1. Trang chủ
  2. » Tất cả

SKKN SU DUNG SO DO TU DUY VAN 7

15 2 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 1,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực trạng Sơ đồ tư duy có vai trò như thế, tuy nhiên trong quá trình giảng dạy và đi dự giờ, tôi nhận thấy giáo viên và học sinh đã gặp phải một số hạn chế sau: * Về phía giáo viên:

Trang 1

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN

Kính gửi: Hội đồng Sáng kiến ngành Giáo dục thị xã Bình Long

Tôi ghi tên dưới đây:

Số

TT

Họ và

tên

Ngày tháng năm sinh

Nơi công tác

(hoặc nơi thường trú)

Chức danh

Trình độ chuyên môn

Tỷ lệ (%) đóng góp vào việc tạo ra sáng kiến (ghi

rõ đối với từng đồng tác giả, nếu có)

THỊ LÊ

20/7/1982 Trường

THCS Thanh Lương- thị xã Bình Long

Giáo viên dạy môn Ngữ văn (lớp7)

ĐHSP 100%

1 Là tác giả đề nghị xét công nhận sáng kiến cấp thị xã năm học 2017-2018

2 Chủ đầu tư tạo ra sáng: Sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học Ngữ văn 7

3 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến1: Giáo dục (Ngữ văn)

4 Ngày sáng kiến được áp dụng dụng thử: 17/1/2019

5 Mô tả bản chất của sáng kiến2:

5.1 Tính mới của sáng kiến:

5.1.1 Sơ đồ tư duy và vai trò của sơ đồ tư duy

* Khái niệm sơ đồ tư duy

Sơ đồ tư duy hay còn gọi là bản đồ tư duy là một hình thức ghi chép sử dụng màu sắc, hình ảnh để mở rộng và đào sâu các ý tưởng Kỹ thuật tạo ra loại bản đồ này

1

Trang 2

được phát triển bởi Tony Buzan vào những năm 1960 Sơ đồ tư duy có cấu tạo như một cái cây có nhiều nhánh lớn, nhỏ mọc xung quanh “Cái cây” ở giữa sơ đồ là một ý tưởng chính hay hình ảnh trung tâm Nối với nó là các nhánh lớn thể hiện các vấn đề liên quan với ý tưởng chính Các nhánh lớn sẽ được phân thành nhiều nhánh nhỏ, rồi nhánh nhỏ hơn, nhánh nhỏ hơn nữa nhằm thể hiện chủ đề ở mức độ sâu hơn Sự phân nhánh cứ thế tiếp tục và các kiến thức, hình ảnh luôn được nối kết với nhau Sự liên kết này tạo ra một “bức tranh tổng thể” mô tả ý tưởng trung tâm một cách đầy đủ và rõ ràng

* Vai trò của sơ đồ tư duy.

- Học sinh sẽ tiết kiệm được nhiều thời gian để học bài, ôn bài, tìm từ khóa và dễ dàng nhận biết các từ khóa thiết yếu

- Giúp học sinh nắm được kiến thức trọng tâm của bài học vì sơ đồ tư duy dùng để khái quát kiến thức trọng tâm

- Giúp học sinh nhớ nội dung bài học được lâu hơn và kích thích khả năng sáng tạo đa sắc, đa chiều hơn

- Kích thích khả năng khám phá tri thức nhờ đó làm tăng thêm tinh thần hiếu học Mặt khác nhờ liên tục vận dụng mọi kĩ năng mà học sinh ngày càng linh hoạt tiếp nhận hiệu quả kiến thức và tự tin vào khả năng sáng tạo của mình hơn

5.1.2 Thực trạng

Sơ đồ tư duy có vai trò như thế, tuy nhiên trong quá trình giảng dạy và đi dự giờ, tôi nhận thấy giáo viên và học sinh đã gặp phải một số hạn chế sau:

* Về phía giáo viên:

- Do sự phát triển của công nghệ thông tin hầu hết giáo viên đều đã tích cự sử dụng

công nghệ thông tin để nâng cao chất lượng dạy học nhưng phương pháp và kỉ thuật còn hạn chế nhất là cách thức giúp học sinh hiểu nhanh, nhớ nhanh và tái hiện nhanh khi cần vận dụng

- Trong một tiết dạy, mục đích chính của giáo viên là cung cấp đầy đủ các kiến thức cơ bản của bài học nên giáo viên cho học sinh ghi chép các kiến thức đó thành từng câu, từng đoạn hoàn chỉnh thậm chí đó là những câu, đoạn dài dòng

Trong khi đó chỉ cần một sơ đồ đơn giản, giáo viên có thể hệ thống hóa các kiến thức của bài học

Trang 3

- Giáo viên chưa thực sự quan tâm đến việc hình thành hóa kiến thức Trước đây, trong một số tiết học giáo viên có sử dụng bảng biểu, biểu đồ, vẽ sơ đồ nhưng chưa chú ý đến màu sắc, đường nét Ví dụ khi dạy xong bài “Lựa chọn trật tự từ trong câu”, giáo viên hệ thống hóa kiến thức bằng sơ đồ sau:

- Giáo viên trình bày kiến thức phong phú, sinh động nhờ sự hỗ trợ của CNTT hoặc nhiều phương pháp được sử dụng để kích thích sự sáng tạo của HS nhưng việc sử dụng

sơ đồ tư duy còn ít và mang lại hiệu quả thấp

- Tâm lí của GV sợ các em về nhà không biết cách học bài nên ngại ghi chép vắn tắt mà ghi phải ghi đầy đủ các nội dung và các đề mục

* Về phía học sinh

- Giáo viên là người khơi gợi sự sáng tạo cho các em, nhưng GV chỉ sử dụng một số bảng biểu nên tất cả HS cũng chỉ có cách trình bày giống như của GV mà chưa tự xây dựng theo cách hiểu của mình bằng các cách khác nhau

- Hiện tượng học vẹt của HS: khi học bài, các em chỉ chăm chăm học một cách máy móc nội dung mà thầy cô đã cho ghi bởi các em luôn có suy nghĩ cách diễn đạt của GV

là tốt, là chuẩn và nếu học thuộc đúng, đủ từng câu, từng chữ thì sẽ có điểm tốt

CÂU ĐẶC BIỆT

KHÔNG CẤU TẠO THEO MÔ HÌNH CN-VN

BỘC LỘ CẢM

XÚC

LIỆT KÊ, THÔNG BÁO

VỀ SỰ TỒN TẠI CỦA SỰ VÂT, HIỆN TƯỢNG

GỌI- ĐÁP

XÁC ĐỊNH THỜI GIAN, NƠI CHỐN

Trang 4

- Một số em không thích học bài bởi các em học nhiều nhưng không nắm được bài học Hoặc các em có nắm thì cũng rất mông lung, mơ hồ, không chắc chắn vì thế cũng rất nhanh quên

Ngoài thực tế của quá trình giảng dạy, tôi cũng thống kê bài kiểm tra học kì của các

em và kết quả như sau:

Năm học

Tên lớp Sĩ số Từ 8 -> 10 Từ 5 -> dưới 8 Dưới 5

Qua kết quả thống kê trên cho ta thấy rằng, số lượng học sinh đạt loại giỏi khi kiểm tra học kì còn hạn chế Trong khi đó số lượng học sinh có điểm trung bình nhiều và số lượng điểm kém cũng còn nhiều Mà mức độ kiến thức trong các bài kiểm tra học kì không khó Từ thực tiễn nêu trên, tôi đưa ra một số giải pháp thực hiện để nâng cao chất lượng của học sinh

Từ khi áp dụng giải pháp này, tôi cảm thấy tự tin hơn mỗi khi lên lớp Trong quá trình giảng dạy, tôi vừa dạy vừa củng cố kiến thức bằng sơ đồ tư duy Vì vậy, với sáng kiến này có thể coi là một định hướng tốt giúp tôi trong quá trình giảng dạy, góp phần nâng cao chất lượng học tập của học sinh trong những năm qua

5.2 Nội dung sáng kiến:

Với thực trạng trên cũng như nhận thấy vai trò của sơ đồ tư duy trong quá trình dạy học, tôi đã vận dụng việc sử dụng SĐTD trong quá trình dạy học như sau:

5.2.1 Sử dụng sơ đô tư duy trong kiểm tra bài cũ.

Giáo viên đưa ra một từ khóa (hay một hình ảnh trung tâm) thể hiện chủ đề của kiến

thức cũ mà các em đã học Từ đó yêu cầu các em vẽ sơ đồ tư duy thông qua câu hỏi gợi

ý Trên cơ sở từ khóa (hay một hình ảnh trung tâm) kết hợp vớ câu hỏi định hướng của

GV, học sinh nhớ lại kiến thức và định hình cách vẽ sơ đồ tư duy theo yêu cầu

Ví dụ 1

Trước khi học bài “Quan hệ từ”, trong phần kiểm tra bài cũ, GV cho các em ôn lại kiến thức bài “Đại từ” bằng cách lập sơ đồ tư duy để củng cố, hệ thống kiến thức bằng các câu hỏi:

Trang 5

- Đại từ là gì?

- Đại từ được chia làm mấy loại?

Sơ đồ tư duy về bài “Đại từ” như sau:

Ví dụ 2

Bài thơ “Qua Đèo Ngang”, cho ta thấy được cảnh Đèo Ngang và tâm trạng của Bà Huyện Thanh Quan vào lúc chiều tà Bằng cụm từ khóa “Qua Đèo Ngang”, em hãy vẽ

sơ đồ tư duy thể hiện các nội dung trên?

Hoan Hoang sơ, vắng lặng

Buồn, cô đơn

hoài cổ.

Main Idea CẢNH

ĐÈO NGANG

TÂM TRẠNG CỦA TÁC GIẢ

Thời gian Cảnh vật Cuộc sống con người

bóng xế tà

Chợ mấy nhà Tiều vài chú

Cỏ cây chen đá, lá chen hoa

Âm thanh: chim quốc, gia gia.

Nhớ nước, thương nhà Một mảnh tình riêng, ta với ta

QUA

ĐÈO

NGANG

Trang 6

Ví dụ 3.

Trước khi cho học sinh tìm hiểu tiết “Đề văn nghị luận và cách lập ý cho bài văn nghị luận” Ở khâu Kiểm tra bài cũ, giáo viên cho học sinh ôn lại đặc điểm của văn bản nghị luận Vì nội dung kiến thức của 2 tiết học này có liên quan đến nhau Cách làm đơn giản như các ví dụ trên Trước tiên, giáo viên ghi cụm từ khóa “Đặc điểm văn nghị luận” lên bảng phụ Rổi đặt câu hỏi: Em hãy khái quát lại các đặc điểm của văn nghị luận bằng sơ đồ tư duy?

Sau đây là SĐTD minh họa:

5.2.2 Sử dụng sơ đề tư duy để củng cố kiến thức sau mỗi tiết học và hệ thống kiến thức sau mỗi chương, phần.

Ví dụ 1

Sau khi GV hướng dẫn học sinh tìm hiểu xong văn bản “Một thứ quà của lúa

non:Cốm”, giáo viên cho học sinh lập sơ đồ tư duy hệ thống kiến thức của bài học Đây

Trang 7

là sơ đồ tư duy củng cố, hệ thống kiến thức cuối bài GV sẽ định hướng cho HS vẽ sơ

đồ tư duy bằng những câu hỏi sau:

- Nêu các nội dung cơ bản trong văn bản “Một thứ quà của lúa non:Cốm” ?

- Cốm có nguồn gốc từ đâu?

- Cốm có giá trị gì?

- Cách thưởng thức cốm?

Từ những câu hỏi gợi ý, GV sẽ dẫn dắt HS vẽ sơ đồ tư duy của văn bản như sau:

Sản vật tự nhiên, sự

khéo léo của con người

Giá trị văn hóa

Nâng niu,

trân trọng

Ví dụ 2

Sau khi hướng dẫn học sinh tìm hiểu xong về đức tính giản dị của Bác Hồ trong

bài “Đức tính giản dị của bác Hồ” của Phạm Văn Đồng, giáo viên cho học sinh lập SĐTD

về đức tính giản dị của bác Các em sẽ nhớ lại những gì vừa được nghe, được thảo luận,

được ghi chép và vẽ SĐTD

Sau đây là SĐTD minh họa:

MỘT THỨ

QUÀCỦA

LÚA NON: CỐM

NGUỒN GỐC

GIÁ TRỊ

CÁCH THƯỞNG THỨC

Lúa non

Hàng loạt cách chế biến

Làm quà siêu Tết Hồng cốm tốt đôi

Ăn từng chút ít, vừa ăn vừa ngẫm nghĩ

Mua phải nâng niu, trân trọng, chút chiu

mà vuốt ve.

Trang 8

5.2.3 Sử dụng sơ đồ tư duy trong các tiết ôn tập.

Đối với phân môn tiếng Việt thì sử dụng sơ đồ tư duy kết hợp việc dạy học bài mới với

việc ghi bảng càng dễ dàng hơn

Ví dụ khi dạy bài “Ôn tập tiếng Việt” Học kì I, sau khi giới thiệu bài mới, giáo viên ghi cụm từ trung tâm “ÔN TẬP TIẾNG VIỆT” lên giữa bảng đen, sau đó dẫn đắt HS lần lượt đi vào tìm hiểu các nội dung ôn tập theo trình tự SGK Bắt đầu củng cố, hệ thống hóa các kiến thức lý thuyết thông qua các câu hỏi:

- Chúng ta đã học những từ loại nào ở lớp 7? Nêu khái niệm các từ loại đó?

- Các loại từ đã học?

- Từ xét về cấu tạo có những loại từ nào? Từ phức được chia làm mấy loại? Nêu đặc điểm và các lại từ ghép và từ láy?

Các loại kiến thức khác cũng tương tự như vậy

Sơ đồ tư duy phần ôn tập tiếng Việt học kì 1 có thể được khái quát như sau:

ĐỨC TÍNH GIẢN

DỊ CỦA BÁC

NÓI VÀ VIẾT

Những chân lí của nhân dân

và thời đại rất giản dị

SINH HOẠT

QUAN HỆ VỚI MỌI NGƯỜI

LÀM VIỆC

Bữa cơm: vài ba

món

Nhà: vài ba

phòng

Viết thư cho một đồng chí Thăm khu tập thể Nói chuyện với các cháu miền Nam Đặt tên cho người giúp việc

Suốt ngày, suốt

đời

Việc gì tự làm

thì không

cần người giúp

Trang 9

5.2.4 Sử dụng sơ đồ tư duy trong các tiết phụ đạo.

Mục đích các tiết phụ đạo là nhằm củng cố, hệ thống kiến thức và nâng cao kiến thức cho học sinh qua các bài tập Trước khi cho học sinh làm các bài tập, giáo viên cũng sẽ hệ thống hóa kiến thức về nội dung bài học bằng sơ đồ tư duy

Ví dụ: trong tiết ôn tập về “Từ đồng nghĩa, từ trái nghĩa, từ đồng âm”, giáo viên sẽ đưa

ra từ khóa “Các loại từ xét về mặt nghĩa”, sau đó gợi ý cho học sinh qua các câu hỏi để

HS vẽ sơ đồ tư duy để hệ thống kiến thức:

- Xét về mặt nghĩa có những loại từ nào?

- Khái niệm các loại từ?

- Mỗi loại cho một ví dụ?

Sơ đồ tư duy

Trang 10

Khi vẽ SĐTD, học sinh không chỉ phân biệt được các loại từ trên mà các em còn phân biệt được giữa từ loại và loại từ

Hay ở tiết ông tập các phép tu từ “Điệp ngữ, Chơi chữ”, giáo viên cũng sẽ cho học sinh vẽ sơ đồ tư duy Giáo viên đưa từ khóa “Phép tu từ” rồi gợi ý HS bằng các câu hỏi sau:

- Ở lớp 7, các em đã học các phép tu từ nào?

- Khái niệm các phép tu từ?

- Các dạng điệp ngữ? Các lối chơi chữ?

Sơ đồ tư duy

Trang 11

5.3 Khả năng áp dụng của sáng kiến:

Giải pháp trên tôi đã thực nghiệm áp dụng khi dạy học ngữ văn cho học sinh

ở các lớp 71, 72 và 73 Và với giải pháp này, tôi sẽ tiếp tục áp dụng cho dạy học ngữ văn

ở các khối lớp 6,7,9 Vì đây là cách dạy học hay, tích cực, có hiệu quả

Như tôi có thể áp dụng biện pháp này để khái quát lại các phương châm hội thoại” ở Ngữ văn 9, tập 1 Ví dụ như sau khi dạy xong các phương châm hội toại, tôi sẽ cho học sinh vẽ sơ đồ tư duy để củng cố và hệ thống lại kiến thức:

Trang 12

Hay lên lớp 8, tôi cũng sẽ vận dụng phương pháp này khi dạy các kiểu câu chia theo mục đích nói Ở lớp 6 các bài về câu trần thuật, các từ loại, các phép tu từ

Các biện pháp trên cùng với kết quả mà tôi đã trình bày khẳng định được phương pháp giảng dạy như trên là có hiệu quả

6 Những thông tin cần được bảo mật:

7 Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến:

- Cần có sự phối kết hợp giữa giáo viên và học sinh trong quá trình giảng dạy

- Sự quan tâm của nhà trường chuẩn bị các thiết bị dạy học như máy chiếu

8 Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng sáng kiến theo ý kiến của tác giả:

Sau khi áp dụng các giải pháp trên trong các tiết học ngữ văn 8, tôi nhận thấy học sinh nắm được bài học một cách rõ ràng và hệ thống, nhớ kiến thức rất lâu; giúp các

em học tập một cách chủ động, tích cực và huy động được tất cả các học sinh tham gia

Trang 13

sơ đồ tư duy khác nhau nên các em còn phát triển được năng lực riêng của mình về hội họa, khả năng tư duy, kĩ năng thuyết trình

Và kết quả khảo sát qua bài kiểm tra học kì như sau:

Năm học

Tên lớp Sĩ số Từ 8 -> 10 Từ 5 -> dưới 8 Dưới 5

So sánh, đối chiếu năm học: 2016- 2017 với năm học 2017- 2018 cho ta thấy các

em đã học tốt hơn môn Ngữ văn Đều này chứng minh qua số lượng điểm dưới năm của học sinh năm học 2017- 2018 giảm nhiều so với năm học 2016- 2017 Phần lớn học sinh đã làm bài tốt hơn Từ những học sinh yếu, khi được giảng dạy với cách thức đó, các em đã vận dụng vào làm bài một cách hiệu quả

Qua sáng kiến này bản thân tôi cũng đã rút ra được một số kinh nghiệm sau:

Khi dạy một kiến thức nào đó thì cần xác định đúng kiến thức cơ bản, trọng tâm để thiết kế SĐTD

Cần đầu tư thời gian vào soạn bài, lập trước các sơ đồ tư duy cần thiết đối với các bài học sử dụng SĐTD

Khuyến khích các em HS tích cực, tự giác học bài bằng vẽ và ghi chép với SĐTD

Có sự đầu tư về phương pháp, thay đổi về cách làm lôi cuốn học sinh để học sinh

dễ dễ dàng hiểu được các kiến thức

Quan tâm đến các đối tượng học sinh, tìm hiểu thêm học sinh còn yếu ở chỗ nào

Trang 14

9 Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng sáng kiến theo ý kiến của tổ chức, cá nhân đã tham gia áp dụng sáng kiến lần đầu, kể cả áp dụng thử:

10 Danh sách những người đã tham gia áp dụng thử hoặc áp dụng sáng kiến lần đầu:

Số

TT

Họ và

tên

Ngày tháng năm sinh

Nơi công tác (hoặc

nơi thường trú)

Chức danh

Trình độ chuyên môn

Nội dung công việc hỗ trợ

Tôi (chúng tôi) xin cam đoan mọi thông tin nêu trong đơn là trung thực, đúng sự thật và hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật

Thanh Lương, ngày 17 tháng 01 năm 2019

Người nộp đơn

(Ký và ghi rõ họ tên)

Trang 15

Đặng Thị Lê

Ngày đăng: 15/07/2019, 10:03

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w