CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAMĐộc lập - Tự do - Hạnh phúc SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG BÀI TẬP THỰC TIỄN ĐỂ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ VÀ TĂNG HỨNG THÚ HỌC T
Trang 1CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG BÀI TẬP THỰC TIỄN
ĐỂ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ VÀ TĂNG HỨNG THÚ HỌC TẬP TRONG DẠY HỌC PHẦN HÓA HỮU CƠ
- HÓA HỌC 11
Thanh Hóa, ngày 28 tháng 5 năm 2019
Trang 2CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG BÀI TẬP THỰC TIỄN
ĐỂ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ VÀ TĂNG HỨNG THÚ HỌC TẬP TRONG DẠY HỌC PHẦN HÓA HỮU CƠ
- HÓA HỌC 11
Người thực hiện: Lê Chí Quang
Chức vụ: Giáo Viên Đơn vị công tác: Trường THPT Hoàng Lệ Kha.
Thanh Hóa, ngày 28 tháng 5 năm 2019
Trang 3NLGQVĐ Năng lực giải quyết vấn đề
HSTHPT Học sinh trung học phổ thông
Trang 4MỤC LỤC
1 PHẦN MỞ ĐẦU 1
1.1 Lý do chọn đề tài 1
1.2 Mục đích nghiên cứu 2
1.3 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
1.4 Đối tương và khách thể nghiên cứu 2
1.4.1 Khách thể nghiên cứu 2
1.4.2 Đối tượng nghiên cứu 2
1.5 Phạm vi nghiên cứu 2
1.6 Phương pháp nghiên cứu 3
1.7 Đóng góp mới của đề tài 3
2 PHẦN NỘI DUNG 3
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 3
2.1.1 Cơ sở lý luận về bài tập thực tiễn 3
2.1.2 Cơ sở lý luận về năng lực giải quyết vấn đề 4
2.1.2.1 Khái niệm năng lực giải quyết vấn đề 4
2.1.2.2 Ý nghĩa của việc hình thành và phát triển NLGQVĐ cho người học 4
2.1.3 Thực trạng của việc sử dụng BTTT 4
Chương 2: THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG BÀI TẬP THỰC TIỄN ĐỂ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC PHẦN HÓA HỮU CƠ - LỚP 11 5
2.2.1 Nguyên tắc xây dựng BTTT 5
2.2.2 Một số dạng BTHH thực tiễn 5
2.2.3 Tiến trình dạy học phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh.6 2.2.4 Sử dụng BTTT trong dạy học Hóa học để phát triển NLGQVĐ 6
2.2.4.1 Giới thiệu bài học 6
2.2.4.2 Dạy kiến thức mới 7
2.2.4.3 Sử dụng trong các bài ôn tập, luyện tập 8
2.2.4.4 Sử dụng trong các bài kiểm tra 8
2.2.4.5 Một số BTTT trong chương trình hóa hữu cơ lớp 11 9
Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 14
2.3.1 Mục đích thực nghiệm 14
Trang 52.3.2 Nhiệm vụ thực nghiệm 14
2.3.3 Đối tượng và địa bàn thực nghiệm 14
2.3.4 Kết quả thực nghiệm 15
3 PHẦN KẾT LUẬN 15
3.1 Ý nghĩa, phạm vi áp dụng của đề tài, sáng kiến , giải pháp 15
3.2 Kiến nghị, đề xuất 16
a Đối với nhà trường 16
b Đối với Bộ Giáo dục & Đào tạo 16
TÀI LIỆU THAM KHẢO 17
Trang 61 PHẦN MỞ ĐẦU 1.1 Lý do chọn đề tài
Chúng ta đang sống trong một xã hội ngày càng đa dạng, với xu thế toàncầu hóa lôi cuốn sự hội nhập của mọi quốc gia trên thế giới Những thay đổi vàphát triển liên tục ở mọi khía cạnh của cuộc sống đã đặt ra những thách thức chongành giáo dục trong việc đào tạo nguồn nhân lực theo nhu cầu mới của thời đại.Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện
giáo dục và đào tạo nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo
cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học”.
Vì thế, để thực hiện tốt về mục tiêu đổi mới căn bản và toàn diện Giáo dục
và Đào tạo theo Nghị quyết số 29-NQ/TW, chúng ta cần có nhận thức đúng vềbản chất của sự đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển nănglực người học Trong đó, năng lực giải quyết vấn đề là 1 trong 10 năng lựcchung của học sinh được đề cập đến trong Chương trình giáo dục phổ thôngmới
Mục tiêu chính của đổi mới giáo dục là tạo ra những con người đáp ứngđược yêu cầu của xã hội Vì vậy cần luyện tập cho học sinh biết phát hiện vàgiải quyết vấn đề trong học tập, trong cuộc sống và cả trong cộng đồng
Từ những năm 1960, giáo viên Việt Nam đã làm quen với thuật ngữ “dạyhọc nêu vấn đề”, nhưng cho đến nay vẫn chưa vận dụng thành thạo Trước hết,cần tập dượt cho học sinh khả năng phát hiện vấn đề từ một tình huống tronghọc tập hoặc thực tiễn Đây là một khả năng có ý nghĩa rất quan trọng đối vớimỗi người và không dễ dàng gì có được Sự thành đạt của mỗi người không chỉtùy thuộc vào năng lực phát hiện kịp thời những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn
mà còn phải biết giải quyết nó một cách hợp lí Vì vậy, ngay từ khi còn ở ngồitrên ghế nhà trường, học sinh cần phải được luyện tập năng lực phát hiện và giảiquyết vấn đề
Hóa học là môn học thực nghiệm, kiến thức Hóa học được vận dụng rấtnhiều trong thực tế cuộc sống, do đó thông qua bài tập thực tiễn học sinh được
mở rộng tri thức, rèn luyện khả năng tư duy, tính kiên nhẫn… và vận dụngnhững kiến thức được học vào giải quyết những vấn đề do thực tiễn đặt ra
Tuy nhiên, chương trình dạy và học Hóa học phổ thông hiện nay còn nặng
về lí thuyết đã làm hạn chế khả năng tư duy và vận dụng sáng tạo của học sinhViệt Nam so với bạn bè quốc tế
Thực tế ở các trường phổ thông số lượng học sinh theo khối có môn hóahọc giảm sút đi nhiều so với thời gian trước đây, để tăng hứng thú và đam mê
Trang 7cho học sinh với việc học tập phần hóa học hữu cơ Do vậy, việc xây dựng và sửdụng hệ thống bài tập thực tiễn để phát triển năng lực giải quyết vấn đề của họcsinh là cần thiết
Trong chương trình Hóa học lớp 11, kiến thức hóa hữu cơ có nội dung rấtphong phú, đa dạng và gần gũi với thực tế Các kiến thức hóa hữu cơ không chỉ
sẽ giúp học sinh tìm hiểu những nội dung liên quan đến kiến thức sau này màquan trọng hơn nó giúp học sinh giải thích được nhiều hiện tượng sẽ gặp trongthực tế đời sống Vì vậy, việc sử dụng bài tập thực tiễn về hóa hữu cơ lớp 11 đểphát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh ở trung học phổ thông là vấn
đề mang tính cấp thiết, cần được quan tâm nghiên cứu
Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, tôi chọn đề tài: “Thiết kế và sử dụng bài tập thực tiễn để phát triển năng lực giải quyết vấn đề và tăng hứng thú học tập cho học sinh trong dạy học phần Hóa hữu cơ - Hóa học 11”
1.2 Mục đích nghiên cứu
Việc nghiên cứu đề tài này nhằm thiết kế và sử dụng hệ thống các bài tậpgắn với thực tiễn trong dạy học hóa hữu cơ lớp 11 Thông qua các bài tập thựctiễn này, học sinh sẽ phát triển năng lực giải quyết vấn đề Từ đó sẽ tạo hứng thúhọc tập cho học sinh và nâng cao hiệu quả quá trình dạy và học Hóa học ở
trường THPT.
1.3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Xác định cơ sở khoa học của việc tạo niềm say mê, hứng thú trong giờ họcmôn Hóa học cho học sinh
Đánh giá thực trạng việc học môn Hóa học trong thời gian qua và kết quảđạt được trong thời gian qua
Rút ra bài học kinh nghiệm, đề ra biện pháp thực hiện trong thời gian tới
1.4 Đối tương và khách thể nghiên cứu
1.4.1 Khách thể nghiên cứu
Quá trình dạy học Hóa hữu cơ lớp 11 ở trường THPT và khả năng pháttriển năng lực của học sinh
1.4.2 Đối tượng nghiên cứu
Hệ thống lý thuyết và bài tập thực tiễn để phát triển năng lực giải quyết vấn
đề trong dạy học Hóa hữu cơ lớp 11 ở trường THPT
1.5 Phạm vi nghiên cứu
Khối 11 trường THPT nơi tôi đang công tác
Giáo viên: Lê Chí Quang trường THPT Hoàng Lệ Kha 2
Trang 81.6 Phương pháp nghiên cứu
Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Quan sát, trao đổi, thống kê sốliệu, so sánh, lấy ý kiến của đồng nghiệp và học sinh
1.7 Đóng góp mới của đề tài
Về mặt lý luận: Đề xuất một số biện pháp để phát triển năng lực giải quyết
vấn đề của học sinh trung học phổ thông
Về mặt thực tiễn: Thiết kế và xây dựng hệ thống câu hỏi bài tập thực tiễn
trong chương trình hóa hữu cơ lớp 11 để phát triển năng lực giải quyết vấn đềcho học sinh trung học phổ thông
2 PHẦN NỘI DUNG Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
2.1.1 Cơ sở lý luận về bài tập thực tiễn
Dạy học Hóa học gắn liền với thực tiễn là mong muốn của rất nhiều GVHóa học Bởi Hóa học là môn khoa học thực nghiệm, gắn liền với cuộc sống conngười Nếu HS thấy được sự gần gũi giữa kiến thức bộ môn với thực tế các em
sẽ yêu thích môn Hóa học hơn, hứng thú tìm hiểu khoa học, có thêm kĩ năngsống, ý thức bảo vệ môi trường tốt hơn và có NL vận dụng kiến thức tốt hơn.Theo tôi, việc đưa các kiến thức Hóa học gắn liền với thực tiễn trong quá trìnhdạy học đem lại nhiều lợi ích:
- Học sinh tiếp nhận kiến thức đó một cách tự nhiên, nhớ kiến thức đượclâu hơn, hiểu được tầm quan trọng của kiến thức trong thực tiễn, từ đó tăng hứngthú học tập và tìm hiểu kiến thức
- Kích thích học sinh tìm hiểu, giải thích các hiện tượng thực tiễn đời sống,đặt các giả thuyết và nghiên cứu
- Có kiến thức thực tiễn sẽ thúc đẩy việc gắn kiến thức lý thuyết và thựchành trong nhà trường với thực tiễn đời sống, đẩy mạnh thực hiện dạy học theo
phương châm “ học đi đôi với hành”.
Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân nên việc gắn bài học với các nội dung cóliên quan tới thực tiễn còn gặp nhiều khó khăn, hạn chế Nhiều bài tập Hóa họccòn rất xa vời thực tiễn cuộc sống và sản xuất, quá chú trọng đến các tính toánphức tạp Để phần nào đáp ứng được nhu cầu đổi mới phương pháp giảng dạy vàhọc tập môn Hóa học phổ thông theo hướng gắn với thực tiễn nên trong đề tàitôi tuyển chọn và xây dựng thêm một số kiến thức lý thuyết và bài tập Hóa học
Trang 9dạng này, đồng thời đưa chúng vào trong dạy học với phương pháp phù hợpnhằm góp phần nâng cao hứng thú học tập cho HS THPT.
2.1.2 Cơ sở lý luận về năng lực giải quyết vấn đề
2.1.2.1 Khái niệm năng lực giải quyết vấn đề
Năng lực giải quyết vấn đề là tổ hợp các NL thể hiện ở các kĩ năng (thaotác tác duy và hoạt động) trong hoạt động học tập nhằm giải quyết có hiệu quảnhững nhiệm vụ của bài toán
Năng lực giải quyết vấn đề là khả năng của một cá nhân hiểu và giải quyếttình huống vấn đề khi mà giải pháp giải quyết chưa rõ ràng Nó bao gồm sự sẵnsàng tham gia vào giải quyết tình huống vấn đề đó – thể hiện tiềm năng là công
dân tích cực và xây dựng ( Định nghĩa trong đánh giá PISA, 2012)
2.1.2.2 Ý nghĩa của việc hình thành và phát triển NLGQVĐ cho người học
- Sự hình thành và phát triển NLGQVĐ giúp HS hiểu và nắm chắc nộidung cơ bản của bài học HS có thể mở rộng và nâng cao những kiến thức xã hộicủa mình
- Sự hình thành và phát triển NLGQVĐ giúp HS hình thành kỹ năng giaotiếp, tổ chức, khả năng tư duy, tinh thần hợp tác, hoà nhập cộng đồng
- Sự hình thành và phát triển NLGQVĐ giúp GV có thể đánh giá một cáchkhá chính xác khả năng tiếp thu của HS và trình độ tư duy của học sinh, tạo điềukiện cho việc phân loại HS một cách chính xác GV có thể trực tiếp uốn nắnnhững kiến thức sai lệch, không chuẩn xác, định hướng kiến thức cần thiết choHS
2.1.3 Thực trạng của việc sử dụng BTTT
Trong quá trình dạy học ở trường THPT Trần Phú, tôi nhận thấy rằng: Kiếnthức của HS còn hời hợt, thiếu vững chắc, chưa liên hệ với thực tế sinh động củasản xuất và đời sống Nhiều HS chưa nắm chắc các khái niệm Hóa học cơ bản,chưa hiểu được các hiện tượng Hóa học thông thường xảy ra trong đời sống vàsản xuất, HS chưa biết liên hệ với kiến thức đã học để giải thích HS tiếp thukiến thức ở lớp còn thụ động, ít suy nghĩ về bài học, thuộc bài một cách máymóc, nên còn lúng túng khi phải độc lập vận dụng kiến thức của mình Về nhà
HS học bài còn nặng về học thuộc lòng
GV ít liên hệ kiến thức Hóa học với thực tế Do cách thi cử có ảnh hưởngquan trọng tới cách dạy vì trong các kì kiểm tra, kì thi không yêu cầu có nhiềucâu hỏi có nội dung gắn với thực tiễn Do vậy, đa số GV chỉ đưa những kiếnthức Hóa học thực tiễn vào các hoạt động ngoại khóa, còn những tiết học tuyềnthụ kiến thức mới thì ít đưa vào hoặc tiết luyện tập, ôn tập, tổng kết chuẩn bị chocác kì kiểm tra thì GV chỉ tập trung các kĩ năng khác có nội dung thuần túy Hóahọc để có thể đáp ứng được yêu cầu của bài kiểm tra
Giáo viên: Lê Chí Quang trường THPT Hoàng Lệ Kha 4
Trang 10Chính vì thế vốn hiểu biết thực tế của HS về các hiện tượng có liên quanđến Hóa học trong đời sống hàng ngày còn ít.
Giải pháp của chúng tôi đưa ra là thiết kế và sử dụng BTTT trong các bàihọc nhiều hơn, có thể dùng trong nhiều trường hợp như nghiên cứu tài liệu mới,củng cố, hoàn thiện, vận dụng kiến thức, kĩ năng, kiểm tra, đánh giá kiến thức
Chương 2: THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG BÀI TẬP THỰC TIỄN ĐỂ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC PHẦN HÓA HỮU CƠ - LỚP 11
2.2.1 Nguyên tắc xây dựng BTTT
- Phải đảm bảo tính chính xác, tính khoa học, tính hiện đại.
Trong một bài tập HH thực tiễn, bên cạnh nội dung HH, còn có những dữliệu thực tiễn Những dữ liệu đó cần phải được đưa vào một cách chính xác,không tuỳ tiện thay đổi nhằm mục đích dễ tính toán
Đối với một số bài tập về sản xuất HH, nên đưa vào các dây chuyền côngnghệ đang được sử dụng ở Việt Nam hoặc trên thế giới, không nên đưa các côngnghệ đã quá cũ và lạc hậu hiện không dùng hoặc ít dùng
- Phải gần gũi với kinh nghiệm của HS.
Những vấn đề thực tiễn có liên quan đến HH thì rất nhiều và rộng NếuBTTT có nội dung về những vấn đề gần gũi với kinh nghiệm đời sống và môitrường xung quanh HS thì sẽ tạo cho họ động cơ và hứng thú mạnh mẽ khi tiếpnhận và giải quyết vấn đề
- Phải sát với nội dung học tập.
Các BTTT cần có nội dung sát với chương trình mà HS được học NếuBTTT có nội dung hoàn toàn mới về kiến thức HH thì sẽ không tạo được độnglực cho HS để giải bài tập đó
2.2.2 Một số dạng BTHH thực tiễn
Dựa vào tính chất của bài tập, có thể chia thành:
Bài tập định tính: Bao gồm các bài tập về giải thích các hiện tượng, các tình huống nảy sinh trong thực tiễn; lựa chọn hoá chất cần dùng cho phù hợp với
tình huống thực tiễn, nhận biết, tinh chế, đề ra phương hướng để cải tạo thựctiễn…
Ví dụ: Làm cách nào để quả mau chín ?
Tại sao rượu giả có thể gây chết người ?
Vì sao khi bị muỗi đốt nếu bôi vào vết muỗi đốt ít nước xà phòng sẽ cảmthấy bớt ngứa, xót?
Bài tập định lượng: Bao gồm dạng bài tập về tính lượng hoá chất cần dùng, pha chế dung dịch…
Trang 11Ví dụ: - Vitamin A có công thức phân tử C20H30O có chứa 1 vòng 6cạnh, không chứa liên kết ba Hãy cho biết trong phân tử có mấy liên kếtđôi.
- Thành phần chủ yếu của chất trong trong mùi thơm của dứa làmột chất chứa 62,04% C và 10,41% H theo khối lượng, M=110±10 TìmCTCT của hợp chất trên
Bài tập về sản xuất hoá học
Ví dụ: Trước kia người ta sản xuất phenol từ clobenzen Hiện nay phươngpháp chủ yếu điều chế phenol trong công nghiệp là đi từ benzen quaisopropylbenzen Viết phương trình phản ứng minh hoạ
Bài tập về các vấn đề trong đời sống, học tập và lao động sản xuất Bao
gồm các dạng bài tập về:
Giải quyết các tình huống có vấn đề trong quá trình làm thực hành, thínghiệm như: Sử dụng dụng cụ thí nghiệm, sử dụng hoá chất hợp lí, xử lí tai nạnxảy ra, phòng chống độc hại, ô nhiễm trong khi làm thí nghiệm…
Ví dụ: - Cà rốt là loại củ có chứa đường và có hàm lượng vitamin A rất cao.Nhiều người thích ăn cà rốt sống và làm nộm cà rốt vì cho rằng sẽ hấp thụ hếtlượng tiền vitamin A trong đó Quan điểm đó có đúng không? Tại sao?
- Phương pháp cấp cứu sơ bộ khi bị bỏng phenol: “Rửa nhiều lần bằngglixerol cho tới khi màu da trở lại bình thường rồi bằng nước, sau đó băng chỗbỏng bằng bông tẩm glixerol” Hãy giải thích tại sao lại làm như vậy
2.2.3 Tiến trình dạy học phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh Bước 1: Đặt vấn đề GV hoặc HS phát hiện vấn đề, nhận dạng vấn đề, nêu
vấn đề cần giải quyết.
Bước 2: Tạo tình huống có vấn đề Tình huống có vấn đề thường xuất
hiện khi:
- Nảy sinh mâu thuẫn giữa điều HS đã biết và điều đang gặp phải
- Gặp tình huống bế tắc trước nội dung mới
- Gặp tình huống, xuất phát từ nhu cầu nhận thức tại sao
Bước 3: GQVĐ GV hoặc HS đề xuất cách GQVĐ khác nhau (nêu giả thuyết khác nhau), thực hiện cách giải quyết đã đề ra (kiến thức giả thuyết) Bước 4: Kết luận vấn đề Phân tích để chọn cách giải quyết đúng (lựa chọn giả thuyết đúng và loại bỏ giả thuyết sai) Nêu kiến thức hoặc kĩ năng, thái
độ thu nhận được từ GQVĐ trên
Giáo viên: Lê Chí Quang trường THPT Hoàng Lệ Kha 6