Thị trường chứng khoán Việt Nam phát triển ngày càng mở rộng về quy mô, thu hút nhiều sự tham gia của các tổ chức phát hành, nhà môi giới, các nhà đầu tư trong nước và quốc tế cùng với h
Trang 1Mục lục:
1 Lý thuyết về CKPS và TTCKPS - 1 -
1.1 Chứng khoán phái sinh - 1 -
1.2 Thị trường chứng khoán phái sinh - 3 -
1.3 Vai trò của CKPS và TTCKPS - 5 -
2 Xây dựng và phát triển thị trường chứng khoán phái sinh tại Việt Nam - 5 -
2.1 Định hướng xây dựng TTCKPS tại Việt Nam - 6 -
2.2 Thực trạng thị trường chứng khoán Việt Nam hiện nay - 6 -
2.3 Xây dựng và phát triển thị trường chứng khoán phái sinh tại Việt Nam - 9 -
2.3.1 Xây dựng hành lang pháp lý cho tổ chức và hoạt động của thị trường - 9 -
2.3.2 Xây dựng cơ sở hạ tầng cho TTCKPS - 10 -
2.3.3 Đảm bảo thanh khoản cho TTCKPS và khả năng quản lý giám sát - 10 -
2.3.4 Chuẩn bị nguồn nhân lực và đào tạo, tập huấn cho nhà đầu tư - 11 -
3 Một số giải pháp - 12 -
Trang 2Xây dựng và phát triển thị trường chứng khoán phái sinh
tại Việt Nam hiện nay
-o0o- Trải qua 15 năm hình thành và phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam hiện nay tuy còn chưa hoàn thiện nhưng đã có những bước phát triển mạnh mẽ ngày một khẳng định tầm quan trọng đối với sự phát triển của thị trường tài chính nói riêng và cả nền kinh tế nói chung thông qua vai trò là cầu nối trực tiếp giữa những người cần vốn
và những người có vốn Thị trường chứng khoán Việt Nam phát triển ngày càng mở rộng về quy mô, thu hút nhiều sự tham gia của các tổ chức phát hành, nhà môi giới, các nhà đầu tư trong nước và quốc tế cùng với hệ thống tổ chức cũng ngày càng phát triển hiệu quả Tuy nhiên bên cạnh đó, hàng hóa của TTCK vẫn đang đơn điệu với các chứng khoán là cổ phiếu phổ thông, trái phiếu và một ít chứng chỉ quỹ đầu tư Các nhà đầu tư Việt Nam vẫn đang phải đầu tư “chay”,chưa có công cụ bảo hiểm và còn ít sự lựa chọn (chỉ đầu cơ giá lên chưa có công cụ đầu cơ khi thị trường xuống giá) Vì vậy việc ra đời TTCKPS là một nhu cầu cấp thiết để phát triển TTTC ngày càng sâu, rộng
và đa dạng; đáp ứng nhu cầu đầu tư sinh lợi và phòng ngừa rủi ro
1 Lý thuyết về CKPS và TTCKPS
1.1 Chứng khoán phái sinh
Chứng khoán phái sinh là những tài sản tài chính mà giá trị của nó phụ thuộc vào giá trị hoặc mức độ sinh lời của một tài sản khác được gọi là tài sản cơ sở CKPS được thể hiện dưới dạng hợp đồng hay thỏa thuận giữa bên mua và bên bán quy định
về quyền lợi và nghĩa vụ của các bên tham gia hợp đồng đối với việc thanh toán hoặc chuyển giao tài sản cơ sở trong tương lai theo các điều kiện đã thỏa thuận trước
Tài sản cơ sở có thể là hàng hóa hữu hình như thực phẩm, nông sản, kim loại hoặc tài sản tài chính thông dụng như cổ phiếu, trái phiếu, lãi suất, tỷ giá, ngoại tệ, chỉ
số chứng khoán…
Có 4 loại chứng khoán phái sinh cơ bản:
Hợp đồng kỳ hạn (Forwards)
Trang 3Hợp đồng kỳ hạn là chứng khoán phái sinh giao dịch thỏa thuận, xác nhận cam kết mua hoặc bán một số lượng tài sản cơ sở nhất định theo một mức giá đã được xác định, tại một thời điểm xác định trong tương lai được ấn định trên hợp đồng
Hợp đồng kỳ hạn cho phép các nhà đầu tư thanh toán và thỏa thuận trực tiếp các điều khoản trong hợp đồng nên có thể đáp ứng nhu cầu cụ thể của các nhà đầu tư nhưng lại khó chuyển nhượng lại cho bên thứ ba Các bên tham gia hợp đồng còn có thể phải chịu rủi ro tín dụng của nhau nếu một bên mất khả năng thanh toán Hơn nữa thường không có cơ quan quản lý và cơ chế quy định việc đảm bảo thực hiện đúng nghĩa vụ trong hợp đồng nên các nhà đầu tư có thể đứng trước nguy cơ đối tác không thực hiện đúng hợp đồng
Hợp đồng tương lai (Futures)
Hợp đồng tương lai là chứng khoán phái sinh niêm yết, trong đó xác nhận cam kết giữa các bên để thực hiện mua (bán) một số lượng tài sản cơ sở nhất định theo một mức giá đã được xác định, tại một thời điểm xác định trong tương lai được ấn định trong hợp đồng
Hợp đồng tương lai được xem như là hợp đồng kỳ hạn được chuẩn hóa vì các điều khoản, điều kiện trong hợp đồng được tạo ra và chuẩn hóa bởi SGDCK nên hợp đồng tương lai có tính thanh khoản cao, tuy nhiên các bên tham gia không có quyền thương lượng về điều khoản và điều kiện chuẩn của hợp đồng, người mua và người bán chỉ có quyền thỏa thuận giá cả hoặc hợp đồng thông qua SGDCK nên không thể đáp ứng linh hoạt yêu cầu cụ thể của các nhà đầu tư SGDCK là cơ quan đứng ra xây dựng, niêm yết chứng khoán đồng thời đóng vai trò trung gian thanh toán, quản lý nghĩa vụ thanh toán của nhà đầu tư nên rủi ro tín dụng của HĐTL thấp, đảm bảo tính minh bạch
và công bằng cho tất cả các nhà đầu tư
Hợp đồng quyền chọn (Options)
Hợp đồng quyền chọn là chứng khoán phái sinh xác nhận quyền của người mua và nghĩa vụ của người bán đối với các giao dịch mua hoặc bán một số lượng tài sản cơ sở hoặc hợp đồng tương lai nhất định theo một mức giá xác đinh trước tại thời điểm trong tương lai theo thỏa thuận hợp đồng Người mua hợp đồng quyền chọn có quyền thực hiện hoặc không thực hiện quyền mua hoặc bán tài sản cơ sở của mình
Có 2 kiểu hợp đồng quyền chọn:
Trang 4 Hợp đồng kiểu Mỹ (American style): người mua HĐQC có quyền thực hiện HĐ
vào bất kỳ thời điểm nào trước khi hợp đồng hết hạn
Hợp đồng kiểu Châu Âu (European style): người mua HĐQC chỉ được thực
hiện HĐ vào thời điểm HĐ hết hạn
Hợp đồng hoán đổi (Swaps)
Hợp đồng hoán đổi là chứng khoán phái sinh trong đó hai bên cam kết hoán
đổi dòng tiền của công cụ tài chính một bên với dòng tiền công cụ tài chính bên còn lại
trong một khoảng thời gian nhất định
Hình 1.1: Các sản phẩm trên thị trường phái sinh
Đặc điểm của CKPS:
Thứ nhất, giá trị của CKPS thay đổi theo sự thay đổi về giá của tài sản cơ sở
Thứ hai, CKPS không yêu cầu đầu tư ban đầu hoặc yêu cầu đầu tư ban đầu thấp
hơn so với các loại hợp đồng khác
Thứ ba, việc mua/bán CKPS được thanh toán vào một ngày trong tương lai được
quy định trong hợp đồng phái sinh Việc thanh toán này có thể được thực hiện hoặc
bằng vật chất (Physical Delivery) hoặc bằng tiền (Cash Settlement)
1.2 Thị trường chứng khoán phái sinh
HĐQC
Cổ phiếu
Chỉ số CP
HĐTL chỉ số
HĐTL trái phiếu
HĐQC chỉ số
HĐQC lãi suất
HĐ Hoán đổi NgoạI hối…
TÀI SẢN CƠ SỞ
Lãi suất Ngoại hối
THỊ TRƯỜNG PHÁI SINH
Trang 5Thị trường chứng khoán phái sinh là nơi diễn ra hoạt động mua bán và giao dịch các CKPS, là nơi xác lập giá trị của tài sản trao đổi dựa trên quan hệ cung - cầu thị trường
Căn cứ theo hình thức tổ chức TTCKSP được phân loại thành:
Thị trường tập trung (SGDCK): là thị trường mua đi bán lại liên tục các CKPS được niêm yết bởi SGDCK (Giao dịch hợp đồng tương lai, hợp đồng quyền chọn)
Thị trường phi tập trung (OTC): là thị trường giáo dịch các CKPS không được niêm yết trên SGDCK (Giao dịch Hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng quyền chọn và hợp đồng hoán đổi)
Các chủ thể, thành phần trên TTCKPS
(i) Cơ quan quản lý: Bộ tài chính và UBCKNN chịu trách nhiệm xây dựng một
hành lang pháp lý hoàn chỉnh nhằm quản lý, giám sát TTCKPS một cách bao quát và hiệu quả Đảm bảo các giao dịch được diễn ra công khai, minh bạch và công bằng, bảo
vệ quyền lợi của các nhà đầu tư trên thị trường
(ii) Sở Giao dịch Chứng khoán: SGDCK chịu trách nhiệm điều hành và quản lý các
hoạt động liên quan tới giao dịch thông qua việc xây dựng các quy chế có liên quan, các hệ thống, tổ chức giao dịch và giám sát các CKPS niêm yết trên SGDCK
(iii) Tổ chức bù trừ chứng khoán phái sinh (CCP): Việc hình thành CCP nhằm đảm
bảo quy trình bù trừ, thanh toán chứng khoán phái sinh diễn ra thuận lợi, đảm bảo an toàn và công bằng cho các bên tham gia
(iv) Ngân hàng thanh toán (NHTT): thực hiện hoạch toán và chuyển khoản cho các
tài khoản giao dịch sản phẩm phái sinh theo kết quả về việc hoạch toán nhận được từ tổ chức bù trừ Thông thường, ngân hàng thanh toán và tổ chức bù trừ liên kết với nhau
để đảm bảo việc giám sát giá trị tài khoản thực của khách hàng đạt hiệu quả tối ưu
(v) Thành viên giao dịch phái sinh: bao gồm các công ty chứng khoán, ngân hàng
thương mại, quỹ đầu tư đáp ứng được các quy định về nghiệp vụ môi giới, tự doanh cho giao dịch sản phẩm phái sinh do cơ quan quản lý yêu cầu và được UBCKNN cấp giấy phép hoạt động Khi trở thành các thành viên giao dịch phái sinh, các tổ chức này phải thực hiện các nghĩa vụ và trách nhiệm của thành viên giao dịch thuộc SGDCK phái sinh Có 02 loại thành viên giao dịch: là thành viên giao dịch có chức năng bù trừ
và thành viên giao dịch không có chức năng bù trừ
Trang 6(vi) Thành viên bù trừ: Các tổ chức tài chính được cấp phép thực hiện nghiệp vụ bù
trừ cho giao dịch sản phẩm phái sinh Sau khi đăng ký và được chấp nhận tư cách thành viên bù trừ, các tổ chức này được phép thực hiện dịch vụ bù trừ chứng khoán phái sinh cho khách hàng và cho các giao dịch tự doanh của chính mình
(vii) Thành viên tạo lập thị trường: Vai trò chính của nhà tạo lập thị trường là để
tạo ra tính thanh khoản cho các sản phẩm phái sinh mới và giúp tăng cường tính thanh khoản đối với các sản phẩm đang thiếu tính thanh khoản hoặc thanh khoản thấp thông qua việc tác động lên tổng khối lượng giao dịch trên thị trường
(viii) Các nhà đầu tư: Các nhà đầu tư là các thành phần tham gia đầu tư vào thị
trường chứng khoán phái sinh, bao gồm nhà đầu tư nhỏ lẻ hoặc các nhà đầu tư có tổ chức
1.3 Vai trò của CKPS và TTCKPS
CKPS và TTCKPS có vai trò lớn giúp hoàn thiện và phát triển thị trường tài chính, tăng sức hấp dẫn của thị trường đối với các nhà đầu tư trong và ngoài nước
Thứ nhất, việc ra đời CKPS làm đa dạng hóa sản phẩm trên thị trường chứng khoán, giúp cho các nhà đầu tư có thêm nhiều lựa chọn và cơ hội đầu tư, tạo điều kiện cho các nhà kinh doanh đầu cơ, kinh doanh chênh lệch giá tìm kiếm lợi nhuận
Thứ hai, CKPS giúp giá của tài sản cơ sở được xác định hợp lý hơn thông qua cơ chế tác động giá giữa thị trường phái sinh và thị trường cơ
Thứ ba, CKPS và TTCKPS là giải pháp hiệu quả thay thế các giao dịch thị trường tiền mặt và góp phần tăng khả năng huy động, phân bổ nguồn lực, nguồn vốn; tăng tính thanh khoản cho thị trường
Thứ tư, tạo ra công cụ phòng ngừa và quản lý rủi ro, nhất là rủi ro tỷ giá, rủi ro lãi suất, rủi ro vỡ nợ tín dụng và rủi ro giá chứng khoán… khi có biến động giá của tài sản
cơ sở
Thứ năm, các sản phẩm chứng khoán phái sinh đem lại một số lợi ích riêng biệt nổi bật đối với các định chế tài chính như: tăng thu dịch vụ; đáp ứng tốt hơn nhu cầu khách hàng bằng sản phẩm chuyên biệt, thiết kế theo nhu cầu khách hàng; đa dạng hóa khách hàng; tăng năng lực cạnh tranh
2 Điều kiện hình thành và phát triển thị trường chứng khoán phái sinh tại Việt Nam
Trang 72.1 Định hướng xây dựng TTCKPS tại Việt Nam
Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 366/QĐ-TTg ngày 11/3/2014 và Nghị định 42/2015/NĐ-CP ngày 5/5/2015 về CKPS và TTCKPS tại Việt Nam với quan điểm dựa trên các tiêu chuẩn và thông lệ quốc tế, phù hợp với điều kiện thực tế và định hướng phát triển kinh tế- xã hội của đất nước; xây dựng TTCKPS theo mô hình tập trung, hoạt động thống nhất dưới sự quản lý của Nhà nước, không để TTCKPS tự
do hình thành và hoạt động tự phát; Lựa chọn và chuẩn hóa các CKPS giao dịch trên SGDCK là các hợp đồng tương lai, hợp đồng quyền chọn dựa trên các chứng khoán cơ
sở là chỉ số thị trường chứng khoán, trái phiếu Chính phủ, cổ phiếu niêm yết; Xây dựng
và phát triển TTCKPS đồng bộ, thống nhất, công khai, minh bạch, hiệu quả và an toàn; quản lý giám sát chặt chẽ và hướng tới bảo vệ lợi ích của nhà đầu tư
Xây dựng TTCKPS nhằm mục đích hoàn chỉnh cấu trúc thị trường chứng khoán, hỗ trợ sự phát triển bền vững các thị trường chứng khoán cơ sở, góp phần thúc đẩy sự phát triển và tăng cường vai trò của thị trường chứng khoán trong thị trường tài chính nói riêng và nền kinh tế nói chung, đưa thị trường chứng khoán trở thành kênh huy động vốn an toàn, dài hạn phục vụ cho tăng trưởng kinh tế; Từng bước đa dạng hóa các sản phẩm giao dịch, phù hợp với tiến trình phát triển của thị trường tài chính, đáp ứng nhu cầu đầu tư và quản lý rủi ro của nhà đầu tư, các tổ chức phát hành; tăng tính cạnh tranh của thị trường chứng khoán Việt Nam, từng bước hội nhập sâu hơn với các thị trường chứng khoán trong khu vực và trên thế giới
2.2 Thực trạng thị trường chứng khoán Việt Nam hiện nay
Mô hình tổ chức thị trường chứng khoán
TTCK Việt Nam có hai Sở GDCK Tp HCM và Hà Nội cùng tổ chức giao dịch; thực hiện thanh toán, bù trừ, lưu ký chứng khoán thông qua TTLKCK duy nhất
Cùng với quá trình chuyển đổi mô hình sở hữu cho các TTGDCK, việc phát triển các thị trường có tổ chức cho từng loại hàng hóa cũng được tiến hành song song,
cụ thể là:
• Thị trường TPCP chuyên biệt:
• Thị trường giao dịch cổ phiếu của công ty đại chúng chưa niêm yết
• Thị trường cổ phiếu niêm yết và thị trường trái phiếu CTNY
Trang 8Tình hình hoạt động TTCK
Trải qua 15 năm vận hành, toàn bộ thị trường đã có 1.240 loại chứng khoán niêm yết, trong đó có 670 doanh nghiệp niêm yết trên Sở GDCK TP HCM (HOSE) và
Sở GDCK Hà Nội (HNX) không kể các doanh nghiệp đăng ký giao dịch trên UPCoM,
2 chứng chỉ quỹ ETF và 567 trái phiếu niêm yết với mức vốn hóa 1.121.000 tỷ đồng tăng 54,4% so với đầu năm 2010, đạt trên 31% GDP (cuối năm 2007)
Thị trường UPCoM hiện có trên 200 công ty đăng ký giao dịch , với quy mô vốn hóa thị trường 38.000 tỷ đồng, tăng gần 9 lần so với cuối năm 2009 Thanh khoản của thị trường tăng trên 5 lần, từ 4 tỷ đồng/phiên năm 2009 lên 21,9 tỷ đồng/phiên năm
2014 chưa kể đến trong đó còn có nhiều doanh nghiệp hình thành từ cổ phần hóa các DNNN
TTCK đã giúp Chính phủ và các doanh nghiệp huy động khoảng 2 triệu tỷ đồng vốn cho đầu tư phát triển Quy mô huy động vốn hiện nay cũng tăng 50 lần so với 10 năm trước Tính riêng trong 10 năm trở lại đây, quy mô huy động vốn qua TTCK đáp ứng khoảng 23% tổng vốn đầu tư toàn xã hội và tỷ lệ đã tương đương gần 60% so với cung tín dụng qua thị trường tiền tệ – tín dụng
Giai đoạn 2011 – 2014, tổng tài sản của các doanh nghiệp này tăng bình quân 12%/năm; tổng vốn chủ sở hữu tăng bình quân 16%/năm; tỷ trọng doanh thu và lợi nhuận lần lượt chiếm từ 75 – 80% và từ 77 – 82% toàn thị trường
Khung pháp lý về chứng khoán và thị trường chứng khoán
Hệ thống pháp lý đã ngày càng được hoàn thiện, có phạm vi điều chỉnh rộng và bao quát, gồm: Luật chứng khoán, Nghị định của Chính phủ; Thông tư của Bộ Tài chính, Quy chế của SGDCK, TTLKCK và các văn bản liên quan, điều chỉnh về:
- Các văn bản hướng dẫn hoạt động chào bán chứng khoán ra công chúng, hoạt động đăng ký, lưu ký, niêm yết và giao dịch chứng khoán;
- Các văn bản hướng dẫn việc hoạt động cung cấp dịch vụ của các tổ chức kinh doanh chứng khoán (KDCK); người hành nghề chứng khoán;
- Các văn bản về chế độ công bố thông tin bảo đảm hoạt động trên TTCK phải tuân thủ nguyên tắc công khai, minh bạch nhằm mục đích bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp của công chúng đầu tư;
Trang 9- Các văn bản hướng dẫn hoạt động của NĐT nước ngoài, văn phòng đại diện, bảo đảm thu thập thông tin tốt nhất về hoạt động lưu chuyển vốn đầu tư gián tiếp phục
vụ cho việc hoạch định chính sách vĩ mô;
- Các văn bản hướng dẫn hoạt động thanh tra, giám sát và cưỡng chế thực thi trên TTCK nhằm phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật chứng khoán;
- Các văn bản thể chế hóa cấu trúc thị trường, bao gồm các SGDCK, TTLKCK; thúc đẩy phát triển thị trường trái phiếu thứ cấp; xây dựng thị trường cổ phiếu đăng ký giao dịch (UpCom)
Nhà đầu tư trên TTCK
Số lượng NĐT cá nhân và tổ chức, trong nước và nước ngoài đã gia tăng đáng
kể Từ khoảng gần 3000 tài khoản NĐT tham gia khi mới mở cửa thị trường tính đến nay đạt gần 1,5 triệu tài khoản Tính riêng số lượng tài khoản của NĐT nước ngoài, có gần 18.000 tài khoản, tăng gấp đôi so với năm 2007, trong đó số lượng NĐT tổ chức tăng từ 200 lên gần 2.300
Hoạt động của các tổ chức kinh doanh và dịch vụ chứng khoán
Công ty chứng khoán: Các công ty chứng khoán đã có những bước thay đổi lớn trên tất cả các mặt như số lượng, quy mô vốn, cơ sở vật chất, nhân sự, quy mô cung cấp dịch vụ và chất lượng hoạt động Theo UBCK hiện còn 81 CTCK đang hoạt động bình thường, giảm 24% tổng số CTCK trước tái cấu trúc Số CTCK có lỗ lũy kế giảm, vốn chủ sở hữu tăng và đạt khoảng 41.636 tỷ đồng Hoạt động tái cấu trúc các CTCK về vốn, nghiệp vụ kinh doanh, công nghệ, nhân sự… đang được triển khai quyết liệt
Số lượng các công ty quản lý quỹ gia tăng nhanh kể từ năm 2006 trở lại đây Theo UBCK đến tháng 7/2015, thị trường có 27 quỹ đầu tư, trong đó có 17 quỹ
mở, 2 quỹ ETF và 8 quỹ thành viên Sau 3 năm thực hiện đề án tái cấu trúc, sản phẩm quỹ mở đã thay thế hoàn toàn quỹ đóng, được giám sát bởi hệ thống ngân hàng giám sát, bảo vệ lợi ích NĐT tốt hơn Hiện có 41 công ty quản lý quỹ đang hoạt động bình thường Hoạt động tái cấu trúc đã thu hẹp gần 20% số lượng các công ty quản lý quỹ
Tuy nhiên bên cạnh nhưng thành tựu lớn đã đạt được trong 15 năm qua TTCK vẫn còn những nhược điểm cần khắc phục như:
Trang 10- Số lượng chứng khoán trên TTCK là khá lớn nhưng số loại chứng khoán lại rất đơn điệu chỉ có 3 loại là cổ phiếu, trái phiếu và chứng chỉ quỹ
- TTCK ở Việt Nam còn hiều rủi ro do bị biến động lớn bởi các yếu tố thị trường
- Chưa phát huy hết tiềm lực phát triển
2.3 Xây dựng và phát triển thị trường chứng khoán phái sinh tại Việt Nam
TTCKPS được đánh giá là thị trường cấp cao, phức tạp và tiềm ẩn nhiều rủi ro hệ thống có thể gây sụp đổ thị trường nếu không được sử dụng đúng cách Xây dựng TTCKPS tập trung tại nước ta chưa từng có tiền lệ và phải đối diện với nhiều thách thức Vì vậy cần phải chuẩn bị các điều kiện chặt chẽ về nhiều mặt để xây dựng và phát triển TTCKPS ở Việt Nam một cách hoàn thiện, an toàn, đáp ứng các nhu cầu đặt ra
2.3.1 Xây dựng hành lang pháp lý cho tổ chức và hoạt động của thị trường
CKPS đã được nêu định nghĩa trong Luật Chứng khoán tại Điều 6, Luật chứng khoán số 70/2006/QH11 ngày 29/6/2006 và Luật chứng khoán sửa đổi số 62/2010/QH12 ngày 1/7/2011 Đây là cơ sở pháp lý quan trọng nhất để triển khai xây dựng khung pháp lý cho tổ chức và vận hành TTCKPS Bộ Tài chính cũng ban hành Thông tư số 74/2011/TT-BTC ngày 1/6/2011 về hướng dẫn giao dịch chứng khoán, đã nới lỏng các điều kiện giao dịch cho NĐT so với quy định trước đây như cho phép thực hiện giao dịch ký quỹ, mua bán chứng khoán cùng phiên, mở nhiều tài khoản tại các công ty chứng khoán (CTCK) Ngày 11/3/2014, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 366/QĐ-TTg phê duyệt Đề án xây dựng và phát triển TTCK phái sinh Việt Nam và Nghị định 42/2015/NĐ-CP ngày 5/5/2015 quy định về chứng khoán phái sinh
và TTCK phái sinh… Đây là động thái tạo tiền đề quan trọng cho phát triển sản phẩm phái sinh Trong đó, cho phép giao dịch ký quỹ và bán khống là một điều kiện cần thiết
để xây dựng và phát triển TTCKPS trong tương lai dự kiến vào năm 2016, với hai sản phẩm ban đầu là hợp đồng tương lai chỉ số và hợp đồng tương lai trái phiếu
Tuy nhiên khung kháp lý vẫn thiếu các văn bản dưới Luật hướng dẫn chi tiết quy định về chế độ về kế toán, chế độ thuế, phí liên quan đến CKPS Chưa có chuẩn mực kế toán để ghi nhận, đánh giá giá trị công cụ tài phái sinh Điều này sẽ ảnh hưởng đến việc xác định kết quả tài chính và quản trị rủi ro (QTRR) tài chính của các tổ chức phát hành, các tổ chức tham gia vào quá trình giao dịch Đồng thời, cơ quan giám sát cũng không thể có được thông tin đầy đủ, trung thực để giám sát thị trường và giám sát an toàn hoạt động của các tổ chức liên quan