1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vận dụng giải phương trình bậc hai trong dạy cấu trúc rẽ nhánh

20 438 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 173 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤCTRƯỜNG THPT LÊ HOÀN SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM VẬN DỤNG CÁCH GIẢI PHƯƠNG TRÌNH BẬC HAI TRONG DẠY CẤU TRÚC RẼ NHÁNH Người thực hiện: Lê Thị Hồng Chức vụ: Giáo viên SKKN thuộc lĩnh vực

Trang 1

MỤC LỤC

TRƯỜNG THPT LÊ HOÀN

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

VẬN DỤNG CÁCH GIẢI PHƯƠNG TRÌNH BẬC HAI

TRONG DẠY CẤU TRÚC RẼ NHÁNH

Người thực hiện: Lê Thị Hồng Chức vụ: Giáo viên

SKKN thuộc lĩnh vực môn: Tin học

THANH HÓA NĂM 2019

Trang 2

1 MỞ ĐẦU

2 NỘI DUNG

2.3 Các giải pháp sử dụng để giải quyết vấn đề 6

2.3.3.1 Kiểm tra bài cũ và gợi động cơ 6

Hoạt động 3: Vận dụng toán học để viết chương trình

giải phương trình bậc hai và tìm số ngày của năm cho trước

11

2.3.3.3 Kiểm tra đánh giá kết quả học tập 17 2.3.3.4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm 17

3 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

3.1 Kết luận 18 3.2 Kiến nghị 18

1 MỞ ĐẦU

Trang 3

1.1 Lí do chọn đề tài:

Sự phát triển như vũ bảo của công nghệ thông tin và truyền thông đóng vai trò không nhỏ trong sự phát triển chung của nhân loại Đảng và nhà nước đã xác định rõ ý nghĩa và tầm quan trọng của tin học, công nghệ thông tin và truyền thông cũng như yêu cầu đẩy mạnh của ứng dụng công nghệ thông tin, đào tạo thế hệ trẻ năng động, sáng tạo, nắm vững tri thức khoa học công nghệ để làm chủ trong mọi hoàn cảnh công tác và hoạt động xã hội trong thời kỳ công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước

Trong thời đại ngày nay, công nghệ thông tin đã thực sự bùng nổ và nó là một ngành khoa học đang phát triển rất mạnh mẽ Sự bùng nổ thông tin và tốc

độ phát triển như vũ bảo của nó khiến cho người thầy không thể dạy hết tất cả các kiến thức cho học sinh

Do đó người thầy cần phải tìm ra phương pháp dạy học tích cực hơn để tăng hiệu quả dạy và học Dạy học sinh cách học chủ động, phương pháp học, cách học những điều mà thực tế đòi hỏi thay vì truyền tải một lượng kiến thức quá nhiều mà học sinh không thể nhớ hết để vận dụng

Là một giáo viên môn tin học tôi luôn trăn trở làm thế nào để học sinh hiểu

và yêu thích môn học, tích cực và hứng thú trong từng tiết học Điều trăn trở đó chỉ được thực hiện khi đổi mới cách thức tổ chức hoạt động học tập của học sinh Việc tổ chức hoạt động dạy học nhằm phát huy tính tích cực của học sinh

là một trong những nhiệm vụ của năm học Là giáo viên trực tiếp đứng lớp tôi không ngừng phấn đấu trau dồi kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ, kiến thức các môn liên quan, thường xuyên học hỏi kinh nghiệm để hoàn thiện hơn trong quá trình giảng dạy

Vào bậc trung học phổ thông, học sinh mới bắt đầu làm quen với tin học

và ở lớp 11 học sinh mới làm quen với viết chương trình (lập trình) nên các em còn rất lúng túng trong việc sử dụng các cấu trúc để viết câu lệnh Vì vậy rất khó khăn cho việc dạy và học

Vậy để học sinh dễ dàng lĩnh hội được tất cả những kiến thức về cấu trúc rẽ nhánh đó, tôi đã chọn đề tài: “vận dụng cách giải phương trình bậc hai trong dạy cấu trúc rẽ nhánh”

1.2 Mục đích nghiên cứu:

Trang 4

Trong quá trình dạy học và dự giờ thăm lớp qua các môn học, tôi nhận thấy để có thể tạo ra được những giờ học hứng thú, học sinh có thể tập trung và yêu thích môn học, phát huy được tính sáng tạo trong tư duy và suy nghĩ thì người giáo viên đóng vai trò vô cùng quan trọng ở trong mỗi tiết học đó, từ việc dẫn dắt vấn đề cho đến phần giới thiệu vào nội dung đòi hỏi mỗi người giáo viên luôn phải có sự chuẩn bị kỹ càng, ngoài ra còn phải chuẩn bị thêm các thiết bị,

đồ dùng dạy học, các phương tiện, … sao cho phù hợp với kiến thức nhưng việc chuẩn bị quá nhiều thứ trong một giờ học thì mất rất nhiều thời gian Vì thế trong nội dung đề tài này tôi đã đưa ra một phương pháp giảng dạy cho học sinh lĩnh hội kiến thức mới thông qua những kiến thức liên môn đó là giải phương trình bậc hai trong toán học

1.3 Đối tượng nghiên cứu:

- Nghiên cứu dạy học lập trình trong chương trình Tin học phổ thông,

đặc biệt là phần cấu trúc rẽ nhánh – SGK lớp 11

- Nghiên cứu các tài liệu liên quan đến cấu trúc rẽ nhánh

- Nghiên cứu một số tài liệu về đổi mới phương pháp giáo dục.

- Nghiên cứu hoạt động dạy và học của giáo viên và học sinh khối 11 ở

trường THPT

1.4 Phương pháp nghiên cứu:

- Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lý thuyết;

- Phương pháp điều tra, xử lý số liệu

2 NỘI DUNG

Trang 5

2.1 Cơ sở lý luận:

Tích hợp- liên môn là một trong những quan điểm giáo dục đã trở thành xu thế trong việc xác định nội dung dạy học ở các trường phổ thông và trong xây dựng chương trình môn học ở nhiều nước trên thế giới Vận dụng hợp lí quan điểm tích hợp - liên môn trong giáo dục và dạy học sẽ giúp phát triển các năng lực giải quyết những vấn đề phức tạp và làm cho việc học trở nên ý nghĩa hơn với học sinh so với việc các môn học được thực hiện riêng rẽ

Tin học là môn khoa học, kiến thức của môn tin học 11 có thể sử dụng kiến thức ở nhiều môn như toán học, vật lí, địa lí để xậy dựng chủ đề liên môn Trong khi đó, thực tiễn dạy học phần tin học 11 đa số học sinh đánh giá tương đối nặng nề về kiến thức, khó nhớ và không tạo được thú vị cho người học Vì vậy dạy học vận dụng kiến thức liên môn sẽ giúp cho học sinh hứng thú hơn trong quá trình lĩnh hội kiến thức mới của bài học

Vận dụng kiến thức liên môn giúp cho giáo viên chủ động tìm hiểu kiến

thức của toán học, hiểu sâu sắc nội dung " cấu trúc rẽ nhánh", từ đó có sự say mê

và sáng tạo trong giảng dạy nội dung này, nhằm truyền tải kiến thức một cách đầy đủ, chính xác và chặt chẽ tới học sinh, giúp học sinh hiểu rõ cấu trúc rẽ nhánh, vận dụng thành thạo câu lệnh để giải các bài toán cụ thể

2.2 Thực trạng trước khi nghiên cứu:

Qua thực tế giảng dạy ở trường THPT Lê Hoàn các năm học qua, tôi nhận thấy khi học đến chương trình Tin học lớp 11 đa số học sinh đều nhận xét bộ môn này rất khó, nên nhiều học sinh chưa thực sự yêu thích, luôn coi nhẹ và thờ

ơ với việc học môn tin học

Đa số học sinh ở vùng nông thôn nên ít có điều kiện tiếp xúc với máy tính

Trang thiết bị cho phòng học bộ môn Tin học còn nhiều hạn chế: Số máy tính trang bị cho học sinh thực hành đã xuống cấp, cũ kỹ, số lượng máy còn ít trung bình phải từ 3 – 4 em / một máy Trang thiết bị hỗ trợ cho phòng máy hầu như không có

Khả năng tiếp thu của học sinh không đồng đều, chưa hứng thú trong học tập;

Quá trình dạy tập trung vào người dạy, học sinh thụ động đọc - chép; Với việc học lập trình mang tính trừu tượng làm cho các em bỡ ngỡ, lúng túng và thậm chí thấy khó hiểu dẫn đến không thích học Tuy nhiên cũng có một

Trang 6

số ít học sinh rất yêu thích Tin học và thích tìm hiểu một số bài toán, dạng toán ngoài sách giáo khoa

Kết quả khảo sát kiểm tra 15 phút sau khi học xong bài “Cấu trúc rẽ nhánh” của lớp 11A2 năm học 2018 - 2019 khi chưa thực hiện đề tài như sau:

Điểm bài làm 4.1- 5.0 5.1 - 6.0 6.1- 7.0 7.1- 8.0 8.1 – 9.0 9.1 - 10

Số lượng

theo HS

Vấn đề đặt ra là để góp phần nâng cao chất lượng dạy và học môn Tin học

ở trường THPT Lê Hoàn, tôi đã thử nghiệm và đưa ra giải pháp giúp học sinh hiểu và vận dụng được cấu trúc rẽ nhánh để xây dựng thuật toán và giải quyết được các bài toán cụ thể, giải pháp cụ thể như sau:

2.3 Các giải pháp sử dụng để giải quyết vấn đề:

2.3.1 Đối tượng dạy học của bài học:

- Đối tượng học sinh:

+ Học sinh lớp 11A1 Trường THPT Lê Hoàn – Thọ Xuân

+ Số lượng 40 em

- Những đặc điểm cần thiết: Học sinh đã được học kiến thức về cách giải phương trình bậc hai

2.3.2 Thiết bị dạy học:

- Máy tính, máy chiếu;

- Giáo án;

- Sách giáo khoa và sách giáo viên Tin học 11

- Bài kiểm tra trắc nghiệm khách quan , tài liệu tham khảo

- GV yêu cầu học sinh phải chuẩn bị về:

+ Học bài: Cấu trúc rẽ nhánh + Đọc và tìm hiểu toán: “Cách giải phương trình bậc hai”

2.3.3 Nội dung tiết học:

Bài 9: Cấu trúc rẽ nhánh 2.3.3.1 Kiểm tra bài cũ và gợi động cơ:

Bài toán: cho 2 số nguyên a, b; tìm Max(a,b)

Yêu cầu: viết phần tên, phần khai báo, và câu lệnh nhập a, b

Nêu thuật toán tìm Max(a,b)

Trang 7

Giáo viên đặt vấn đề: Chương trình giải quyết các bài toán mà chúng ta đã xem

xét ở các bài học trước chỉ dừng lại ở việc tính toán đơn thuần Trong thực tế, có nhiều bài toán khi giải cần phải chia trường hợp Ví dụ để giải một phương trình bậc hai ax2 + bx + c = 0 với a, b, c là các số thực cho trước và a ≠ 0, ta cần phải xét dấu của biết số delta Ví dụ khác để đưa ra màn hình số ngày của một năm nào đó được nhập tà bàn phím, ta cũng phải xét xem đó là năm nhuận (có 366 ngày) hay là năm không nhuận (có 365 ngày) Trong bài học này ta sẽ tìm hiểu

về cấu trúc rẽ nhánh để giải quyết các bài toán thuộc dạng đó

2.3.3.2 Bài mới

Hoạt động 1: Khái niệm rẽ nhánh

GV: Cần thiết có cấu trúc rẽ nhánh để biểu diễn thuật toán Các ngôn ngữ lập

trình đều có các câu lệnh thể hiện cấu trúc rẽ nhánh

- Nội dung : Đưa ra khái niệm cấu trúc rẽ nhánh ở dạng thiếu và đủ.

- Phương pháp dạy học : Giáo viên thuyết trình về cấu trúc rẽ nhánh Đưa ra các

ví dụ thực tế về các mệnh đề thiếu và các mệnh đề đủ, nêu câu hỏi, dẫn dắt đến khái niệm về cấu trúc rẽ nhánh

- Hoạt động của giáo viên và học sinh:

GV: Thuyết trình về cấu trúc rẽ nhánh.

- Đưa ra các ví dụ về mệnh đề thiếu và mệnh đề đủ;

Trong cuộc sống hàng ngày, có nhiều việc chỉ được thực hiện khi một điều kiện

cụ thể nào đó được thõa mãn:

Ví dụ 1: Châu hẹn Ngọc: “Chiều nay nếu trời không mưa thì Châu sẽ đến nhà

ngọc”

Ta nói cách diễn đạt thuộc mệnh đề thiếu:

Nếu … thì …

Cụ thể là: Nếu < trời không mưa> thì <Châu đến nhà Ngọc>

Ví dụ 2: Lần khác Ngọc nói với Châu: “Chiều nay nếu trời không mưa thì Ngọc

sẽ đến nhà Châu, nếu mưa thì Ngọc sẽ gọi điện cho Châu để trao đổi”

Ta nói cách diễn đạt thuộc mệnh đề đủ:

Nếu … thì … nếu không thì…

Gv: Nêu câu hỏi: - Các em hãy cho thêm các ví dụ tương tự về những việc chỉ được thực hiện khi một điều kiện cụ thể nào đó được thõa mãn:

HS: Suy nghĩ tham gia xây dựng bài.

GV: Dẫn dắt đến khái niệm về cấu trúc rẽ nhánh

Tích hợp kiến thức giải phương trình bậc hai.

Trang 8

Ví dụ 3 : Để viết chương trình giải phương trình bậc 2: ax2 + bx + c = 0 với a, b,

c là các số thực cho trước và a≠ 0, trước tiên ta tính biệt số delta:

Tính D = b2 – 4ac;

Sau đó tùy thuộc vào giá trị của D mà ta có tính nghiệm hay không

GV : Đưa ra ví dụ rồi cùng học sinh thảo luận phương pháp giải quyết bài toán.

GV: Yêu cầu học sinh viết lại mệnh đề dạng đủ cho ví dụ 3

HS: Vận dụng kiến thức về giải phương trình bậc hai để giải bài toán.

- Nếu D<0 thì phương trình vô nghiệm

- Nếu D >=0 thì phương trình có nghiệm

- Như vậy tùy thuộc vào giá trị của D mà ta đưa ra vô nghiệm hay có nghiệm Hoặc có thể nói : Nếu D < 0 thì phương trình vô nghiệm, ngược lại thì phương trình có nghiệm

GV kết luận: Cấu trúc rẽ nhánh: Cấu trúc dùng để mô tả các mệnh đề có dạng

như hai ví dụ trên được gọi là cấu trúc rẽ nhánh

GV: Giới thiệu câu lệnh If – Then thể hiện cấu trúc rẽ nhánh trong ngôn ngữ lập

trình pascal

GV : Đưa ra cấu trúc lệnh rẽ nhánh trong Pascal Nhắc nhở học sinh đây là cấu

trúc quan trọng, nó sẽ được sử dụng rất nhiều trong các chương trình sau này

HS: Nghe giảng ghi chép đầy đủ

Pascal dùng câu lệnh If – then để mô tả việc rẽ nhánh tương ứng với hai loại mệnh đề rẽ nhánh như nhau

- Dạng thiếu :

Kiểm tra

>=0

Thông báo vô

nghiệm Tính và đưa ra nghiệm

Kết thúc

Trang 9

If <điều kiện> Then <câu lệnh>;

- Dạng đầy đủ :

If <điều kiện> Then < câu lệnh 1>

Else <câu lệnh 2>

Trong đó:

- Điều kiện : Là biểu thức quan hệ Logic.

- Câu lệnh, câu lệnh 1, câu lệnh 2 là 1 câu lệnh của Pascal

GV : Lưu ý các em sau Then và sau Else chỉ có một lệnh chương trình.

GV: Mô phỏng trên sơ đồ khối để giải thích câu lệnh rẽ nhánh và yêu cầu học

sinh làm theo;

Gv: Giải thích kỹ hoạt động của câu lệnh rẽ nhánh dạng thiếu, sau đó yêu cầu học sinh giải thích sơ đồ rẽ nhánh dạng đủ

GV kết luận: Hoạt động của các câu lệnh :

- Dạng thiếu : Nếu điều kiện đúng thì câu lệnh được thực hiện, nếu điều kiện

sai thì không thực hiện gì

- Dạng đủ : Nếu điều kiện đúng thì thực hiện câu lệnh 1, nếu điều kệin sai thì

thực hiện câu lệnh 2

GV : Với hai dạng này, dạng nào dùng thuận tiện hơn ?

HS : Tìm câu trả lời, giáo viên gợi ý để học sinh đưa ra được tùy trường hợp cụ

thể mà dùng dạng thiếu hay dạng đủ

Đưa ra các ví dụ có sử dụng lệnh rẽ nhánh, nếu không có lệnh rẽ nhánh thì không thể thực hiện được

Tích hợp kiến thức toán học cách tìm giá trị lớn nhất của hai số.

GV: Làm mẫu và yêu cầu học sinh làm theo:

GV làm mẫu ví dụ 4,5

VD 4 : If (X Mod 2 = 0) Then

WRITE(x,’La so chan’);

Câu lệnh

IF

Điều

kiện

Đ

S

Câu lệnh

IF

S

Trang 10

VD 5: If DELTA <0 Then

WRITE(‘PT Vo Nghiem’)

Else WRITE(‘PT co nghiem’);

GV: Nêu câu hỏi

VD 6: Tìm giá trị lớn nhất (max) của 2 số a và b

HS: Suy nghĩ tham gia xây dựng bài.

GV: yêu cầu học sinh thực hiện ở 2 cách

GV: Sửa lại

Cách 1 :

Max :=a; If b >a Then max :=b;

Cách 2 :

If a >b Then max :=a Else max :=b;

GV : ở VD6: Cách nào nhanh hơn, tiện hơn?

=> Cách 2 tiện hơn

GV : Phân tích sự tiện lợi trong cách 2 và số lệnh mà máy phải thực hiện

Hoạt động 2: Câu lệnh ghép

- Nội dung : Đưa ra cú pháp câu lệnh ghép.

- Phương pháp dạy học : Giáo viên thuyết trình về câu lệnh ghép Đưa ra các ví

dụ về câu lệnh ghép, nêu câu hỏi, dẫn dắt đến khái niệm câu lệnh ghép

- Hoạt động của giáo viên và học sinh:

GV: Thuyết trình về cấu trúc rẽ nhánh.

GV : Trong câu lệnh If – Then muốn thực hiện nhiều lệnh sau Then hay nhiều

lệnh sau Else làm thế nào ?

HS : Phát biểu ý kiến của mình.

GV : Khi đó ta cần gộp nhiều lệnh đó lại và coi đó là một câu lệnh trong chương

trình Các ngôn ngữ lập trình thường có cấu trúc để giúp ta thực hệin điều này HS: Nghe giảng, ghi bài đầy đủ

GV: Đưa ra cú pháp câu lệnh ghép

- Trong ngôn ngữ Pascal, Câu lệnh ghép có dạng:

Begin

<các câu lệnh>

End ;

Chú ý :

Trang 11

- Sau End phải là dấu; và trước Else không chứa dấu ;

- Từ nay nói đến câu lệnh thì đó có thể là câu lệnh đơn hoặc là câu lệnh ghép;

Tích hợp kiến thức toán cách tìm nghiệm phương trình bậc hai.

GV: Giảng và làm mẫu ví dụ 7, đồng thời yêu cầu học sinh cùng thực hiện mô

phỏng theo từng dòng lệnh

HS: Suy nghĩ tham gia xây dựng bài.

Ví dụ 7 :

if d <0 then

writeln(‘phuong trinh vo nghiem’)

else

begin

x1 :=(-b-sqrt(delta))/(2*a);

x2 := - b/a – x1;

writeln(‘x1=’,x1:6:3,’x2=’,x2:6:3);

end;

Hoạt động 3: Vận dụng toán học để viết chương trình giải phương trình bậc hai và tìm số ngày của năm cho trước

- Nội dung : Khai thác các chương trình minh họa để củng cố kiến thức về câu

lệnh rẽ nhánh

- Phương pháp dạy học : Kết hợp phương pháp giảng dạy: Thuyết trình, vấn

đáp, sử dụng phương tiện trực quan…

- Hoạt động của giáo viên và học sinh:

GV: Yêu cầu học sinh đọc ví dụ 8 Trả lời các câu hỏi dưới đây:

Ví dụ 8 :

Tìm nghiệm thực của phương trình bậc hai: ax2 + bx + c= 0

1 Hãy xác định Input và output của bài toán?

2 Chương trình cần khai báo những biến nào? Hãy phát biểu chính xác câu lệnh khai báo các biến đó?

3 Chương trình có thể chia thành mấy phần? ( 3 phần: nhập dữ liệu; Tính D và biện luận theo D để đưa ra màn hình thông tin về nghiệm)

4 Hãy phát biểu chính xác các câu lệnh thực hiện phần nhập dữ liệu và tính D?

5 Để biện luận theo D và thông báo lên màn hình thông tin về nghiệm, ta sẽ sử dụng đoạn chương trình nào đã biết? (Sử dụng lại ví dụ 7)

HS: Suy nghĩ tham gia xây dựng bài.

Ngày đăng: 16/07/2019, 13:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w