Việt Nam là quốc gia đa dân tộc với 54 dân tộc cùng sinh sống. Người Kinh chiếm 85,4% dân số Việt Nam, với 78,32 triệu người. 53 dân tộc thiểu số (DTTS) còn lại chỉ chiếm 14,6% dân số cả nước (Xem bảng 1).1 Mặc dù Việt Nam ủng hộ Tuyên bố về quyền của người bản địa (UNDRIP), Chính phủ không đồng nhất khái niệm người dân tộc thiểu số với người bản địa. Thay vào đó, Chính phủ dùng thuật ngữ “dân tộc thiểu số” để chỉ chung cho những người không thuộc dân tộc Kinh, thể hiện chủ trương “thống nhất trong đa dạng” của Chính phủ.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
KHOA LUẬT VÀ QUẢN LÝ XÃ HỘI
TIỂU LUẬN
THỂ CHẾ THỰC THI QUYỀN DÂN TỘC THIỂU SỐ TẠI VIỆT NAM.
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN
Sinh viên : Nùng Văn Đình
Mã sinh viên: DTZ1752380101307 Lớp: Luật D-K15
Thái Nguyên 24 tháng 5 năm 2019
Trang 2
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 3
PHẦN NỘI DUNG 4
1 Khái niệm 4
1.1 khái niệm dân tộc thiểu số 4
1.2 khái niệm quyền của dân tộc thiểu số 4
1.3 khái niệm thể chế thực thi quyền của dân tộc thiểu số 5
1.4 Đặc điểm của dân tộc thiểu số 5
1.5 Các dân tộc thiểu số ở nước ta chủ yếu cư trú trên các rừng núi ,biên giớ và có vị trí quan trọng 5
2 Nội dung của thể chế bảo đảm thực thi quyền của dân tộc thiểu số 6
3 Thực trạng đảm bảo quyền của các tộc người thiểu số 11
3.1 Phát triển kinh tế - xã hội và thực hiện giảm nghèo nhanh, bền vững cho vùng đồng bào các dân tộc thiểu 11
3.2 Dạy nghề, tạo việc làm và bảo đảm các điều kiện chăm sóc sức khỏe và y tế cộng đồng 15
3.3 Đảm bảo quyền được giáo dục -đào tạo 18
3.4 Đảm bảo các quyền tham chính 19
3.5 Bảo đảm các quyền về văn hóa của các dân tộc thiểu số 20
3.6 Đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của các tộc người thiểu số 24
3.7 Một số hạn chế ,bất cập trong đảm bảo quyền cho các tộc thiểu số 26
4 Một số giải pháp bảo đảm các quyền của đồng bào dân tộc thiểu số hiện nay 27
KẾT LUẬN 30
TÀI LIỆU THAM KHẢO 31
Trang 3DANH MỤC VIẾT TẮT
QCNDTTS Quyền chủ nghĩa dân tộc thiểu số
NĐ-CP Nghị định của chính phủ
XĐGN&VL Xóa đói giảm nghèo và Việc làm
QĐ-TTG Quyết định của thủ tướng
PTDTNT Phổ thông dân tộc nội trú
và thực thi quyền của người dân tộc thiểu số hiện nay có cấu trúc tương thích rất cao
Trang 4so với các tiêu chuẩn quốc tế, thậm chí là tiến bộ và có mức độ ưu đãi, hỗ trợ rất lớn.Trong quá trình hình thành và phát triển, các tộc người ở Việt Nam đã tạo nên nhữngđặc điểm riêng của mỗi tộc người, song lại mang những nét chung của bản sắc quốcgia đa dân tộc Các tộc người sinh sống ở Việt Nam có những đặc điểm cơ bản như:truyền thống đoàn kết trong đấu tranh, xây dựng một quốc gia độc lập, thống nhất; dân
số không đều, cư trú phân tán và xen kẽ; các tộc người thiểu số phân bố trên địa bàn có
vị trí quan trọng về kinh tế, chính trị và quốc phòng, an ninh và có trình độ phát triểnkinh tế - xã hội không đều nhau Kể từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, quyền củacác tộc người thiểu số đã được đề cập đến và được thể hiện trong mọi lĩnh vực hoạtđộng của Đảng, được thể chế hóa bằng các văn bản pháp luật mà thể hiện rõ nhất quaHiến pháp năm 1946 và Hiến pháp năm 1959, song từ đó đến nay quyền của các tộcngười thiểu số được quan tâm hơn khi Đảng và Nhà nước ta thực hiện công cuộc đổimới đất nước, từng bước thực hiện quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhậpquốc tế Có thể nói, dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước, ở trênnhiều phương diện, quyền của các tộc người thiểu số ở Việt Nam đã được đảm bảomột cách tương đối đầy đủ trong từng giai đoạn phát triển khác nhau, nhưng vẫn còn
đó những bất cập về mặt lập pháp, thực thi về mặt hành pháp và bảo vệ về mặt tư phápbởi việc thực hiện bảo đảm quyền con người cho các tộc người thiểu số còn gặp nhữngkhó khăn nhất định về trình độ phát triển, cư trú xen kẽ và phân tán, những đặc điểm
về văn hóa, khoảng cách về địa lý và rào cản về ngôn ngữ
Bài viết sau đây sẽ làm rõ khái niệm thực thi cơ chế bảo đảm quyền của ngườidân tộc thiểu số ở Việt Nam hiện nay
PHẦN NỘI DUNG
1 Khái niệm
1.1 khái niệm dân tộc thiểu số
Cộng đồng thiểu số là là một nhóm công dân của một quốc gia, ít về mặt sốlượng và yếu về vị thế trong quốc gia đó, mang những đặc trưng về chủng tộc, tôn giáo
và ngôn ngữ mà tạo sự khác biệt so với nhóm dân cư đa số, có một ý thức thống nhất,một động cơ rõ rệt trong việc sử dụng ý chí tập thể để tồn tại ,bảo tồn văn hóa ,truyền
Trang 5thống ,ngôn ngữ tôn giáo và đạt được mục tiêu bình đẳng với nhóm dân cư đa số, cảtrên phương diện pháp luật và thực tiễn.
1.2 khái niệm quyền của dân tộc thiểu số
Khái niệm “quyền dân tộc thiểu số” được chính thức ghi nhận trong hai Côngước quốc tế là Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người của Liên Hợp quốc(UDHR) năm 1948: “Mọi người sinh ra đều được hưởng tất cả các quyền và tự dokhông có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôngiáo, nguồn gốc dân tộc hoặc xã hội” (Điều 2) và Công ước quốc tế về các quyền dân
sự và chính trị (ICCPR) năm 1966 ghi: “Tại những nước có nhiều nhóm dân tộc thiểu
số, tôn giáo và ngôn ngữ cùng chung sống, thì những cá nhân thuộc các dân tộc, tôngiáo, ngôn ngữ và các thiểu số đó, cùng với những thành viên khác của cộng đồngmình, không thể bị tước bỏ quyền được thụ hưởng nền văn hóa riêng, quyền được thểhiện và thực hành tôn giáo riêng hoặc quyền được sử dụng tiếng nói riêng của họ” quyđịnh điều (Điều 3) Đây là hai văn kiện pháp lý quốc tế nền tảng, ghi nhận các quyềnpháp lý cơ bản của con người về dân sự, chính trị, mà quyền dân tộc thiểu số được coi
là quyền cơ bản trong nhóm các quyền dân sự, chính trị đó
Quyền của dân tộc thiểu số là một trong những quyền cơ bản của con người,được các văn kiện pháp lý quốc tế ghi nhận và xếp trong nhóm các quyền dân sự -chính trị “quyền dân tộc thiểu số” là quyền rất căn bản mà các nhóm dân tộc thiểu số
ở tất cả các quốc gia đều có quyền được hưởng, đó là quyền bình đẳng không bị phânbiệt đối xử, quyền giữ gìn bản sắc văn hóa, quyền được nhà nước hỗ trợ để phát triển
về mọi mặt để thỏa mãn các nhu cầu trong cuộc sống của mình cũng như để bảo vệ vàthực hiện các quyền năng khác đã được pháp luật ghi nhận
1.3 khái niệm thể chế thực thi quyền của dân tộc thiểu số.
Thể chế là hệ thống pháp chế gồm: Hiến pháp (luật mẹ, luật căn bản); các bộluật (luật cơ bản và luật “hành xử”), các quy định, các quy tắc, chế định…, nhằm hàihòa các quyền lợi và trách nhiệm của mỗi công dân, mọi tổ chức trong một trật tự xãhội, hướng tới sự tổng hòa các lợi ích của cộng đồng
Trang 61.4 Đặc điểm của dân tộc thiểu số
Giống như hầu hết quốc gia khác trên thế giới, ở Việt Nam cũng có nhữngnhóm thiểu số không chỉ là những nhóm dân tộc có số người ít hơn dân tộc đa số màcòn thiểu số về sắc tộc, tôn giáo và ngôn ngữ theo như quy định trong Điều 27,ICCPR Các dân tộc thiểu số ở Việt Nam gồm 53 dân tộc ít người, chiếm 13,8% so vớitổng số dân
Đặc điểm của các nhóm dân tộc thiểu số ở Việt Nam có những nét riêng
Thứ nhất là thiểu số về ngôn ngữ, điều này là một trở ngại trong việc bình đẳngkhi tham gia các quan hệ xã hội, quan hệ pháp luật
Thứ hai,mỗi dân tộc có bản sắc văn hóa riêng, điều này thể hiện sự đa dạng,phong phú của nền văn hóa Việt Nam
Thứ ba,họ là nhóm dân tộc chậm phát triển hay lạc hậu do địa bàn sinh sốngcủa họ tập trung chủ yếu ở các vùng núi, vùng đặc biệt khó khăn có địa hình hiểm trở(vùng Tây Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam Bộ)
1.5 Các dân tộc thiểu số ở nước ta chủ yếu cư trú trên các rừng núi ,biên giớ và có
vị trí quan trọng
a Về kinh tế
Phần lớn các dân tộc thiểu số nước ta cư trú ở miền núi Đây là khu vực có tiềmnăng phát triển kinh tế to lớn Ngoài ra, đường biên giới trên đất liền của nước ta dài4.000km thì 3.000 km nằm ở khu vực miền núi Tại đây có nhiều cửa ngõ thôngthương với các nước láng giềng Đây là điều kiện thuận lợi để mở rộng quan hệ kinh
tế, văn hoá giữa nước ta với các nước láng giềng, qua đó tới các nước trong khu vực vàtrên thế giới Song đây cũng là địa bàn hiểm trở, khó khăn cho phát triển kinh tế - xãhội, nâng cao đời sống cho đồng bào các dân tộc thiểu số cư trú tại địa bàn; khó khăncho việc kiểm tra, kiểm soát, ngăn chặn buôn lậu, ma tuý xâm nhập…
Trang 7b Về quốc phòng, an ninh
Miền núi, biên giới là "phên dậu” vững chắc của Tổ quốc, là địa bàn chiến lược
về quốc phòng, an ninh trong việc bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia, chông âmmưu xâm nhập, gây bạo loạn, lật đổ, bảo vệ sự nghiệp hòa bình, xây dựng chủ nghĩa
xã hội
c Về quan hệ đối ngoại
Ở vùng biên giới có các dân tộc thiểu số vừa cư trú ở Việt Nam, vừa cư trú ởnước láng giềng, giữ quan hệ dòng họ, quan hệ thân tộc với nhau Những năm gần đây,các thế lực thù địch đã và đang lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền,kích động, gây chia rẽ, mất đoàn kết giữa các dân tộc Bởi vậy, thực hiện chính sáchdân tộc của Đảng và Nhà nước ta không chỉ vì lợi ích các dân tộc thiểu số mà còn vìlợi ích cả nước, không chỉ là đối nội mà còn là đối ngoại, không chỉ về kinh tế - xã hội,
mà cả về chính trị, quốc phòng, an ninh quốc gia
2 Nội dung của thể chế bảo đảm thực thi quyền của dân tộc thiểu số
Cũng giống như cách hiểu ở nhiều quốc gia trên thế giới, Hiến pháp hiện hành
ở Việt Nam cũng là một hệ thống quy định cơ bản về những nguyên tắc chính trị củaquyền lực nhà nước và về việc thiết lập kiến trúc thượng tầng, quyền hạn và tráchnhiệm của tổ chức bộ máy nhà nước, sự bảo đảm các quyền và tự do cơ bản của conngười và của công dân Việc ghi nhận, bảo vệ và thực hiện QCNDTTS ở Việt Nam làmột chính sách nhất quán, được quy định trong Hiến pháp và pháp luật, tạo cơ sở bảođảm cho người dân tộc thiểu số được tiếp cận quyền trên tất cả các lĩnh vực kinh tế,dân sự, chính trị, văn hoá và xã hội Việt Nam đã tham gia và phê chuẩn cả 4 công ướcquốc tế có đề cập và liên quan chặt chẽ đến vấn đề thiểu số (ICCPR; ICESCR;ICERD; CRC), đây là những điều kiện để Việt Nam tiếp cận và đặt mình vào trongkhuôn khổ chung của pháp luật quốc tế về quyền con người
Định hướng của công tác dân tộc, chính sách và pháp luật về bảo đảm quyềncủa người dân tộc thiểu số xác định tại Điều 5 Hiến pháp hiện hành: "1 Nước Cộnghòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là quốc gia thống nhất của các dân tộc cùng sinh sốngtrên đất nước Việt Nam 2 Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhaucùng phát triển; nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc 3 Ngôn ngữ quốc gia
là tiếng Việt Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc,phát huy phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình 4 Nhà nước
Trang 8thực hiện chính sách phát triển toàn diện và tạo điều kiện để các dân tộc thiểu số pháthuy nội lực, cùng phát triển với đất nước".
Định hướng này hoàn toàn phù hợp với nội dung của các công ước quốc tế màViệt Nam đã tham gia và hướng dẫn của pháp luật quốc tế về bảo đảm quyền củangười dân tộc thiểu số Quyền bình đẳng và chống phân biệt đối xử được đề cập đếntại Điều 7; 16; 24; 26; 35; 36; 38; 59 và một số vấn đề liên quan tới các vấn đề đặc thùtại vùng sinh sống của người dân tộc thiểu số như Điều 36 (về hôn nhân theo nguyêntắc tự nguyện, tiến bộ); Điều 37 (về các vấn đề về quyền trẻ em tại Khoản 1 và quyềncủa thanh niên tại Khoản 2); Khoản 3 Điều 62 (về việc tạo điều kiện để thụ hưởng lợiích từ các hoạt động khoa học và công nghệ); Điều 63 (về quản lý, sử dụng hiệu quả,bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên)
Quy định về lĩnh vực dân tộc, công tác dân tộc cụ thể tại các Điều 42, 58, 60,
61, 75 của Hiến pháp 2013, cụ thể: về quyền xác định dân tộc, sử dụng ngôn ngữ củađồng bào dân tộc thiểu số được quy định tại Điều 42; về lĩnh vực y tế, chăm sóc sứckhỏe tại khoản 1 Điều 58; về an sinh xã hội, mặc dù không trực tiếp đề cập đến các đốitượng dễ bị tổn thương nhưng Hiến pháp đã ghi nhận và tạo cơ hội để bất cứ ai cũng
có quyền được bảo đảm an sinh xã hội, khẳng định tại một điều riêng, đó là Điều 34;
về lĩnh vực văn hóa, tại khoản 1 Điều 60; về lĩnh vực giáo dục tại Điều 61; vấn đề "laođộng trẻ em" tại các vùng sinh sống chủ yếu của người dân tộc thiểu số, tại Khoản 3Điều 35; về vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng và Chủ tịch Hội đồngdân tộc được làm rõ hơn, đề cao vai trò, trách nhiệm, quy định tại khoản 2, khoản Điều
75
Dưới Hiến pháp, bảo đảm quyền của người dân tộc thiểu số ở Việt Nam thểhiện trong nhiều đạo luật, qua thống kê về một số nội dung và nhu cầu bảo đảm quyềncon người của người dân tộc thiểu số cũng có thể thấy được mức độ che phủ khá toàndiện và mức độ tương thích cao với pháp luật quốc tế về quyền con người
Bên cạnh Hiến pháp và pháp luật hiện hành, Nhà nước Việt Nam đã có một hệthống chính sách về hỗ trợ phát triển cho người dân tộc thiểu số với khoảng 183 chínhsách, được thể chế qua 264 văn bản, bao trùm toàn bộ đời sống chính trị kinh tế vănhóa của người dân tộc thiểu số Trong lĩnh vực dân tộc ngoài Nghị định số05/2011/NĐ-CP ngày 14/01/2011 của Chính phủ về Công tác dân tộc vẫn là văn bản
có giá trị pháp lý cao nhất, các văn bản pháp lý thực hiện chính sách mới thể hiện bằng
Trang 9các Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, chưa có văn bản pháp luật cao hơn Bêncạnh đó, Chương trình hành động thực hiện Chiến lược công tác dân tộc đến năm 2020
đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 449/QĐ-TTg ngày12/03/2013 đã tiếp tục hiện thực hóa việc bảo đảm QCNDTTS Những quy định nêutrên là cơ sở pháp lý quan trọng, đặt nền móng cho việc xây dựng Đề án Luật dân tộctheo Chiến lược Công tác dân tộc đến năm 2020 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệtđồng thời thể hiện nỗ lực của Nhà nước Việt Nam trong bảo đảm quyền con người,quyền của người dân tộc thiểu số trong thời gian tới
Mặc dù Việt Nam chưa có được một cơ quan nhân quyền quốc gia nhưng đã cócác cơ quan nhà nước thực hiện chức năng giải quyết các vấn đề dân tộc đặc thù như:Hội đồng dân tộc của Quốc hội; Ủy ban dân tộc của Chính phủ và các Ban dân tộc ởđịa phương
Về nội dung bảo đảm chung, cơ chế nhà nước thường bao gồm: Quy trình ngân sáchquốc gia; Xây dựng năng lực của chính phủ; Cân đối khung tiêu chuẩn quốc tế và quốc gia
về chỉ số quyền con người và đăng ký hành chính về nhân quyền; Chương trình
Chính sách quốc gia về hỗ trợ kinh tế - xã hội và văn hóa cho đồng bào ở nhữngvùng có điều kiện khó khăn đó cũng là các chương trình hỗ trợ mà không phải quốcgia đang phát triển nào cũng có được Cơ chế bảo đảm QCNDTTS của nhà nước tahiện nay có thể đánh giá là khá hoàn chỉnh về mặt thể chế và thiết chế Các cơ quanlập pháp; cơ quan tư pháp và Tòa án; các cơ quan hành chính nhà nước và các ban chỉđạo về vấn đề bảo đảm quyền của người dân tộc thiểu số của Chính phủ ở cấp tư lầnlượt mang chức năng tôn trọng, bảo vệ và thúc đẩy việc thực hiện quyền của người dântộc thiểu số; các cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan tư pháp và tòa án ở cấp địaphương lần lượt mang chức năng thực hiện và bảo vệ quyền của người dân tộc thiểu sốtại địa phương mình, có tham chiếu các quy định của pháp luật quốc tế
Ngoài ra, nếu xét theo nhánh các cơ chế tôn trọng (ghi nhận và giám sát thực thiquyền), bảo vệ và thúc đẩy thực thi quyền thì có thể nhận diện thiết chế bảo đảmquyền của người dân tộc thiểu số ở Việt Nam với những vai trò sau:
Thiết chế ghi nhận và giám sát thực thi quyền: Nếu như cơ sở quan trọng cầnphải có trước tiên để bảo vệ quyền con người, quyền của người dân tộc thiểu số tạimột quốc gia đa dân tộc là sự ghi nhận quyền con người, quyền của người dân tộcthiểu số trong Hiến pháp thì Quốc hội là mắt xích đầu tiên trong hệ thống các thiết chế
Trang 10bảo đảm quyền con người Đối với vấn đề dân tộc nói chung, bảo đảm QCNDTTS nóiriêng, Quốc hội giao cho một cơ quan chuyên trách đảm nhiệm là Hội đồng dân tộc kể
từ năm 1992 Hiện nay Hội đồng dân tộc là cơ quan có vai trò bảo đảm chung và giámsát hoạt động bảo đảm quyền của người dân tộc thiểu số được thực hiện, bao gồm cảcác nội dung cơ bản về quyền con người (về dân sự - chính trị, kinh tế - xã hội – vănhóa) và cả các nội dung đặc thù về quyền của người dân tộc thiểu số Hội đồng Dântộc Việt Nam là cơ quan chịu trách nhiệm của Quốc hội, có chức năng giám sát hoạtđộng của Chính phủ, Nhà nước về các vấn đề dân tộc, đồng thời là cơ quan tham mưu
về chính sách, nghị định cho Ủy ban Dân tộc và Chính phủ Hội đồng Quốc hội còngiám sát hoạt động của các Ban Dân tộc tại các địa phương, về ngân sách, chính sách,quyết định của Ủy ban Nhân dân, Hội đồng Nhân dân các tỉnh và thành phố
Thiết chế thực thi quyền: Cơ chế quan trọng nhất có chức năng thúc đẩy cácvấn đề nhằm bảo đảm QCNDTTS hiện nay là Ủy ban Dân tộc _ cơ quan ngang bộthuộc Chính phủ Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của cơ quanquản lý chuyên trách về công tác dân tộc của Chính phủ được quy định tại Nghị định
số 84/2012/NĐ-CP ngày 12/10/2012 Có thể đánh giá, về mặt cơ cấu, Ủy ban dân tộc
là một thiết chế được xây dựng nhiệm vụ và chức năng khá toàn diện, có đủ điều kiện
về mặt cơ cấu để đảm nhiệm nhiệm vụ bảo đảm và thúc đẩy thực hiện quyền conngười, trong đó, cơ cấu tổ chức đã chú ý tới tính đặc thù của vấn đề dân tộc tại cácvùng miền Ủy ban Dân tộc có các ủy viên kiêm nhiệm là đại diện Lãnh đạo một số
Bộ, ngành, cơ quan Trung ương (hiện nay có 7 đồng chí Ủy viên kiêm nhiệm là Thứtrưởng các Bộ Kế hoạch và Đầu tư; Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn; Lao động –Thương binh và Xã hội; Văn hóa – Thông tin, Giáo dục và Đào tạo; Nội vụ và Phótrưởng Ban tôn giáo của Chính phủ) do đó có thể tiếp nhận các ý kiến tham mưu về tất
cả các lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hóa và dân sự, chính trị về quyền của người dân tộcthiểu số cũng như nắm được thực trạng về nhu cầu và mức độ bảo đảm quyền Hệthống cơ quan công tác dân tộc tại địa phương được quy định tại Nghị định số53/2004/NĐ-CP ngày 18/02/2004 về kiện toàn tổ chức bộ máy làm công tác dân tộcthuộc Ủy ban nhân dân các cấp, thực hiện theo nguyên tắc của Nghị quyết Hội nghịlần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương (khóa IX) về công tác dân tộc Theo đó, việc tổchức đơn vị chuyên trách quản lý nhà nước về dân tộc ở địa phương chỉ thực hiện ởhai cấp là cấp tỉnh và cấp huyện
Trang 11Ngoài ra, Chính phủ còn có một hệ thống các cơ quan mang chức năng quản lýliên ngành, bảo đảm sự bình đẳng và chống phân biệt đối xử trong việc thực hiện cácquyền con người đối với người dân tộc thiểu số trên tất cả các lĩnh vực: dân sự, chínhtrị, kinh tế, xã hội và văn hóa Đó là 18 bộ, cơ quan ngang bộ bao gồm: Bộ Quốcphòng; Bộ Công an; Bộ Ngoại giao; Bộ Tư pháp; Bộ Tài chính; Bộ Công thương; BộLao động, Thương binh và Xã hội; Bộ Giao thông vận tải; Bộ Xây dựng; Bộ Thông tin
và Truyền thông; Bộ Giáo dục và Đào tạo; Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn;
Bộ Kế hoạch và Đầu tư; Bộ Nội vụ; Bộ Y tế; Bộ Khoa học và Công nghệ; Bộ Văn hóa,Thể thao và Du lịch; Bộ Tài nguyên và Môi trường
Thiết chế bảo vệ quyền (Tòa án và Viện kiểm sát): Dưới hiến pháp, cơ chế tòa ánbảo vệ quyền con người, quyền của người dân tộc thiểu số bằng tố tụng hình sự; dân sự;hành chính hiện được quy định tại: Bộ luật tố tụng hình sự; Bộ luật tố tụng dân sự và Luật
tố tụng hành chính Việt Nam và được bảo đảm thực hiện bằng hệ thống Tòa án (thẩmquyền của Tòa án đối với từng trường hợp quy định trong luật) Ở Việt Nam, Viện kiểmsát là cơ quan duy nhất được giao chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát cáchoạt động tư pháp Hoạt động công tố và kiểm sát điều tra được thực hiện ngay từ khikhởi tố vụ án hình sự và trong suốt quá trình điều tra các vụ án hình sự
Đặc biệt, chuyển biến mạnh mẽ của các cơ chế pháp lý cho phép sự tham giatrực tiếp của người dân trong việc giám sát đối với hoạt động của nhà nước trong lĩnhvực thực hiện quyền con người là những thành quả rất đáng kể Việt Nam cũng đangbắt đầu thí điểm những mô hình Tòa án mang tính chất bảo vệ quyền con người theohướng phù hợp với văn hóa và dân trí người dân như mô hình Tòa án gia đình vàngười chưa thành niên (Tòa án cấp thành phố, thí điểm tại TP Hồ Chí Minh)
Sự vắng mặt của một cơ chế nhân quyền quốc gia (hay Tòa án Hiến pháp) cókhả năng giải quyết các khiếu nại nhân quyền mang tính độc lập, có chuyên môn cao
và thẩm quyền rộng vẫn đưa đến những vấn đề cần giải quyết Trong đó bao gồm sựhoài nghi về mức độ công khai, minh bạch trong giải quyết các vấn đề về quyền conngười, quyền công dân, đặc biệt là trong các vi phạm nhân quyền có sự liên quan đếncác chủ thể mang tính quyền lực; sự va chạm về thẩm quyền khi xử lý các vấn đề khibên có vi phạm nhân quyền là tổ chức, cơ quan, đoàn thể hay thậm chí là Hiến pháp vàpháp luật Mặc dù vậy, cơ chế đặc thù hiện có mang chức năng bảo đảm cácQCNDTTS hiện có của nhà nước ta là một cơ chế có kết cấu khá ổn định và phù hợp
Trang 12với sự phát triển kinh tế - xã hội và văn hóa nhân quyền ở nước ta trong giai đoạn này.Điều quan trọng hơn tiếp theo cần được quan tâm xem xét đó là mức độ hiện thực hóa,phù hợp trong chi tiêu và đáp ứng được nhu cầu của người dân tộc thiểu số của hệthống chính sách dân tộc ở Việt Nam hiện nay Để đáp ứng được điều này, minh bạchhóa và tăng cường đối thoại vẫn được cho là hướng đi phù hợp.
3 Thực trạng đảm bảo quyền của các tộc người thiểu số.
Đảm bảo quyền của các tộc người thiểu số từ lâu đã được Đảng và Nhà nước tađặc biệt quan tâm Điều này được thể hiện rõ qua các chủ trương, chính sách, pháp luậtcủa Đảng và Nhà nước Kể từ khi đổi mới đất nước đến nay, bảo đảm quyền cơ bảncủa các tộc người thiểu số được đẩy mạnh trên nhiều phương diện cụ thể: xóa đói giảmnghèo, nâng cấp cơ sở hạ tầng yếu kém, hỗ trợ đất đai, đất sản xuất, nước sạch, giáodục, đào tạo, y tế, công ăn việc làm, văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng
3.1 Phát triển kinh tế - xã hội và thực hiện giảm nghèo nhanh, bền vững cho vùng đồng bào các dân tộc thiểu
Xóa đói, giảm nghèo để phát triển kinh tế - xã hội một cách bền vững đối vớivùng đồng bào các dân tộc thiểu số là một trong những chủ trương lớn của Đảng vàNhà nước ta nhằm thực hiện các quyền cơ bản của con người, thực hiện quyền bìnhđẳng và công bằng xã hội đối với các tộc người ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệtkhó khăn
Trong quá trình đổi mới đất nước, Việt Nam đã có những nỗ lực to lớn trongviệc đầu tư nguồn lực và đổi mới cơ chế, chính 1,874 tỷ, 2011 là 383 tỷ và năm 2012
là 399 tỷ) Theo Báo cáo trong Hội nghị toàn quốc sơ kết giữa kỳ thực hiện Chươngtrình -mục tiêu Quốc gia xoá đói giảm nghèo và việc làm (XĐGN&VL), giai đoạn
2001 -2005 tốc độ giảm nghèo khá nhanh, đến cuối năm 2003, cả nước giảm được93,4 vạn hộ nghèo; giai đoạn 2006 - 2010: tỷ lệ hộ nghèo giảm đáng kể (9,45%/kếhoạch sách nhằm thực hiện an sinh xã hội dưới 10%); thu nhập của nhóm hộ nghèo(ASXH), chăm lo cải thiện cuộc sống các tộc người thiểu số, điều này được thể hiện rõqua Chương trình mục tiêu Quốc gia tăng; số xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang venbiển và hải đảo thoát khỏi tình trạng đặc biệt khó khăn (57,51%/kế hoạch giảm nghèo;
Chương trình hỗ trợ giảm 50%); số hộ nghèo vay vốn tín dụng tăng nghèonhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo (Nghị quyết 30a); Chương trình phát triểnkinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn (Chương trình 135 gồm: giai đoạn 1 từ 1998 -
Trang 132005; giai đoạn 2 từ 2006 - 2010): Chính sách thực hiện ASXH được thể hiện trên cácphương diện như đảm bảo các điều kiện kinh tế, xã hội cơ bản, xóa đói giảm nghèo,tạo công ăn việc làm, chăm sóc sức khỏe cộng đồng, giáo dục, y tế, nhà ở, nước sạch,thông tin, đời sống văn hóa tinh thần cho đồng bào tộc người thiểu số Chương trìnhphát triển kinh tế - xã hội và thực hiện giảm nghèo nhanh, bền vững cho vùng đồngbào các dân tộc thiểu số đã tập trung đầu tư, hỗ trợ cho người nghèo, hộ nghèo, xãnghèo, trong đó ưu tiên đối tượng hộ nghèo mà chủ hộ là phụ nữ, hộ nghèo có đốitượng bảo trợ xã hội (người già, người tàn tật, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn)
ở những vùng đặc biệt khó khăn
Để thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói, giảm nghèo, ngân sáchNhà nước đã đầu tư, hỗ trợ nguồn lực lớn, (6,8 triệu hộ/kế hoạch 6,2 triệu lượt hộ);giai đoạn 2006 - 2010, Chương trình đã hỗ trợ được 5 lượt hộ nghèo được vay vốn tíndụng ưu đãi với mức vay bình quân 7 - 8 triệu đồng/ lượt/ hộ, triển khai 30.000 lớp tậphuấn chuyển giao kỹ thuật, 52 triệu lượt người nghèo được cấp bảo hiểm y tế, 8 triệulượt học sinh nghèo được miễn giảm học phí, 2,8 lượt học sinh nghèo được hỗ trợ vởviết, sách giáo khoa, tổ chức tập huấn nâng cao năng lực cho 140.000 lượt cán bộ giảmnghèo cơ sở, đầu tư 2.000 công trình tại các xã đặc biệt khó khăn, vùng bãi ngang, venbiển và hải đảo; có khoảng 400 hộ nghèo được hỗ trợ nhà ở và đã có 17 tỉnh, thànhphố, 306 quận, huyện và 5.931 xã, phường, thị trấn hoàn thành chương trình xóa nhàdột nát cho người nghèo
Chương trình phát triển kinh tế - xã hội và thực hiện giảm nghèo nhanh, bềnvững cho vùng đồng bào các dân tộc thiểu số qua 4 giai đoạn đầu tư gồm giai đoạn
1998 -2000 (Quyết định 133); giai đoạn 2001 -2005 (Quyết định 143); giai đoạn 2006
chẳng hạn như chỉ tính giai đoạn 2005 2010 (Quyết định 20), giai đoạn 2012
-2012, ngân sách đã lên tới 3.304 tỷ đồng (trong đó 2005 là 647 tỷ, 2006 - 2010 là 2015(Quyết định 1489/2012/QĐ-TTG) đã tập trung: 64 Nguyễn Thị Song Hà
Hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt cho các hộ đồng bào tộcngười thiểu số nghèo, có đời sống khó khăn
Chẳng hạn như về nhà ở một số địa phương đã đạt tỷ lệ cao và bảo đảm cả về
số lượng, chất lượng về nhà ở đủ các tiêu chuẩn 3 cứng: nền cứng, vách cứng và máicứng như Quảng Nam, Thanh Hoá, Nghệ An, Thừa Thiên - Huế, Cao Bằng, Lạng Sơn,Phú Thọ Trong khi đó, một số địa phương như Tuyên Quang, Quảng Nam lại quan
Trang 14tâm về cấu trúc, diện tích của nhà ở để sao cho phù hợp với điều kiện sinh hoạt vàphong tục tập quán của đồng bào Chỉ tính trong 2 năm 2009 - 2010, Chính phủ đã bốChính phủ năm 2008 đã đạt kết quả như sau: tổng số hộ dân tộc thiểu số nghèo được
hỗ trợ đất ở, đất sản xuất, chuyển đổi nghề là 43.395 hộ, 216.975 khẩu, trong đó 9.808
hộ không có đất ở, 33.587 hộ thiếu đất sản xuất, 116.648 lao động có nhu cầu họcnghề, chuyển nghề, mua máy móc thiết bị
Các địa phương đã thực hiện hỗ trợ đất sản xuất cho 4.553/33.587 hộ (đạt13,56%), hỗ trợ đất ở cho 5.584/9.808 hộ (đạt 56,93%) Về nước sinh hoạt, các tỉnh đãxây dựng được 3.117 công trình nước sinh hoạt tập trung cho các cụm dân cư thiếunước, đạt 52% kế hoạch ban đầu và 47% kế hoạch bổ sung Nhiều tỉnh đã cơ bản hoànthành trí 3.103 tỷ đồng cho việc hỗ trợ nhà ở Các các mục tiêu của chương trình theo
kế huyện nghèo đã tổ chức khởi công xây dựng 52.321/77.311 căn nhà (đạt 67,7% kếhoạch) Còn việc giải quyết đất ở cho các hộ gia đình được các địa phương triển khaibằng nhiều phương án và hình thức khác nhau
Theo báo cáo của Ủy ban Dân tộc, đến hết năm 2007 Nhà nước đã hỗ trợ được77% số hộ với 71% diện tích theo kế hoạch ban đầu và 78% số hộ với 74% diện tíchsau khi điều chỉnh, bổ sung về đất ở cho đồng bào các tộc người thiểu số trên cả nước.Một số tỉnh có quỹ đất đã quy hoạch được những khu dân cư mới, gắn với quy hoạchlâu dài của địa phương, được tăng cường cơ sở hạ tầng về đường, điện, nước Đối vớiđất sản xuất, mặc dù có nhiều bước chuyển biến tích cực, song đến nay, mới chỉ giảiquyết được cho 70.549 hộ với tổng diện tích 25.15l ha đạt 31% diện tích và 30% số
hộ Ví dụ: thực hiện chính sách hỗ trợ, giải quyết đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dântộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn vùng đồng bằng sông Cửu Long theo quyết định
số 74/QĐ - TTG của Thủ tướng hoạch như Vĩnh Phúc, Hà Tây, Thừa Thiên Huế, ĐắkNông, Bình Phước
Đã hỗ trợ cho 148.816 hộ đạt 53% số hộ so với kế hoạch ban đầu và 51% số hộsau khi đã điều chỉnh Báo cáo việc thực hiện Quyết định số 1592/QĐ-TTG, ngày 12tháng 10 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở vànước sinh hoạt cho thấy có 36 tỉnh thực hiện với 274.344 hộ có nhu cầu hỗ trợ, trong đó
hỗ trợ đất sản xuất 79.139/33 tỉnh Trong giai đoạn từ 2006 - 2010, ngân sách nhà nướccấp 2.301,86 tỷ đồng cho hỗ trợ sản xuất nông nghiệp, đạt 56,4% nhu cầu vốn, trong đóngân sách trung ương 1.946,86 tỷ đồng; ngân sách địa phương 355 tỷ đồng
Trang 15Một số tỉnh xây dựng được mô hình sản xuất có hiệu quả (trồng điều, thuốc lá,chăn nuôi bò ) ở các tỉnh Bình Định, Ninh Thuận, Bình Thuận; chuyển đổi cơ cấu sảnxuất nông nghiệp, xây dựng trang trại như ở Lào Cai, Yên Bái Các hộ dân được hỗtrợ trực tiếp, được tập huấn kỹ thuật, nâng cao được kiến thức sản xuất, thay đổiphương thức 65 Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, số 4(101) - 2016 sản xuất Theobáo cáo của Chính phủ, từ năm 2006 - 2009, ngân sách trung ương
Về xây dựng kết cấu hạ tầng và trung tâm cụm xã
Trong 5 năm 2001 - 2005, bằng 1.280,71 tỷ đồng, kết quả giải ngân nguồn vốnChương trình 135 lồng ghép với 1.027,89 tỷ đồng, đạt 80,25% kế hoạch các chươngtrình, dự án khác thực hiện trên được giao, trong đó có: 12 tỉnh đạt 100%, 32 tỉnh đạt
từ 70 - 99% và hai tỉnh giải ngân trên 60% Điều này đã góp phần cải thiện đời sốngcủa đồng bào các tộc người thiểu số ở các địa phương Tuy nhiên, nhiều địa phươnglúng túng, khó khăn trong việc thực hiện hỗ trợ đất sản xuất, các địa phương chỉ tậptrung giải quyết hỗ trợ nước sinh hoạt, địa bàn, sau 6 năm (1999 - 2004) các địaphương đã xây dựng trên 20.000 công trình: 6.652 công trình giao thông, 3.608 côngtrình thủy lợi, 4.654 trường học, 2.346 công trình cấp nước sinh hoạt, 1.298 công trìnhđiện, 487 công trình trạm xá, 237 chợ, 426 hạng mục khai hoang Giai đoạn 2006 -
2010, các địa phương đã triển khai đầu tư chỉ có 4/33 tỉnh thực hiện hỗ trợ đất sản xâydựng 12.646/23.700 công trình đạt xuất, với 281 ha, cho 979 hộ với kinh phí 12,3 tỷđồng [3]
Hỗ trợ di dân thực hiện định canh định cư theo Quyết định số 33/2007/ TTg và Quyết định 1342/2009/QĐ-TTg
QĐ-Thực hiện chính sách định canh định cư theo các chương trình, dự án của Đảng
và Nhà nước đối với vùng đồng bào các tộc người thiểu số đã được các địa phương triển53,4% so với kế hoạch, với giá trị đã thực hiện 7.892,737 tỷ đồng; trong đó: đường giaothông 3.375 công trình, thủy lợi 2.393 công trình, trường học 2.478 công trình, nước sinhhoạt 1.573 công trình, điện 995 công trình, chợ 367 công trình, trạm y tế 489 công trình,nhà sinh hoạt cộng đồng 976 công trình Đến 2009 đã có 10.242 công trình hoàn thànhđưa vào sử dụng, khai sâu rộng và triệt để Năm 2010, các dự trong đó giao thông 2.925công trình, án định canh định cư được triển khai ở 35 tỉnh với nguồn vốn từ ngân sáchtrung ương cấp là 260 tỷ đồng, trong đó nguồn vốn sự nghiệp là 100 tỷ và nguồn vốn đầu
Trang 16tư phát triển là 160 tỷ, tập trung giúp người dân hỗ trợ di chuyển, san gạt nền nhà, làmnhà, san gạt mặt bằng, khai hoang, mua lương thực.
Trong quá trình thực hiện các địa phương đã chủ động lồng ghép các chươngtrình, dự án khác để thực hiện Với định mức vốn hỗ trợ cho công tác đền bù thấp,nhiều tỉnh đã vận dụng chính sách đất đai, thu hồi các doanh nghiệp sử dụng sai mụcđích, đất rừng sử dụng kém hiệu quả, đất chưa sử dụng để tạo quỹ đất ở và đất sảnxuất bố trí cho đồng bào dân tộc thiểu số du canh du cư chưa có đất ở, thiếu đất sảnxuất trường học 2.113 công trình, thủy lợi 1.987 công trình và nhiều công trình khác
Về đào tạo và tăng cường năng lực cán bộ, trình độ văn hóa và dân trí ở các xãđịa bàn khó khăn được cải thiện, nhân dân đã có nhận thức và yêu cầu về chuyển đổi
cơ cấu cây trồng, vật nuôi, tạo điều kiện tiếp nhận kỹ thuật mới dễ dàng hơn Chấtlượng nguồn nhân lực tại chỗ được nâng cao nhờ chất lượng công tác y tế, giáo dục vàđào tạo Đến năm 2005, đã đào tạo được 1.080 lớp với 155.159 học viên và cán bộđương chức, các chức danh lãnh đạo Đảng, chính quyền, cán bộ xã, các trưởng thôn,trưởng bản, tổ chức tập huấn cho 3.500 lượt cán bộ từ tỉnh đến huyện tham gia quản
lý, chỉ đạo Chương trình 135; các địa phương đào tạo, bồi dưỡng 66 Nguyễn Thị Song
Hà nâng cao kiến thức quản lý hành chính, kinh tế, quản lý dự án, giám sát cho178.000 lượt cán bộ xã, thôn, bản; đào tạo, tập huấn cho 279.793 lượt người dân vềcác nội dung của Chương trình 135, về tiếp cận và sử dụng vốn tín dụng, kiến thứcphát triển kinh tế hộ gia đình, hỗ trợ dạy nghề cho thanh niên người dân tộc thiểu số
3.2 Dạy nghề, tạo việc làm và bảo đảm các điều kiện chăm sóc sức khỏe và y tế cộng đồng
Đối với chính sách dạy nghề, tạo việc làm, giai đoạn 2006 - 2010 ước tính cókhoảng 150 nghìn lao động nghèo được dạy nghề miễn phí; giai đoạn 2010 - 2012,thực hiện Đề án hỗ trợ đào tạo nghề cho lao Vương quốc Ả Rập Thống nhất, HànQuốc, Nhật Bản, Đài Loan [4, tr.715 - 716] Về hệ thống y tế, 100% số xã ở miềnnúi, vùng dân tộc thiểu số đã có trạm y tế Việc khám, chữa bệnh cho người nghèovùng sâu, vùng xa được quan tâm hơn: gần 100% số xã có cán bộ y tế trực; 93,5% số
xã có trạm y tế; hơn 95% trẻ em được tiêm chủng theo Chương trình tiêm chủng mởrộng Các loại bệnh dịch cơ bản được ngăn chặn và từng bước đẩy lùi Mạng lưới y tếphát triển nhanh, hệ thống bệnh viện tỉnh, huyện và trạm y tế xã được quan tâm đầu tư,99,39% xã có trạm y tế, 77,8% xã đạt chuẩn quốc gia về y tế