1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

MỘT số CHỈ số sọ mặt CHÍNH TRÊN PHIM đo sọ mặt NGHIÊNG ở NGƯỜI VIỆT từ 18 đến 25 TUỔI tại TỈNH BÌNH DƯƠNG năm 2017

102 117 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 6,39 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các chỉ số mô cứng:...59Trong nghiên cứu của chúng tôi, các chỉ số về khoảng cách N-ANS, ANS-Me, N-Me, I-NA, i-NB và GI-ANS được đưa vào nghiên cứu...59 Lựa chọn góc SNA, SNB và ANB để đ

Trang 1

-*** -NGUYỄN VŨ TRUNG

MỘT SỐ CHỈ SỐ SỌ MẶT CHÍNH TRÊN PHIM ĐO SỌ MẶT

NGHIÊNG Ở NGƯỜI VIỆT TỪ 18 ĐẾN 25 TUỔI

TẠI TỈNH BÌNH DƯƠNG NĂM 2017

LUẬN VĂN BÁC SĨ CHUYÊN KHOA II

HÀ NỘI – 2018

Trang 2

NGUYỄN VŨ TRUNG

MỘT SỐ CHỈ SỐ SỌ MẶT CHÍNH TRÊN PHIM ĐO SỌ MẶT

NGHIÊNG Ở NGƯỜI VIỆT TỪ 18 ĐẾN 25 TUỔI

TẠI TỈNH BÌNH DƯƠNG NĂM 2017

Chuyên ngành : Răng Hàm Mặt

LUẬN VĂN BÁC SĨ CHUYÊN KHOA II

Người hướng dẫn khoa học:

1 PGS.TS TRƯƠNG MẠNH DŨNG

2 PGS.TS VŨ MẠNH TUẤN

HÀ NỘI – 2018

Trang 3

Trong quá trình học tập, nghiên cứu để hoàn thành luận văn này tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của nhà trường, các thầy cô giáo, các anh chị, bạn bè đồng nghiệp và gia đình.

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới:

PGS.TS Trương Mạnh Dũng PGS.TS Vũ Mạnh Tuấn là hai người thầy

đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu để tôi hoàn thành luận văn này.

Các thầy cô trong hội đồng khoa học thông qua đề cương và bảo vệ luận văn đã đóng góp nhiều ý kiến quý báu cho tôi từ khi xây dựng đề cương nghiên cứu đến khi hoàn thiện luận văn.

Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu Trường Đại Học Y Hà Nội Ban lãnh đạo Viện Đào Tạo Răng Hàm Mặt, Bộ môn Chỉnh hình răng mặt, Phòng đào tạo và quản lý khoa học Viện Đào Tạo Răng Hàm Mặt, Phòng Sau đại học Trường Đại Học Y Hà Nội, đã tạo nhiều điệu kiện thuận lợi cho tôi học tập và hoàn thành luận văn này.

Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến gia đình, những người thân

và bạn bè đồng nghiệp đã luôn giúp đỡ, động viên tôi rất nhiều trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu

Hà Nội ngày 31 tháng 10 năm 2018

Học viên

Nguyễn Vũ Trung

Trang 4

Tôi là Nguyễn Vũ Trung, học viên lớp chuyên khoa II khóa 30, chuyênngành Răng Hàm Mặt, xin cam đoan:

1 Đây là luận văn do bản thân tôi trực tiếp thực hiện dưới sự hướng dẫncủa PGS.TS Trương Mạnh Dũng và PGS.TS Vũ Mạnh Tuấn

2 Công trình này không trùng lặp với bất kỳ nghiên cứu nào khác đãđược công bố tại Việt Nam

3 Các số liệu và thông tin trong nghiên cứu là hoàn toàn chính xác,trung thực và khách quan, đã được xác nhận và chấp thuận của cơ sởnơi nghiên cứu

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật về những cam kết này

Hà Nội ngày tháng năm 2018

Học viên

Nguyễn Vũ Trung

Trang 5

Bản cam kết

Mục lục

Danh mục bảng

Danh mục hình

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1 3

TỔNG QUAN 3

1.1 Sơ lược lịch sử nhân trắc học 3

1.2 Lịch sử sử dụng phim sọ mặt trong nghiên cứu nhân trắc 5

1.3 Các phim sọ mặt từ xa trong nghiên cứu đặc điểm nhân trắc đầu mặt 7

1.3.1 Các điểm mốc mô cứng – các góc – các mặt phẳng 7

1.3.2 Các điểm mốc mô mềm và góc thường được sử dụng để phân tích thẩm mỹ 13

1.3.3 Các mốc đo, mặt phẳng và góc liên quan đến xương hàm dưới và cằm trong phân tích Ricketts [10] 15

1.3.4 Đặc điểm phân tích Steiner 18

1.4 Một số nghiên cứu nhân trắc học đầu mặt trên phim X quang từ xa .20

1.4.1 Trên thế giới 20

1.4.2 Ở Việt Nam 24

1.5 Một số đặc điểm về người Kinh 18 đến 25 tuổi tại Bình Dương 26

Chương 2 27

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27

2.1 Đối tượng nghiên cứu 27

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 28

2.2.1 Thời gian nghiên cứu: 28

Trang 6

2.3 Phương pháp nghiên cứu 28

2.4 Cỡ mẫu nghiên cứu 28

2.5 Phương tiện nghiên cứu 29

2.5.1 Vật liệu và trang thiết bị nghiên cứu 29

2.5.2 Kỹ thuật chụp phim sọ-mặt kỹ thuật sọ nghiêng từ xa 30

2.6 Các bước nghiên cứu 31

2.6.1 Lập danh sách đối tượng nghiên cứu 32

2.6.2 Khám sàng lọc và lập danh sách đối tượng nghiên cứu 32

2.6.3 Tiến hành chụp phim đo sọ mặt nghiêng 32

2.6.4 Đo đạc và ghi nhận các chỉ số trên phim thông qua phần mềm đo phim 33

2.7 Các chỉ số nghiên cứu 33

2.7.1 Đặc điểm chung của đối tượng 33

- Tỷ lệ % đối tượng nam, nữ giới 33

- Tỷ lệ % đối tượng có tương quan xương loại I, loại II và loại III theo ANB 34

2.7.2 Các chỉ số nghiên cứu cho mục tiêu 1 34

- Giá trị trung bình của góc… 34

2.7.3 Các chỉ số nghiên cứu cho mục tiêu 2 34

- Hệ số tương quan r giữa mối tương quan giữa góc FMIA và khoảng cách Ls-E 34

- Hệ số tương quan r giữa khoảng cách i-NB và khoảng cách E và Li-S 34

- Hệ số tương quan r giữa mối tương quan giữa góc FMIA và khoảng cách Ls-E 34

- Hệ số tương quan r giữa mối tương quan giữa góc ANB với góc Pn-N’-Pg’, N’-Sn-Pn-N’-Pg’, N’-Pn-Pg’ 34

Trang 7

2.9 Xử lý và phân tích số liệu 38

2.10 Sai số và biện pháp khống chế sai số 39

2.10.1 Sai số 39

2.10.2 Cách khống chế sai số 39

2.10 Đạo đức nghiên cứu 40

Chương 3 41

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 41

Nghiên cứu trên 265 đối tượng sinh viên tuổi từ 18-25 đang học tập tại một số trường Đại học, Cao đẳng tại Bình Dương, qua việc chụp phim sọ mặt nghiêng và xử lý, phân tích các chỉ số đo đạc, chúng tôi thu được một số kết quả theo mục tiêu nghiên cứu như sau: 41

3.1 Một số đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 41

3.1.1 Phân bố theo giới 41

3.2 Định lượng một số chỉ số chính trên phim đo sọ mặt nghiêng ở người Việt từ 18 đến 25 tuổi tại tỉnh Bình Dương năm 2017 (mục tiêu 1) 43

Bảng 3.12: Giá trị trung bình một số tỷ lệ của mô cứng trên phim giữa nam và nữ 50

Bảng 3.12: Giá trị trung bình một số tỷ lệ của mô cứng trên phim theo tương quan xương 50

Bảng 3.14 Tương quan giữa các đường thẩm mỹ (mô mềm) và các góc mô cứng 51

Bảng 3.13 Tương quan giữa các đường thẩm mỹ (mô mềm) và các khoảng cách mô cứng 52

Nhận xét: 52

Trang 8

4.1 Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu 574.1.1 Phân bố theo giới 57Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỉ lệ nam giới và tỷ lệ nữ giới tương đươngnhau (đều chiếm gần 50%), đảm bảo độ chính xác và mặt tin cậy về mặtthống kê khi so sánh các chỉ số giữa 2 giới Tương đồng với nghiên cứu củatác giả Trần Tuấn Anh (2017) nghiên cứu trên người Kinh tại Hà Nội [29] 57Mặt khác, tất cả đối tượng này đều có cùng một lứa tuổi từ 18-25 tuổi và cómôi trường sống và học tập gần giống nhau phù hợp với yêu cầu nghiên cứunhân trắc học và có thể đại diện cho người trưởng thành vì phần lớn cácnghiên cứu đều cho rằng phức hợp sọ mặt đều trưởng thành trước 16 tuổi[30] 57Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ nam giới và nữ giới tham gia nghiêncứu là tương đương nhau với tỷ lệ lần lượt là 49,1% và 50,9% Tỷ lệ này cóthể đại diện được cho độ chính xác và tin cậy về mặt thống kê khi so sánh cácchỉ số giữa hai giới Tất các cả đối tượng này đều có độ tuổi từ 18-25 và cómôi trường sống, địa lý giống nhau (cùng ở tỉnh Bình Dương) là yếu tố phùhợp đối với nghiên cứu nhân trắc học và mang tính đại diện 574.1.2 Phân loại tương quan xương theo ANB 57Phân tích các chỉ số mô cứng là mục đích đầu tiên, quan trọng nhất trongphân tích phim sọ nghiêng Nghiên cứu định lượng về sự thay đổi các cấu trúctrên phim sọ nghiêng được B Holy Broadbent thực hiện năm 1931 Trải quagần 100 năm phát triển của phim sọ nghiêng, rất nhiều nhà khoa học đã tiếnhành các nghiên cứu phân tích các chỉ số sọ mặt và đưa ra các phương pháp

Trang 9

4.2.1 Các chỉ số mô cứng: 59

Trong nghiên cứu của chúng tôi, các chỉ số về khoảng cách N-ANS, ANS-Me, N-Me, I-NA, i-NB và GI-ANS được đưa vào nghiên cứu 59

Lựa chọn góc SNA, SNB và ANB để đánh giá xương hàm trên và xương hàm dưới chưa tìm thấy sự khác biệt về giá trị trung bình giữa các góc này giữa nam và nữ Điều này cho thấy độ nhô của mặt trên mô cứng giữa nam và nữa ở tỉnh Bình Dương không có sự khác nhau Kết quả nghiên cứu của chúng tôi tương đồng với kết quả nghiên cứu của Trần Tuấn Anh (2016) [31], Võ Trương Như Ngọc (2013) [32] và Đỗ Thị Thu Loan (2008) [33] 60

Trong nghiên cứu của chúng tôi, giá trị trung bình góc SNA, SNB và ANB cũng nằm trong giới hạn cao của giá trị trung bình, tương tự như kết quả nghiên cứu của Trần Tuấn Anh (2016) [31] Có thể nhận định rằng các đối tượng trong mẫu nghiên cứu của chúng tôi không vẩu 60

So sánh với các nghiên cứu trong nước [8], [29], [31], [34] 60

Chỉ số 60

Nguyễn Vũ Trung 60

(2017) 60

N=265 60

Trần Tuấn Anh 60

(2016) 60

N=100 60

Nguyễn Thị Phương Thảo 60

Trang 10

Võ Trương Như Ngọc 60

(2010) 60

N=143 60

Võ Thị Kim Liên 60

(2007) 60

N=35 60

SNA 60

83,7±2,4 60

82,6±3,2 60

83,9±2,5 60

84,14±3,11 60

SNB 60

80,5±3,2 60

79,4±3,5 60

80,5±3,39 60

80,76±3,53 60

ANB 60

3,2±0,9 60

3,3±1,9 60

3,2±2,3 60

3,35±2,24 60

Trang 11

của các tác giả khác 60

So sánh với các chủng tộc khác [29] 60

Chỉ số 60

Nhóm người Việt Nam tại Bình Dương 60

(n=265) 60

Người Nhật Bản 60

(n=90) 60

Người Hàn Quốc 60

(n=80) 60

Người Ấn Độ 60

(n=50) 60

SNA 60

81,3 60

81,2 60

84,1 60

SNB 60

76,8 60

78,7 60

81,9 60

ANB 60

4,5 60

Trang 12

So sánh với kết quả của các nghiên cứu khác trên thế giới cho thấy có sự khácbiệt giữa chỉ số góc mô cứng giữa các chủng tộc người khác nhau 61Góc SNA và SNB được dùng để đánh giá tương quan của xương hàm với nền

sọ, tuy nhiên mặt phẳng SN rất thay đổi theo từng người do vậy chỉ dựa vàogóc này thì không chính xác, trong nắn chỉnh răng cần phải dựa vào một sốgóc khác như góc giữa mặt phẳng SN và mặt phẳng khẩu cái (SN với PNS-ANS), mặt phẳng hàm dưới (SN với MP) để phân tích sâu hơn nữa 61Trong nghiên cứu của chúng tôi, để có thể thu thập các chỉ số trên phim sọnghiêng, chúng tôi không áp dụng hoàn toàn một phương pháp cụ thể mà lựachọn từ các phương pháp phân tích các chỉ số phù hợp cho nghiên cứu 61Các góc SNA, SNB, FIMA nhìn chung không có sự khác biệt giữa nam và nữ.Kết quả này tương đồng với kết quả nghiên cứu của Hồ Thị Thùy Trang tiếnhành nghiên cứu trên nhóm sinh viên tại thành phố Hồ Chí Minh 62Trên phim sọ nghiêng, qua các góc đánh giá mối tương quan giữa 2 xươnghàm, xương – răng, răng – răng cho thầy không có sự khác biệt giữa nam và

nữ, điều này cho thấy độ nhô của mặt trên mô cứng giữa nam và nữ không có

sự khác nhau Kết quả nghiên cứu của chúng tôi tương đồng với kết quả của

Võ Trương Như Ngọc [7], [8], [32] và Đỗ Thị Thu Loan [33] nghiên cứu tạiViện đào tạo Răng Hàm Mặt 63KẾT LUẬN 66Giá trị trung bình góc SNA, SNB và ANB cũng nằm trong giới hạn cao củagiá trị trung bình, các đối tượng trong mẫu nghiên cứu của chúng tôi khôngvẩu 67

Trang 14

Bảng 1.1 Các khoảng cách và góc mô mềm thường được sử dụng trên phim

sọ mặt nghiêng từ xa 14

Bảng 1.2 Các nghiên cứu phân tích cấu trúc đầu - mặt trên phim 22

Xquang từ xa [7] 22

Bảng 2.2 Ý nghĩa của hệ số tương quan 40

Bảng 3.2 So sánh giá trị trung bình các khoảng cách (mm) trên phim sọ nghiêng ở nam và nữ 43

*T-test; **Mann-Whitney test 43

Nhận xét: 43

- Nghiên cứu 06 chỉ số khoảng cách điển hình của mô cứng trên phim sọ nghiêng cho thấy: Giá trị trung bình của N-ANS là 50,97±4,40 (mm), ANS-Me: 59,82 ± 5,67 (mm), N-Me là 113,79 ± 7,59 (mm), I-NA là 6,32±2,55 (mm), i-NB là 6,53 ± 2,29 (mm), GI-ANS là 66,56±5,80 (mm) 43

- Trong 06 chỉ số khoảng cách mô cứng trên phim sọ nghiêng, hầu hết các khoảng cách đo được ở nam cao hơn ở nữ, 4/6 chỉ số có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05, t-test và Mann-Whitney test) Chỉ trừ các khoảng cách i-NB (mm) và GI-ANS (mm) là không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa hai giới (p>0,05) 43

Bảng 3.3 So sánh giá trị trung bình các khoảng cách (mm) trên phim sọ nghiêng theo tương quan xương 43

*Krukal-Wallis test 44

Nhận xét: 44

Trang 15

(114,59±7,02) lớn nhất ở người có khớp cắn loại I Giá trị trung bình của chỉ

số i-NB (7,40±2,17) và GI-ANS (67,39±5,69) lớn nhất ở người có khớp cắnloại II Giá trị trung bình của chỉ số ANS-Me (62,27±6,42) và I-NA(8,28±3,81) lớn nhất ở người có khớp cắn loại III 44

- Kết quả nghiên cứu cho thấy có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê đối với cácchỉ số N-ANS, N-Me, I-NA, i-NB (p<0,05; Krukal-Wallis test) ở những người

có khớp căn loại I, loại II và loại III Chưa tìm thấy sự khác biệt có ý nghĩathống kê giữa các chỉ số ANS-Me và GI-ANS ở 3 loại khớp cắn (p>0,05;Krukal-Wallis test) 44Bảng 3.4 So sánh giá trị trung bình các góc mô cứng phản ánh tương quancác xương hàm với nhau và với nền sọ ở nam và nữ 45

*T-test; **Mann-Whitney test 45

- Giá trị trung bình của góc SNA là 83,90±4,98, Giá trị trung bình của gócSNB là 80,82±4,97, Giá trị trung bình của góc ANB là 3,07±2,61 45

- Giá trị trung bình của góc FMIA là 57,58±8,53, Giá trị trung bình của gócF/N-Pg là 87,92±4,67 45Bảng 3.5 So sánh giá trị trung bình các góc mô cứng phản ánh tương quancác xương hàm với nhau và với nền sọ theo tương quan xương 46

*Krukal-Wallis test 46

- So sánh 07 chỉ số góc mô cứng trên phim sọ nghiêng ở 03 loại khớp cắn chothấy giá trị trung bình của chỉ số SNA (85,66±5,49); ANB (5,40±1,32) vàL1/NB (32,49±6,01) lớn nhất ở người có khớp cắn loại II Giá trị trung bình

Trang 16

- Kết quả nghiên cứu cho thấy có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê đối với 07 chỉ số góc mô cứng phản ánh tương quan các xương hàm với nhau và với nền

sọ (p<0,05; Krukal-Wallis test) ở những người có khớp căn loại I, loại II và

loại III 46

Bảng 3.6 So sánh giá trị trung bình các góc mô mềm giữa nam và nữ 47

*T-test; **Mann-Whitney test 47

Nhận xét: 47

Có 04/8 góc mô mềm ở nữ có giá trị trung bình lớn hơn ở nam là Sn-Ls/Li-Pg’, N’-Sn-Sn-Ls/Li-Pg’, Góc Z Các góc mô mềm còn lại ở nữ có giá trị trung bình nhỏ hơn ở nam là Pn-N’-Pg’, Li-B’-Pg’, Cm-Sn-Ls, Pn-N’-Sn Tuy nhiên, sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê (p>0,05, t-test và Mann-Whitney test) 47

Bảng 3.7 So sánh giá trị trung bình các góc mô mềm theo tương quan xương .48

*ANOVA test; **Krukal-Wallis test 48

Nhận xét: 48

- Nghiên cứu 11 chỉ số góc mô mềm cho thấy 8/11 chỉ số góc mô mềm có giá trị trung bình lớn nhất ở nhóm người có khớp cắn loại III và 3/11 chỉ số (Pn-N’-Pg’; Pn-N’-Sn và Cm-Sn-Ls) có giá trị trung bình lớn nhất ở nhóm người có khớp cắn loại II 48

- Kết quả nghiên cứu cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các chỉ

số Gl-Sn-Pg; N’-Sn-Pg’; N’-Pn-Pg’; Pn-N’-Pg’; N’-Pn-Sn; Sn-Ls/Li-Pg’; Góc

Z ở 3 nhóm khớp cắn loại I, loại II và loại III (p<0,05; **Krukal-Wallis test)

Trang 17

**Krukal-Wallis test) 48Bảng 3.11 So sánh giá trị trung bình các khoảng cách từ hai môi đến cácđường thẩm mỹ giữa nam và nữ 49

*T-test; **Mann-Whitney test 49Giá trị trung bình trung bình các khoảng cách từ hai môi đến các đường thẩmmỹ: Li-S là 2,83±2,62; Ls-S là 1,38±2,60; Li-E là 1,88±2,52; Ls-E là-0,44±2,50 49Bảng 3.11 So sánh giá trị trung bình các khoảng cách từ hai môi đến cácđường thẩm mỹ theo tương quan xương 50

*Krukal-Wallis test 50

- Tỷ lệ Gl-ANS/ANS-Me trung bình là 1,07±0,12 và N-ANS/N-Me là0,45±0,03 50

*Krukal-Wallis test 51Giá trị trung bình góc Cm-Sn-Ls là 97,89±14,19 (nam 98,02; nữ 97,76) có sựkhác biệt với người Châu Âu (nam 90-95o và nữ 95-110o) 63Kết quả nghiên cứu của chúng tôi về các chỉ số mô mềm cho thấy, giá trịtrung bình góc môi cằm Li-B’-Pg’là 133,09± 14,85, so với nghiên cứu củaTrần Anh Tuấn ( Giá trị trung bình của Li-B’-Pg’là 133,43 ở nam và 134,87 ởnữ) là tương đồng [29] Kết quả này lớn hơn so với kết quả nghiên cứu củaScheiderman ở người Châu Âu (nam 122, nữ 128) [5] Như vậy, chúng tôithấy góc môi cằm ở nam và nữa của chúng tôi lớn hơn Điểm B’ ở đối tượngnghiên cứu của chúng tôi ít lõm hơn, hay cằm của các đối tượng trong mẫunghiên cứu của chúng tôi ít nhô ra trước hơn so với người Châu Âu 64

Trang 18

Nhĩ Kỳ [41], [42] Tuy nhiên có nhiều điểm tương đồng với nghiên cứu trênngười Nhật của Alcade R.E năm 2000 [43]và người Trung Quốc 644.3 Tương quan giữa các chỉ số mô cứng và mô mềm trên phim đo sọnghiêng 64

Trang 19

Hình 1.1 Phim chụp sọ nghiêng [] 6

Hình 1.2 Các điểm mốc giải phẫu trên phim sọ mặt nghiêng từ xa [7] 8

Hình 1.3 Các mặt phẳng tham chiếu trên mô cứng [7] 12

Hình 1.4 Các điểm mốc mô mềm [7] 14

Hình 1.5: Góc SNA, SNB, ANB 19

Trang 20

ĐẶT VẤN ĐỀ

Xã hội ngày nay đang liên tục phát triển, đời sống hiện đại ngày càngđược nâng cao, vì thế một vẻ đẹp hoàn thiện đang trở thành mối quan tâmhàng đầu của con người trong đó thẩm mỹ khuôn mặt là một thành tố quantrọng góp phần tạo nên vẻ đẹp hoàn thiện đồng thời cũng tạo nên những đặcđiểm, tính cách riêng cho mỗi cá nhân, từ đó hình thành nên những nét đặctrưng riêng cho các cá nhân, vùng miền khác nhau [1]

Các giá trị nhân trắc học sọ - mặt có thể được thu thập bằng nhiều cách.Ngoài việc dùng cho nghiên cứu nhân trắc đơn thuần, các số đo và chỉ số đạidiện cho từng nhóm dân tộc còn được dùng vào nhiều ứng dụng khác nhau:chế tạo phương tiện lao động, phương tiện bảo hộ phù hợp với kích thước vàhình dáng của đầu; để nhận dạng cá thể trong khoa học hình sự dựa trên ngânhàng dữ liệu nhân trắc sọ; nhân chủng và khảo cổ học; chẩn đoán và điều điềutrị trong y khoa nói chung và trong chuyên ngành răng hàm mặt nói riêng

Phim sọ mặt đã được sử dụng từ lâu trong chẩn đoán và điều trị rănghàm mặt, phim cho phép làm hiện rõ hơn các điểm mốc mô cứng và mềm nhờ

có phân giải tốt hơn Hơn nữa, máy chụp lại được kết hợp với các phần mềm

đo đạc, tính toán chính xác, cho phép lưu giữ và xử lý số liệu thuận tiện Dựatrên loại phim này, có thể đo được nhiều kích thước (góc và đoạn thẳng) để từ

đó thực hiện được các phân tích sọ mặt khác nhau tùy theo mục đích chẩnđoán và điều trị

Tuổi từ 18 đến 25 có thể coi là một lứa tuổi đặc trưng và đại diện chongười trưởng thành Đã có rất nhiều các nghiên cứu ở lứa tuổi này trong nướccũng như ngoài nước đưa ra được các chỉ số về hình thái và kích thước cungrăng Số liệu nhân trắc đầu mặt ở độ tuổi này vì thế khá quan trọng Ngoài tácdụng phục vụ cho các yêu cầu ứng dụng khác nhau của độ tuổi này, khi so

Trang 21

sánh với các giá trị ở các độ tuổi khác sẽ cho phép nhận ra được các quy luậttăng trưởng.

Trên thế giới đã có rất nhiều nghiên cứu khác nhau để mô tả các đặc điểmnhân trắc đầu của các chủng tộc khác nhau bằng phim chụp sọ mặt như Tweed(1954), Downs (1956), Steiner (1960), Ricketts (1961), nhận định Wits(1975), Mc Namara (1984) [2],[3],[4],[5],[6]

Phân tích qua phim đo sọ mặt nghiêng được đánh giá là phương pháp hữuhiệu và đáng tin cậy trong chẩn đoán, lập kế hoạch điều trị và can thiệp răng hàmmặt Chính vì thế, việc có được các giá trị nhân trắc sọ mặt trên người Việt nóichung và ở độ tuổi trưởng thành nói riêng là rất cần thiết

Ở Việt Nam, hiện nay chúng ta vẫn chưa có các số đo, chỉ số đầu mặttrung bình đáng tin cậy trên phim X quang của người Việt Nam ở các lứa tuổi.Mặc dù đã có một số nghiên cứu nhỏ lẻ nhưng do hạn chế về cỡ mẫu nên các

số liệu hiện có chưa thể coi là có tính đại diện

Xuất phát từ những nhu cầu thực tiễn nhóm nghiên cứu tiến hành nghiêncứu quy mô lớn, nằm trong đề tài cấp nhà nước, để có thể đưa ra được một bộ

số liệu chính xác, hoàn thiện và mang tính đặc trưng cao cho người Việt Nam

Chúng tôi chọn đề tài: “Một số chỉ số sọ mặt chính trên phim đo sọ mặt nghiêng ở người Việt từ 18 đến 25 tuổi tại tỉnh Bình Dương năm 2017”

nhằm mục tiêu:

1 Định lượng một số chỉ số chính trên phim đo sọ mặt nghiêng ở người

Việt từ 18 đến 25 tuổi tại tỉnh Bình Dương năm 2017.

2 Phân tích mối tương quan giữa các chỉ số mô cứng và mô mềm trên

phim đo sọ nghiêng ở nhóm đối tượng trên.

Trang 22

Chương 1 TỔNG QUAN

1.1 Sơ lược lịch sử nhân trắc học

Thời kỳ Phục hưng, với Leonardo Da Vinci (1452 - 1519) là đại diện

tiêu biểu, có sự tập trung nghiên cứu những tỷ lệ cơ thể và khuôn mặt đượccho là lý tưởng và ứng dụng những tiêu chuẩn đó vào những tác phẩm nghệhội họa và điêu khắc Bức tranh nổi tiếng về hình người trong vòng tròn củaông minh họa cho những tỷ lệ được mô tả bởi tác giả người La Mã: Vitruvius.Theo Da Vinci, ở khuôn mặt cân đối thì: kích thước của miệng bằng khoảngcách từ đường giữa 2 môi tới cằm, tỷ lệ giữa 3 tầng mặt bằng nhau, chiều caocủa tai bằng chiều cao của mũi Dù đưa ra những chuẩn khá nghiêm ngặt về tỷ

lệ lý tưởng, ông cũng không phủ nhận sự khác biệt và tính đa dạng vốn cógiữa các cá thể [7]

Vào các Thế kỷ XVIII – XIX, hầu hết các phép đo khuôn mặt đượcthực hiện trực tiếp trên sọ và chỉ một số ít phần mềm được đo, với mục đíchchủ yếu là nhằm cố tìm ra các khác biệt nhân trắc giữa các các chủng tộc haytầng lớp xã hội, hay chứng minh sự tiến hóa loài

Nhân trắc học đã có từ rất lâu đời, tuy nhiên nó thực sự phát triển vàođầu thế kỷ XX khi Fisher sáng lập ra môn duy truyền quần thể Vào nhữngnăm 20 của thế kỷ này, Rudolf Martin phân tích nhân trắc học thông qua hệthống số liệu toán học, đề xuất hệ thống phương pháp và dụng cụ đo kíchthước cơ thể người Ông được coi là nhà đặt nền móng cho nhân trắc học hiệnđại Quá tình phát triển nhân trắc học do Rudolf Martin nghiên cứu đã giànhđược nhiều thành tựu lớn

Trang 23

Thế kỷ XX trở thành thời kì của những tỉ lệ và phép đo khách quan,nhưng phương pháp nghiên cứu vẫn chỉ là đo trực tiếp bằng các loại thước.Phải tới năm 1931, khi Holy Broadbent (1894 - 1977) xử dụng phim X –quang sọ mặt để nghiên cứu các cấu trúc sọ mặt một cách gián tiếp thì phim

sọ mặt từ xa mới chính thức trở thành một phương tiện gián tiếp để nghiêncứu nhân trắc sọ mặt Mario Gonzalez Ulloa (1912 - 1995) nhấn mạnh tầmquan trọng của nét mặt nhìn nghiêng [6]

Nhân trắc học là môn khoa học cổ điển ra đời từ rất sớm trong lịch sửhình thành xã hội loài người và đang ngày càng phát triển Nghiên cứu hìnhthái - thể lực của con người được xem như một bộ phận của sinh học cơ thể,

nó cũng có lịch sử tồn tại và phát triển hết sức phong phú thể hiện trên nhiềulĩnh vực như sự tăng trưởng, phát triển, đặc trưng theo chủng tộc, giới tính

Nhân trắc học con người Việt Nam được nghiên cứu lần đầu tiên vàonăm 1875 do Mondiere thực hiện trên trẻ em Vào những năm 30 của thế kỷ

20 tại Viện Viễn Đông Bác cổ, sau đó là tại trường Đại học Y khoa ĐôngDương (1936 - 1944) đã xuất hiện một số công trình nghiên cứu về vấn đề

này Tác phẩm "Những đặc điểm nhân chủng và sinh học của người Đông Dương" của P Huard, A Bigot và "Hình thái học Người và giải phẫu thẩm

mỹ học" của P Huard và Đỗ Xuân Hợp, Đỗ Xuân Hợp được xem là những

công trình đầu tiên nghiên cứu về hình thái người Việt Nam Tuy số lượngchưa nhiều, nhưng các tác phẩm này đã nêu được các đặc điểm nhân trắc củangưòi Việt Nam đương thời

Đặc biệt nghiên cứu tổng thể mới nhất về các chỉ số sinh học ngườiViệt Nam thập kỷ 90 do GS.TSKH Lê Nam Trà cùng với các cộng sự đã cho

ta cái nhìn mới nhất và cụ thể nhất về thực trạng hình thái - sinh lý người ViệtNam đương đại Có thể coi đây là những thông số cập nhật nhất về các chỉ sốsinh học của người Việt Nam hiện nay Năm 2003 công trình “Các giá trị sinh

Trang 24

học người Việt nam thập kỷ 90 thế kỷ 20” đã được hoàn thành và nó đã nhanhchóng trở thành cẩm nang của các nhà nhân chủng học Việt Nam Tuy nhiênviệc tìm hiểu các giá trị nhân trắc theo vùng sinh thái vẫn là một khoảngtrống, trong khi đó ảnh hưởng của các yếu tố sinh thái lên hình thái người làrất quan trong lại chưa được nhiều nghiên cứu đề cập đến một cách tổng thể

và hệ thống những năm 90 của thế kỷ trước, nhân trắc học sọ mặt chủ yếuđược nghiên cứu bằng cách đo đạc trực tiếp trên xương sọ hay trên ngườisống Những tác giả tiêu biểu ở thời kỳ này là Nguyễn Quang Quyền, Lê GiaVinh, Thẩm Hoàng Điệp, Lê Hữu Hưng Trong vòng hơn 20 năm trở lại đây,

đo đạc trên phim sọ mặt rồi ảnh chụp kỹ thuật số đã trở nên các phương phápđược dùng đến nhiều hơn, giúp cho số liệu nhân trắc trên người Việt Nam trởnên ngày càng phong phú Công trình nghiên cứu tiêu biểu sử dụng nhiềuphép đo để phân tích nhiều khía cạnh của cấu trúc sọ mặt mới được công bố

là của Võ Trương Như Ngọc [8]

1.2 Lịch sử sử dụng phim sọ mặt trong nghiên cứu nhân trắc

Năm 1931, Holly Broadbent (Mỹ) và Hofrath (Đức) giới thiệu về phim

sọ nghiêng với mục đích nghiên cứu các hướng phát triển của phức hợp sọmặt (H 1.1) Nhưng rất nhanh chóng, nó được sử dụng với mục đích đánh giá

sự cân đối của hàm mặt và làm sáng tỏ cơ sở giải phẫu của khớp cắn Hàngloạt những nghiên cứu về mặt đã được đánh giá qua phân tích trên phim Một

số phân tích được thực hiện với mục đích đưa ra các chuẩn đồng thời được sửdụng để xác định phương án điều trị trong chỉnh nha như các phân tích củaTweed (1954), Steiner (1960) và Ricketts (1961) [10] Một số phân tích khácvới mục đích tìm hiểu về khớp cắn, ổ răng hoặc cấu trúc xương Các phân tíchnày cũng cố gắng làm sáng tỏ sự ảnh hưởng qua lại giữa các cấu trúc sọ mặttrong quá trình phát triển tự nhiên, như các các phân tích của Bjork (1947)[9],Downs (1948) [Error: Reference source not found], Enlow (1971)[Error:

Trang 25

Reference source not found] và McNamara (1984)[Error: Reference sourcenot found].

Hình 1.1 Phim chụp sọ nghiêng []

Phân tích phim sọ mặt cho phép chúng ta xác định được dạng mặt Tuynhiên, dạng mặt và các bất thường không phải khi nào cũng gắn liền nhau, vìnhiều trường hợp có lệch lạc xương nhưng khớp cắn hoàn toàn bình thường.Nghiên cứu về tương quan xương cũng cho phép chúng ta định hướng đượcđiều trị nhờ vào phân tích mối liên quan xương trong mặt phẳng đứng ngang

và đứng dọc giữa giúp chúng ta có thể phân biệt được lệch lạc do xương hàmhay xương ổ răng

Không giống các loại phim XQ khác, phim chụp sọ mặt từ xa có đặcđiểm hết sức riêng biệt Phim chụp sọ sẽ không có nhiều ý nghĩa nếu khôngbiết phiên giải chúng Muốn phim có ý nghĩa phải đánh dấu những điểm mốcrồi từ đó xác định các đường thẳng, các góc thể hiện sự liên quan giữa chúng

Trang 26

với nhau Nói một cách khác đó chính là quá trình chuyển biến hầu hết nhữngthông tin thu được trên phim thành những con số dễ hiểu, dễ phân tích vàquản lý, thống kê Các điểm mốc được định ra phải đủ hai tính chất: đặc trưng

So với đo trực tiếp và đo trên ảnh chuẩn hóa, ưu điểm vượt trội của đotrên phim sọ mặt là đánh giá được mô xương bên dưới và mối tương quangiữa mô cứng và mô mềm, vấn đề đánh giá mô mềm hạn chế hơn Khi đánhgiá thẩm mỹ, các tác giả thường sử dụng các góc mô mềm và các đường thẩm

sử dụng:

Trang 27

Hình 1.2 Các điểm mốc giải phẫu trên phim sọ mặt nghiêng từ xa [7]

- Điểm N hoặc Na (Nasion): Chỗ giao nhau của các đường khớp gianmũi và mũi - trán trên mặt phẳng dọc giữa

- Điểm Ba (Basion): Điểm dưới nhất của bờ trước lỗ chẩm

- Điểm S (Sella Turcica) Điểm giữa của hố yên xương bướm

- Điểm Po hoặc Pr (Porion): Điểm cao nhất của bờ trên ống tai ngoài

- Điểm Or (Orbitale): Điểm thấp nhất của bờ dưới hốc mắt

- Điểm ANS (Anterior nasalspine – Điểm gai mũi trước): Nằm ở bờ dướicủa lỗ mũi trước (lỗ xương) trên mặt phẳng dọc giữa

- Điểm PNS (Posterior nasal spine – Điểm gai mũi sau): Điểm sau nhấtcủa khẩu cái cứng trên mặt phẳng dọc giữa

- Điểm A (Subspinale): Điểm lõm nhất trên đường giữa ở mặt trướcxương ổ răng hàm trên

Trang 28

- Điểm B (Submetal): Điểm lõm nhất trên đường giữa ở mặt trước xương

ổ răng hàm dưới

- Điểm D: Điểm trung tâm của cằm, không tính đến bờ xương ổ răng vàrăng cửa

- Điểm trên Ptm: Điểm cùng của khe chân bướm – hàm trên

- Điểm Pg hoặc Pog (Pogonion): Điểm trước nhất của cằm trên mặtphằng dọc giữa

- Điểm Me (Menton): Điểm dưới nhất của cằm trên mặt phẳng dọc giữa

- Điểm Gn (Gnathion): Điểm cắt nhau của đường Npog và mặt phẳng MP

- Điềm Go (Gonion): điểm dưới nhất và sau nhất của góc hàm dưới, làđiểm cắt nhau của đường tiếp tuyến với bờ sau của ngành xương hàm dưới(không tính đến lồi cầu) và mặt phẳng hàm dưới MP

Ngoài các điểm mốc giải phẫu nói trên, còn có các điểm sau là điểm phát sinh:

- Điểm Ar (Articulare): Giao điểm giữa bờ sau ngành xương hàm dưới và

bờ dưới của nền sọ sau (phần xương chẩm)

- Điểm E: Hình chiếu của điểm xa nhất của lồi cầu trên đường SN.

- Điểm L: Hình chiếu của điểm Pog trên đường SN

- Điểm DC: Điểm giữa cổ lồi cầu nơi đường nối N- Ba cắt ngang qua, đi

qua những điểm nổi bật ở mặt, mũi, cằm, gò, má, môi

- Điểm CC: Điểm cắt nhau giữa trục m ặt và đường N-Ba.

- Điểm CF: Điểm cắt nhau của mặt phẳng Frankfort với đường thẳngđứng tiếp tuyến với mặt sau của khe chân bướm hàm trên

Một số điểm khác

1 R1: Điểm sau nhất trên bờ trước ngành xương hàm dưới

2 R2: Điểm đối diện với R1 trên bờ sau ngành xương hàm dưới

3 R3: Điểm thấp nhất của khuyết xích-ma

4 R4: Điểm đối xứng với R3 ở vùng góc hàm

5 Điểm préGo (Prégonion): Điểm dưới nhất của ngành xương hàm dưới

Các góc

Trang 29

- Các góc sử dụng để đánh giá mối tương quan của xương

1 Góc SNA: Đánh giá tương quan theo chiều trước sau của xương hàm trên

4 Góc Ar-Go-Me(GHD): Góc xương hàm dưới

5 Góc MP/SN: Góc giữa mặt phẳng hàm dưới với mặt phẳng nền sọ

6 Góc Pal/ MP: Góc giữa mặt phẳng khẩu cái và mặt phẳng hàm dưới

7 Góc FMA: Góc tạo bởi mặt phẳng FH và mặt phẳng MP

8 Góc mặt: Góc dưới-trong tạo bởi mặt phẳng F và đường NPog (mặtphẳng mặt): đánh giá tương quan của cằm so với nền sọ

9 Góc lồi: Góc tạo bởi đường đường thẳng NA và đường Apog

10 Góc giữa mặt phẳng A-B và đường Npog

11 Góc tạo bởi trục Y và mặt phẳng Francfort

12 Góc SN/ GoGn: Góc tạo bởi đường SN và đường GoGn (mặt phẳng hàm dưới)

13 Góc Edmondo Muzi: Là một góc xương được xác định bằng chụp TeleProfil với tổ chức mềm Góc này được hình thành bởi một đường thẳng điqua điểm nhô nhất của xương trán, qua gai mũi trước và điểm Pogonionxương Góc này khoảng 1400 – 1800, trung bình là 1620

14 Góc mặt Camper: Xác định bởi điểm giao nhau giữa một đường thẳngchạy từ ống tai ngoài đến gai mũi trước, và một đường thẳng chạy từ gaimũi trước đến điểm nhô cao nhất của trán Góc này trung bình khảng 800

- Các góc sử dụng để đánh giá mối tương quan giữa răng và xương

1 Góc U1/SN: Góc giữa trục răng cửa trên với mặt phẳng nền sọ

2 GócU1/Pal: Góc giữa trục răng cửa trên với mặt phẳng khẩu cái

3 Góc L1/MP: Góc giữa trục răng cửa dưới với mặt phẳng hàm dưới

4 Góc U1/NA: Góc nghiêng răng cửa trên với tầng giữa mặt

5 Góc L1/ NB: Góc nghiêng răng cửa dưới với tầng dưới mặt

6 Góc occ/SN: góc giữa mặt phẳng cắn và đường SN

Trang 30

7 Góc IMPA: Góc tạo bởi mặt phẳng hàm dưới và trục răng cửa dưới.

8 Góc FMIA: Góc tạo bởi mặt phẳng Francfort và trục răng cửa dưới

9 Góc occl/FH: Đánh giá độ nghiêng của mặt phẳng cắn

10 Góc i/MP: Góc tạo bởi trục răng cửa hàm dưới và mặt phẳng hàm dưới

11 Góc i/occl: Góc tạo bởi trục răng cửa dưới và mặt phẳng cắn

12 Độ lồi của răng cửa trên: Khoảng cách tính từ rìa cắn răng cửa trên đếnđường APog

13 I to NA: Khoảng cách tính từ điểm trước nhất của thân răng cửa hàmtrên đến đường NA theo hướng trực giao

14 I to NA: Khoảng cách tính từ điểm trước nhất của thân răng cửa hàmdưới đến đường NA theo hướng trực giao

15 Pog to NB: Khoảng cách tính từ điểm Pog đến đường NB theo hướngtrực giao

- Các góc sử dụng đánh giá mối tương quan răng-răng

1 Góc I/i (góc liên răng cửa): Góc giữa trục răng cửa trên và răng cửadưới (đánh giá tương quan giữa răng cửa trên và răng cửa dưới)

- Các mặt phẳng tham chiếu của mô cứng:

1 Mặt phẳng SN (Sella-Nasion): Mặt phẳng đi qua điểm S và N

2 Mặt phẳng FH (Francfort Horizontal): Mặt phẳng đi qua điểm Po và Or

3 Mặt phẳng cắn (Occ): Mặt phẳng đi qua điểm giữa độ cắn phủ của rănghàm lớn thứ nhất và độ cắn phủ răng cửa

4 Mặt phẳng PtV: Mặt phẳng vuông góc với mặt phẳng Francfort và điqua điểm Pt

5 Mặt phẳng nền sọ Ba-N: Mặt phẳng đi qua điểm Ba và N

6 Mặt phẳng khẩu cái (Pal): Mặt phẳng đi qua điểm ANS và PNS

7 Mặt phẳng hàm dưới (MP): Có bốn cách xác định là mặt phẳng đi quađiểm Gn và Go; Go và Me, mặt phẳng tiếp tuyến với điểm thấp nhấtcủa hàm dưới song song với trục của thân xương hàm dưới; mặt phẳng

Trang 31

Downs phía sau tiếp tuyến với góc hàm nơi thấp nhất, phía trước tiếptuyến với điểm thấp nhất của cằm

Các kích thước trên mụ cứng

N- ANS, ANS-Me, N-Me, GL-ANS, I-NA, I-NB, Ls-S, Ls-E, Li-S, Li-E

Hình 1.3 Các mặt phẳng tham chiếu trên mô cứng [7]

SN FH Pal Occ MP

Trang 32

1.3.2 Các điểm mốc mô mềm và góc thường được sử dụng để phân tích thẩm mỹ

1 Điểm Gla’ hoặc Gl’ (Glabela): Điểm lồi nhất của trán, tương ứng với bờcủa ổ mắt theo mặt phẳng dọc giữa

2 Điểm Tr (Tritrion): Điểm chân tóc nằm trên đường giữa của trán

3 Điểm N’: Điểm sau nhất của mô mềm vùng khớp trán mũi theo mặtphẳng dọc giữa

4.Điểm Pn (Pronasale): Điểm đỉnh mũi là điểm nhô nhất của mũi

5.Điểm Cm (Columella point): Điểm trước nhất của trụ mũi

6 Điểm Sn (Subnasale): Điểm dưới mũi, điểm chân vách ngăn dưới mũi vàmôi trên, là điểm sau nhất và cao nhất của góc mũi môi

7 Điểm Gn’: Điểm dưới nhất của mô mềm vùng cằm trên mặt phẳng dọc giữa.8.Điểm Me’: Điểm dưới nhất của mô mềm vùng cằm

9 Điểm Pg’ (Pogonion): Điểm nhô nhất của mô mềm vùng cằm

10 Điểm Ls (Lip superius): Điểm môi trên, điểm nhô nhất của đường viềnmôi trên theo mặt phẳng dọc giữa

11 Điểm Li (Lip inferius): Điểm môi dưới, điểm nhô nhất của đường viềnmôi dưới theo mặt phẳng dọc giữa

12.Điểm Sto (Stominon): Điểm nối liền môi trên và môi dưới trên mặtphẳng dọc giữa khi hai môi khép nhẹ và răng ở tư thế cắn tự nhiên 13.Điểm B’: Điểm lồi nhất của môi dưới trên mặt phẳng dọc giữa

14.Điểm C: Điểm giao nhau giữa đường viền cổ và bờ dưới cằm

Trang 33

Hình 1.4 Các điểm mốc mô mềm [7]

Bảng 1.1 Các khoảng cách và góc mô mềm thường được sử dụng

trên phim sọ mặt nghiêng từ xa

3 Chiều dài chân mũi Pn-Sn4 Chiều cao môi dưới St-B

5 Chiều cao mặt dưới Sn-Gn’6 Chiều cao môi đỏ trên môi đỏ dưới Ls-Li

7 Chiều cao mặt đặc biệt

8 Chiều cao môi trên môi đỏ dưới

Sn-Li

9 Chiều cao mặt đặc biệt

N’-Gn’10 Khoảng cách từ điểm lồi nhất của

11 Chiều cao mặt trên

N’-Sto12 Khoảng cách từ điểm lồi nhất của

13 Chiều cao xương hàm

14 Khoảng cách từ điểm lồi nhất của

15 Chiều cao nhân trung

Sn-Ls16 Khoảng cách từ điểm lồi nhất của

môi dưới đến đường S Li to S

Trang 34

2 Độ nghiêng mũi Goc giữa tiếp tuyến của sống mũi và đường thẳng qua Gl’

đo sọ của Ricketts cho phép nghiên cứu sâu về: 1 Hình thái sọ mặt của bệnhnhân để xác định type mặt 2 Các vị trí và các liên quan của các hợp phầnkhác nhau của các cấu trúc răng – hàm – mặt

Các điểm mốc trên xương sọ của Ricketts:

Gn (Gnathion): Điểm giao cắt giữa các mặt phẳng mặt và hàm dưới

Trang 35

PM (Protuberance menti): Điểm lồi cằm hay điểm trên Pogonion, điểm

mà tại đó khớp dính cằm chuyển từ lõm sang lồi

Pog (Pogonion): Điểm trên khớp dính cằm tiếp tuyến với mặt phẳng mặt.Điểm PO: Điểm giao của mặt phẳng mặt và trục xương hàm dưới

Điểm TI: Điểm giao của mặt phẳng cắn và mặt phẳng mặt

Điểm C1 (Điểm lồi cầu – Condyle): Điểm trên chỏm lồi cầu mà tiếp xúc

và tiếp tuyến với mặt phẳng ngành hàm dưới,

Điểm CC (Center of cranium – Trung tâm nền sọ): Điểm giao của mặtphẳng nasion – basion và trục mặt

Điểm CF (Center of face): Điểm giao của PtV (pterygoid vertical –đường thẳng đứng qua bờ trước gốc mỏm chân bướm hay bờ sau khe chânbướm – hàm trên) với mặt phẳng Frankfort

Điểm Pt: Tương ứng bờ trước gốc mỏm chân bướm, chỗ nối giữa đầutrên khe chân bướm – hàm trên và lỗ tròn

Điểm DC (Dead center of condyle): Điểm ở trung tâm cổ lồi cầu, trênmặt phẳng nasion-basion

Các mặt phẳng/đường và góc:

Mặt phẳng N – Ba

Trục mặt của Ricketts (Gn-Pt): Một đường nối Gnathion với Pt

Góc trục mặt của Ricketts (N-Ba - Gn-Pt): Góc sau dưới được tạo nênbởi chỗ giao cắt của trục mặt của Ricketts và đường N-Ba Góc này có giá trịtrung bình khoảng 90 độ Giá trị nhỏ hơn 90 độ cho thấy mặt chủ yếu theo chiềuthẳng đứng hay mẫu loại II, trong khi đó một giá trị lớn hơn 90 độ chứng tỏ mộtmẫu phát triển theo chiều nằm ngang hay khuynh hướng loại III

Điểm Xi: Điểm trung tâm hình học của ngành hàm dưới

Trục lồi cầu (condylar axis): Đường nối các điểm Dc tới Xi;

Trang 36

Trục thân hàm dưới (Axis of mandibular corpus): Đường nối các điểm

Xi và Pm

Cung hàm dưới (mandibular arc): Được tạo nên giữa phần kéo dài ra sau củatrục thân xương hàm dưới (Pm-Xi) và trục lồi cầu (Dc-Xi) Góc lớn cho biết hàmdưới khỏe và vuông (mặt ngắn) Giá trị trung bình của góc là 26° ± 2°

Mặt phẳng mặt (facial plane): Mặt phẳng đi qua các điểm N và Pog).Góc sâu mặt (facial depth angle): Góc dưới và sau được tạo nên bởi sựcắt nhau của mặt phẳng Frankfort (FH) và mặt phẳng mặt (N-Pog) Góc nàykhoảng 90 độ Góc này là chỉ dấu phát triển của xương hàm dưới: Góc tăngcho thấy vị trí ra trước của Pog (type mặt ngắn) trong khi góc giảm chứng tỏ

sự thụt ra sau của cằm (type mặt dài) Góc sâu mặt tăng 1o cho mỗi ba nămkhi xương hàm dưới đang phát triển ra trước và xuống dưới Sự thay đổi theotuổi chủ yếu là do mức độ tăng trưởng khác nhau của nền sọ trước so với thânxương hàm dưới Số đo trung bình ở ngưởi trưởng thành là 90o

Góc mặt phẳng hàm dưới (Mandibular plane angle): Góc tạo nên bởi sựgiao cắt nhau của mặt phẳng hàm dưới và mặt phẳng Frankfort Góc này chobiết độ nghiêng của thân xương hàm dưới và giá trị của nó phụ thuộc vào hìnhdạng và vị trí của xương hàm dưới trong phức hợp sọ mặt Góc mặt phẳnghàm dưới cao gặp ở bệnh nhân mặt dài với hệ cơ yếu; góc thấp gặp ở bệnhnhân mặt ngắn với hệ cơ khỏe Giá trị góc là 26° ± 4° lúc 9 tuổi và cứ mỗi 3năm giảm 1° cho tới trưởng thành

Cao mặt dưới (Lower facial height): Góc tạo bởi sự giao cắt nhau của 2đường: đường nối ANS với Xi và trục thân xương hàm dưới (Xi-Pm), ANS-Xi-Pm Góc lớn hơn cho thấy sự phân ly giữa các xương hàm hay chiềuhướng tăng trưởng theo chiều thẳng đứng (mẫu mặt dài) Giá trị góc thấp hơngợi ý mẫu phát triển mặt theo chiều nằm ngang (mặt ngắn)

Các số đo của Ricketts để định vị cằm trong không gian

Trang 37

1.3.4 Đặc điểm phân tích Steiner

Steiner nhấn mạnh sự khó khăn trong việc xác định vị trí điểm Porion

và sự thay đổi tương đối của nó, có thể được quan sát trên phim X Quang Khiđiểm Porion và Orbital đều là những điểm nằm ở hai bên của sọ, vị trí của haiđiểm này sẽ bị thay đổi khi đầu đối tượng nghiêng trong lúc chụp phim Dovậy nó sẽ ảnh hưởng tới hướng của mặt phẳng Frankfort Mặt khác, việc xácđịnh điểm S và điểm Na thuộc mặt phẳng dọc giữa cơ thể làm tăng độ chínhxác khi xác định các tương quan

Tuy dễ xác định, nhưng mặt phẳng SNa lại thay đổi theo từng cá thể.Mặt phẳng SNa có thể dốc lên hoặc dốc xuống làm tương quan xương hàm sovới xương bị thay đổi và mặt phẳng SNa ngắn hay dài có thể làm tương quanhai hàm không còn chính xác nữa Do đó trong nhiều trường hợp cần phốihợp với các phân tích khác

Steiner tổng hợp rằng ở những bệnh nhân không còn phát triển xương,

và tương quan xương không thể thay đổi, nó có thể không thể là bộ răng đượcsửa chữa theo tiêu chuẩn lý tưởng Để điều trị răng theo tình trạng chấp nhậnrằng sẽ che giấu sự biến dạng của xương nằm phía dưới càng nhiều càng tốt làđiều cần thiết

Mặt khác, giống như Reidel, Steiner [11] là người đã phổ biến gócANB vào năm 1959 trong một bài báo của ông Góc này đã được chấp nhậnrộng rãi như là một phương pháp có ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giátương quan xương hai hàm theo chiều trước sau [12] và hiện nay góc này vẫn

là giá trị trên phim sọ nghiêng từ xa được sử dụng phổ biến nhất trong chẩn

Trang 38

đoán và điều trị của các bác sỹ phẫu thuật chỉnh hình hàm mặt tại Việt Nam.Góc ANB là góc giữa đường thẳng NA (Nasion – Subspinal) và đường thẳng

NB (Nasion – Submental) Góc này được xác định bằng cách đo trực tiếphoặc bằng cách lấy góc SNA trừ đi góc SNB

Trang 39

Vì lý do đó, phân tích của Steiner nên sử dụng khi đánh giá người trưởngthành với sự phát triển xương gần như ngừng lại.

Tuy nhiên những chỉ số đo đạc sử dụng trong phân tích được dựatrên mẫu là những Người Mỹ da trắng và có thể không được áp dụng như làmột tiêu chuẩn cho chẩn đoán và điều trị cho các chủng tộc khác Người

Mỹ da trắng đến chủ yếu từ Anh, Ba Lan, Đức, Pháp, Tây Ban Nha…(Steiner 1953) Mặt phẳng Hố yên - Gốc mũi được đưa làm mặt phẳngtham chiếu Phân tích Steiner chỉ nên được sử dụng làm định hướng chứkhông là giá trị tuyệt đối cho mỗi bệnh nhân Vì vậy để chẩn đoán và điềutrị dựa vào định hướng của phân tích Steiner, cần thiết phải dựa vào tiêuchuẩn đặc trưng của quần thể Do vậy nhu cầu cấp thiết là phải nghiên cứuđưa ra những chỉ số riêng cho quần thể người Việt

1.4 Một số nghiên cứu nhân trắc học đầu mặt trên phim X quang từ xa

1.4.1 Trên thế giới

Đã có rất nhiều nghiên cứu trên thế giới đề cập đến vấn đề nhân trắc học như:Bronfman CN và cộng sự nghiên cứu tổng hợp và so sánh một cách hệthống những nghiên cứu trên phim sọ nghiêng trước đây với người Nhật Bản,với mục tiêu xác định các thông số trên phim sọ nghiêng và quan điểm vềthẩm mỹ của một khuôn mặt hài hòa cho người dân Nhật Bản, nghiên cứu chothấy đặc trưng của người dân Nhật Bản là kiểu mặt ít lồi do xương, cằm có xuhướng lùi sau và răng cửa trên đưa ra trước, và quan điểm thẩm mỹ khuônmặt có xu hướng giống với người da trắng [155]

Rathore AS, Dhar V, Arora R và cộng sự nghiên cứu sử dụng phân tíchSteiner nhằm xác định các giá trị trung bình cho trẻ em Mewari ở Rajasthan,

từ đó so sánh với những giá trị tiêu chuẩn của người da trắng So sánh chothấy trẻ em Mewari có sự lùi sau xương hàm dưới so với nền sọ, xương hàmtrên và răng cửa đưa ra trước, cằm không rõ nét [166]

Trang 40

Benedicto Ed và cộng sự đã nghiên cứu trên phim sọ nghiêng để phântích mối tương quan có thể có giữa các biện pháp khác nhau trong việc đưa rađịnh nghĩa của các loại mặt thẳng, nghiên cứu cho thấy phân tích phim sọnghiêng thường trình bày giải thích khác nhau về sự mô tả của các loại mặtthẳng, trong nghiên cứu này, sự kém đồng thuận nhất để đánh giá mặt thẳng làgiữa góc Sn-GoGn và chỉ số Jarabak.

Yung-Seop Lee, Hyoungjin Moon và cộng sự nghiên cứu sự hấp dẫn củakhuôn mặt người Ấn Độ [17], Direk FK, Deniz M, Uslu AI, Doğru S nghiêncứu các đặc điểm nhân trắc học và sự thay đổi của những đặc điểm đó liênquan đến lứa tuổi ở phụ nữ [18], Packiriswamy V, Bashour M, Nayak Snghiên cứu đặc điểm nhân trắc vùng mũi phụ nữ Ấn Độ [19]

Cũng có nghiên cứu phân tích các chỉ số của khuôn mặt qua phim sọnghiêng từ xa nhằm đưa ra các chỉ số sọ mặt cơ bản như: Người châu Âu(Miyajima và cộng sự 1996), Người châu Phi (Conner và cộng sự 1985),Người Nhật Âu (Miyajima và cộng sự 1996), Người Trung Quốc (Lew vàcộng sự 1992), Người Mông Cổ (Ji-Hwan và cộng sự 2011), Người Hàn Quốc(Ji-Hwan và cộng sự 2011), Người Ấn Độ (Nanda 1969), Người Malay (Foo

và Woon, 1983 & 1984)… Nghiên cứu phim sọ nghiêng của những dân tộckhác nhau kể cả nghiên cứu của Chan ở Trung Quốc, Garda ở người Mexico,Negroes và Park ở người Hàn Quốc trưởng thành đã chỉ ra những đo đạc bìnhthường của nhóm chủng tộc này không thể coi là bình thường của nhómchủng tộc khác Những nhà nghiên cứu như Fujio Miura ở Nhật và Carlos JGarcia ở Mỹ đã công bố những giá trị bình thường của phân tích Steiner [20].Nghiên cứu trên một nhóm người trưởng thành trẻ ở Chhattisgarh Ấn

Độ với mặt ngoài cân đối và khớp cắn hạng I, cắn chùm cắn chìa tối thiểu vàkhông điều trị chỉnh hình răng qua phim sọ nghiêng và sử dụng phân tích củaSteiner (các gõ SNA, SNB, góc răng cửa trên và dưới tương ứng lần lượt sovới NA, NB, góc giữa 2 răng cửa, góc mặt phẳng khớp cắn và SN, góc SN-

Ngày đăng: 12/07/2019, 15:50

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. MohammadY. H. (2002). Three-dimensional imaging in orthognathic surgery: The clinical application of a new method. Int. J. Aldult. Ortho.Orthognath. Surg, 17, 300-318 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Int. J. Aldult. Ortho."Orthognath. Surg
Tác giả: MohammadY. H
Năm: 2002
3. Anusha V (2005). Comparison of different soft tissue analyses in the evaluation of Beauty in South Idian Adults, Degree of Master of dental surgery Sách, tạp chí
Tiêu đề: Comparison of different soft tissue analyses in theevaluation of Beauty in South Idian Adults
Tác giả: Anusha V
Năm: 2005
4. Reed A. Holdaway (1983). A soft tissue cephalometric analysis and it’s use in orthodontic treatment planning. Am J. Orthod, 84(1), 1-28 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Am J. Orthod
Tác giả: Reed A. Holdaway
Năm: 1983
5. Scheideman G.B., Bell W.H. and Legan H.L (1980). Cephalometric analysis of dentofacial normals. Am J. Orthod and Dent Orthop, 78, 404-420 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Am J. Orthod and Dent Orthop
Tác giả: Scheideman G.B., Bell W.H. and Legan H.L
Năm: 1980
6. Steiner CC. (1953). Cephalometric for you and me. Am J Orthor, 39, 729-755 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Am J Orthor
Tác giả: Steiner CC
Năm: 1953
7. Võ Trương Như Ngọc (2014). Phân tích kết cấu đầu mặt và thẩm mỹ khuôn mặt, Nhà Xuất bản Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích kết cấu đầu mặt và thẩm mỹkhuôn mặt
Tác giả: Võ Trương Như Ngọc
Nhà XB: Nhà Xuất bản Giáo dục Hà Nội
Năm: 2014
8. Võ Trương Như Ngọc (2010). Nghiên cứu đặc điểm kết cấu sọ mặt và đánh giá khuôn mặt hài hòa ở một nhóm người Việt độ tuổi 18-25.Luận án tiến sỹ y học, Trường Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đặc điểm kết cấu sọ mặt vàđánh giá khuôn mặt hài hòa ở một nhóm người Việt độ tuổi 18-25
Tác giả: Võ Trương Như Ngọc
Năm: 2010
9. Bjork A. (1955). Cranial base development, Am. J. Orthod., 41, 198 Sách, tạp chí
Tiêu đề: J. Orthod
Tác giả: Bjork A
Năm: 1955
10. Ricketts R. M. (1961). Cephalometric analysis and synthesis, Angle Orthod, 31, 141 –145 Sách, tạp chí
Tiêu đề: AngleOrthod
Tác giả: Ricketts R. M
Năm: 1961
11. Proffit W.R (2007), Malocclusion and dentofacial Denformity edition, Elsevier Inc, p1-5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Elsevier Inc
Tác giả: Proffit W.R
Năm: 2007
12. Vinay Kumar, Shobha Sundareswaran (2014), Cephalometric assess- ment of sagittal dysplasia: A review of twenty-one methods. The Journal of Indian Orthodontic Society, 48(1):33-41 Sách, tạp chí
Tiêu đề: TheJournal of Indian Orthodontic Society
Tác giả: Vinay Kumar, Shobha Sundareswaran
Năm: 2014
13. Robert S. Freeman (1981), Adjusting ANB angle to reflect the effect of Maxillary position, The Angle Orthodontist, 51(2):162-171 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Angle Orthodontist
Tác giả: Robert S. Freeman
Năm: 1981
14. Jacobson A (1975). The Wits appraisal of jaw disharmony. American Journal of Orthodontics; 67(2):125-138 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of Orthodontics
Tác giả: Jacobson A
Năm: 1975
1. Lê Hữu Hưng (1994), Các đặc điểm mô tả của sọ Việt hiện đại, Hình thái học, 4(1), 15-17 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w