nhiên, mật ong bằng cách vô hiệu hóa sắt tự do, hạn chế hydro peroxit hình thành gốc oxy tự do, làm giảm tác hại của hydro peroxit Mặt khác, mức hydro peroxit trong mật ong rất ít, thấp hơn khoảng 1000 lần so với dung dịch 3% thường được sử dụng như một chất khử trùng Ngoài hoạt tính kháng khuẩn, hydro peroxit kích thích sự gia tăng nguyên bào sợi, sự hình thành mạch và tăng cường lưu thông máu trong các vết loét thiếu máu cục bộ [31]
Hoạt động thẩm thấu
Sự thẩm thấu cao góp phần làm hạn chế sự phát triển và tăng sinh của
vi khuẩn Khi sử dụng mật ong để chữa lành vết thương, với tính chất lỏng nhớt, mật ong cung cấp một hàng rào bảo vệ và ngăn ngừa sự lây nhiễm chéo của vết thương Cơ chế của hiện tượng này chủ yếu là do tác động thẩm thấu của nó Dung dịch đường của mật ong hút nước ra khỏi vùng xung quanh, khiến cho vi khuẩn không thể lưu trú, phát triển trong môi trường đó Ngoài
ra, áp suất thẩm thấu từ mật ong ra dịch bạch huyết từ mô dưới da đến bề mặt vết thương, giúp loại bỏ mảnh vỡ, mô hoại tử [31]
có khả năng làm giảm hoạt tính của protease, làm tăng hoạt động của nguyên bào sợi và giải phóng oxy từ hemoglobin trong mao mạch, giảm kích thước vết thương và cuối cùng là làm lành vết thương Tính axit cũng giúp tăng hoạt
Trang 18Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
động kháng khuẩn của các đại thực bào và các lỗ thông khí trước khi tạo ra amoniac do sự chuyển hóa của vi khuẩn gây hại cho mô cơ thể [31]
Non - peroxit và chất chống oxy hoá
Theo nguồn hoa, mùa vụ và vị trí địa lý, mật ong có thể chứa các thành phần khác nhau như flavonoid và axit thơm Một số thành phần như methyl syringat, defensin-1 và methylglyoxal enzym (MGO) góp phần vào hoạt tính non-peroxit của mật ong MGO như một thành phần kháng khuẩn có khả năng tương tác với các trung tâm nucleophin của các đại phân tử như ADN Với các vi khuẩn gram dương, MGO giảm enzym lysin tự do liên quan đến thành
tế bào vi khuẩn và sự phân chia tế bào Với các vi khuẩn gram âm, MGO điều chỉnh biểu hiện gen liên quan đến sự ổn định của thành tế bào [31]
Tăng thực bào và hoạt động thực bào
Mật ong có thể kích thích tế bào lympho B và tế bào lympho T, và kích hoạt phagocytosis của bạch cầu trung tính trong nuôi cấy tế bào Mật ong cũng kích thích tế bào monocyte (tế bào MM6) để tiết ra các cytokin, yếu tố hoại tử khối u yếu tố α (TNF-α), interleukin-1 (IL-1) và IL-6, kích hoạt tế bào đáp ứng miễn dịch Sự tiết của TNF-α, một cytokin gây ra quá trình lành vết thương, có thể được gây ra bởi các protein glycosyl hóa Hơn nữa, bằng cách giảm sự giải phóng các chất trung gian phản ứng bằng các đại thực bào hoạt hóa trong quá trình làm lành vết thương, mật ong có khả năng làm suy giảm collagen IV thông qua sự kích thích matrix metalloproteinase 9 (MMP-9)
trong quá trình tái tạo biểu mô Các nghiên cứu in vitro cho thấy độc tính của
mật ong trên keratinocyte và nguyên bào sợi là rất thấp Người ta tin rằng hiệu quả điều hòa miễn dịch như vậy thúc đẩy hoạt động kháng khuẩn của mật ong [31]
Nitric oxit
Nitric oxit (NO) có nhiều hoạt động như điều hòa sự hình thành mạch máu, tăng cường tổng hợp collagen, tái tạo biểu mô ở vết thương, các phản ứng kháng khuẩn và kháng vi rút, đáp ứng miễn dịch và viêm [31]
Prostaglandins
Prostaglandins là những chất trung gian gây viêm và đau được coi là chất ức chế miễn dịch, có thể làm giảm các chức năng của lympho-B, T Mật
Trang 19Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
ong có thể làm giảm nồng độ prostaglandins và hiệu quả ức chế tăng theo thời gian Mật ong làm giảm nồng độ prostaglandin, có thể làm giảm phù nề, viêm
và kích thích lympho bào tạo ra kháng thể chống lại mầm bệnh vết thương Mật ong cũng ức chế biểu hiện cyclooxygenase-2 (COX-2) và các hợp chất phenolic của mật ong có vai trò chính trong việc ức chế prostaglandin E2 (PGE2) trong các mô viêm Axit ellagic, như một hợp chất phenol chính trong mật ong, ngăn ngừa sự giải phóng PGE2 từ monocyte và các hợp chất phenolic khác như quercetin, chrysin và luteolin có tác dụng ức chế interleukin 1b và COX-2, tổng hợp PGE2 và nhân tố kappa beta (NF-kB) kích thích Người ta đã chứng minh rằng uống mật ong tự nhiên có thể làm giảm nồng độ tuyến tiền liệt bao gồm PGE2, prostaglandin F2a (PGF2a) và thromboxan B2 trong huyết tương của người bình thường Điều trị vết thương bằng mật ong đã được chứng minh là ít đau hơn so với đường trong quá trình thay đồ và chuyển động [31]
Sản xuất kháng thể
Mật ong làm tăng sản xuất kháng thể trong phản ứng miễn dịch ban đầu
và thứ phát đối với độc tố tuyến ức và thuốc chống độc tuyến giáp Mật ong
có ảnh hưởng đến kháng thể do các cơ chế khác nhau Tuy nhiên, cơ chế chính xác vẫn chưa được xác định rõ ràng Mật ong có khả năng kích thích tế bào lympho để tạo ra cytokin, TNF-α, IL-1, và IL-6 Mật ong cũng có thể làm tăng tính miễn dịch bằng cách tăng NO Mặt khác, bằng cách giảm nồng độ prostaglandin huyết tương, mật ong sản sinh kháng thể [31]
Bảng 1.1 Tác dụng của mật ong trong quá trình hồi phục vết thương
- Hạn chế sự nhiễm trùng từ
vi rút
- Tác động lên màng sinh học của vi khuẩn [5, 13]
Trang 20Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
bào bạch huyết và thực bào
- Tăng cường sự oxy hóa
- Ngăn ngừa sự hoại tử
- Tăng cường tổng hợp collagen
- Hạn chế bạch cầu thấm vào [13, 31]
- Giảm số lượng các tế bào viêm
- Kích thích các tế bào lympho B và T
- Điều chỉnh hoạt động của monocyte [31, 44]
- Loại bỏ các vật liệu hoại tử
- Giúp loại bỏ các mô hoại tử
mà không gây đau [31, 38]
Trang 21Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
- Cung cấp glucose để cung cấp năng lượng và các tế bào di trú
- Đẩy nhanh quá trình hồi phục
- Giảm thiểu nhu cầu cấy ghép da [31, 34]
- Tổng hợp collagen
- Kích thích sự hình thành mạch [6, 31]
Hình 1.1 Mô hình tác dụng của mật ong trên các giai đoạn của quá trình hồi
phục vết thương [31]
1.2.4 Thuốc hỗ trợ điều trị vết thương từ mật ong
Để khắc phục nhược điểm của các thuốc điều trị vết thương hở, gần đây các nhà khoa học đã phát triển thành công một số sản phẩm điều trị vết
Trang 22Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
thương hở từ mật ong Sản phẩm điển hình là Medihoney® Gel do Derma Sciences (Canada) sản xuất, Comvita phân phối
Medihoney® Gel chứa 80% mật ong Manuka được phân tán trong các chất nền tạo gel từ thiên nhiên Sản phẩm có nguồn gốc từ thiên nhiên, có thể được sử dụng cho nhiều loại vết thương khác nhau như: bỏng nhẹ, vết cắt, trầy xước, loét Gel có tác dụng làm sạch vết thương, ngăn ngừa nhiễm khuẩn Các thử nghiệm lâm sàng cho thấy hiệu quả hồi phục vết thương đáng kể của Medihoney® Gel trên các vết bỏng nhẹ, trầy xước, loét, vết cắt, bong da và Eczema Gel đòi hỏi phải thay băng hằng ngày Khi thay băng, gel sẽ được loại bỏ cùng với miếng gạc Phần gel còn lại có thể dễ dàng được rửa trôi bằng các chất rửa vết thương thông thường [3]
Chưa thấy có tác dụng phụ thường gặp nào của thuốc được báo cáo Thuốc không gây độc, không gây kích ứng, không làm ảnh hưởng đến mô lành ở các vết thương cấp hoặc mạn tính Không được sử dụng sản phẩm trên các bệnh nhân dị ứng với mật ong [3]
Hình 1.2 Thuốc điều trị vết thương hở Medihoney® Gel [3]
1.3 Khái niệm, phân loại gel, phương pháp tạo gel
1.3.1 Khái niệm gel
Gel là một hệ phân tán có môi trường phân tán ở thể rắn và chất phân tán ở thể lỏng (dung dịch keo đặc) Độ nhớt của gel lớn hơn độ nhớt của dung
Trang 23Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
dịch nhưng không bằng chất rắn Gel bôi da và niêm mạc là những chế phẩm
có thể chất mềm, trong đó có một hay nhiều dược chất được hoà tan hay phân tán trong tá dược polyme thiên nhiên hoặc tổng hợp [29]
1.3.2 Phân loại gel
Theo Dược điển Việt Nam IV, gel được phân thành 2 loại:
Gel thân dầu (Olegels): Trong thành phần sử dụng tá dược tạo gel, bao gồm dầu paraffin phối hợp với tá dược thân dầu khác, có thêm keo silic, xà phòng nhôm và xà phòng kẽm [1]
Gel thân nước (Hydrogels): Thành phần bao gồm nước, glycerin, propylen glycol, có thêm tá dược tạo gel như polysaccharid (tinh bột, tinh bột biến tính, axit alginic và natri alginat), dẫn chất cellulose, polyme của axit acrylic (carbomer, carbomer copolyme, carbomer interpolyme, methyl acrylat) [1]
1.3.3 Hydrogel
Hydrogel là hệ gel có cấu trúc mạng ba chiều thu được bằng phương pháp tổng hợp các polyme tự nhiên mà có thể hấp thụ và giữ lại lượng nước đáng kể [20]
Trang 24Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
Đặc điểm:
Khả năng giữ nước và thấm là những tính chất đặc trưng quan trọng nhất của một hydrogel Các nhóm ưa nước là yếu tố đầu tiên bị hydrat hoá khi tiếp xúc với nước dẫn tới sự hình thành ràng buộc với nước [19]
Sự tương thích sinh học: Hydrogel có khả năng tương thích với hệ thống miễn dịch và các sản phẩm phân hủy của nó không độc hại Bề mặt ưa nước của hydrogel có năng lượng tự do thấp khi tiếp xúc với dịch cơ thể, protein và các tế bào Bản chất mềm mại và đàn hồi của hydrogel giảm thiểu kích ứng đối với các mô xung quanh [19]
Các liên kết chéo giữa các chuỗi polyme: Do trong cấu trúc có lượng nước đáng kể nên hydrogel có mức độ linh hoạt như mô tự nhiên [9]
Yếu tố ảnh hưởng đến hydrogel:
Hydrogel có thể bị kích thích, nhạy cảm và phản ứng với môi trường xung quanh bởi các yếu tố như nhiệt độ, độ pH và sự có mặt của chất điện phân Nồng độ và tính chất của dược chất cũng ảnh hưởng trực tiếp đến thể chất và tình trạng của hydrogel [30]
Ứng dụng:
Hydrogel của nhiều loại polyme tổng hợp và tự nhiên được sản xuất ứng dụng chủ yếu trong kỹ thuật cấy mô, dược phẩm, và các lĩnh vực y sinh [21] Do khả năng hấp thụ nước cao và sự tương thích sinh học, hydrogel đã được sử dụng cho mục đích băng vết thương, phân phối thuốc, nông nghiệp, băng vệ sinh, vật liệu nha khoa, cấy ghép, ứng dụng mắt, các cơ quan lai ghép (đóng gói các tế bào sống) [33]
Trang 25Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
Bảng 1.2 Ứng dụng của hydrogel và ví dụ các polyme [33]
- Chăm sóc vết thương - Polyurethan, polyethylen glycol,
polypropylen glycol, xanthan
- Phân phối thuốc, dược phẩm - Starch, polyvinylpyrrolidon,
polyacrylic axit, carboxymethyl cellulose
- Vật liệu nha khoa - Hydrocolloid Ghatti, Karaya
- Kỹ thuật nuôi cấy mô, cấy
Cơ chế hình thành gel:
Làm nóng/làm lạnh một dung dịch polyme:
Sự hình thành gel là do sự hình thành các liên kết xoắn ốc và tạo thành các đường giao nhau Polyme trong dung dịch nóng trên nhiệt độ nóng chảy chuyển tiếp xuất hiện dưới hình dạng cuộn dây ngẫu nhiên Khi làm lạnh nó chuyển đổi thành cuộn xoắn cứng Với sự hiện diện của muối (K+, Na+), do sàng lọc đẩy nhóm sulfonat (SO32-), các xoắn đôi kết hợp lại để hình thành các gel ổn định [19]
Tương tác ion:
Các polyme ion có thể được liên kết chéo bằng cách thêm các phản ứng di- hoặc tri-valent Phương pháp này phù hợp với nguyên tắc của một dung