1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

CHUYỂN ĐỔI SINH KẾ VÀ VẤN ĐỀ TÍN DỤNG Ở MỘT SỐ TỘC NGƯỜI THIỂU TẠI TÂY NGUYÊN VÀ MIỀN NÚI PHÍA BẮC

90 25 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 2,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, một số nghiên cứu mới được thực hiện ở vùng các tộc người thiểu số khác, chẳng hạn như ở vùng các tộc người thiểu số tại chỗ Tây Nguyên Lê Hồng Lý và các cộng sự 2014, Hoàng C

Trang 1

CHUYỂN ĐỔI SINH KẾ VÀ VẤN ĐỀ TÍN DỤNG Ở MỘT SỐ TỘC NGƯỜI THIỂU TẠI TÂY NGUYÊN VÀ MIỀN

NÚI PHÍA BẮC

Hoàng Cầm Ngô Thị Phương Lan Hoàng Anh Dũng

Vũ Thành Long Nguyễn Văn Giáp

Hà Nội, 2017

Trang 4

CHUYỂN ĐỔI SINH KẾ VÀ VẤN ĐỀ TÍN DỤNG Ở MỘT SỐ TỘC NGƯỜI THIỂU TẠI

TÂY NGUYÊN VÀ MIỀN NÚI PHÍA BẮC

Hoàng Cầm Ngô Thị Phương Lan Hoàng Anh Dũng

Vũ Thành Long Nguyễn Văn Giáp

Hà Nội, 2017

Trang 5

LỜI CẢM ƠN

Nhóm nghiên cứu xin chân thành cảm ơn các cá nhân và cơ quan quản lý của huyện Lâm Hà và huyện Lăk ở khu vực Tây Nguyên ; huyện Võ Nhai và

Mai Sơn ở khu vực phía Bắc đã tạo điều kiện thuận lợi để tiến hành nghiên cứu

này Xin gửi lời cảm ơn tới các nhà khoa học về những nhận xét quý báu trong

quá trình nghiên cứu cũng như hoàn thiện báo cáo Đặc biệt xin tri ân người dân

địa phương ở Đắk Lắk, Lâm Đồng, Thái Nguyên và Sơn La những người đã sẵn

lòng chia sẻ với nhóm nghiên cứu các quan điểm và suy nghĩ về những vấn đề

liên quan đến hiện trạng sinh kế và vấn đề nợ thông qua các cuộc phỏng vấn sâu

và trả lời bảng hỏi

Kinh phí để thực hiện nghiên cứu này do tổ chức Oxfarm Anh tài trợ thông qua Liên minh Nông nghiệp Tuy nhiên, các diễn giải, nhận định và các

hạn chế của báo cáo thuộc về trách nhiệm của nhóm nghiên cứu

Các ý kiến góp ý về bản báo cáo xin gửi đến cho nhóm nghiên cứu theo địa chỉ: Hoàng Cầm, Viện Nghiên cứu Văn hóa, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội

Việt nam 27 Trần Xuân Soạn, Hai Bà Trưng, Hà Nội (E-mail:

hoangcamvn@rgmail.com)

Trang 6

MỤC LỤC

I DẪN LUẬN 4

II Hành vi sinh kế của người nông dân: Lựa chọn duy lý VS kinh tế duy tình 8

III PHƯƠNG PHÁP LUẬN 13

3.1 Nghiên cứu định tính 13

3.2 Khảo sát định lượng 14

3.3 Phân tích tài liệu văn bản 15

3.4 Tham vấn chuyên gia 15

3.5 Hạn chế của nghiên cứu 15

IV BỐI CẢNH HOÁ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 16

4.1 Con người và không gian sinh tồn 16

4.2 Sinh kế cổ truyền ở các tộc người thiểu số: nền kinh tế duy tình 21

5.3 Chuyển đổi sinh kế 28

5.3.1 Chuyển đổi trong sản xuất nông nghiệp 29

5.3.2 Tính hiện đại và sự thay đổi trong hành vi tiêu dùng 43

VI TÍN DỤNG Ở CÁC VÙNG DÂN TỘC THIỂU SỐ: HIỆN TRẠNG, NGUYÊN NHÂN VÀ CÁC HỆ QUẢ 45

6.1 Tín dụng ở Tây Nguyên 45

6.2 Tín dụng ở Thái Nguyên và Sơn La 57

6.3 Chiến lược ứng phó và các hệ quả 70

6.4 Nguyên nhân của sự khác biệt về hiện tượng nợ 75

VII KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 76

7.1 Kết luận 76

7.2 Khuyến nghị 78

VIII Tài liệu tham khảo 84

Trang 7

I DẪN LUẬN

Từ sau Đổi mới 1986 đến nay, sinh kế của các tộc người thiểu số ở nhiều vùng trong cả nước đã được dần chuyển mô hình sản xuất nông nghiệp tự cấp tự túc sang sản xuất nông sản hàng hoá theo kinh tế thị trường với quy mô lớn và khá toàn diện Trong diễn ngôn phát triển mới của nhà nước, được đẩy mạnh từ sau đổi mới 1986, việc chuyển đổi sang thực hành mô hình sinh kế mới theo hướng phát triển nông sản hàng hoá được coi là bước phát triển tất yếu để

“thoát nghèo và làm giàu” Chính vì vậy, các cơ quan hữu quan của chính phủ chính quyền ở cấp địa phương lẫn bản thân người dân ở các vùng miền đã đầu từ cả nguồn lực vật chất và tinh thần để thúc đẩy sự chuyển đổi này Sự chuyển đổi đã làm cho một số vùng miền và một hộ gia đình đạt được những bước phát triển mới về kinh tế Tuy nhiên, một số nghiên cứu mới được thực hiện ở vùng các tộc người thiểu số khác, chẳng hạn như ở vùng các tộc người thiểu số tại chỗ Tây Nguyên (Lê Hồng Lý và các cộng sự 2014, Hoàng Cầm và các cộng sự 2015), đã chỉ ra rằng, sự chuyển đổi từ nền kinh tế nông nghiệp tự túc tự cấp sang mô hình sản xuất nông sản hàng hoá cũng tạo ra nhiều thách thức hệ quả kinh tế, văn hoá và xã hội tiêu cực cho nhiều cộng đồng Vượt qua phạm vi của Việt Nam, những hệ quả không mong đợi của sự chuyển đổi cũng diễn ra ở nhiều vùng miền núi ở các nước khác, chẳng hạn như ở Indonesia như được phân tích trong một công trình mới đây của Li Tania (2014) hay ở Thái Lan (Yos 2004)

Để hiểu rõ hơn vấn đề chuyển đổi sinh kế và các hệ quả kinh tế- xã hội trong vùng các tộc người thiểu số ở Việt Nam trong bối cảnh rộng hơn, nghiên cứu này tập trung tìm hiểu sự chuyển đổi sinh kế và vấn đề nợ ở các tộc người thiểu số ở Tây Nguyên và phía Bắc Đây là hai khu vực địa lý tập trung đông các dân tộc thiểu số của Việt Nam Qua báo chí và qua mạng lưới nghiên cứu, chúng tôi chọn huyện Lâm Hà của tỉnh Lâm Đồng, huyện Lắk của tỉnh Đăk Lăk, huyện Võ Nhai của tỉnh Thái Nguyên, huyện Mai Sơn của tỉnh Sơn La Các địa điểm nay được cho là điểm sáng cho việc trồng các loại nông sản hàng hóa, chủ yếu là cây cà phê và ngô lai Các loại cây này được cho là cây “thoát nghèo” của các hộ dân tộc thiểu số ở vùng miền núi này Điểm chung của 4 cộng đồng này là họ đều tham gia mạnh mẽ vào quá trình sản xuất cùng một loại cây nông nghiệp hàng hóa (ngô lai và cà phê) ở các cộng đồng này cũng có hiện tượng vay

nợ trong sản xuất

Câu chuyện về vấn đề chuyển đổi sinh kế và nợ ở khu vực Tây Nguyên tạo cho chúng tôi

ấn tượng hết sức mạnh mẽ và sâu sắc về hiện trạng sản xuất hàng hóa Như thường lệ, vào khoảng 8 giờ sáng của một ngày nắng nóng trong đợt điền dã để thực hiện nghiên cứu mà bạn đọc đang có trên tay, chúng tôi, nhóm nghiên cứu gồm 4 người, lại có mặt ở buôn Biết,1 địa bàn

cư trú lâu đời của người Mnông Rơ Lăm thuộc huyện Lăk, tỉnh Đăk Lăk, cách trung tâm huyện

lỵ khoảng 8 km, để hỏi chuyện, phỏng vấn và điều tra định lượng về các thực hành sinh kế của người dân Hiện lên trên con đường dẫn vào buôn đang được hiện đại hoá song còn dang dở từ 2 năm trước, với mặt đường lô nhô gồm những cục đá to cấp phối, chỉ có thể đi bộ hay xe công nông, là hình ảnh một nhóm khoảng 7-8 người gồm cả phụ nữ và nam giới, thuộc nhiều lứa tuổi khác nhau, đang trèo lên một chiếc xe công nông cải tiến để đi đổi công gieo ngô cho một gia đình có rẫy cách buôn khoảng 8-9 km Trải dài hai bên đường là những ngôi nhà sàn có kiến trúc

1Tuân thủ nguyên tắc ẩn danh để bảo vệ quyền của người cấp tin trong nghiên cứu định tính, trong báo cáo này,

chúng tôi không sử dụng tên thật của các thông tín viên mà chúng tôi phỏng vấn cũng như tên thật của hai buôn chúng tôi nghiên cứu.

Trang 8

truyền thống nhưng được làm chủ yếu bằng các loại nguyên vật liệu hiện đại, trông khá khang trang, vững chãi Ở gần ngay đầu con đường chính dẫn vào buôn, ngay cạnh nhà bác trưởng buôn, hiện hữu một ngôi nhà nguyện Tin Lành, mới được khánh thành trước đó vài ngày, do người dân tự đóng góp, có quy mô khá to trong một khuân viên lớn với nhiều cây cối Cách ngôi nhà nguyện khoảng 500 mét, ở gần cuối con đường, thấp thoáng một vài đàn bò, mỗi đàn khoảng 3-4 con, đang cùng chủ nhân, là những học sinh đang nghỉ hè và những người phụ nữ lớn tuổi với cái túi vải hay gùi đeo trên lưng, cùng tung tăng đi ra cánh đồng phía chân núi nằm ở cuối làng Xa hơn nữa trên các sườn núi là các mảng màu xanh lớn nơi các rẫy ngô của các hộ gia đình đang bắt đầu trong thời kỳ phát triển Những hình ảnh này, nhìn từ bên ngoài, cùng với con số về tỉ lệ hộ nghèo khá thấp của buôn mà bác trưởng buôn cung cấp trước đó, gợi lên cho những người mới đến như nhóm nghiên cứu chúng tôi về một buôn khá trù phú và có nhiều thay đổi lớn, khác với hình ảnh của nhiều buôn làng người thiểu số miền núi được mô tả trong các công trình dân tộc học trước đây và chuyển tải rộng rãi trên các phương tiện truyền thông trong những năm vừa qua

Theo chỉ dẫn của một người dân gặp trên đường, chúng tôi tìm đến nhà chị Ten, một phụ

nữ 28 tuổi, mới được bầu làm cán bộ phụ nữ buôn khoảng 3-4 tháng trước Thấy khách đến, Ten

bỏ vội công việc gieo ngô ngay tại vườn nhà, công việc mà, sau khi nói chuyện chúng tôi biết, được chị và các thành viên khác trong gia đình bắt đầu làm từ lúc 6 giờ sáng Ấn tượng lớn Ten

để lại cho chúng tôi sau khoảng 2 tiếng trò chuyện, như chúng tôi đã ghi ngay vào sổ tay điền dã sau khi dời ngôi nhà, là một người giỏi tiếng phổ thông, năng động, hoạt bát, bộc lộ khả năng tính toán tốt, nhớ khá rõ và chi tiết các khoản chi tiêu và nợ của gia đình mà không cần phải giở

sổ ghi chép Việc giỏi tiếng phổ thông, khả năng tính toán nhanh và nhớ rõ các con số của Ten,

có lẽ, xuất phát từ thực tế là, so với nhiều người dân khác trong buôn, Ten, có thể nói, là một người “có trình độ dân trí” cao vì Ten đã tốt nghiệp lớp 10, sau đó ra Hà Nội học một năm sơ cấp

ở một trường dược Giống như Ten, chồng Ten là một trong số không nhiều thanh niên trong buôn đã tốt nghiệp trung học cơ sở

Thông tin từ các cuộc phỏng vấn tại buôn Biết trước đó cũng như theo trải nghiệm cá nhân của Ten,2 người hiện đang đảm trách công việc quản lý nguồn nợ vay từ ngân hàng chính sách của các hộ trong buôn, cung cấp một bức tranh hoàn toàn đối ngược với số liệu chính thức

về tỉ lệ hộ nghèo thấp và với hình ảnh khá trù phú nhìn từ bên ngoài Hiện nay, người dân buôn Biết đang phải đối mặt với hiện trạng sinh kế, có thể nói, rất bi quan, đặc biệt là vấn đề nợ xấu

Nợ, đi kèm là tỉ lệ lãi suất cao (một thuật ngữ chỉ mới xuất hiện gần đây trong từ vựng của người

Mơ Nông ở trong vùng), chính vì vậy, theo Ten, trở thành chủ đề nóng nhất mà các chị em phụ

nữ của buôn bàn luận trong các buổi tụ tập ở nhà nguyện Tin Lành vào mỗi sáng chủ nhật hàng tuần trong nhiều năm qua Ten cho biết, chưa tính khoản tiền nợ của bố mẹ đang ở cùng, vào thời điểm chúng tôi phỏng vấn, bản thân hai vợ chồng chị đang phải gánh khoản nợ với tổng số tiền khoảng 50 triệu đồng chưa tính tiền lãi 30 triệu trong số này là khoản nợ từ người thân và ngân hàng chính sách, với lãi suất khoảng 6 % một năm 20 triệu còn lại là tiền vay gốc từ năm 2009

từ một chủ nợ người Kinh sống ở đầu buôn với lãi suất gần 60% một năm Tuy có diện tích đất trồng trọt khá lớn, song đã vài tháng nay, cả gia đình chị với 4 thành viên ít khi có những bữa cơm được cải thiện bằng cá, hay thịt mà phải thường xuyên chỉ ăn cơm với muối hay rau rừng trừ bữa Thậm chí, vào những khoảng thời gian không có lao động làm thuê, các thành viên trong gia đình thường phải ra đồng nhặt phân bò đem bán để đong từng lon gạo ăn cho qua ngày Khi

2 Tuân thủ nguyên tắc ẩn danh để bảo vệ quyền của người cấp tin trong nghiên cứu định tính, trong báo cáo này, chúng tôi không sử dụng tên thật của các thông tín viên mà chúng tôi phỏng vấn cũng như tên thật của hai buôn chúng tôi nghiên cứu

Trang 9

được hỏi đến khi nào hai vợ chồng tính sẽ trả hết các khoản nợ, chị, giống như nhiều người khác

ở cả buôn Biết, chỉ cười trừ kèm theo những cái lắc đầu khá tuyệt vọng Tuy nhiên, Ten khẳng định gia đình chị vẫn sẽ tiếp tục phải vay nếu có thể vay được, cho dù đó là các khoản vay với lãi suất có thể nói là cao “cắt cổ”, ngoài sức tưởng tượng của nhóm nghiên cứu Cuộc nói chuyện cho thấy, Ten nợ rất nhiều và dự định vẫn sẽ tiếp tục vay nợ, hay nói cách khác, gia đình chị ở vào tình trạng “nợ mà không sợ”

Các thách thức về kế mưu sinh, đặc biệt là vấn đề nợ với lãi suất cao, của gia đình chị Ten không phải cá biệt Tuy không có tài liệu thống kê chính thức về hiện trạng nợ từ các cơ quan chức năng ở địa phương, cũng như không thể tiếp cận được với sổ ghi nợ của các “con buôn” ở đầu làng, song hầu hết tất cả các hộ gia đình mà chúng tôi phỏng vấn đều khẳng định rằng, số gia đình ở buôn Biết, thậm chí là toàn xã Yang Tao của huyện Lăk không phải vay nợ với số lượng lớn và xấu như gia đình nhà Ten chỉ đếm trên đầu ngón tay Hiện trạng nợ lớn và nợ xấu như vậy cũng phổ biến hầu hết các gia đình ở buôn Ban, một thôn buôn của người Cơ Ho và người Mạ, nằm cách xa buôn Biết khoảng 150 km, thuộc một huyện của tỉnh Lâm Đồng, mà chúng tôi chọn làm điểm nghiên cứu để so sánh Rộng hơn nữa, theo một nghiên cứu mới hoàn thành của Lê Hồng Lý và các cộng sự (2014), vấn đề nợ với lãi suất cao cũng phổ biến ở hầu hết các buôn làng người dân tộc thiểu số tại chỗ của 5 tỉnh Tây Nguyên.3

Nhiều nghiên cứu dân tộc học, văn hoá học và sử học đã chỉ ra rằng, trong lịch sử của các cộng đồng buôn làng ở Tây Nguyên, vấn đề vay/ nợ không phải là một hiện tượng mới mẻ trong đời sống kinh tế - xã hội và văn hoá của các tộc người thiểu số tại chỗ ở địa bàn (Bùi Minh Đạo

2011, Lê Hồng Lý và các cộng sự 2014) Tuy nhiên, tính chất và mức độ vay nợ, đặc biệt là việc sẵn sàng vay các khoản nợ với lãi suất rất cao, của hầu hết tất cả các gia đình như trường hợp của

vợ chồng Ten và hàng nghìn hộ gia đình tộc người thiểu số tại chỗ khác, có thể nói, là hiện tượng mới chỉ diễn ra khoảng chục năm gần đây Thú vị hơn, nếu so sánh hành vi kinh tế đầy rủi ro này với triết lý sinh kế truyền thống của người nông dân Tây Nguyên nói riêng và ở châu Á nói chung như Jame Scott (1976) đã chỉ ra thì đây là điều khá “bất thường” Bởi vì, theo Jame Scott

trong cuốn sách nổi tiếng The Moral Economy of the Peasants [Nền kinh tế duy tình của người

nông dân], người nông dân, dù là nhóm tộc người nào, dù sinh sống ở miền núi hay đồng bằng, những người sống cận kề ở ngưỡng sinh tồn, đều tuân thủ nguyên lý “an toàn là trên hết” (safety first) trong hoạt động sinh kế của gia đình và cộng đồng Theo đó, người nông dân luôn có xu hướng tìm cách tránh bất cứ hành vi nào, chẳng hạn như du nhập giống cây mới có giá trị kinh tế cao hay vay nợ với lãi suất để sản xuất cao, những hành vi có thể tạo ra sự rủi ro về an ninh lương thực, đẩy tình trạng kinh tế của gia đình xuống dưới ngưỡng sinh tồn

Các cuộc phỏng vấn sâu và điều tra hộ cho thấy, hiện tượng vay nợ nói riêng và sự khó khăn về kinh tế nói chung ở buôn Biết và các buôn khác mà chúng tôi nghiên cứu không thể giải thích như là hệ quả trực tiếp của việc “không biết tính toán làm ăn”, “lười biếng” bởi nhiều người có khả năng tính toán tốt, có sức khoẻ và chăm chỉ trong lao động sản xuất, ví dụ như trường hợp của vợ chồng Ten, vẫn phải gánh một khoản nợ khá lớn Vấn đề nợ ở đây cũng

3 Gần đây, hiện trạng nợ xấu và sự phổ biến của vấn đề này ở vùng các tộc người thiểu số tại chỗ Tây Nguyên cũng

đã được một số báo phản ánh, chẳng hạn như: tra-con-bo o-tay-nguyen.html

http://vietnamnet.vn/vn/tuanvietnam/264979/ganh-no vay-cap-sung http://vietnamnet.vn/vn/tuanvietnam/265148/viet-nam-va chuoi-gia-tri roi-rac.html

phan-nguoi-385448.bld

http://laodong.com.vn/phong-su/nguoi-dan-tay-nguyen-oan-minh-cong-tin-dung-den-nhung-khoan-vay-dai-suot-ca-http://epaper.laodong.com.vn/2015/LD234/#5/z (báo giấy)

Trang 10

không thể là hệ quả trực tiếp của các thực hành văn hoá “gây lãng phí”, bởi 97% số hộ dân ở buôn Biết đều theo đạo Tin Lành và vì vậy việc uống rượu, hút thuốc hay các thực hành văn hoá tín ngưỡng đòi hỏi cần những chi phí lớn về tiền bạc hầu như bị cấm

Tư liệu thực địa, bao gồm các phỏng vấn sâu và điều tra định lượng cho thấy, khác với Tây Nguyên, vấn đề nợ, đặc biệt là nợ xấu không ở vào hiện trạng trầm trọng Thêm vào đó, tỉ lệ

nợ xấu, nợ không có khả năng chi trả ở Thái Nguyên và Sơn La cũng khác nhau Trong báo cáo này, chúng tôi sẽ tập trung trình bày và phân tích những nguyên nhân dẫn đến sự khác biệt này Chúng tôi cho rằng, những nhân tố quan trọng tạo ra sự khác biệt giữa các vùng nằm ở chỗ, trong quá trình chuyển đổi, các tộc người thiểu số ở Sơn La và Thái Nguyên vẫn có được những điều kiện để các dàn xếp văn hoá, xã hội và kỹ thuật của nền kinh tế đạo đức (moral economy) trong các chiến lược tránh rủi để đảm bảo sự tồn tại trên ngưỡng sinh tồn Dàn xếp kỹ thuật quan trọng nhất ở hai cộng đồng tại Thái Nguyên và Sơn La là mô hình đa dạng sinh kế để “lấy ngắn nuôi dài”, và “mất cái này còn được cái kia” Ở khía cạnh dàn xếp văn hoá và xã hội, tuy cả hai cộng đồng đều tham gia một cách mạnh mẽ vào nền kinh tế thị trường, song các hình thức tương trợ/trợ giúp xã hội trong hoạt động sinh kế cổ truyền vần còn có vai trò nhất định trong các hoạt động sinh kế Thêm vào đó, cấu trúc thị trường, điều kiện và môi trường tự nhiên cũng như các chính sách hỗ trợ phát triển của chính quyền địa phương ở hai địa bàn này cũng làm cho sự chuyển đổi sinh kế diễn ra thuận lợi hơn so các vùng tộc người thiểu số tại chỗ ở Tây Nguyên

Trong nghiên cứu này, chúng tôi tập trung tìm hiểu 5 vấn đề nghiên cứu sau: 1) Tại sao các tộc người thiểu số tại chỗ Tây Nguyên và phía Bắc lại thực hiện các hành vi sinh kế đầy rủi

ro, đặc biệt là vay nợ với lãi suất cao? 2) Hiện trạng nợ của các gia đình, bao gồm mức độ, loại hình, khả năng chi trả, vv đang như thế nào? 3) Các chiến lược chi trả của họ là gì? (4) Và quan trọng hơn, việc vay nợ dẫn đến hệ quả kinh tế- xã hội và văn hoá nào? (5) Tại sao lại có sự khác biệt về bản chất nợ ở hai đia bàn nghiên cứu

Tại Tây Nguyên, tư liệu phỏng vấn định tính và khảo sát định lượng được tiến hành trong tháng 6 năm 2015 cho thấy, vấn đề nợ của các gia đình đang ở mức khá trầm trọng, với các khoản nợ không thể trả khá lớn Khác với các diễn ngôn chính thống, nợ xấu ở các tộc người thiểu số tại chỗ địa hai địa bàn nghiên cứu không phải do “người dân tộc không biết tính toán làm ăn” mà là hậu quả của sự chuyển đổi sinh kế từ nền kinh tế tự cấp tự túc sang sản xuất nông nghiệp hàng hoá kinh tế thị trường Khác với các hoạt động sinh kế ‘duy tình” cổ truyền được vận hành theo “đạo lý tự cấp tự túc” với hàng loạt các dàn xếp văn hoá - xã hội và kỹ thuật đi kèm nhằm đảm bảo sự chủ động trong sản xuất, việc chuyển sang trồng cà phê và ngô đã làm cho người dân bị phụ thuộc hoàn toàn vào thị trường bên ngoài cả ở khía cạnh đầu vào và đầu ra của sản phẩm Với xuất phát điểm là những người nông dân không có tích luỹ về tài chính, và trong bối cảnh hệ thống tín dụng của nhà nước không hỗ trợ được nhiều, để có thể trồng ngô, trồng cà phê và lúa lai, các hộ gia đình đã phải tìm đến các hệ thống tín dụng phi chính thống với lãi suất cao để có vốn sản xuất Tỉ lệ lãi suất cao từ các khoản vay bắt buộc cho đầu vào, sự rủi ro của thời tiết, cùng với sự bị động, phụ thuộc lớn vào thị trường bên ngoài cho đầu ra của sản phẩm, đã tạo ra sự mất cân bằng giữa giá trị kinh tế thu được từ cà phê và ngô so với chi phí phải

bỏ ra để mua phân bón và các loại đầu vào khác Sự mất cân đối này đã làm cho tình trạng nợ của gia đình, kể cả đối với các hộ có ít hoặc nhiều đất sản xuất, tích tụ, dồn từ năm này sang năm khác

Tại phía Bắc, tư liệu thực địa, bao gồm các phỏng vấn sâu và điều tra định lượng cho thấy, khác với Tây Nguyên, vấn đề nợ, đặc biệt là nợ xấu không ở vào hiện trạng trầm trọng Thêm vào đó, tỉ lệ nợ xấu, nợ không có khả năng chi trả ở Thái Nguyên và Sơn La cũng khác

Trang 11

nhau Trong báo cáo này, chúng tôi sẽ tập trung trình bày và phân tích những nguyên nhân dẫn đến sự khác biệt này Chúng tôi cho rằng, những nhân tố quan trọng tạo ra sự khác biệt giữa các vùng nằm ở chỗ, trong quá trình chuyển đổi, các tộc người thiểu số ở Sơn La và Thái Nguyên vẫn có được những điều kiện để các dàn xếp văn hoá, xã hội và kỹ thuật của nền kinh tế đạo đức (moral economy) trong các chiến lược tránh rủi để đảm bảo sự tồn tại trên ngưỡng sinh tồn Dàn xếp kỹ thuật quan trọng nhất ở hai cộng đồng tại Thái Nguyên và Sơn La là mô hình đa dạng sinh kế để “lấy ngắn nuôi dài”, và “mất cái này còn được cái kia” Ở khía cạnh dàn xếp văn hoá

và xã hội, tuy cả hai cộng đồng đều tham gia một cách mạnh mẽ vào nền kinh tế thị trường, song các hình thức tương trợ/trợ giúp xã hội trong hoạt động sinh kế cổ truyền vần còn có vai trò nhất định trong các hoạt động sinh kế Thêm vào đó, cấu trúc thị trường, điều kiện và môi trường

tự nhiên cũng như các chính sách hỗ trợ phát triển của chính quyền địa phương ở hai địa bàn này cũng làm cho sự chuyển đổi sinh kế diễn ra thuận lợi hơn so các vùng tộc người thiểu số tại chỗ

ở Tây Nguyên

II Hành vi sinh kế của người nông dân: Lựa chọn duy lý VS kinh tế duy tình

Sinh kế, theo nghĩa đơn giản nhất, là “cách kiếm sống” Vì vậy, thuật ngữ này hàm chỉ các khả năng, tài sản, và các hoạt động cần thiết để kiếm sống (Chambers và Conway 1991: 5-6) Với nghĩa là cách thức mưu sinh, sinh kế không chỉ thu hút được sự quan tâm của các nhà kinh tế học mà còn là chủ đề được nhiều ngành khoa học xã hội khác tìm hiểu, đặc biệt là nhân học, ngành học nghiên cứu về tính toàn diện và sự đa dạng của con người trên các khía cạnh khác nhau Với việc nghiên cứu và miêu tả các phương thức mưu sinh để từ đó tìm ra các tương đồng hay dị biệt trong sinh kế của các dân tộc, tìm hiểu lịch sử phát triển của chiến lược tìm kiếm thực phẩm của con người hay tìm ra các quy luật gắn với dạng thức kinh tế này (Lewis Henry Morgan, Leslie White, Julian Steward) Các phương thức sinh kế của các dân tộc trên thế giới vào thời tiền công nghiệp rất đa dạng, bao gồm săn bắt hái lượm, nông nghiệp quảng canh, nông nghiệp thâm canh, và chăn nuôi Đây là các cơ sở kinh tế hình thành nên các đặc trưng văn hóa –

xã hội tương ứng của các tộc người Các hình thức tổ chức xã hội dựa trên các loại hình kinh tế này tiếp tục cho đến thời hiện đại và sự tương tác của chúng với sự tiến bộ khoa học của thời đại lại trở thành một khuynh hướng nghiên cứu phổ biến Do vậy, không ngạc nhiên khi các công trình nghiên cứu về sinh kế chủ yếu tập trung vào các cộng đồng nông dân (theo nghĩa peasants), các bộ lạc chăn nuôi trồng trọt hay các nhóm người sống bằng săn bắt hái lượm trong quá khứ và hiện tại (xin xem Oswalt 1976, Fitzhugh and Habu 2002, Morrison and Junker 2002, Burling

1965, Winterhalder and Smith 1981, Chou 2003, Swift 1965, Potter, Diaz và Foster 1967)

Đóng vai trò là cơ sở nền tảng cho các đặc trưng xã hội, đặc biệt là ở các xã hội đang hay chậm phát triển, các xã hội chưa phụ thuộc nhiều vào khoa học công nghệ để thích nghi với tự nhiên, sinh kế cũng là một chủ đề quan trọng trong nghiên cứu phát triển bắt đầu thời kỳ sau chiến tranh thế giới lần II Trong giai đoạn đầu của các nghiên cứu phát triển, khi nghiên cứu các cộng đồng bị ngoài lề hóa, đối tượng của các chương trình phát triển, các nghiên cứu thường tập trung tìm hiểu các điều kiện của các cộng đồng này thông qua việc bị “tước đoạt” các khía cạnh văn hóa, xã hội, chính trị, kinh tế, và thể chế Tuy nhiên hướng tiếp cận này lại bị chỉ trích là bỏ

qua năng lực chủ thể (agency) khi xem các cộng đồng bị ngoài lề hóa này đơn thuần chỉ như là

những nạn nhân của các quá trình toàn cầu Hướng tiếp cận sinh kế được xem là khuynh hướng

có thể khắc phục được vấn đề này Một trong những đặc điểm quan trọng của hướng tiếp cận

Trang 12

sinh kế là tập trung vào tài sản (assets) của con người bao gồm vốn thể lý (tài sản cố định hữu

hình như máy móc, nhà xưởng, phương tiện…), tự nhiên, tài chính, con người, xã hội và chính trị Hướng tiếp cận này xem xét con người sử dụng các loại tài sản này để giải quyết các vấn đề của họ như thế nào (Eswarappa 2007:13)

Trong các khuôn khổ nghiên cứu phát triển, hướng tiếp cận sinh kế bền vững là một chủ

đề trung tâm Sinh kế bền vững được hiểu là có khả năng đối phó với và phục hồi sau những đợt khủng hoảng và các cú sốc, duy trì và tăng cường các khả năng và tài sản và cung cấp các cơ hội sinh tồn bền vững cho thế hệ sau và góp phần cho lợi ích thực của các sinh kế khác ở cấp độ địa phương và toàn cầu ngắn hạn và dài hạn (Chamber và Conway 1991:6) Nhóm tác giả đã cho là sinh kế bền vững là một khái niệm thực tiễn của thế kỷ 21 Khái niệm bền vững được xem xét cả

ở lĩnh vực môi trường và xã hội Phân tích trong khuôn khổ sinh kế bền vững, Frank Ellis (1999) với mối quan tâm về sự đa dạng sinh kế như một chiến lược sinh tồn của các hộ nông dân ở vùng nông thôn của các nước đang phát triển Theo tác giả, chiến lược này không thường được các nhà chính sách phát triển quan tâm trong khi đây là chiến lược bền vững theo thời gian vì nó là một

sự thích nghi tích cực với các hoàn cảnh thay đổi Tuy nhiên, tác giả cũng lưu ý là sự đa dạng sinh kế này chỉ tác dụng mạnh trong bối cảnh có sự thay đổi theo mùa cao, rủi ro cao, vắng bóng thị trường, cơ sở hạ tầng kém, diện tích canh tác suy giảm, và các yếu tố bất lợi tương tự Tiến trình phát triển từ mức sống thấp lên mức sống cao cũng dẫn đến với sự chuyển từ đa dạng sang chuyên môn hóa Tuy nhiên hai trạng thái này không đối lập với nhau mà tùy theo ở cấp độ cá nhân, hộ gia đình hay tổ chức xã hội lớn hơn Ashley and Carney (1999) cho là sinh kế bền vững

là cách suy nghĩ về mục tiêu, phạm vi, và các ưu tiên cho phát triển để gia tăng tiến triển trong giảm nghèo

Do sinh kế là một cách thức đảm bảo sự sinh tồn cho con người nên một khi thay đổi sinh

kế sẽ ảnh hưởng đến sự sinh tồn này Vì vậy, sự thay đổi sinh kế này một khi kết quả chưa thể lường trước được hay chưa được bảo đảm, thử nghiệm thì nó đồng nghĩa với hành vi chấp nhận rủi ro

Trong các ngành khoa học xã hội, được biết đến rộng rãi trong ngành nhân học và xã hội

học, có hai quan điểm tiếp cận chính để lý giải các về hành vi chấp nhận rủi ro trong sinh kế của người làm nông Quan điểm thứ nhất cho là nông dân là những người chấp nhận rủi ro Dựa trên

quan điểm của kinh tế học tân cổ điển (neoclassic economics) về bản chất tối đa hóa lợi nhuận

của con người, các nhà thuyết sự chọn lựa duy lý (rational choice) cho là hành vi của con người

bao giờ cũng có mục đích, đó là hướng tới việc tối đa hóa lợi ích bản thân, giảm thiểu chi phí, và quan tâm đến xác suất thành công của những hành động khác nhau Lý thuyết này về sau được

áp dụng và phổ biến trong các ngành khoa học xã hội khác chẳng hạn như nhân học, xã hội học

và khoa học chính trị để giải thích về hành vi của con người qua một số lý thuyết như social choice (lựa chọn xã hội), public choice (sự lựa chọn chung), và game theory (thuyết trò chơi) Tiền đề quan trọng của thuyết sự chọn lựa duy lý đó là (a) những chủ thể hành động bị chi phối bởi sự tối đa hóa lợi ích cá nhân không bị cản trở bởi những yếu tố khác và những quy tắc xã hội; (b) các chủ thể hành động không tình cảm (emotional), không phi lý (irrational), không bốc đồng (impulsive), và không quen thói (habitual) trong chọn lựa mà họ luôn hành động một cách duy lý [Zey 2001, tr.12751]

Áp dụng lý thuyết này vào trường hợp Việt Nam, công trình The Rational Peasant (1979) của Samuel Popkin với cách tiếp cận political economy (kinh tế chính trị) xem nông dân Việt

Nam là những người luôn sẵn sàng nắm bắt cơ hội và chấp nhận rủi ro để tăng mức sinh tồn

Trang 13

(subsistence) mặc dù là họ nghèo và sống cận với mức sinh tồn và luôn “quan tâm đến sự sinh tồn của họ” [Popkin 1979, tr.18-20] Nông dân là những cá nhân tư lợi (self-interested) [Popkin

1979, tr 29] Popkin cho là nông dân “thường sẵn sàng đánh cuộc vào các cải tiến khi vị trí của

họ được đảm bảo không bị thất bại và khi thành công đó có thể cải thiện vị trí của họ một cách

có thể đo lường được” [Popkin 1979, tr 21] Lý do họ tham gia thị trường không phải vì đây là giải pháp cuối cùng mà nó là một đáp ứng với “những cơ hội mới” vì thị trường và sự can thiệp của chính quyền trong một số tình huống có thể gia tăng phúc lợi của nông dân tầng lớp thấp Những cơ hội này vốn trước đây là đặc quyền của các địa chủ lớn và những người bảo trợ [Popkin 1979, tr.33] Trong quan điểm kinh tế chính trị của Popkin, khái niệm tư lợi được mở rộng hơn so với kinh tế học tân cổ điển khi cho là các cá nhân không chỉ đơn thuần quan tâm đến hàng hóa vật chất hay thu nhập tiền bạc Tính duy lý đó là “các cá nhân đánh giá các kết quả có thể theo từng chọn lựa của họ dựa trên những giá trị và sở thích của họ” Họ sẽ chọn lựa quyết định nào mà họ tin là sẽ “tối đa hóa lợi ích mong đợi của họ” một cách tư lợi mà mối quan tâm hàng đầu của nông dân là sự “thịnh vượng và an toàn của bản thân và gia đình” [Popkin 1979, tr 31]

Trái với quan điểm thứ nhất, quan điểm thứ hai cho là nông dân là những người tránh rủi

ro Kinh tế học nông nghiệp của Ellis và Kinh tế đạo đức (Moral economy) của Scott điển hình

cho hướng tiếp cận này Kinh tế học nông nghiệp khi nghiên cứu về hành vi chấp nhận rủi ro của nông dân đã quan tâm đến những điều kiện chi phối quá trình tối đa hóa lợi nhuận của họ Theo

đó, rủi ro và bất ổn là những điều kiện quan trọng Quan điểm này cho là “ở các nước đang phát triển, mức độ bất ổn cao là đặc trưng đời sống của các hộ gia đình nông dân” [Ellis 1993, tr.82] Các mối bất ổn này bao gồm thời tiết, thị trường, thông tin, và chính sách nhà nước Tình trạng bất ổn này có thể dẫn đến những bối cảnh: không có sự đối đa hóa lợi ích, không sẵn lòng hay chấp nhận cải tiến (tính bảo thủ của nông dân), nguyên nhân tồn tại nhiều hoạt động nông nghiệp cùng lúc chẳng hạn như đa canh như là một hình thức để đáp ứng với sự bất ổn, và củng cố phân hóa xã hội giữa nông dân nghèo và nông dân khá giả [Ellis 1993, tr 82-83] Do vậy, cách tiếp cận này tập trung vào chủ đề tránh hiểm họa như là mục tiêu trung tâm của nông dân hơn là sự tối đa hóa lợi ích trong bối cảnh ổn định [Ellis 1993, tr.86] Trên cơ sở cho là đặc trưng xã hội của nông dân có nhiều bất ổn, cách tiếp cận kinh tế học nông dân thường tập trung chủ yếu vào vấn đề nông dân tránh rủi ro và những chính sách cần thiết khắc phục tình trạng này để gia tăng hiệu quả sản xuất [Ellis 1993, tr 95-96]

Khác với cách tiếp cận duy lý của Popkin (1979) và cùng quan điểm nông dân là những

người tránh rủi ro với Ellis (1993), Jame Scott (1976) với cách tiếp cận moral economy (kinh tế

đạo đức) cho là những nông dân sống ở cận ngưỡng sinh tồn là những người tránh rủi ro “Sống cận ngưỡng sinh tồn và phụ thuộc vào sự thất thường của thời tiết và sự đòi hỏi của người bên ngoài, hộ nông dân không có cơ hội cho sự tính toán tối đa hóa lợi ích theo truyền thống của kinh

tế học tân cổ điển truyền thống” [Scott 1976, tr 4] Sống dưới mức sinh tồn không chỉ là “vấn đề

là có nguy cơ chết đói mà về mặt văn hóa và xã hội nó là sự chịu đựng một mất mát sâu sắc về vị trí trong cộng đồng và có thể mãi mãi sống trong tình trạng phụ thuộc” [Scott 1976, tr.9] Chính

vì sống cận ngưỡng sinh tồn nên nỗi sợ thiếu lương thực là nguồn gốc tồn tại của “subsistence ethic” (đạo đức sinh tồn) Cách sử dụng kỹ thuật (canh tác nhiều loại giống, kỹ thuật canh tác và hoạch định thời gian) và các dạng thức xã hội (các hình thức tương hỗ, tính hào phóng bắt buộc, đất công, và sự chia xẻ công việc đều có cùng mục đích giúp nông dân có thu nhập ổn định và giúp họ vượt qua những lúc khó khăn, đảm bảo mức sinh tồn tối thiểu [Scott 1976, tr 2-5]

Trang 14

Theo hướng tiếp cận của Scott, trong ví dụ về trường hợp Việt Nam, cộng đồng làng xã tiền tư bản được nhìn nhận như một thiết chế để “giảm thiểu rủi ro” trong bối cảnh kỹ thuật hạn chế và thiên nhiên thất thường [Scott 1976, tr.9] Nguyên tắc của nông dân đó là an toàn là trên hết Với nguyên tắc này nông dân thích một tình huống có thu nhập thấp nhưng đủ và an toàn hơn là một tình huống có xác suất thu nhập cao nhưng lại có nguy cơ rơi xuống dưới ngưỡng sinh tồn Chẳng hạn như, những người luôn quan tâm đến sự sinh tồn thì sẽ ưa thích mức thuế và thuê ruộng có thể linh động được hơn là mức cố định mà sẽ nặng nề vào những năm thất bát [Scott 1976, tr 46-50] Sản xuất nông nghiệp cho thị trường có thể đem lại nhiều lợi nhuận hơn

là sản xuất tự cung tự cấp nhưng cũng gia tăng khả năng rơi xuống ngưỡng nguy hiểm nên sản xuất sinh tồn vẫn là ưu tiên của người nông dân [Scott 1976, tr 23] Theo Scott, nguyên tắc an toàn trên hết không có nghĩa là nông dân không bao giờ chấp nhận rủi ro Khi nào những cải tiến

về mùa màng, hạt giống, kỹ thuật canh tác hay sản xuất cho thị trường mà chứng tỏ có lợi nhiều hơn nhưng ít hoặc không có rủi ro tới an ninh sinh tồn thì người nông dân sẵn sàng tham gia Vì

vậy, quan điểm kinh tế học sinh tồn của Scott chỉ áp dụng đối với “những nông dân có thu nhập

rất thấp, ít đất đai, gia đình đông đúc, hoa lợi biến động cao, và chỉ có ít cơ hội bên ngoài”

[Scott 1976, tr 24-25) Những nông dân này có thu thập thấp và ở cận ngưỡng sinh tồn vì thế chỉ một rủi ro nhỏ đối với thu nhập của họ cũng đủ đe dọa cuộc sống của họ Nguyên tắc của những nông dân này là “an toàn là trên hết” và “tránh rủi ro” Đối với những nông dân “có thu nhập cao, đất đai nhiều, quy mô gia đình nhỏ, hoa lợi ổn định, và nhiều cơ hội bên ngoài” thì nguyên tắc an toàn trên hết và những dạng thức xã hội dựa trên đạo đức sinh tồn sẽ không phù hợp

Như vậy, theo cách tiếp cận đạo đức, đối với nông dân sống cận ngưỡng sinh tồn thì nhu cầu sinh tồn là mối quan tâm quan trọng nhất Nhu cầu này là nền tảng chi phối hành vi của nông

dân, khiến cho họ không chấp nhận rủi ro Nhiều công trình khác nghiên cứu về nông dân Việt

Nam và Đông Nam Á cũng chia sẻ quan điểm này

McElwee (2007) xuất phát từ những tiền đề của Kinh tế đạo đức của Scott (1976) đã tái khẳng định những nhận định của Scott khi nghiên cứu về nông dân Việt Nam trong bối cảnh thị trường thế giới Những thay đổi theo lịch sử đặc biệt là chính sách “giải tập thể”, nền kinh tế tân

tự do và thị trường thế giới dễ đưa đến dự đoán là các nông dân “tối đa hóa sản xuất hàng hóa của họ một cách duy lý” để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ Nhưng kết quả nghiên cứu của McElwee

về người nông dân Hà Tĩnh lại cho thấy là họ “dường như vẫn có những quyết định ‘phi lý’ về việc họ sẽ trồng cái gì Quyết định đưa ra của nông dân về vấn đề này không dựa trên giá cả của cây trồng hay năng suất mà dựa trên việc “họ thích ăn cái gì và cái gì đã trồng từ trước đến giờ” [McElwee 2007, tr 58] Đa số nông dân quyết định không chuyển từ trồng lúa có năng suất thấp sang trồng bắp lai vốn hứa hẹn một thu nhập cao hơn Tính toán của nông dân vùng Cẩm Xuyên,

Hà Tĩnh đó là “lúa là loại cây họ biết rõ nhất phải canh tác ra sao, luôn có thị trường do nhà nước đảm bảo, và là thứ mọi người thích ăn nhất” [McElwee 2007, tr.78] Cho nên, mặc dù gặp khó khăn trong sản xuất lúa và một tiềm năng có nhiều thu nhập khi sản xuất mùa màng thương mại (cash crop) nhưng cây lúa vẫn chiếm vị trí độc tôn đối với người dân ở Cẩm Xuyên Theo McElwee, đây có thể xem là hành vi kinh tế phi lý như Scott đã đề cập vì so với những nguồn thu nhập khác như chăn nuôi, lâm sản, rau màu thì trồng lúa tại đây thu nhập không cao Quan điểm của Scott đó là nông dân ưa thích “vụ mùa để ăn hơn là vụ mùa để bán, thiên về áp dụng nhiều chủng loại hạt giống để phân tán rủi ro, thích sự đa dạng trong trồng trọt tuy năng suất không cao nhưng ổn định” [McElwee 2007, tr.23] Do vậy, tại Cẩm Xuyên tồn tại nhiều khía cạnh của kinh tế đạo đức thể hiện trong quan hệ xã hội địa phương và quyết định kinh tế Nông dân trong công trình này là những người “chi hầu như mọi thứ họ kiếm được, và đa số sống rất cận ngưỡng nghèo” [McElwee 2007, tr.66] Chính vì vậy “tương hỗ là hành động xã hội”, “tái

Trang 15

phân phối thu nhập là nghĩa vụ xã hội”, “tránh rủi ro là chiến lược xã hội”, “phụ thuộc vào đất công là quyền xã hội” là những đặc trưng của cộng đồng nông dân Hà Tĩnh [McElwee 2007, tr.68-86]

Tương tự như vậy, liên quan đến mối quan hệ giữa mức sinh tồn và hành vi chấp nhận rủi

ro, Wharton (1971, 1971a) trong công trình nghiên cứu của mình cho là mức sống sinh tồn tối thiểu rất quan trọng đối với nông dân trong việc quyết định liệu họ có chấp nhận rủi ro hay không, cụ thể là việc áp dụng các cải tiến kỹ thuật trong canh tác Theo Wharton, người nông dân càng ở cận ngưỡng sinh tồn thì sẽ càng bảo thủ và cải tiến được đưa ra càng xa lạ thì họ càng

dè dặt [Wharton 1971, tr.571] và họ chỉ chấp nhận cải tiến khi được thuyết phục là phương thức cải tiến mới không chỉ tốt hơn mà còn đáng tin cậy hơn, và kết quả dù có tiêu cực của nó vẫn khiến cho nông dân có kết quả tốt hơn so với phương pháp cũ thì họ mới chấp nhận cải tiến Do vậy, Wharton cho là phân tích này có thể giải thích cho sự phân hóa trong việc tiếp cận cải tiến

kỹ thuật giữa các nông dân, hiệu ứng hàng xóm không có tác dụng, có sự đa dạng trong canh tác giữa lương thực chính và lương thực phụ và cải tiến kỹ thuật chỉ áp dụng ở lương thực phụ (đặc biệt là sản xuất thị trường), cho mùa màng thương mại,và cho những loại cây trồng mới trong khi vẫn duy trì kỹ thuật truyền thống đối với lương thực chính đã có tính ổn định [Wharton 1971, tr 572-573], [Wharton 1971a, tr.170] Như vậy, trong nghiên cứu của Wharton, tiêu chuẩn sinh tồn tối thiểu là yếu tố quan trọng dẫn đến hành vi chấp nhận rủi ro

Như vậy, cách lý giải về hành vi chấp nhận rủi ro trong hoạt động sinh kế của người nông dân châu Á giữa Scott và Popkin dựa trên những tiền đề khác nhau về bản chất hành vi của nông dân Mỗi cách tiếp cận đã có cách lý giải riêng biệt Công trình của Popkin được xây dựng dựa trên việc bác bỏ quan điểm kinh tế đạo đức của Scott về hành động chính trị của nông dân Việt Nam Cách mạng là một hành động tập thể có tính rủi ro Đối với Scott, cuộc nổi dậy của nông dân Việt Nam là một hành động tự vệ do chủ nghĩa tư bản đã vi phạm đến “subsistence right” (quyền sinh tồn) mà nông dân có được với các thiết chế trong xã hội tiền tư bản [Scott 1976, tr.6] Người nông dân trong công trình của Scott là những người tránh rủi ro do họ ở cận ngưỡng sinh tồn; và khi họ ở cận ngưỡng sinh tồn có tồn tại một đạo đức sinh tồn đảm bảo cho cuộc sống của họ không bị chết đói; và khi quyền sinh tồn của họ bị vi phạm họ thì họ sẽ chấp nhận rủi ro

để bảo vệ quyền sinh tồn này Trong khi đối với Popkin, cuộc nổi dậy của nông dân Việt Nam được coi như kết quả tổng hợp hành động của các cá nhân duy lý trên sự tính toán cho lợi ích cá

nhân Các yếu tố người lãnh đạo chính trị (political entrepreneurs), các hệ thống khích lệ (incentive systems), vấn đề người không làm mà hưởng (free-riders) và rủi ro là những yếu tố

quan trọng dẫn đến kết quả hành động tập thể đó [Popkin 1979, tr.245]

Đối với việc xem xét hành vi sinh kế và vấn đề nợ của các tộc người thiểu số tại chỗ Tây Nguyên và phía Bắc, chúng tôi thấy cách tiếp cận của cả Jame Scott trong đó nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc xem xét hành vi sinh kế của người nông dân trong bối cảnh kinh tế, chính trị

và xã hội [ở một khía cạnh nào đó là văn hoá] cụ thể nơi họ đang sống là khá phù hợp Hành vi sinh kế của người Tây Nguyên, như sẽ phân tích ở các phần tiếp sau, trong xã hội trước đây cũng như trong đời sống đương đại, đều bị ràng buộc bởi các điều kinh kinh tế và xã hội cụ thể Nếu như trong xã hội trước đây, do thời tiết và điều kiện môi trường cụ thể ở địa bàn có thể đẩy họ xuống dưới ngưỡng sinh tồn, và vì vậy, họ đã phải xây dựng các cách ứng xử cụ thể để duy trì mức sống trên ngưỡng này, thì trong bối cảnh đương đại, nơi không cho phép họ thực hành các

mô thức sinh kế truyền thống đề đảm bảo an ninh lương thực cho gia đình, thì việc chuyển đổi sang hệ cây trồng mới cũng có thể coi là một cách ứng xử có bản chất tương tự

Trang 16

III PHƯƠNG PHÁP LUẬN

Trong quá trình thực hiện nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng 2 phương pháp nghiên cứu chính để thu thập tư liệu, bao gồm phương pháp nghiên cứu định tính, kết hợp giữa phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm và điều tra định lượng hộ gia đình Ngoài ra, chúng tôi cũng sử dụng phương pháp phân tích tư liệu để đối chiếu, so sánh Trong quá trình viết báo cáo, nguồn tư liệu thực địa, bao gồm phỏng vấn định tính và điều tra định lượng hộ gia đình, được coi là nguồn tư liệu ưu tiên Tại Tây Nguyên, ngoài tư liệu định tính được thu thập từ đợt nghiên cưú được tiến hành từ ngày, 28/6 đến ngày 14 tháng 7 năm 2015, chúng tôi cũng sử dụng tư liệu từ các cuộc phỏng vấn tại buôn Ban được thực hiện trong hai năm 2013-2014

Tuân thủ nguyên tắc mang tính phương pháp luận là tìm các cộng đồng có sự tham gia mạnh mẽ vào quá trình sản xuất nông sản hàng hóa để nghiên cứu, chúng tôi làm việc với chính quyền cấp huyện để tìm hiểu về bức tranh sản xuất nông nghiệp hàng hóa tại địa phương và qua các thông tin của cán bộ huyện cung cấp, chúng tôi chọn các xã nghiên cứu có các đặc điểm: có

sự chuyển đổi từ nông nghiệp canh tác nương rẫy với đặc trưng là năng suất thấp sang sản xuất nông nghiệp hàng hóa và có vay nợ để sản xuất

Ở bốn tỉnh được lựa chọn, sau khi tham khảo tư vấn của cán bộ chuyên trách cấp tỉnh, nhóm nghiên cứu lựa chọn tại mỗi tỉnh một huyện để đưa vào mẫu nghiên cứu Tương tự như vậy, ở cấp huyện, sau khi phỏng vấn cán bộ và tra cứu thông tin tổng hợp từ các báo cáo, nhóm nghiên cứu lựa chọn một xã để tiến hành điều tra thực địa Tại mỗi xã, hai thôn sẽ được lựa chọn đưa vào mẫu nghiên cứu dựa trên tiêu chí có đặc điểm đặc thù về dân số, xã hội và kinh tế của

3.1 Nghiên cứu định tính

Đối với phương pháp nghiên cứu định tính, điền dã dân tộc học, kết hợp giữa phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm và quan sát tham gia, đã được sử dụng để thu thập tư liệu Với mục đích đa dạng hoá nguồn thông tin, trong quá trình nghiên cứu thực địa tại Tây Nguyên, nhóm nghiên cứu

đã tiến hành phỏng vấn sâu 42 người, bao gồm 16 người M’nông, 10 K’ho, 9 Châu Mạ và 7 người Kinh thuộc nhiều nhóm đối tượng khác nhau Tại phía Bắc, nhóm nghiên cứu đã tiến hành

32 cuộc phỏng vấn sâu và trao đổi phi chính thức ở cả hai cộng đồng, bao gồm 12 người Dao, 15 người Thái và 5 người Kinh

Nguyên tắc tiến hành phỏng vấn định tính của chúng tôi là sau khi đã có các cuộc phỏng vấn chiến lược với các cấp chính quyền liên quan và cấp thôn, chúng tôi tiến hành các cuộc phỏng vấn với những người am hiểu về phong tục tập quán và lịch sử của cộng đồng để có cái nhìn khái quát về lối sống, quan niệm sống của người dân, và lịch sử quá trình chuyển đổi sinh

kế của cộng đồng Trên cơ sở đã nắm thông tin tổng quan về cộng đồng, chúng tôi tập trung vào tìm hiểu các thông tin về quá trình thực hành sinh kế của các hộ gia đình, chú trọng đến vấn đề tín dụng của hộ gắn với quá trình này Chúng tôi chọn các hộ có sự khác biệt về diện tích canh tác và về thực hành tín dụng để phỏng vấn Theo đó, nhóm đối tượng thứ nhất là các cán bộ có liên quan trực tiếp đến các chương trình phát triển kinh tế- xã hội, đặc biệt là cán bộ tín dụng và các nhà kinh tế nông nghiệp cấp ở cấp huyện, cấp xã và cấp thôn/buôn Ngoài việc tìm hiểu về hiện trạng chính sách phát triển kinh tế- xã hội đã và đang triển khai ở địa phương, các cuộc phỏng vấn nhóm đối tượng này cũng tập trung tìm hiểu về quan điểm cá nhân và thông tin về vấn đề nợ tại địa bàn

Một nhóm đối tượng quan trọng khác được lựa chọn phỏng vấn là những người dân của các buôn làng và các thôn Đối với các đối tượng này, nhóm nghiên cứu tiến hành cả phỏng vấn

Trang 17

sâu và thảo luận nhóm, sử dụng các câu hỏi đóng và mở Phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm các đối tượng này tập trung vào những vấn đề liên quan vấn đề đầu tư trong sản xuất nông nghiệp, những biến đổi trong thực hành văn hoá xã hội nói chung và lối sống nói riêng Ngoài ra, nhóm nghiên cứu cũng tìm hiểu những quan điểm, đề xuất, nguyện vọng của chính người dân đối với vấn đề tín dụng nói riêng và chính sách của nhà nước và địa phương trong phát triển kinh tế nói chung tại địa bàn

Các cuộc phỏng vấn được thực hiện bằng tiếng phổ thông Các cuộc trao đổi và phỏng vấn người dân không thông thạo tiếng Kinh được thực hiện thông qua sự giúp đỡ của các thông dịch viên là thành viên của chính các cộng đồng đó

Việc lựa chọn các đối tượng phỏng vấn được tiến hành theo phương pháp "bóng tuyết lăn", theo đó những người phỏng vấn trước sẽ giới thiệu các thông tín viên phù hợp cho các cuộc phỏng vấn tiếp theo Mỗi cuộc phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm thường kéo dài khoảng từ 45 đến 90 phút Các cuộc phỏng vấn đều được ghi chép và ghi âm với sự đồng ý của những người cung cấp tin Bên cạnh các bản ghi chép, toàn bộ số băng phỏng vấn sâu sau đó được gỡ để phục

vụ phân tích và viết báo cáo Tên của thông tín viên sẽ được mã hóa để đảm bảo nguyên tắc ẩn danh

3.2 Khảo sát định lượng

Hợp phần định lượng của nghiên cứu kết hợp phương pháp chọn mẫu có chủ định và ngẫu nhiên đơn giản Dựa trên danh sách các hộ gia đình của các thôn/bản, mẫu nghiên cứu đựa lựa chọn một cách ngẫu nhiên Để đủ số mẫu cho khảo sát định lượng, tùy vào tổng số lượng các

hộ có tại mỗi thôn chúng tôi chọn từ một đến hai thôn để khảo sát Cụ thể, tại huyện Lâm Hà chúng tôi chọn buôn Biết của xã Phú Sơn, tại huyện Lắk chúng tôi chọn buôn Ban của xã Yang Tao, tại huyện Võ Nhai, chúng tôi chọn thôn Ba Nhất của xã Phú Thượng và tại huyện Mai Sơn, chúng tôi chọn thôn Phiêng Khoài và Huổi Khoang Nội dung bảng hỏi bao gồm thông tin cơ bản

về tình hình hộ, lịch sử các khoản vay nợ của hộ trong năm qua, lý do vay nợ và tình trạng của khoản vay, thông tin về đầu tư và sản xuất của hộ, thông tin về tiêu dùng và phúc lợi của hộ Nghiên cứu định lượng được thực hiện bằng cách chọn mẫu ngẫu nhiên và chọn mẫu có chủ đích

Đối với cuộc khảo sát định lượng, chúng tôi mời đại diện các hộ dân đến theo giờ đã hẹn tại nhà văn hóa của mỗi thôn hay tại nhà cán bộ hội phụ nữ của thôn để thu thập thông tin tổng quan về hộ gia đình như nhân khẩu học, tình hình sản xuất, các loại tín dụng, các chính sách hỗ trợ người dân đang thụ hưởng…

Theo đó, tại Tây Nguyên, 56 hộ người Cơ Ho và Mnông được lựa chọn điều tra định lượng Trong các mẫu phỏng vấn định lượng, quy mô hộ gia đình trung bình 6 người/ một hộ Trong số các hộ được khảo sát có 77% có chủ hộ là nam Trình độ học vấn của các hộ này rất thấp với tỷ

lệ 91% chỉ học hết cấp 1 trong đó 33% chưa bao giờ đi học Lực lượng lao động của các hộ được khảo sát chiếm 54%, đa số làm trong lĩnh vực nông nghiệp

Tại phía Bắc, định mức lựa chọn mẫu hộ gia đình ở mỗi địa bàn cụ thể là 100 hộ gia đình cho mỗi xã, tương ứng với 50% tổng số hộ ở hai thôn tại Thái Nguyên và 70% tổng số hộ ở hai thôn tại Sơn La Với mỗi hộ gia đình được lựa chọn và mời vào mẫu nghiên cứu, điều tra viên phỏng vấn trực tiếp một thành viên trên 18 tuổi trong hộ có mặt ở nhà tại thời điểm nghiên cứu Kết thúc thực địa, tổng số hộ gia đình được tiếp cận và phỏng vấn thành công tại Thái Nguyên là

90, tại Sơn La là 102

Trang 18

Ở cả hai tỉnh Thái Nguyên và Sơn La, có tổng cộng có 192 hộ gia đình tham gia trả lời bảng câu hỏi, trong đó có 102 hộ tại Sơn La và 90 hộ tại Thái Nguyên Gần 60% số người trả lời

là nam, hơn 40% là nữ Độ tuổi trung bình của người trả lời là 38 tuổi Khi tách riêng hai địa bàn,

độ tuổi trung bình của người trả lời ở Thái Nguyên là khoảng 41 tuổi, ở Sơn La là khoảng 36 tuổi Số khẩu trung bình của các hộ tham gia nghiên cứu vào khoảng 4,6 người mỗi hộ, trong đó

có khoảng 2,8 người hiện đang tham gia lao động, và khoảng 1,5 trẻ em Không có sự khác biệt

về cơ cấu nhân khẩu trong hộ gia đình khi so sánh giữa hai địa bàn Hầu hết các hộ gia đình ở cả hai địa bàn nghiên cứu ở phía Bắc đều đã sinh sống tại địa phương từ lâu đời (chỉ có 1% cho biết mới chuyển đến địa phương sinh sống trong khoảng thời gian ít hơn 5 năm) Ở Thái Nguyên, tỷ

lệ hộ nghèo và cận nghèo cao hơn đáng kể so với tại Sơn La Cụ thể là 20,2% số hộ ở Thái Nguyên cho biết họ thuộc diện hộ cận nghèo (tỷ lệ này ở Sơn La là 7,8%), 15,7% số hộ ở Thái Nguyên cho biết họ thuộc diện hộ nghèo (tỷ lệ này ở Sơn La là 9,8%)

Toàn bộ số hộ tham gia phỏng vấn tại Sơn La thuộc nhóm dân tộc Thái, và hầu hết (91,1%) số hộ tham gia nghiên cứu tại Thái Nguyên thuộc nhóm dân tộc Dao Xét bình quân về trình độ học vấn, ở Sơn La, tỷ lệ hộ gia đình có trình độ học vấn cao nhất là phổ thông trung học (47.1%) cao hơn hẳn so với ở Thái Nguyên (21,1%)

Toàn bộ số bảng câu hỏi sau khi được thu thập đầy đủ thông tin đã được nhập liệu theo khuôn nhập liệu được xây dựng trên phần mềm SPSS phiên bản 20 Việc làm sạch và phân tích

số liệu cũng được thực hiện trên phần mềm này

3.3 Phân tích tài liệu văn bản

Bên cạnh tài liệu điền dã, nhóm nghiên cứu cũng tiến hành thu thập và phân tích các bài báo, tạp chí và nhiều tài liệu đã xuất bản khác liên quan đến chủ đề nghiên cứu của đề tài Trong các chuyến điền dã tại địa bàn, việc thu thập các báo cáo tổng kết năm và báo cáo công tác thực hiện kế hoạch của các địa phương từ tỉnh đến xã cũng được chú ý thực hiện

3.4 Tham vấn chuyên gia

Bản thảo của báo cáo, với nội dung phân tích các kết quả nghiên cứu chính từ tư liệu thứ cấp và tư liệu thực địa được trình bày tại hai cuộc toạ đàm để thu thập các ý kiến đóng góp của các chuyên gia đến từ trung ương và địa phương Bản thảo này cũng đã được gửi cho một số chuyên gia có chuyên môn liên quan đọc và góp ý Trong qua trình tham vấn, tất cả các ý kiến nhận xét, góp ý đều được ghi chép và được sử dụng trong quá trình hoàn thiện bản thảo

3.5 Hạn chế của nghiên cứu

Vấn đề nợ cũng như tín dụng đen ở vùng Tây Nguyên và phía Bắc là một vấn đề khá nhạy cảm và khó tiếp cận, đặc biệt là đối với các chủ nợ tư nhân Việc lấy thông tin, đặc biệt là thông tin liên quan đến con số, một cách chính xác trong khoảng thời gian phỏng vấn từ 1,5-2 tiếng từ người dân, cũng không phải là chuyện dễ dàng Bên cạnh đó, chúng tôi cũng nhận thức được rằng, số lượng mẫu khảo sát định lượng chủ đủ lớn để có được một sự phân tích chính xác

Do gặp một số khó khăn như vậy, những trình bày và phân tích của báo cáo có thể chưa phản ánh được hết các khía cạnh liên quan đến vấn đề nợ của người dân

Trang 19

IV BỐI CẢNH HOÁ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU

4.1 Con người và không gian sinh tồn

Để khảo sát sự chuyển đổi sinh kế từ nền kinh tế tự cấp tự túc sang nền kinh tế thị trường cũng như hệ quả kinh tế- xã hội của sự chuyển đổi này ở các cư dân tại chỗ Tây Nguyên và phía Bắc, chúng tôi chọn hai cặp hai buôn/ thôn đặt trong bối cảnh so sánh đối chiếu Hai cặp buôn buôn được lựa chọn để nghiên cứu xuất phát từ các lý do mang tính phương pháp luận: 1) Có mô hình sinh kế truyền thống khá tương đồng, song hiện nay có sự khác biệt về cơ cấu cây trồng; 2) Khác nhau về mặt không gian tự nhiên, bối cảnh sinh tồn và thành phần tộc người – tôn giáo

Theo đó, tại Tây Nguyênchúng tôi chọn một buôn chúng tôi đặt tên là buôn Ban của huyện Lắk, Đắk Lắk và buôn Biết của huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng Hai buôn này đáp ứng hai tiêu chí phương pháp luận chúng tôi đặt ra Cư dân của hai buôn là dân tộc tại chỗ ở Tây Nguyên: ở buôn Ban là tộc người K’ Ho theo đạo Công giáo và người Mạ theo Tin Lành và ở buôn Biết là tộc người M’nông theo đạo Tin lành Buôn Ban là buôn chuyển từ canh tác rẫy sang

cà phê và buôn Biết là từ rẫy sang trồng bắp lai Về đường giao thông đi lại, so với buôn Biết, buôn Ban khó tiếp cận hơn do đường xá đi lại còn khó khăn và ở xa trung tâm hành chính xã

Tại phía Bắc, chúng tôi chọn thôn Ba Nhất, xã Phú Thượng, Huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên và thôn Huổi Khoang và Phiên Khoài của xã Chiềng Ban, huyện Mai Sơn Cư dân của địa điểm khảo sát ở tỉnh Thái Nguyên và Sơn La là các dân tộc tại chỗ ở phía Bắc Ba Nhất là thôn chuyển từ canh tác nương rẫy sang trồng ngô lai và hiện nay sang trồng ché và Huổi Khoang và Phiên Khoài là thôn chuyển từ nhiều loại cây trồng và gần nhất là trồng mía sang trồng cà phê Arabica Trong hai địa bàn nghiên cứu này, thôn Ba Nhất có đường giao thông đi lại khó khăn hơn và ở xa trung tâm hành chính xã

Buôn Ban

Theo thống kê của xã Phú Sơn năm 2014, buôn Ban có tổng số 354 hộ (1.448 nhân khẩu – trung bình 4 khẩu/ hộ), trong đó có 297 hộ thường trú và 57 hộ tạm trú dài hạn.4 Cơ cấu tộc người của thôn đa dạng, với 8 dân tộc khác nhau, trong đó 121 hộ dân tộc tại chỗ (65 hộ người K’Ho và 56 hộ người Mạ, chiếm 448 người), 220 hộ người Kinh và số còn lại (13 hộ) là người các dân tộc khác (Tày, Nùng, Hoa, Mường, Dao) Người dân buôn Ban sinh sống khá rải rác; tập trung ở giữa thôn khoảng 200 hộ, số còn lại sinh sống rải rác ở những dọc các tuyến đường quanh thôn, có hộ cách trung tâm buôn tới 10 km Buôn được xếp hạng thôn vùng 3 (thôn nghèo) của xã Trong 297 hộ đăng ký thường trú có 18 hộ được xếp hạng nghèo, 33 hộ cận nghèo, 231

hộ trung bình và 15 hộ khá

Nằm cách xa trung tâm của xã Phú Sơn khoảng 7 km, việc tiếp cận buôn từ ngoài đường nhựa khá khó khăn, nhất là trong mùa mưa, do là đường đất dẫn vào buôn cắt ngang qua những ngọn đồi, nhiều nơi bị nước xói mòn tạo thành những chỗ lồi lõm khó đi Trong buôn có trường tiểu học và trung học cơ sở, 2 phân trường mẫu giáo, 1 trạm y tế, 1 nhà sinh hoạt cộng đồng Người dân cư trú dọc theo hai bên con đường chính của thôn và các con đường nhỏ chia cắt thôn

Về hành chính, thôn bao gồm hai khu cư trú riêng biệt chia cắt bởi một con suối Khu dân cư ở phía trung tâm của thôn là nơi cư trú chủ yếu của người K’ Ho và khu bên kia suối là của tộc

4 Con số thống kê của UBND xã chỉ bao gồm 297 hộ thường trú trong thôn chứ không có hộ tạm trú

Trang 20

người Mạ và các dân tộc khác5 Người Kinh sống xen kẻ với các tộc người tại đây Người Kinh chủ yếu làm các nghề buôn bán tạp hóa cùng với kinh doanh cà phê tươi hay nhân Dọc theo hai bên đường, trải dài trên các ngọn đồi, xung quanh nhà của các cư dân tại đây là những vườn cà phê được trồng theo hàng lối, có những vườn cà phê đã rất cỗi

Sinh kế truyền thống của các cư dân ở đây là trồng lúa và chăn nuôi trong khi hiện nay sinh kế của các tộc người ở đây chủ yếu dựa vào việc trồng cây cà phê, một phần trồng lúa và làm công trong nông nghiệp, và chăn nuôi nhỏ lẻ (lợn và gà) phục vụ nhu cầu thực phẩm gia đình Trước đây, người K’Ho và Mạ có nuôi trâu bò như một hình thức biểu hiện tài sản và tích lũy của cải Trâu bò được chăn thả tự do Chuồng trâu bò được làm cách xa làng cả cây số Hiện nay người dân phát triển trồng cây cà phê nên không nuôi bò nữa vì sợ trâu bò phá cà phê Nhà

hộ K’T là người bán trâu bò cuối cùng trong thôn vào năm 2010

Trước đổi mới, hoạt động sinh kế chính của người dân là canh tác nương rẫy Hiện nay, thu nhập chính của người dân trong thôn từ cây cà phê, chiếm trung bình khoảng 80- 90% tổng thu cả năm của thôn Năng suất cà phê thấp, khoảng 2 tấn/ ha/ năm, do cà phê già cỗi và giống

cũ Bên cạnh đó người dân thiếu vốn để đầu tư tăng năng suất cà phê và hệ thống đường xá kém phát triển nên giá thu mua cà phê tại thôn thấp Nguồn thu thứ hai của thôn là lúa nước với tổng diện tích là 85ha lúa, trong đó 30ha có thể canh tác hai vụ và số còn lại chỉ canh tác được một vụ Lúa nước tập trung ở 122 hộ trong thôn, chủ yếu là người dân tộc tại chỗ Nguồn thu thứ 3 đến từ phí chi trả môi trường rừng với số tiền trung bình là 2,5 triệu một quý/hộ

Buôn Biết

Buôn Biết thuộc xã Yang Tao, huyện Lắk tỉnh Đăk Lăk, có 349 hộ với 1.491 khẩu, trong

đó có 340 hộ là người Mnông và 9 hộ người Kinh Người Mnông ở buôn Ban là nhóm Mnông Rlăm So với buôn Ban, buôn Biết có tỉ lệ hộ nghèo cao hơn, là 70 hộ nghèo và 50 hộ cận nghèo Thành phần dân tộc ở buôn Biết thuần dân tộc Mnông, chỉ có một số hộ người kinh di cư đến giai đoạn sau này (Giai đoạn 2012 vẫn có người Kinh di cư vào buôn sinh sống) Người Kinh tại buôn Biết sống bằng làm các nghề dịch vụ như buôn bán nhỏ lẻ, sửa xe, thợ hàn trong khi người Mnông canh tác các loại cây nông sản như bắp, mì, lúa, ca cao Do là vùng nằm trong khu vực thung lũng và có nhiều vùng đồng cỏ nên ở đây bò được nuôi phổ biến Con bò không chỉ là một biểu hiện của giá trị tài sản mà còn đóng vai trò quan trọng cho việc đem đến nguồn tiền mặt để chi tiêu hàng ngày cho người dân

Theo người dân ở buôn Ban, họ đến đây vào những năm 1960 do chương trình lập ấp chiến lược của chính quyền Mỹ - Diệm Vùng đất ở gốc của họ là ở Buôn Đak của huyện Lăk, giáp với tỉnh Lâm Đồng Vào lúc đó, có khoảng 40 hộ của buôn cũ bị di dời đi đến vùng đất hiện nay Cộng đồng tại đây theo đạo Tin lành từ thời Pháp Sinh kế truyền thống của cư dân là khai phá đất rừng để trồng rẫy Khi được di dời xuống đây, họ được chính quyền Mỹ- Diệm cấp đất ở (lấy đất từ buôn khác) Khi đến vùng đất này, chính quyền (Mỹ - Diệm) định cư cho 40 hộ ở trên

6 ha Mỗi hộ được khoảng 200 m2 đất ở Do quan niệm sinh sống trên đất của người khác nên các hộ ở đây đưa 1 con trâu con cho hộ đã cho mình đất ở để cám ơn Đến năm 1975, cộng đồng

5 Khu dân cư của người Mạ hay còn gọi là làng Yalu được cho là vùng đất trước đây của người K’ho Khi nhóm người Mạ từ Đăk Lăk về đây theo chính sách định canh định cư của Nhà nước tập trung để thành lập nông trường Sau này khi không làm nông trường nữa thì Nhà nước cấp lại cho các hộ người Mạ sinh sống và canh tác

Trang 21

người M’nông ở buôn Biết có khoảng 80 hộ với hơn 300 nhân khẩu.6 Hiện nay, tại buôn có một nhà thờ vừa được xây dựa trên tiền đóng góp từ dân chúng tại chỗ và một số nhà hảo tâm Trong buôn hoạt động mạnh nhất, theo đánh giá của người dân, vẫn là hội phụ nữ và tổ tự quản, theo nghĩa đây là những nơi người dân nhận được các nguồn hỗ trợ từ nhà nước như nguồn vay từ ngân hàng chính sách và là nơi họ nhận các thông tin từ chính quyền địa phương ví dụ như việc vận động đi chích ngừa cho trẻ em, các thông tin khuyến nông hay như khi chúng tôi đến là chương trình tuyển lao động đi xuất khẩu lao động

Như vậy, hai buôn có đặc điểm chung đều là buôn có đông cư dân tại chỗ sinh sống Các

cư dân tại chỗ hiện nay đều theo các tôn giáo lớn trên thế giới Ở hai buôn ít nhiều đều có sự đan xen cư trú của người Kinh và một số tộc người từ phía Bắc di cư vào Điều này phản ánh bức tranh toàn cảnh của quá trình phát triển kinh tế xã hội ở vùng Tây Nguyên trong thời gian qua.Tuy nhiên, liên quan đến chủ đề sinh kế, hai buôn này khác nhau chủ yếu về yếu tố thổ nhưỡng vốn quy định loại cây trồng tham gia thị trường hiện nay ở mỗi buôn Kết quả khảo sát định lượng của chúng tôi cho thấy nếu đo thang đo độ màu mỡ của đất theo thang đo từ 1 đến 5 với 1 là đất xấu nhất và 5 là đất tốt nhất thì có đến 84% cư dân ở buôn Biết cho là đất của họ không tốt (cho điểm từ 1 đến 2), 13.3% cho độ phì nhiêu của đất ở độ trung bình Trong khi đó ở buôn Ban chỉ có 28,2% người dân cho là đất của họ không được tốt (cho điểm 1 và 2) Nguồn gốc đất canh tác chủ yếu là đất tự khai phá và được cấp Do vậy, hiện trạng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hiện nay của các cư dân phản ánh quá trình chuyển đổi từ không gian rừng sang không gian rẫy định canh Kết quả khảo sát định lượng cho thấy diện tích đất nông nghiệp trung bình hộ ở buôn Biết là 8.369 m2 và buôn Ban là 12.275 m2 90% số hộ khảo sát có đất có nguồn gốc từ khai phá rừng, chỉ có 9% là do nhà nước cấp Trong đó, nguồn gốc đất tự khai hoang ở buôn Ban là 96% trong khi ở buôn Ban chỉ có 69,2% Điều này có thể được lý giải do quá trình lịch sử cộng đồng tộc người ở mỗi buôn khác nhau Buôn Ban được hình thành dựa trên chính sách định canh định cư các tộc người tại chỗ Họ đã có quá trình cư trú tại vùng đất họ sinh sống trong thời gian dài Trong khi buôn Biết được hình thành trong thời kỳ thành lập ấp chiến lược của chính quyền Sài Gòn Họ được đưa đến vùng đất cư trú hiện thời nơi đã có các cộng đồng tộc người khác sinh sống Do vậy, đất đai của họ chủ yếu được chia cấp dựa trên sự san sẻ của cộng đồng khác Và sau giải phóng năm 1975, cộng đồng cư dân buôn Biết này lại được chính quyền chia cấp lại để có hiện trạng nguồn gốc đất đai như hiện nay Theo đó, nguồn gốc đất được nhà nước cấp ở buôn Biết có nhiều hơn ở buôn Ban

Thôn Ba Nhất của tỉnh Thái Nguyên

Thôn Ba Nhất nói riêng và xã Phú Thượng nói chung sống chủ yếu bằng nônng nghiệp Năm 2015, kinh tế nông nghiệp của xã chiếm 87,06%.7 Thôn Ba Nhất cách trung tâm xã khoảng

9 km Thôn được chia làm hai xóm, xóm Ba Nhất và xóm Đồng Lạt Hai xóm có sự khác biệt về đầu tư đường giao thông Xóm Ba Nhất được tính từ đầu xã đến nhà văn hóa thôn được đặt ngay trung tâm thôn Xóm dài khoảng 10 km, trong đó 10 km có thể đi bằng ô tô còn 5km còn lại chỉ

có thể đi bằng xe máy Đường trục xóm được bê tông hóa dài khoảng 5 km, rộng khoảng 2,5 mét bắt đầu từ đầu thôn đến đến nhà văn hóa mới của thôn nằm ở giữa thôn nằm giữa thôn Con

6 Phỏng vấn ông Y’T, nguyên là trưởng thôn của buôn Biết vào thời chính quyền Việt Nam cộng hòa

7 Ủy ban nhân dân xã Phú Thượng Báo cáo đánh giá kết quả thực hiện Chương trình mụcc tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới xã Phú Thượng giai đoạn 2011-2015, ngày 25 tháng

9 năm 2015

Trang 22

đường chạy xuyên suốt qua thôn, một bên con đường là đồi núi trong khi bên kia là thung lũng Trải dài bên đường đi phía đồi núi là các ngôi nhà cách nhau bởi các cánh đồng ngô hay chè, một bên đường bên phía thung lũng là các cánh đồng lúa và ngô, và xa xa phía chân các ngọn đồi nơi giao nhau giữa các cánh đồng và các ngọn đồi là các ngôi nhà nằm cách nhau bởi những khoảnh vườn chè Các ngôi nhà bằng gỗ được cất khang trang từ tiền thu nhập từ trồng ngô và trồng chè

Từ nhà văn hóa thôn đi vào phía trong thôn là địa phận của xóm Đồng Lạt Đường rất khó đi, mặt đường chủ yếu là các hòn đá tự nhiên to nhỏ khác nhau xếp chồng lên nhau trải dài theo con đường, lúc thì lên dốc, lúc thì xuống dốc Đường này dù được miêu tả là có thể đi xe máy nhưng thực tế có những đoạn người dân phải xuống dắt xe đi qua các viên đá to nằm chồng lởm khởm lên nhau Trước khi đến khu Đồng Lạt, đoạn đường này cắt ngang bởi một con suối, người dân

có thể chạy xe qua con suối được Đi xe máy đoạn đường 5 km này mất hơn 1/2 giờ đồng hồ Hai bên trục đường chính chạy xuyên qua khu Đồng Lạt này không có nhiều nhà người dân ở Người dân ở tập trung ở khu cuối của thôn nơi giáp với thôn Đông Bo của xã Tràng Xá cùng huyện Nơi đây có 1 nhà trẻ, đường đi lại trong xóm là đường đất tương đối dễ đi hơn với đoạn đường đá nối với khu trung tâm của thôn Nhà của người dân chủ yếu được làm bằng gỗ theo kiểu ba gian, mái lợp ngói hay fidroximang

Người dân tại đây tự gọi mình là tộc người Dao Lô Gang hay Dao sơn đầu.8 Theo những người lớn tuổi trong cộng đồng kể lại, những người đầu tiên đến đây là nhóm 7 hộ gia đình có nguồn gốc từ Trung Quốc sang cách đây khoảng hơn 200 năm Khi mới sang định cư ở Việt Nam họ ở khu vực nay thuộc Làng Mười, xã Dân Tiến thuộc huyện Võ Nhai cách nơi ở hiện nay không xa lắm Do khu vực thôn Ba Nhất hiện nay lúc đó là khu vực rừng nguyên sinh nên những

hộ đầu tiên thuộc dòng họ Triệu (4 hộ) và Đặng (3 hộ),vốn có quan hệ dòng họ và thân tộc với nhau đã rủ nhau đến khai phá và lập nghiệp, dần dần tạo nên cộng đồng người Dao đông đúc như hiện nay

Sinh kế của người Dao gắn với việc khai phát rừng để làm rẫy nên ở cộng đồng người Dao tồn tại rất nhiều các miếu thờ các ma và thần Đình và miếu là các thiết chế tín ngưỡng tôn giáo gắn với cộng đồng dựa trên sự phân chia dựa vào địa vực cư trú và dòng họ Do vậy, khi các cộng đồng người này được phân nhóm vào các tổ chức hành chính, việc thực hành tín ngưỡng này cụ thể là việc phân chia cúng ở các đình và miếu này vẫn trên cơ cở các cộng đồng cộng cư Trong làng có đình thờ 3 vị tiền hiền khai khẩn (Triệu Tiến Phúc, Triệu Dương Tiến, và Đặng Xuân Hiện) vào lập làng và thờ con trâu và con khỉ và thần núi (san tảo miên) và một năm cúng hai lần vào ngày 3 tháng 3 (tết hàn thực) và 22 tháng 12 âm lịch Khỉ và trâu được thờ do đây là hai con vật phá hoại mùa màng ngô và lúa của người Dao nhất Đình trước được xây bằng gỗ sau được xây kiên cố vào năm 2011 Tuy thôn có gần 200 hộ nhưng việc thực hiện cúng ở Đình này chỉ có khoảng gần 100 hộ của xóm Ba Nhất chia làm 3 tổ thay nhau thực hiện, còn cư dân của khoảng 62 hộ ở khu Đồng Lạt thì tham gia vào việc cúng Miếu cũng vào ngày tết hàn thực Các

hộ dân khác tham gia vào việc cúng đình và miếu ở các cộng đồng lân cận khác Cái tên Ba Nhất

có từ hồi thành lập hợp tác xã vào khoảng những năm 1960

Tại thời điểm nghiên cứu được thực hiện, thôn Ba Nhất có 199 hộ dân với 172 hộ người Dao, 7 hộ người kinh, và 20 họ là Tày Nùng Tuy nhiên trong quá trình khảo sát của chúng tôi có những hộ gia đình tuy được tính là hộ gia đình người Dao nhưng trong đó thật ra lại có chồng là người Dao và vợ là người Kinh Trước đó người Dao ở đây được gọi là người Dao Suối Lú Ba

8 Hiện nay chỉ còn những người lớn tuổi thực hiện phong tục sơn đầu vào những dịp lễ tết Tục sơn đầu trước đây là các cô thiếu nữ người Dao đến tuổi cập kê đều sơn đầu bằng sáp ong Mỗi lần sơn để tóc từ 3-4 tháng, nếu tóc bị bẩn thì dùng chanh chà lên tóc để làm sạch Sơn đầu là một trong những tiêu chuẩn để các chàng trai tìm vợ

Trang 23

xóm người Dao được gộp vào thành một hợp tác xã Ba Nhất Ở đây phổ biến các họ Triệu Long, Triệu Nho, Triệu Mốc, Đặng, Lý

Diện tích tự nhiên của thôn là 2.000 ha, trong đó 40,34 ha đất trồng lúa, diện tích bãi soi

và đất trồng ngô là 80 ha, diện tích đất trồng chè là 50 ha, diện tích rừng tự nhiên là 240 ha còn lại là diện tích rừng trồng (chủ yếu trồng cây keo và một số loại cây lấy gỗ) Đất ruộng ở đây là những bãi đất bằng phẳng được người dân đắp bờ lên làm ruộng thường nằm ven sông hay suối; bãi đất bồi hay còn gọi là bãi soi là nơi thường được dùng trồng ngô Người dân trong thôn sống chủ yếu bằng nông nghiệp trước là canh tác lúa và ngô nương, sau là lúa nước và ngô lai và từ năm 2012-2013 chuyển sang trồng chè do đất đai cằn cỗi, chẳng hạn như trước đây 1 kg ngô giống thu hoạch được từ 4 đến 5 tạ trong khi hiện giờ chỉ thu hoạch được từ 1 đến 2 tạ/ sào, bãi soi là 2,5 tạ/ sào Hiện nay, do chè có giá nên diện tích trồng chè tại thôn hiện nay ngày càng gia tăng Mỗi năm tăng thêm 10 ha

Toàn thôn có hai quán bán tạp hóa Dân trong thôn thường đi chợ ở thị trấn Đình Cả bằng cách điện thoại cho người bán ngoài chợ (thường là thịt hay cá) gửi hàng đem về và gửi người trong thôn đi chợ ở thị trấn Đình Cả đem về treo ở hai quán tạp hóa này với mảnh giấy đề tên người mua để họ tự ra lấy Việc mua bán này thể hiện mối quan hệ mật thiết giữa các cư dân của thôn với nhau và giữa cư dân thôn với cư dân thị trấn lân cận Mối quan hệ này được thiết lập từ lâu đời, được hình thành do nhiều người của thôn chuyển ra thị trấn buôn bán sinh sống và mối quan hệ giao thương hàng hóa phục vụ nhu cầu tiêu dùng và sản xuất của cư dân thôn Chăn nuôi của thôn truyền thống là chăn nuôi gắn với nông nghiệp, theo đó các vật nuôi là lợn, gà, vịt, trâu

và bò Vào giữa những năm 1990, lợn gà được chăn nuôi nhiều để phát triển kinh tế Tuy nhiên bắt đầu từ giữa những năm 2000, chăn nuôi giảm do dịch bệnh và giá cả bấp bênh Nhà cửa được xây dựng khang trang được cho là chủ yếu do tiền thu được từ giai đoạn trồng ngô

Thôn Huổi Khoang và Phiên Khoài của tỉnh Sơn La

Thôn/ bản Huổi Khoang và Phiêng Khoài Huổi Khoang nằm cách trung tâm xã Chiềng Ban (vốn là nơi tập trung đông người Kinh) khoảng 1 km và cách thị trấn hát lót của huyện Mai Sơn 25 km Đây là hai trong 26 bản của xã Chiềng Ban Xã Chiềng Ban đạt chuẩn nông thôn mới vào năm 2015 Đây là một trong ba xã của tỉnh Sơn La đạt chuẩn nông thôn mới Chiềng Ban cũng là xã thí điểm xây dựng chương trình nông thôn mới của tỉnh và của huyện Tổng kinh phí đầu tư cho xã gần 57,6 tỷ đồng, trong đó nhân dân đóng góp gần 17 tỷ đồng, hàng nghìn ngày công lao động và trên 20.000m2 đất xây dựng các công trình phục vụ đời sống, sản xuất Đời sống của nhân dân không ngừng được cải thiện và nâng lên, năm 2014, thu nhập bình quân đầu người đạt 19,6 triệu đồng Nhờ vào chương trình nông thôn mới, cơ sở hạ tầng của bản Huổi Khoang thuận lợi, đáp ứng nhu cầu đi lại, chuyên chở nông sản của người dân Trục đường giao thông chính trong bản đã được bê tông hóa nhờ vào sự đóng góp của các hộ dân trong chương trình nông thôn mới.9

Các hộ gia đình trong thôn Huổi Khoang sống tập trung dọc theo trục đường chính này, xen kẽ những ngôi nhà được cất theo kiểu nhà sàn truyền thống làm bằng gỗ của người Thái là những vườn cà phê hay các loại hoa màu (susu, bí xanh, bí đỏ, rau cải…) Đằng sau các ngôi nhà trước khi tiếp giáp với phía chân đồi là các khoảng ruộng lúa và ao cá Vườn cà phê thường nằm

9 Theo Bí thư xã Chiềng Ban, huyện Mai Sơn, (xã có 26 bản trong đó có 21 bản người Thái, 5 bản người Kinh), trong chương trình nông thôn mới của xã, người dân đóng góp 17 tỷ Tại thôn Huổi Khoang, mỗi nhân khẩu đóng góp cho chương trình nông thôn mới tại thôn tổng cộng là 1.400.000 đồng

Trang 24

ở những vùng đất đồi Huổi Khoang cũng được người dân chia ra thành hai xóm: xóm Huổi Khoang lấy nhà văn hóa thôn làm trung tâm và xóm Nong Pinh Xóm Nong Pinh là “xóm gốc” của người Thái ở đây Vào thời Pháp thuộc, người Thái cư trú chủ yếu ở xóm này sau mới mở rộng đến xóm Huổi Khoang vào khoảng từ năm 1945 Lúc chuyển ra chỉ khoảng có 3-4 hộ Bản Huổi Khoang có 70 hộ dân với 324 khẩu, 100% dân số là người Thái Diện tích tự nhiên của Bản

là 100 ha, trong đó diện tích nông nghiệp là 54 ha Diện tích trồng cây cà phê là 40 ha, diện tích lúa 9,8 ha, còn lại là ao thả cá và đất ở, diện tích rừng núi đá 46 ha, mỗi hộ được 200 m2 đất thổ

cư Ngoài ra, bản còn có 1,4 ha đất cộng đồng bản, là ao và ruộng để đấu thầu Số tiền thu được

từ việc cho thuê này (8 triệu/ năm) được thôn dùng để tổ chức sinh hoạt tổng kết cuối năm của thôn

Bản Phiêng Khoài có 70 hộ với 290 khẩu với 100% là người Thái đen (Tai đăm), nằm cách trung tâm xã 5 km Bản có diện tích tự nhiên là 100 ha, diện tích đất nông nghiệp là 60 ha, trong đó diện tích đất trồng cà phê là 50 ha; còn lại là diện tích đất ở và ao thả cá; diện tích rừng

là 40 ha, diện tích trồng ngô là 1,5 ha, và không có diện tích ruộng trồng lúa Cư dân trong bản

cư trú dọc theo đường trải nhựa chạy xuyên qua bản, và các con đường tẻ vào các khu khác trong bản cũng được bê tông hóa theo chương trình nông thôn mới Khác với bản Huổi Khoang, Phiêng Khoài này có nhiều hộ dân ngoài việc sơ chế phơi khô hạt cà phê thu hái của nhà mình còn tổ chức thu mua cà phê của các nơi khác về sơ chế và sấy khô để làm cà phê nhân Do vậy, vào mùa chế biến cà phê nhân, đi dọc theo con đường vào trong bản, dòng nước thải đen ngòm

từ hai hàng cống thải lộ thiên dọc theo hai bên đường chứa nước thải chảy ra từ các bể nước ngâm cà phê tươi đã lên men từ các hộ dân bốc lên mùi rất khó chịu bao trùm cả thôn bản

Hàng năm vào tháng 8 âm lịch, người dân trong bản tổ chức lễ cúng bản (xên bản) quy tụ tất cả dân trong bản tham gia Lễ cúng thường được tổ chức ở đầu nguồn nước, nơi có cây đa to

và sau đó thì tập trung ăn uống ở nhà văn hóa bản Tại hai bản, phổ biến các họ Lò, Hoàng, Hà, Lường, Vi, Cầm…

4.2 Sinh kế cổ truyền ở các tộc người thiểu số: nền kinh tế duy tình 10

Trước khi đi sâu trình bày về hệ thống sinh kế cổ truyền của các tộc người thiểu số ở Tây Nguyên và phía Bắc, chúng tôi muốn quay trở lại với công trình nghiên cứu kinh điển về đặc trưng của nền kinh tế cổ truyền của người nông dân của tác giả Jame Scott (1976) đề cập ở đầu bài viết Scott cho rằng, sinh kế truyền thống của người nông dân vùng Đông Nam Á, cho dù là của các cư dân sinh sống ở đồng bằng hay miền núi hay bất luận của cư dân canh nương rẫy hay

ruộng nước, đều chia sẻ một nền kinh tế duy tình (moral economy),11 bị chi phối bởi cái mà Jame

Scott gọi là "đạo lý tự cấp tự túc" (subsistant ethic) Đặc trưng của đạo lý tự cập tự túc, theo tác

giả, là an toàn là trên hết Theo đó, người nông dân có xu hướng tránh thực hành các hành vi có thể tạo ra sự rủi ro, đặc biệt là làm cho đời sống kinh tế của gia đình họ rơi vào bên dưới ngưỡng cho phép của một cuộc sống tự cấp tự túc Để đảm bảo và duy trì được đạo lý tự cấp tự túc này, người nông dân luôn có xu hướng tìm cách ngăn chặn hay chống lại các tác động có thể làm cho

họ rơi vào tình trạng bấp bênh về kinh tế từ bên ngoài Người nông dân, thay vào đó, tìm cách

xây dựng, duy trì và phát triển các dàn xếp văn hoá - xã hội và kỹ thuật (socio-cultural and

techinical arrangements) để vấn an ninh lương thực của gia đình được đảm bảo Các 'dàn xếp

10 Nội dung phần này được kế thừa từ kết quả nghiên cứu của Hoàng Cầm, và một phần của nội dung được sử dụng trong công trình cấp Nhà nước “Văn hoá và lối sống trong phát triển bền vững Tây Nguyên” (Lê Hồng Lý và các cộng sự, 2014)

11 Ở Việt Nam, xem thêm Pamela (2013) và Lê Hồng Lý và các cộng sự (2014)

Trang 25

văn hoá - xã hội bao gồm các mô hình tương hỗ, hệ thống bảo trợ, sở hữu cộng đồng, vần công, đổi công, hệ thống tôn giáo tín ngưỡng trong quản lý hành vi trong các hoạt động khai thác tự nhiên, vv Các dàn xếp kỹ thuật là những "cách thức quản lý sự đa dạng về giống truyền thống của người địa phương, các kỹ thuật canh tác được xây dựng và phát triển qua hàng thế kỉ thông qua cơ chế thử - sai để có được những mùa vụ ổn định và bền vững nhất có thể trong các tiểu môi trường khác nhau'' (trích lại trong Yos 2008: 35-36) Trong bối cảnh của nền kinh tế duy trình với sự chi phối mạnh mẽ của "đạo lý tự cấp tự túc", những cái có thể bị đánh giá là phi lý như không vay nhiều vốn để sản xuất, không sẵn sàng chuyển đổi các giống cây trồng phục vụ cuộc sống tự cấp tự túc sang nông nghiệp hàng hoá, không buôn bán để lấy lãi, vv , theo tác giả,

có tính hợp lý riêng của chúng nếu đặt trong thể chế kinh tế này Thể chế kinh tế vận hành theo nguyên lý "đạo lý tự cấp tự túc", một mặt, có thể không khuyến khích sự tích luỹ và gia tăng của cải bằng mọi giá Tuy nhiên, đổi lại, các dàn xếp văn hoá – xã hội và kỹ thuật của thể chế kinh tế này luôn đảm bảo sự ổn định về lương thực đối với một cuộc sống tự cấp tự túc cho hầu hết tất

cả các thành viên trong cộng đồng

Các hoạt động sinh kế trong xã hội cổ truyền của các tộc người thiểu số ở địa bàn nghiên cứu về cơ bản, mang đậm đặc trưng của một nền kinh tế duy tình với hàng loạt các dàn xếp văn hoá – xã hội và kỹ thuật để đảm bảo triết lý tự cấp tự túc như các cộng đồng nông dân ở vùng Đông Nam Á khác12 Các dàn xếp này, trước hết, được thể hiện rõ nét trong phương thức canh tác nương rẫy,13 một hoạt động kinh tế chủ đạo và quan trọng nhất của các tộc người thiểu số tại chỗ ở các địa bàn nghiên cứu trong xã hội truyền thống Một trong những dàn xếp kỹ thuật quan trọng, không chỉ mang lại hiệu quả kinh tế cao cho cuộc sống tự cấp tự túc, mà còn có vai trò bảo

vệ sự đa dạng sinh học và môi trường của hệ thống canh tác nương rẫy, là kỹ thuật đa canh và xen canh Thông thường, trên một mảnh nương, ngoài loại cây trồng chính là lúa hay ngô, người dân còn trồng hàng chục loại rau, củ quả như đậu, bí, ớt, khoai môn, đu đủ, các loại cây thuốc nam, vv 14 Thêm vào đó, trong một mùa vụ, một gia đình cũng thường canh tác cùng một lúc một vài mảnh rẫy và giống lúa được trồng trên các mảnh rẫy phụ thuộc vào chất đất và các điều kiện tự nhiên phù hợp với loại giống được chọn Xét ở khía cạnh đầu ra của sản phẩm, kỹ thuật

đa canh và xen canh, có thể nói, luôn mang lại một sự đảm bảo về lương thực cho gia đình

Bên cạnh đa canh và xen canh, các tộc người thiểu số tại chỗ còn có chiến lược bảo quản

và sử dụng sự đa dạng về giống Với kinh nghiệm tích lũy qua nhiều thế hệ với hàng trăm năm tương tác trong điều kiện môi trường cụ thể theo nguyên tắc 'thử - sai', người dân sử dụng các loại giống khác nhau trên các loại đất và tiểu môi trường khác nhau sao cho năng suất được cao nhất Chính vì vậy, mỗi nhóm tộc người có thể sở hữu hàng chục loại giống lúa, hay hàng chục

12 Xem thêm các dàn xếp kỹ thuật và văn hoá – xã hội của các tộc người thiểu số tại chỗ tại 5 tỉnh Tây Nguyên ở

chương “Văn hoá đảm bảo đời sống” do tác giả Hoàng Cầm viết trong công trình Vai trò của văn hoá và lối sống

trong phát triển bền vững Tây Nguyên (Lê Hồng Lý và các cộng sự, 2014)

13 Mô tả một cách ngắn gọn nhất, nương rẫy có các đặc điểm sau: người dân phát quang một khoảnh rừng trong phạm vi sở hữu của gia đình, cộng đồng để trồng trọt trong vài năm, hoặc thậm chí là trong chu kỳ một năm Sau đó,

họ để hoá các mảnh nương cũ đã bạc màu trong một khoảng thời gian nhất định, thường là từ 10 đến 20 năm đủ để đất có lại màu rồi sau đó quay lại canh tác chính trên các mảnh nương đó

14 Ví dụ, theo điều tra thực địa của Bùi Minh Đạo năm 1983, trên một đám rẫy của một gia đình người Ba Na, huyện Kong Cho Ro, tỉnh Gia Lai, gia chủ trồng tổng cộng 18 loại cây trồng khác nhau, bao gồm: lúa (3 loại), ngô, bo bo, bông, thuốc lá, ớt, bầu, cà đắng, mướp, dưa gang, dưa bở, sắn, khoai lang, cây họ nghệ để làm thuốc, mào gà, dứa,

và chuối Nếu so với hình thức canh tác ruộng nước, với sản phẩm đầu ra duy nhất là lúa, thì nương rẫy với kỹ thuật

đa canh đem lại cho người nông dân nhiều sản phẩm hơn, đảm bảo cho cuộc sống tự cấp, tự túc của người dân

Trang 26

loại giống ngô, mỗi loại giống không những chỉ có đặc điểm sinh học và khả thích ứng với các tiểu môi trường riêng mà mỗi loại giống cũng có khả năng kháng các loại bệnh khác nhau Ví dụ, đối với nhóm Cơ Ho và Mạ ở buôn Ban, trong một mùa rẫy, người dân thường ít nhất gieo trồng

3 loại giống lúa với tên địa phương là coi rong, coi rang và coi me Coi rang là loại giống phù

hợp với thổ nhưỡng ẩm dưới chân đồi, gần chỗ sình lầy và cho năng suất cao Giống lúa này cho thu hoạch vào tháng 11 Coi me là giống lúa cho năng suất thấp hơn và thời gian sinh trưởng lâu hơn giống coi ran, song nó lại chịu hạn tốt nên được trồng ở khu vực đỉnh đồi, ít nước Trong

khi đó, coi rong là loại lúa cho năng suất thấp và chịu hạn kém hơn hai loại trên song loại giống

này lại có ưu thế là thời gian sinh trưởng ngắn nhất, thường cho thu hoạch vào cuối tháng 8 đầu tháng 9.15

Với hệ thống kinh nghiệm và tri thức tích lũy thông qua quá trình tương tác lâu dài với hệ sinh thái tự nhiên nơi họ sinh sống, các dân tộc thiểu số tại chỗ Tây Nguyên và phía Bắc nói chung và người dân ở các địa bàn nghiên cứu nói riêng cũng đã sáng chế ra nhiều dụng cụ sản xuất khác nhau, mỗi loại phù hợp với điều kiện tự nhiên cụ thể, để khai thác hiệu quả và bền vững môi trường xung quanh họ Điển hình trong số này là cây gậy chọc lỗ, một trong những nông cụ rất phổ biến và quan trọng nhất đối với các tộc người thiểu số Nông cụ này có kết cấu trông rất đơn giản, chỉ là một thân gỗ có độ dài chừng hơn 1m, nhỏ hơn cổ tay, một đầu được vót nhọn Do có cấu tạo đơn giản như vậy nên gậy chọc lỗ thường bị coi là một loại hình nông cụ thô

sơ, 'lạc hậu', 'kém năng suất' nếu so với các nông cụ của các cư dân canh tác ruộng nước như cuốc, cày, v.v Tuy nhiên, theo trải nghiệm của người dân, dùng gậy chọc lỗ để tra hạt cho tỉ lệ mọc của cây cao hơn rất nhiều so với việc dùng cuốc để gieo trồng do lỗ được tạo ra từ cây gậy nông và đều hơn so với lỗ được tạo ra bằng cuốc Bên cạnh đó, dùng gậy chọc lỗ để tra hạt cũng cho năng suất lao động cao hơn các loại nông cụ khác vì gậy làm bằng gỗ gọn nhẹ, mỗi người có thể dùng hai gậy để trọc lỗ cùng một lúc Do chỉ tạo một lỗ rất nhỏ trên bề mặt của đất nên gậy chọc lỗ cũng là loại nông cụ giúp chống xói mòn đất tốt nhất trong canh tác nương rẫy so với các loại nông cụ 'hiện đại' như cuốc, cày, vv, đặc biệt là trên địa bàn đất dốc Một người phụ nữ dân tộc Dao tại Thái Nguyên cho chúng tôi biết, với địa hình đồi dốc và kết cấu đất không chặt như ở

Võ Nhai, gậy chọc lỗ là công cụ gieo hạt phù hợp nhất vì đầu gậy nhỏ sẽ không làm cho kết cấu đất bị vỡ khi chọc lỗ để gieo trồng Do vậy, trước đây khi được cán bộ khuyến nông hướng dẫn

sử dụng cuốc để gieo hạt ngô, sau một vài vụ thấy loại công cụ này không hiệu quả, người Dao

đã quay trở lại với công cụ gậy chọc lỗ truyền thống của mình

Một dàn xếp hay quy trình kỹ thuật quan trọng khác được các tộc người thiểu số tại chỗ xây dựng trong thực hành canh tác nương rẫy là phương thức du canh luân khoảnh theo chu kỳ khép kín hay còn được gọi phổ biến là hưu canh Theo tập quán, khi một mảnh nương bắt đầu bạc màu, người dân sẽ bỏ hoá nó trong một khoảng thời gian nhất định, tuỳ theo điều kiện tự nhiên và dân cư Thời gian hưu canh được thực hiện theo nguyên tắc "không dài quá và cũng không ngắn quá, vì dài quá thì đất hưu canh nhiều, mức độ quảng canh lớn, rẫy sẽ nằm xa nhà,

và ngắn quá thì rừng sẽ không kịp mọc lại" (Bùi Minh Đạo 2000: 109) Trong điều kiện đất còn

15 Theo một điều tra của trường Đại học Nông nghiệp I, vào đầu những năm 1980, ở Gia Lai và Kon Tum có 19 loại giống lúa, Đăk Lăk có 30 loại giống và Lâm Đồng có 19 loại Điều tra theo nhóm tộc người của Bùi Minh Đạo năm

1981 cũng chỉ ra sự đa dạng của các loại giống được người dân sử dụng Chẳng hạn, chỉ riêng người Ba Na ở Giang Trung, An Khê, Gia Lai sở hữu và gieo trồng cùng một lúc 12 giống lúa rẫy tẻ (Bùi Minh Đạo 2000)

Trang 27

nhiều, ở cả người Mnông ở buôn Biết và người Cơ Ho ở buôn Ban, người Dao ở Ba Nhất và người Thái ở Chiềng Ban chu kỳ quay vòng rẫy thường được thực hiện trong khoảng thời gian từ

10 đến 20 năm, khoảng thời gian đủ để đáp ứng hai mục đích vừa nêu Các mảnh nương cũ, sau thời kỳ bỏ hoá để rừng tái sinh và đất màu mỡ trở lại, sẽ được đưa vào canh tác nhằm thay thế cho các mảnh nương khác đã bạc màu Để dàn xếp kỹ thuật này có thể thực hiện được, mỗi gia đình sở hữu một số lượng lớn các mảnh rẫy, cả đương canh và hưu canh.16 Trong bối cảnh tự nhiên của vùng khí hậu nhiệt đới như Việt Nam nói riêng và vùng Đông Nam Á nói chung, kỹ thuật hưu canh không những không để lại tác động tiêu cực cho môi trường sinh thái tự nhiên mà còn giúp bảo tồn sinh học Bởi vì, "với chế độ canh tác năm một rồi bỏ hoá, mỗi hộ gia đình lần lượt khai phá số đất rẫy của mình rồi quay trở lại đám rẫy đầu tiên đến đám cuối cùng, để rồi sau

đó quay trở lại đám rẫy ban đầu, khi ấy đã mọc lại rừng, và một vòng quay mới với đất rẫy được tiếp tục."17 Hưu canh, thêm vào đó, tạo điều kiện cho người dân có thể định cư ở một địa điểm lâu dài18 Cụ thể, người Dao ở Thái Nguyên sau khi rẫy (zẻng) bị bạc màu thì họ bỏ hoang hóa để cho đất tái sinh Rẫy được bỏ hóa lúc này gọi là ot

Bên cạnh kỹ thuật hưu canh và việc sở hữu hệ các nông cụ được sáng tạo để đảm bảo và duy trì sự cân bằng bền vững giữa các hoạt động kinh tế và bảo vệ môi trường, các hoạt động kinh tế trong quá trình tương tác với tự nhiên, trong đó có việc phát rừng làm nương rẫy của các tộc người thiểu số tại chỗ Tây Nguyên, theo quan sát tinh tế của nhà dân tộc người Pháp Jacques Dournes, người đã sinh sống cùng người Gia Rai hơn 20 năm: "không hề lãng phí cũng chẳng tàn phá, đúng vừa đủ để sinh tồn, bên cạnh và cùng các giống loài khác, động vật và thực vật” Triết

lý ''đúng vừa đủ để sinh tồn" trong các hoạt động liên quan đến khai thác rừng để làm nương rẫy nói riêng và khai thác tài nguyên nói chung này, được hình thành và duy trì dựa trên nền tảng của

và được quản lý bởi cái mà Kaj Ahem (1997) gọi là "vũ trụ quan của sự tiếp tục" (cosmologies of

continuities) hay "vũ trụ quan sinh thái" (eco-cosmologies).19 Trong hệ vũ trụ quan này, các

16 Theo Bùi Minh Đạo, ở các tộc người Tây Nguyên, "diện tích rẫy hưu canh thường gấp 10 lần trở lên so với diện tích rẫy đương canh" Thậm chí, ở một số gia đình, chẳng hạn như người Ba Na ở An Khê, số diện tích rẫy hưu canh gấp 13 lần diện tích rẫy đương canh Con số này ở vùng người Giẻ Triêng Đăk Glay là 18 lần, và ở người Xơ Đăng

ở Sa Thầy là 18 lần (Bùi Minh Đạo 2000: 109)

17 Phương thức luân khoảnh trong canh tác rẫy của người Tây Nguyên cũng được các nhà dân tộc học người Pháp Georges Condominas hay Nguyên Ngọc, một người có thời gian nghiên cứu lâu năm ở Tây Nguyên, đánh giá là thực hành tối ưu trong việc duy trì sự sống của rừng và giữ được độ phì của đất: “Họ làm rẫy bằng cách đốt một khoảnh rừng và trỉa lúa xuống đấy Chất mùn do lá rụng lâu năm và chất tro đốt có tác dụng phân bón Một khoảnh đất canh tác như vậy trong hai hay ba năm thì bạc màu, người ta để hưu canh (ở Tây Nguyên gọi là “rẫy dế”), chuyển sang đốt một khoảnh rừng khác Kỹ thuật chặt và đốt rừng làm rẫy được quy định rất chặt chẽ trong luật tục, không hề lãng phí và không bao giờ để xảy ra cháy rừng… Mỗi hộ trong làng thường có từ 10 đến 20 rẫy Khi đã khai thác đến rẫy thứ 10 hay thứ 20, quay lại rẫy đầu tiên thì đã là 40 đến 60 năm, đủ thời gian cho rừng tái sinh Đó

là phương thức tìm lấy thức ăn từ rừng và nuôi rừng khôn ngoan đã được tích luỹ và thử thách hàng nghìn đời (Nguyên Ngọc 2008) Xem thêm các bàn luận về canh tác nương rẫy ở Việt Nam và vùng Đông Nam Á khác trong

Conklin, H 1961 The Studies of Shifting Cultivation Current Anthropology 2 (1), 27-61, và Kunstadter, Peter, E

C Chapman, and Sanga Sabhasri, eds 1978 Farmers in the Forest: Economic Development and Marginal

Agriculture in Northern Thailand Honolulu: University Press of Hawaii (East-West Center Book), McElwee,

Pamela D 1999 Policies of prejudice: ethnicity and shifting cultivation in Vietnam Watershed, 5(2):30-38

18 Đào Thế Tuấn: “Hệ sinh thái nông nghiệp”, Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật”, Hà Nội - 1984, tr.37

19 Theo Kaj Ahem, xã hội loài người nói chung có hai loại vũ trụ quan cơ bản là "vũ trụ quan của sự tiếp tục" (cosmology of continuieties) và "vũ trụ quan khu biệt" (cosmology of detachment) Vũ trụ quan của sự tiếp tục là đặc trưng của người bản địa và xã hội tiền hiện đại trong khi vũ trụ quan khu biệt là lối tư duy của con người sống trong xã hội hiện đại, đặc biệt là những nhóm cư dân sống ở đô thị Hai loại vũ trụ quan này, theo ông, "sản sinh ra những thái độ và những tương tác rất khác nhau liên quan đến môi trường tự nhiên Ở loại thứ nhất, con người và tự

Trang 28

thành tố môi trường như rừng, nước, động vật, vv được coi "là một phần của một hệ thống phức tạp mà ở đó, con người không tách rời khỏi tự nhiên Một thành tố quan trọng khác trong những hệ thống này là tự nhiên được sở hữu, bảo vệ và quản lý bởi lực lượng siêu nhiên Khi muốn sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên, con người phải cầu xin sự cho phép của các ma lành (good spirits) Cùng lúc đó, họ cũng phải tránh làm tổn hại đến các ma xấu (bad spirits) (Satita 1997: 260) Lối tư duy này, vì vậy, chi phối cách thức các tộc người thiểu số tại chỗ tham gia vào

tự nhiên, trong đó con người không hành động trên tự nhiên theo hướng tàn phá nó, mà chia sẻ với môi trường tự nhiên như là một phần của xã hội con người Nói cách khác, mối quan hệ giữa con người, cây cối, rừng núi, động vật và các lực lượng siêu nhiên khác được nhìn nhận như là một mạng lưới của mối quan hệ xã hội Trong cấu trúc của hệ thống này, tất cả các thành tố tự nhiên và con người đều là một phần của thế giới xã hội mà trong đó, "tất cả các cá nhân trong xã hội con người và các thành viên khác đều phải mang một bổn phận hiểu biết lẫn nhau và cùng nhau bảo vệ mối quan hệ cân bằng sinh thái (Bash 1996: 200)

Ở các nhóm người Mạ, Cơ Ho và Mnông tại buôn Bét và buôn Ban nói riêng và ở các tộc người thiểu số tại chỗ Tây Nguyên khác, “vũ trụ quan của sự tiếp tục” hiện hữu rõ ở các thực hành nghi lễ trong cả quá trình canh tác nương rẫy, từ khâu chọn đất, phát cây cho đến khu thu hoạch Theo quan niệm của đồng bào, tất cả các thành tố tự nhiên đều có linh hồn như con người, theo ngôn ngữ của họ là Yang, bao gồm yang rừng (tiếng Cơ Ho là Yang Brê), Yang cây Yang nước (tiếng Cơ Ho là Yang Dạ), Yang đất (tiếng Cơ Ho là Yang Ú), Yang suối, Yang đá, Yang sông, v.v…Trước khi phát rừng làm rẫy, người dân, thường là thông qua già làng, phải hỏi

ý kiến của các Yang Nếu Yang đồng ý thì mới được phép làm, nếu không phải chuyển sang khu rừng khác Thông qua các nghi lễ, vũ trụ quan của sự tiếp tục nhấn mạnh đến mối quan hệ hữu

cơ và phụ thuộc lẫn nhau giữa các thành tố tự nhiên và con người được củng cố, duy trì và truyền lại cho các thế hệ sau.20 Đúng như nhận xét trong một bài viết mới xuất bản của nhà dân tộc học Phan Ngọc Chiến (2014: 86 - 87), "Một thế giới quan không tách rời khỏi cái thiêng như thể hẳn

đã là yếu tố quan trọng giúp các dân tộc thiểu số Tây Nguyên tồn tại bền vững qua thời gian mà không gây áp lực nặng nề lên môi trường thiên nhiên nơi họ sinh sống"

Một dàn xếp xã hội quan trọng khác là tập quán tương hỗ, tương trợ trong sản xuất và trong chia sẻ sản phẩm Trong canh tác nương rẫy, cũng như trong các hoạt động lao động sản xuất khác, cả người dân buôn Biết, buôn Ban, Ba Nhất, Phiên Khoài và Huổi Khoangđều thực hành

nhiều tập quán tương hỗ bình đẳng trong những lúc nông vụ chí kỳ, tam ốp ở người Mơ Nông, lơ

túh ở người Mạ và Cơ Ho Tương hỗ bình đẳng được thực hành theo nguyên tắc giống với hình

thức vần công, đổi công ở người Kinh, tức vào mùa vụ, một số hộ gia đình tập trung làm xong cho nhà này rồi làm sang nhà khác và đổi công, có nghĩa nay gia đình A làm cho gia đình B, và đổi lại gia đình B sẽ sang làm cho gia đình A Ở tất cả các tộc người, tập quán này được thực

hành trong trong cả chu kỳ của canh tác nương rẫy, từ lúc phát đốt, trỉa lúa, làm cỏ cho đến khi

thu hoạch

nhiên phụ thuộc lẫn nhau, hoà vào nhau như những thực thể của một xã hội, trong khi ở thể loại vũ trụ quan còn lại, con người khu biệt với tự nhiên, chỉ quan tâm đến việc khai thác và chiếm hữu tự nhiên vì mục đích kinh tế Xem thêm bàn luận về “vũ trụ quan của sự tiếp tục” một số tộc người thiểu số Việt Nam trong Hoàng Cầm (2000)

20 Xem thêm vũ trụ quan này ở người Thái trong Hoàng Cầm (2000) “Rituals and natural resource management: a case study of the Tai in Mai Chau, Hoa Bình” [Nghi thức nghi lễ và quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên: nghiên

cứu trường hợp Mai Châu, Hòa Bình], Interntional Reviews of Tai culture

Trang 29

Giống như ở nhiều tộc người thiểu số tại chỗ Tây Nguyên khác21, ở buôn Biết và buôn Ban, vần công và đổi công là hình thức hợp tác, tương hỗ bình đẳng giữa các thành viên không chỉ có quan hệ về huyết thống mà còn giữa các thành viên có quan hệ láng giềng Đối với các nhóm tương hỗ mà thành viên có quan hệ láng giềng, người dân tự thiết lập các nhóm lao động,

và sự tham của các thành viên vào các nhóm được thực hiện trên cơ sở tự nguyện Số lượng các thành viên trong một nhóm dao động từ 10-20 người Trong các nhóm, "Nguyên tắc bình đẳng được tuân thủ chặt chẽ Nếu thành viên vì lý do nào đó thiếu công của người khác thì anh ta phải tìm cách trả lại, có thể không bằng công lao động trên rẫy Trong thực tế, tình trạng thiếu công của nhau trong một nhóm ít khi xảy ra, bởi lẽ bình quân diện tích rẫy hàng năm trên đầu người lao động xấp xỉ bằng nhau" (Bùi Minh Đạo 2000: 120) Trong tập quán này, nguyên tắc bình đẳng còn được thể hiện ở việc không phân biệt giữa công của những người đàn ông khoẻ mạnh với người phụ nữ, người già và trẻ em

Trong bối cảnh sản xuất nông nghiệp nương rẫy, vần công, đổi công là dàn xếp văn hoá

-xã hội và đạo đức quan trọng được xây dựng trên và nảy sinh từ "triết lý tự cấp tự túc" của các tộc người Vần công, xét ở khía cạnh sản xuất, là thực hành đảm bảo tất cả các gia đình đều có thể sản xuất mùa vụ đúng thời vụ, bởi vì lúa và ngô, hai loại cây lương thực chính trong xã hội truyền thống của người Tây Nguyên, là loại cây rất ‘nhạy cảm’, đòi hỏi thời gian gieo trồng và thu hoạch đúng với thời vụ, nếu để chậm sẽ dẫn đến mất mùa Thêm vào đó, tập quán này cũng

"khắc phục tình trạng không cân đối lao động nan và nữ ở nhiều hộ gia đình nhằm đảm bảo phân công lao động theo giới được thực hiện trong các công đoạn của sản xuất nương rẫy", từ phát đốt, trỉa, gieo trồng cho đến thu hoạch

Trong lao động sản xuất, ngoài tập quán tương hỗ bình đẳng, các tộc người thiểu số tại chỗ Tây Nguyên còn thực hành tập quán tương trợ, tức là các thành viên ở những gia đình có điều kiện sang trợ giúp các gia đình khó khăn về nguồn lực lao động mà không phải trả công Sự tương trợ này không chỉ diễn ra giữa các thành viên trong một gia đình hay dòng họ, mà còn được mở rộng trong cả phạm vi của cộng đồng Những gia đình được các hộ khác đến giúp thường là các gia đình có điều kiện, hoàn cảnh khó khăn, không có khả năng sản xuất, như người già, ốm đau, bệnh tật, v.v Sự tương trợ hoàn toàn mang tính chất tự nguyện, được thực hiện trên triết lý và bổn phận mang tính đạo đức và tôn giáo Như vậy, cả hai hình thức tương hỗ, tương trợ này, như vậy, đảm bảo cho tất cả các hộ gia đình trong cộng đồng, dù có hoàn cảnh khó khăn như thế nào, đều có thể có được một đảm bảo về an ninh lương thực để sinh tồn Trong số các dàn xếp xã hội và đạo đức trong hoạt động sinh kế để đảm bảo an ninh một cách bền vững, ngoài vần công và đổi công, các tộc người Tây Nguyên còn thực hành tập quán

‘cùng chia sẻ’ những sản vật thu lượm hoặc săn bắn được trong rừng giữa các thành viên trong cộng đồng Theo đó, khi một thành viên trong cộng đồng săn bắn được một con thú, dù là bé hay lớn, có giá trị kinh tế ít hay nhiều, gia chủ sẽ chia đều sản vật cho tất cả các hộ trong thôn buôn Tập quán cùng chia sẻ trong khai thác tự nhiên hiện nay vẫn được thực hành ở nhiều tộc người thiểu số tại chỗ Giống như sự tương hỗ, trợ giúp trong lao động sản xuất, tập quán này, theo giải thích của một già làng người Sdra ở Kon Tum, đảm bảo tất cả mọi gia đình, cho dù có vị thế xã hội, kinh tế và nguồn nhân lực bất lợi như thế nào, cũng có thể được tiếp cận và chia sẻ bình đẳng nguồn tài nguyên của cộng đồng Cũng nhờ tập quán chia sẻ này, các mối quan hệ xã hội

21 Xem thêm Hoàng Cầm, Nguyễn Trường Giang (2013)

Trang 30

trong cộng đồng được duy trì và củng cố Ở người Dao, tập quán chia sẻ này còn thể hiện ở đất đai canh tác như một người dân minh họa:

Ót không giồng cái gì (dạ) chừng vài năm nó lên màu lại phát đi nó lên màu thế Ót cũng

là của mình Không ai xâm phạm của mình, cứ truyền cho con cháu Người khác họ đến

họ không có thì mình lại cho thôi, cho làm thôi Cho làm thôi nhưng mà vẫn là của mình…Như cảm thấy nhiều quá không làm được, nhà đó không làm thì cho hẳn Cho hẳn

ót đó (TKT, 71 tuổi, người Dao, Thái Nguyên)

Trong xã hội các tộc người truyền thống, các dàn xếp xã hội và đạo xuất phát từ "đạo lý

tự cấp tự túc" nhằm đảm bảo an ninh lương thực cho mọi gia đình trong cộng đồng, còn được thể hiện thông qua tập quán "một gia đình còn lúa, các gia đình khác không đói" Đây là tập quán được thực hành bởi hầu hết các tộc người thiểu số tại chỗ Tây Nguyên và phía Bắc nói chung và

ở các địa bàn nghiên cứu nói riêng Tập quán này được thực hiện trong các thành viên của cả gia đình mở rộng và ở cả phạm vi toàn buôn/ bản làng Theo đó, trong trường hợp thiếu lương thực trong thời kỳ giáp hạt hay bị mất mùa, các gia đình khá giả có bổn phận chia một phần lương thực cho các gia đình đang ở trong tình trạng thiếu đói Ở một số nhóm tộc người, chẳng hạn như người Sdra ở Kon Tum, sự vay mượn này có thể được trả hoặc dưới hình thức công lao động, hoặc bằng số lương thực tương ứng nếu vụ sau gia đình đó dư giả Tuy nhiên, nhiều nhóm tộc người khác coi việc chia sẻ, từ quan điểm của người cho lẫn người nhận, là một lẽ đương nhiên, các gia đình đến vay mượn không nhất thiết phải trả lại số lương thực đã vay cho các gia đình khá giả Ví dụ, theo Nguyễn Văn Diệu, “người Mạ, người Chil [hai nhóm được xếp loại vào phạm trù người Cơ Ho) thường suốt lúa bằng tay và hạt lúa được mang về các kho riêng của từng gia đình Tuy gọi là "riêng" như vậy, song đồng bào vẫn thường san sẻ số lương thực và thực phẩm dự trữ của mình cho nhau một cách rất tự nhiên, nghĩa là gia đình này thiếu thì cứ việc lấy của gia đình khác mà dùng, không có khái niệm vay hoặc trả.”22

Để dàn xếp văn hoá - xã hội này tồn tại một cách bền vững, các tộc người thiểu số tại chỗ

đã tạo ra các cơ chế văn hoá - xã hội và tâm linh để duy trì và củng cố nó Ở khía cạnh tâm linh, trong quan niệm của các cộng đồng, vị thế xã hội, hoàn cảnh kinh tế, hay bất cứ một khía cạnh kinh tế, văn hoá và xã hội nào khác của gia đình, cộng đồng đều không phải do khả năng tự thân

mà có sự chi phối mạnh mẽ của thần linh, v.v Nói cách khác, sự giàu có, trong quan niệm của người Tây Nguyên "trước hết là một tặng phẩm cá nhân của các thần, bất kể các phương tiện nhờ

đó người ta đạt được sự giàu có là gì" (Howe 2004: 99) Việc “người giàu nhiều lúa gạo cũng không tự hào, người nghèo cũng không xấu hổ, và khi buôn làng đói kém thì người giàu chia lúa cho người nghèo như một lẽ đương nhiên"23, do vậy, được duy trì và thực hiện một cách tự nguyện và ở một mức độ nào đó là bổn phận Ngoài ra, ở hầu hết các tộc người thiểu số, hình thức tương trợ này cũng được duy trì và củng cố bằng sức mạnh của dư luận xã hội, giống như Scott (1976) quan sát thấy ở nhiều cộng đồng nông dân Đông Nam Á khác Tác giả viết: "Những người giàu trong cộng đồng rất hào phóng để tránh những lời đàm tiếu độc hại Họ được kì vọng phải trợ giúp một cách xa hoa cho các đám cưới, tỏ ra rất hào phóng trong việc làm từ thiện đối

22 http://www.lamdong.gov.vn/vi-VN/a/book/Pages/books/DTLD/kinhte.htm

23 Rodam Ngọc, “Tâm lý nương rẫy và sự phát triển bền vững ở các dân tộc Tây Nguyên” (5/12/2011), trang trực tuyến của Viện Tâm lý học (www.tamly.com.vn)

Trang 31

với họ hàng và hàng xóm láng giềng, tài trợ cho các hoạt động tín ngưỡng tôn giáo [của cộng đồng] và thuê thêm nhiều lao động hơn các gia đình khác" (tr 41)

Chính vì tập quán tương trợ hay dàn xếp xã hội này nên các gia đình trong xã hội truyền thống các tộc người thiểu số, dù ở trong bất kì hoàn cảnh khó khăn nào, chẳng hạn như thiếu hụt

về nhân lực lao động hay bị ốm đau bệnh tật, đều có thể có được một nguồn lương thực ổn định

để tồn tại một cách bền vững Ngoài ra, tập quán tương trợ hay dàn xếp văn hoá - xã hội này cũng

là cơ chế để ngăn cản sự phân hoá giàu nghèo trong cộng đồng, tạo ra những cộng đồng khá đồng nhất về mặt kinh tế và vị thế xã hội, một dàn xếp được Geertz (1963) đặt tên là "chia sẻ sự nghèo

đói" [shared poverty] Tác giả viết về chức năng của các hình thức tương trợ này ở người Java,

Indonesia như sau:

“Đi cùng với sự gia tăng nhanh chóng của dân số là sự xây dựng và mở rộng các cơ chế qua đó sản phẩm nông nghiệp được chia sẻ, nếu không đồng đều, công bằng thì cũng gần đạt đến như vậy, trong toàn cộng đồng Dưới sức ép của sự gia tăng về dân số và sự suy giảm về tài nguyên, xã hội người Java không bị phân tách, giống như xảy ra ở nhiều quốc gia 'chậm phát triển' khác, thành một nhóm của các lãnh chúa và một nhóm của những người nghèo khổ giống như là người ở Thay vào đó, nó lưu giữ sự đồng nhất về mặt kinh

tế và xã hội ở một mức độ khá cao bằng việc chia miếng bánh kinh tế thành các miếng bánh nhỏ, một quá trình mà tôi gọi là "chia sẻ sự nghèo đói"” (Geertz 1963: 97)

Như vậy, cho dù được tổ chức theo hình thức nào thì, như vừa phân tích, các hành vi và loại hình sinh kế cổ truyền của các tộc người thiểu số Tây Nguyên và phía Bắc đều được xây dựng và phát triển theo nguyên tắc của một nền kinh tế duy tình Ở nhiều cộng đồng, trong đó có người Mnông ở buôn Biết và người Cơ Ho ở buôn Ban, người Dao ở Ba Nhất và người Thái ở Phiên Khoài và Huổi Khoang, thể chế kinh tế đặc trưng này được người dân duy trì thực hành cho đến tận thập kỉ 80 của thế kỉ XX Như sẽ trình bày ở phần tiếp theo của báo cáo, do “những hiểu lầm cơ bản” (Jamieson, Neil L.; Cuc, Le Trong; Rambo, A Terry, 1998), thể chế kinh tế theo hướng duy tình của các tộc người thiểu số tại chỗ Tây Nguyên và phía Bắc, được các nhà nghiên cứu và thực hành chính sách phát triển ở Việt Nam nhìn nhận khá tiêu cực Các chương trình phát triển dựa trên “những hiểu lầm cơ bản” đã tạo ra sự chuyển đổi mạnh mẽ nền kinh tế

cổ truyền Tây Nguyên và phía Bắc và sự chuyển đổi đã tạo ra những thách thức và hệ quả không mong muốn, trong đó có vấn đề nợ và nợ xấu ở các hộ gia đình

5.3 Chuyển đổi sinh kế

Do tác động mạnh mẽ của các chương trình, chính sách phát triển vừa nêu ở trên, sinh kế của các tộc người thiểu số tại chỗ đã có một sự thay đổi mạnh mẽ Thể hiện rõ nhất là sự chuyển đổi sinh kế từ tự cung tự cấp sang sản xuất nông sản hàng hóa Ở các địa bàn nghiên cứu của chúng tôi, quá trình chuyển đổi này diễn ra có những đặc tính khác nhau do sự chi phối của lịch

sử các thể chế chính trị tại các vùng đất Tuy nhiên, quá trình này có đặc điểm chung là kể từ khi Việt Nam gia nhập mạnh mẽ vào thị trường thế giới sau giai đoạn Đổi Mới, quá trình sản xuất nông sản hàng hóa được xem như một phương cách làm giàu nên việc các dân tộc thiểu số trồng cây gì, nuôi con gì đều có vai trò to lớn của nhà nước Cụ thể như, các dân tộc tại chỗ ở buôn

Trang 32

Biết và buôn Ban hiện nay, nhìn một cách khái quát, không còn là một nền sinh kế “ăn rừng” đậm chất duy tình Các dàn xếp văn hoá - xã hội và kỹ thuật xây dựng nên một đạo lý ‘tự cấp tự túc” để đảm bảo an ninh lương thực và tồn tại bền vững của tộc người đã được thay thế bằng một

hệ thống sinh kế hoàn toàn mới Vào thời điểm chúng tôi tiến hành nghiên cứu điền dã, nhiều hoạt động sinh kế truyền thống đề cập ở trên đã lùi vào quá khứ và chỉ còn tồn tại trong ký ức của người lớn tuổi Trên chuyến đi dọc theo quốc lộ 27 từ địa bàn nghiên cứu ở Lâm Đồng sang huyện Lăk của Đắk Lắk, nơi nhà dân tộc học người từng sinh sống và cho ra đời tác phẩm nổi

tiếng Chúng tôi ăn rừng (1957), độc giả cuốn sách không còn thấy bóng dáng của nhiều hoạt

động sinh kế như đã được Condominas mô tả trong cuốn sách nổi tiếng của mình Ở Tây Nguyên hiện nay cũng khó nhận ra khung cảnh các buôn làng đã từng ăn nhờ rừng, sống nhờ rừng và hoà lẫn vào rừng vì hiện nay các vạt rừng mọc trên đá non mà người Mơ Nông Gar giữ để “ăn”, để sống hàng thế kỉ đã được thay thế bằng các vườn ca cao, rẫy sắn cao sản, hay vườn điều Trong báo cáo này, chúng tôi sẽ tập trung trình bày và phân tích sự chuyển đổi sinh kế ở ba khía cạnh

có liên quan đến vấn đề nợ của các hộ gia đình là chuyển đổi trong sản xuất nông nghiệp và trong văn hoá tiêu dùng

5.3.1 Chuyển đổi trong sản xuất nông nghiệp

Như trên đã trình bày, bốn tỉnh khảo sát đều tham gia mạnh mẽ vào quá trình chuyển đổi

từ nông nghiệp tự cung tự cấp với sự đa dạng các loại cây trồng phục vụ cho cuộc sống của người dân sang nông nghiệp hàng hóa với sự độc canh các loại cây trồng phục vụ cho thị trường rộng lớn hơn Ở các điểm nghiên cứu, các dân tộc hiện nay không còn gắn liền với hình ảnh canh tác nương rẫy mà là canh tác các loại cây như ngô lai (buôn Biết, Ba Nhất), cây cà phê (buôn Ban, Huổi Khoang, Phiên Khoài) và cây chè (Ba Nhất)

Thay đổi trong sản xuất nông nghiệp ở buôn Biết và buôn thể hiện rõ nhất ở việc người dân đã từ bỏ hoàn toàn việc trồng lúa rẫy bằng lúa ruộng với các giống lai Thêm vào đó, và quan trọng hơn, trong khoảng một thập kỉ trở lại đây, tất cả các gia đình trong buôn đều tham gia một cách mạnh mẽ vào mô hình sản xuất nông nghiệp theo hướng thị trường Tuy nhiên, do có đặc điểm thổ nhưỡng và khí hậu khác nhau nên mỗi buôn phát triển cơ cấu cây trồng riêng để phù hợp với điều kiện sinh thái đặc thù Do đất đai ở buôn biết chủ yếu là đất pha cát nên cây trồng chủ đạo là ngô, thì ở buôn Ban, với điều kiện thổ nhưỡng phù hợp, cà phê là cây trồng chủ lực của hầu hết tất cả các gia đình Như phần cơ sở tiếp cận đã chỉ ra, điều kiện chuyển đổi đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình chuyển đổi sinh kế đặc biệt đối với các cư dân canh tác nương rẫy vốn dựa trên nền kinh tế tự túc, theo đó sự tích lũy tư bản không được chú trọng Điều kiện chuyển đổi sinh kế ở cả hai buôn đều cho thấy việc chuyển đổi này có vai trò tích cực của nhà nước thông qua các chương trình khuyến nông với mục đích “phát triển kinh tế” cho các cộng đồng tộc người để họ có thể từ bỏ các hình thức canh tác “lạc hậu” từ đó tiến kịp với tộc người đa số Bên cạnh đó, sự cám dỗ của lối sống hiện đại với việc hưởng thụ các tiện nghi sinh hoạt và nhu cầu chăm sóc sức khỏe cũng là một lực hút quan trọng cho quá trình chuyển đổi này lan tỏa trên diện rộng

Cây cà phê ở buôn Ban

Nhìn vào lịch sử kinh tế Tây Nguyên, cây cà phê gắn liền với quá trình người Pháp khai thác thuộc địa ở Việt Nam và đầu tiên được trồng thử nghiệm ở các tỉnh phía Bắc sau đó mới

Trang 33

phát triển dần vào Nam Tây Nguyên và Đông Nam bộ24 Trước năm 1945, cả nước Việt Nam có khoảng 10.500 ha cây cà phê với sản lượng gần 4.000 tấn/ năm; phần lớn sản lượng cà phê này thực dân Pháp xuất về nước họ Lúc này cà phê chủ yếu được trồng ở miền Nam và các tỉnh Tây Nguyên Ví dụ như ở Đắk lắk, trước 1960, hầu hết các đồn điền trong tổng số 40 đồn điền đều trồng cà phê.25 Giai đoạn 1950-1975 cây cà phê được trồng thêm ở các tỉnh phía Bắc (Tây Bắc)

Từ năm 1975 đến nay, cây cà phê được tập trung phát triển ở các tỉnh Tây Nguyên và Đông Nam

bộ (Nguyễn Pháp 1996, tr.37) Cây cà phê của các tỉnh Tây Nguyên chủ yếu được trồng nhiều vào giai đoạn 1980-1987, ban đầu nằm trong các nông trường quốc doanh sau đó lan ra các hộ dân Sự lan tỏa việc trồng cà phê ra các hộ dân là do giá cả cà phê lên cao nên các hộ nông dân tìm mọi cách để trồng Cây cà phê chủ yếu được gieo trồng theo cách chọn giống thực sinh ngay tại vườn 26

Cây cà phê tại thôn Ban được cho là có xuất xứ từ trung tâm xã Phú Sơn, nơi trước đây

có các đồn điền cà phê của người Pháp và của người Việt được lập từ thời Pháp27 Đối với nhiều

hộ dân, chẳng hạn như gia đình anh K’T (dân tộc K’ Ho, 52 tuổi), việc chuyển đổi từ lúa rẫy sang cà phê là do gia đình tự học hỏi từ các hộ xung quanh Gia đình anh gây dựng vườn cà phê bằng cách “đi tìm lượm từng hạt cà phê ở các vườn cà phê thuộc các các đồn điền ở Phú Sơn.” Nhiều hộ khác đi học hỏi kỹ thuật trồng và xin cây giống trong quá trình đi làm công thuê cho các gia đình người Kinh trong vùng Trong khi đó, do cà phê được xem là cây đem đến sự “phát triển” hay làm giàu nên phần lớn các gia đình trong buôn, đặc biệt là các hộ nghèo và cận nghèo, được chính quyền, thông qua Phòng Khuyến Nông huyện, cung cấp giống và hỗ trợ kỹ thuật Hiện nay, khi cây cà phê đã phủ kín diện tích của buôn, các hộ nghèo vẫn được hỗ trợ phân bón

và cây giống Việc thay thế hoàn toàn lúa rẫy bằng cà phê thông qua sự hỗ trợ và khuyến khích của nhà nước diễn ra mạnh nhất vào khoảng giữa thập niên 80 khi nhà nước đẩy mạnh chính sách cấm phát nương làm rẫy tại địa bàn Anh K’ M (Dân tộc K’Ho, 55 tuổi) cho biết:

“Lấy vợ về đây vào năm 1985, bắt đầu trồng cà phê Lúc đó, nhà nước chỉ cho cách trồng, cho phân bón và cho cây con Lúc đầu trồng cà phê cũng sợ vì không biết như thế nào, thấy họ hàng bà con chỉ dần dần cũng an tâm.”

“Bắt đầu từ năm 2000, nhà nước đầu tư cho hộ mới ra riêng 1 hộ từ 200-300 cây cà phê

Ví dụ cây cà phê nhà nước bỏ 1 ngàn rưỡi, mình bỏ ngàn rưỡi.”

Tổng diện tích đất cà phê của buôn Biết hiện nay vào khoảng 1.100 ha, trong đó khoảng

500 ha là cà phê của các hộ dân nơi khác, chủ yếu là người Kinh, và diện tích cà phê thực tế của các hộ trong thôn chỉ có khoảng 600 ha Diện tích trung bình xấp xỉ 2ha/ hộ, hộ nhiều có khoảng 3ha và hộ ít khoảng 0,5 ha Theo người dân trong buôn, năng suất cà phê thấp của các hộ gia đình tộc người thiểu số tại chỗ khá thấp, khoảng 2 tấn/ ha/ năm, do cà phê già cỗi và giống cũ28

24 Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh Daklak

25 Bảo tàng tỉnh Đăk Lăk

26 Phỏng vấn lãnh đạo tỉnh Đăk Lăk

27 Giáo xứ Phú Sơn được cho là hình thành trên cơ sở tập hơn cư dân để lập đồn điền trồng cà phê

28 Phỏng vấn lãnh đạo thôn

Trang 34

Giống cà phê được trồng ở buôn Ban là cà phê vối hay theo cách gọi của người dân là

“Cà phê Rô” (Robusta).29 Khoảng 5 năm trở lại đây, một số gia đình trong buôn còn trồng thêm giống cà phê Catimor, là một trong hai loại của giống cà phê chè (Arabica) vốn có vị chua và ít caffein hơn loại Robusta Tuy giống Catimor cho trái nhiều nhưng do phần thịt của trái nhiều hơn nên năng suất cho nhân cà phê kém hơn Robusta và thời gian thu hoạch vào mùa mưa nên chi phí cao nên cũng không nhiều hộ gia đình tại đây trồng Cây cà phê trồng khoảng 3 năm thì

“trổ bông và cho trái bói, năm thứ tư thu hoạch; bắt đầu đến năm thứ 7-8 trái giảm.” Tuy nhiên, các vườn cà phê ở tại đây ít khi được tái canh vì người dân quan niệm “nếu thay sẽ mất nguồn thu và phải đầu tư từ đầu.”

Do chuyển từ canh tác tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hóa nên người dân nơi đây không có vốn để đầu tư cùng một lúc mà họ phải đầu tư theo kiểu “dần dần” Ví dụ như hộ anh K’T có 4 ha trồng cà phê nhưng để phủ kín vườn cà phê với mật độ theo yêu cầu kỹ thuật là 1.000 cây/ ha anh phải trồng làm nhiều đợt Anh lập gia đình năm 1990 và về bên vợ ở buôn Ban sinh sống Năm 1993 gia đình anh bắt đầu trồng cà phê, lúc đầu trồng 4 sào (4.000 m2) Sau đó mỗi năm anh trồng thêm từ 1-2 sào Cây cà phê con do anh chủ yếu tự ươm hạt và một số thì mua ở các cơ sở cây giống Đến năm 1999, anh trồng hết trên diện tích 4ha tuy nhiên mãi đến năm 2014 anh mới phủ kín hoàn toàn diện tích này với mật độ 1.000 cây/ 1 ha Vì đầu tư cho cây

cà phê rất tốn kém nhất là phân bón nên anh phải trồng dần và nhờ số tiền thu được từ các đợt cà phê trồng trước đó, anh đầu tư tiếp cho các đợt trồng sau

Cà phê là cây có nhu cầu dinh dưỡng cao, nhất là với kali và đạm cũng như cần một lượng nước tưới rất lớn Đối với cà phê vối, để có 1 tấn nhân (thường 4,2 kg đến 4,5 kg cà phê tươi sẽ cho ra 1 kg cà phê nhân) cây đã lấy đi theo quả khoảng 94 kg phân bón các loại Do vậy, trong quy trình trồng cà phê, phân bón là mối quan tâm hàng đầu nếu muốn cà phê có năng suất

Tỷ lệ đầu tư cao cho phân bón thể hiện qua chi phí của một hộ nông dân đầu tư cho 4 ha vào năm

2014

- Phân bón các loại: 120 triệu

- Thuốc diệt cỏ: 10 triệu

- Tiền công cào bồn30, làm cỏ31, bón phân, giựt tược32, hái trái (không tính công nhà bao gồm 1 lao động): 40 triệu

- Dầu để bơm nước tưới: 10 triệu

Niên vụ của cây cà phê thường được tính từ tháng 10 (bắt đầu thu hoạch) đến hết tháng 9 năm sau Tuy nhiên do quan tâm đến yếu tố phân bón nên người dân tại buôn Ban thường tính niên vụ cây cà phê theo lịch bỏ phân bón Một người dân trồng cà phê chi tiết:

tả chưa làm hết được vườn cà phê khi quay lại

32 Khi bón phân cho cây cà phê, cây hấp thu nhiều chất dinh dưỡng nên đâm các chồi non Các chồi non này sẽ hấp thu nhiều chất dinh dưỡng ảnh hưởng đến các cành đang ra trái khác nên người dân thường cắt những tược cây non này để dồn chất dinh dưỡng cho trái

Trang 35

“Cà phê (Robusta) tháng 4 dương lịch ra bông, tháng 5 có trái nhỏ và tháng 12 thu hoạch Hái rồi mình bỏ không cây cà phê đến tháng 4 nó ra bông Tháng 5 tháng 6 mình bón phân để giữ trái; tháng 9- 10 mình bỏ một lần nữa cho trái to Nếu có tiền thì một năm mình có thể bón 4-5 lần Thường bón vào đầu mùa mưa, giữa mùa mưa, cuối mùa mưa, đầu mùa khô và cuối mùa khô (Y’Nh, Mạ, Tin lành, 50 tuổi, canh tác 1 ha cà phê, 3 sào ruộng lúa)

Thêm vào đó, nhịp sống, sinh hoạt và tiêu dùng của người dân cũng theo niên vụ của cây cà phê

Tháng bỏ phân là kẹt tiền Kẹt tháng 4-6 và tháng 9 – 10, tháng 7-8 ở không nên đi làm thêm đổi công kíp lấy cái ăn Tháng 12 thì có tiền vì thu hoạch cà phê nhưng cà phê mất mùa thì nợ Bình thường đi làm từ sáng đến tối; đi cào bồn, giựt tược, làm cỏ chỉ nghỉ ngày thứ 7 để đi lễ Tháng bận nhất là tháng thu hoạch, ngày nào cũng hái, khoảng 2 tháng

(Ha R, nữ, 58 tuổi, Mạ, canh tác 5 sào cà phê, 1 sào lúa, Lâm Đồng)

Đối với những gia đình có diện tích cây cà phê ít, dưới 1 ha, để làm các công đoạn lao động như cào bồn, làm bỏ, bỏ phân, “giựt tược” có thể dựa vào công nhà Thế nhưng đối với những hộ có diện tích nhiều, hơn 1 ha, để có thể làm kịp vụ mùa họ phải cần thêm công lao động ngoài các thành viên của gia đình Giá công lao động trong vùng dao động từ 120-150 ngàn đồng/ 1 ngày công tùy theo lao động nam hay nữ và tùy theo chủ lao động trả công Tuy nhiên, như ở trên đã phân tích do không có nguồn vốn ban đầu nên toàn bộ khâu sản xuất người dân phải dựa vào vốn của một mạng lưới những người cho vay, và do cây cà phê đã già cỗi và giống

cũ và rủi ro cao trong khi cả năm chỉ trông chờ vào nguồn thu duy nhất này nên tiền mặt không xuất hiện nhiều trong các giao dịch trao đổi hàng ngày của người dân nên khi cần nhiều công lao động, hình thức đổi công tồn tại trong xã hội truyền thống lại quay trở lại

Trong buôn sẽ hình thành từng nhóm đổi công từ 3-10 người tùy theo nhóm Các nhóm được hình thành trên cơ sở là họ hàng hay những người cùng làng để giúp nhau làm các công đoạn cần nhiều lao động Hình thức này cũng giống như hình thức vần công trong trồng lúa ở đồng bằng sông Cửu Long Các cá nhân cùng tập trung công làm cho 1 hộ gia đình sau đó lần lượt luân chuyển làm cho cho các hộ khác trong nhóm Hình thức này giúp người dân giải quyết được vấn đề cần lao động trong khi không có tiền mặt Công này được tính theo tính chất tương

hỗ cân bằng Theo đó, mọi người tham gia đổi công trên cơ sở cân bằng Nếu vì lý do gì đó không thể giúp công đợt này thì đợt sau phải trả công lại cho người họ thiếu Các nhóm đổi công này thường làm cho nhau và khi cần tiền mặt hay gạo ăn các thành viên có thể bán công/ kíp Bán công là hình thức người đổi công nào đó khi đến phiên những người trong nhóm làm công cho họ thì họ không yêu cầu làm cho vườn cà phê của gia đình họ mà họ sẽ bán số công đó cho người khác cần công Ví dụ nếu họ tham gia vào nhóm đổi công 10 người thì khi bán công cho người chủ vườn cà phê khác họ sẽ nhận số tiền từ 1.200.000 đ/ ngày (nếu giá công là 120.000đ/ ngày) và họ cùng với 9 người khác sẽ đi làm công cho chủ vườn cà phê đó Nếu trả công bằng gạo thì chủ vườn sẽ quy giá công ra số ký gạo và trả cho người làm công Trong cả quy trình sản xuất cà phê, đổi công chỉ diễn ra ở những công đoạn nhất định như cào bồn, làm cỏ và giựt tược còn giai đoạn thu hoạch cà phê diễn ra liên tục trong 2 tháng từ tháng 10 đến tháng 12 thì các chủ

Trang 36

vườn phải thuê công từ các vùng nông nghiệp khác đến hái liên tục trong hai tháng chứ không sử dụng công tại địa phương do công việc diễn ra đồng thời trong thời gian giới hạn

Ngô lai ở buôn Biết

Trong khi cà phê là cây trồng chủ lực ở buôn Ban thì ngô là cây trồng có vị trí quan trọng nhất ở hầu hết tất cả các gia đình ở buôn Biết Ngô là cây trồng truyền thống của các dân tộc tại chỗ ở Tây Nguyên Vào thời còn sản xuất định hướng tiêu dùng, ngô được trồng cùng với lúa như nguồn lương thực quan trọng của đồng bào Cùng với sự gia tăng dân số và kéo theo là lĩnh vực chăn nuôi, các nghiên cứu tăng năng suất cây ngô cũng được chú trọng Từ giữa những năm

1980, nhờ vào hợp tác với Trung tâm cải tạo Ngô và Lúa mì Quốc tế (CIMMYT), nhiều giống ngô cải tiến được đưa vào trồng ở nước ta Tuy nhiên ngành sản xuất ngô Việt Nam thực sự có bước nhảy vọt là từ đầu những năm 1990 với việc không ngừng mở rộng giống ngô lai ra sản xuất đồng thời cải thiện các biện pháp cải thiện theo yêu cầu của giống mới.33 Theo báo cáo của Cục trồng trọt, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, ở Việt Nam, ngô là cây lương thực quan trọng thứ hai sau cây lúa và là cây màu quan trọng nhất được trồng ở nhiều vùng sinh thái khác nhau, đa dạng về mùa vụ gieo trồng và hệ thống canh tác Cây ngô không chỉ cung cấp lương thực cho người, vật nuôi mà còn là cây trồng xóa đói giảm nghèo tại các tỉnh có điều kiện kinh tế khó khăn Sản xuất ngô cả nước qua các năm không ngừng tăng về diện tích, năng suất, sản lượng: năm 2001 tổng diện tích ngô là 730.000 ha, đến năm 2005 đã tăng trên 1 triệu ha; năm

2010, diện tích ngô cả nước 1126,9 nghìn ha, năng suất 40,9 tạ/ha, sản lượng trên 4,6 triệu tấn Tuy vậy, cho đến nay sản xuất ngô ở nước ta phát triển chưa tương xứng với tiềm năng, chưa đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng trong nước, hàng năm nước ta vẫn phải nhập khẩu từ trên dới 1 triệu tấn ngô hạt.34 Như vậy, các giống ngô lai là lời giải cho bài toán cung cấp thực phẩm cho lĩnh vực chăn nuôi đang gia tăng Cùng với cây lúa, Việt Nam cũng thành lập viện nghiên cứu về cây ngô với mục đích ngày càng cải tiến năng suất và sự thích ứng của cây ngô với các điều kiện cụ thể của các địa phương

Trong bối cảnh này phát triển này, bắt đầu từ cuối những năm 1990, người dân buôn Biết

đã thay toàn bộ các giống ngô bản địa bằng các giống ngô lai, do “sự khuyến khích” của trung tâm khuyến nông Với điều kiện sinh thái không phù hợp trong việc canh tác các cây công nghiệp ngắn và dài ngày, người dân buôn Biết rất hứng thú khi được giới thiệu giống ngô lai với viễn tưởng đây là cây sẽ đổi đời cho họ vì trồng năng suất cao, ngắn ngày và có thị trường tiêu thụ Do lúc đầu chỉ mang tính chất thử nghiệm nên ở những vụ mùa đầu, tại buôn Ban chưa có thị trường tiêu thụ khiến cho sản phẩm làm ra không có người mua Tuy nhiên, với xuất phát điểm từ nền kinh tế tự cấp tự túc các hộ gia đình cũng tỏ ra rất dè dặt nên những vụ bắp đầu chỉ mang tính chất thử nghiệm Người dân chỉ trồng với diện tích ít trên những vùng đất mới khai phá Tuy nhiên, do được trồng trên vùng đất mới khai hoang nên những vụ mùa đầu đem đến nhiều hy vọng cho người dân nơi đây Điều này khiến cho họ dấn sâu vào việc trồng cây ngô lai trên diện rộng Tuy nhiên, khi sản xuất đại trà, các vấn đề bất cập của việc chuyển đổi này mới bộc lộ Một người dân minh họa cho sự khác biệt giữa hai giai đoạn trồng:

33 Phan Xuân Hào Một số giải pháp nâng cao năng suất và hiệu quả sản xuất ngô ở Việt Nam

34 Cục trồng trọt “Báo cáo định hướng và phát triển cây ngô vụ đông và vụ xuân các tỉnh phía Bắc” Ngày 24 tháng

8 năm 2011

Trang 37

Đầu tiên trồng thử 2 sào Đất lúc này mới khai hoang Lúc đó nhà nước chưa cấm việc khai hoang Mình mua 5 kg giống, 45 ngàn đồng/ kg Lúc này bón ít phân lắm, 1 vụ cỡ 1 bao phân cho 2 sào thôi Thu được 5 tạ bắp Giá 4 ngàn đồng ký Bây giờ 1 sào thu được

3 đến 4 tạ bắp nhưng phải bón phân nhiều; phải bón 3 đợt 1 sào bón 1 tạ phân là 2 bao/ 1 đợt (Y’K, sinh năm 1949, nam, Mnông, Đắk Lắk)

Các giống bắp hiện đang trồng ở buôn Biết là SK 100 và LVN10 của Công ty cổ phần giống cây trồng miền Nam (mùa vụ 2015) Do đây là giống ngô lai nên hàng năm người dân phải mua hạt giống từ các công ty cung cấp hạt giống chứ không để giống từ mùa trước để cho mùa sau Theo như phần giới thiệu đặc điểm của giống ngô này, năng suất có thể lên đến 12 tấn/ ha và

số lần bón phân yêu cầu là 4 lần/ 1 vụ để ngô có thể có năng suất Tuy nhiên, đây chỉ là lý thuyết, chi phí và thu nhập của hộ nông dân tại thôn B sau khi trồng giống ngô lai được gần 15 năm minh họa cho tính “đỏng đảnh” và bấp bênh của loại cây trồng này

Hộ HP có 6 sào đất trồng ngô Hộ bắt đầu trồng ngô từ năm 2000 Trước đó hộ trồng lúa rẫy Năm 2014, hộ bón tổng cộng 13 bao phân cho 6 sào ngô, cộng với tiền giống, thuốc diệt cỏ, thuốc trừ kiến, thuốc kích thích chi phí là 14 triệu Số tiền này hộ vay của “con buôn.” Hộ thu được 4 tấn ngô cho diện tích 6 sào, bán với giá 3 ngàn đồng/ kg Bình thường hộ cũng chỉ thu hoạch được từ 2,5 tấn đến 3 tấn bắp

Hộ YT có 5 sào đất trồng ngô Hộ bắt đầu trồng ngô cách đây 18 năm Mùa vụ năm 2014,

hộ chi phí hết 25 triệu cho 5 sào trồng ngô Số tiền để đầu tư hộ đi vay với lãi suất 5% tháng Hết tháng, lãi cộng vốn và chịu lãi suất 5% tiếp Hộ thu hoạch được 8 tấn, bán với giá 3 ngàn đồng/ kg Hộ thu được 24 triệu tiền bán ngô Số phân bón hộ vay chủ yếu để bón cho ngô, một ít để dành bón 4 sào lúa với chi phí hết 4,2 triệu (8 bao phân)

Hộ YD có 1 ha đất trồng ngô Năm 2014 đầu tư chi phí trồng ngô hết 18 triệu và thu được

20 triệu tiền bán ngô Số tiền này đi vay với lãi suất 5%/ tháng.35

Như vậy, qua các trường hợp có diện tích sản xuất trung bình và diện tích sản xuất lớn của buôn Biết ta thấy người dân phải bỏ chi phí rất nhiều để có thể canh tác ngô Năng suất của ngô phụ thuộc vào số phân bón đầu tư Thế nhưng nghịch lý là trong khi giá phân luôn tăng thì giá nông sản lại giảm do tác động của nguồn cung thị trường thế giới và do nguồn cung dồi dào trong nước nên dù diện tích ít hay nhiều người dân cũng khó thu lợi từ việc canh tác này Chẳng hạn như giá phân bón Ure vào năm 2004 dao động từ 4.000-4.200 đồng/ kg thì đến năm 2014, giá dao động từ 8.200-8.400đ/ kg trong khi giá bắp hạt năm 2011 là 6.500-6.700 đ/ kg và năm

2014 là 2.500 – 3.000đ/ kg Giá thu mua ngô của thương lái phụ thuộc vào giá cả của các nhà máy Các thương lái không phân biệt giống ngô mà chỉ nhìn vào chất lượng của hạt Điều này kích thích người dân tìm các giống ngô có năng suất cao và kéo theo hệ quả là lệ thuộc nhiều vào phân bón Giá ngô không chỉ biến động theo năm mà ngay cả trong một năm cũng biến động từ đầu vụ đến cuối vụ Ví dụ năm 2007, đầu vụ giá ngô là 2.100 – 2.500 đồng, đến 3 tháng cuối năm tăng vọt lên 4.000 đ/ kg Tại buôn Ban, giá cả ngô là do thương lái quy định Do có sự ràng buộc về việc đã vay phân và vay tiền nên người dân không thể thương thảo giá bán

35 Ghi chép điền dã tháng 6 năm 2015 tại buôn Biết, tỉnh Đắk Lắk

Trang 38

Từ rẫy sang ruộng lúa lai

Song song với việc tham gia vào thị trường nông sản với việc đầu tư lớn về cả lao động

và vốn để trồng ngô và cà phê bán cho thị trường, một trong những chuyển đổi quan trọng khác trong các hoạt động sinh kế của người dân tại buôn Biết và buôn Ban là việc bỏ hẳn lúa rẫy để chuyển sang sang canh tác lúa nước Theo số liệu của cán bộ buôn, hiện tại buôn Ban có 85 ha lúa, trong đó 30ha có thể canh tác hai vụ và số còn lại chỉ canh tác được một vụ do không có nước Lúa nước tập trung ở 122 hộ trong thôn, chủ yếu là người dân tộc tại chỗ Tương tự như vậy, tại buôn Biết, tất cả các gia đình mà chúng tôi phỏng vấn đều sở hữu một diện tích lúa nhất định, ở các cánh đồng nằm cuối buôn

Trong so sánh với cây cà phê (ở buôn Ban) và ngô (ở buôn Biết), lúa hiện nay chỉ được người dân coi là cây thứ yếu và vì vậy, được các gia đình đầu tư ít hơn cả về sức lao động và nguồn vốn.36 Tuy nhiên, canh tác lúa nước vẫn được coi là có vai trò đảm bảo một phần nào đó cho nhu cầu sinh tồn của các hộ gia đình Ví dụ, gia đình anh Y Nhang (50 tuổi, người Mạ ở buôn Ban) có 1 ha cà phê cho thu hoạch, song gia đình vẫn giữ 3 sào ruộng để canh tác Số ruộng này được canh tác 2 vụ/ một năm Mỗi vụ, 3 sào ruộng cho thu hoạch 15 bao lúa tươi (1 bao =

60 kg) Ba bao lúa sau khi phơi khô và chà xát sẽ có 60 kg gạo Như vậy, với 3 sào ruộng, một năm gia đình anh thu được 600 gạo Với số nhân khẩu 10 người, một tháng gia đình ông ăn hết

“4 bao đỏ” (70kg/bao) Số lượng gạo có được từ canh tác ruộng, như vậy, ít nhất đảm bảo nguồn lương thực cho gia đình trong 2 tháng Tương tự như vậy, gia đình ông Y’T có 15 người, bao gồm vợ chồng ông, những người con chưa lập gia đình, và vợ chồng con gái ông cùng với con và cháu Nhà ông có 4 sào đất trồng lúa ở vùng thấp, 5 sào trồng bắp và 2 sào trồng mì Một năm ông làm 3 vụ lúa, nếu năm nào nguồn nước dồi dào ông làm đến 4 vụ Mỗi vụ, gia đình thu được khoảng 300 kg gạo Gạo là lương thực chủ yếu của gia đình ông Một ngày gia đình ông ăn khoảng 7-8 kg gạo Nếu không bán và dùng để nuôi gia súc, số gạo thu được từ 4 sào ruộng này đảm bảo cho gia đình có đủ gạo ăn trong vòng từ 6 đến 7 tháng

Một đặc điểm chung là hiện nay các hộ ở thôn đều tập trung vào sản xuất cây cà phê nên trồng lúa được coi như sản xuất phụ thêm chủ yếu để có gạo ăn trong năm, và thường số gạo làm

ra cũng không đủ cung cấp cho cả năm Lúa được trồng ở những vùng trũng thấp “nơi không thể trồng cà phê được” Nếu như trước đây lúa được canh tác dưới hai hình thức lúa nước và lúa rẫy

36 Khi nghiên cứu về hộ gia đình như một đơn vị sản xuất, các công trình đều cố gắng tìm hiểu đặc trưng của sản xuất hộ gia đình A.V.Chayanov (1926) cho là sẽ là sai khi nghiên cứu việc canh tác hộ gia đình nông dân cũng giống như một loại hình kinh tế tư bản Sự khác biệt cơ bản đó là doanh nghiệp tư bản hoạt động bằng cách thuê công nhân để kiếm lợi nhuận trong khi nó hộ gia đình chỉ dựa vào lao động của các thành viên trong gia đình 36 Do vậy, lựa chọn của họ không thể xem xét theo hướng tính đến những tiêu chuẩn lợi nhuận trong đo lường tính toán Những gia đình nông dân sống nhờ vào những khu vực đông dân cư sẽ phải làm việc vô cùng vất vả và trông vào mấy khoản lời ít ỏi trong sản xuất - mà nếu là một nhà tư bản khôn ngoan thì đã bỏ qua Chayanov gọi những mảnh đất nhỏ ở đây là sự tự bóc lột Sự cân bằng giữa nhu cầu và lao động thay đổi theo thời gian theo một chu trình sinh học Theo đó khi thành lập hộ, hai vợ chồng trẻ bắt đầu có con, số miệng ăn trong gia đình tăng lên và do vậy họ cũng lao động cật lực hơn Khi con cái dần lớn lên kinh tế của hộ trở nên khá hơn vì có nhiều lao động Tỷ lệ giữa người tiêu thụ và người sản xuất quyết định tình hình kinh tế cũng như cường độ lao động của gia đình Mức sản xuất của họ do nhu cầu của họ quyết định Tùy theo nhu cầu cao hay thấp, người nông dân “tự bóc lột” sức lao động của mình để thỏa mãn nhu cầu của gia đình 36 Khi chuyển sang trồng cây cà phê, lúa trở thành một loại cây trồng phụ Tính chất phụ này thể hiện ở chỗ, người dân không đầu tư về thời gian và tiền bạc cho việc chăm sóc lúa vì

“làm cà phê hết thời gian rồi.”

Trang 39

thì hiện nay chỉ còn tồn tại hình thức trồng lúa nước Chất đất và địa hình của vùng đối núi nơi trước kia thích hợp để canh tác lúa rẫy thì giờ đây được thay thế bằng hình thức trồng cây cà phê

Do diện tích lúa nước không nhiều nên thu hoạch từ loại cây này chỉ đủ đáp ứng nhu cầu lương thực trong một khoảng thời gian nhất định trong năm

Sau khi Nghị định 20/1998/ND- CP của chỉnh phủ được ban hành, các giống lúa lai được cung cấp để thay thế các giống lúa truyền thống trên khắp địa bàn của cả nước.37 Trong bối cảnh này, các gia đình ở cả hai buôn cũng sử dụng các loại giống lúa lai để thay thế các loại giống lúa ruộng truyền thống đã được reo trồng trước đây Tương tự như phần lớn giống cà phê và ngô, lúc đầu các loại giống lúa lai được cung cấp miễn phí thông qua Trung tâm khuyến nông của huyện Kèm theo các giống lúa lai mới, nhà nước cũng hỗ trợ phân bón, thuốc trừ sâu và kỹ thuật canh tác để khuyến khích chuyển đổi Với đặc điểm sinh học nổi trội là có thời gian sinh trưởng ngắn, cho năng suất cao hơn nhiều so với các giống lúa truyền thống, và được các bộ các phòng chuyên trách tuyên truyền, vận động, nên chỉ trong một khoảng thời gian ngắn, toàn bộ các giống lúa địa phương đã được người dân tại hai buôn thay thế bằng các loại giống mới Với giống lúa mới có chu kỳ sinh trưởng ngắn, nếu năm nào có điều kiện thuận lợi về nước tưới, các gia đình ở buôn Ban canh tác 2 vụ, còn nếu không thì chỉ canh tác vào vụ mùa Do ở khu vực có hệ thống thuỷ lợi khá tốt, nên trung bình các gia đình ở buôn Biết canh tác 3 vụ, có trường hợp cá biệt canh tác 4 vụ trên một năm

Giống lúa lai được canh tác phổ biến tại hai buôn hiện nay là giống Khang Dân Trong so sánh với các loại giống lúa cũ, tuy giống lúa lai năng suất cao hơn, song nó cũng có nhiều hạn chế là việc canh tác loại lúa này cần các chi phí đầu vào khá lớn Một trong những chi phí đầu vào là mua giống Khác với các giống lúa truyền thống, người dân có thể dành lúa thu hoạch từ

vụ trước để làm giống cho vụ sau, việc canh tác lúa lai đòi hỏi phải mua giống ngoài thị trường theo từng vụ với giá cao hơn gấp khoảng 10 lần so với giá lúa dùng để ăn trên thị trường Một chi phí đầu vào khác với mức đầu tư vốn lớn hơn nhiều là phân hoá học Giống như các loại giống ngô lai trình bày ở trên, do có chu kỳ sinh trưởng ngắn nên lúa lai cần lượng phân bón hoá học khá lớn, đặc biệt là NPK và đạm Tất cả các hộ dân mà chúng tôi phỏng vấn đều khẳng định, khác với các loại giống lúa cũ, các loại giống lúa lai sẽ không cho thu hoạch nếu không bón phân hoá học Điều này hoàn toàn khác với các giống lúa truyền thống bởi chúng chỉ cần bón phân hữu cơ là có thể cho sản phẩm, và vì thế các gia đình vẫn không bị phụ thuộc vào đầu vào từ bên ngoài mà vẫn có thể sản xuất được Các loại giống lúa mới cũng chỉ cho năng suất cao khi được bọn đủ số lượng phân hoá học cần thiết Theo tính toán của anh Y Nhang (50 tuổi, người Mạ ở buôn Ban), trong năm 2014, 3 sào lúa của gia đình cho thu hoạch 15 bao lúa tươi, mỗi bao khoảng 60 kg Tuy nhiên, để có thu hoạch lúa với năng suất như vậy, ông phải bón 4 bao phân NPK với tổng số tiền khoảng 1, 4 triệu đồng Các giống lúa lai, trong đó có giống Khang dân đang được trồng phổ biến ở tại hai buôn, cũng có đặc điểm sinh học khác với các giống lúa truyền thống ở khía cạnh kháng sâu bệnh Nhiều người dân chúng tôi phỏng vấn khẳng định, nếu không dùng thuốc trừ sâu thì loại giống này không cho thu hoạch Bởi vậy, ngoài phải đầu tư mua giống và phân bón, các gia đình còn phải mua thuốc diệt cỏ và thuốc trừ sâu với một khoản tiền không nhỏ

Như vậy, với việc chuyển đổi từ làm lúa rẫy sang làm ruộng, đặc biệt từ khi du nhập giống lúa nước lai để canh tác, cùng với sự hỗ trợ về giống và phân bón từ nhà nước không còn,

37 Xem thêm Bonni và Turner 2012, Nguyễn Thu Phương và Baulch 2007)

Trang 40

các gia đình tại hai buôn không còn tự chủ và tận dụng được nguồn lực sẵn có của gia đình trong hoạt động sản xuất nông nghiệp Tuy không phụ thuộc vào đầu ra như ngô và cà phê vì phần lớn các gia đình canh tác lúa để tiêu thụ trong gia đình, song họ phải phụ thuộc vào đầu vào từ thị trường và vì vậy cần phải có vốn để sản xuất Trong so sánh với nguồn tài chính cần phải có để sản xuất cà phê hay ngô, nguồn vốn các gia đình phải có để đầu tư mua phân bón, thuốc trừ sâu

và giống không nhiều, song trong bối cảnh kinh tế khó khăn của hầu hết các gia đình và với cuộc sống “cái gì cũng phải có tiền” như hiện nay thì việc phải bỏ ra vài triệu để sản xuất lúa tạo thêm gánh nặng rất lớn cho người dân Như sẽ phân tích kỹ ở phần dưới của báo cáo, việc chuyển đổi

từ rẫy sang canh tác ruộng nước lúa lai cũng đóng góp không nhỏ vào hiện trạng nợ của các gia đình tại hai buôn này

Giống như ở Tây Nguyên, lịch sử sinh kế của các dân tộc thiểu số ở vùng núi phía Bắc chịu ảnh hưởng rất lớn của các chính sách phát triển của chính quyền địa phương nói riêng và của nhà nước nói chung Sự chuyển đổi về sinh kế của các dân tộc diễn ra mạnh mẽ kể từ sau thập niên 1990

Chuyển đổi sinh kế ở Ba Nhất

Tại thôn Ba Nhất, vốn dĩ trước đây là khu rừng già, khi các hộ dân đầu tiên đến đây họ đã khai phá vùng đất này để lấy đất canh tác và thực hành theo phương thức phát đốt do đất đai

rộng và dụng cụ canh tác thô sơ Rừng già (kìm củ) được phát bằng cách lựa chọn các khoảnh đất

có các cây không quá to để đỡ công đốn hạ Các cây leo, cây bụi và các cây nhỏ ở khoảnh đất được chọn được chặt hạ vào mùa khô và được đốt trước khi cơn mưa đầu mùa tới Rẫy (zẻng) được tạo ra như vậy và người dân trồng trọt lúa nương và ngô nương Sau một thời gian canh tác

khoảnh đất này bị bạc màu sẽ bị bỏ hoang gọi là ot Sau này khi ót tái sinh, người ta lại phát đốt

để trồng trọt Những người không có rẫy có thể mượn ót của nhau để canh tác nhưng sở hữu ót

được xác định thuộc về người phát rẫy đầu tiên Có trường hợp cho hẳn ót để người không có đất

canh tác Bên cạnh đó người Dao tại đây còn làm ruộng lúa nước và dùng trâu để cày ở những vùng đất trũng Người Dao tại thôn Ba Nhất có truyền thống trồng lúa nước từ lâu đời và đây là hoạt động kinh tế chính do có năng suất ổn định Người Dao giỏi cả hai loại ruộng Lúa nương

có 3 loại: nếp nương, lúa tẻ và cẩm nương Lúa ruộng làm từ thời Pháp thuộc với các giống Bao Thai, Lúa tám (cây lúa cao 1,2 m) Lúa nương là “ruộng” của những người không có ruộng lúa nước, là những người mới di cư vào Còn người Dao khi đến đây cư trú không du canh du cư Lúc đầu, những người Dao đến trước chia sẻ đất phát được cho những người Dao đến sau để thu hút mọi người đến ở cho đông đúc dưới hình thức hoặc là nhận anh em họ hàng với người đến trước hoặc không

Bắt đầu khoảng những năm 1960 cùng với việc thành lập các tổ đổi công, tổ hợp tác và sau là hợp tác xã nông nghiệp, ruộng và trâu của các hộ dân được “góp vào làm chung.” Đến năm 1993 hợp tác xã giải tán thì “ruộng nhà nào là nhà nấy họ làm, họ lấy lại hết.” Những người không có ruộng thì lấy đất khai phá của hợp tác xã Sinh kế của người dân trong giai đoạn sản xuất hợp tác xã chủ yếu chỉ trồng lúa Sự chuyển đổi cây trồng ở đây bắt đầu bằng cây ngô lai Ở Huyện Võ Nhai, cây ngô lai được đưa vào phát triển từ năm 1990 và phát triển mạnh vào khoảng những năm 2000 Cây ngô lai được đưa vào là một trong những chủ trương hỗ trợ cho việc ổn định kinh tế của các dân tộc sống dựa vào rừng khi nhà nước không cho phép phát rừng làm rẫy Lúc đầu là trồng ngô răng ngựa cho năng suất cao nhưng màu sắc không đẹp và ăn không ngon bằng ngô địa phương, và ngô chín tẻ hạt khó do hạt sít Sau này các giống ngô mới ra đời đã dẫn đến sự thâm nhập của giống ngô lai vào đời sống người dân

Ngày đăng: 16/07/2019, 11:45

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm