1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tìm hiểu đặc điểm đa giác willis trên phim chụp cắt lớp vi tính đa dãy ở người không có dị dạng mạch não

68 183 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 1,89 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu này cho thấy các vòng biến đổi này xuất hiện khá thường xuyên và có ảnh hưởng quan trọng đến việc điều trị tắc nghẽn một số nhánh động mạch cấp máu cho não [13].. Hình 1.1: Cá

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA Y DƯỢC

Người thực hiện: Mai Thị Huệ

TÌM HIỂU ĐẶC ĐIỂM ĐA GIÁC WILLIS TRÊN PHIM CHỤP CẮT LỚP VI TÍNH

ĐA DÃY Ở NGƯỜI KHÔNG CÓ DỊ DẠNG

MẠCH NÃO

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH Y ĐA KHOA

Khóa:2012-2018 Người hướng dẫn: Tiến sĩ- Bác sĩ Trần Anh Tuấn

Thạc sĩ- Bác sĩ Doãn Văn Ngọc

Hà Nội – 2018

Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU

Trang 3

artery (dạng bào thai động mạch thông sau)

Trang 4

Tôi xin chân thành cảm ơn Thạc sỹ Doãn Văn Ngọc chủ nhiệm bộ môn CĐHA khoa Y-Dược ĐHQGHN giúp tôi ngay từ khi định hướng nghiên cứu, tận tâm hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn ThS BS CKI Phạm Thu Hà, đã nhiệt tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Phạm Minh Thông trưởng khoa chẩn đoán hình ảnh cùng toàn thể các thầy cô, anh chị khoa CĐHA bệnh viện Bạch Mai đã tận tình chỉ bảo và tạo mọi điều kiện cho tôi thu thập số liệu hoàn thành luận văn này

Tôi xin cảm ơn ban giám hiệu, phòng quản lý đào tạo khoa Y- Dược ĐHQGHN đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn

Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến gia đình, bạn bè, những người đã luôn bên động viên tôi, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu hoàn thành luận văn

Hà Nội, ngày 01 tháng 05 năm 2018

Sinh viên

Mai Thị Huệ

Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU

Trang 5

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan kết quả nghiên cứu ở trên đây của tôi là trung thực, kết quả này chưa được công bố ở bất kỳ công trình nghiên cứu nào, các tài liệu liên quan đến đề tài, được trích dẫn trong đề tài đều đã được công bố Nếu có gì sai trái với những quy định tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp

Trang 6

MỤC LỤC

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 3

1.1 Lịch sử nghiên cứu mạch máu não 3

1.1.1 Trên thế giới 3

1.1.2 Tại Việt Nam 4

1.2 Lịch sử về chụp mạch não 4

1.2.1 Chụp động mạch não 4

1.2.2 Chụp mạch bằng cắt lớp vi tính đa dãy 5

1.3 Giải phẫu vòng động mạch não 6

1.3.1 Hệ cảnh 6

1.3.2 Hệ đốt sống – thân nền 9

1.3.3 Vòng động mạch não 12

1.3.4 Sự cấp máu theo vùng 14

1.3.5 Một số biến đổi giải phẫu động mạch não 16

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21

2.1 Đối tượng nghiên cứu: 21

2.1.1 Bệnh nhân nghiên cứu: 21

2.1.2 Phương tiện nghiên cứu: 21

2.2 Phương pháp nghiên cứu 23

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu: 23

2.2.2 Chọn mẫu: 23

2.2.3 Thiết lập biến số nghiên cứu: 23

2.2.4 Cách xử lý hình ảnh 24

2.2.5 Biện pháp khống chế sai số 26

2.3 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu: 26

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 27

3.1 Đặc điểm chung bệnh nhân 27

3.1.1 Tuổi 27

3.1.2 Giới 27

Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU

Trang 7

3.2 Kích thước trung bình các cạnh của vòng động mạch não trên

MSCT 28

3.3 Biến đổi đoạn lân cận vòng Willis 29

3.4 Biến đổi phần trước của vòng động mạch não 29

3.5 Biến đổi phần sau của vòng ĐM não 30

3.6 Phân loại các dạng biến đổi của vòng Willis 31

3.6.1 Các dạng biến đổi đơn thuần ở phần trước 31

3.6.2 Các biến đổi đơn thuần ở phần sau 32

3.6.3 Các dạng biến đổi kết hợp giữa phần trước và phần sau 34

Chương 4: BÀN LUẬN 38

4.1 Đặc điểm bệnh nhân nghiên cứu 38

4.2 Đường kính của các đoạn động mạch não 39

4.3 Biến đổi các nhánh lân cận vòng Willis 43

4.4 Phân loại các dạng biến đổi 43

4.4.1 Các dạng biến đổi đơn thuần ở phần trước 43

4.4.2 Dạng biến đổi đơn thuần ở phần sau 45

4.4.3 Biến đổi kết hợp phần trước và phần sau 46

KẾT LUẬN 49 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1: Tuổi trung bình của bệnh nhân 27

Bảng 3.2: Kích thước trung bình các cạnh vòng Willis và một số nhánh lân cận 28

Bảng 3.3: Biến đổi các đoạn lân cận vòng Willis 29

Bảng 3.4: Dạng biến đổi phần trước vòng Willis 29

Bảng 3.5: Dạng biến đổi phần sau vòng Willis 30

Bảng 3.6: Các dạng biến đổi phần trước của vòng Willis 31

Bảng 3.7: Các dạng biến đổi đơn thuần ở phần sau 32

Bảng 3.8: Các dạng biến đổi kết hợp 34

Bảng 4.1: Bảng so sánh đường kính một số ĐM não với nghiên cứu của một số tác giả 39

Bảng 4.2: Bảng so sánh đường kính một số ĐM não với nghiên cứu của Hoàng Minh Tú và El-Barhoun 40

Bảng 4.3: Bảng so sánh đường kính phần sau của vòng Willis với nghiên cứu khác 41

Bảng 4.4: So sánh dạng biến đổi phần trước đơn thuần 43

Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU

Trang 9

DANH MỤC HÌNH ẢNH

Hình 1.1: Các đoạn của động mạch cảnh trong 7

Hình 1.2: Vòng Động mạch não 13

Hình 1.3: Sơ đồ cấp máu theo vùng ở mặt ngoài bán cầu(A), mặt trong bán cầu (b) và mặt cắt ngang (C) 14

Hình 1.4: Biến đổi phần trước vòng động mạch não theo Harkamp 16

Hình 1.5: Biến đổi phần sau của vòng động mạch theo Harkamp 17

Hình 1.6: Biến đổi phần trước của vòng ĐM não theo Li 18

Hình 1.7: Biến đổi phần sau của vòng ĐM theo Li 18

Hình 1.8: Biến đổi phần trước vòng động mạch não theo Hoàng Minh Tú 19 Hình 1.9: Biến đổi phần sau vòng động mạch não theo Hoàng Minh Tú 20

Hình 2.1: Ảnh hệ thống máy chụp cắt lớp vi tính đa dãy tại khoa Chẩn đoán Hình ảnh, Bệnh Viện Bạch Mai 22

Hình 2.2: Ảnh hệ thống máy bơm thuốc cản quang và máy tính thực hiện việc tái tạo hình ảnh thu được từ máy chụp MSCT 128 tại khoa Chẩn đoán hình ảnh, Bệnh viện Bạch Mai 22

Hình 3.1: Giới của bệnh nhân 27

Hình 3.2: Dạng biến đổi phần trước 32

Hình 3.3: Bất sản A1 một bên ở bệnh nhân Trần Thị N 32

Hình 3.4: Bất sản ACOM ở bệnh nhân Lê Văn H 32

Hình 3.5: Hình ảnh bất sản thông sau bên phải trên bệnh nhân Lê Trọng S 33

Hình 3.6: Hình ảnh bất sản thông sau hai bên ở bệnh nhân Vương Đình C 34

Hình 3.7: Các dạng biến đổi phần sau của Willis 34

Hình 3.8: Các dạng biến đổi kết hợp 35

Hình 3.9: Hình ảnh vòng đa giác Willis đầy đủ ở dạng tái tạo MIP10 trên bệnh nhân Nguyễn Thị Th 36

Hình 3.10: Hình ảnh bất sản thông trước và bất sản thông sau một bên ở bệnh nhân Nguyễn Thị Th 36

Hình 3.11: Hình ảnh bất sản thông trước và bất sản thông sau hai bên ở bệnh nhân Lê Văn H 37 Hình 3.12: Bất sản thông sau một bên và bất sản P1 một bên Lê Thị M 37

Trang 10

Về phương pháp nghiên cứu động mạch não cũng rất đa dạng như làm khuôn đúc động mạch hay phẫu tích xác được cố định bằng formol[12,

13, 34] Đây là hai kỹ thuật kinh điển, có nhiều tác giả sử dụng để nghiên cứu Kết quả đã thực sự mang lại hiệu quả cho việc mô tả giải phẫu các mạch này Tuy nhiên vòng động mạch não có nhiều biến đổi trong khi đó các phương pháp kinh điển lại hạn chế về số lượng mẫu nghiên cứu Vì vậy nghiên cứu dựa trên các phương tiện chẩn đoán hình ảnh đặc biệt là chụp cắt lớp vi tính đa dãy vừa phát huy khả năng khảo sát mạch máu với độ chính xác cao, không xâm nhập, lại có thể tiến hành với số lượng lớn[3, 4]

Việc hiểu biết thấu đáo về cấu tạo giải phẫu của vòng nối đa giác Willis cũng như các biến thể của nó, cho phép chúng ta có những can thiệp mạnh dạn hơn trong vấn đề điều trị các bệnh lý mạch não, thần kinh Theo Kim (2002)[26] và Lee (2004)[28] đa giác Willis không đầy đủ hoặc tuần hoàn kém hai bên có liên quan tới nguy cơ thiếu máu trong phẫu thuật Kayembe (1984) đã kết luận các biến đổi của đa giác Willis giữ vai trò quan trọng trong việc phát triển các túi phình mạch máu não[21, 24, 25]

Tuy nhiên các tác giả trong nước chưa tập trung nghiên cứu nhiều về biến đổi giải phẫu của vòng động mạch não mới chỉ thu hẹp trong khoảng không gian bệnh lý

Xuất phát từ những vấn đề trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu này với mục tiêu:

Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU

Trang 11

1, Mô tả đặc điểm hình ảnh biến thể của đa giác Willis trên phim chụp cắt lớp vi tính đa dãy

2, Đánh giá kích thước các đoạn của vòng động mạch não trên phim

chụp cắt lớp vi tính đa dãy

Trang 12

1.1.1.1 Giai đoạn thứ nhất (thế kỷ thứ V trước và sau công nguyên)

Bệnh lý của mạch máu nói chung hay mạch não đã được biết đến từ trước công nguyên và đã được nhiều tác giả nghiên cứu Nổi bật ở thời kỳ này có Galen, Aristote hay Herophile [7, 10] Các nghiên cứu trong thời gian này vẫn mang nặng tính duy tâm và chỉ hạn chế ở mức mô tả theo trực giác

và trí tưởng tượng Do đó kết quả nghiên cứu chỉ giới hạn trong việc mô tả các mạch máu lớn và chỉ được thực hiện trên các tiêu bản xác

1.1.1.2 Giai đoạn thứ hai (Thế kỷ V- XV)

Trong giai đoạn này ngành giải phẫu nói chung và giải phẫu về các mạch máu nói riêng có rất ít tác giả nghiên cứu vì gặp phải sự phản đối của các tín đồ thiên chúa giáo Đây là thời kỳ trì trệ kéo dài nhất của ngành giải phẫu trong lịch sử [35]

1.1.1.3 Giai đoạn thứ ba ( thế kỷ XVI- đến nay)

Đây là thời kỳ phát triển mạnh mẽ của các ngành khoa học cơ bản,

có nhiều phát minh khoa học như:

+ Vào năm 1662 Thomas Willis là người đầu tiên nghiên cứu và mô tả chi tiết nhất hệ thống động mạch não, hay còn gọi là đa giác Willis Tuy nhiên ông cũng chỉ dừng lại ở việc mô tả các nhánh chính của đa giác Willis mà chưa chú ý đến các nhánh động mạch não[10, 36]

+ Năm 1905 Fawcetl nghiên cứu lại đa giác Willis, tác giả thấy dạng phổ cập là 7 cạnh và đặt tên là vòng Willis ( Circle of Willis)[35]

+ Năm 1979 Olog nghiên cứu biến đổi giải phẫu của động mạch thông trước Theo tác giả động mạch thông trước có biến đổi nhiều nhất so với các động mạch trong vòng động mạch não [32]

+ Năm 2001, Al-Hussain và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu trên 50 bệnh nhân người Jordani chết vì nhiều nguyên nhân nhưng không có bệnh lý

Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU

Trang 13

mạch máu não mô tả 14 dạng biến đổi đa giác Willis trong đó có 1 dạng mới xuất hiện so với các nghiên cứu trước đó Nghiên cứu này cho thấy các vòng biến đổi này xuất hiện khá thường xuyên và có ảnh hưởng quan trọng đến việc điều trị tắc nghẽn một số nhánh động mạch cấp máu cho não [13]

+ Gần đây nhất năm 2009 Dimmick nghiên cứu trên dân số Úc và Li năm 2011 nghiên cứu trên dân số Trung Quốc về các biến đổi mạch não trên cắt lớp vi tính đa dãy kết quả cho thấy nhiều dạng biến đổi đa giác Willis, và cắt lớp vi tính là phượng tiện hình ảnh khảo sát tốt các động mạch não[15]

1.1.2 Tại Việt Nam

+ Năm 1991, Nguyễn Trần Quýnh nghiên cứu các động mạch cấp máu não thai nhi Việt Nam từ 4-6 tháng tuổi bằng kĩ thuật ăn mòn ở 31 não thai nhi[2] , tác giả nhận thấy:

+ Năm 2012, Ngô Xuân Khoa và Hoàng Minh Tú thực hiện đề tài “ Đường kính các động mạch não trên hình ảnh chụp cắt lớp vi tính đa dãy”, có

ý nghĩa trong việc đánh giá lưu lượng tuần hoàn não cũng như lựa chọn các thiết bị nội mạch trong can thiệp mạch não[10]

+ Ngoài ra cũng còn rất nhiều nghiên cứu của các nhà CĐHA khác nhưng chủ yếu là về bệnh lý mạch não, dị dạng động tĩnh mạch trên cắt lớp vi tính 64 dãy[4, 9]

1.2 Lịch sử về chụp mạch não

1.2.1 Chụp động mạch não

Trang 14

+ Lohr (1936) tiến hành chụp động mạch não để chẩn đoán máu tụ

do chấn thương Tuy nhiên phương pháp này không được tiến hành nhiều

do thuốc cản quang độc, hay gây tai biến[10, 27]

+ Seldinger (1953) đã tiến hành thông động mạch đầu tiên bằng cách luồn ống thông qua động mạch đùi sau đó đưa theo động mạch chủ rồi lên động mạch cảnh, bơm thuốc cản quang và chụp phim[10, 27]

+ Chụp động mạch số hóa xóa nền : Kỹ thuật này cho phép xác định tổn thương mạch máu ở cả thì động mạch, tĩnh mạch và mao mạch Kỹ thuật này cho phép xác định chính xác vị trí và hình thái tổn thương, đặc biệt trong dị dạng mạch máu[4, 10]

1.2.2 Chụp mạch bằng cắt lớp vi tính đa dãy

+ Năm 1972 Godfrey Hounsfield cùng Ambrose [4,9] cho ra đời chiếc máy chụp CLVT sọ não đầu tiên Cấu tạo máy chụp điện toán bao ở giai đoạn này gồm một ống phóng tia X và một dãy cảm biến (detectors) xoay xung quanh Thế hệ máy trong giai đoạn này chỉ thực hiện được kiểu cắt từng lát Có nghĩa máy thực hiện các lát cắt ngang trong khi đó thì bàn cắt lại cố định, do đó mỗi lát cắt khác nhau thì bàn lại phải di chuyển đến một vị trí khác, quá trình này được lặp lại trong suốt quá trình quét Với đặc điểm cấu tạo như vậy, máy trong giai đoạn này chỉ thu được hình ảnh hai chiều trên phim và thời gian cắt lâu do đó không thích hợp cho chụp kiểm tra mạch

Các thế hệ máy MSCT không ngừng cải tiến và nâng cấp nhằm rút ngắn thời gian và tốc độ chụp, bằng việc cải tiến quá trình quét được thực hiện theo hình xoáy ốc, trong khi đó bệnh nhân được di chuyển liên tục ở một tốc độ định trước

Hiện nay có rất nhiều thế hệ máy 64, 128, 256 cho đến 320 lát cắt, thấp nhất là 64 lát cắt Các thế hệ máy này đều có vận tốc quét và độ dày lát cắt ngày càng được cải tiến, cho phép người bệnh không phải nhịn thở lâu, nhịn thở nhiều lần mà vẫn chụp được các lát cắt mỏng cho phép chẩn đoán nhanh, chính xác bệnh nhất là đối với những bệnh nhân hôn mê[3, 4]

Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU

Trang 15

Máy MSCT 64 lát cắt với 64 dãy đầu dò có nghĩa mỗi lần quét 64 lát cùng với vận tốc cao tương đương với việc mỗi lần chụp sọ chỉ mất 8 giây[3,4], khả năng cắt mỏng trung bình là 0,625mm có thể chụp đến lát cắt mỏng 0,3mm Với những tính năng này máy MSCT 64 cho phép đánh giá được hình thái ĐM và tình trạng tổn thương của ĐM như hẹp hay vôi hóa Sự ra đời của chiếc máy này là một tiến bộ lớn trong y khoa, góp phần rất lớn vào việc chẩn đooán, điều trị các bệnh mạch não, khám phát hiện ra các dị dạng ngay cả khi chưa có biểu hiện về mặt lâm sàng

Chụp cắt lớp vi tính động mạch não là phương pháp có độ nhạy và

độ chính xác cao trong việc xác định cấu trúc bình thường hay bất thường của vòng ĐM não[4, 9]

1.3 Giải phẫu vòng động mạch não

Não được cấp máu chủ yếu bởi bốn động mạch, hai động mạch cảnh tạo nên tuần hoàn trước, hai động mạch đốt sống tạo nên tuần hoàn sau Máu từ thất trái lên động mạch chủ rồi đến động mạch cảnh chung vào tuần hoàn trước (động mạch cảnh trong, động mạch não giữa, động mạch não trước) và đến động mạch dưới đòn vào động mạch đốt sống vào tuần hoàn sau (động mạch đốt sống,động mạch thân nền, động mạch não sau) Tuần hoàn trước cấp máu cho mắt, các nhân nền, một phần hạ đồi, thùy trán và thùy đỉnh và phần lớn các thùy thái dương Tuần hoàn sau cấp máu cho thân não, tiểu não, tai trong, thùy chẩm, đồi thị, một phần hạ đồi và một phần nhỏ hơn của thùy thái dương[5, 6]

1.3.1 Hệ cảnh

1.3.1.1 Động mạch cảnh trong

Động mạch cảnh trong tách ra từ động mạch cảnh gốc ở ngang mức đốt sống cổ C4 Từ nguyên ủy, ĐM cảnh trong đi vào trong sọ qua vòng màng cứng của trần xoang hang ở ngay dưới mỏm yên trước, rồi tận hết bằng cách chia 2 nhánh tận là ĐM não trước và ĐM não giữa Nó gồm 4 đoạn liên quan: đoạn cổ, đoạn xương đá, đoạn xoang hang và đoạn trong sọ

Trang 16

Hình 1.1: Các đoạn của động mạch cảnh trong

Đoạn xương đá: động mạch cảnh trong đi lên trong ống động mạch cảnh, và uốn cong lên trên và vào trong ở phía trên lỗ rách, để vào trong sọ lúc đầu nó nằm trước ốc tai và hòm nhĩ, ngăn cách với hòm nhĩ và vòi nhĩ bởi một mảnh xương mỏng, vốn có dạng sàng ở người trẻ và bị tiêu đi (absorb) một phần ở người già Cuối cùng nó nằm dưới hạch sinh ba và ngăn cách với hạch sinh ba bởi mảnh xương mỏng Động mạch được vây quanh bởi một đám rối tĩnh mạch nhỏ và đám rối thần kinh cảnh, vốn bắt nguồn từ nhánh cảnh trong của hạch cổ trên Phần đá của động mạch tách hai nhánh Động mạch cảnh nhĩ và động mạch ống chân bướm không hằng định

Phần xoang hang của động mạch cảnh trong chạy từ mỏm yên sau ra trước ở phía trên thân xương bướm tới phía trong mỏm yên trước thì cong lên trên chọc qua mái màng cứng của xoang Đôi khi, hai mỏm yên tạo nên một vòng xương quanh động mạch Động mạch cũng được bao quanh bởi một đám rối giao cảm Các thần kinh vận nhãn, ròng rọc, mắt và giạng nằm ngoài động mạch

Đoạn này của động mạch tách ra một số mạch nhỏ Các nhánh xoang hang, một nhánh màng não nhỏ và nhiều nhánh tuyến yên cấp máu cho tuyến yên thần kinh và có tầm quan trọng đặc biệt vì chúng tạo nên hệ thống cửa tuyến yên

Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU

Trang 17

Phần trong sọ: Sau khi xuyên qua màng não cứng ở mỏm yên trước, động mạch cảnh trong chạy ra sau ở dưới thần kinh thị giác rồi chạy ra giữa các thần kinh thị giác và vận nhãn tới chất thủng trước ở đầu trong của rãnh bên não và tận cùng bằng cách chia thành các động mạch não trước và giữa

Trước khi tận cùng có một số nhánh đã tách ra từ đoạn não của động mạch cảnh trong bao gồm ĐM mắt, ĐM tuyến yên trên, ĐM thông sau,

ĐM mạc trước, ĐM móc, các nhánh dốc và nhánh màng não

Động mạch mắt là một nhánh bên lớn nhất tách ra từ động mạch cảnh trong ở phía trong mỏm yên trước ngay khi ĐM cảnh trong chui ra khỏi xoang TM hang Từ đó ĐM mắt đi qua ống thị giác để vào trong hố mắt

1.3.1.2 Động mạch não trước (anterior cerebral artery)

Động mạch não trước là nhánh tận nhỏ hơn trong hai nhánh tận của động mạch cảnh trong[5-8]

Động mạch não trước chạy ra trước và vào trong khe liên bán cầu (đoạn A1), đi ở phía trên dây thị giác và cong lên trên (đoạn A2) và ra sau quanh thể trai (đoạn A3)

Hai động mạch não trước cùng đi trong khe não dọc Nó nối với động mạch bên đối diện bằng động mạch thông trước tạo nên các thành trước của đa giác Willis, và khi chạy tới đầu sau của thể trai thì nó tiếp nối với các động mạch não sau

Động mạch não trước cấp máu cho mặt trong bán cầu đại não, mặt ngoài của hai hồi trán lên, trán giữa và nửa trong của hồi ổ mắt của mặt dưới thùy trán Trên đường đi nó tách ra các nhánh vỏ và nhánh trung tâm

Các nhánh vỏ của động mạch não trước được đặt tên dựa theo vùng phân bố Hai hoặc ba nhánh ổ mắt đi vào mặt ổ mắt của thuỳ trán và cấp máu cho vỏ khứu , hồi thẳng và hồi ổ mắt trong Các nhánh trán cấp máu cho thể trai , hồi đai, hồi trán trong và tiểu thuỳ cạnh trung tâm Các nhánh đỉnh cấp máu cho hồi trước chêm, mặc dù các nhánh trán và đỉnh đều cho

Trang 18

dải não ở mặt trên ngồi Các nhánh vỏ của động mạch não trước cấp máu cho các vùng vỏ vận động và cảm giác thân thể mà đại diện cho chi dưới

Các nhánh trung tâm của động mạch não trước tách ra từ đoạn gần

và đi vào chất thủng trước và mảnh tận cùng Chúng cấp máu cho mỏ của thể trai Vách trong suốt, phần trước của bèo xẫm, đầu của nhân đuôi và các phần của bao trong liền kề

1.3.1.3 Động mạch thông trước (Anterior communicating artery)

Là một động mạch rất ngắn dài khoảng 4 mm (<5-6 mm) có khi tồn

tại dạng kép Nó tách ra nhiều nhanh trung tâm trước trong cấp máu cho: giao thoa thị giác, mảnh tận cùng, hạ đồi thị, các vùng cạnh hành khứu, cột vòm trước và hồi đai

Động mạch não trước hai bên nối với nhau qua động mạch thông trước [5, 6, 8]

1.3.1.4 Động mạch não giữa (Middle cerebral artery)

Động mạch não giữa là nhánh tận lớn hơn của động mạch cảnh trong Theo thuật ngữ ngoại khoa, động mạch được chia thành bốn đoạn: đoạn M1- từ chỗ tận cùng của động mạch cảnh trong tới chỗ chia đôi hoặc chia ba, đoạn này còn được gọi là đoạn bướm; đoạn M2 - đoạn chạy trong rãnh não bên, còn gọi là đoạn đảo; đoạn M3 – là đoạn ra khỏi rãnh bên, còn gọi là đoạn nắp; đoạn M4 - đoạn vỏ

Động mạch não giữa cấp máu cho phần lớn thùy thái dương, nhân xám và một phần phía ngoài thùy trán và thùy đỉnh Giống như động mạch não trước nó cũng có những nhánh vỏ và những nhánh trung tâm

Các nhánh vỏ gồm các nhánh vỏ dưới (là các nhánh mặt ngoài thùy thái dương và hồi góc), nhánh vỏ trên cấp máu cho thùy trán và thùy đỉnh

Các nhánh trung ương nhỏ gồm các nhánh vân ngoài gần và các nhánh vân ngoài xa Các nhánh này đóng vai trò quan trọng trong cấp máu cho nhân nền và bao trong [5, 6, 7]

1.3.2 Hệ đốt sống – thân nền

Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU

Trang 19

Đoạn nội sọ của ĐM đốt sống tách ra các nhánh: nhánh màng não,

ĐM tiểu não dưới sau, ĐM tủy sống trước, ĐM tủy sống sau, các nhánh tủy hành trong (giữa) và các nhánh tủy hành ngoài (bên)

Một hay hai nhánh màng não tách ra từ ĐM đốt sống gần lỗ chẩm lớn cấp máu cho xương, lõi xốp và liềm tiểu não

Một động mạch tuỷ sống trước nhỏ tách ra ở gần chỗ tận cùng của động mạch đốt sống và đi xuống ở trước hành não để kết hợp với nhánh bên đối diện ở mức giữa hành não Thân chung sau đó đi xuống trên mặt giữa trước của tuỷ sống và được tiếp nối bởi chuỗi mạch nối của các ĐM đoạn tủy trước Các nhánh này cấp máu cho hành não

Nhánh lớn nhất của động mạch đốt sống là động mạch tiểu não dưới sau Nó tách ra ở gần đầu dưới của trám hành, gồm hai nhánh giữa và nhánh bên Nhánh giữa chạy ra sau giữa bán cầu tiểu não và nhộng dưới và cấp máu cho cả hai Nhánh bên cấp máu cho mặt dưới tiểu não cho tới tận

bờ bên tiểu não và tiếp nối các động mạch tiểu não dưới trước và trên (từ động mạch nền) Đôi khi, không có động mạch tiểu não dưới sau

Ngoài ra còn có các nhánh ĐM tủy sống sau duy trì sự cấp máu cho tủy sống tới tận các mức tủy sống dưới và các nhánh hành tủy trong và ngoài cấp máu cho tủy hành[5, 8]

1.3.2.2 Động mạch nền (arteria basilaris)

Động mạch nền được hình thành từ sự hợp lại của các động mạch đốt sống trái và phải ở mức giữa hành não và chạy dài tới tận bờ trên của

Trang 20

Động mạch nền tận cùng bằng cách chia thành hai động mạch não sau tại một mức biến đổi nhưng thường trong bể gian cuống, ở sau lưng yên

Nhiều nhánh nhỏ cho cầu não tách ra từ mặt trước và các mặt bên của động mạch nền dọc theo đường đi của nó gồm có các nhánh cầu não, các nhánh động mạch mê đạo và 3 nhánh lớn: động mạch tiểu não trên, giữa và dưới

Nhánh cầu não cấp máu cho vùng cầu não và não giữa

Các nhánh mê đạo tách ra từ động mạch tiểu não trước dưới cấp máu cho tai trong

Động mạch tiểu não dưới trước tách ra từ phần dưới của động mạch nền và đi theo thần kinh VI một đoạn ngắn rồi vòng quanh thần kinh VII, VIII trước khi vào tai trong Động mạch tiểu não dưới trước cấp máu cho vùng trước trong và trước ngoài của mặt ngoài tiểu não và tiếp nối với nhánh tiểu não sau dưới và nhánh tiểu não trên của động mạch đốt sống

Động mạch tiểu não trên xuất phát từ đuôi thần kinh III, rồi uốn qua vòng cuống não để lên phía trước trên của tiểu não Nó gồm nhiều nhánh cấp máu cho thể tùng, não giữa, đám rối mạch mạc của não thất III, các nhánh của nó nối với động mạch tiểu não trước dưới[5-8]

1.3.2.3 Động mạch não sau ( Posterior cerebral artery)

Là một nhánh tận của động mạch thân nền gồm 3 phần: P1 là từ chỗ chia đôi động mạch nền tới chỗ nối với động mạch thông sau P2 từ chỗ nối với động mạch thông sau tới phần trong bể quanh trung não P3 là phần đi trong rãnh cựa

Động mạch não sau lớn hơn động mạch tiểu não trên, ngăn cách với động mạch này ở gần ngay nguyên ủy của nó bới thần kinh vận nhãn Động mạch não sau sau khi xuất phát từ nguyên ủy đi sang bên song song với động mạch tiểu não trên và hợp với động mạch thông sau, rồi uốn vòng qua cuống não đến lều tiểu não cấp máu cho thùy thái dương và thùy chẩm

Cũng giống động mạch não trước và não giữa, nó cũng có các nhánh vỏ và trung tâm

Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU

Trang 21

Các nhánh vỏ được đặt tên theo vùng phân bố gồm có nhánh thái dương, nhánh chẩm và nhánh đỉnh chẩm, cấp máu cho vùng thị giác của vỏ não

Nhánh trung tâm cấp máu cho các cấu trúc dưới vỏ Một vài nhánh nhỏ sau giữa trung tâm tách ra từ chỗ bắt đầu của động mạch não sau Ngoài ra còn có các nhánh trung tâm sau ngoài xuất phát từ động mạch não

sau ngay sau cuống não[5, 6]

1.3.2.4 Động mạch thông sau ( Posterior communicating artery)

Điểm xuất phát của động mạch thông sau từ động mạch cảnh trong chính là vị trí thường gặp nhất của các túi phình trên lâm sàng Các nghiên cứu cho thấy động mạch thông sau chính là thành phần mạch xuất hiện nhiều biến đổi nhất của vòng Willis Các biến đổi có thể gặp là vị trí xuất phát thay đổi, thiểu sản, bất sản một hoặc hai bên[7, 8]

1.3.3 Vòng động mạch não (Circulus arteriosus)

Trang 22

Hình 1.2: Vòng Động mạch não

Vòng động mạch não là một vòng tiếp nối động mạch lớn liên kết các hệ thống cảnh trong và sống nền, là hệ thống duy trì sự cấp máu bình thường cho não, cung cấp các kênh tiếp nối khi một nhánh động mạch bị tắc Nó nằm ở khoang dưới nhện, trong bể gian cuống và bao quanh giao thoa thị giác, phễu và các cấu trúc khác của hố gian cuống

Ở phía trước, các động mạch não trước của động mạch cảnh trong được nối với nhau bởi động mạch thông trước Ở phía sau, mỗi động mạch não sau nối với động mạch cảnh trong cùng bên qua động mạch thông sau Động mạch thông sau thường có đường kính nhỏ, điều này làm giới hạn dòng chảy giữa phần trước và sau của vòng tuần hoàn, và thường không đảm bảo đủ được vai trò cấp máu thay thế khi một nhánh bị bít

Tuần hoàn vòng động mạch não chịu ảnh hưởng của các biến đổi đường kính các động mạch thông, não trước, não sau Thông thường đường kính đoạn trước thông của động mạch não sau lớn hơn động mạch thông sau nên sự cấp máu cho thùy chẩm chủ yếu từ hệ thống sống nền, trong trường hợp ngược lại sự cấp máu cho thùy chẩm lại chủ yếu từ động mạch cảnh trong thông qua động mạch thông sau

Bất sản, thiểu sản động mạch não trước thường gặp hơn các động mạch thông trước, góp phần vào biến đổi các vòng tuần hoàn động mạch não[5, 7, 36]

Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU

Trang 23

Các nhánh động mạch trung tâm hay động mạch xuyên

Nhiều động mạch trung tâm nhỏ tách ra từ vòng động mạch hoặc ở gần vòng động mạch Đa số động mạch này đi vào não qua chất thủng trước và sau, chúng cấp máu cho các cấu trúc trên nền não hoặc gần nền não, gồm có bốn đoạn[5, 36]:

+ Đoạn trước giữa tách ra từ động mạch não trước và thông trước + Đoạn sau giữa tách từ toàn bộ động mạch thông sau và đoạn gần của động mạch não sau

+ Đoạn trước bên tách từ đoạn gần của động mạch não giữa hay còn được gọi là động mạch vân, vân bên hay bèo vân

+ Đoạn sau bên bắt nguồn từ động mạch não sau chỗ nối với động mạch thông sau

1.3.4 Sự cấp máu theo vùng

Hình 1.3: Sơ đồ cấp máu theo vùng ở mặt ngoài bán cầu(A), mặt trong

bán cầu(b) và mặt cắt ngang(C)

Trang 24

1.3.4.3 Giao thoa, dải và tia thị giác

Sự cấp máu cho vùng này có ý nghĩa về mặt lâm sàng Giao thoa thị giác được cấp máu một phần bởi các ĐM não trước, phần giữa của nó được nuôi bởi các nhánh từ động mạch cảnh trong Giải thị giác nhận máu từ động mach mạc trước và thông sau Tia thị giác thì nhận từ nhánh sâu của động mạch não trước và sau[5, 35]

1.3.4.4 Gian não

Nội đồi được cấp máu bới các chủ yếu bởi các ĐM thông sau, não sau và nền.Nhánh trong của ĐM mạc sau cấp máu cho mép sau, vùng tam giác cương, tuyến tùng và các phần trong của nội đồi, bao gồm cả đồi chẩm Các nhánh trung ương nhỏ tách ra từ vòng ĐM và các đoạn mạch não nằm gần vòng ĐM cấp máu cho hạ nội đồi Tuyến yên được cấp máu bởi ĐM tuyến yên bắt nguồn từ ĐM cảnh trong, các ĐM thông trước và não trước cấp máu cho lá tận

Đám rối mạch mạc não thất bên và ba được cấp máu bởi nhánh ĐM cảnh trong và não sau[7, 8, 31]

Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU

Trang 25

1.3.4.5 Các hạch nhân nền

Đa phần sự cấp máu của hạch nhân nền đến từ ĐM vân, vốn là những nhánh trung tâm tách ra từ gốc của ĐM não trước và giữa[5, 6]

1.3.4.6 Bao trong

Bao trong được cấp máu bởi các ĐM trung tâm xuất phát từ vòng

ĐM và các mạch não nằm gần vòng ĐM bao gồm ĐM vân trong của ĐM não trước và ĐM vân ngoài của ĐM não giữa[8, 34]

1.3.4.7 Vỏ đại não

Toàn bộ vỏ đại não được cấp máu bởi các nhánh vỏ của ĐM não trước, giữa, sau[7]

1.3.5 Một số biến đổi giải phẫu động mạch não

1.3.5.1 Một số dạng biến đổi đặc trưng

Năm 1999 Krabber- Harkamp và cộng sự nghiên cứu sự biến đổi đa giác Willis trên cộng hưởng từ kết quả thu được có 9 dạng biến đổi phần trước và 9 dạng biến đổi phần sau của đa giác Willis[14,15, 27]:

 9 dạng biến đổi phần trước của vòng động mạch:

Hình 1.4: Biến đổi phần trước vòng động mạch não theo Harkamp

a, Dạng bình thường một AcomA

b, Hai AcomA

c, Động mạch thể trai xuất phát từ AcomA nằm giữa hai đoạn A1

d, Hợp nhất hai ĐM não trước một đoạn ngắn

e, Hai ĐM não trước hợp thành một thân chung và chia thành hai

Trang 26

f, Hai thân ĐM não giữa xuất phát từ ĐM cảnh trong

g, Thiểu sản hoặc bất sản AcomA

h, Đoạn A1 thiểu sản hoặc bất sản một bên đoạn A1 bên còn lại chia thành A2 cả hai bên

i, Thiểu sản hoặc bất sản động mạch cảnh trong một bên, ĐM não trước và não giữa bên đối diện nhận máu từ ĐM cảnh trong bên còn lại thông qua đoạn A1, thông trước

j, Thiểu sản hoặc bất sản AcomA kèm ĐM não giữa xuất hiện từ ĐM cảnh trong bởi hai thân

 Chín dạng biến đổi phần sau vòng động mạch:

Hình 1.5: Biến đổi phần sau của vòng động mạch theo Harkamp

a, Bình thường hiện diện PcomA cả hai bên

b, ĐM não sau xuất phát từ ĐM cảnh trong (dạng bào thai một bên

của PcomA- FTP fetal type PcomA), PcomA bên còn lại đầy

f, FTP một bên kèm thiểu sản hoặc bất sản đoạn P1

g, FTP một bên kèm thiểu sản hoặc bất sản PcomA bên đối diện

h, FTP hai bên kèm thiểu sản hoặc bất sản đoạn P1 và PcomA

i, FTP hai bên kèm thiểu sản hoặc bất sản P1 hai bên

j, Dạng bào thai hai bên kèm thiểu sản hoặc bất sản đoạn P1 một bên

Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU

Trang 27

Theo Li và cộng sự nghiên cứu về biến đổi vòng động mạch não trên

160 bệnh nhân kết quả thu được 13 dạng biên đổi trong đó có 4 dạng biến đổi phần trước vòng ĐM não chiếm 21% (34/160) và 9 dạng biến đổi phần sau vòng ĐM não chiếm 69% (110/160)[29, 30]

 Biến đổi phần trước

Hình 1.6: Biến đổi phần trước của vòng ĐM não theo Li

 Biến đổi phần sau

Hình 1.7: Biến đổi phần sau của vòng ĐM theo Li

a, Bình thường

b, Dạng chuyển tiếp

Trang 28

d, FTP hai bên

e, Bất sản PcomA hai bên

f, Thiểu sản PcomA hai bên

g, Bất sản PcomA một bên

h, Thiểu sản PcomA một bên

i, FTP toàn phần (khi đoạn P1 bất sản và PcomA đóng vai trò như

ĐM não sau)

j, Dạng biến đổi mới của phần sau Năm 2011 Theo nghiên cứu của Hoàng Minh Tú- Phạm Minh Thông nghiên cứu trên 102 bệnh nhân kết quả thu được có 4 dạng biến đổi phần trước của vòng ĐM não chiếm 29,41% (30/102), có 11 dạng biến đổi phần sau của vòng ĐM não chiếm 74,51% (76/102)[10, 14, 15,]

 Biến đổi phần trước của vòng ĐM não

Hình 1.8: Biến đổi phần trước vòng động mạch não theo Hoàng Minh

 Biến đổi phần sau của vòng ĐM não

Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU

Trang 29

Hình 1.9: Biến đổi phần sau vòng động mạch não theo Hoàng Minh Tú

7, Bất sản PcomA hai bên

8, Thiểu sản PcomA một bên

9, Thiểu sản PcomA hai bên

10, Bất sản P1 một bên kèm bất sản PcomA một bên

11, Thiểu sản P1 một bên kèm bất sản PcomA một bên

12, Bất sản PcomA một bên, PcomA bên còn lại và ĐM não sau không hợp nhất

Như vậy ĐM não chia rất phức tạp, và có rất nhiều các hình thái biến đổi

Trong phạm vi nghiên cứu này chúng tôi nghiên cứu sự biến đổi của vòng ĐM não và một số nhánh lân cận như P2, ICA

Trang 30

CHƯƠNG 2:

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu:

2.1.1 Bệnh nhân nghiên cứu:

Nghiên cứu ở bệnh nhân được chụp MSCT đa dãy ĐM não (tối thiểu

là 64 dãy) tại khoa Chẩn đoán hình ảnh, Bệnh viện Bạch Mai, trong khoảng thời gian từ tháng 01 năm 2017 đến tháng 12 năm 2017

Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân:

- Các bệnh nhân được chẩn đoán xuất huyết não, nhồi máu não hoặc nghi ngờ bệnh mạch não, đồng thời được các bác sĩ chuyên khoa khẳng định không bị các dị dạng mạch não tại vòng Willis và các nhánh gần của nó sau khi các thăm dò cận lâm sàng như điện não đồ, MSCT (từ

64 dãy trở lên), DSA… đã được tiến hành trên bệnh nhân

- Bệnh nhân không phân biệt về tuổi, về giới tính, địa danh

Tiêu chuẩn loại trừ:

- Tất cả các bệnh nhân không đạt các tiêu chuẩn trên

- Tất cả bệnh nhân bị nhiễu ảnh, vôi hóa thành mạch nhiều, hẹp tắc

>50% đường kính mạch

- Tất cả các bệnh nhân đã điều trị can thiệp mạch

2.1.2 Phương tiện nghiên cứu:

Phương tiện được sử dụng trong nghiên cứu của chúng tôi gồm: máy chụp cắt lớp vi tính đa dãy (tối thiểu là 64 dãy), hệ thống máy bơm tiêm thuốc cản quang và máy tính thực hiện tái tạo hình ảnh từ máy chụp cắt lớp

vi tính đa dãy

- Máy chụp cắt lớp vi tính đa dãy được sử dụng trong nghiên cứu là hệ

thống máy SOMATOM Sensation của hãng Siemen hoặc máy

SCANERIA của hãng Hitachi

Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU

Trang 31

Hình 2.1: Ảnh hệ thống máy chụp cắt lớp vi tính đa dãy tại khoa Chẩn

đoán Hình ảnh, Bệnh viện Bạch Mai

- Máy bơm thuốc cản quang đồng bộ với máy chụp cắt lớp vi tính đa dãy

hiệu Stellant® D CT Injection của hãng MEDRAD

- Máy vi tính và phần mềm thực hiện việc tái hiện lại hình ảnh các ĐM

não đi kèm theo máy chụp cắt lớp vi tính đa dãy Phần mềm thực hiện tái tạo hình ảnh bao gồm nhiều chương trình khác nhau, trong nghiên cứu,

chúng tôi sử dụngchương trình NeuroDSA (chương trình xóa nền), các

chương trình tái tạo hình ảnh đa lát cắt dạng MIP, VRT và các công cụ

đo khoảng cách

Hình 2.2: Ảnh hệ thống máy bơm thuốc cản quang và máy tính thực

Trang 32

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu:

Nghiên cứu được tiến hành theo phương pháp mô tả cắt ngang

2.2.2 Chọn mẫu:

Chúng thôi chọn mẫu theo phương pháp chọn mẫu thuận tiện, chọn tất cả các bệnh nhân được chụp MSCT từ 64 dãy trở lên trong thời gian nghiên cứu và đủ tiêu chuẩn vào mẫu nghiên cứu

Với phương pháp này, chúng tôi đã chọn được 135 mẫu nghiên cứu

2.2.3 Thiết lập biến số nghiên cứu:

- Tên: tên đầy đủ theo khai sinh

- Tuổi: tính theo năm dương lịch

- Giới tính: nam, nữ

- Đường kính các đoạn ĐM: tính bằng đơn vị mm Chúng tôi tiến hành đo đường kính ở cả hai bên trái (T) và phải (P) của các đoạn mạch sau:

A1T, A1P (đoạn A1 bên trái và đoạn A1 bên phải): đoạn đầu tiên của ĐM não trước, xuất phát từ ĐM cảnh trong và kết thúc khi nối với ĐM não trước bên đối diện bởi ĐM thông trước.

 AcomA : ĐM thông trước, nằm trong rãnh não dọc giữa và nối liền hai ĐM não trước.

 M1T, M1P (đoạn M1 bên trái và đoạn M1 bên phải): đoạn đầu tiên của ĐM não giữa, xuất phát ở đoạn tận của ĐM cảnh trong, chỗ chia nhánh thành ĐM não trước và não giữa Tận cùng của M1 khi ĐM não giữa chia thành các nhánh khác, thường chia thành 2, 3 hoặc 4 nhánh

 P1T, P1P (đoạn P1 bên trái và đoạn P1 bên phải): đoạn đầu tiên của ĐM não sau, xuất phát từ ĐM nền và điểm kết thúc là chỗ nối với ĐM thông sau.

 P2T, P2P (đoạn P2 bên trái và đoạn P2 bên phải): xuất phát từ chỗ nối với ĐM thông sau tới phần trong bể quanh trung não.

Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU

Trang 33

 PcomAT, PcomAP (đoạn PcomA bên trái và đoạn PcomA bên phải): ĐM thông sau, nối giữa hệ thống ĐM cảnh trong và hệ thống ĐM nền – đốt sống, điểm xuất phát tại chỗ nối với ĐM cảnh trong và kết thúc tại điểm nối với ĐM não sau.

 BA: ĐM nền, nguyên ủy tại điểm hợp nhất của 2 ĐM đốt sống và kết thúc khi chia đôi để hình thành nên 2 ĐM não sau.

 Các hình ảnh của vòng ĐM não và các nhánh gần của chúng thu được từ hình ảnh được tái tạo MIP, VRT

+ VRT (volume rendering technigue): là kỹ thuật cho phép hiển thị thể tích vật thể dưới dạng bán trong suốt, các vật thể khác nhau không bị chồng hình lên nhau

2.2.4.2 Các bước chụp hình mạch

+ Các bệnh nhân khi chụp mạch được thực hiện kĩ thuật Test bolus mục đích là để xác định thời gian từ lúc tiêm thuốc cản quang đến khi thuốc xuất hiện tại vùng cần chụp mạch (đã được trình bày cụ thể trong phụ lục 3)

+ Sau khi kỹ thuật Test Bolus được tiến hành, bệnh nhân được chụp mạch não theo Protocol chuẩn ở hai thì: thì trước và thì sau tiêm thuốc cản quang (phụ lục 3)

- Chụp khu trú chương trình sọ não trước tiêm thuốc cản quang để đánh giá nhu mô não

- Chụp sọ não chương trình sau tiêm thuốc cản quang, đặt lại các vị trí chụp trùng khớp với chương trình chụp sọ não trước tiêm thuốc

Trang 34

- Các số liệu thu được từ chụp động mạch não sẽ được chuyển qua

hệ thống máy tính để thực hiện tái tạo lại các hình ảnh Qúa trình tái tạo gồm các bước chính:

 Xóa nền: bước này sử dụng chương trình NeuroDSA để xóa xương sọ

 Tái tạo hình ảnh theo các chương trình MIP và tiến hành đo đường kính các đoạn mạch trong nghiên cứu

 Tái tạo hình ảnh dạng MPR, MIP, VRT xác định kích thước và biến đổi của các động mạch não

2.2.4.3 Phương pháp đọc phim:

+ Dựa trên các mốc giải phẫu trên phim chụp mạch

+ Đọc phim dưới đèn xem phim

+ Đọc lại kết quả các phim chụp mạch dưới hướng dẫn của thầy hướng dẫn và bác sỹ chuyên khoa

+ Dùng phần mềm SPSS phiên bản 22 và Exel 2013 và các phép thống kê toán học để xử lý số liệu

+ Theo nghiên cứu của các tác giả trước đó Kanchan Kapoor[23] các đoạn động mạch có đường kính ≥1 là bình thường, <1 là thiểu sản, không xuất hiện là bất sản

+ Để xác định và phân loại các biến đổi vòng ĐM não chúng tôi phân chia theo phần trước gồm ĐM não trước, não giữa, thông trước, phần sau của vòng ĐM gồm ĐM não sau, thông sau, thân nền

2.2.4.4 Phương pháp đo đường kính động mạch não:

Đo đường kính của ĐM trên hình ảnh thu được từ chụp MSCT đa dãy, tái tạo hình ảnh đa lát cắt theo các chương trình MIP, NeuroDSA Chúng tôi tiến hành đo đường kính các đoạn mạch trên hình ảnh tái tạo dạng MIP, độ dày 10mm, bằng lát cắt ngang vuông góc với đoạn mạch ở 3

vị trí trên đoạn mạch: điểm xuất phát, điểm kết thúc và điểm giữa vị trí

Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU

Ngày đăng: 15/07/2019, 16:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w