Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu trở thành một nước công nghiệp vào năm 2020, nền kinh tế Việt Nam phải đối mặt với nhiều thách thức cần giải quyết.Trong số những giải pháp đề ra thì tiết
Trang 12 Mối quan hệ giữa GDP và tỷ lệ tiết kiệm ở Việt Nam 14
2.1 Nguồn vốn tiết kiệm xét trong nền kinh tế đóng 14
III GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG MỐI QUAN HỆ GIỮA
1 Chính sách của Nhà nước điều hành tỷ lệ tiết kiệm 20
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Tăng trưởng và phát triển kinh tế luôn là mục tiêu hướng tới của mọi quốcgia trên thế giới, đặc biệt là các nước đang phát triển như Việt Nam Ngay saukhi giành được độc lập, thống nhất đất nước vào năm 1975, đặc biệt là từ sau khiViệt Nam thực hiện chính sách đổi mới sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
VI của Đảng Cộng sản Việt Nam Đảng và Nhà nước ta xác định mục tiêu pháttriển kinh tế là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, trong đó định hướng đếnnăm 2020, Việt Nam cơ bản trở thành một nước công nghiệp
Trong những năm gần đây, nền kinh tế Việt Nam có dấu hiệu phát triểntích cực và lạc quan, tốc độ tăng trưởng kinh tế tương đối cao Theo số liệu doTổng Cục thống kê công bố đến thời điểm ngày 27/12/2017, tổng sản phẩmtrong nước (GDP) năm 2017 ước tính tăng 6,81% so với năm 2016 Mức tăngtrưởng năm 2017 vượt mục tiêu đề ra 6,7% và cao hơn mức tăng của các năm từ2011-2016(1), khẳng định tính kịp thời và hiệu quả của các giải pháp do Chínhphủ ban hành, chỉ đạo quyết liệt các cấp, các ngành, các địa phương cùng nỗ lựcthực hiện
Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu trở thành một nước công nghiệp vào năm
2020, nền kinh tế Việt Nam phải đối mặt với nhiều thách thức cần giải quyết.Trong số những giải pháp đề ra thì tiết kiệm và đầu tư là một yếu tố cực kỳ quantrọng vì chúng không những làm gia tăng tài sản của cá nhân, mà còn trực tiếplàm gia tăng tài sản vật chất cho nền kinh tế, có tác động rất mạnh mẽ đến ổnđịnh và phát triển kinh tế
Từ thực trạng kinh tế Việt Nam trong những năm, để nhìn nhận tổng quan
và đánh giá đúng đắn về mối quan hệ qua lại giữa đầu tư với tăng trưởng và pháttriển, nhằm mục đích làm rõ vấn đề lý luận - thực tiễn về tác động của tỷ lệ tiếtkiệm đến tăng trưởng, phát triển kinh tế và ngược lại Trên cơ sở đó đưa ra một
số giải pháp nhằm phát huy tối đa mối quan hệ này để phục vụ cho sự nghiệpphát triển đất nước
1 () Mức tăng GDP so với năm trước của một số năm: Năm 2011 tăng 6,24%; năm 2012 tăng 5,25%; năm 2013 tăng 5,42%; năm 2014 tăng 5,98%; năm 2015 tăng 6,68%; năm 2016 tăng 6,21%; năm 2017
Trang 4I MỘT SỐ KHÁI NIỆM CHUNG
1 Tiết kiệm
1.1 Khái niệm
Khi nói về tiết kiệm thì mỗi nhà kinh tế lại đưa ra khái niệm khác nhau.Nhà kinh tế học cổ điển Adam Smith trong tác phẩm “Của cải của các dân tộc”cho rằng: “Tiết kiệm là nguyên nhân trực tiếp gia tăng vốn Lao động tạo ra sảnphẩm để tích luỹ cho quá trình tăng tiết kiệm Nhưng dù có tạo ra bao nhiêuchăng nữa, nhưng không có tiết kiệm thì vốn không bao giờ tăng lên”
Sang đến thế kỷ 19, C.Mác đã chứng minh rằng: Trong một nền kinh tếvới hai khu vực, khu vực I sản xuất tư liệu sản xuất và khu vực II sản xuất tưliệu tiêu dùng Để đảm bảo gia tăng nguồn lực cho sản xuất, gia tăng quy môđầu tư, một mặt phải tăng cường sản xuất tư liệu sản xuất ở khu vực I, đồng thờiphải sử dụng tiêt kiệm tư liệu sản xuất ở cả hai khu vực Mặt khác, phải tăngcường sản xuất tư liệu tiêu dùng ở khu vực II, thực hành tiết kiệm tiêu dùngtrong sinh hoạt ở cả hai khu vực Như vậy, con đường cơ bản và quan trọng vềlâu dài để tái sản xuất mở rộng là phát triển sản xuất và thực hành tiết kiệm ở cảtrong sản xuất và tiêu dùng
Đúc kết quan điểm của các nhà kinh tế học khác nhau, Chủ tịch Hồ ChíMinh đã vận dụng vào điều kiện cụ thể của nước ta và đưa ra khái niệm về tiếtkiệm: “Tiết kiệm là một quy luật, một phương pháp của một chế độ kinh tế,không phải chỉ tiết kiệm khi đất nước còn nghèo, mà ngay cả khi giàu có vàcàng giàu có càng phải thực hành tiết kiệm” Bác luôn nhấn mạnh “tăng gia sảnxuất và thực hành tiết kiệm là 2 vấn đề mấu chốt để xây dựng, phát triển kinh tế,phát triển văn hoá xã hội, để cải thiện đời sống nhân dân” Tư tưởng quan điểmcủa Bác là “làm ra nhiều, chi dùng nhiều Không cần thì không chi dùng Đó làtất cả chính sách kinh tế của nước ta” Tiết kiệm - theo Bác “cốt để giúp vàotăng gia sản xuất, mà tăng gia sản xuất là để dần dần nâng cao mức sống của bộđội, cán bộ và nhân dân!”
Như vậy, tiết kiệm là sử dụng nguồn lực tài chính, lao động và các nguồnlực khác ở mức thấp hơn định mức, tiêu chuẩn, chế độ quy định nhưng vẫn đạtđược mục tiêu xác định hoặc sử dụng đúng định mức nhưng đạt hiệu quả caohơn mục tiêu đã xác định
Trang 5hoàn chỉnh bao gồm cả tiết kiệm của riêng, tiết kiệm của công Nếu không biếttiết kiệm của riêng thì không thể tiết kiệm của công được Nhưng nếu chỉ lo tiếtkiệm của riêng mà phung phí của công là không đúng Tiết kiệm không chỉ laođộng, tiền mà cả thời giờ.
Tiết kiệm và kích cầu là hai vấn đề gắn bó với nhau nhưng hoàn toàn khácnhau Tiết kiệm không có nghĩa là chi ít mà chi đúng và chi có hiệu quả Thựchành tiết kiệm đồng thời với việc không chấp nhận việc tiêu dùng xa hoa, lãngphí, cần tiêu 1 mà tiêu 3, cần tiêu 3 lại tiêu 7 Bản thân từng người lao động,từng doanh nghiệp được Nhà nước khuyến khích tiêu dùng để thúc đẩy sản xuấtbởi tiêu dùng là một khâu trong vòng tròn khép kín: sản xuất - lưu thông - phânphối - tiêu dùng Đây chính là bản chất của tiết kiệm Chúng ta hiểu và biết kếthợp hai vấn đề “ kích cầu “ và tiết kiệm để phát triển sản xuất Như vậy mới cóthể phát triển kinh tế được
2 Tăng trưởng kinh tế
2.1 Khái niệm
Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng thu nhập đạt được trong một khoảngthời gian nhất định (thường là một năm) của một quốc gia (hoặc địa phương) Sựgia tăng này được biểu hiện ở quy mô và tốc độ Tăng trưởng kinh tế có thể biểuthị bằng số tuyệt đối (quy mô tăng trưởng) hoặc số tương đối (tỷ lệ tăng trưởng).Quy mô tăng trưởng phản ánh sự gia tăng nhiều hay ít, còn tốc độ tăng trưởngđược sử dụng với ý nghĩa so sánh tương đối và phản ánh sự gia tăng nhanh haychậm giữa các thời kỳ Thu nhập của nền kinh tế có thể biểu hiện dưới dạng hiệnvật hoặc giá trị Thu nhập bằng giá trị phản ánh qua các chỉ tiêu và được tínhcho toàn thể nền kinh tế hoặc tính bình quân trên đầu người
Lịch sử phát triển kinh tế cho thấy, mỗi quốc gia, tuỳ theo quan niệm khácnhau của các nhà lãnh đạo đã lựa chọn những con đường phát triển khác nhau.Nhìn một cách tổng thể, có thể hệ thống sự lựa chọn ấy theo 3 con đường: conđường tăng trưởng nhanh; coi trọng vấn đề bình đẳng; công bằng xã hội và pháttriển toàn diện
Một cách tổng quát, ta có thể đo lường tăng trưởng kinh tế bằng các chỉtiêu: tổng sản lượng quốc nội, tổng sản lượng quốc dân và tổng sản phẩm tínhbình quân đầu người
2.2 Các mô hình tăng trưởng kinh tế:
Cùng với kết quả tăng trưởng và phát triển nhanh chóng của kinh tế thếgiới thời gian qua, các nghiên cứu của kinh tế học và kinh tế phát triển đều có xuhướng tìm hiểu về quá trình tăng trưởng, chú ý nhiều hơn vào vai trò của côngnghệ và sự tích luỹ các yếu tố sản xuất Ngay từ thế kỷ 17 và thế kỷ 19, các nhàkinh tế học như Adam Smith, David Ricardo, Lohn Stuard Mill, Thomas
Trang 6Malthus, Joseph Schumpeter, Karl Marx,… đều hướng sự chú ý vào tăng trưởngkinh tế và vai trò của tăng trưởng kinh tế đối với phúc lợi xã hội Trong khi đó,
từ cuối thập niên của thế kỷ 19 đến đầu thập niên của thế kỷ 20, hầu như các môhình kinh tế đều dựa vào khung phân tích tĩnh, với giả định “các yếu tố kháckhông đổi”, tập trung phân tích hiệu quả kinh tế và sự phân bổ tối ưu các nguồnlực khan hiếm cho trước Các nghiên cứu về khả năng gia tăng các nguồn lựckhan hiếm và cải tiến công nghệ (liên quan đến các phân tích động) nhằm tăngsản lượng và vấn đề phúc lợi gần như bị bỏ qua
Cuối thế kỷ 19, xuất hiện nhiều nước đạt được quá trình tăng trưởng vàtính ổn định, bền vững của quá trình này, Alfred Marshall và các nhà kinh tế học
vi mô hướng sự tập trung nghiên cứu vào hiệu quả kinh tế và phân bổ nguồn lực.Cho đến cuộc đại khủng hoảng kinh tế những năm 1929 - 1933, J.M.Keynes(1936) với mô hình kinh tế vĩ mô nhằm vào ổn định hoá kinh tế, giải quyết tìnhtrạng năng lực sản xuất thừa, vấn đề toàn dụng nhân công và sản lượng, chútrọng tới những xử lý nền kinh tế trong “ngắn hạn” chứ không phải là khái niệm
“dài hạn”
Tiếp theo là trường phái mô hình tuyến tính về các giai đoạn phát triển,hai mô hình tiêu biểu cho trường phái này là Rostow và Harrod - Domar Đặcđiểm chung của nhóm lý thuyết này là nhấn mạnh đến quá trình phát triển kinh
tế phải đi qua từng giai đoạn nhất định và nhấn mạnh đến quá trình tích lũy vốn.Xem tích lũy vốn như là một điều kiện để quốc gia phát triển
Trường phái về lý thuyết thay đổi cơ cấu, mô hình đại diện là của Lewis
và Chenery, các mô hình này đặc biệt xem sự chuyển dịch cơ cấu trong nền kinh
tế là quan trọng và điều này có thể tạo ra tăng trưởng cho nền kinh tế Chính vìthế, sự chuyển dịch cơ cấu giữa thành thị và nông thôn, giữa các ngành côngnghiệp, cơ cấu tiêu dùng…là những chủ đề chính mà các nghiên cứu của trườngphái này tập trung
Tiếp đó là trường phái quan hệ phụ thuộc quốc tế, khác với hai trườngphái trên, họ đều tập trung phân tích nguyên nhân cũng như chính sách pháttriển từ chính nội địa của quốc gia Trường phái quan hệ phụ thuộc quốc tế nhấnmạnh đến các yếu tố bên ngoài quốc gia, như viện trợ, đầu tư nước ngoài,… lànhững tiền đề cần phải có để thúc đẩy phát triển một đất nước, đặc biệt là cácnước đang có trình độ phát triển thấp
Robert Solow (1956) với mô hình tăng trưởng tân cổ điển (các lý thuyếtngày nay thường dựa vào mô hình này để mở rộng các biến liên quan đến tăngtrưởng kinh tế) Mô hình này còn có cách gọi khác là mô hình tăng trưởng ngoạisinh, bởi vì không liên quan đến các nhân tố bên trong, tăng trưởng của một nềnkinh tế sẽ hội tụ về một tốc độ nhất định ở trạng thái bền vững Chỉ các yếu tốbên ngoài, đó là công nghệ và tốc độ tăng trưởng lao động mới thay đổi được tốc
Trang 7độ tăng trưởng kinh tế ở trạng thái bền vững Mô hình này chứng minh rằngtrong dài hạn nền kinh tế có xu hướng tiến đến trạng thái cân bằng với mức tăngtrưởng liên tục và đều Trạng thái cân bằng này được đặc trưng bởi mức tích lũyvốn trên mỗi lao động và mức sản lượng trên một lao động không đổi.
Nhóm mô hình tăng trưởng nội sinh về cơ bản cũng dựa vào lý thuyếtkinh tế tân cổ điển, tuy nhiên trong các mô hình tăng trưởng nội sinh, nhân tốthúc đẩy tăng trưởng dài hạn được nội sinh hoá, nói cách khác nhân tố này đượchình thành ngay trong quá trình tăng trưởng do đó dẫn tới sự tăng trưởng liên tụccủa các nền kinh tế Có hai nhân tố nội sinh chủ yếu trong các mô hình tăngtrưởng nội sinh: vốn vật chất; kiến thức và vốn con người Trong mô hình tăngtrưởng có nhiều chỉ tiêu (biến số) được xác lập và phân tích động thái Trongquá trình tăng trưởng các chỉ tiêu có thể có nhịp tăng trưởng với các hình tháikhác nhau Nếu các chỉ tiêu đề cập trong mô hình có nhịp tăng trưởng bằngnhau, khi đó quá trình tăng trưởng (quỹ đạo tăng trưởng) gọi là tăng trưởng cânđối, nếu các nhịp tăng trưởng là hằng số (không phụ thuộc thời gian) thì trạngthái cân bằng được gọi là trạng thái tăng trưởng bền vững (trạng thái dừng)
2.3 Cách tính tăng trưởng kinh tế:
GDP là giá trị bằng tiền của tất cả các sản phẩm vật chất và dịch vụ cuốicùng được sản xuất trên phạm vi lãnh thổ của một nước trong một thời gian nhấtđịnh (thường là một năm) GDP thường được tính bằng 3 phương pháp sau:
* Phương pháp 1: Phương pháp trực tiếp (theo tổng thu nhập):
GDP = W + R + I + II + Ti + De
W: Tiền lương R: Thu nhập cho thuê i: Thu nhập của người cho vay (lãi) II: Lợi nhuận của chủ doanh nghiệp Ti: Thuế gián thu
De: Bù đắp hao mòn tài sản cố định
* Phương pháp 2: Phương pháp gián tiếp (theo giá trị gia tăng):
GDP = VA
Trong đó: VA= giá trị sản lượng- giá trị sản phẩm trung gian
* Phương pháp 3: theo luồng chi tiêu:
GDP = C + I + G + X – M
C: tiêu dùng của hộ gia đình
Trang 8I: chi cho đầu tư G: chi tiêu của Chính phủ X: giá trị hàng xuất khẩu Tổng sản phẩm quốc dân- GNP (Gross National Product): là giá trị bằngtiền của tất cả các sản phẩm vật chất và dịch vụ cuối cùng được tạo ra bởi côngdân của một nước trong một thời gian nhất định (thường là một năm)
GNP = GDP+NFFI= GDP+IFFI- OFFI
NFFI: thu nhập yếu tồ ròng từ nước ngoài
IFFI: thu nhập từ nước ngoài chuyển vào trong nước
OFFI: thu nhập từ trong nước chuyển ra nước ngoài
GNP = GDP+NFFI= GDP+IFFI- OFFI Tổng sản phẩm tính bình quân đầu người (mức thu nhập bình quân đầungười- PCI-Per Capital Income): PCI = Y/P với Y: GDP (GNP), P: tổng dân số
Các công thức đo lường tăng trưởng kinh tế:
Xác định mức tăng trưởng tuyệt đối:
Y0: GDP, GNP tại thời điểm gốc
3 Giá trị tổng sản phẩm trong nước (GDP)
Chỉ tiêu tổng sản phẩm trong nước (GDP) là tổng giá trị hàng hoá, dịch vụcuối cùng được sản xuất ra của một nền kinh tế trong một thời gian nhất định,thường được tính trong một năm; Thuật ngữ “hàng hoá dịch vụ cuối cùng” đượchiểu theo nghĩa không tính giá trị hàng hoá và dịch vụ sử dụng ở các khâu trunggian trong quá trình sản xuất ra sản phẩm
Trang 9Dựa vào phân tích luồng chu chuyển thu nhập và chi tiêu của nền kinh tế,các nhà kinh tế đã chứng minh trong nền kinh tế luôn tồn tại một đồng nhất thức
mô tả mối liên hệ giữa Tổng thu nhập (từ sản xuất), Tổng chi tiêu và Tổng sảnphẩm trong nước như sau:
Tổng thu nhập = Tổng chi tiêu = Tổng sản phẩm trong nước
Tổng thu nhập gồm thu nhập từ các yếu tố tham gia trực tiếp vào quá trìnhsản xuất: thu nhập từ cung cấp dịch vụ lao động được thể hiện qua chỉ tiêu tiềnlương và các khoản thu nhập có tính chất lương; thu nhập từ máy móc, thiết bịtham gia vào sản xuất được thể hiện qua chỉ tiêu khấu hao tài sản cố định; thuếsản xuất và giá trị thặng dư
Tổng chi tiêu của nền kinh tế gồm những khoản chi tiêu đáp ứng cho nhucầu sử dụng cuối cùng gồm: chi cho đầu tư (tích luỹ tài sản); chi cho tiêu dùngcuối cùng; chi cho xuất khẩu
Các nhà kinh tế đưa ra 3 phương pháp đánh giá kết quả hoạt động sảnxuất của nền kinh tế trong một thời gian nhất định
- Phương pháp thứ nhất đánh giá GDP bằng cách cộng giá trị của tất cảhàng hoá và dịch vụ cuối cùng được sản xuất ra ở trong nước theo từng ngànhkinh tế Nói cách khác, phương pháp thứ nhất đánh giá kết quả của các đơn vịsản xuất Phương pháp tính GDP theo phương pháp này là phương pháp sảnxuất
- Phương pháp hàng hoá và dịch vụ tạo ra thu nhập dưới dạng thu củangười lao động; khấu hao tài sản cố định; thuế sản xuất và thặng dư thu nhậptổng hợp Phương pháp đánh giá GDP bằng cách cộng những khoản thu nhậptrên được gọi là phương pháp thu nhập
- Phương pháp thứ 3 căn cứ vào những khoản chi tiêu cần thiết cho cácmục đích: tiêu dùng cuối cùng; tích luỹ tài sản; xuất nhập khẩu quốc gia đượcgọi là phương pháp sử dụng
Phương pháp sản xuất
Phương pháp sản xuất tập trung vào đánh giá giá trị sản phẩm cuối cùngđược tạo ra theo ngành, theo thành phần kinh tế và bằng chênh lệch giữa giá trịsản xuất và chi phí trung gian
Khái niệm giá trị sản xuất dùng để đánh giá kết quả của đơn vị sản xuất(đơn vị cơ sở hoặc doanh nghiệp), không dùng đánh giá cho từng công đoạn sảnxuất của đơn vị Vì vậy giá trị sản xuất chỉ tính cho hàng hoá và dịch vụ do đơn
vị sản xuất ra dùng cho đơn vị khác, không tính cho sản phẩm chu chuyển nội
bộ cho các công đoạn sản xuất của đơn vị Thu do chênh lệch giá cũng khôngtính vào giá trị sản xuất
Trang 10Giá trị sản xuất bao gồm các yếu tố chi phí trung gian và giá trị tăngthêm, như vậy có sự tính trùng trong chỉ tiêu giá trị sản xuất Mức độ tính trùngphụ thuộc vào mức độ chuyên môn hoá và mức độ chi tiết của phân ngành kinh
tế Phân ngành kinh tế càng chi tiết, mức độ tính trùng của chỉ tiêu giá trị sảnxuất càng lớn
Chi phí trung gian bao gồm toàn bộ chi phí về sản xuất vật chất, dịch vụcho sản xuất vật chất và không bao gồm khấu hao tài sản cố định Những sảnphẩm vật chất và dịch vụ tính vào chi phí trung gian phải là chi phí sản xuất,được hạch toán vào giá thành sản phẩm, phải là kết quả sản xuất do các ngànhsản xuất ra trong năm hoặc sản xuất từ năm trước chuyển sang cho sản xuất hoặcnhập khẩu từ nước ngoài Những sản phẩm không phải là kết quả của sản xuất
mà sử dụng từ tự nhiên như ánh sáng mặt trời, nước tự nhiên không tính vào chiphí trung gian Chẳng hạn, nước mưa sử dụng trong sản xuất nông nghiệp khôngtính vào chi phí trung gian của ngành nông nghiệp Ranh giới giữa chi phí trunggian và tích luỹ tài sản: chi phí trung gian gồm những chi phí về hàng hoá vàdịch vụ sử dụng hết trong quá trình sản xuất Tích luỹ tài sản gồm hàng hoá sửdụng nhiều lần trong sản xuất và có giá trị lớn
Chi phí trung gian luôn được tính theo giá sử dụng, nghĩa là bao gồm cảphí vận tải và cả các loại chi phí khác do đơn vị sản xuất phải trả để đưa nguyên,nhiên vật liệu,v.v… vào sản xuất Trong khi đó chỉ tiêu giá trị sản xuất có thểđược tính theo 3 loại giá (giá cơ bản, giá bán của người sản xuất, giá sử dụng)
Giá trị tăng thêm theo ngành kinh tế bằng hiệu giữa giá trị sản xuất và chiphí trung gian Giá trị sản xuất tính theo giá nào thì chỉ tiêu giá trị tăng thêmcũng tính theo giá đó Giá trị tăng thêm theo ngành kinh tế được biểu thị theocông thức sau:
Giá trị tăng thêm = Giá trị sản xuất – Chi phí trung gian
Tổng sản phẩm trong nước tính theo phương pháp sản xuất bằng tổng giátrị tăng thêm của tất cả các ngành kinh tế cộng với thuế nhập khẩu hàng hoá vàdịch vụ Dưới dạng công thức Tổng sản phẩm trong nước (GDP) được biểu thịnhư sau:
GDP = Tổng giá trị tăng thêm + Thuế nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ Tổng sản phẩm trong nước luôn được đánh giá theo giá sử dụng Nếu giátrị tăng thêm tính theo giá cơ bản thì tổng sản phẩm trong nước được tính nhưsau:
GDP = Tổng giá trị tăng thêm theo giá cơ bản + Thuế sản phẩm trừ trợcấp sản phẩm + Thuế nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ
Trang 11Nếu giá trị tăng thêm tính theo giá sản xuất thì tổng sản phẩm trong nướcđược tính như sau:
GDP = Tổng giá trị tăng thêm theo giá sản xuất + Thuế giá trị gia tăng(VAT) phải nộp + Thuế nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ
Phương pháp thu nhập
Như trên đã nói tổng sản phẩm trong nước tính theo phương pháp thunhập bằng tổng các yếu tố như thu nhập của người lao động từ sản xuất; thuế trừ
đi trợ cấp sản xuất; khấu hao tài sản cố định; thặng dư/ thu nhập hỗn hợp
Tài khoản quốc gia 1993 định nghĩa thu nhập của người lao động từ sảnxuất như sau: “Tổng thù lao bằng tiền và hiện vật mà đơn vị sản xuất phải trảcho người lao động do người lao động đã làm việc cho đơn vị sản xuất trong kỳhạch toán Thu nhập của người lao động từ sản xuất bao gồm tiền lương thựcnhận (bằng tiền và hiện vật) và phần bảo hiểm xã hội đơn vị sản xuất nộp thayngười lao động
Phương pháp sử dụng
Tổng sản phẩm trong nước tính theo phương pháp sử dụng bằng tiêu dùngcuối cùng của hộ gia đình và của nhà nước cộng với tích luỹ tài sản và cộng vớichênh lệch xuất, nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ Dưới dạng công thức, tổng sảnphẩm trong nước tính theo phương pháp sử dụng được viết như sau:
GDP = Tiêu dùng cuối cùng + Tích luỹ tài sản + Chênh lệch xuất nhậpkhẩu hàng hoá và dịch vụ (lưu ý kiểm tra xem đúng như giáo trình không nhé)giáo trình không có phần này, cái này em xem trên mạng thì đúng nha
Tiêu dùng cuối cùng là một phần của tổng sản phẩm trong nước sử dụng
để thoả mãn nhu cầu cho đời sống, sinh hoạt của cá nhân, dân cư, hộ gia đình vànhu cầu tiêu dùng chung của xã hội Tiêu dùng cuối cùng gồm 2 phần:
- Tiêu dùng cuối cùng của hộ gia đình
- Tiêu dùng cuối cùng của Nhà nước
Chỉ tiêu GDP là một chỉ báo kinh tế tổng hợp, phản ánh một cách khátoàn diện sức mạnh kinh tế của một quốc gia hay vùng lãnh thổ, vì vậy các nhàkinh tế thường sử dụng chỉ tiêu này để so sánh trình độ phát triển kinh tế vớinhau thông qua chỉ tiêu GDP
Để so sánh chỉ tiêu GDP giữa các nước, GDP được tính chuyển sang 1đơn vị tiền tệ quốc tế thống nhất (USD) theo hai cách:
-Tính theo tỷ giá hối đoái thực tế
-Tính theo sức mua tương đương
Trang 12Các nước càng có mức giá phản ánh đúng quan hệ cung - cầu trên thịtrường thì kết quả tính toán giữa 2 phương pháp này càng ít có chênh lệch
Khi xếp hạng theo 2 cách tính này (tính theo đầu người) có khác nhau:
- Trung Quốc: 117 (theo tỷ giá hối đoái) và 85 (theo sức mua tươngđương)
- Hợp chủng quốc Hoa Kỳ: 4 (theo tỷ giá hối đoái) và 3 (theo sức muatương đương)
- Việt Nam: 142 (theo tỷ giá hối đoái) và 113 (theo sức mua tương đương)
Số liệu năm 2002, theo phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam Qua đó, ta thấy mức sống thực tế trong nước của 3 nước này cao hơn sovới thông thường bằng giá trị tiền; mặt bằng giá cả trong nước của họ tương đốithấp so với thị trường quốc tế Trái lại tình hình lại khác đi đối với Xing-ga po
và Nhật Bản, cho thấy mức sống thực tế ở 2 quốc gia này khó khăn hơn và mặtbằng giá cả trong nước tương đối cao so với thị trường quốc tế
- Singapore: 15 (theo tỷ giá hối đoái) và 21 (theo sức mua tương đương)
- Nhật Bản: 2 (theo tỷ giá hối đoái) và 12 (theo sức mua tương đương)
So sánh chỉ số giá trị tổng sản phẩm cho thấy tiềm lực kinh tế một nước,tuy nhiên mức độ chính xác của chỉ số này còn phụ thuộc vào tỷ giá hối đoáidùng để quy đổi so sánh Năm 2000, GDP của Việt nam được xếp thứ 58 trong
số 180 nước trên thế giới Giá trị tổng sản phẩm tính theo đầu người
Giá trị tổng sản phẩm tính theo đầu người là một chỉ số phản ánh mứcsống của người dân nói chung Tuy nhiên đây là chỉ số bình quân, nó không chobiết rõ giá trị này được phân chia thế nào trong xã hội, ai là người được hưởngnhiều hơn, hơn bao nhiêu Vì vậy, việc so sánh chỉ số này với chỉ số chênh lệch
về thu nhập sẽ cho biết nhiều thông tin về xã hội, chỉ số này cao và chênh lệchthu nhập thấp cho thấy một nền kinh tế phát triển bền vững
II MỐI QUAN HỆ GIỮA GDP VÀ TỶ LỆ TIẾT KIỆM
1 Mô hình Harrod - Domar
Mô hình này giải thích mối quan hệ giữa tốc độ tăng trưởng kinh tế vớiyếu tố tiết kiệm và đầu tư vốn
Để xây dựng mô hình, các tác giả đưa ra 2 giả định:
- Lao động đầy đủ việc làm, không có hạn chế với cung lao động
- Sản xuất tỷ lệ với khối lượng máy móc