OULA PHOMMAHASAYKIẾN THỨC, THỰC HÀNH PHÒNG BIẾN CHỨNG CỦA NGƯỜI BỆNH TĂNG HUYẾT ÁP ĐIỀU TRỊ TẠI BỆNH VIỆN TỈNH XIÊNG KHOẢNG - LÀO NĂM 2019 VÀ YẾU TỐ LIÊN QUAN LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG
Trang 1OULA PHOMMAHASAY
KIẾN THỨC, THỰC HÀNH PHÒNG BIẾN CHỨNG CỦA NGƯỜI BỆNH TĂNG HUYẾT ÁP ĐIỀU TRỊ TẠI BỆNH VIỆN TỈNH XIÊNG KHOẢNG - LÀO
NĂM 2019 VÀ YẾU TỐ LIÊN QUAN
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
HÀ NỘI - 2019
Trang 2OULA PHOMMAHASAY
KIẾN THỨC, THỰC HÀNH PHÒNG BIẾN CHỨNG CỦA NGƯỜI BỆNH TĂNG HUYẾT ÁP ĐIỀU TRỊ TẠI BỆNH VIỆN TỈNH XIÊNG KHOẢNG - LÀO
NĂM 2019 VÀ YẾU TỐ LIÊN QUAN
Chuyên ngành : Y tế công cộng Mã số: 60720301
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
Người hướng dẫn khoa học:
1 PGS TS VŨ KHẮC LƯƠNG
2 TS TRƯƠNG THỊ THANH QUÝ
HÀ NỘI - 2019
Trang 3Trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này, tôi đã nhậnđược rất nhiều sự giúp đỡ của các đơn vị, quý thầy cô, các anh chị em đồngnghiệp người thân trong gia đình và bạn bè.
Trước hết tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, Viện Đào tạo Yhọc dự phòng và Y tế công cộng, Bộ môn quản lý y tế, Phòng quản lý đào tạosau Đại học Trường Đại học Y Hà Nội đã cho phép và tạo điều kiện thuận lợicho tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn
Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn đến PGS TS Vũ Khắc Lương
và TS Trương Thị Thanh Quý người thầy cô đã luôn đồng hành, quan tâm,hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ tôi tận tình trong suốt quá trình nghiên cứuhoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc Bệnh Viện Tỉnh Xiêng Khoảngđã phối hợp tạo điều kiện cho tôi được học tập, nâng cao trình độ chuyên môn
và giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập số liệu tại thực địa, tôi xin gửi lời cảm
ơn các cán bộ để tôi có thể thực hiện luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp, các bạn học viên lớp
CH 26 - YTCC đã giúp đỡ, chia sẻ và đóng góp nhiều ý kiến quý báu cho tôitrong suốt quá trình học tập và hoàn thành tốt luận văn này
Tôi xin vô cùng cảm ơn gia đình đã luôn ở bên và hỗ trợ tôi trong suốtquá trình học tập
Một lần nữa tôi xin trân trọng cảm ơn!
Bệnh Viện Tỉnh Xiêng Khoảng, ngày 06 tháng 6 năm 2019
Oula PHOMMAHAXAY
Trang 4Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các sốliệu và kết quả trong luận văn là kiến thức, thực hành phòng biến chứng củangười bệnh tăng huyết áp điều trị tại Bệnh Viện tỉnh Xiêng Khoảng Lào năm
2019 và yếu tố liên quan
Học viên
Oula PHOMMAHAXAY
Trang 5BMI : Chỉ số khối cơ thể
CBYT : Cán bộ y tế
CHDCND : Cộng hòa dân chủ nhân dân
HATT : Huyết áp tâm thu
HATTr : Huyết áp tâm trương
ISH : Hội Tăng huyết áp thế giới
(International Society of Hypertension)JNC : Liên ủy quốc gia về dự phòng, phát hiện đánh giá và điều trị
tăng huyết áp (Joint National Committee)STEPS : Giám sát yếu tố nguy cơ của bệnh không lây nhiễm
(STEPwise approach to surveillance of non-communicable diseases)TBMMN : Tai biến mạch máu não
THA : Tăng huyết áp
WHO : Tổ chức y tế thế giới (World Health Organization)
Trang 6ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1: TỔNG QUAN 3
1.1 Một số định nghĩa, phân loại và biến chứng của tăng huyết áp 3
1.1.1 Định nghĩa về tăng huyết áp 3
1.1.2 Các biến chứng của bệnh tăng huyết áp 3
1.2 Kiến thức và thực hành dự phòng biến chứng trong bệnh tăng huyết áp trên thế giới và tại CHDCND Lào 4
1.2.1 Trên thế giới 4
1.2.2 Tại CHDCND Lào 5
1.3 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành dự phòng biến chứng trong bệnh tăng huyết áp 7
1.3.1 Trên thế giới 7
1.3.2 Tại CHDCND Lào 10
1.4 Giới thiệu về địa điểm nghiên cứu 11
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 13
2.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 13
2.2 Đối tượng nghiên cứu 13
2.2.1 Tiêu chuẩn lựa chọn 13
2.2.2 Tiêu chuẩn loại trừ 13
2.3 Phương pháp nghiên cứu 13
2.3.1 Thiết kế nghiên cứu 13
2.3.2 Cỡ mẫu và các chọn mẫu 14
2.3.3 Phương pháp thu thập thông tin 15
2.4 Các chỉ số nghiên cứu và một số tiêu chuẩn đánh giá 16
2.4.1 Các chỉ số nghiên cứu 16
2.4.2 Tiêu chuẩn đánh giá kiến thức, thực hành trong nghiên cứu 23
Trang 72.7 Đạo đức trong nghiên cứu 24
2.8 Hạn chế của nghiên cứu 25
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 26
3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 26
3.2 Kiến thức, thực hành phòng biến chứng của người bệnh tăng huyết áp điều trị tại Bệnh viện tỉnh Xiêng Khoảng - Lào năm 2019 28
3.2.1 Kiến thức phòng biến chứng của người bệnh tăng huyết áp điều trị tại Bệnh viện tỉnh Xiêng Khoảng, Lào năm 2019 28
3.2.2 Thực hành phòng biến chứng ở người bệnh tăng huyết áp điều trị tại Bệnh viện tỉnh Xiêng Khoảng, Lào năm 2019 38
3.3 Yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành phòng biến chứng của người bệnh tăng huyết áp điều trị tại Bệnh viện tỉnh Xiêng Khoảng, Lào năm 2019 41
3.3.1 Yếu tố liên quan đến kiến thức phòng biến chứng THA 41
3.3.2 Yếu tố liên quan đến thực hành phòng biến chứng THA 43
Chương 4: BÀN LUẬN 47
4.1 Kiến thức, thực hành phòng biến chứng của người bệnh tăng huyết áp điều trị tại Bệnh viện tỉnh Xiêng Khoảng – Lào, năm 2019 47
4.1.1 Đặc điểm chung của người bệnh được nghiên cứu 47
4.1.2 Kiến thức phòng biến chứng của người bệnh 49
4.1.3 Thực hành phòng biến chứng ở người bệnh tăng huyết áp điều trị tại Bệnh viện tỉnh Xiêng Khoảng, Lào năm 2019 55
4.2 Yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành thực hành phòng biến chứng của người bệnh trên 58
KẾT LUẬN 63
KIẾN NGHỊ 64 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 9Bảng 2.1 Chỉ số nghiên cứu chung của người bệnh được nghiên cứu 17
Bảng 2.2 Chỉ số nghiên cứu cho mục tiêu 1: Mô tả kiến thức, thực hành phòng biến chứng của người bệnh được nghiên cứu 18
Bảng 2.3 Chỉ số nghiên cứu cho mục tiêu mô tả 2: Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành phòng biến chứng 22
Bảng 3.1 Đặc điểm nhân khẩu học của người bệnh được nghiên cứu 26
Bảng 3.2 Kiến thức về chỉ số THA 28
Bảng 3.3 Kiến thức về thời gian đo huyết áp 29
Bảng 3.4 Kiến thức về các loại biến chứng trong THA 29
Bảng 3.5 Kiến thức về các đối tượng nguy cơ gặp biến chứng THA 30
Bảng 3.6 Kiến thức về biến chứng của THA 31
Bảng 3.7 Kiến thức về nguyên tắc điều trị THA và dùng thuốc hạ áp 32
Bảng 3.8 Kiến thức về lối sống tích cực dự phòng biến chứng THA 32
Bảng 3.9 Kiến thức về dấu hiệu nhận biết các cơn THA kịch phát 33
Bảng 3.10 Kiến thức về xử trí các cơn THA kịch phát 34
Bảng 3.11 Kiến thức về dấu hiệu TBMMN 34
Bảng 3.12 Kiến thức về dấu hiệu suy tim 35
Bảng 3.13 Kiến thức về dấu hiệu suy thận 35
Trang 10Bảng 3.15 Kiến thức về hình thức truyền thông 36
Bảng 3.16 Thực hành tuân thủ điều trị THA 38
Bảng 3.17 Thực hành tuân thủ về người đo huyết áp 39
Bảng 3.18 Thực hành tuân thủ về thời gian theo dõi huyết áp 39
Bảng 3.19 Một số yếu tố liên quan giữa yếu tố nhân khẩu học với kiến thức dự phòng biến chứng THA 41
Bảng 3.20 Một số yếu tố liên quan giữa đặc điểm tình trạng THA với kiến thức dự phòng biến chứng THA 42
Bảng 3.21 Một số yếu tố liên quan giữa yếu tố nhân khẩu học với thực hành dự phòng biến chứng THA 43
Bảng 3.22 Một số yếu tố liên quan giữa đặc điểm tình trạng THA với thực hành dự phòng biến chứng THA 44
Bảng 3.23 Một số yếu tố liên quan giữa kiến thức với thực hành dự phòng biến chứng 45
Bảng 3.24 Các yếu tố liên quan đến kiến thức phòng biến chứng THA trong phân tích đa biến 45
Bảng 3.25 Các yếu tố liên quan đến thực hành phòng biến chứng THA trong phân tích đa biến 46
Bảng 4.1 So sánh kiến thức về lối sống tích cực với nghiên cứu khác 53
Bảng 4.2 So sánh thực hành về lối sống tích cực với nghiên cứu khác 57
Trang 12Biểu đồ 3.1 Tỉ lệ các nguồn thông tin được tiếp cận về THA 27
Biểu đồ 3.2 Tỉ lệ người bệnh được nghiên cứu cho rằng đi khám sức khỏe định kỳ cho phát hiện THA là cần thiết 28
Biểu đồ 3.3 Tỉ lệ người bệnh cho rằng cần thiết điều trị khi bị THA 31
Biểu đồ 3.4 Đánh giá chung về kiến thức dự phòng biến chứng THA 37
Biểu đồ 3.5 Thực hành lối sống tích cực phòng biến chứng THA 40
Biểu đồ 3.6 Đánh giá chung về thực hành phòng biến chứng THA 40
Trang 13ĐẶT VẤN ĐỀ
Tăng huyết áp (THA) là một bệnh mạn tính phổ biến trên thế giới [1]
Nó là gánh nặng bệnh tật chung toàn cầu và là nguyên nhân gây tử vong, tàn tật ở các các nước trên thế giới nói chung và các nước kém phát triển nói riêng [2],[3],[4] Tình hình THA ở Cộng Hòa Dân chủ Nhân dân Lào (sau đâygọi tắt là CHDCND Lào) tăng nhanh trong nhiều năm gần đây [5] Theo số liệu mới nhất của Tổ chức Y tế thế giới (WHO, 2013), tỉ lệ THA ở người trưởng thành đã tăng lên đến 20,4% trên toàn thế giới, nghĩa là cứ 5 người lớnthì có 1 người bị THA [1] Bệnh THA còn gây ra nhiều biến chứng và có thể gây tàn phế, tử vong [6] Theo ước tính của WHO, các biến chứng trong bệnh THA liên quan tới 9,4 triệu ca tử vong mỗi năm, THA gây nên 45% ca tử vong do các bệnh tim mạch và ít nhất 51% số ca tử vong do đột quỵ trên thế giới [1] Một số nghiên cứu ở CHDCND Lào cũng chỉ ra rằng các biến chứng của THA cũng rất đa dạng gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến toàn bộ các cơ quan, nội tạng đặc biệt là tim, não, thận, phổi, mắt, mạch ngoại vi, THA là nguyên nhân chính dẫn đến các bệnh tim mạch, đột quỵ [7],[8]
WHO đã xây dựng phương pháp giám sát các yếu tố nguy cơ của bệnh không lây nhiễm (gọi tắt là STEPS - STEPwise approach to surveillance of non-communicable diseases) và theo báo cáo điều tra STEPS của CHDCND Lào (2008) về các yếu tố nguy cơ của bệnh không lây gần đây cho thấy 83,8%người bệnh mắc THA không tuân thủ quản lý điều trị, không dùng thuốc thường xuyên [9] Tương tự, nghiên cứu khác của Boutsady A và Vang C (2009) cũng chỉ ra rằng các đối tượng đa phần thiếu hiểu biết về các yếu tố nguy cơ của bệnh cũng như những biến chứng dẫn tới việc thực hành phòng biến chứng của bệnh THA còn kém, gây tác động nặng nề đến vấn đề sức khỏe của người dân [10]
Trang 14Về vấn đề này các nghiên cứu tại CHDCND Lào còn rất ít và hầu như chưa có nghiên cứu nào tiến hành tại Xiêng Khoảng, một tỉnh có nền kinh tế,
y tế khó khăn và nằm sát biên giới Việt Nam Ngoài ra, Có nhiều yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ, thực hành dự phòng biến chứng của bệnh THA, trong đó phần lớn các yếu tố nguy cơ có thể kiểm soát được nếu người dân có hiểu biết đúng và thực hành dự phòng đúng cách [11],[12],[13] Do đó, đề tài
“Kiến thức, thực hành phòng biến chứng của người bệnh tăng huyết áp điều trị tại Bệnh viện tỉnh Xiêng Khoảng – Lào, năm 2019 và yếu tố liên quan” được tiến hành với 2 mục tiêu sau:
1 Mô tả kiến thức, thực hành phòng biến chứng tăng huyết áp của người bệnh tăng huyết áp điều trị tại Bệnh viện tỉnh Xiêng Khoảng – Lào, năm 2019.
2 Phân tích một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành phòng biến chứng của người bệnh trên đây.
Trang 15Chương 1 TỔNG QUAN
1.1 Một số định nghĩa, phân loại và biến chứng của tăng huyết áp
1.1.1 Định nghĩa về tăng huyết áp
Theo WHO, một người lớn được gọi là THA khi huyết áp tối đa hay huyết áp tâm thu (HATT) ≥ 140 mmHg và hoặc huyết áp tối thiểu hay huyết
áp tâm trương (HATTr) ≥ 90 mmHg hoặc đang điều trị thuốc hạ áp hàng ngàyhoặc có ít nhất đo 2 lần được bác sĩ chẩn đoán là THA [9]
THA là một bệnh mạn tính trong đó áp lực máu hệ thống động mạch tăng cao, bệnh được phân loại thành các giai đoạn theo từng mức HATT và HATTr [14] Hội THA thế giới (ISH) cùng với WHO đã quy định huyết áp từ140/90 mmHg trở lên được gọi là THA (HATT ≥ 140 hoặc HATTr ≥ 90) [7],[15] Tại CHDCND Lào, theo Bộ Y tế một người trưởng thành (lớn hơn hoặc bằng 18 tuổi) được gọi là THA khi HATT lớn hơn hoặc bằng 140 mmHg và hoặc HATTr lớn hơn hoặc bằng 90 mmHg [5],[8]
1.1.2 Các biến chứng của bệnh tăng huyết áp
Theo chương trình mục tiêu Quốc Gia phòng chống THA, các biến chứng thường gặp của THA đã được đề cập đến như sau: [5],[14],[16],[17],[18],[19]
- Các biến chứng về tim mạch: Cơn đau thắt ngực, dày thất trái, nhồi máu cơ tim, suy tim
- Các biến chứng về não: TBMMN (bao gồm cả xuất huyết não, nhũn não, cơn đột qụy thoáng qua), bệnh não do THA
- Các biến chứng về thận: Đái ra protein, suy thận
- Các biến chứng về mắt: Mờ mắt, xuất huyết, xuất tiết và phù gai thị
- Các biến chứng về mạch máu: Phình hoặc phình tách thành động mạch, các bệnh động mạch ngoại vi
Trang 161.2 Kiến thức và thực hành dự phòng biến chứng trong bệnh tăng huyết
áp trên thế giới và tại CHDCND Lào
1.2.1 Trên thế giới
Theo Malik A và cộng sự tiến hành nghiên cứu trên 209 người bệnh THA điều trị nội trú của một bệnh viện ở Samarkand, Uzbekistan năm 2012 cho thấy: Có 44% người bệnh theo dõi huyết áp tại nhà, 42,5% theo dõi cân nặng của mình và 81,8% đã giảm lượng mối ăn hàng ngày, 82,8% hạn chế uống rượu, 80,9 % không hút thuốc, tỉ lệ nam giới kiểm soát được huyết áp là 26,4% cao hơn nữ giới (21,6%); Có 76,6% xác định đúng mức HATT bình thường và 78,9% xác định đúng mức HATTr bình thường; Trên 2/3 (65,1%) biết từ 3 biến chứng trở lên [20]
Theo Awotidebe TO và cộng sự tiến hành nghiên cứu trên 150 người bệnh THA tại Nigeria, cho thấy: Có 67,3% có kiến thức chưa đạt về việc vận động hợp lý trong việc kiểm soát THA, 74% có thái độ chưa tốt và 60% thực hành chưa đạt về việc vận động hợp lý để kiểm soát huyết áp [21]
Một nghiên cứu của Siraj Ahmad và cộng sự tiến hành trên 354 người bệnh THA tại Ấn Độ, cho thấy: 31,4% vẫn hút thuốc, 15,5% vẫn uống rượu
Có tới 72,3% có kiến thức chưa đạt, 77,7% có thái độ chưa đạt và 82,8% có thực hành chưa đạt về dự phòng biến chứng của bệnh THA [22]
Tại Việt Nam, theo điều tra của Nguyễn Lân Việt, không phải ai cũng biết mình bị THA và có kiến thức và thái độ đúng về nó Trong số những người bị THA thì có tới 52% là không biết mình có bị THA; 30% của những người đã biết bị THA nhưng vẫn không có một biện pháp điều trị nào; và 64% những người có THA đã được điều trị nhưng vẫn chưa đưa được huyết
áp về số huyết áp mục tiêu [12]
Trang 17Trong nghiên cứu của Nguyễn Minh Phương (2011) về tuân thủ điều trị bệnh THA tại cộng đồng ở Hà Nội cũng cho thấy có tới 48,4% số người THA
có kiến thức không đạt về tuân thủ điều trị THA và 55,2% số người bị THA là
có thực hành không đạt về tuân thủ điều trị THA [23]
Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Kim Kế (2013) tiến hành trên người cao tuổi về bệnh và biến chứng của THA cho thấy: Hơn một nửa số đốitượng điều tra có kiến thức tốt về bệnh (50,4%), tuy nhiên, tỉ lệ kiến thức kémcòn khá cao (20,0%) Về thực hành, tỉ lệ đối tượng điều tra có thực hành tốt thấp (19,5%), tỉ lệ thực hành kém cao (45,0%); [24]
Trong nghiên cứu của Ngô Thị Hương Giang (2013) cho thấy: chỉ có 50,4% người bệnh điều trị THA là dùng thuốc kết hợp với thay đổi lối sống, vẫn còn 49,6% người bệnh vẫn thực hiện sai nguyên tắc điều trị [25]
Mặc dù có nhiều nghiên cứu cho thấy kiểm soát huyết áp có hiệu quả cũng làm giảm biến chứng của các bệnh tim mạch và tỉ lệ tử vong Cụ thể, việc kiểm soát huyết áp hiệu quả làm giảm khoảng 40% nguy cơ đột quỵ và 15% nguy cơ nhồi máu cơ tim, nhưng tỉ lệ kiểm soát tốt huyết áp bằng thuốc trên thế giới chỉ đạt từ 25 - 40% do THA thường đi kèm những yếu tố nguy
cơ (YTNC) tim mạch khác như là hút thuốc lá, đái tháo đường (ĐTĐ), tăng lipid máu, béo phì, uống nhiều rượu bia và ăn mặn Các yếu tố nguy cơ này tồn tại đan xen, không được phát hiện và phòng tránh một cách đầy đủ, kết quả lại làm trầm trọng thêm tình trạng THA và biến chứng So sánh với việc dùng thuốc tích cực, thay đổi lối sống đơn thuần cũng đã đạt hiệu quả tương
tự khi dùng thuốc [26]
1.2.2 Tại CHDCND Lào
Bệnh THA là một bệnh rất nguy hiểm tuy nhiên các tìm hiểu về kiến thức, thái độ của người dân nói chung và của người bị THA nói riêng còn
Trang 18chưa có nhiều, điều đó cho thấy sự quan tâm về bệnh THA của người dân trong cộng đồng còn chưa cao
Theo báo cáo điều tra quốc gia (STEPs) của CHDCND Lào (2008) về việc tìm hiểu các yếu tố nguy cơ của bệnh không lây nhiễm gần đây cho thấy
có tới 83,8% người mắc bệnh THA không tuân thủ quản lý điều trị và không dùng thuốc thường xuyên [9]
Ngoài ra, theo kết quả nghiên cứu của Boutsady A và Vang C (2009) tiến hành trên các người bệnh mắc THA tại Bệnh viện Mahosot của thủ đô Viêng Chăn, Lào cũng chỉ ra rằng người bệnh THA đều thiếu hiểu biết về các yếu tố nguy cơ của bệnh cũng như những biến chứng dẫn tới việc thực hành phòng biến chứng của bệnh THA còn hạn chế Thể hiện qua các tỉ lệ còn rất thấp, so với các nghiên cứu trong khu vực, từ đó ta có thể thấy bệnh THA gây tác động nặng nề đến vấn đề sức khỏe của người bệnh và nhân dânnói chung [10]
Năm 2010, tác giả Vang C Khi tiến hành nghiên cứu gánh nặng bệnh tật
do bệnh THA gây ra với người dân của CHDCND Lào trên 787 đối tượng đã cho thấy tỉ lệ đối tượng tuân thủ điều trị bệnh THA thường xuyên để ổn định số đo THA là rất thấp (chưa đến 20%) [5],[27]
Năm 2015, nghiên cứu của tác giả Phatsady V đã tiến hành điều tra trên
340 đối tượng mắc bệnh THA của CHDCND Lào cũng cho thấy chỉ có 18,6%người bệnh có thực hành đạt về dự phòng THA [28]
Cũng trong năm 2015, theo báo cáo của Viện Y tế công cộng Quốc Gia,
Bộ Y tế của CHDCND Lào (2015) về các yếu tố nguy cơ của bệnh không lây nhiễm nói chung và bệnh THA nói riêng của hơn 2500 đối tượng đã chỉ đưa
ra kết quả có tới 66,3% đối tượng không quản lý điều trị dự phòng bệnh THA
và có số đo huyết áp cao, 14,9% có quản lý điều trị dự phòng tuy nhiên số đo huyết áp vẫn ở mức cao Và chỉ có 18,8% đối tượng tuân thủ điều trị thuốc dựphòng và có chỉ số HATT dưới 140mmHg và HATTr dưới 90mmHg [29]
Trang 19Nhìn chung, các kết quả nghiên cứu tại CHDCND Lào còn rất ít và mới chỉ nghiên cứu bước đầu, còn chưa nhiều so với các nước trong khu vực Tuy nhiên, các kết quả này đều đưa ra nhận định chung là phần lớn người bệnh của thủ đô Viêng Chăn đều thiếu kiến thức về phòng chống bệnh THA và cũng như chưa có nhiều đối tượng có khả năng thực hành tốt về dự phòng biến chứng của bệnh THA Ngoài ra, các tỉnh khác còn chưa có nhiều nghiên cứu, báo cáo về vấn đề này.
1.3 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành dự phòng biến chứng trong bệnh tăng huyết áp
1.3.1 Trên thế giới
Kết quả nghiên cứu của Trần Văn Tân (2014) tiến hành trên 600 người bệnh mắc THA từ 25-64 tuổi tại hai xã đảo Nhơn Châu, Nhơn Hội, thành phố Quy Nhơn, Bình Định cho thấy: Có sự khác biệt giữa thực hành phòng chống THA với giới tính, nghề nghiệp, tiền sử gia đình có người bị THA và kiến thức phòng chống THA của người bệnh Cụ thể, nam giới thực hành đúng thấp hơn chỉ bằng 0,3 lần so với nữ (p<0,05) Những người bệnh lao động trí
óc và nghề khác như nội trợ, buôn bán tự do và nghỉ hưu có tỉ lệ thực hành phòng THA cao hơn người bệnh lao động chân tay (p<0,05) Những người gia đình có người bị THA, có tỉ lệ thực hành đúng cao hơn gấp 1,2 lần so với gia đình không có người bị THA (p<0,001) Những người bệnh nghiên cứu cókiến thức đúng thì thực hành đúng gấp 1,8 lần so với người có kiến thức chưa đúng về phòng THA (p<0,05) [30]
Theo nghiên cứu của Trịnh Thị Thúy Hồng (2015) tiến hành trên 204 người bệnh THA điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Đa khoa Tân Yên, Bắc Giang năm 2015 cho thấy: Các yếu tố liên quan đến kiến thức phòng biến chứng THA bao gồm thời gian bị THA, tiền sử gia đình bị THA Những người bị THA từ 5 năm trở lên thì có kiến thức đạt cao gấp 4,23 lần so với
Trang 20những người bị THA dưới 5 năm (p<0,05) Những người mà tiền sử gia đình
có người bị THA thì có khả năng có kiến thức đạt cao gấp 1,83 lần so với những người không có tiền sử gia đình bị THA Có mối liên quan giữa thực hành phòng biến chứng của THA với giới, mức độ huyết áp hiện tại và kiến thức dự phòng biến chứng của người bệnh Nữ giới có thực hành đạt cao gấp 2,53 lần so với nam giới (p<0,05) Những người bệnh có huyết áp hiện tại
<độ 1 thì có thực hành đạt cao gấp 2,48 lần so với người bệnh có huyết áp hiện tại > độ 1 (p<0,05) Có mối liên quan giữa kiến thức và thực hành phòng biến chứng của THA, những người có kiến thức đạt về phòng biến chứng của THA thì có khả năng có thực hành phòng biến chứng của THA đạt cao gấp 2,63 lần so với những người có kiến thức không đạt về phòng biến chứng của THA Mối liên quan này có ý nghĩa thống kê với p<0,05 [19]
Nghiên cứu của Bùi Thị Thanh Hòa (2012) tiến hành nghiên cứu trên
170 người bệnh THA nguyên phát, trên 25 tuổi được quản lý tại phòng khám bệnh viện E Hà Nội năm 2012 cho thấy về kiến thức: Những người từ 40 -59 tuổi có kiến thức về phòng tránh biến chứng của THA đạt cao gấp 1,9 lần những người trên 60 tuổi; Những người có trình độ trên cấp 3 có kiến thức thực hành phòng tránh biến chứng THA đạt cao hơn gấp 2,8 lần những người có trình độ từ cấp 3 trở xuống; Những người bị THA trên 5 năm có kiến thức đạt cao hơn 5,5 lần so với những người bị THA không quá 5 năm (p<0,05) Nhóm có tiền sử từng gặp biến chứng THA có kiến thức đạt cao hơn 3,2 lần nhóm chưa từng gặp biến chứng Về thực hành, có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về thực hành giữa nam và nữ, phụ nữ có khả năng thực hành phòng tránh biến chứng của THA đạt cao hơn nam gấp 2,1 lần Nhóm có tiền sử gặp biến chứng THA
có thực hành đạt cao hơn 28,2 lần nhóm chưa từng gặp biến chứng (p<0,001).Những người có kiến thức về phòng tránh biến chứng của THA đạt thì thực hành phòng biến chứng của THA đạt cao gấp 4,8 lần những người có kiến thức không đạt (p<0,05) [31]
Trang 21Theo nghiên cứu của Trịnh Thị Hương Giang (2015) tiến hành trên 275 người bệnh THA điều trị ngoại trú tại khoa khám bệnh Bệnh viện Đa khoa tỉnh Ninh Bình năm 2015 cho thấy: Những người bệnh được cán bộ y tế (CBYT) giải thích rõ về bệnh và cách phòng tránh biến chứng trong bệnh THA có thực hành đạt cao gấp 2,93 lần những người bệnh không được CBYTgiải thích rõ, mối liên quan này có ý nghĩa thống kê với p<0,05 Những ngườibệnh tiếp cận từ 3 nguồn thông tin trở lên có thực hành phòng biến chứng cao gấp 3,76 lần so với nhóm người bệnh tiếp cận ít hơn 3 nguồn thông tin
(p<0,05) Kiến thức phòng biến chứng trong bệnh THA đạt hay không đạt liên quan đến thực hành phòng biến chứng của THA với tỷ suất chênh khá cao Với nhóm người bệnh có kiến thức phòng biến chứng của THA đạt có thực hành phòng biến chứng gấp 6,68 lần so với nhóm người bệnh có kiến thức không đạt [18]
Theo nghiên cứu của Nguyễn Phan Thạch (2015) tiến hành trên 320 người bệnh THA đang được điều trị tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Định cho thấy: Những người bệnh có trình độ học vấn dưới cấp 3 có thực hành phòng chống không đạt cao hơn 2,45 lần so với nhóm trình độ trên cấp 3 (p<0,05) Những người có nghề nghiệp khác không phải là cán bộ hưu trí thì
có thực hành không đạt cao hơn 2,06 lần so với cán bộ hưu trí (p<0,05) Những người bệnh THA có người thân trong gia đình bị THA hoặc các biến chứng do THA có thực hành đạt cao hơn 2,4 lần so với nhóm không có người thân bị THA (p<0,05) Những người bệnh có kiến thức phòng chống THA không đạt thì thực hành không đạt cao hơn 7,48 lần so với những người bệnh
có kiến thức đạt [32]
Nghiên cứu của Đinh Văn Sơn (2012), Ngô Thị Hương Giang (2013) cũng chỉ ra rằng có mối liên quan có ý nghĩa thống kê (p<0,05) những người sống cùng gia đình có thực hành đạt phòng biến chứng trong bệnh THA cao hơn so với những người sống một mình [25],[33] Những người có kiến thức
Trang 22về phòng tránh biến chứng THA không đạt thì có nguy cơ thực hành phòng biến chứng không đạt cao gấp 7 lần những người có kiến thức đạt [33].
1.3.2 Tại CHDCND Lào
Theo Báo cáo của Viện Y tế công cộng Quốc Gia, Bộ Y tế của
CHDCND Lào (2015) về các yếu tố nguy cơ của bệnh không lây nhiễm trên hơn 2500 đối tượng, chỉ có 18,8% đối tượng tuân thủ điều trị thuốc dự phòng
và có chỉ số HATT dưới 140mmHg và HATTr dưới 90mmHg Nghiên cứu này cũng đã chỉ ra tỉ lệ nữ giới tuân thủ điều trị và dự phòng THA cao hơn so với nam giới [29]
Nghiên cứu của Phatsady V (2015) cũng chỉ là mối liên quan có ý nghĩathống kê giữa thực hành dự phòng biến chứng THA với một số yếu tố như:
Nữ thực hành đúng cao hơn 1,48 lần so với nam; Những người có trình độ học trung cấp trở lên thực hành tốt hơn 2,1 lần so trình độ học vấn thấp hơn trung học phổ thông; Những đối tượng có nghề nghiệp (làm việc với nhà nước, các công ty tư nhân) tốt hơn 2,1 lần so với người nông dân và những người làm nghề buôn bán; những người bệnh đã kết hôn thực hành tốt hơn 1,8lần so với đối tượng có tình trạng độc thân, ly hôn; những đối tượng có thu nhập trong gia đình cao hơn 6.600.000 kịp sẽ thực hành tốt hơn 3,5 lần so với những đối tượng có thu nhập gia đình thấp hơn số tiền đó 3,5 lần; những đối tượng có thời gian bị THA cao kéo dài hơn 10 năm sẽ có khả năng thực hành tốt hơn 3,7 lần so với đối tượng bị tăng huyết áp cao thấp hơn 9 năm và
những người bị nhiễm mỡ máu sẽ thực hành tốt hơn 1,5 lần so với người bị tiêu đường, bệnh hen, viêm xương khớp [28]
Nhìn chung, kết quả của nghiên cứu kể trên đã chỉ ra rằng các yếu tố liênquan đến kiến thức dự phòng biến chứng của THA bao gồm: Tuổi tác, trình
độ học vấn, thời gian mắc THA vv Còn các yếu tố liên quan đến thực hành
dự phòng biến chứng THA bao gồm: Giới tính, trình độ học vấn; nghề
Trang 23nghiệp; mức độ và thời gian mắc THA; tiền sử người bệnh đã bị biến chứng của THA, CBYT giải thích rõ về bệnh và cách phòng biến chứng; người thân nhắc nhở, hỗ trợ trong điều trị phòng biến chứng.
1.4 Giới thiệu về địa điểm nghiên cứu
Tỉnh Xiêng Khoảng là một tỉnh nằm ở miền Bắc của CHDCND Lào, cách thủ độ Viêng Chan 390 cây số Với diện tích 15,880 km2, tổng dân số là 266.839 người và có địa giới phía đông giáp với tỉnh Nghệ An (Việt Nam) dài
165 km, phía tây giáp tỉnh Luang Pha Bang dài 100 km, phía Nam giáp tỉnh Bolikhamxay và tỉnh Xaysomboun có chiều dài 220 km và phía Bắc giáp tỉnh Huaphan dài 160 km
Địa hình phần lớn là vùng núi cao chiếm 90% của tổng diện tích Tỉnh bao gồm 7 đơn vị hành chính như: Thị xã Peak huyện Khoun, huyện Kham, huyện Nong Het, huyện Moc, huyên Phoukhut, huyện Phaxay Đời sống của người dân còn nhiều khó khăn, nhất là về y tế
Bệnh viện tỉnh Xiêng Khoảng là một Bênh viện đa khoa nằm Ở bản Phonesaat huyện Peak, tỉnh Xiêng Khoảng Bệnh viện gồm có 20 khoa phòng
và một trung tâm tim mạch là một bệnh viện quy mô 100 giường bệnh nội trú,
Trang 24120 lượt người bệnh khám mỗi ngày Cơ cấu, Bệnh viện có 7 khoa/phòng khám chữa bệnh, tổng cán bộ là 204 người Trong đó bao gồm: 17 bác sĩ chuyên khoa I, 05 thạc sĩ, 73 bác sĩ đa khoa, điều dưỡng có 75 người và cán
bộ ngành khác 34 người Bệnh viện có 5 nhiệm vụ như sau:
1 Điều trị và phục hồi chức năng;
2 Giáo dục dự phòng và truyền thông sức khỏe;
3 Tập huấn và đào tạo CBYT;
4 Nghiên cứu khoa học y tế;
5 Hỗ trợ bệnh viện cấp dưới làm chăm sóc sức khỏe
Trang 25Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Địa điểm nghiên cứu: Bệnh viện Xiêng Khoảng, Lào.
- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 08 năm 2018 đến tháng 05 năm 2019
2.2 Đối tượng nghiên cứu
Những người bệnh được chẩn đoán THA, đang điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Xiêng Khoảng thuộc tỉnh Xiêng Khoảng, Lào Ngoài ra,
sử dụng sổ khám bệnh để hồi cứu các thông tin
2.2.1 Tiêu chuẩn lựa chọn
- Người bệnh được chẩn đoán THA, đang điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Xiêng Khoảng, Lào
- Có quốc tịch Lào
- Có đầy đủ hồ sơ, sổ khám bệnh theo quy định
- Đồng ý tham gia nghiên cứu
2.2.2 Tiêu chuẩn loại trừ
- Người bệnh có tiền sử hoặc các dấu hiệu về rối loại tâm thần, tinh thần bất thường
- Người bệnh không hợp tác nghiên cứu
- Sổ khám bệnh rách nát, không nhìn rõ
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Thiết kế nghiên cứu
- Sử dụng thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang
2.3.2 Cỡ mẫu và các chọn mẫu
Trang 26Cỡ mẫu: Sử dụng công thức tính cỡ mẫu cho việc ước tính tỉ lệ % như
sau [34]:
n=Z(1−α /2)2 p(1−p )
d2
Trong đó:
- n: Cỡ mẫu nghiên cứu
- p: Tỉ lệ người bệnh có kiến thức và thực hành đạt yêu cầu về phòng biến chứng THA theo nghiên cứu trước đó tại CHDCNDLào, chọn p
Kỹ thuật chọn mẫu: Chọn mẫu thuận tiện.
Nghiên cứu tiến hành thu thập số liệu sau khi được hội đồng đề cương thông qua và phỏng vấn người bệnh trong tất cả các ngày trong tuần Hàng ngày nghiên cứu viên và điều tra viên ngồi tại phòng khám bệnh THA của Bệnh viện Xiêng Khoảng từ thứ 2 đến thứ 6 Bất kỳ người bệnh nào đến xếp
sổ khám bệnh THA đều được hỏi bệnh, mời tham gia vào nghiên cứu, nếu có
đủ tiêu chuẩn sẽ được chọn để phỏng vấn cho đến khi đủ số lượng người bệnhnghiên cứu thì dừng lại chọn liên tiếp cho đến khi đủ cỡ mẫu 260 người bệnh.Những người bệnh được lựa chọn và đồng ý tham gia nghiên cứu khi được CBYT đo huyết áp, kê đơn và cấp thuốc xong sẽ được điều tra viên mời
Trang 27vào tiến hành phỏng vấn trực tiếp Kết thúc quá trình phỏng vấn những người bệnh này được tặng hoa quả để trả công cho quá trình trả lời phòng vấn.
2.3.3 Phương pháp thu thập thông tin.
Công cụ thu thập số liệu:
Đo lường kiến thức, thực hành của người bệnh về phòng biến chứng do THA được thực hiện bằng phương pháp phỏng vấn Các người bệnh nghiên cứu được phỏng vấn trực tiếp bằng bộ câu hỏi thiết
kế sẵn (Phụ lục 1) Bộ câu hỏi đã được đánh giá thử nghiệm trước khi thu thập số liệu Các điều tra viên được tập huấn kỹ năng hỏi trước khi tiến hành điều tra Người bệnh tham gia nghiên cứu được giải thích rõ mục đích của nghiên cứu Sau khi phỏng vấn xong, nghiên cứu viên trực tiếp kiểm tra phiếu phỏng vấn để đảm bảo không có thông tin nào
để trống
Xây dựng, thử nghiệm và hoàn thành công cụ nghiên cứu:
+ Xây dựng bộ câu hỏi: Các câu hỏi được xây dựng dựa vào các khái niệm, các yếu tố nguy cơ của bệnh THA, các biến chứng, cách phòngbiến chứng của THA được tham khảo từ các nghiên cứu tương tự[18],[19],[35]
+ Thử nghiệm và hoàn thiện công cụ nghiên cứu: Bộ câu hỏi sau khi xây dựng xong được điều tra thử trên 50 người bệnh THA sau đó chỉnh sửa nội dung của bộ câu hỏi cho phù hợp, in thành 260 bộ phục vụ điều tra và tập huấn
Tập huấn điều tra viên:
+ 2 điều dưỡng làm việc tại phòng khám ngoại trú của Bệnh viện Xiêng Khoảng có kinh nghiệm làm việc thấp nhất 5 năm tại phòng khám có khá năng nói thành thạo và rõ ràng
+ Nội dung tập huấn: Mục đích, kế hoạch cuộc điều tra, kỹ năng phỏng
Trang 28vấn và ghi phiếu thu thập số liệu, kỹ năng tiếp xúc và làm việc với cộng đồng.
+ Thời gian và địa điểm: 01 ngày tại hội trường và tiến hành điều tra thử tại khoa khám bệnh của Bệnh viện
Các bước tiến hành thu thập số liệu:
+ Bước 1: Tiếp cận người bệnh cần thu thập số liệu: Điều tra viên giới thiệu về mục đích, ý nghĩa của nghiên cứu, giải thích cho người bệnh được nghiên cứu về tính bảo mật của thông tin mà người bệnh cung cấp
+ Bước 2: Điều tra viên phỏng vấn trực tiếp thông qua bộ câu hỏi cho người bệnh được nghiên cứu nghe và trả lời
+ Bước 3: Kiểm tra phiếu để kịp thời bổ sung khi thiếu hoặc bị sai sót
Thu thập phiếu điều tra:
Các giám sát viên quan sát trực tiếp điều tra viên phỏng vấn các người bệnh để hỗ trợ kịp thời những thiếu sót trong quá trình điều tra Sau mỗi ngày điều tra các điều tra viên nộp phiếu điều tra cho giám sát viên để kiểm tra lại các phiếu phỏng vấn Giám sát viên tổng hợp lại các phiếu điều tra từng ngày
và làm sạch phiếu điều tra, địa điểm phòng vấn người bệnh chọn phòng riêng yên tĩnh và thuận lợi để phòng vấn điều tra viên phải mặc ăn bình thường không mặc áo blouse trắng đồng phục, thái độ thuận tiện cởi mở
2.4 Các chỉ số nghiên cứu và một số tiêu chuẩn đánh giá
2.4.1 Các chỉ số nghiên cứu
Sau khi tham khảo nhiều nghiên cứu trước đây [18],[19],[28],[36], dựa trên các quy ước, thang đo tiêu chuẩn được sử dụng trong nghiên cứu khoa học và dựa trên quyết định hướng dẫn chẩn đoán, điều trị bệnh THA của Bộ
Y tế (BYT) [35], đề tài bao gồm các chỉ số theo mục tiêu nghiên cứu như sau:
Bảng 2.1 Chỉ số nghiên cứu chung của người bệnh được nghiên cứu
Trang 29Ph ươ ng phá p, côn g cụ thu thậ p cho cột 3 (
2
Tỉ lệ nhóm tuổi
Tỉ lệ người bệnh nhóm tuổi x bằng:
Số người bệnh nhóm tuổi (x) Tổng số người bệnh được điều tra 3
Tỉ lệ trình độ học vấn
(TĐHV)
Tỉ lệ người bệnh có TĐHV x bằng:
Số người bệnh TĐHV x Tổng số người bệnh được điều tra 4
Tỉ lệ nghề nghiệp
Tỉ lệ người bệnh nghề nghiệp x bằng:
Số người bệnh nghề nghiệp x Tổng số người bệnh được điều tra 5
Tỉ lệ điều kiện kinh tế gia
đình (ĐKKTGĐ)
Tỉ lệ người bệnh có ĐKKTGĐ x bằng:
Số người bệnh có ĐKKTGĐ x Tổng số người bệnh được điều tra
7
Tỉ lệ các nguồn thông tin Tỉ lệ người bệnh tiếp cận về
Trang 30Ph ươ ng phá p, côn g cụ thu thậ p cho cột 3 (
1
)
được tiếp cận về THA
nguồn thông tin x bằng:
Số người bệnh tiếp cận về nguồn thông tin x Tổng số người bệnh được điều tra
Trang 31Bảng 2.2 Chỉ số nghiên cứu cho mục tiêu 1: Mô tả kiến thức, thực hành
phòng biến chứng của người bệnh được nghiên cứu
4 )
Số người bệnh biết về chỉ số THA Tổng số người bệnh được điều tra
P h ỏ n g
v ấ n
n g ư ờ i b ệ n h
b ằ n g
b ộ
2 Tỉ lệ biết về sự cần thiết của
Tổng số người bệnh được điều tra
3 Tỉ lệ có kiến thức về thời gian
theo dõi HA
Tỉ lệ người bệnh có kiến thức về thời gian theo dõi HA bằng:
Số người bệnh biết về thời gian theo dõi HA Tổng số người bệnh được điều tra
4 Tỉ lệ có kiến thức về biến
chứng của THA
Tỉ lệ người bệnh kiến thức về biến chứng của THA bằng:
Số người bệnh biết về biến chứng THA Tổng số người bệnh được điều tra
5 Tỉ lệ có kiến thức về đối tượng
có nguy cơ cao gặp biến chứng
THA
Tỉ lệ người bệnh có kiến thức về đối tượng có nguy cơ cao gặp biến chứng THA bằng:
Số người bệnh biết về đối tượng nguy cơ gặp biến chứng THA
Tổng số người bệnh được điều tra
6 Tỉ lệ có kiến thức về mức độ
nguy hiểm của biến chứng THA
Tỉ lệ có kiến thức về mức độ nguy hiểm của biến chứng THA bằng:
Số người bệnh biết về mức độ nguy hiểm của biến chứng THA
Tổng số người bệnh được điều tra
7 Tỉ lệ có sự cần thiết điều trị
THA
Tỉ lệ người bệnh có sự cần thiết điều trị THA bằng:
Số người bệnh biết về sự cần thiết điều trị THA Tổng số người bệnh được điều tra
8 Tỉ lệ có kiến thức về nguyên Tỉ lệ người bệnh có kiến thức về
Trang 32(2) (3) (
4 )
nguyên tắc điều trị THA bằng:
Số người bệnh biết về nguyên tắc điều trị THA Tổng số người bệnh được điều tra c
â u
h ỏ i
9 Tỉ lệ có kiến thức về lối sống lành
mạnh cho người bị THA
Tỉ lệ người bệnh có kiến thức về lối sống lành mạnh cho người bị THA bằng:
Số người bệnh biết về lối sống lành mạnh cho người bị THA
Tổng số người bệnh được điều tra
10 Tỉ lệ có kiến thức về dấu hiệu nhận
biết cơn THA kịch phát
Tỉ lệ người bệnh có kiến thức về dấu hiệu nhận biết cơn THA kịch phát bằng:
Số người bệnh biết về dấu hiệu nhận biết cơn THA kịch phát Tổng số người bệnh được điều tra
12 Tỉ lệ có kiến thức về nguyên tắc
dùng thuốc hạ áp
Tỉ lệ người bệnh có kiến thức về nguyên tắc dùng thuốc hạ áp bằng:
Số người bệnh biết về nguyên tắc dùng thuốc hạ áp
Tổng số người bệnh được điều tra
13 Tỉ lệ có kiến thức về TBMMN
Tỉ lệ người bệnh có kiến thức về TBMMN bằng:
Số người bệnh biết về TBMMN Tổng số người bệnh được điều tra
14 Tỉ lệ có kiến thức về biến chứng suy
tim
Tỉ lệ người bệnh có kiến thức về biến chứng suy tim bằng:
Số người bệnh biết về biến chứng suy tim Tổng số người bệnh được điều tra
Trang 33(2) (3) (
4 )
15 Tỉ lệ có kiến thức về biến chứng suy
thận
Tỉ lệ người bệnh có kiến thức về biến chứng suy thận bằng:
Số người bệnh biết về biến chứng suy thận (x) Tổng số người bệnh được điều tra
16 Tỉ lệ có kiến thức về biến chứng ở
mắt
Tỉ lệ người bệnh có kiến thức về biến chứng ở mắt bằng:
Số người bệnh biết về biến chứng ở mắt (x) Tổng số người bệnh được điều tra
17 Tỉ lệ có kiến thức về hình thức
truyền thông GDSK trực tiếp cho người
THA
Tỉ lệ người bệnh có kiến thức về hình thức truyền thông GDSK trực tiếp bằng:
Số người bệnh biết về hình thức truyền thông GDSK trực tiếp cho ng ườ i THA
Tổng số người bệnh được điều tra
18 Tỉ lệ có kiến thức về hình thức
truyền thông GDSK gián tiếp THA cho
người THA
Tỉ lệ người bệnh có kiến thức về hình thức truyền thông GDSK gián tiếp THA cho người THA bằng:
Số người bệnh biết về h ì nh th ứ c truyền thông GDSK gián tiếp cho ng ườ i THA
Tổng số người bệnh được điều tra I
Số người bệnh thực hiện nguyên tắc điều trị THA Tổng số người bệnh được điều tra
P h ỏ n g
v ấ n
n g
2 Tỉ lệ có thực hành đúng về người đo
HA
Tỉ lệ người bệnh có thực hành đúng về người đo HA bằng:
Số người bệnh thực hành đúng về người đo HA Tổng số người bệnh được điều tra
3 Tỉ lệ có thực hành về thời gian đo HA
định kỳ
Tỉ lệ người bệnh có thực hành về thời gian đo HA định kỳ bằng:
Số người bệnh thực hành về thời gian đo HA định kỳ Tổng số người bệnh được điều tra
4 Tỉ lệ có thực hành về khám bệnh định
kỳ
Tỉ lệ người bệnh có thực hành về khám bệnh định kỳ bằng:
Trang 34(2) (3) (
4 )
ư ờ i b ệ n h
b ằ n g
b ộ
c â u
h ỏ i
5 Tỉ lệ có thực hành về cách dùng thuốc
hạ áp
Tỉ lệ người bệnh có thực hành về cách dùng thuốc hạ áp bằng:
Số người bệnh t hực hành về cách dùng thuốc hạ áp Tổng số người bệnh được điều tra
6 Tỉ lệ có thực hành về dùng thuốc theo
hướng dẫn
Tỉ lệ người bệnh có thực hành về dùng thuốc theo hướng dẫn bằng:
Số người bệnh t hực hành về dùng thuốc theo h ướ ng d ẫ n Tổng số người bệnh được điều tra
7 Tỉ lệ có thực hành về quên sử dụng
thuốc
Tỉ lệ người bệnh có thực hành về quên sử dụng thuốc bằng:
Số người bệnh thực hành về quên sử dụng thuốc Tổng số người bệnh được điều tra
8 Tỉ lệ có thực hiện chế độ ăn giảm
muối
Tỉ lệ người bệnh có thực hiện chế
độ ăn giảm muối bằng:
Số người bệnh thực hiện chế độ ăn giảm muối Tổng số người bệnh được điều tra
9 Tỉ lệ có thực hiện chế độ tăng cường
ăn rau hoa quả
Tỉ lệ người bệnh có thực hiện chế
độ tăng cường ăn rau hoa quả bằng:
Số người bệnh thực hiện chế độ tăng cường
ăn rau hoa quả Tổng số người bệnh được điều tra
Số người bệnh thực hành về hút thuốc lá, lào Tổng số người bệnh được điều tra
12 Tỉ lệ có hạn chế sử dụng rượu bia
Tỉ lệ người bệnh có hạn chế sử dụng rượu bia bằng:
Số người bệnh hạn chế sử dụng rượu bia Tổng số người bệnh được điều tra
13 Tỉ lệ có thực hành về hoạt động thể Tỉ lệ người bệnh có thực hành về
Trang 35(2) (3) (
4 )
14 Tỉ lệ có thường xuyên kiểm tra cân
nặng cho phù hợp
Tỉ lệ người bệnh có thường xuyên kiểm tra cân nặng cho phù hợp bằng:
Số người bệnh th ường xuyên kiểm tra cân nặng phù hợp Tổng số người bệnh được điều tra
15 Tỉ lệ có thường xuyên kiểm tra vòng
bụng cho phù hợp
Tỉ lệ người bệnh có thường xuyên kiểm tra vòng bụng cho phù hợp bằng:
Số người bệnh thường xuyên kiểm tra vòng bụng phù hợ p Tổng số người bệnh được điều tra
Bảng 2.3 Chỉ số nghiên cứu cho mục tiêu mô tả 2: Một số yếu tố liên quan
1. Sự ảnh hưởng của yếu tố nhóm tuổi đến kiến
thức/thực hành phòng biến chứng bệnh THA của
người bệnh
ỏn
g vấ
n
2. Sự ảnh hưởng của yếu tố giới tính đến kết quả đánh
giá kiến thức/thực hành phòng biến chứng bệnh THA
của người bệnh
OR =
Trang 36ng ườ
i bệ nh
bằ ng
bộ
câ
u
3. Sự ảnh hưởng của yếu tố trình độ học vấn đến kiến
thức/thực hành phòng biến chứng bệnh THA của
người bệnh
OR =
4. Sự ảnh hưởng của yếu tố nghề nghiệp đến kiến
thức/thực hành phòng biến chứng bệnh THA của
người bệnh
OR =
5. Sự ảnh hưởng của yếu tố kinh tế gia đình đến kiến
thức/thực hành phòng biến chứng bệnh THA của
người bệnh
OR =
6. Sự ảnh hưởng của yếu tố người đang sống cùng hiện tại
đến kiến thức/thực hành phòng biến chứng bệnh THA của
người bệnh
OR =
7. Sự ảnh hưởng của yếu tố kinh tế gia đình đến kiến
thức/thực hành phòng biến chứng bệnh THA của
người bệnh
OR =
8. Sự ảnh hưởng của yếu tố thời gian bị THA đến kiến
thức/thực hành phòng biến chứng bệnh THA của
người bệnh
OR =
9. Sự ảnh hưởng của yếu tố tiền sử gia đình bị THA
đến kiến thức/thực hành phòng biến chứng bệnh THA
của người bệnh
OR =
10. Sự ảnh hưởng của yếu tố nguồn tiếp cận thông tin
về THA đến kiến thức/thực hành phòng biến chứng
bệnh THA của người bệnh
bị THA, tiền sử gia đình bị THA, nguồn tiếp cận thông tin về THA…)
- a: Số người bệnh đánh giá kiến thức/thực hành phòng biến chứngcủa bệnh THA mức đạt và có mang các yếu tố liên quan (nhóm tuổi,
Trang 37giới tính, trình độ học vấn, nghề nghiệp, kinh tế gia đình, thời gian bịTHA, tiền sử gia đình bị THA, nguồn tiếp cận thông tin về THA…)
- b: Số người bệnh đánh giá kiến thức/thực hành phòng biếnchứng của bệnh THA không đạt và có mang các yếu tố liên quan(nhóm tuổi, giới tính, trình độ học vấn, nghề nghiệp, kinh tế gia đình,thời gian bị THA, tiền sử gia đình bị THA, nguồn tiếp cận thông tin vềTHA…)
- c: Số người bệnh đánh giá kiến thức/thực hành phòng biến chứngcủa bệnh THA mức đạt và không mang các yếu tố liên quan (nhómtuổi, giới tính, trình độ học vấn, nghề nghiệp, kinh tế gia đình, thời gian
bị THA, tiền sử gia đình bị THA, nguồn tiếp cận thông tin về THA…)
- d: Số người bệnh đánh giá kiến thức/thực hành phòng biếnchứng của bệnh THA không đạt và không mang các yếu tố liên quan(nhóm tuổi, giới tính, trình độ học vấn, nghề nghiệp, kinh tế gia đình,thời gian bị THA, tiền sử gia đình bị THA, nguồn tiếp cận thông tin vềTHA…)
2.4.2 Tiêu chuẩn đánh giá kiến thức, thực hành trong nghiên cứu
Mỗi câu trả lời đúng được 1 điểm (chi tiết tại phụ lục 2) Khi trả lời được
≥ 2/3 số điểm của câu thì được đánh giá là đạt, trả lời được <2/3 số điểm củacâu là không đạt, dựa trên các nghiên cứu tương tự [18],[19]
- Kiến thức về dự phòng biến chứng của THA: Phần này từ câu B1-B18, vậy có 18 câu nên tổng điểm của phần này là 18 điểm Trả lời đạt 2/3 số điểm,tương đương với số điểm ≥ 12 điểm thì được đánh giá là đạt, nếu <12 điểm là không đạt [18],[19]
- Thực hành về dự phòng biến chứng của THA: Phần này từ câu C1-C15,vậy có 15 câu nên tổng điểm của phần này là 15 điểm Trả lời đạt 2/3 số điểm,tương đương với số điểm ≥ 10 điểm thì được đánh giá là đạt, nếu <10 điểm là không đạt [18],[19]
Trang 38+ Giám sát quá trình điều tra.
+ Làm sạch số liệu sau khi ghi, trước khi nhập và trong quá trình phân tích, đảm bảo theo nguyên tắc nghiên cứu khoa học
2.7 Đạo đức trong nghiên cứu.
Nghiên cứu được thực hiện sau khi được hội đồng chấm đề cương của Viện Đào tạo Y học dự phòng & Y tế công cộng, Trường Đại học Y Hà Nội chấp thuận thông qua
Nghiên cứu đảm bảo các nguyên tắc về đạo đức trong nghiên cứu Nghiên cứu không can thiệp đến các vấn đề sức khỏe của người bệnh Trước khi tham gia nghiên cứu, các người bệnh sẽ được giải thích rõ về mục đích nghiên cứu và được quyền quyết định tham gia hoặc từ chối
Mọi thông tin cá nhân của người bệnh đều được giữ bí mật Số liệu chung chỉ được phục vụ cho mục đích nghiên cứu
Trang 392.8 Hạn chế của nghiên cứu
- Nghiên cứu chỉ tiến hành trên phạm vi những người mắc bệnh THA có khám và điều trị tại Xiêng Khoảng (tuyến tỉnh, số lượng người bệnh ít), chọn mẫu thuận tiện nên tính đại diện của nghiên cứu bị hạn chế về mặt phạm vi ngoại suy kết quả nghiên cứu
- Công cụ nghiên cứu chủ yếu dựa vào bộ câu hỏi phỏng vấn, dễ có sai số khi phỏng vấn và phụ thuộc nhiều vào kỹ năng phỏng vấn của người hỏi và
sự tích cực tham gia của người trả lời
- Người bệnh không hợp tác Người bệnh được nghiên cứu có thể trả lời
về hành vi của họ không như hoạt động thực tế của họ Điều đó dẫn đến đánh giá không chính xác mức độ của vấn đề
Khắc phục: Tập huấn kĩ càng cho điều tra viên và giám sát quá trình thu
thập số liệu thường xuyên
Trang 40Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.1 Đặc điểm nhân khẩu học của người bệnh được nghiên cứu