1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

KHẢO sát TÌNH TRẠNG TRẦM cảm, LO âu và STRESS ở CHA, mẹ TRẺ tự kỷ

76 254 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 1,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong nhóm trẻkhuyết tật, căng thẳng của cha mẹ trẻ tự kỷ đã được chứng minh xuất hiện vớitỷ lệ cao hơn và có mối liên quan lớn hơn đến các vấn đề về hành vi của trẻ tự kỷ so với chậm ph

Trang 2

VILAYPHONE CHITTAVONG

KHẢO SÁT TÌNH TRẠNG TRẦM CẢM,

LO ÂU VÀ STRESS Ở CHA, MẸ TRẺ TỰ KỶ

Chuyên ngành: Nhi khoa

Mã số: 60720135

LUẬN VẶN THẠC SĨ Y KHOA

Người hướng dẫn khoa học:

TS Nguyễn Thị Thanh Mai

HÀ NỘI - 2018

Trang 3

BDI : Beck Depression Inventory

DSM-IV : The Diagnostic and Stantistical Manual of Mental

Disorders – Text RevisionDSM-V : The Diagnostic and Stantistical Manual of Mental

Disorders – Fifth Revision

ICD-10 : International Classification of Diseases, Tenth Revision

Trang 4

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 3

1.1 Khái niệm chung về rối loạn phổ Tự kỷ 3

1.1.1 Định nghĩa 3

1.1.2 Lịch sử phát triển của chẩn đoán và phân loại tự kỷ 3

1.1.3 Dịch tễ 4

1.1.4 Các phương pháp can thiệp và điều trị 4

1.1.5 Vai trò của cha mẹ 6

1.2 Khái niệm stress, lo âu, trầm cảm 8

1.2.1 Stress 8

1.2.2 Lo âu 9

1.2.3 Rối loạn trầm cảm 11

1.3 Lượng giá về lo âu, trầm cảm và stress 13

1.4 Tình hình nghiên cứu stress, lo âu và trầm cảm ở cha mẹ trẻ tự kỷ trên thế giới và Việt Nam 15

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18

2.1 Đối tượng nghiên cứu 18

2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn 18

2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ 18

2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 18

2.2.1 Địa điểm nghiên cứu 18

2.2.2 Thời gian nghiên cứu 18

2.3 Phương pháp nghiên cứu 19

2.3.1 Loại hình nghiên cứu 19

Trang 5

2.3.4 Công cụ nghiên cứu 21

2.4 Phương pháp thu thập số liệu và xử lý số liệu 23

2.4.1 Phương pháp tiến hành thu thập số liệu 23

2.4.2 Phương pháp xử lý số liệu 25

2.5 Đạo đức nghiên cứu 25

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 26

3.1 Đặc điểm của cha/ mẹ trẻ tự kỷ 26

3.1.1 Phân bố tuổi cha/ mẹ trẻ tự kỷ 26

3.1.2 Phân bố giới tính và khu vực sống của cha mẹ trẻ tự kỷ 27

3.1.3 Đặc điểm tình trạng hôn nhân 27

3.1.4 Đặc điểm nghề nghiệp của cha/ mẹ trẻ tự kỷ 28

3.1.5 Đặc điểm trình độ văn hóa 28

3.1.6 Nguồn thông tin của cha mẹ đã tìm hiểu về bệnh tự kỷ 29

3.2 Đặc điểm của trẻ tự kỷ 30

3.3 Tình trạng stress, trầm cảm và lo âu của cha mẹ trẻ tự kỷ 31

3.3.1 Trạng thái tâm lý của cha mẹ trẻ tự kỷ 31

3.3.2 Đặc điểm stress, trầm cảm, lo âu của cha mẹ trẻ tự kỷ 32

3.3.3 Mối tương quan giữa stress, trầm cảm và lo âu của cha mẹ trẻ tự kỷ.35 3.4 Một số yếu tố liên quan đến stress, trầm cảm và lo âu ở cha mẹ trẻ tự kỷ .35

3.4.1 Mối liên quan giữa stress, trầm cảm và lo âu ở cha mẹ trẻ tự kỷ với một số yếu tố xã hội học 35

3.4.2 Mối liên quan giữa stress, trầm cảm, lo âu của cha mẹ với một số yếu tố của trẻ tự kỷ 38

CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN 41

Trang 6

4.1.2 Khu vực sống và giới tính 41

4.1.3 Tình trạng hôn nhân và nghề nghiệp 42

4.1.4 Trình độ văn hóa và nguồn thông tin 43

4.2 Đặc điểm của trẻ tự kỷ 44

4.3 Trạng thái tâm lý, stress, trầm cảm và lo âu của cha mẹ trẻ tự kỷ .46

KẾT LUẬN 53

KIẾN NGHỊ 54 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

Bảng 3.1 Phân bố tuổi cha mẹ trẻ tự kỷ 26

Bảng 3.2 Đặc điểm tình trạng hôn nhân của cha mẹ trẻ tự kỷ 27

Bảng 3.3 Đặc điểm nghề nghiệp của cha/ mẹ trẻ tự kỷ 28

Bảng 3.4 Đặc điểm trình độ văn hóa của cha/ mẹ trẻ tự kỷ 28

Bảng 3.5 Đặc điểm nguồn thông tin của cha mẹ tìm hiểu về bệnh tự kỷ 29

Bảng 3.6 Đặc điểm chung của con bị tự kỷ 30

Bảng 3.7 Trạng thái tâm lý của cha mẹ trẻ tự kỷ ở thời điểm mới chẩn đoán và hiện tại 31

Bảng 3.8 Các triệu chứng stress của cha mẹ trẻ tự kỷ khảo sát bằng DASS 21 32

Bảng 3.9 Tỷ lệ và mức độ stress ở cha/ mẹ trẻ tự kỷ xác định qua DASS 32

Bảng 3.10 Triệu chứng trầm cảm của cha mẹ khảo sát qua DASS 21 33

Bảng 3.11 Tỷ lệ và mức độ trầm cảm ở cha/ mẹ trẻ tự kỷ xác định qua DASS .33 Bảng 3.12 Triệu chứng lo âu của cha mẹ khảo sát bằng DASS 21 34

Bảng 3.13 Tỷ lệ và mức độ lo âu ở cha mẹ trẻ tự kỷ xác định bằng DASS 21 34

Bảng 3.14 Mối tương quan giữa stress, trầm cảm, lo âu của cha mẹ trẻ tự kỷ .35 Bảng 3.15 Mối liên quan giữa giới tính và tình trạng stress, trầm cảm, lo âu 35

Bảng 3.16 Mối liên quan giữa tuổi cha mẹ và rối loạn trầm cảm, lo âu và stress 36 Bảng 3.17 Mối liên quan giữa khu vực sống với trầm cảm, lo âu và stress của cha mẹ trẻ tự kỷ 36

Bảng 3.18 Mối liên quan giữa trình độ văn hóa của cha mẹ và trầm cảm, lo âu và stress 37

Bảng 3.19 Mối liên quan giữa nguồn cung cấp thông tin của cha mẹ và rối loạn stress, trầm cảm và lo âu 37

Bảng 3.20 Mối liên quan giữa mức độ tự kỷ của con và rối loạn trầm cảm, lo âu và stress của cha/ mẹ 38

Trang 8

Bảng 3.22 Mối liên quan giữa tuổi chẩn đoán của trẻ tự kỷ và rối loạn trầm

cảm, lo âu và stress của cha mẹ 39 Bảng 3.23 Mối liên quan giữa thời gian đã được chẩn đoán tự kỷ và rối

loạn trầm cảm, lo âu và stress của cha mẹ 39

Bảng 3.24 Mối liên quan giữa thể tự kỷ của trẻ tự kỷ và rối loạn trầm cảm, lo

âu và stress của cha mẹ 40

Trang 9

Biểu đồ 3.1 Phân bố giới tính của cha/ mẹ trẻ tự kỷ 27Biểu đồ 3.2 Phân bố khu vực sống của cha/ mẹ trẻ tự kỷ 27

DANH MỤC SƠ ĐỒ

Sơ đồ 2.1: Sơ đồ nghiên cứu 24

Trang 10

ĐẶT VẤN ĐỀ

Rối loạn phổ tự kỷ (gọi tắt là tự kỷ) là một rối loạn phát triển thần kinh

- tâm thần, đặc trưng bởi sự phát triển bất thường về tương tác xã hội, giaotiếp và hành vi, sở thích, mang tính thu hẹp, rập khuôn; có thể kèm theo tìnhtrạng khuyết tật trí tuệ và cảm xúc không bình thường Những biểu hiện nàyxuất hiện trước 3 tuổi, với mức độ khác nhau từ nhẹ đến nặng và diễn biếnkéo dài, tồn tại suốt đời [1], [2] Trong những thập kỷ gần đây, tỷ lệ mắc tự kỷtăng lên một cách đáng lo ngại ở hầu hết các quốc gia trên thế giới Theo kếtquả nghiên cứu của Trung tâm ngăn ngừa và kiểm soát bệnh tật – của Mỹ,năm 2007 khảo sát thấy xấp xỉ 6/1000 trẻ có rối loạn phổ tự kỷ [3], nhưngđến năm 2012, tần suất này lên tới 1/68 trẻ, trẻ trai mắc nhiều hơn trẻ gái từ3,6 đến 5,1 lần [4]

Tự kỷ là một dạng khuyết tật phát triển liên quan đến chức năng củanão bộ, có thể đi kèm với khuyết tật trí tuệ, ảnh hưởng rất trầm trọng đến khảnăng học tập và thích ứng xã hội của trẻ và cho đến nay y học chưa có khảnăng chữa khỏi hoàn toàn Nếu được can thiệp sớm ngay trong những nămđầu đời, trẻ sẽ được giảm bớt mức độ khiếm khuyết và được hỗ trợ phát triểncác kỹ năng ngôn ngữ, xã hội và nhận thức nhằm tăng tối đa khả năng thíchứng xã hội sau này Quá trình này kéo dài và đòi hỏi sự nỗ lực, sự chuyên sâu

và kiên trì Trước đây, mô hình can thiệp tập trung chủ yếu ở các trung tâm,

cơ sở chuyên biệt Hiện nay, can thiệp và điều trị tự kỷ được xây dựng theo

mô hình phối hợp đa ngành mà cốt lõi là tại gia đình với sự tham gia chủ yếucủa cha mẹ Bởi vậy, cha mẹ là người có vai trò trung tâm và quan trọng trongquá trình can thiệp, điều trị cho trẻ tự kỷ [5] Thực tế, chấp nhận có một đứacon bị khuyết tật phát triển, can thiệp và chăm sóc cho một trẻ tự kỷ thực sự làmột thách thức rất lớn, một gánh nặng lớn cho mỗi gia đình yêu cầu cha mẹcần có một trạng thái tâm lý vững vàng, một thái độ tích cực để đi cùng controng suốt chặng đường khó khăn

Trang 11

Tuy nhiên, khi các bác sỹ chẩn đoán và thông báo về kết quả trẻ bị mắcchứng tự kỷ, thường phản ứng đầu tiên của cha mẹ sẽ rơi vào trạng thái cảmxúc rất nặng nề như sốc, đau khổ, hoang mang Sự thay đổi về mặt nhậnthức, thái độ, cảm xúc và hành vi của cha mẹ có nhiều mức độ khác nhau ởnhững thời điểm khác nhau và có thể tồn tại dai dẳng [5], [6] Trong nhóm trẻkhuyết tật, căng thẳng của cha mẹ trẻ tự kỷ đã được chứng minh xuất hiện với

tỷ lệ cao hơn và có mối liên quan lớn hơn đến các vấn đề về hành vi của trẻ tự

kỷ so với chậm phát triển Baker và cộng sự (2003) [7] Gần đây, KoushaM

và CS (2016) nghiên cứu trên 127 các bà mẹ Iran có con bị tự kỷ, ghi nhận72,4% có mức độ lo lắng cao và 49,6% có rối loạn trầm cảm [8] Rất nhiềukết quả khảo sát cho thấy cha mẹ trẻ tự kỷ cần được quan tâm hỗ trợ để thíchứng và phát triển các cảm xúc tích cực, xây dựng chiến lược ứng phó trongsuốt quá trình đồng hành cùng con bị tự kỷ, để có thể thực hiện được tốt nhấtnhiệm vụ can thiệp, chăm sóc cho con tại gia đình

Tại Việt Nam, lĩnh vực nghiên cứu về trạng thái căng thẳng, stress, trầmcảm và lo âu của cha mẹ trẻ tự kỷ chưa được quan tâm nhiều, mặc dù đã xácđịnh rõ là can thiệp tự kỷ phụ thuộc rất nhiều vào cha mẹ và bước đầu tiên củachiến lược can thiệp, chính là giúp cha mẹ trẻ tự kỷ cân bằng được cảm xúc củamình Bệnh viện Nhi Trung Ương là cơ sở chính khám và chẩn đoán tự kỷ chohầu hết các trẻ tự kỷ ở miền Bắc và miền Trung, đồng thời có đơn vị can thiệpsớm cho trẻ tự kỷ nhưng vấn đề biểu hiện cảm xúc của cha mẹ như thế nào sauchẩn đoán và những yếu tố nào liên quan đến tình trạng stress, lo âu, trầm cảmcủa họ, vẫn còn là một câu hỏi cần được quan tâm trả lời

Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Khảo sát tình trạng

trầm cảm, lo âu và stress ở cha, mẹ của trẻ tự kỷ” với hai mục tiêu:

1 Mô tả biểu hiện stress, lo âu và trầm cảm ở cha/mẹ của trẻ bị tự kỷ được chẩn đoán tại bệnh viện Nhi Trung Ương.

2 Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến vấn đề strees, lo âu, trầm cảm

ở cha, mẹ trẻ tự kỷ.

Trang 12

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN

1.1 Khái niệm chung về rối loạn phổ Tự kỷ

1.1.1 Định nghĩa

Tự kỷ là do rối loạn của hệ thần kinh gây ảnh hưởng đến hoạt động củanão bộ [9], có thể xảy ra ở bất kỳ cá nhân nào không phân biệt giới tính, dântộc, giàu nghèo và địa vị xã hội Tự kỷ được biểu hiện ra ngoài bằng khiếmkhuyết về mặt tương tác xã hội, khó khăn về giao tiếp và phi ngôn ngữ [10].Ngoài ra có những hành vi, sở thích và hoạt động mang tính thu hẹp và lặp đilặp lại Thường trẻ em có triệu chứng tự kỷ trước 3 tuổi [11] Theo Liên hiệpquốc (2008), tự kỷ được xác định là một dạng khuyết tật phát triển tồn tại suốtđời [12]

1.1.2 Lịch sử phát triển của chẩn đoán và phân loại tự kỷ

Năm 1911, Eugen Blueler – nhà tâm lý học người Thụy Sỹ - là ngườiđầu tiên đưa ra thuật ngữ Tự kỷ (Autism) Autism có nguồn gốc từ “Autos”trong tiếng Hy Lạp có nghĩa là “tự thân”, trong thời điểm đó tự kỷ được xemnhư một dạng của tâm thần phân liệt [13] Năm 1943, Leo Kanner, bác sỹ tâmthần người Mỹ đã chấp nhận thuật ngữ “tự kỷ” từ Eugene Bleuler (1911) [14].Leo Kanner mô tả tự kỷ là thiếu quan hệ tiếp xúc về tình cảm, có những thóiquen và hành vi lặp đi lặp lại, ngôn ngữ bất thường, khó khăn trong học tập vàhành động chơi giả vờ, các triệu chứng này có thể được phát hiện trong vòng

3 năm đầu đời [15] Năm 1944,Hans Asperger, bác sỹ tâm thần ngườiÁo(Austria) cũng được độc lập sử dụng thuật ngữ Autism để mô tả vấn đề củanhóm trẻ trai mà ông làm việc Đến nay, chúng ta gọi biểu hiện đó là triệuchứng của Hội chứng Asperger [16]

Trang 13

Trên thế giới, chẩn đoán tự kỷ được dựa trên Hướng dẫn chẩn đoán vàthống kê rối loạn tâm thần - ấn bản thứ tư (DSM-IV) và Phân loại quốc tế vềbệnh tật theo Tổ chức y tế thế giới (ICD-10) [17], đưa ra các tiêu chuẩn chẩnđoán rõ ràng, chi tiết cho rối loạn phổ tự kỷ và được phân loại trong nhóm rốiloạn phát triển lan tỏa Năm 2012, sau một quá trình tái bản và chỉnh sửanhiều lần, DSM-5 ra đời và được công bố chính thức năm 2013, chính thứcxếp mã chẩn đoán rối loạn phổ tự kỷ, bao gồm rối loạn tự kỷ điển hình vàkhông điển hình [18].

lệ trung bình của tự kỷ là khoảng 1% Tại Việt Nam, tỷ lệ tự kỷ được khảo sát

ở một số tỉnh thành là 0,45% ở Thái Nguyên (2013) [20] và 0,67% ở TháiBình (2012) [21] Trẻ trai mắc tự kỷ nhiều hơn trẻ gái 4-6 lần

1.1.4 Các phương pháp can thiệp và điều trị

1.1.4.1 Nguyên tắc can thiệp

- Can thiệp càng sớm càng tốt: Giai đoạn tuổi để can thiệp tối ưu là trước

3 tuổi [22]

- Thời gian can thiệp: cường độ can thiệp liên tục, thường xuyên và kéo

dài nhiều năm, có thay đổi phù hợp theo từng giai đoạn

- Can thiệp toàn diện, phối hợp nhiều lĩnh vực, nhiều kỹ năng: giáo dục

hành vi, ngôn ngữ trị liệu, hoạt động trị liệu, chơi, tâm lý, vậy lý trị liệu, kíchthích giác quan

Trang 14

1.1.4.2 Một số các vấn đề quan tâm khi tiến hành can thiệp sớm

Thời điểm can thiệp

Càng sớm càng tốt, ngay sau khi được chẩn đoán tự kỷ Can thiệp sớmthường bắt đầu ở độ tuổi 18 tháng tuổi Tuy nhiên có nhiều trẻ có dấu hiệunghi ngờ tự kỷ được phát hiện sớm hơn nữa từ độ tuổi dưới 12 tháng mà chưađược chẩn đoán xác định, cũng cần bắt đầu can thiệp ngay Tuổi tối ưu để canthiệp là trẻ 24 tháng đến 36 tháng tuổi [23] Trên thực tế việc phát hiện sớmhoặc can thiệp sớm phụ thuộc vào rất nhiều về nhận thức và thái độ của cha

mẹ của trẻ, khi trẻ có các biểu hiện bất thường về giao tiếp xã hội, ngôn ngữ

và hành vi [24]

Thời gian và cường độ

Khó so sánh được cường độ can thiệp của các chương trình khác nhau.Bằng chứng cho thấy thời gian can thiệp sớm cần thiết cho trẻ tự kỷ sau 1năm can thiệp tích cực, liên tục (40 giờ trong tuần), trẻ có sự cải thiện rõ rệt.Quá trình tác động can thiệp sớm tích cực cần kéo dài 2 – 3 năm, liên tục,hàng ngày mới mang lại kết quả tốt nhất cho trẻ [25]

Hình thức can thiệp

Dựa vào gia đình và nhà trường hòa nhập với các phương pháp: điềuhòa đa giác quan, dạy các kỹ năng vận động tinh và vận động thô, kỹ nănggiao tiếp bằng lời và không lời, chơi trị liệu, dạy kỹ năng tự lập trong sinhhoạt; áp dụng các liệu pháp hành vi xuyên suốt trong quá trình dạy trẻ nhưcủng cố tích cực với hành vi tốt, chia nhỏ nhiệm vụ và kiểm soát kết hợp sửachỉnh khi trẻ có hành vi không mong muốn, thách thức chống đối… [26]

Trị liệu tại trung tâm:

Giáo dục đặc biệt kết hợp tâm vận động, điều hòa cảm giác, giác quan

Mô hình can thiệp thường gồm có hai hình thức: Trị liệu theo nhóm và trị

Trang 15

liệu cá nhân Hình thức can thiệp cá nhân đang được áp dụng nhiều tại cácTrung tâm can thiệp tự kỷ Đối với trẻ tự kỷ, phối hợp nhiều phương pháptrẻ có cơ hội cải thiện hơn là trị liệu với phương pháp nhất định Trị liệu cánhân đóng vai trò quan trọng trong việc cải thiện về hành vi thích ứng, tăngcường khả năng tập trung, khả năng nhận thức của trẻ và kiểm soát hành vithuận lợi hơn.

Trị liệu tại nhà:

- Giáo dục đặc biệt tại nhà:

Trẻ tự kỷ cần chương trình học tập thích hợp với khả năng và xu hướngcủa trẻ Sau khi được đánh giá, đội đánh giá và cha mẹ cần thông nhất phươngpháp trị liệu tại gia đình Hướng dẫn cho gia đình can thiệp tai nhà: hai lầnmỗi ngày Mỗi lần 30 đến 45 phút theo các bài tập trong chương trình canthiệp hành vi, ngôn ngữ trị liệu, hoạt động trị liệu và chơi trị liệu Sau 1 đến 2tháng trẻ có thể được đánh giá lại để đưa ra chương trình can thiệp mới phùhợp với trẻ

- Hòa nhập cộng đồng:

Theo các nghiên cứu, hòa nhập cộng đồng là một điều cần thiết với trẻ tự

kỷ ngay cả khi trẻ thờ ơ không hào hứng với các loại thể hình này Các trẻ nênđược đi mẫu giáo từ 2 đến 3 giờ mỗi ngày, đây là hình thức tham gia nhóm giúptrẻ hòa nhập cộng đồng, hiểu biết các quan hệ xã hội, tham gia với tư cách làthành viên của nhóm, mặc dù mức độ tham gia của trẻ rất hạn chế [27]

1.1.5 Vai trò của cha mẹ

Khi cha mẹ nghi ngờ hoặc phát hiện con mình có những biểu hiện bấtthường cần đưa trẻ đi khám ngay tại các cơ sở y tế Tích cực tìm hiểu về tự kỷđồng thời điều chỉnh cảm xúc bản thân Tạo môi trường sống an toàn, ổn địnhcho trẻ

Trang 16

Cha mẹ hàng ngày chăm sóc và nuôi dạy trẻ tự kỷ tại gia đình Trẻ emmắc chứng tự kỷ có thể có một số hành vi giống như “hoang dã”, nếu khôngsửa chữa có thể dẫn đến nghiêm trọng, đe dọa đến đời sống Sớm sửa đổi mộtcách nghiêm ngặt các hành vi có thể tránh được việc sử dụng thuốc và khôngphải sống trong cơ sở từ thiện trong tương lai Sửa chỉnh hành vi rất hữu íchcho quá trình thích ứng của trẻ tự kỷ hiện tại và sau này Cha mẹ tham gia nhưmột phần chương trình giáo dục, sửa chỉnh hành vi thích ứng vì cha mẹ làngười rất gần gũi và quan trọng đối với trẻ mắc chứng tự kỷ Vì vậy sự tiến bộcủa trẻ phụ thuộc rất nhiều vào cha mẹ.

Cha mẹ là người tham gia vào gói can thiệp:"không ai khác, Bạn chính

là chuyên gia can thiệp tốt nhất cho chính đứa con của Bạn" Đây là chươngtrình can thiệp dành cho người tự kỷ được hình thành và phát triển bởi phụhuynh, do phụ huynh, vì phụ huynh [28]

Qúa trình can thiệp đòi hỏi cha mẹ phải dành nhiều thời gian dạy trẻ,bởi vì các hoạt động dạy trẻ chủ yếu diễn ra trong cuộc sống hàng ngày củatrẻ và cộng thêm với số giờ trẻ cần được can thiệp [28] Các chương trình canthiệp được lựa chọn dựa trên khả năng hiện tại của trẻ, kết hợp với nhu cầu vàkhả năng thực tế của gia đình để lên kế hoạch chương trình can thiệp Cácchương trình này đặt ra mục tiêu dài hạn và được chia nhỏ thành các mục tiêungắn hạn (6 tháng, 3 tháng, 1 tháng, từng tuần, từng ngày-từng buổi học) [25]

Vai trò của cha mẹ trẻ tự kỷ trong việc chăm sóc trẻ cần có cả sự thíchứng tốt thể hiện ở mặt nhận thức, thái độ và cảm xúc của người mẹ Điều này

sẽ đem lại cho họ sự thoải mái, vui vẻ, sẵn sàng đương đầu với mọi khó khăn,thử thách trong cuộc sống để có được một gia đình hạnh phúc [29]

Cha mẹ là người quan trọng nhất đối với sự phát triển của trẻ Điều này

có ý nghĩa với việc can thiệp sớm, các chuyên gia y tế cần phải cung cấp kiến

Trang 17

thức, hướng dẫn cha mẹ cách chăm sóc, giáo dục trẻ Cha mẹ không chỉ làngười thường xuyên tiếp xúc với trẻ nhiều hơn so với giáo viên hay chuyêngia y tế mà còn là người hiểu trẻ nhất, chăm sóc trẻ bằng cả tình yêu thươngcủa mình Ở Việt Nam, chúng ta cần xem xét thêm vai trò của ông bà, và cácthành viên khác trong gia đình, bởi họ đóng vai trò quan trọng trong việc giáodục trẻ [26], [25].

1.2 Khái niệm stress, lo âu, trầm cảm

1.2.1 Stress

Hans Selye là người đầu tiên phát triển khái niệm stress hiện đại, theoông stress là mối tương quan giữa tác nhân kích thích và phản ứng của cơ thể.Nói cách khác nó vừa chỉ tác nhân công kích, vừa chỉ phản ứng của cơ thể(phản ứng về mặt tâm lý, sinh học và tập tính) trước các tác nhân công kích

đó nhằm giúp chủ thể thích nghi với môi trường xung quanh, tạo cho cơ thểmột cân bằng mới sau khi chịu đựng những tác động đó

Phản ứng của cơ thể được biểu hiện bằng hội chứng đặc hiệu dưới dạngnhững thay đổi trong các hệ thống sinh học do các nguyên nhân không đặchiệu gây ra Hội chứng đặc hiệu này còn gọi là “Hội chứng S” hay “Hộichứng thích nghi toàn bộ” (General Adaptation Syndrome – GAS), với sựtham gia của hệ thống thần kinh trung ương (vỏ não, hồi hải mã, tổ chứclưới), hoạt động của vùng dưới đồi, tuyến yên, tủy thượng thận, vỏ thượngthận, hệ thần kinh thực vật, hệ miễn dịch.Mức độ phản ứng và cách thức phảnứng của cơ thể tùy thuộc vào tình huống gây stress cũng như tính chất cấptính hay kéo dài của stress đó Trong trường hợp stress cấp tính, chủ thểthường biểu hiện trạng thái hưng phấn quá mức về mặt tâm lý (biểu hiện củatrạng thái kích động, căng thẳng, dễ cáu gắt, kéo theo sự sợ hãi, lo âu…), biểuhiện của rối loạn thần kinh thực vật mạnh mẽ Trong khi đó dưới tác động của

Trang 18

stress kéo dài hoặc lặp đi lặp lại, chủ thể thường biểu hiện trạng thái suynhược cơ thể cùng với trạng thái mệt mỏi về tâm lý, lo âu, trầm cảm, rối loạnhành vi…, biểu hiện rối loạn thần kinh thực vật thường không nặng nhưng cóthể tăng lên khi chủ thể hồi tưởng về các tình huống stress mà mình đã phảitrải qua [30].

1.2.2 Lo âu

1.2.2.1 Khái niệm

Lo âu là phản ứng tâm lý của con người trước những khó khăn, tìnhhuống, mối đe dọa của môi trường tự nhiên, xã hội Lo âu thường diễn ratrong một thời gian ngắn, giảm dần khi con người có đáp ứng thích nghi Lo

âu biểu hiện ở ba mặt: mặt nhận thức (sợ chết, có mối nguy hiểm mơ hồ…);

cơ thể (biểu hiện của các rối loạn thần kinh thực vật); tâm lý (căng thẳng, kémtập trung, mất ngủ, hành vi chống đối, rối loạn ứng xử …)

Rối loạn lo âu (RLLA) là phản ứng lo âu bệnh lý được xác định chẩnđoán khi xuất hiện bất thường biểu hiện lo âu quá mức, mơ hồ, không liênquan đến một chủ đề rõ ràng RLLA thường lặp đi lặp lại với nhiều triệuchứng cơ thể như: hồi hộp, đánh trống ngực, chóng mặt, khô miệng, vã mồhôi, tay chân lạnh… và kéo dài gây ảnh hưởng tới chức năng học tập, laođộng và thích nghi với cuộc sống [31]

1.2.2.2 Phân loại lo âu

Theo hệ thống phân loại rối loạn tâm thần sửa đổi lần thứ 4 của Hoa kỳ(DSM – IV) [32], các dạng của rối loạn lo âu đươc phân loại bao gồm:

- Rối loạn lo âu không định hình (300.00)

- Rối loạn hoảng sợ:

+ Không bao gồm sợ khoảng trống (300.01)

+ Có bao gồm sợ khoảng trống (300.21)

Trang 19

- Rối loạn lo âu lan tỏa (300.02)

- Rối loạn lo âu chia ly (309.21)

- Rối loạn ám ảnh sợ xã hội (300.32)

- Rối loạn ám ảnh sợ đặc hiệu (300.29)

1.2.2.3 Biểu hiện lâm sàng

- Về cơ thể: chủ yếu là rối loạn thần kinh thực vật

+ Tim mạch : nhịp nhanh, trống ngực, đau ngực, tăng huyết áp

+ Hô hấp: thở nhanh, hụt hơi, ngột ngạt…

+ Tiêu hóa: buồn nôn, tiêu chảy, táo bón, nghẹn, khó nuốt, chán ăn…+ Thần kinh: đau đầu, chóng mặt, tê bì, tăng trương lực cơ…

+ Da : ớn lạnh, vã mồ hôi, đỏ, tái…

+ Các cơ quan khác: mất ngủ, đái rắt, đái dầm…

- Về tâm lý: rối loạn nhiều mức độ khác nhau

- Nhận thức: sai lệch về bản thân, đánh giá sai thực tế, đôi khi mất khả

năng tư duy

Trang 20

1.2.3 Rối loạn trầm cảm

1.2.3.1 Khái niệm

Theo hệ thống phân loại bệnh lần thứ 10 của WHO (ICD-10) [33] vàphân loại các rối loạn tâm thần sửa chữa tái bản lần thứ 4 Hoa kỷ (DSM-IV-TR) [32] Rối loạn trầm cảm (RLTC) là một rối loạn cảm xúc bao gồm cáctriệu chứng khí sắc trầm, tăng sự mệt mỏi và mất quan tâm ham thích các hoạtđộng thường ngày vẫn từng gây thích thú, kèm theo một số biểu hiện phổ biếnkhác, kéo dài ít nhất hai tuần

1.2.3.2 Biểu hiện lâm sàng

Các triệu chứng đặc trưng:

+ Khí sắc trầm: Có thể khởi phát bằng khí sắc buồn rầu, giận dữ mạnh

mẽ với những lý do rất nhỏ hoặc không đáng kể

+ Mất sự quan tâm thích thú: Mất sự quan tâm ham thích với các hoạtđộng thường ngày vẫn từng gây thích thú

+ Giảm năng lượng dẫn đến tăng sự mệt mỏi

Các triệu chứng phổ biến:

+ Giảm tập trung chú ý: Khó tập trung chú ý, khó tiếp thu trong học tập,quá trình này có thể diễn ra từ từ hoặc nhanh chóng

+ Giảm tính tự trọng và lòng tự tin

+ Ý tưởng bị tội và không xứng đáng

+ Nhìn tương lai ảm đạm và bi quan

+ Ý tưởng và hành vi tự hủy hoại hoặc tự sát

+ Rối loạn giấc ngủ

+ Rối loạn ăn uống

Trang 21

Các triệu chứng khác:

Có thể gặp trong trầm cảm nặng đó là sững sờ, hoang tưởng (nội dunghoang tưởng thường là bị tội, không xứng đáng, bị truy hại hoặc không tồntại), ảo giác (thường gặp ảo thanh buộc tội…)

Các triệu chứng sinh học trong trầm cảm nặng:

Giảm 5% trọng lượng cơ thể trong 1 tháng, khí sắc giảm về buổi sáng,chậm chạp tâm lý vận động và thức giấc sớm, rối loạn kinh nguyệt ở nữ [34]

1.2.3.3 Mức độ của rối loạn trâm cảm: gồm 3 mức độ theo ICD-10

* Tiêu chuẩn chẩn đoán giai đoạn trầm cảm nhẹ

- Ít nhất có 2/3 triệu chứng đặc trưng, kèm theo ít nhất có 2/7 triệu chứngphổ biến (tổng số ít nhất là 4 triệu chứng)

- Kéo dài ít nhất 2 tuần (thời gian quyết định chẩn đoán có thể ngắn hơnnếu triệu chứng nặng bất thường và khởi phát nhanh)

- Khó khăn trong tiến hành các công việc thường ngày và hoạt động xãhội, nhưng không đến mức phải ngừng hoạt động hoàn toàn

- Có thể có mặt hội chứng cơ thể hoặc không có hội chứng cơ thể

* Tiêu chuẩn chẩn đoán giai đoạn trầm cảm vừa

- Ít nhất có 2/3 triệu chứng đặc trưng, kèm theo ít nhất có 3/7 triệu chứngphổ biến (tổng số ít nhất là 5 triệu chứng)

- Kéo dài ít nhất 2 tuần (thời gian quyết định chẩn đoán có thể ngắn hơnnếu triệu chứng nặng bất thường và khởi phát nhanh)

- Có nhiều khó khăn trong tiến hành các công việc thường ngày và hoạtđộng xã hội

- Có thể có mặt hội chứng cơ thể hoặc không có hội chứng cơ thể

Trang 22

* Tiêu chuẩn chẩn đoán giai đoạn trầm cảm nặng

- Ít nhất có 3/3 triệu chứng đặc trưng, kèm theo ít nhất có 4/7 triệu chứngphổ biến (tổng số ít nhất là 7 triệu chứng, tự sát là hành vi nguy hiểm cầnquan tâm trong các trường hợp đặc biệt trầm trọng)

- Kéo dài ít nhất 2 tuần (thời gian quyết định chẩn đoán có thể ngắn hơnnếu triệu chứng nặng bất thường và khởi phát nhanh)

- Ít có khả năng tiến hành các công việc nghề nghiệp, gia đình, học tập

và hoạt động xã hội thường ngày

- Hầu như luôn luôn có mặt hội chứng cơ thể

- Có thể có hoặc không có các triệu chứng loạn thần như hoang thưởng,

ảo giác, sững sờ trầm cảm

1.3 Lượng giá về lo âu, trầm cảm và stress

Để đánh giá các dấu hiệu và triệu chứng nhằm xác định chẩn đoán, cáctrắc nghiệm tâm lý đã được xây dựng để định lượng, cụ thể hóa các triệuchứng chủ quan của đối tượng, trắc nghiệm tâm lý góp phần làm giảm nhẹcác cuộc phỏng vấn của nhà lâm sàng và các triệu chứng khó bộc lộ củangười bệnh, ngoài ra chúng còn có vai trò làm tăng thêm niềm tin của bệnhnhân đối với thầy thuốc và bản thân chúng chính là liệu pháp tâm lý có hiệuquả

Hiện tại, có rất nhiều thang đo tâm lý được sử dụng trong lâm sàng tâmthần học để lượng giá một cách khách quan hơn về lo âu, trầm cảm và stress.Thang đánh giá trầm cảm của Beck (Beck Depression Inventory – BDI).BDI được xây dựng vào năm 1961, được chuẩn hóa vào năm 1969 và đăng kýbản quyền vào năm 1979 Phiên bản hai của trắc nghiệm này (BDI-II) đượcxây dựng theo những sửa đổi trong Phiên bản sửa đổi lần thứ tư của Sổ tayThống kê và Chẩn đoán các Rối loạn tâm thần của Hiệp hội Tâm thần học Mỹ

Trang 23

(DSM-IV-TR) [35] Thang này có 21 đề mục, mỗi đề mục gồm bốn câu lựachọn Mỗi câu lựa chọn được ấn định một điểm từ 0 đến 3, chỉ báo mức độcủa triệu chứng.

Thang đánh giá lo âu của Zung (Zung Self-Rating Anxiety Scale – SAS)thang này dược xây dựng năm 1971 Trong thang này có 20 đề mục sử dụng

để người bệnh tự trả lời [36]

Thang BDI và SAS cũng đã được dịch sang tiếng Việt và sử dụng ởnhiều năm tại các cơ sở khám và điều trị bệnh tâm thần, đồng thời sử dụngtrong nhiều nghiên cứu [37], [38]

Thang đánh giá về stress, lo âu và trầm cảm của Lovibond (DASS 42 vàDASS 21) là một thang đo đánh giá được tổng hợp cả ba vấn đề sức khỏe tâmthần phổ biến hiện nay là stress, lo âu và trầm cảm [50] Thang đã được mộttác giả người Việt tại Úc dịch sang tiếng Việt, sau đó được một nhóm nghiêncứu tiến hành nghiên cứu ở phụ nữ Thái bình, đánh giá về tính hiệu quả, độtin cậy và khẳng định có thể áp dụng tại Việt Nam

Nguyên cứu trong 221 phụ nữ, kết quả của mỗi ba thang điểm phụ và kếthợp của hai hoặc ba người trong số họ có thể phát hiện các rối loạn tâm thầnphổ biến về trầm cảm và lo lắng ở phụ nữ có độ nhạy 79,1% và độ đặc hiệu77,0%, Tổng số điểm của 21 bài kiểm tra DASS21-Việt Nam dường như dễhiểu và nhạy cảm đối với việc phát hiện các rối loạn tâm thần thông thường ởphụ nữ có con nhỏ trong chăm sóc sức khoẻ ban đầu ở vùng nông thôn miềnbắc Việt Nam và do đó có thể hữu ích để sàng lọc những tình trạng này ở cá

c Cài đặt hạn chế nguồn lực Ông đã đưa ra các ngưỡng gợi ý tương tự nhưtác giả Phạm Tùng [39]

Nghiên cứu của Đậu Thị Tuyết (2013) sử dụng thang đo DASS 21 đánhgiá tình trạng stress, lo âu, trầm cảm của NVYT khối lâm sàng tại 02 địa

Trang 24

điểm: một bệnh viện công là BV đa khoa thành phố Vinh và một bệnh viện tưnhân là BV đa khoa khu vực 115 Nghệ An Thang đo có độ tin cậy về tínhnhất quán bên trong khá cao (Cronbach’s anpha cho 3 cấu phần stress, lo âu,trầm cảm lần lượt là 0,72; 0,70 và 0,75) Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệNVYT khối lâm sàng có biểu hiện stress, lo âu, trầm cảm là tương đối cao(trung bình lần lượt là 20,4%, 29%, 13,6%) [40] Năm 2015 nghiên cứu mô tảcắt ngang thực hiện trên 600 điều dưỡng đang làm việc tại bệnh viện Hữunghị Việt Đức và sử dụng bộ câu hỏi tự điền về các yếu tố liên quan và cácmục đánh giá căng thẳng trong thang đo Căng thẳng, Lo âu Trầm cảm rútgọn (DASS 21) để thu thập thông tin Kết quả cho thấy tỷ lệ căng thẳng củađiều dưỡng tại bệnh viện Việt Đức là 18,5% Các yếu tố liên quan tới căngthẳng của điều dưỡng gồm tham gia công tác quản lý, mối quan hệ với đồngnghiệp và mâu thuẫn với cấp trên Cụ thể những điều dưỡng có kiêm nhiệm

cả công tác quản lý có nguy cơ bị căng thẳng cao gấp 5,2 lần (KTC 95% 1,5 –18,1); mối quan hệ với đồng nghiệp ở mức bình thường/ không tốt có nguy

cơ căng thẳng cao gấp 2,3 lần (KTC 95% 1,2 – 4,6); từng có mâu thuẫn vớicấp trên có nguy cơ căng thẳng cao gấp 4,3 lần (KTC 95% 1,9 – 9,4) so vớinhóm so sánh [41]

1.4 Tình hình nghiên cứu stress, lo âu và trầm cảm ở cha mẹ trẻ tự kỷ trên thế giới và Việt Nam

Các vấn đề stress, lo âu và trầm cảm đã được tiến hành nghiên cứu rấtnhiều ở các nước trên thế giới được áp dụng các phương pháp và tiêu chuẩnkhác nhau

Nghiên cứu của A Jose, S Gupta, S Gulati và cộng sự (2017) cho biếttrong 125 bà mẹ tham gia nghiên cứu, có hơn ba phần tư (76,8%) báo cáo cóbiểu hiện trầm cảm Mức độ trầm cảm trong các bà mẹ có liên quan đáng kể

Trang 25

đến sức khỏe thể chất và chất lượng cuộc sống của họ Các bà mẹ có con bị tự

kỷ nặng (44,8%) có mứ c độ trầm cảm cao hơn các bà mẹ có trẻ tự kỷ mức độtrung bình (29,6%) và mức độ nhẹ (25,6%) [42]

Một nghiên cứu khác được Davis và cộng sự tiến hành trên 54 gia đìnhvới 108 cha mẹ của những trẻ trong 3 tháng đầu mới được chẩn đoán tự kỷcho thấy: Tỷ lệ stress gặp ở 19% , trầm cảm gặp ở 25% và lo âu gặp ở 12% sốcha mẹ [43]

Một nghiên cứu mới đây của A Rayan và M Ahmad và cộng sự (2017)tại Jordani tiến hành khảo sát 104 người cha / mẹ trẻ tự kỷ (31 người là chacủa trẻ) Tuổi trung bình của cha / mẹ là 36 tuổi Kết quả cho thấy cha/mẹtham gia nghiên cứu có mức trầm cảm, lo âu và stress cao hơn bình thườngvới tỷ lệ trầm cảm là 79,8%, lo âu là 85,6% và stress là 81,7% [44]

Cùng công bố năm 2017, M Thullen và A Bonsall (2017) báo cáo kếtquả trên 113 cha mẹ trẻ tự kỷ có tuổi trung bình là 39,9 ± 6,8 tuổi, 90% là mẹ

đẻ của trẻ Tuổi trung bình của trẻ tự kỷ là 9,5 ± 2,5 tuổi, 81% là trẻ trai.Nghiên cứu khảo sát bằng thang đo PSI-4-FS (Parenting Stress InventoryFourth Edition Short Form) cho thấy mức căng thẳng trung bình là 96,9 ±23,2 điểm [45]

Al-Farsi và CS (2014), nghiên cứu trên 454 người chăm sóc trẻ mắcchứng tự kỷ, chậm phát triển và trẻ bình thường, có tuổi trung bình của cha

mẹ là 39,7 ± 4,2 tuổi, 56% trong tổng số cha mẹ có độ tuổi dưới 40 tuổi.Nhóm tác giả nhận thấy 41,2% số cha mẹ có stress, 43,8% có lo âu và 43 %

Trang 26

Tại Việt Nam, trong 20 năm gần đây, tự kỷ trở thành vấn đề thời sự do

xu hướng gia tăng không ngừng về phát hiện và chẩn đoán rối loạn này Hàngloạt các nghiên cứu của nhiều chuyên ngành về tự kỷ nhưng chủ yếu tập trungvào đặc điểm dịch tễ học, lâm sàng, yếu tố nguy cơ và can thiệp điều trị ở trẻ

tự kỷ Rất ít các nghiên cứu quan tâm đến đối tượng cha mẹ trẻ tự kỷ, đặc biệtchưa có nghiên cứu nào khảo sát về lĩnh vực stress và cảm xúc của cha mẹ,mặc dù cha mẹ có vai trò rất quan trọng trong can thiệp và chăm sóc hỗ trợcho trẻ tự kỷ

Trang 27

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn

- Cha mẹ của trẻ mắc rối loạn tự kỷ được chẩn đoán và đang điều trị > 1

tháng, đến khám lại tại phòng khám hoặc đang điều trị ở khoa Tâm bệnh,Bệnh viện Nhi Trung Ương

- Cha mẹ có khả năng đọc và trả lời câu hỏi phỏng vấn và đồng ý tham

gia nghiên cứu

2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ

- Các cha mẹ mắc các bệnh lý lo âu, trầm cảm, rối loạn liên quan đến

stress, và các bệnh tâm thần khác như tâm thần phân liệt, rối loạn cảm xúclưỡng cực… được các bác sỹ chuyên khoa chẩn đoán trước khi con bị tự kỷ

- Cha mẹ mắc các bệnh lý cấp tính nặng hoặc các bệnh hiểm nghèo trong

thời gian tiến hành phỏng vấn và đánh giá thang tâm lý

- Cha mẹ không có khả năng đọc và hiểu được chữ.

- Cha mẹ không đồng ý tham gia vào trong nghiên cứu.

2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

2.2.1 Địa điểm nghiên cứu

Phòng khám chuyên khoa và khoa Tâm bệnh tại Bệnh viện NhiTrung Ương

2.2.2 Thời gian nghiên cứu

Từ tháng 01 tháng 09 năm 2017 đến ngày 30 tháng 07 năm 2018

Trang 28

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Loại hình nghiên cứu

Nghiên cứu tiến cứu, mô tả cắt ngang

2.3.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu

Sử dụng công thức tính mẫu ước lượng tỷ lệ cho quần thể nghiên cứu (p = 76,8%) theo nghiên cứu năm 2017 của A Jose, S Gupta, S Gulati vàcộng sự [42] tỷ lệ có biểu hiện trầm cảm của các cha mẹ là 76,8%

Cỡ mẫu cho nghiên cứu được tính theo công thức:

Từ đó chúng tôi tính được n = 68 bệnh nhân

Cỡ mẫu dự kiến tối thiểu cho nghiên cứu là 70 cha/ mẹ

Cách chọn mẫu: Chọn cha mẹ của trẻ tự kỷ đến khám, theo dõi ở phòngkhám chuyên khoa Tâm bệnh và đang điều trị tại khoa Tâm bệnh Bệnh việnNhi Trung Ương, trong thời gian nghiên cứu đến khi đủ số lượng đối tượngnghiên cứu

2.3.3 Các biến số nghiên cứu và tiêu chí đánh giá

2.3.3.1 Đặc điểm của cha mẹ

- Tuổi: tuổi cao nhất, thấp nhất, tuổi trung bình, phân nhóm tuổi:

20 – 29 tuổi; 30 – 39 tuổi; 40 – 49 tuổi; > 49 tuổi

- Giới: Nam, nữ.

Trang 29

- Khu vực sống: Thành phố, nông thôn.

- Trình độ học vấn: tiểu học, THCS, THPT, Đại học/Cao đẳng, Sau đại học.

- Nghề nghiệp: Cán bộ viên chức, nông dân, công nhân, kinh doanh,

nội trợ

- Đặc điểm hôn nhân: bình thường, đặc biệt ( ly hôn, ly thân, góa).

2.3.3.2 Đặc điểm nhóm trẻ tự kỷ

- Tuổi hiện tại: cao nhất, thấp nhất, tuổi trung bình, phân nhóm tuổi: ≤ 24

tháng tuổi, 24 – 35 tháng tuổi, 36 – 47 tháng tuổi, ≥ 48 tháng tuổi

- Tuổi được chẩn đoán bệnh:

- Tuổi hiện tại:

- Giới: trẻ trai, trẻ gái.

- Thể bệnh tự kỷ: thể điển hình, thể không điển hình.

- Mức độ của bệnh: mức độ nhe – vừa, mức độ nặng.

- Các bệnh đi kèm: Động kinh, tặng động giảm chú ý, chậm phát triển

tâm thần – vận động, rối loạn giấc ngủ, rối loạn ăn uống, táo bón

- Thực trạng can thiệp: chưa can thiệp, can thiệp tại nhà, can thiệp tại

trung tâm

2.3.3.3 Biểu hiện stress, trầm cảm, lo âu ở cha mẹ trẻ tự kỷ

- Trạng thái tâm lý của cha mẹ tự kỷ: khủng hoảng/ sốc, lo lắng, hoang

mang, thất vọng, buồn chán, chấp nhận

- Tỷ lệ và mức độ stress ở cha mẹ trẻ tự kỷ: không có stress, stress mức

độ nhẹ, stress mức vừa, stress mức nặng, stress mức độ rất nặng

- Các triệu chứng stress của cha mẹ trẻ tự kỷ: khó nghỉ ngơi, phản ứng quá

mức, lo lắng quá mức, bồn chồn, khó thư giãn, thiếu kiên nhẫn, dễ tổn thương

Trang 30

- Tỷ lệ và mức độ trầm cảm của cha mẹ trẻ tự kỷ: không trầm cảm, trầm

cảm mức độ nhẹ, trầm cảm mức độ vừa, trầm cảm mức độ nặng, trầm cảmmức độ rất nặng

- Các triệu chứng trầm cảm của cha mẹ trẻ tự kỷ: không lạc quan, mệt

mọi/ khó khăn làm việc, bi quan tương lai, buồn chán, mất thích thú, tự ti/đánh giá thấp bàn thân, đánh giá thấp giá trị cuộc sống

- Tỷ lệ và mức độ lo âu của cha mẹ trẻ tự kỷ: không lo âu, lo âu mức độ

nhẹ, lo âu mức độ vừa, lo âu mức độ nặng, lo âu mức độ rất nặng

- Triệu chứng lo âu của cha mẹ trẻ tự kỷ: khô miệng, khó thở/ thở nhanh,

run tay, lo lắng, hoảng loạn, tim đập nhanh/ chậm, sợ vô cơ

2.3.3.4 Các yếu tố liên quan đến stress, trầm cảm, lo âu của cha mẹ trẻ tự kỷ

- Tuổi, giới của cha mẹ

- Khu vực sống.

- Trình độ học vấn của cha mẹ.

- Tình trạng hôn nhân.

- Nguồn cung cấp thông tin: nhà chuyên khoa, không chuyên khoa.

- Liên quan đến trẻ tự kỷ: tuổi hiện tại, tuổi chẩn đoán.

- Liên quan đến bệnh tự kỷ (mức độ, thể bệnh, thời gian mắc bệnh).

- Liên quan đến tình trạng can thiệp của trẻ tự kỷ

2.3.4 Công cụ nghiên cứu

+ Thang điểm DASS-21 để đánh giá tình trạng stress, lo âu, trầm cảm theotác giả Phạm Tùng (phụ lục 1)

+ Bộ câu hỏi cấu trúc thiết kế theo các chỉ tiêu nghiên cứu (mục lục 2)

Trang 31

Thang điểm bao gồm 21 câu hỏi, mỗi vấn đề được xác định bằng điểm:

 Không đúng với tôi chút nào cả: 0 điểm

 Đúng với tôi phần nào, hoặc thỉnh thoảng mới đúng: 1 điểm

 Đúng với tôi phần nhiều, hoặc phần lớn gian là đúng: 2 điểm

 Hoàn toàn đúng với tôi, hoặc hầu hết thời gian là đúng: 3 điểm

Cách tính điểm: Điểm trầm cảm, lo âu và stress đươc tính bằng cách

cộng điểm các đề mục thành phần, rồi nhân hệ số 2

Trang 32

26-33 điểm : Stress nặng.

≥ 34 điểm : Stress rất nặng

2.4 Phương pháp thu thập số liệu và xử lý số liệu

2.4.1 Phương pháp tiến hành thu thập số liệu

- Bước 1: Cha / mẹ của trẻ tự kỷ đáp ứng đủ tiêu chuẩn lựa chọn và loại

trừ được thu thập qua các bước sau:

- Bước 2:

+ Tiến hành đánh mức độ trầm cảm, lo âu và stress bằng thang đánhgiá DASS-21 Hướng dẫn cho cha mẹ tự trả lời thang công cụ [48](Phụ lục 1)

+ Nghiên cứu viên phỏng vấn trực tiếp thông tin theo bảng câu hỏicấu trúc (Phụ lục 2)

- Bước 3: Người nghiên cứu hoàn thành bệnh án nghiên cứu (phụ lục 1 + 2).

Trang 33

Trẻ em được chẩn đoán xác địnhmắc bệnh tự kỷ > 1 tháng

Sơ đồ 2.1: Sơ đồ nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu

Trang 34

2.4.2 Phương pháp xử lý số liệu

- Các biến số được thu thập theo mẫu bệnh án nghiên cứu và thang đánh

giá tâm lý DASS-21

- Số liệu được xử lý theo phương pháp thông kê y học bằng phần mềm

SPSS 20.0

- Sử dụng phân tích thống kê mô tả tần số và tỷ lệ phần trăm để mổ tả

các biến định tính, mô tả trung bình độ lệch, trung vị giá trị lớn nhất nhỏ nhấtcho biến định lượng

- Xác định mối liên quan với một số yếu tố (tương quan tuyến tính, logistic) 2.5 Đạo đức nghiên cứu

- Nghiên cứu chỉ phỏng vấn cha mẹ của trẻ bằng sử dụng bộ câu hỏi và

thang đánh giá tâm lý, không có các hoạt động mang tính chất can thiệp đến

Trang 35

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 Đặc điểm của cha/ mẹ trẻ tự kỷ

3.1.1 Phân bố tuổi cha/ mẹ trẻ tự kỷ

Bảng 3.1 Phân bố tuổi cha mẹ trẻ tự kỷ

Nhận xét: Trong nhóm tuổi từ 30 – 39 tuổi, chiếm tỷ lệ cao nhất cả cha

và mẹ (54,8% và 53,4%) Tuổi trung bình của cha là: 36,35  7,57 tuổi (thấpnhất là 26 tuổi và cao nhất là 57 tuổi) Tuổi trung bình của mẹ là: 33,47 5,92 tuổi (thấp nhất là 23 tuổi và cao nhất là 50 tuổi)

Trang 36

3.1.2 Phân bố giới tính và khu vực sống của cha mẹ trẻ tự kỷ

Nhận xét: Đối tượng nghiên cứu đa số là các bà mẹ, chiếm 82,7% Trong

đó có 22 cặp cha mẹ của cùng một trẻ tự kỷ Phần lớn cha mẹ trẻ tự kỷ sống ởkhu vực nông thôn chiếm 60%

3.1.3 Đặc điểm tình trạng hôn nhân

Bảng 3.2 Đặc điểm tình trạng hôn nhân của cha mẹ trẻ tự kỷ

Nhận xét: Trong 179 cha mẹ trẻ tự kỷ, tình trạng hôn nhân bình thường

chiếm 94,4% và có 5,6% có tình trạng hôn nhân là li hôn, đơn thân và góa

Trang 37

3.1.4 Đặc điểm nghề nghiệp của cha/ mẹ trẻ tự kỷ

Bảng 3.3 Đặc điểm nghề nghiệp của cha/ mẹ trẻ tự kỷ

Nhận xét: Nghề nghiệp của cha mẹ trẻ tự kỷ, chủ yếu là cán bộ viên chức

(CBVC) và công nhân chiếm 46% Nghề nghiệp phổ biến đứng thứ 2 là nôngdân, chiếm 38,7%, mẹ 15,5%

3.1.5 Đặc điểm trình độ văn hóa

Bảng 3.4 Đặc điểm trình độ văn hóa của cha/ mẹ trẻ tự kỷ

Nhận xét: Trình độ văn hóa của cha đa số là THCS/ THPT chiếm 58%.

Trình độ văn hóa của mẹ chủ yếu là Đại học/ sau đại học chiếm 44%

Trang 38

3.1.6 Nguồn thông tin của cha mẹ đã tìm hiểu về bệnh tự kỷ

Bảng 3.5 Đặc điểm nguồn thông tin của cha mẹ tìm hiểu về bệnh tự kỷ

Nguồn tìm hiểu thông tin

- Nguồn cung cấp thông tin đứng thứ 2 là mạng internet, chiếm 60%.Sách báo cũng là nguồn cung cấp thông tin khá phổ biến, 40,8% số cha mẹ đã

sử dụng nguồn cung cấp thông tin này

Ngày đăng: 12/07/2019, 15:24

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
11. Schieve L.A., Blumberg S.J., Rice C., et al. (2007). The relationship between autism and parenting stress. Pediatrics, 119 Suppl 1, S114-121 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pediatrics
Tác giả: Schieve L.A., Blumberg S.J., Rice C., et al
Năm: 2007
12. Bệnh viện Nhi Trung Ương (2015), Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị bệnh trẻ em, Nhà xuất bản Y học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn chẩn đoán và điều trịbệnh trẻ em
Tác giả: Bệnh viện Nhi Trung Ương
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2015
13. Dalzell T.G. (2007). Eugen Bleuler 150: Bleuler’s reception of Freud.Hist Psychiatry, 18(4), 471–482 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hist Psychiatry
Tác giả: Dalzell T.G
Năm: 2007
14. Barneveld P.S., Pieterse J., de Sonneville L., et al. (2011). Overlap of autistic and schizotypal traits in adolescents with Autism Spectrum Disorders. Schizophr Res, 126(1–3), 231–236 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Schizophr Res
Tác giả: Barneveld P.S., Pieterse J., de Sonneville L., et al
Năm: 2011
15. Kanner L. (1995). [Follow-up study of eleven autistic children originally reported in 1943. 1971]. Psychiatr Enfant, 38(2), 421–461 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Psychiatr Enfant
Tác giả: Kanner L
Năm: 1995
16. Lyons V. and Fitzgerald M. (2007). Asperger (1906-1980) and Kanner (1894-1981), the two pioneers of autism. J Autism Dev Disord, 37(10), 2022–2023 Sách, tạp chí
Tiêu đề: J Autism Dev Disord
Tác giả: Lyons V. and Fitzgerald M
Năm: 2007
17. Sheehan D.V., Lecrubier Y., Sheehan K.H., et al. (1998). The Mini- International Neuropsychiatric Interview (M.I.N.I.): the development and validation of a structured diagnostic psychiatric interview for DSM- IV and ICD-10. J Clin Psychiatry, 59 Suppl 20, 22-33;quiz 34-57 Sách, tạp chí
Tiêu đề: J Clin Psychiatry
Tác giả: Sheehan D.V., Lecrubier Y., Sheehan K.H., et al
Năm: 1998
18. McPartland J.C., Reichow B., and Volkmar F.R. (2012). Sensitivity and specificity of proposed DSM-5 diagnostic criteria for autism spectrum disorder. J Am Acad Child Adolesc Psychiatry, 51(4), 368–383 Sách, tạp chí
Tiêu đề: J Am Acad Child Adolesc Psychiatry
Tác giả: McPartland J.C., Reichow B., and Volkmar F.R
Năm: 2012
23. Fenske E.C., Zalenski S., Krantz P.J., et al. (1985). Age at intervention and treatment outcome for autistic children in a comprehensive intervention program. Anal Interv Dev Disabil, 5(1), 49–58 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Anal Interv Dev Disabil
Tác giả: Fenske E.C., Zalenski S., Krantz P.J., et al
Năm: 1985
24. Matson J.L. and Konst M.J. (2014). Early intervention for autism: Who provides treatment and in what settings. Res Autism Spectr Disord, 8(11), 1585–1590 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Res Autism Spectr Disord
Tác giả: Matson J.L. and Konst M.J
Năm: 2014
25. Nguyễn Thị Hoàng Yến (2014). Nghiên cứu biện pháp can thiệp sớm và giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ ở nước ta hiện nay và trong giai đoạn 2011-2020. Đại Học Sư Phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu biện pháp can thiệp sớm vàgiáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ ở nước ta hiện nay và trong giai đoạn2011-2020
Tác giả: Nguyễn Thị Hoàng Yến
Năm: 2014
26. Trần Văn Lý (2014). Đánh giá nhu cầu phục hồi chức năng của trẻ tự kỷ và kết quả mô hình can thiệp toàn diện cho trẻ tự kỷ tại Trung tâm phục hồi chức năng trẻ tàng tật Thụy An. Đại Học Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá nhu cầu phục hồi chức năng của trẻ tự kỷvà kết quả mô hình can thiệp toàn diện cho trẻ tự kỷ tại Trung tâm phụchồi chức năng trẻ tàng tật Thụy An
Tác giả: Trần Văn Lý
Năm: 2014
28. Brian J.A., Smith I.M., Zwaigenbaum L., et al. (2016). The Social ABCs caregiver‐mediated intervention for toddlers with autism spectrum disorder: Feasibility, acceptability, and evidence of promise from a multisite study. Autism Res, 9(8), 899–912 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Autism Res
Tác giả: Brian J.A., Smith I.M., Zwaigenbaum L., et al
Năm: 2016
29. Đỗ Ngọc Bích and Vũ Thị Khánh Linh (2015). Tâm lý học và giáo dục học trong sự nghiệp phát triển con người Việt Nam. Nhà xuất bản Đại học Sư Phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học và giáo dụchọc trong sự nghiệp phát triển con người Việt Nam
Tác giả: Đỗ Ngọc Bích and Vũ Thị Khánh Linh
Nhà XB: Nhà xuất bản Đạihọc Sư Phạm
Năm: 2015
30. Ferreri M (1997). Stress: Từ bệnh học tâm thần đến cách tiếp cận trong điều trị. Roche Consumer Health. 24–109 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Roche Consumer Health
Tác giả: Ferreri M
Năm: 1997
32. (2002), DSM-IV-TR casebook: A learning companion to the diagnostic and statistical manual of mental disorders, 4th ed., text rev, American Psychiatric Publishing, Inc., Arlington, VA, US Sách, tạp chí
Tiêu đề: DSM-IV-TR casebook: A learning companion to the diagnosticand statistical manual of mental disorders, 4th ed., text rev
Năm: 2002
34. Kessler R.C., Berglund P., Demler O., et al. (2005). Lifetime Prevalence and Age-of-Onset Distributions of DSM-IV Disorders in the National Comorbidity Survey Replication. Arch Gen Psychiatry, 62(6), 593–602 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Arch Gen Psychiatry
Tác giả: Kessler R.C., Berglund P., Demler O., et al
Năm: 2005
35. Beck, Aaron T, A S. Robert, and Brown, Gregory K (1971). Beck Depression Inventory-Second Edition (BDI-II) |. Psychol Corp, 78(2), 371–379 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Psychol Corp
Tác giả: Beck, Aaron T, A S. Robert, and Brown, Gregory K
Năm: 1971
36. Zung W.W. (1971). A rating instrument for anxiety disorders.Psychosomatics, 12(6), 371–379 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Psychosomatics
Tác giả: Zung W.W
Năm: 1971
37. Nguyễn Thị Thanh Mai, Trần Viết Nghi, Nguyễn Công Khanh (2011).Nghiên cứu theo dõi dọc sự thay đôi của trầm cảm của cha mẹ trẻ bị ung thư trong quá trình điều trị. accessed: 07/10/2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu theo dõi dọc sự thay đôi của trầm cảm của cha mẹ trẻ bị ungthư trong quá trình điều trị
Tác giả: Nguyễn Thị Thanh Mai, Trần Viết Nghi, Nguyễn Công Khanh
Năm: 2011

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w