Để giúp cho chúng ta thấy rõ vị trí quan trọng của tính từ trong hệ thống từ loại Tiếng Việt. Để giúp học sinh tiếp thu bài giảng một cách nhẹ nhàng, khắc sâu kiến thức về tính từ. Nghiên cứu vấn đề này giúp cho bản thân tôi hiểu sâu hơn những kiến thức về từ loại nói chung và tính từ nói riêng trong môn Tiếng Việt ở Tiểu học. Đồng thời giúp cho tôi có những kiến thức cơ bản, chính xác cho việc dạy học môn Luyện từ và câu ở TH. Nghiên cứu vấn đề này tôi muốn giúp cho giáo viên và học sinh hệ thống được những kiến thức cơ bản về từ loại nói chung và tính từ nói riêng, giúp cho các em phát triển hơn về vốn từ của mình.
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên của đề tài, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô Nguyễn ThịThanh Huyền đã hướng dẫn em tận tình, chu đáo trong suốt quá trình thực hiện đềtài này
Em xin bày tỏ lòng biết ơn tới tập thể các thầy cô giáo Khoa Giáo dục Tiểu họcTrường Cao đẳng Hải Dương đã giảng dạy và giúp đỡ em trong cả khóa học
Xin chân thành cảm ơn các bạn cùng học lớp CĐTH – K40 – F; Ban giám hiệu ,Giáo viên, Học sinh trường Tiểu học Ngọc Lâm đã đóng góp ý kiến, giúp đỡ, độngviên tôi hoàn thành đề tài của mình
Với khả năng có hạn và trong một thời gian không nhiều, chắc chắn đề tàikhông tránh khỏi những hạn chế nhất định, em mong nhận được những ý kiến đónggóp và nhận xét của các Thầy, Cô để đề tài được hoàn thiện hơn
Em xin trân trọng cảm ơn !
Hải Dương, ngày 15 tháng 6 năm 2019
Trang 2Nói đến từ loại là nói đến sự phân lớp các từ trong vốn từ vựng của một ngônngữ Trong chương trình Tiếng Việt ở Tiểu học, từ loại được phân chia thành : danh
từ, động từ, tính từ, đại từ và quan hệ từ Các kiến thức về từ loại nói chung, tính từnói riêng giúp cho học sinh ở bậc tiểu học phân biệt được các từ loại, cách dùng từ,đặt câu có ý nghĩa, vận dụng trong viết chính tả, viết văn, làm bài tập Tiếng Việt, …Không những thế, những kiến thức về từ loại, kiến thức về tính từ sẽ giúp học sinhphát triển được vốn từ, kĩ năng nhận diện, sử dụng thành thạo trong viết văn, …Nhưng thực tế cho thấy, những kiến thức về từ loại, về tính từ là rất phong phú và
đa dạng và học sinh còn gặp rất nhiều khó khăn trong việc nhận diện từ loại, phânloại từ loại, vận dụng từ loại nói chung, tính từ nói riêng trong dùng từ, đặt câu, Nếu không nắm vững những kiến thức cơ bản làm nền tảng thì học sinh rất dễnhầm lẫn, mắc phải những lỗi sai cơ bản Và nếu không được củng cố kiến thứcngay từ đầu thì học sinh tiểu học sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc phát triển ngônngữ viết của mình Vì thế, đối với giáo viên, việc dạy về từ loại nói chung và tính
từ nói riêng cho học sinh là một nhiệm vụ rất quan trọng, đang được nhiều ngườiquan tâm đến Giáo viên nắm vững những kiến thức và truyền đạt một cách dễ hiểucho học sinh, kích thích tính nhanh nhạy của học sinh, phát triển sự sáng tạo, giúphọc sinh tiếp thu bài nhanh hơn Nhiệm vụ của người giáo viên tiểu học là cung cấp
Trang 3những kiến thức một cách toàn diện cho học sinh Mỗi môn học đều góp phần hìnhthành và phát triển nhân cách của trẻ, cung cấp cho các em những tri thức cần thiết
để phục vụ cho cuộc sống, học tập và sinh hoạt sao cho tốt nhất và có hiệu quả cao
Nghiên cứu đề tài này, tôi hy vọng sẽ giúp giáo viên, học sinh có cái nhìntổng quát về hệ thống từ loại nói chung và tính từ nói riêng trong tiếng Việt, giúpcho việc dạy và học được tốt hơn
2 Mục đích và ý nghĩa nghiên cứu của đề tài.
2.2.Ý nghĩa nghiên cứu:
Ý nghĩa lý luận : Nghiên cứu vấn đề này giúp cho bản thân tôi hiểu sâu hơn
những kiến thức về từ loại nói chung và tính từ nói riêng trong môn Tiếng Việt ởTiểu học Đồng thời giúp cho tôi có những kiến thức cơ bản, chính xác cho việchọc hiện tại và việc dạy sau này
Ý nghĩa thực tiễn : Nghiên cứu vấn đề này giúp cho giáo viên và học sinh hệ
thống được những kiến thức cơ bản về từ loại nói chung và tính từ nói riêng, giúpcho các em phát triển hơn về vốn từ của mình
3 Đối tượng nghiên cứu
Trong đề tài này, đối tượng nghiên cứu là từ loại tính từ trong chương trìnhsách Tiếng Việt ở tiểu học
4 Phạm vi nghiên cứu
Hệ thống tính từ trong chương trình Sách giáo khoa Tiếng Việt từ lớp 2 đếnlớp 5
5 Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu đề tài này, tôi đã sử dụng những phương pháp:
- Đọc và tìm hiểu những kiến thức liên quan đến đề tài
- Phân tích, tổng hợp những kiến thức đã đọc về từ loại nói chung, về tính từ nói riêng và tìm hiểu
Trang 4- Khảo sát, đánh giá kiến thức về tính từ trong chương trình Tiếng Việt Tiểuhọc.
- Hệ thống những bài tập cơ bản về từ loại tính từ
6 Cấu trúc bài tập lớn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phần nội dung gồm 3 mục lớn:
I : Một số lí thuyết về tính từ
II : Hệ thống tính từ trong chương trình Tiếng Việt Tiểu học
III: Một số bài giảng minh họa
+ Các loại tính từ : có hai loại chính:
Tính từ chỉ đặc điểm tương đối (có thể kết hợp với từ chỉ mức độ)
Tính từ chỉ đặc điểm tuyệt đối (không thể kết hợp với từ chỉ mức độ)
2 Phân chia từ loại tính từ và khả năng kết hợp.
* Phân chia từ loại:
Tính từ có ý nghĩa khái quát là chỉ tính chất, đặc điểm của sự vật, của hoạtđộng, của trạng thái Cũng giống như động từ, tính từ có thể làm vị ngữ trực tiếp
Trang 5Ngoài ra trong câu, tính từ có thể đảm nhiệm chức năng cú pháp của nhiều thànhphần khác.
VD: + Làm định ngữ : Đó là phim mới
+ Làm bổ ngữ : Anh nói nhanh như gió
+ Làm trạng ngữ : Xưa có một người nông dân nghèo
+ Làm chủ ngữ : Hiếu thảo là đức tính tốt của những người con
Căn cứ vào ý nghĩa khái quát của các tiểu phạm trù, có thể phân biệt 2 loại tính
từ Các tính từ biểu hiện các đặc điểm về chất Những đặc điểm này không thể
“lượng hoá" được, mà chỉ có thể được sắc thái hoá Đó là các nhóm tính từ :
+ Chỉ mầu sắc : xanh, đỏ, tím, vàng, đen, trắng,
+ Chí kích thước, hình dáng : to, nhỏ, lớn, bé,
+ Chỉ mùi vị : cay, đắng, ngọt, bùi, mặn, chát chua, thơm, thối, hắc,
+ Chỉ tính chất vật lí : cứng, mềm, dẻo, giòn, rắn, căng, chùng, nhão, nát, …
+ Chỉ phẩm chất của sự vật : tốt, xấu, hay ,dở, xinh, đẹp, tồi,
+ Chỉ đặc điểm tâm lí : hiền, ác, dữ , lành, điềm đạm, nóng nảy, cục, phúc hậu
+ Chỉ đặc điểm sinh lí : khoẻ, yếu, mạnh, cường tráng, tráng kiện, ốm yếu ,
+ Chỉ đặc điểm trí tuệ : ngu, đần, dốt ,thông minh, lanh lợi khôn khéo, mưu trí,xảo trá, gian dối,
Trang 6+ Chỉ cách thức hoạt động : nhanh, chậm ,vững, thạo, bền, chắc, rề rà, chậmchạp ….
Các tính từ chỉ đặc điểm về lượng Những đặc điểm này có thể "lượng hoá"(nhờ một thành tố phụ có số từ chính xác đi sau : dày 400 trang)
VD: cao, thấp, nông, sâu, rộng, hẹp, ngắn, dài, nặng, nhẹ, mỏng, dày, xa, gần,
Căn cứ vào nét nghĩa mức độ và khả năng thể hiện ý nghĩa mức độ nhờ cácthành tố phụ, có thể phân biệt hai nhóm tính từ : Các tính từ chỉ đặc điểm, tính chất
có các thang độ khác nhau Tuỳ theo thang độ của các đặc điểm tính chất mà cáctính từ đó có thể kết hợp với các thành tố phụ khác nhau : khá, ít, rất, lắm, vô cùng,cực, cực kỳ, tuyệt, …
VD: rất đẹp; khá hay; vô cùng dũng cảm; cực kì thông minh
VD: đực/cái, trống/mái, riêng/chung, công/tư, âm lịch/dương lịch
+ Các tính từ được cấu tạo theo phương thức ghép, trong đó các hình vị đi sauvừa sắc thái hoá ý nghĩa cho hình vị đi trước, vừa chỉ mức độ cao nhất của đặcđiểm tính chất mà hình vị đi trước biểu hiện
Trang 7VD: xanh lè, đen kịt, cao ngất, thơm phức , đỏ au, trắng xoá, bạc phếch, trọc lốc,xanh um, vàng xuộm, tím ngắt, nhỏ xíu,
Ý nghĩa ngữ pháp của từ có những mức độ khác nhau Trong ý nghĩa ngữ phápchung của một từ loại có các nhóm ý nghĩa bộ phận mà ý nghĩa khái quát ở mức độthấp hơn, chẳng hạn ý nghĩa chỉ đặc điểm của sự vật hiện tượng thường được xem
là ý nghĩa khái quát chung của tính từ Có hai loại tính từ chính: Tính từ chỉ đặcđiểm tương đối (có thể kết hợp với từ chỉ mức độ); Tính từ chỉ đặc điểm tuyệt đối( không thể kết hợp với từ chỉ mức độ) Các ý nghĩa khái quát là một căn cứ đểphân chia một từ loại thành các tiểu loại
Từ vựng tiếng Việt không có sự biến đổi hình thái để biểu hiện ý nghĩa ngữpháp Vì vậy, nếu chỉ dựa vào ý nghĩa ngữ pháp thì chưa đủ để phân định từ loạicủa từ Do đặc điểm là một ngôn ngữ đơn lập nên trong tiếng Việt, tiêu chuẩn vềhình thức ngữ pháp được xem xét ở hai góc độ là khả năng kết hợp và chức vụ cúpháp của từ
Trang 8tố là thực từ ở vị trí trung tâm và kèm theo các thành tố phụ ở vị trí đứng trướchoặc sau thành tố trung tâm.
Gần gũi với động từ, tính từ cũng có khả năng kết hợp với các phụ từ Tuynhiên, thường tính từ rất ít kết hợp với các phụ từ chỉ mệnh lệnh, ngược lại phầnlớn các tính từ dễ dàng kết hợp với các phụ từ chỉ mức độ Nói' cách khác tính từ cóthể đảm nhiệm vai trò thành tố chính của một cụm từ chính phụ mà các thành tốphụ là các phụ từ, trong đó khá tiêu biểu là các phụ từ chỉ mức độ
Sự phân bố vị trí cho mỗi lớp từ (trên trục hệ hình) trong cấu trúc ngữ là có tínhquy tắc khách quan hệ thống chứ không phải là ngẫu nhiên tùy tiện, có thể dựa vào
vị trí được phân bố của các lớp từ mà ta xem xét khả năng kết hợp của lớp từ nàyvới lớp từ khác để thấy được đặc điểm ngữ pháp của mỗi lớp từ
- Dựa vào sự chi phối của lớp từ ở trung tâm để nhận biết từ loại của lớp từlàm thành tố phụ
- Dựa vào khả năng kết hợp của các lớp từ làm thành tố phụ để xác định từloại lớp từ ở trung tâm
- Dựa vào đặc điểm của lớp thành tố phụ này để nhận ra đặc điểm từ loại củacác lớp thành tố phụ khác
Khi xem xét khả năng kết hợp giữa các lớp từ trong cấu trúc ngữ, cần quan tâmđầy đủ đến các dạng thức, các trường hợp có thế xảy ra, xem khả năng kết hợp đó
là bắt buộc hay không bắt buộc, các lớp từ có khác nhau về nhu cầu kết hợp haykhông, xem khả năng kết hợp đó là trực tiếp hay gián tiếp, ở vị trí trước hay sau từtrung tâm, sự kết hợp đó có dẫn đến sự biến đổi nghĩa, thay đổi chức vụ cú phápcủa từ hay không …
* Ví dụ 1 : rất xanh lè, hơi trắng phau, khá đỏ
Trang 9Các kết hợp này không được chấp nhận trong tiếng Việt vì các tính từ xanh lè, trắng phau, đỏ au là những tính từ chỉ mức độ tuyệt đối, do đó không thể kết hợp
với các phụ từ chỉ mức độ
* Ví dụ 2: rất xanh, hơi trắng, khá đỏ
Các kết hợp này được chấp nhận trong tiếng Việt
Có lớp từ vừa có tác dụng vạch ra thế đối lập giữa các phạm trù từ loại, vừa cókhả năng làm căn cứ để chia một từ loại thành các kiều loại, ngược lại, có lớp từ chỉ
có tác dụng ở một bình diện cấu trúc Chính vì vậy đặc trưng về khả năng kết hợpcủa các lớp từ là dấu hiệu chủ yếu về ngữ pháp, có tác dụng quyết định trong việcphân định, quy loại các lớp từ Tiếng Việt về mặt từ loại nói chung và tính từ nóiriêng
3 Khả năng đảm nhiệm cương vị thành tố trong cụm từ:
Khả năng kết hợp của từ còn được nhìn nhận dưới góc độ khả năng làm thành
tố chính hay phụ trong cụm từ Các từ loại như tính từ, động từ đều có khả năngngữ pháp khác nhau khi xuất hiện trong cụm từ Chẳng hạn động từ làm thành tốphụ trong cụm tính từ; tính từ làm thành tố chính trong cụm tính từ, làm thành tốphụ trong cụm danh từ; hoặc các phụ ngữ ở phần trước có thể biểu thị quan hệ thờigian; sự tiếp diễn tương tự, mức độ của đặc điểm, tính chất; khẳng định hay phủđịnh; … Các phụ ngữ ở phần sau có thể biểu thị vị trí; sự so sánh; mức độ, phạm vihay nguyên nhân của đặc điểm, tính chất; …
Ngoài ra trong Tiếng Việt có lớp từ tượng thanh, tức những từ mà âm thanh của
nó mô phỏng các âm thanh của tự nhiên Các từ láy tượng thanh được các nhànghiên cứu tiếng Việt quan niệm khác nhau : hoặc là động từ, hoặc là tính từ Nếucăn cứ vào công dụng ý nghĩa của chúng (chúng thường miêu tả tính chất của mộthoạt động, một quá trình : chim hót líu lo, nước chảy róc rách) và chức năng
Trang 10thường làm thành tố phụ cho động từ (như phần lớn các tính từ) thì có thể quanniệm các từ láy tượng thanh là tính từ Nhưng xét về nét nghĩa mức độ, thì các từláy tượng thanh này, rõ ràng không hàm chứa nét nghĩa mức độ Chúng không kếthợp với các thành tố phụ chỉ mức độ.
1 Tìm hiểu về tính từ trong chương trình Tiếng Việt Tiểu học:
Trong chương trình và sách Tiếng Việt Tiểu học hiện hành, tính từ được đưavào nội dung dạy học ngữ pháp cho học sinh Chương trình và sách giáo khoa sắpxếp các bài học về từ loại tính từ ngay từ lớp 2 dưới hình thức của kiểu bài lýthuyết (là các khái niệm, cách phân loại học câu, đoạn, thực hành, vận dụng) Ởcác lớp 2, lớp 3 các kiến thức về từ loại tính từ nói riêng và ngữ pháp nói chungđược dạy học thông qua các bài tập thực hành Đến lớp 4, lớp 5 kiểu bài lý thuyếtmới xuất hiện nhưng ít hơn so với thực hành Các dạng bài tập được phân loại đểgiúp học sinh dễ dàng trong việc làm bài tập Bài tập về từ loại tính từ trongchương trình Tiểu học có các dạng bài tập như: bài tập nhận diện, bài tập phân loại,bài tập vận dụng
2 Khảo sát
Trang 11Trong chương trình Tiếng Việt Tiểu học, hệ thống từ loại tính từ bao gồm:tính từ, cụm tính từ
Cả hai cái áo đều mới
• Phụ từ chỉ mức độ : hơi, khá, rất, cực kì, tương đối, …
* Ví dụ :
Hơi xấu, rất đẹp, bài hát cực kì hay, …
Cô ấy vẫn còn đang rất trẻ
Trang 12+ Sau tính từ:
Có thể là thực từ hoặc hư từ, có thể thuộc những từ loại khác
* Ví dụ :
Tốt gỗ hơn tốt nước sơn
Xấu người đẹp nết còn hơn đẹp người
Tính từ được phân chia thành hai nhóm chính : tính từ đánh giá được về mức
độ và tính từ không đánh giá được về mức độ
Tính từ đánh giá được về mức độ Tính từ không đánh giá được
về mức độ
*Khái niệm : Là những tính từ có thể *Khái niệm : Là những tính từ không
Trang 13dùng kèm với từ chỉ mức độ như : rất,
hơi, lắm, quá, …
thể đi kèm với những từ chỉ mức độnhư : rất, hơi, lắm, quá, …
*Ví dụ : khăn quàng đỏ thắm
Tính từ chỉ kích thước : gần, xa, dài, to,
…
*Ví dụ : Ngôi nhà to quá
Con đường dài quá
Tính từ chỉ kích thước : gần gũi, xa xôi,rộng rãi, …
*Ví dụ : Bịch lúa này nặng lắm, hai
người mới nhấc nổi
Tính từ chỉ trọng lượng : nặng trịch,nhẹ tênh, …
Trang 14chương trình, không quá chú trọng, quá cụ thể vào một lớp học nào, tạo điều kiệncho học sinh tiếp thu kiến thức dễ dàng hơn.
Ở lớp 2, lớp 3 tính từ được đưa vào đưới dạng bài tập : Tìm từ chỉ tính chấtqua kiểu câu : Ai (con gì,cái gì) thế nào?; Lên lớp 4, lớp 5 học sinh chính thức đượchọc khái niệm về tính từ và luyện tập về sử dụng tính từ Tính từ có thể kết hợp với
các từ đã, sẽ, đang, cũng, vẫn, … để tạo thành cụm tính từ Khả năng kết hợp với các từ hãy, đừng, chớ, … của tính từ rất hạn chế.
Trong chương trình tiểu học, chưa có những dạng bài tập về phân loại tính từ
b) Bài tập:
Bài tập 1
Xác định tính từ trong hai câu thơ sau và phân loại chúng:
Cảnh rừng Việt Bắc thật là hayVượn hót chim kêu suốt cả ngày
(Cảnh rừng Việt Bắc – Hồ Chí Minh )
* Hướng dẫn thực hiện:
Ở bài tập này học sinh cần phải xác định ranh giới các từ rồi xét ý nghĩa vàcác khả năng kết hợp của từ rồi phân loại chúng
Trang 15* Tính từ : hay
Bài tập 2
Tìm tính từ trong đoạn trích dưới đây và phân loại chúng:
… Mưa rả rích đêm ngày Mưa tối tăm mặt mũi Mưa thối đất thối cát Trậnnày chưa qua, trận khác đã tới, ráo riết hung tợn hơn Tưởng như biển bao nhiêunước, trời hút lên, đổ hết xuống đất liền
Ta thấy, vui, buồn, đau khổ, là động từ chỉ trạng thái ; đẹp là tính từ
Từ : sự, cuộc ,nỗi niềm đi kèm với động từ hoặc tính từ thì tạo thành mộtdanh từ, đó là các danh từ trừu tượng : niềm vui, nỗi buồn, sự đau khổ, cái đẹp
Ta xác định được các tính từ sau : đẹp, đáng yêu, vui tươi
4.2 Bài tập vận dụng:
a) Khái niệm:
Trang 16Bài tập vận dụng là dạng bài tập sử dụng các từ loại tính từ đã học để đặtcâu, viết thành câu văn, đoạn văn, bài thơ, đoạn thơ, …
* Anh Thư là một cô bé ngoan ngoãn.
* Hôm nay, ngôi nhà rất sạch sẽ.
* Hoa là một cô bé xinh xắn.
Không biết cây được trồng từ lúc nào mà giờ đây cây đã cao đến gác hai của
trường em Gốc phượng sù sì, chỉ vừa vòng tay của em mà sao cành và lá nhiều đếnthế Cứ đến đầu tháng hai phượng bắt đầu nảy lộc, lúc đầu lá chỉ là những chồi non
bé tí tẹo, ba, bốn hôm sau đã xanh ngắt một màu Khoảng tháng ba, tháng tư khi ánh nắng chan hòa rực rỡ, báo hiệu mùa hè đã đến Hoa phượng lác đác, rồi bỗng