Trên thế giới, ngô là một trong những cây ngũ cốc quan trọng, diện tích đứng thứ 3 sau lúa mì và lúa nước; sản lượng thứ hai và năng suất cao nhất trong các cây ngũ cốc. Năm 1961, diện tích ngô toàn thế giới đạt 105,5 triệu ha, năng suất 19,4 tạha, sản lượng 205 triệu tấn, đến năm 2009, diện tích trồng ngô thế giới đạt khoảng 159,5 triệu ha, năng suất bình quân 51,3 tạha, sản lượng 817,1 triệu tấn. Trong đó Mỹ, Trung Quốc, Braxin là những nước đứng đầu về diện tích và sản lượng (Cục Trồng trọt, 2011). Ngoài làm lương thực cho con người, ngô còn là cây thức ăn gia súc quan trọng nhất hiện nay. Hầu như 70% chất tinh trong thức ăn tổng hợp là từ ngô. Ngô còn là thức ăn xanh và ủ chua lý tưởng cho đại gia súc, đặc biệt là bò sữa. Ở Liên Xô cũ hàng năm trồng khoảng 20 triệu ha ngô, trong đó chỉ có 3 triệu ha lấy hạt, còn lại dùng làm thức ăn ủ chua (Ngô Hữu Tình và cs, 1997). Những năm gần đây cây ngô còn là cây thực phẩm, người ta dùng bắp ngô bao tử làm rau cao cấp. Nghề này phát triển rất mạnh mang lại hiệu quả cao ở Thái Lan, Đài Loan. Sở dĩ ngô rau được ưa dùng vì nó sạch và có hàm lượng dinh dưỡng cao. Các thể loại ngô nếp, ngô đường được dùng làm ăn tươi (luộc, nướng) hoặc đóng hộp làm thực phẩm xuất khẩu (Ngô Hữu Tình và cs, 1997). Ngoài việc ngô là nguyên liệu chính cho các nhà máy thức ăn gia súc tổng hợp, ngô còn là nguyên liệu cho các nhà máy sản xuất rượu cồn, tinh bột, dầu, glucoza, bánh kẹo… Người ta đã sản xuất ra khoảng 670 mặt hàng khác nhau của các ngành công nghiệp lương thực thực phẩm, công nghiệp dược và công nghiệp nhẹ.Trên thế giới hàng năm ngô xuất nhập khẩu là khoảng 70 triệu tấn. Đó là một nguồn lợi lớn của các nước xuất khẩu (Ngô Hữu Tình và cs, 1997). Ngô là cây lương thực quan trọng trong nền kinh tế toàn cầu. Trên thế giới, cây ngô đứng thứ ba về diện tích, thứ hai về sản lượng và đứng thứ nhất về năng suất. Theo số liệu của CIMMYT (World Maize Facts and Trends 19931994) thì giai đoạn 19901992 toàn thế giới trồng 129.804 ngàn ha ngô với năng suất bình quân là 3,8 tấnha và cho tổng sản lượng gần 500 triệu tấn. Ở Việt Nam, ngô là cây lương thực quan trọng thứ hai sau cây lúa và là cây màu quan trọng nhất được trồng ở nhiều vùng sinh thái khác nhau, đa dạng về mùa vụ gieo trồng và hệ thống canh tác. Cây ngô không chỉ cung cấp lương thực cho người, vật nuôi mà còn là cây trồng xóa đói giảm nghèo tại các tỉnh có điều kiện kinh tế khó khăn. Sản xuất ngô cả nước qua các năm không ngừng tăng về diện tích, năng suất, sản lượng: năm 2001 tổng diện tích ngô là 730.000 ha, đến năm 2005 đã tăng trên 1 triệu ha; năm 2010, diện tích ngô cả nước 1126,9 nghìn ha, năng suất 40,9 tạha, sản lượng trên 4,6 triệu tấn. Tuy vậy, cho đến nay sản xuất ngô ở nước ta phát triển chưa tương xứng với tiềm năng, chưa đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng trong nước, hàng năm nước ta vẫn phải nhập khẩu từ trên dới 1 triệu tấn ngô hạt (Cục Trồng trọt, 2011). Ngô được đưa vào Việt Nam cách đây khoảng 300 năm. Mặc dù là cây lương thực thứ hai sau lúa, song do truyền thống lúa nước, cây ngô không được chú trọng nên chưa phát huy được tiềm năng của nó ở Việt Nam. Những năm gần đây nhờ có những chính sách khuyến khích và nhiều tiến bộ kỹ thuật, cây ngô đã có những bước tiến về diện tích, năng suất và sản lượng (Ngô Hữu Tình và cs, 1997). Trong những năm gần đây, để triển khai mạnh mẽ đề án tái cơ cấu ngành lúa gạo, nâng cao hiệu quả và phát triển bền vững, Bộ NNPTNT đang tiến hành cắt giảm diện tích trồng lúa để chuyển sang trồng một số cây hằng năm khác, đặc biệt là cây ngô. Ngoài việc thay đổi cơ cấu cây trồng, Bộ NNPTNT còn áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, thay giống cũ, đưa giống Ngô lai mới có tiềm năng năng xuất cao, chịu thâm canh tốt. Tuy nhiên, khả năng chống chịu với điều kiện ngoại cảnh và sâu bệnh các giống ngô lai kém hơn so với giống cũ của địa phương đã trải qua quá trình chọn lọc tự nhiên. Trong khi đó, nước ta có khí hậu nhiệt đới gió mùa, đây là điều kiện thuận lợi của một số loài sâu bệnh gây hại nặng cho cây Ngô nói riêng và cho ngành nông nghiệp nước ta nói chung. Một trong những loài sâu gây hại quan trọng cho cây ngô là sâu đục thân ngô châu Á Ostrinia furnacalis Guenee (Lepidoptera: Pyralidae). Sâu đục thân ngô có thể gây hại cho các bộ phận trên cây ngô phụ thuộc vào tuổi sâu non: Ở tuổi nhỏ, chúng cắn lá, đục vào cuống cờ và râu ngô, tuổi lớn đục trong thân và đục trong bắp. Do đặc điểm của chúng là sống kín trong thân, việc phòng trừ loài sâu này thường gặp khó khăn hơn các loài sâu hại khác. Đã có rất nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước về thành phần, sinh học, … của sâu đục thân ngô. Tuy nhiên, những nghiên cứu về tính kháng của loài sâu này với một số hoạt chất hóa học vẫn chưa được chú ý nhiều. Cho nên, xuất phát từ yêu cầu thực tiễn, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Thành phần sâu hại ngô, diễn biến mật độ sâu đục thân ngô Châu Á (Ostrinia furnacalis Guenee) và mức độ mẫn cảm đối với một số hoạt chất BVTV tại Hà Nội 2016”.
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
KHOA NÔNG HỌC
-KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
TÊN ĐỀ TÀI:
THÀNH PHẦN SÂU HẠI NGÔ, DIỄN BIẾN MẬT ĐỘ
SÂU ĐỤC THÂN NGÔ CHÂU Á (OSTRINIA
Trang 2LỜI CẢM ƠN 1
DANH MỤC BẢNG 2
DANH MỤC ĐỒ THỊ, BIỂU ĐỒ, HÌNH ẢNH 3
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 4
PHẦN I: MỞ ĐẦU 5
1.1 Đặt vấn đề 5
1.2 Mục đích và yêu cầu 7
1.2.1 Mục đích 7
1.2.2 Yêu cầu 7
PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 9
2.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 9
2.1.1 Tình hình sản xuất ngô trên thế giới 9
2.1.2 Những nghiên cứu về thành phần sâu hại trên cây ngô 11
2.1.3 Những nghiên cứu về sâu đục thân ngô trên thế giới 11
2.1.4 Những nghiên cứu về tính kháng thuốc của bộ cánh vảy (Lepidoptera) và sâu đục thân ngô trên thế giới 14
2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 16
2.2.1 Tình hình sản xuất ngô trong nước 16
2.2.2 Những nghiên cứu về thành phần sâu hại và thiên địch trên cây ngô ở Việt Nam 18
2.2.3 Những nghiên cứu về sâu đục thân ngô châu Á (Ostrinia furnacalis Guene) ở Việt Nam 20
2.2.4 Những nghiên cứu về tính kháng thuốc của bộ cánh vảy (Lepidoptera) và sâu đục thân ngô châu Á (Ostrinia furnacalis Guenee) ở Việt Nam 25
PHẦN III: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
3.1 Đối tượng và vật liệu nghiên cứu 28
3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 28
3.3 Nội dung nghiên cứu 29
3.4 Phương pháp nghiên cứu 29
3.4.1 Phương pháp điều tra xác định thành phần sâu hại trên cây ngô trong vụ Xuân - Hè ở Hà Nội 29
3.4.2 Phương pháp điều tra diễn biến mật độ, tỷ lệ hại của sâu đục thân ngô châu Á 30
3.4.3 Phương pháp nhân nuôi nguồn sâu đục thân ngô 30
3.5.4 Phương pháp mô tả đặc điểm hình thái, đo đếm kích thức sâu đục thân ngô 31
3.5.5 Phương pháp nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của sâu đục thân ngô 32
3.4.6 Phương pháp đánh giá mức độ mẫn cảm đối với một số hoạt chất BVTV của quần thể sâu đục thân ngô châu Á ở Hà Nội 32
Trang 33.4.7 Các chỉ tiêu theo dõi và phương pháp tính toán 34
3.4.8 Phương pháp xử lý số liệu 36
PHẦN IV: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 37
4.1 Thành phần sâu hại ngô tại Đặng Xá - Gia Lâm, Giang Biên - Long Biên - Hà Nội năm 2016 37
4.2 Diễn biến mật độ, tỷ lệ gây hại của sâu đục thân ngô châu Á tại Đặng Xá - Gia Lâm, Giang Biên - Long Biên - Hà Nội vụ Xuân - Hè năm 2016 41
4.3 Đặc điểm hình thái và sinh học của loài sâu đục thân ngô châu Á (Ostrinia furnacalis Guenee) 45
4.3.1 Đặc điểm hình thái của sâu đục thân ngô châu Á (Ostrinia furnacalis Guenee) 45
4.3.2 Một số đặc điểm sinh học của sâu đục thân ngô châu Á (Ostrinia furnacalis Guenee) 49
4.4 Đánh giá mức độ mẫn cảm của sâu đục thân ngô chấu Á Ostrinia furnacalis Guenee đối với một số hoạt chất tại Hà Nội 2016 53
4.4.1 Hiệu lực của hoạt chất Fipronil và Cartap đối với quần thể sâu đục thân ngô châu Á ở Hà Nội 2016 53
4.4.2 Đặc điểm sinh học của sâu đục thân ngô châu Á sau khi tiếp xúc với hoạt chất fipronil và cartap 54
PHẦN V: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 59
TÀI LIỆU THAM KHẢO 61
A Tài liệu tiếng việt 61
B Tài liệu nước ngoài 63
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi đãnhận được sự giúp đỡ và động viên nhiệt tình của tập thể Bộ môn Côn trùng -Khoa Nông học; Ban Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam; bà con nôngdân và Ủy ban nhân dân phường Giang Biên và Đặng Xá, Gia Lâm, Hà Nội; Bộmôn côn trùng của Viện BVTV; gia đình và bạn bè
Trước hết tôi xin chân thành bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tớithầy giáo TS Lê Ngọc Anh và TS Lê Quang Khải đã tận tình hướng dẫn, chỉbảo, giúp đỡ và tạo điều kiện thận lợi để tôi thực hiện thành công khóa luận tốtnghiệp này
Tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy cô giáo trong bộmôn Côn trùng, Khoa Nông học, Ban Giám đốc Học viện Nông nghiệp ViệtNam và bộ môn côn trùng của viện BVTV đã luôn giúp đỡ tôi trong suốt quátrình học tập, nghiên cứu và hoàn thành khóa luận
Tôi xin chân thành cảm ơn tới bà con nông dân và Ủy ban nhân dânphường Giang Biên, Đặng Xá, Gia Lâm, Hà Nội đã giúp đỡ tôi trong quá trìnhthực hiện đề tài và hoàn thành khóa luận
Một lần nữa tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới tất cả sự giúp đỡ quýbáu này
Hà Nội, Ngày tháng năm 2016
Sinh viên
Nguyễn Thị Hòa
Trang 5DANH MỤC BẢNG Bảng 2.1: Sản lượng ngô thế giới từ 1992 - 2000 9 Bảng 4.1: Thành phần sâu hại trên cây ngô ở Đặng Xá - Gia Lâm và Giang Biên - Long Biên - Hà Nội năm 2016 38 Bảng 4.2: Các bộ côn trùng trong quá trình điều tra 40 Bảng 4.3: Tỷ lệ, mật độ gây hại của sâu đục thân ngô trong vụ Xuân - Hè
2016 (Đặng Xá - Gia Lâm, Giang Biên - Long Biên - Hà Nội) 43 Bảng 4.4: Kích thước các giai đoạn phát triển của sâu đục thân ngô châu Á 48 Bảng 4.5: Thời gian phát triển các tuổi ở pha sâu non của sâu đục thân ngô châu Á 49 Bảng 4.6: Thời gian sống của trưởng thành sâu đục thân ngô châu Á 51 Bảng 4.7: Sức sinh sản của trưởng thành cái sâu đục thân ngô châu Á 52 Bảng 4.8: Hiệu lực của hoạt chất Fipronil đối với sâu đục thân ngô châu Á 53 Bảng 4.9: Hiệu lực của hoạt chất Cartap đối với sâu đục thân ngô châu Á 53 Bảng 4.10: So sánh thời gian phát dục của sâu đục thân ngô châu Á sau khi tiếp xúc với hoạt chất Fipronil, Cartap và đối chứng 55 Bảng 4.11: Sức sinh sản và tỷ lệ trứng nở của sâu đục thân ngô châu Á sau khi tiếp xúc với 2 hoạt chất fipronil, cartap 56 Bảng 4.12: Tỷ lệ chết ở các pha của sâu đục thân sau khi tiếp xúc với thuốc 57
Trang 6DANH MỤC ĐỒ THỊ, BIỂU ĐỒ, HÌNH ẢNH Hình 3.1: Hai giống ngô được dùng để nhân nuôi nguồn 28 Hình 3.2: Ngô được trồng trong nhà lưới để làm thức ăn nhân nuôi nguồn 30 Hình 3.3: Lồng lưới nhân nuôi nguồn 31 Hình 3.4: Đo kích thước sâu đục thân trên giấy chia mm 32 Hình 4.1: Tỷ lệ % các bộ côn trùng sâu hại ngô ở Đặng Xá - Gia Lâm, Giang Biên - Long Biên - Hà Nội vụ Xuân - Hè năm 2016 40 Hình 4.2: Đặc điểm gây hại trên bắp, thân, lá của sâu đục thân ngô châu Á 42 Hình 4.3: Sâu đục thân ngô châu Á đang gây hại trên cờ ngô 42
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BVTV: Bảo vệ thực vật
cs: Cộng sựTT: Thứ tựT2: Tháng 2T3: Tháng 3T4: Tháng 4T5: Tháng 5VC: Vật chủVM: Vật mồi
TB: Trung bình
TT: Trưởng thành
Trang 8PHẦN I: MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Trên thế giới, ngô là một trong những cây ngũ cốc quan trọng, diện tíchđứng thứ 3 sau lúa mì và lúa nước; sản lượng thứ hai và năng suất cao nhất trongcác cây ngũ cốc Năm 1961, diện tích ngô toàn thế giới đạt 105,5 triệu ha, năngsuất 19,4 tạ/ha, sản lượng 205 triệu tấn, đến năm 2009, diện tích trồng ngô thếgiới đạt khoảng 159,5 triệu ha, năng suất bình quân 51,3 tạ/ha, sản lượng 817,1triệu tấn Trong đó Mỹ, Trung Quốc, Braxin là những nước đứng đầu về diệntích và sản lượng (Cục Trồng trọt, 2011)
Ngoài làm lương thực cho con người, ngô còn là cây thức ăn gia súc quantrọng nhất hiện nay Hầu như 70% chất tinh trong thức ăn tổng hợp là từ ngô.Ngô còn là thức ăn xanh và ủ chua lý tưởng cho đại gia súc, đặc biệt là bò sữa
Ở Liên Xô cũ hàng năm trồng khoảng 20 triệu ha ngô, trong đó chỉ có 3 triệu halấy hạt, còn lại dùng làm thức ăn ủ chua (Ngô Hữu Tình và cs, 1997)
Những năm gần đây cây ngô còn là cây thực phẩm, người ta dùng bắp ngôbao tử làm rau cao cấp Nghề này phát triển rất mạnh mang lại hiệu quả cao ởThái Lan, Đài Loan Sở dĩ ngô rau được ưa dùng vì nó sạch và có hàm lượngdinh dưỡng cao Các thể loại ngô nếp, ngô đường được dùng làm ăn tươi (luộc,nướng) hoặc đóng hộp làm thực phẩm xuất khẩu (Ngô Hữu Tình và cs, 1997)
Ngoài việc ngô là nguyên liệu chính cho các nhà máy thức ăn gia súc tổnghợp, ngô còn là nguyên liệu cho các nhà máy sản xuất rượu cồn, tinh bột, dầu,glucoza, bánh kẹo… Người ta đã sản xuất ra khoảng 670 mặt hàng khác nhaucủa các ngành công nghiệp lương thực - thực phẩm, công nghiệp dược và côngnghiệp nhẹ.Trên thế giới hàng năm ngô xuất nhập khẩu là khoảng 70 triệu tấn
Đó là một nguồn lợi lớn của các nước xuất khẩu (Ngô Hữu Tình và cs, 1997)
Ngô là cây lương thực quan trọng trong nền kinh tế toàn cầu Trên thếgiới, cây ngô đứng thứ ba về diện tích, thứ hai về sản lượng và đứng thứ nhất về
Trang 9năng suất Theo số liệu của CIMMYT (World Maize Facts and Trends 1994) thì giai đoạn 1990-1992 toàn thế giới trồng 129.804 ngàn ha ngô với năngsuất bình quân là 3,8 tấn/ha và cho tổng sản lượng gần 500 triệu tấn.
1993-Ở Việt Nam, ngô là cây lương thực quan trọng thứ hai sau cây lúa và làcây màu quan trọng nhất được trồng ở nhiều vùng sinh thái khác nhau, đa dạng
về mùa vụ gieo trồng và hệ thống canh tác Cây ngô không chỉ cung cấp lươngthực cho người, vật nuôi mà còn là cây trồng xóa đói giảm nghèo tại các tỉnh cóđiều kiện kinh tế khó khăn Sản xuất ngô cả nước qua các năm không ngừngtăng về diện tích, năng suất, sản lượng: năm 2001 tổng diện tích ngô là 730.000
ha, đến năm 2005 đã tăng trên 1 triệu ha; năm 2010, diện tích ngô cả nước1126,9 nghìn ha, năng suất 40,9 tạ/ha, sản lượng trên 4,6 triệu tấn Tuy vậy, chođến nay sản xuất ngô ở nước ta phát triển chưa tương xứng với tiềm năng, chưađáp ứng được nhu cầu tiêu dùng trong nước, hàng năm nước ta vẫn phải nhậpkhẩu từ trên dới 1 triệu tấn ngô hạt (Cục Trồng trọt, 2011)
Ngô được đưa vào Việt Nam cách đây khoảng 300 năm Mặc dù là câylương thực thứ hai sau lúa, song do truyền thống lúa nước, cây ngô không đượcchú trọng nên chưa phát huy được tiềm năng của nó ở Việt Nam Những nămgần đây nhờ có những chính sách khuyến khích và nhiều tiến bộ kỹ thuật, câyngô đã có những bước tiến về diện tích, năng suất và sản lượng (Ngô Hữu Tình
và cs, 1997)
Trong những năm gần đây, để triển khai mạnh mẽ đề án tái cơ cấu ngànhlúa gạo, nâng cao hiệu quả và phát triển bền vững, Bộ NN&PTNT đang tiếnhành cắt giảm diện tích trồng lúa để chuyển sang trồng một số cây hằng nămkhác, đặc biệt là cây ngô Ngoài việc thay đổi cơ cấu cây trồng, Bộ NN&PTNTcòn áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, thay giống cũ, đưagiống Ngô lai mới có tiềm năng năng xuất cao, chịu thâm canh tốt
Tuy nhiên, khả năng chống chịu với điều kiện ngoại cảnh và sâu bệnh cácgiống ngô lai kém hơn so với giống cũ của địa phương đã trải qua quá trình chọn
Trang 10lọc tự nhiên Trong khi đó, nước ta có khí hậu nhiệt đới gió mùa, đây là điềukiện thuận lợi của một số loài sâu bệnh gây hại nặng cho cây Ngô nói riêng vàcho ngành nông nghiệp nước ta nói chung.
Một trong những loài sâu gây hại quan trọng cho cây ngô là sâu đục thân
ngô châu Á Ostrinia furnacalis Guenee (Lepidoptera: Pyralidae) Sâu đục thân
ngô có thể gây hại cho các bộ phận trên cây ngô phụ thuộc vào tuổi sâu non: Ởtuổi nhỏ, chúng cắn lá, đục vào cuống cờ và râu ngô, tuổi lớn đục trong thân vàđục trong bắp Do đặc điểm của chúng là sống kín trong thân, việc phòng trừloài sâu này thường gặp khó khăn hơn các loài sâu hại khác Đã có rất nhiềunghiên cứu trong và ngoài nước về thành phần, sinh học, … của sâu đục thânngô Tuy nhiên, những nghiên cứu về tính kháng của loài sâu này với một sốhoạt chất hóa học vẫn chưa được chú ý nhiều Cho nên, xuất phát từ yêu cầuthực tiễn, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài:
“Thành phần sâu hại ngô, diễn biến mật độ sâu đục thân ngô Châu Á
(Ostrinia furnacalis Guenee) và mức độ mẫn cảm đối với một số hoạt chất
1.2.2 Yêu cầu
Điều tra xác định thành phần sâu hại ngô vụ Xuân Hè tại Đặng Xá Gia Lâm và Giang Biên - Long Biên - Hà Nội
Trang 11Điều tra diễn biến mật độ của sâu đục thân ngô Ostrinia furnacalis
Guenee và tỷ lệ hại trên ngô vụ Xuân - Hè tại Đặng Xá - Gia Lâm và GiangBiên - Long Biên - Hà Nội
- Mô tả hình thái, đo đếm kích thước các pha phát triển của sâu đục thân
ngô Ostrinia furnacalis Guenee.
- Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của sâu đục thân ngô Ostrinia furnacalis Guenee.
- Đánh giá mức độ mẫn cảm đối với một số hoạt chất BVTV của quần thể
sâu đục thân ngô châu Á Ostrinia fularcalis Guenee ở Hà Nội.
Trang 12PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
2.1.1 Tình hình sản xuất ngô trên thế giới
Ngô có nguồn gốc từ Mexico, trải qua 7000 năm tiến hóa và phát triển,thông qua quá trình chọn lọc tự nhiên và nhân tạo, cây ngô đã có sự đa dạng ditruyền rất rộng và khả năng thích nghi của nó có lẽ không có cây trồng nào sánhkịp Vì vậy, ngô được xem là một loại ngũ cốc quan trọng trên thế giới, đứngthứ ba sau lúa mì và lúa gạo (Ngô Hữu Tình và cs,1997)
Sản lượng ngô trên thế giới năm 2003 đạt 637,444 triệu tấn, tăng so vớinăm 2002 (603,189 triệu tấn) Trong đó sản lượng ngô của Mỹ đạt 256,9 triệutấn (chiếm 42,1% sản lượng toàn thế giới), Trung Quốc đạt 114,175 triệu tấn,
EU 30,7 triệu tấn, Brazin 47,89 triệu tấn, Mexico 19,625 triệu tấn, Achentina15,040 triệu tấn, Ấn Độ 14,8 triệu tấn (Trích dẫn theo Trần Văn Minh, 2004)
Bảng 2.1: S n l ản lượng ngô thế giới từ 1992 - 2000 ượng ngô thế giới từ 1992 - 2000 ng ngô th gi i t 1992 - 2000 ế giới từ 1992 - 2000 ới từ 1992 - 2000 ừ 1992 - 2000
Trang 13Loan 4,8 triệu tấn, EU 4,5 triệu tấn Xuất khẩu ngô trên thế giới năm 2003 đạt78,22 triệu tấn so với 78,02 triệu tấn năm 2002 Xuất khẩu ngô của Mỹ năm
2003 đạt 51 triệu tấn, Trung Quốc 8 triệu tấn, Brazin 5,5 triệu tấn, Achentina 9triệu tấn (Trích dẫn theo Trần Văn Minh, 2004)
Sản lượng ngô trên thế giới tăng nhanh trong những năm qua một phần là
do tăng diện tích (chủ yếu ở các nước đang phát triển), phần lớn là do tăng năngsuất Năm 2003 năng suất ngô bình quân thế giới 3,41 Các nước có năng suấtngô cao năm 2003 là Jocdani trồng 460 ha đạt năng suất bình quân 23,26 tấn/ha;Kowet trồng 40 ha đạt năng suất bình quân 20 tấn/ha; Chi Lê 12,27 tấn/ha;Ixraen 12 tấn/ha; Niuzilan 10,53 tấn/ha; Bỉ 10,52 tấn/ha; Tây Ban Nha 9,11 tấn/ha; Mỹ 8,92 tấn/ha; Hi Lạp 8,83 tấn/ha; Iran 8,57 tấn/ha; Áo 8,38 tấn/ha(FAOSTAT, 2003)
Sản lượng sản xuất ngô ở trên thế giới trung bình hằng năm từ 696,2 đến723,3 triệu tấn (năm 2005 - 2007) Trong đó nước Mỹ sản xuất 40,62% tổng sảnlượng ngô và 59,38% do các nước khác sản xuất Nhu cầu tiêu thụ nội địa ngôtrên thế giới rất lớn, trung bình hằng năm từ 702,5 đến 768,8 triệu tấn Trong đónước Mỹ tiêu thụ 33,52% tổng sản lượng ngô tiêu thụ và các nước khác chiếm66,48% Sản lượng ngô xuất khẩu trên thế giới trung bình hằng năm từ 82,6 đến86,7 triệu tấn Trong đó, Mỹ xuất khẩu 64,41% tổng sản lượng và các nước khácchiếm 35,59% Sản lượng ngô trên thế giới năm 2007 tăng gấp đôi so với năm
30 năm trước đây (sản lượng khoảng 349 triệu tấn vào năm 1977)(Visimex.com, 2012)
2.1.2 Những nghiên cứu về thành phần sâu hại trên cây ngô
Ngô là cây lương thực phổ biến được trồng ở khắp nơi trên thế giới, đemlại năng suất, chất lượng cao Tuy nhiên, từ lúc gieo hạt cho đến khi thu hoạch,cây ngô bị nhiều loài sâu hại tấn công Vì vậy những nghiên cứu về thành phầnsâu hại ngô lần lượt ra đời
Trang 14Theo Waterhouse (1997), sâu hại trên ngô ở phía Nam và phía Tây TháiBình Dương có 7 loài Trong đó, một số loài gây hại chủ yếu là: sâu keo
(Spodoptera mauritia Boisduval ), rệp ngô (Rhopalosiphum maidis Ficht), sâu cắn lá ngô (Mythimna separate Howarth), sâu đục thân ngô châu Á (Ostrinia furnacalis Guenee) Trong đó sâu đục thân ngô Châu Á (Ostrinia furnacalis
Guenee) là loài sâu phá hại nặng nhất
Theo Li et al (1997), thành phần sâu hại ngô ở Nam Trung Quốc khá
phong phú có tới 156 loài côn trùng và nhện hại ngô đã được ghi nhận Trong
đó, bộ Cánh thẳng (Orthoptera) có số loài nhiều nhất là 37 loài Ở đây xuất hiện
12 loài sâu hại ngô chủ yếu
Morris và Waterhouse (2001) đã phát hiện trên ngô ở Myanmar có 17 loài
sâu hại Trong đó sâu xanh đục bắp (Helicoverpa armigera Hubner ) và sâu khoang (Spodoptera litura Fabricius) là 2 loài sâu hại chủ yếu.
Theo Wang Ren Lyli Ying và Waterhouse (1995) ở các tỉnh phía NamTrung Quốc xuất hiện 12 loài sâu hại ngô Đó là sâu đục thân, sâu xám, rệp ngô,
bọ xít đen, bọ xít gai, sâu khoang, sâu ba ba, bọ xít dài, sâu cắn lá nõn, bọ xítxanh, châu chấu và sâu róm
2.1.3 Những nghiên cứu về sâu đục thân ngô trên thế giới
Trên thế giới, sâu đục thân ngô có hai loại đó là: Sâu đục thân châu Âu
(Ostrinia nubilalis Hubner) và sâu đục thân châu Á (Ostrinia furnacalis
Guenee) Do điều kiện khí hậu, thời tiết khác nhau nên đặc điểm sinh học sinhthái của chúng có nhiều điểm khác nhau
Những nghiên cứu về sâu đục thân ngô châu Âu (Ostrinia nubilalis
Hubner):
Theo Jonhn L Capinera (2000), sâu đục thân ngô lần đầu tiên tìm thấy ởBắc Mỹ gần Boston, Massachusetts vào năm 1917 Đến nay sâu đục thân ngô đãtrải rộng đến tận phía tây vùng núi Rocky trong cả Canada và Mỹ và đến tận
Trang 15phía nam vịnh Gulf Coast Sâu đục thân ngô được bắt nguồn từ châu Âu và lanrộng ra các vùng khác, ở châu Phi cũng thấy sự xuất hiện của chúng Sâu đụcthân ngô là sâu hại phổ biến ở Bắc Mỹ và nhiều vùng châu Âu
Phạm vi ký chủ của sâu đục thân ngô rất rộng, nó tấn công nhiều cây của
họ hòa thảo, những cây mà có thân đủ lớn để cho sâu đục thân chui vào Khikhông có ngô trên ruộng, sâu đục thân ngô có thể phá hoại cây yến mạch, câykê (Jonhn L Capinera, 2000)
Jonhn L Capinera (2000) đã nhận xét thành phần thiên địch của sâu đụcthân ngô bao gồm cả các loài ký sinh và các loài bắt mồi Những loài bắt mồi và
ký sinh ở pha trứng và sâu non tuổi nhỏ có hiệu quả cao hơn cả Nhóm thiên
địch bắt mồi phổ biến là Orius insidious (Say) (Hemiptera: Anthocoridae), Chrysoperla spp (Neuroptera: Chrysopidae), các loại bọ rùa (Coleoptera:
Coccinellidae) Nhóm thiên địch này tiêu diệt được khoảng 10 đến 20% trứng vàsâu non của sâu đục thân ngô Đã tìm thấy 24 loài ký sinh trên sâu đục thân ngô
Có 6 loài đã được nghiên cứu thành công Trong 6 loài này có loài ruồi ký sinh
sâu đục thân ngô Lydella thompsoni Herting (Diptera: Tachinidae) là quan trọng
hơn cả Nó tiêu diệt được trên 30% sâu đục thân ngô ở nhiều vùng Nhưng sự kýsinh của loài này không ổn định chúng có thể biến mất ở nhiều vùng Một số
loài ký sinh khác là Eriborus terebrans Gravenhorst (Hymenoptera: Ichneumonidae), Simpiesis viridula (Hymenoptera: Eulophidae) và Macrocentris grandii Goidanich (Hymenoptera: Braconidae).
Theo Zhenying et al (2013), cho biết kể từ đầu những năm 1950, một nghiên cứu toàn diện về việc sử dụng các loài ong ký sinh Trichogramma ký
sinh trứng đã được tiến hành để kiểm soát sâu đục thân ngô Nghiên cứu và ứng
dụng của Trichogramma đã mở rộng ở Trung Quốc và nó đã được sử dụng rộng
rãi trong việc kiểm soát sinh học thành công của nhiều loài côn trùng, đặc biệt làsâu đục thân ngô châu Á tại Bắc Trung Quốc
Trang 16Những nghiên cứu về sâu đục thân ngô châu Á (Ostrinia funacalis
Guenee):
Theo V O Khomencova, sự phát dục của trứng chỉ xảy ra ở 9 - 35oC,nhưng nhiệt độ thích hợp để trứng nở đều và ít ung nhất là 17,5 - 30oC Phảnứng của sâu non với nhiệt độ thay đổi tùy theo tuổi Sâu tuổi 1 - 4 phát dục bìnhthường trong phạm vi tương đối rộng từ 10 - 32oC Đối với sâu tuổi 4 - 5 giớihạn trên của nhiệt độ phát dục là 28 - 30oC, ở nhiệt độ cao hơn tỷ lệ chết của sâutăng lên Nhiệt độ thích hợp cho sự phát dục của sâu là 23 - 28oC Đối vớinhộng, nhiệt độ cần thiết để phát dục bình thường là 15 - 32oC (Trích dẫn theo
Bộ môn côn trùng, 2004)
Theo tài liệu của Kojanxnhicov (1937), khởi điểm phát dục của các giaiđoạn sâu như sau: trứng - 9,5C; sâu non - 9,2C; tiền nhộng - 20,5C; nhộng -10C và trưởng thành - 7C Khi tính tổng tích ôn hữu hiệu chung cho cả chu kỳphát dục, một số tác giả thường lấy nhiệt độ khởi điểm chung là 10C Để hoànthành một chu kỳ phát dục, sâu đục thân ngô yêu cầu nhiệt độ hàng ngày trongthời gian phát triển phải lớn hơn nhiệt độ khởi điểm 10C (Trích dẫn theo Bộmôn côn trùng, 2004)
Sâu đục thân ngô ưa ẩm, đòi hỏi ẩm độ không khí rất cao Khi ẩm độkhông khí giảm xuống 55 - 60%, tỷ lệ sâu chết 100% Khi ẩm độ từ 75 - 80% tỷ
lệ hóa nhộng < 5% Khi ẩm độ đạt tới 100% tỷ lệ hóa nhộng tới 60% và sâu hóanhộng cao nhất khi được tiếp xúc với nước ẩm (L.A Ladujenxkaia 1935) Theo
K V Krinhixke (1932), độ ẩm còn ảnh hưởng đến thời gian sống và khả năngsống của trưởng thành Ngài nuổi trong điều kiện không đủ ẩm bị chết rất nhanhkhông kịp đẻ trứng Theo dõi trong tủ định ôn, ở nhiệt độ 22 - 35oC, ẩm độ 40%,
từ ngày thứ 2 - 4 ngài đã bị chết, nếu ngài đã đẻ trứng thì số lượng trứng khôngđáng kể Theo I I Lukasa (1959), độ ẩm không khí 80% số lượng trứng đẻ củangài đã giảm đi còn 42% (Trích dẫn theo Bộ môn côn trùng, 2004)
Trang 17M Belen và G.P Evangeline (2006) cho biết hiệu quả sử dụng bọ đuôi
kìm Euborellia annulipes Lucas trong đấu tranh sinh học phòng trừ sâu đục thân ngô châu Á Ostrinia funicalis Guenee, một loài sâu hại phá hoại ngô nặng nhất
ở Philippines, đã được đánh giá trong các thí nghiệm nhỏ và quy mô lớn
2.1.4 Những nghiên cứu về tính kháng thuốc của bộ cánh vảy (Lepidoptera) và sâu đục thân ngô trên thế giới
Tính kháng thuốc là một sự thay đổi tính mẫn cảm đối với các hoạt chấtcủa thuốc có khả năng di truyền của một quần thể sâu hại, được thể hiện trong
sự vô hiệu của chất đó với côn trùng, mà đúng ra sẽ đạt được mức phòng trừmong đợi khi sử dụng theo khuyến cáo trên nhãn cho loài sâu hại đó (IRAC,2014)
Khi nghiên cứu tính kháng thuốc của sâu khoang Spodoptera litura
(Lepidoptera: Noctuidae) tại 5 huyện ở Hồ Nam - Trung Quốc từ năm 2010 đến
2012 với một số hoạt chất hóa học, Hong Tong et al (2013) đã nhận xét rằng tỷ
lệ kháng của sâu khoang với nhóm organophosphates và nhóm pyrethroids xấp
xỉ nhau Nhóm emamectin, indoxacarb, và chlorfenapyr có tỷ lệ kháng thấp hơn,
và cao nhất với thiodicarb hoặc methomyl Một số hoạt chất không có ý nghĩatrong việc phòng trừ sâu khoang như thiodicarb, methomyl, và deltamethrin Từ
đó cho thấy tầm quan quan trong của việc nghiên cứu tính kháng của sâu khoang
để tìm được cách giải quyết phù hợp trong công tác phòng chống dịch hại
Tiancai Lai và Jianya Su (2011) đã nghiên cứu tính kháng thuốc của sâu
xanh da láng Spodoptera exigua (Hubner) (Lepidoptera: Noctuidae) đối với hoạt
chất chlorantraniliprole qua 22 thế hệ và nhận xét rằng: cho sâu xanh da lángtiếp xúc với hoạt chất chlorantraniliprole liên tục qua nhiều thế hệ sẽ hình thànhnguy cơ kháng thuốc đối với hoạt chất này Chỉ số LC50 tăng lên 12 lần qua 22
thế hệ cũng cho thấy tính kháng của S exigua tăng lên rất nhiều.
Trang 18Han WS et al (2012) khi nghiên cứu ảnh hưởng của hoạt chất chlorantraniliprole đến sự phát triển của sâu tơ Plutella xylostella (Lepidoptera:
Plutellidae) bằng phương pháp nhúng lá đã cho thấy: chlorantraniliprole có mức
độ độc cao đối với ấu trùng của P xylostella, và các giá trị LC50 sau 48h là 0,23
và 0,25 mg/L-1 Ảnh hưởng của chlorantraniliprole đối với những cá thể sống sótsau thử thuốc là giảm khả năng hóa nhộng, giảm trọng lượng nhộng và giảm tỷ
lệ vũ hóa Ngoài ra chlorantraniliprole còn làm giảm khả năng sinh sản và tỷ lệ
nở trứng, tỷ lệ sống của các sâu non Từ đó, chúng ta có thể kết luận rằng
chlorantraniliprole có hiệu quả chống lại P xylostella Nồng độ gây chết của chlorantraniliprole có thể làm giảm tốc độ tăng trưởng quần thể của P.xylostella
bằng cách giảm sự tồn tại và sinh sản của chúng và bằng cách trì hoãn sự pháttriển của nó
Biddinger D et al (2006) đã nghiên cứu ảnh hưởng của tebufenozide đến
sự tồn tại, phát triển và sinh sản của Platynota idaeusalis (Walker) (Lepidoptera:
Tortricidae) bằng phương pháp trộn hoạt chất vào thức ăn, thực hiện đối với sâunon tuổi 1 và tuổi 3 cho đến khi hóa nhộng Tỷ lệ tử vong của ấu trùng là 27,4
và 44,7% ở 0,1 và 0,2 ppm đối với sâu non tuổi 1, là 21,9 và 57,8% ở 0,2 và 0,4ppm đối với sâu non tuổi 3 Sâu non qua thử thuốc có tỷ lệ chết cao, trọng lượngnhộng thấp hơn và trưởng thành bị biến dạng nhiều hơn đối với sâu không thửthuốc Những kết quả thu được đã cho thấy tebufenozide có tác động đáng kể
đến biến động số lượng quẩn thể của Platynota idaeusalis
Bisong Yue et al (2003) đã nghiên cứu hiệu lực của 2 hoạt chất
thiamethoxam (Cruiser) và imidacloprid (Gaucho) trong việc phòng trừ sâu đục
thân ngô Ostrinia nubilalis (Hubner) và chỉ ra rằng: Ở nhiệt độ 22 - 26oC, tất cảsâu non tuổi 5 bị chết trong 2 hoặc 4 ngày thử thuốc với nồng độ 250 và 500ppm thiamethoxam; trong khi đó tỷ lệ chết ở nồng độ 6,3 - 937,5 ppm trong 2đến 4 ngày không quá 48% Ở nhiệt độ 29oC, tất cả sâu tuổi 5 chưa đến thời kỳtiền nhộng đều bị chết sau 3, 4 và 6 ngày thử thuốc ở nồng độ 400, 300, và 200
Trang 19ppm thiamethoxam Trong khi đó, tỷ lệ sống sót tăng ở nồng độ thấp hơn là 100,
50, 25 và 12,5 ppm Ở 29oC, chỉ số LC50 giảm từ 85,9 xuống 7,2 ppm tương ứngvới thời gian thử thuốc từ 2 đến 6 ngày
Song Yue-Qin et al (2013) khi nghiên cứu ảnh hưởng của hoạt chất
chlorantraniliprole đến tốc độ phát triển quần thể của sâu đục thân ngô châu Á
Ostrinia furnacalis (Guenee) bằng phương pháp trộn hoạt chất vào thức ăn nhân
tạo đã thu được kết quả như sau: Ở giá trị LC10, LC40 và LC50 của hoạt chấtchlorantraniliprole trên sâu non sâu đục thân ngô châu Á tuổi 3 thu được giá trịnồng độ pha thuốc tương ứng 0,038, 0,098 và 0,123 mg a.i./L Những sâu nontuổi 3 còn sống được nuôi tiếp bằng thức ăn sạch nhưng thời sâu non và nhộngkéo dài hơn đáng kể, tuổi thọ và khả năng sinh sản của trưởng thành giảm so vớiquần thể ban đầu Tuy nhiên, cân nặng của nhộng, tỷ lệ trứng nở, tỷ lệ giới tínhkhông bị ảnh hưởng
2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
2.2.1 Tình hình sản xuất ngô trong nước
Ngô là cây lương thực quan trọng thứ 2 sau lúa ở Việt Nam Những nămgần đây nhờ có chính sách khuyến khích và nhiều tiến bộ kỹ thuật, cây ngô đã
có những bước tiến về diện tích, năng suất và sản lượng Từ năm 1985 - 1993năng suất ngô nước ta nằm trong khoảng 1,47 - 1,77 tấn/ha, năng suất này cònthấp hơn trung bình ở các nước đang phát triển (2,4 tấn/ha), nguyên nhân chính
do trồng các giống ngô năng suất thấp (Trần Văn Minh, 2004)
Trong thời gian qua nước ta có những bước chuyển biến quan trọng trongnghề trồng ngô là việc chuyển từ trồng các giống ngô địa phương, giống thụphấn tự do cải tiến sang trồng ngô lai Đồng thời, các thí nghiệm khảo nghiệmgiống ngô nhập nội cũng như chọn tạo các giống lai quy ước phát triển mạnh
mẽ Năm 1991, nước ta đã trồng thử nghiệm giống ngô lai kép B.9681 của công
ty liên doanh Biossed Việt Nam, giống này cho năng suất cao ở các tỉnh phía
Trang 20Bắc Từ 1991 - 200, diện tích ngô lai nước ta từ 500 ha (1991) chiếm 0,11%diện tích ngô cả nước lên 450.000 ha (2000) chiếm 63,0% diện tích ngô cả nước.
Do áp dụng các biện pháp kỹ thuật, đặc biệt là việc sử dụng các giống ngô laivào sản xuất nên năng suất ngô ở nước ta đã tăng lên đáng kẻ Năm 1991 khichúng ta bắt đầu sử dụng ngô lai năng suất bình quân cả nước là 15,6 tạ/ha, đếnnăm 2003 năng suất bình quân cả nước đã đạt 32,2 tạ/ha Đặc biệt nhiều tỉnh đãđạt năng suất bình quân toàn tỉnh khá cao trong năm 2003 như: Đà Nẵng 60,0 tạ/
ha, An Giang 57,8 tạ/ha, Đồng Tháp 49,2 tạ/ha, Long An 45,0 tạ/ha, Hải Phòng43,3 tạ/ha, Thái Bình 42,6 tạ/ha, Tây Ninh 42,5 tạ/ha, Quảng Ngãi 42,1 tạ/ha, HàTây 41,8 tạ/ha, Lạng Sơn 38,4 tạ/ha, Quảng Bình 37,1 tạ/ha (Trần Văn Minh,2004)
Tình hình đưa ngô lai vào nước ta trong những năm đầu rất khó khăn, donhiều địa phương chưa có dịp tiếp xúc và hiểu hết về giá trị kinh tế ngô lai.Trong những năm gần đây nhà nước đã có những chính sách thích hợp đưa ngôlai vào sản xuất Vì vậy diện tích ngô lai nước ta tăng rất nhanh từ 100.000 ha(20%) (1994) lên 450.000 ha (63%) (2000) (Trần Văn Minh, 2004)
Theo Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, sản lượng ngô của ViệtNam năm 2014 đạt 5,19 triệu tấn, thấp hơn 105 nghìn tấn so với dự báo do sựthay đổi thời tiết tại miền Bắc Việt Nam đã dẫn đến việc vùng thu hoạch ngô bịthu hẹp Theo ước tính, trong năm 2015, vùng thu hoạch ngô sẽ tăng lên từ 1,2triệu héc ta lên 1,25 triệu héc ta do chính sách mới của Chính phủ trong việctăng diện tích trồng ngô từ việc chuyển đổi diện tích trồng lúa kém hiệu quả.Năng suất ngô trung bình dự kiến tăng nhẹ do việc sử dụng các giống ngô lại tạomới Trong năm 2015, sản lượng ngô tăng khoảng 300 nghìn tấn so với dự báotrước đó của USDA (Cục xúc tiến thương mại, 2015)
Theo dự báo của Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ, diện tích thu hoạch ngô năm
2016 của Việt Nam tăng lên 1,3 triệu héc ta do chính sách của Chính phủ và việccho phép phát triển các giống ngô lai tạo mới Năm 2016, sản lượng ngô của
Trang 21Việt Nam dự báo sẽ tăng lên hơn 350 nghìn tấn đạt 5,98 triệu tấn Đây có thể sẽ
là sự thay đổi mang tính chất bước ngoặt của cây ngô Việt Nam nhờ vào nhữngchính sách hoàn toàn mới của Chính phủ (Cục xúc tiến thương mại, 2015)
2.2.2 Những nghiên cứu về thành phần sâu hại và thiên địch trên cây ngô ở Việt Nam
Ngay từ những năm 60 của thế kỷ 20 công tác nghiên cứu xác định thànhphần sâu hại ngô ở Việt Nam đã được tiến hành một cách quy mô tại cả phíaNam và phía Bắc Kết quả điều tra cơ bản côn trùng ở phía Bắc (1967 - 1968) đãxác định có 63 loài côn trùng phá hoại trên cây ngô Ở phía Nam trong các năm
1977 - 1979 qua điều tra đánh giá cũng xác định có 60 loài côn trùng phá hoạitrên cây ngô Trong đó cũng đã xác định thành phần sâu hại chủ yếu và thứ yếu
Các loài sâu hại chủ yếu nhứ: Sâu xám Agrotis ypsilon, sâu cắn lá ngô (Leucania separata & Leucania loreyi), sâu đục thân ngô (Ostrinia furnacalis), sâu đục bắp (Helicoverpa armigera) và rệp muội ngô (Rhopalosiphum maydis)
(Nguyễn Công Thuật, 1995)
Sâu xám: Phá hại ngô ở giai đoạn cây con Sâu phát sinh và gây hại vàocác tháng nhiệt độ thấp (15 - 20oC) trong vụ xuân ở các tỉnh phía Bắc Nhiệt độcao trong các tháng mùa hè và mùa thu cũng như điều kiện khí hậu ở các tỉnhphía Nam không thích hợp cho sâu xám phát sinh và gây hại
Sâu cắn lá: Phá hại phổ biến ở các vùng trồng ngô trong cả nước nhưnggây hại nặng chủ yếu ở các tỉnh Đồng bằng và Trung du Bắc Bộ Sâu phá hạichủ yếu vào vụ ngô Đông, từ tháng 12 đến tháng 3, nặng nhất vào tháng 1 vàtháng 2 Ngoài gây hại trên ngô sâu còn gây hại cả trên lúa
Sâu đục bắp: Phá hại phổ biến ở tất cả các vùng trồng ngô trong cả nước.Sâu hại chủ yếu trong vụ ngô Đông, xuân hè và hè thu Vụ ngô đông ở các tỉnhphía Bắc ít bị sâu phá hại
Rệp muội ngô: Phá hại phổ biến ở các vùng trồng ngô trên cả nước Ngoàichích hút nhựa cây rệp còn có khả năng truyền một số bệnh virus nguy hiểm
Trang 22Theo Phạm Văn Lầm (2002) đã ghi nhận được 121 loài sâu hại ngô, thuộc
7 bộ côn trùng và 1 bộ nhện nhỏ Số lượng các loài sâu hại phổ biến dao động
từ 9 - 26 loài tùy thuộc vào địa điểm và nơi điều tra Trong đó sâu đục thân ngô,sâu cắn lá ngô, rệp ngô, sâu xanh đục bắp, sâu gai ngô đều được các tác giả cho
là quan trọng hơn cả Cũng theo Phạm Văn Lầm (2013), ở Việt Nam đến năm
2013 đã ghi nhận được 153 loài gây hại ngô Trong đó bộ cánh thẳng và cánhnửa cứng cùng có 33 loài gây hại, bộ cánh cứng có 31 loài, bộ cánh vảy có 28loài, bộ cánh đều có 21 loài, bộ cánh tơ và bộ cánh bằng có 3 loài, nhện nhỏ có 1loài
Theo Nguyễn Văn Viên và Nguyễn Quốc Kiến (2008), thành phần sâu hạitrên ngô ngoài đồng ruộng tại xã Chiềng Pằn, Yên Châu, Sơn La khá phong phú
về bộ, họ, loài, với 14 loài được phát hiện
Về thiên địch, những điều tra thành phần thiên địch trên các cây trồng ởnước ta được tiến hành từ đầu thập niên 1970:
Theo Phạm Văn Lầm (1996), khi điều tra thành phần thiên địch của sâuhại ngô đã thu thập được 72 loài thiên địch của sâu hại ngô Chúng thuộc 36 họcủa côn trùng, nhện, nấm và virus Các loài thiên địch thu thập được nhiều nhất
ở bộ cánh màng (22 loài hay 30,5 % tổng số loài đã thu thập) và bộ cánh cứng(19 loài hay 26,3%) Bộ nhện lớn đã phát hiện được 13 loài (chiếm 18,1%) Bộcánh nửa có 9 loài (chiếm 12,5%), các bộ khác mỗi bộ mới phát hiện được 1-4loài Trong số các loài thiên địch của sâu hại ngô đã thu thập được mới xác địnhđược tên của 63 loài (đạt 87,5 % số loài đã thu thập) Những loài thiên địch đãxác định được tên gồm : 40 loài bắt mồi ăn thịt (chiếm 57,1%), 15 loài kí sinhtrên các sâu hại ngô (chiếm 21,4%), 4 loài kí sinh bậc 2 (chiếm 5,7%), 2 loài kýsinh trên côn trùng ăn rệp (chiếm 2,9%)
Theo kết quả điều tra của Khúc Duy Hà (2012) ở Gia Lâm – Hà Nội vàHưng Yên thu được thành phần thiên địch thuộc 6 bộ côn trùng và 1 bộ nhện lớnbăt mồi Trong số 20 loài thiên địch thu thập được, bộ cánh cứng (Coleoptera)
Trang 23có 7 loài chiếm 35%, bộ bọ ngựa (Manteoptera) có 1 loài chiếm 5%, bộ cánh da(Dermatera) có 3 loài chiếm 15%, bộ cánh nửa (Hemiptera) có 1 loài chiếm 5%,
bộ chuồn chuồn (Odonata) có 2 loài chiếm 10% và 1 bộ nhện lớn (Araneae) có 3loài chiếm 15% Trong đó số loài côn trung thuộc bộ cánh cứng chiếm nhiềunhất, tiếp theo là bộ cánh da và bộ nhện lớn băt mồi có 3 loài và ít nhất là bộ bọngựa và bộ cánh nửa chỉ có 1 loài
2.2.3 Những nghiên cứu về sâu đục thân ngô châu Á (Ostrinia furnacalis
Guene) ở Việt Nam
2.2.3.1 Vị trí phân loại và phân bố
a, Vị trí phân loại
Sâu đục thân ngô châu Á :
- Tên khoa học: Ostrinia furnacalis Guenee.
- Họ Ngài sáng (Pyralidae)
- Bộ Cánh vảy (Lepidoptera)
- Bộ phụ ngài (Heterocera)
b, Phân bố
Trong nước sâu đục thân ngô châu Á Ostrinia furnacalis Guenee phân bố
rộng khắp ở các vùng trồng ngô, từ vùng núi phía Bắc đồng bằng, ven biển miềnTrung, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long (Bộ môn côntrùng, 2004)
2.2.3.2 Đặc điểm sinh học sinh thái sâu đục thân ngô châu Á (Ostrinia
furnacalis Guene)
a, Tập tính sống
Trứng thường nở vào sáng sớm Sâu non tuổi 1 mới nở từ trứng thường
bò quanh vị trí ổ trứng một thời gian ngắn, sau đó phân tán bằng cách nhả tơnhờ gió chuyển sang cây hoặc lá ngô khác Sâu non tuổi nhỏ chui xuống phía
Trang 24dưới nõn lá đục vào lá nõn lấy thức ăn để lại vết đục là một đường đục chạyngang phiến lá Sâu non thường ăn xác lột của nó , chừa lại mảnh cứng của đầu.Sau khi ăn xong xác lột chúng bắt đầu ăn các mô non của cây ngô gần vị tríchúng lột xác, sau đó di chuyển đến những nơi khác có thức ăn phù hợp Sâunon tuổi 2 bắt đầu đục vào thân cây ngô ở gần đốt thân hoặc trên cờ ngô.Sâu nontuổi cuối thường đục một lỗ ở gần nơi gây hại hoặc dọn sạch đường đục cũ đểhóa nhộng (Lại Tiến Dũng và cs, 2015).
Ngài hoạt động từ chập tối đến nửa đêm Ban ngày ẩn nập trong bẹ láhoặc trong nõn ngô Ban đêm có tính hướng áng sáng đèn khá mạnh và phần nàothích mùi vị chua ngọt, ngài có khả năng bay xa (có thể bay xa hơn 3 km) Saukhi vũ hóa 1 ngày thì giao phối và sau đó 1 – 2 ngày thì đẻ trứng.Thời gian đẻtrứng kéo dài 2 – 7 ngày hoặc lâu hơn Mỗi ngài cái đẻ trung bình 300 – 500trứng, có khi lên đến hơn 1000 trứng (Bộ môn côn trùng, 2004)
b, Quy luật phát sinh gây hại
Sâu đục thân ngô châu Á Ostrinia furnacalis là loài sâu hại nguy hiểm
nhất trong các loài sâu hại ngô Nó phát sinh gây hại quanh năm, nhưng chủ yếugây hại ngô từ giai đoạn ngô 7 – 8 lá đến khi thu hoạch Ngô đông ở các tỉnhphía Bắc ít bị sâu hại hơn vụ xuân hè và hè thu Trong các loài sâu hại chủ yếu
trên ngô phải kể đến loài sâu xanh đục bắp (Helicoverpa armigera) Sâu non của
loài sâu này đã cùng với loài sâu đục thân ngô, đục vào bắp ăn hạt, thậm chí ăn
cả lõi bắp, gây thiệt hại đáng kể đến năng suất ngô Ngoài ra, các vết thương cơgiới do sâu cắn để lại đã tạo điều kiện cho nấm bệnh xâm nhập vào hạt Kết quảnghiên cứu bước đầu cho thấy, những bắp bị sâu phá, năng suất giảm 24,8% sovới bắp lành (Nguyễn Công Thuật, 1995)
Ở các tỉnh phía Bắc sâu phá hoại chủ yếu trong vụ ngô xuân hè và vụ thuvào các tháng có nhiệt độ cao (từ tháng 5 tới tháng 9) Tỷ lệ bị hại có thể lên tới
70 - 100% Năng suất giảm tới 20 đến 30% hoặc nhiều hơn Ở ngô Đông tỷ lệcây bị hại thường tới 10 - 40%, năng suất giảm 5 - 10% Sâu đục thân là loài sâu
Trang 25hại ngô quan trọng nhất Hàng năm phá hoại từ khi ngô trỗ cờ trở đi Nhiệt dộtrong các tháng hè và mùa thu ở miền Bắc từ 23 - 28,5C là thích hợp cho sâuđục thân ngô phát triển Nhưng trong các tháng mùa đông, nhiệt độ thườngxuống thấp dưới 17,5C không thuận lợi cho trứng nở và sâu non phát dục, tỷ lệsâu chết tăng lên Ở các tỉnh phía Nam, sâu phá hại nặng quanh năm, nhưng tậptrung nhiều vào thàng 4 và tháng 5 trên ngô Đông (trà muộn) và tháng 7 - 8 trênngô hè thu Tỷ lệ cây bị hại thường lên tới 60 - 100% tùy theo từng năm, từngvùng (Bộ môn côn trùng, 2004).
Các nghiên cứu nhiều năm của các tác giả đã chỉ ra rằng: Các giống ngôkhác nhau bị hại ở các mức độ nặng nhẹ không giống nhau Một số giống ngô íthấp dẫn đối với ngài đến đẻ trứng nên ít bị hại hơn Một số giống ngô thể hiệntính chống chịu sâu là khi sâu mới xâm nhập vào thân, tỷ lệ sâu bị chết rất cao.Khả năng chịu đựng của các giống ngô đối với sâu đục thân cũng không giốngnhau Thường các cây to và dài ngày như Xiêm, Gié Bắc Ninh, ngô lai số 5 cósức chịu đựng với sâu khỏe hơn Trên mỗi cây có thể lên tới 4 - 5 sâu hoặc 7 - 8
lỗ đục nhưng cây vẫn khỏe, không bị đổ gẫy Ngược lại các giống ngắn ngày câynhỏ như đỏ Đại Phong, đỏ Nghệ An, trắng Đồng Đăng, nếp trắng thì khả năngchịu đựng của sâu rất kém, trên mỗi cây có 2 - 3 sâu hoặc có 4 - 5 lỗ đục là đã bịgãy đổ, cây héo vàng, bắp và hạt đều xấu năng suất giảm nhiều (Bộ môn côntrùng, 2004)
c, Thời gian phát dục của các pha và vòng đời
Bên cạnh yếu tố con người, thiên địch thì nhiệt độ và ẩm độ là 2 yếu tốkhí hậu quan trọng nhất ảnh hưởng đến thời gian sinh trưởng và phát dục củasâu đục thân ngô
Lưu Thị Hồng Hạnh (2012) thấy rằng nuôi ở điều kiện phòng thí nghiệmtrong điều kiện nhiệt độ 24,92°C và ẩm độ 70,56% thì vòng đời là 31,49 ngày vàthời gian trung bình của pha sâu non là 17,56 ngày Ở mức nhiệt độ 29,54°C và
Trang 26ẩm độ 74,73% vòng đời của sâu đục thân ngô là 26,03 ngày và thời gian trungbình của pha sâu non là 13,24 ngày.
Lại Tiến Dũng và Lưu Thị Hồng Hạnh (2011) theo dõi thời gian phát triểncác pha và vòng đời của sâu đục thân ngô ở hai nền nhiệt độ và ẩm độ khác nhaucho biết: ở nhiệt độ 24,92°C và ẩm độ 70,56% thời gian phát triển trung bìnhcủa pha trứng là 3,57 ngày; sâu non là 17,56 ngày; nhộng là 7,50 ngày; thời giantrước đẻ trứng là 2,86 ngày; vòng đời trung bình 31,49 ngày Ở nhiệt độ 29,54°C
và ẩm độ 74,73% thấy thời gian phát triển của các pha rút ngắn Cụ thể, phatrứng 3,33 ngày, sâu non 13,96 ngày, nhộng 7,26 ngày, trước đẻ trứng 2,20ngày; vòng đời 26,03 ngày
Bên cạnh yếu tố nhiệt độ và ẩm độ thì yếu tố thức ăn cũng ảnh hưởng tớithời gian phát dục của sâu non, tỷ lệ sống của sâu non
Sâu đục thân ngô có thể sống trên nhiều bộ phận khác nhau trên cây ngô;tuy nhiên ảnh hưởng của từng bộ phận cây đến sự sinh trưởng, phát dục của sâukhông giống nhau Kết quả nghiên cứu của nhiều tác giả cho thấy: sâu ăn lá vàthân non thì phát dục chậm hơn và khối lượng nhộng thấp hơn so với sâu nuôibằng hoa đực và bắp non Sâu mới nở, thả lên cây ngô ở giai đoạn vừa nhú cờthì tỷ lệ sống sau 50 ngày là 58,3% con thả trên cây ngô ở giai đoạn 7 – 8 lá thì
tỷ lệ sống 8,3% Cây ngô càng non thì càng không thuận lợi cho sự phát triểncủa sâu.Giai đoạn ngô thích hợp nhất đối với sâu non tuổi nhỏ là lúc cây bắt đầutrỗ cờ.Tỷ lệ sống cao duy trì trong suốt thời gian phát triển bắp, nhưng sau khiphun râu 2 tuần thì bắt đầu giảm Sâu non sống trong các lóng ngô ở phía trênthì phát dục chậm hơn những sâu sống trong các lóng ngô ở phía dưới Nhữngsâu nuôi bằng lá ngô có tỷ lệ sống cao nhưng trọng lượng thấp hơn sâu nuôibằng các lóng ở thân ngô (Bộ môn côn trùng, 2004)
Trang 272.2.3.3 Biện pháp phòng trừ sâu đục thân ngô châu Á (Ostrinia furnacalis
Guene)
Sâu đục thân ngô Ostrinia furnacalis là loài sâu hại phổ biến trên đồng
ruộng Vì vậy, những nghiên cứu về biện pháp phòng trừ được đặc biệt quantâm Theo Bộ môn côn trùng (2004), chúng ta có thể tham khảo những biện sau:
Gieo trồng ngô tập trung thành những vùng sản xuất lớn, đúng thời vụthích hợp Không nên trồng xen ngô với bông, kê, cao lương Ở mỗi vùng nêncăn cứ vào điều kiện đất đai, khí hậu mà xác định một hoặc hai vụ ngô chính,không nên gieo trồng ngô liên tiếp, rải rác quanh năm, tạo điều kiện cho sâu tồntại phá hại liên tục từ vụ này sang vụ khác
Nói chung ở miền Bắc nên lấy vụ ngô đông - xuân và vụ ngô thu làm vụsản xuất chính Thời vụ gieo trồng ngô đông - xuân có thể chia làm 2 đợt
Ngô sớm: gieo từ trung tuần tháng 10 đến đầu tháng 11
Ngô đại trà: Gieo từ 20/11 - 20/12 Ngô gieo muộn vào tháng 1 thường bịsâu đục thân phá hại nặng
Ngô thu nên gieo từ hạ tuần tháng 8 đến đầu tháng 9 Ngô gieo sớm trongtháng 7 thường bị sâu phá hại nặng
Sau khi thu hoạch ngô vụ thu, sâu đục thân còn tồn tại trong thân cây ngô
ở giai đoạn sâu non và nhộng trong một thời gian dài tới tháng 3 năm sau mới vũhóa hết Vì vậy, cần có biện pháp xử lý kịp thời thân cây ngô sau khi thu hoạch
vụ thu để tiêu diệt sâu và nhộng
Chọn và trồng những giống ngô chống chịu sâu đục thân Nên phát triểnnhững giống ngô có năng suất cao và chống chịu khỏe đối với sâu đục thân ngônhư Xiêm, gié Bắc Ninh, ngô lai số 5 Các giống mềm cây, thấp bé như nếptrắng, nếp mỡ gà, tẻ đỏ Nghệ An có khả năng chống chịu sâu rất kém, chỉ nêntrồng trên diện tích hẹp trong những thời vụ ít bị sâu hại
Trang 28Rắc 5 - 10 hạt Diazinon 10% (Hoặc Vicarp 4H, Vinetox 5H) lên 1 ngọncây ngô vào các ngày 30 - 45 - 60 sau gieo, hoặc rắc vào nách lá khi ngài xuấthiện
Bảo vệ và lợi dụng ong ký sinh, đặc biệt là loài ong mắt đỏ(Trichogramma sp.) ký sinh ở pha trứng Khi tỷ lệ trứng bị ký sinh lên cao thìkhông nên dùng thuốc làm ảnh hưởng đến ong Ở những nơi có điều kiện có thểtiến hành thu thập nuôi và nhân ong rồi thả trên đồng ruộng khi ngài đục thânngô phát sinh và đẻ trứng rộ (Bộ môn côn trùng, 2004) Theo Nguyễn CôngThuật (1995), nên trồng xen ngô với đậu tương để tăng cường sự hoạt động củalực lượng thiên địch, vừa hạn chế sâu hại, vừa đảm bảo mối cân bằng sinh họctrên đồng ruộng
2.2.4 Những nghiên cứu về tính kháng thuốc của bộ cánh vảy
(Lepidoptera) và sâu đục thân ngô châu Á (Ostrinia furnacalis Guenee) ở
Việt Nam
Ở Việt Nam vẫn chưa có nhiều nghiên cứu về tính kháng thuốc của sâuhại bộ cánh vảy, chỉ tập chung chủ yếu sâu tơ, sâu khoang và nhiều nhất lànghiên cứu tính kháng của rầy nâu và rầy lưng trắng và đánh giá hiệu lực sửdụng thuốc bảo vệ thực vật đối với một số loài sâu hại phổ biến
Đặng Thị Dung và Phan Thị Thanh Huyền (2009) đã nghiên cứu một sốsâu hại quan trọng thuộc bộ cánh vảy trên rau họ hoa thập tự vụ xuân 2009 tại
Hà Nội và hiệu quả phòng trừ của thuốc sinh học BITADIN WP và nhận xétrằng: Rau họ hoa thập tự thường bị nhiều loài sâu hại tấn công, trong đó một
số loài quan trọng thuộc bộ cánh vảy, đặc biệt là sâu tơ (Plutella xylostella L.), sâu khoang (Spodoptera litura F.) và sâu xanh bướm trắng (Pieris rapae L.).
Chúng xuất hiện từ đầu đến cuối vụ với mức độ phổ biến khá cao Đỉnh cao mật
độ thường rơi vào giai đoạn cây trải lá bàng Để phòng chống chúng, ngườinông dân đã sử dụng nhiều loại thuốc hóa học diệt trừ sâu hại Song do biện
Trang 29pháp này có nhiều nhược điểm, nên việc đưa chế phẩm sinh học thay thếthuốc hóa học là rất cần thiết, vừa diệt được sâu hại, vừa hạn chế ô nhiễm môitrường, ít ảnh hưởng đến thiên địch và sức khỏe con người Kết quả khảonghiệm chế phẩm BITADIN WP trừ sâu tơ và sâu xanh bướm trắng cho thấyhiệu lực rất cao ngay cả ở nồng độ rất thấp (> 90%) và đạt 100% ở nồng độ 0,1-0,2% (trừ sâu khoang) Hiệu lực của chế phẩm BITADIN WP trừ 2 loài sâu trêncao hơn thuốc hóa học Regent ở 5 - 7 ngày sau xử lý ở mức ý nghĩa P ≤ 0,05.
Nghiên cứu ảnh hưởng của một số thuốc trừ sâu đến mức độ kháng thuốccủa sâu hại, Lê Thị Kim Oanh (2003) đã chỉ ra rằng tốc độ gia tăng mức độkháng của quần thể sâu tơ Song Phương với Cypermethrin là tương đối nhanh từđầu vụ đến cuối vụ đông xuân qua các năm và phụ thuộc rất nhiều vào áp lựccủa quá trình sử dụng thuốc trừ sâu trên đồng ruộng Vào các thời điểm chuyển
từ vụ đông xuân của năm này tới năm khác (tháng 4 đến tháng 9 hàng năm) thời
vụ gieo trồng rau họ hoa thập tự không thích hợp, sâu hại ít nên nông dânthường sử dụng ít thuốc trừ sâu Còn vào các thời điểm chính vụ đông xuânngười dân phun thuốc trừ sâu với cường độ và liều lượng cao Chính điều này đãlàm gia tăng mức độ kháng của sâu tơ trong một vụ cũng như qua các năm Tuynhiên, kết quả cũng chỉ ra rằng chỉ số kháng Ri của sâu tơ giảm xuống khingừng sử dụng thuốc trừ sâu (đầu vụ của năm trước giảm so với cuối vụ củanăm sau) Kết quả nghiên cứu phù hợp với nghiên cứu của Toshitazu Adachi(1998): tính mẫn cảm của sâu tơ có khuynh hướng phục hồi ngay sau khi ngừng
sử dụng thuốc trừ sâu
Cũng theo Lê Thị Kim Oanh (2003), quần thể sâu khoang Vân Nội thểhiện kháng khá cao với permethrin và cypermethrin (có chỉ số kháng 16,67 và13,06 >10) những chưa có biểu hiện kháng với α - cypermethrin và cyfluthrin(có chỉ số kháng 4,48 và 3,53 <10) Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy quần thểsâu khoang Văn Đức chưa có biểu hiện kháng đối với các thuốc nhóm thuốc lân
Trang 30hữu cơ Nghiên cứu này phù hợp với Yun Cheng (1986) tốc độ phát triển mức
độ kháng của sâu đối với lân hữu cơ chậm
Lưu Thị Hồng Hạnh (2012) tiến hành thí nghiệm thử bộ thuốc mới trừ sâu
đục thân ngô (Ostrinia funacalis Guenee) trong nhà lưới; với 3 loại thuốc
Tungent 5 SC, Virtaki 40WG; Regent 5SC Kết quả cho thấy 3 loại thuốc trên làthuốc hóa học nên có hiệu lực cao ngay từ tuần đầu tiên phun thuốc (đều đạt trên50% ở những ngày đầu tiên phun thuốc) Trong số 3 loại thuốc bảo vệ thực vậtđược sử dụng thí nghiệm này thì Virtako 40WG cho hiệu lực cao nhất đạt87,82% sau 30 ngày phun Hiệu lực của 2 loại thuốc còn lại là Tungent 5SC vàRegent 5SC là hiệu lực như nhau (79,98 và 80,86%)
Trang 31PHẦN III: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU 3.1 Đối tượng và vật liệu nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các loài sâu hại trên ngô, trong đó có loài sâu
đục thân ngô (Ostrinia furnacalis Guenee)
- Vật liệu:
+ Giống ngô: Giống ngô bao tử SG22 và ngô tẻ LVN-4
Hình 3.1: Hai giống ngô được dùng để nhân nuôi nguồn
+ Các hóa chất để thử thuốc trên cây ngô: Fipronil, cartap Các hóa chấtkhác: nước cất, axeton, tween,
+ Các dụng cụ cần thiết để nuôi sâu và để thử thuốc: Hộp nuôi sâu (lớn,nhỏ), lọ thủy tinh đựng thuốc, pipet, ống đong,
3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Địa điểm nghiên cứu: Bộ môn Côn trùng, viện Bảo Vệ Thực Vật, Đặng
Xá - Gia Lâm và Giang Biên - Long Biên - Hà Nội
- Thời gian nghiên cứu: Đề tài được tiến hành từ tháng 1 năm 2016 đếntháng 7 năm 2016
Trang 323.3 Nội dung nghiên cứu
- Điều tra xác định thành phần sâu hại ngô và thiên địch trên ngô vụ Xuân
- Hè tại Giang Biên - Long Biên và Đặng Xá - Gia Lâm - Hà Nội
- Điều tra diễn biến mật độ của sâu đục thân ngô Ostrinia furnacalis
Guenee và tỷ lệ hại trên ngô vụ Xuân - Hè tại Giang Biên - Long Biên và Đặng
Xá - Gia Lâm - Hà Nội
- Mô tả hình thái, đo đếm kích thước các pha phát triển của sâu đục thân
ngô Ostrinia furnacalis Guenee.
- Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của sâu đục thân ngô Châu Á
Ostrinia furnacalis Guenee.
- Đánh giá mức độ mẫn cảm đối với một số hoạt chất BVTV của quần thể
sâu đục thân ngô châu Á Ostrinia fularcalis Guenee ở Hà Nội.
3.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Phương pháp điều tra xác định thành phần sâu hại trên cây ngô trong
vụ Xuân - Hè ở Hà Nội
Tiến hành điều tra, thu thập thành phần sâu hại và thiên địch theo quychuẩn QCVN 01 – 38:2010/BNNPTNT về phương pháp điều tra phát hiện dịchhại cây trồng, cụ thể như sau:
Điều tra theo phương pháp ngẫu nhiên không cố định, thu bắt tất cả cácmẫu sâu hại và thiên địch bắt gặp trên ngô bằng vợt hoặc bằng tay sau đó nuôitiếp để giám định Tất cả các mẫu thu thập được trên đồng ruộng đem về xử lý
và định loại Điều tra định kỳ 7 ngày một lần (4 lần/tháng) ở các điểm nghiêncứu Trên mỗi ruộng ngô đã chọn tiến hành điều tra tự do để thu thập điều trathành phần sâu hại bắt gặp trong quá trình điều tra
Khi điều tra thực địa quan sát và ghi nhận, thu bắt những loài sâu hại bắtgặp trên cây ngô để xác định tên khoa học
Trang 333.4.2 Phương pháp điều tra diễn biến mật độ, tỷ lệ hại của sâu đục thân ngô châu Á
Theo quy chuẩn QCVN 01 – 167 : 2014/BNNPTNT về phương phápđiều tra phát hiện dịch hại cây ngô: Chọn ruộng điều tra, điều tra 10 điểm ngẫunhiên hoặc phân bố ngẫu nhiên trên đường chéo khu vực điều tra Điểm điều tracách bờ ít nhất 2m, 5 cây/điểm
- Điều tra mật độ: Điều tra định kỳ 5 ngày/lần theo 10 điểm chéo góc, tạimỗi điểm, quan sát, đếm số lượng sâu đục thân có trên 5 cây trên ruộng ngô
- Điều tra tỷ lệ hại: Điều tra định kỳ 5 ngày/lần theo 10 điểm chéo góc, tạimỗi điểm, quan sát, đếm số lượng cây bị hại có trên 5 cây trên ruộng ngô
Chỉ tiêu theo dõi: các loài sâu hại có trên đồng ruộng trong quá trình điềutra, tỷ lệ cây ngô nhiễm sâu đục thân và mật độ sâu đục thân ngô (con/cây)
3.4.3 Phương pháp nhân nuôi nguồn sâu đục thân ngô
Trồng ngô trong nhà lưới, trồng trong bầu đất đường kính 25cm đến khicây ngô được 5-7 lá
Hình 3.2: Ngô được trồng trong nhà lưới để làm thức ăn nhân nuôi nguồn
Để có nguồn sâu thí nghiệm mỗi lần điều tra sẽ thu bắt sâu non, nhộnghoặc trưởng thành ngoài đồng ruộng về nuôi trong phòng thí nghiệm tiếp Khi
có trưởng thành vũ hóa cho ghép đôi trong lồng lưới kích thước 40 × 50 cm,trong lồng lưới có cây ngô ở giai đoạn 5 – 7 lá và theo dõi sự đẻ trứng của